NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

Kinh điển Phật giáo kể lại rằng Kiều Tất La Thích Ca Tất Đạt Đa (Kosala Akya Siddhartha) gọi tắt là Thích Ca, sau 6 năm tu khổ hạnh cùng với 5 anh em Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya (Bạt Đề Lợi Gia), Vappa (Ác Bệ), Mahanama (Ma Ha Câu Nam) và Asaji (A Xá Bệ Thê), cơ thể chỉ còn da bọc xương, đi đứng không vững, sức khoẻ kiệt quệ, ngài thấy rằng khổ hạnh không thể giải quết được vấn đề, nên quyết định ăn uống lại bình thường. Năm người bạn đồng tu cho rằng Thích Ca đã thoái chí, bèn rời bỏ ngài, đến vườn Nai ở Isipatana gần Thành phố Ba La Nại để tiếp tục tu khổ hạnh. Họ nói rằng, Thái tử Siddhartha  đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất.

Ở lại một mình, Thich Ca quyết tâm tự mình phấn đấu để tìm ra con đường giải thoát tối hậu trong suốt 49 ngày. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa, do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường, sau đó, ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thiền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề, để đánh dấu sự kiện Thành đạo vĩ đại của Ngài. Ngài suy tư về lẽ sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn, Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác do mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, lậu hoặc, vô minh, đã được Giải thoát và Giác ngộ, và thành tựu  Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ngài đã thành Phật (người giác ngộ).

Vậy nội dung giác ngộ của Đức Phật là như thế nào ? Pháp môn Tổ Sư Thiền rất kị việc tìm hiểu bằng hiểu biết giả tạm của bộ não những nội dung giác ngộ hay kiến tánh, bởi vì không thể dùng lời lẽ để diễn tả đầy đủ chính xác các nội dung đó được, vì nguyên lý bất định của Heisenberg nói rằng không thể nào xác định đồng thời vị trí và động lượng của một hạt lượng tử như electron chẳng hạn. Điều đó có nghĩa rằng nội dung giác ngộ cũng luôn biến hoá thay đổi không thể xác định được, không thể có chỗ trụ (vô sở trụ). Nội dung giác ngộ chắc chắn là có liên quan mật thiết tới thế giới lượng tử. Hơn nữa định lý bất toàn (Theorem of Incompleteness) của Kurt Godel cũng như câu chuyện người mù sờ voi trong Kinh Đại Bát Niết Bàn đều nói tới khả năng giới hạn của tri thức bộ não, nó không bao giờ biết được cái toàn thể, trong khi Giác ngộ là Chánh biến tri, không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng, bộ óc con người không thể nào biết nổi. Ví dụ Chánh biến tri biết không gian vũ trụ là không có thật, vật chất, sơn hà đại địa, nhà cửa, xe cộ là không có thật, bộ óc con người không thể nào hình dung nổi. Giác ngộ là chứng được Thực tướng vô tướng tức là tánh Không của vạn pháp, làm sao trí óc con người liễu giải được điều này ? Tuy nhiên vì bản chất con người là tò mò, ham hiểu biết, ham khám phá phát minh nên dù biết đi tìm hiểu nội dung của giác ngộ cũng giống như lấy ánh sáng đom đóm đốt núi Tu Di, con người vẫn cố làm, và trong thực tế những cố gắng không ngừng của bộ óc cũng đem lại những kết quả thực tiễn, làm thay đổi cảnh quan của địa cầu, khiến cho cuộc sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Tuy biết rằng những kết quả đó cũng chưa đi tới đâu trên con đường giải thoát khỏi phiền não sinh tử luân hồi, nhưng con người vẫn phải khai thác bộ não. Dù biết rằng có xây dựng được Bộ Đại Tạng Kinh cũng không giúp ích mảy may gì cho việc giác ngộ, chúng ta vẫn không thể không làm Đại Tạng Kinh. Cũng thế, tìm hiểu nội dung giác ngộ chỉ là việc phí công vô ích, nhưng tôi vẫn cứ làm để mong tăng cường lòng tin nơi tự tâm.

1/ Giác ngộ là phát hiện được bản tâm của chính mình, chứng được Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

Các thiền sư kiến tánh là phát hiện được bản tâm của chính mình, đó chính là bản lai diện mục không sanh không diệt sẵn có trước khi cha mẹ chưa sinh mình ra. Bản tâm đó siêu việt không gian, thời gian và số lượng. Bản tâm đó là chánh biến tri, có hiểu biết kỳ diệu, chẳng hạn khả năng phục nguyên một bức tranh bị xé nát mà Trương Bảo Thắng đã biểu diễn, và có khả năng làm tất cả mọi việc như tạo ra vũ trụ, thiên hà, tinh tú, mặt trời,  mặt trăng, hành tinh, sơn hà, đại địa, thảo mộc, sinh vật, con người. Tất cả chỉ là tâm thức, là ảo chứ không phải thật, nhưng trong nhất niệm vô minh của chúng sanh thì tất cả đều là thật. Vì sự ảo hoá có tính chất đồng bộ, nghĩa là mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân thể tiếp xúc, ý thức phân biệt. Tất cả các giác quan đều xác nhận là thật nên chúng sanh không bao giờ biết được đó chỉ là ảo, là duy thức, mà cứ tưởng đó là sự thật khách quan, ai cũng đều cảm nhận như thế. Bản tâm đó là Niết bàn không sinh không diệt, hiện hữu khắp không gian thời gian, chỉ bị che khuất do nhất niệm vô minh của chúng sanh. Khi phá được thói quen vô minh kiên cố thì bản tâm đó tự hiện ra.

Tâm tạo ra vũ trụ vạn vật. Tất cả chúnh sanh đều có chung một tâm ấy, nhưng chúng không biết cứ tưởng mỗi cá thể có một bản ngã riêng. Bản ngã chỉ là bọt biển trong đại dương tâm thức. Tại sao tâm tạo ra được vũ trụ ? Vì nó có một kho dữ liệu vô tận, vô thuỷ vô chung gọi là A-lại-da thức. Giống như nhân loại hiện nay có mạng internet, mỗi máy tinh cá nhân hay thiết bị di động cầm tay giống như một cá thể, có thể truy cập vào đó để lấy dữ liệu, và có thể vẽ vời ra vô lượng vô biên câu chuyện, hình ảnh, phim, video, âm thanh, văn bản…

A-lại-da thức cũng chỉ là ảo, bản chất cũng là không, không có gì cả, nhưng trong nhất niệm vô minh, nó lại là nguồn gốc của tất cả mọi biến hiện sinh diệt. Điều đó cũng giống như trên màn hình vi tính, tất cả đều hiển bày rất rõ ràng, nào là chữ viết, hình ảnh, video, âm thanh, màu sắc…nhưng tất cả chỉ là sự đóng và mở của dòng electron. Trạng thái đóng tức không có dòng điện (electron) chạy qua được ký hiệu mã hoá bằng số 0, trạng thái mở tức có dòng điện (electron) chạy qua được ký hiệu mã hoá bằng số 1. Mà electron cũng không phải là có thật, đó chỉ là một hạt ảo, không thể độc lập tồn tại khi bị cô lập, tách riêng. Thế nhưng electron với hai ký hiệu 0 và 1 đã tạo ra được một ngành công nghiệp hết sức phồn thịnh hiện nay là ngành công nghệ thông tin IT (Information Technology). Chúng ta hiện tại đang nhờ cái không của electron mà giao lưu với nhau qua các bài viết, nghe các thuyết giảng của Thầy Duy Lực, đó chẳng phải là sự thật sao ? Đó chính là sự thật của thế giới ảo. Đó cũng chính là sự thật của cái Không trong Phật giáo đã được đúc kết trong câu “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” trích ra từ trong các tác phẩm mà Ngài Huyền Trang (599-664) đã dịch từ (Vijnaptimatratridasastrakarika- Duy Thức Tam Thập Tụng) của Ngài Thế Thân (Vasubandhu 420-500) và tác phẩm  (Vijnaptimatratasidhisastra- Thành Duy Lức Luận) là bản luận giải gốc của ngài Hộ Pháp ( Dharmapala, 530-561) giải thích 30 bài tụng của Ngài Thế Thân. Giác ngộ là thể hội được tánh không của Tam giới, của tất cả các pháp.

2/Giác ngộ là chứng được Thực tướng vô tướng của vạn pháp.

Kinh điển Phật giáo chia Vạn pháp thành Tứ tướng. Pháp là từ có nghĩa rất rộng, chỉ mọi sự vật hữu hình hay vô hình, kể cả những sự vật tưởng tượng không thấy có ngoài đời như lông rùa, sừng thỏ, các khái niệm về Lý pháp giới v.v…Từ vạn pháp là để chỉ tất cả sự vật trong Tam giới. Tướng là hình thức biểu hiện của sự vật. Phật giáo hình dung vạn pháp dưới 4 tướng :

a/ Ngã tướng : Là hình thức cái tôi của sự vật, của chúng sinh, lấy con người làm điển hình. Đây cũng là ngôi thứ nhất trong xưng hô, là chủ thể (subject). Một cá thể thấy mình tách biệt, riêng khác với đồng loại, khác với phần còn lại của thế giới. Nó có thân ngũ uẩn riêng, tâm niệm, sở thích, khả năng, văn hoá, tập quán, đời sống đều có sự khác biết nhất định với kẻ khác.

b/ Nhân tướng : Là người khác, kẻ khác, cũng lấy con người làm điển hình. Đó cũng là đối tượng trong nhận thức của cái tôi. Đối tượng có thể là ngôi thứ hai hoặc thứ ba trong xưng hô, đó là khách thể hay đối tượng (object) của tôi. Đối tượng là một sinh vật thì gọi là chúng sanh. Đối tượng không phải sinh vật thì gọi là thọ giả (vật có thọ mệnh, có tuổi thọ hữu hạn)

c/ Chúng sanh tướng : Là loài hữu tình trong thế giới. Loài hữu tình có thể bò trên mặt đất như rắn rết sâu bọ. Có thể bay trong không khí như chim chóc, côn trùng. Có thể là loài hạ đẳng chỉ biết cựa quậy nhúc nhích trong đống phân hoặc xác chết như giòi bọ. Hay có thể chạy trên mặt đất như loài thú, hoặc sống trong nước như loài thuỷ sinh. Người là chúng sanh có bộ não phát triển, biết suy nghĩ. Chư thiên là chúng sanh có nhiều phước báu, thọ mệnh lâu dài. A-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ là những chúng sanh khác.

d/ Thọ giả tướng : Là danh từ tổng quát chỉ chung các sự vật có thọ mệnh, không phải là loài hữu tình, đó là loài vô tình. Thọ giả tướng là các pháp sinh diệt có thọ mệnh hữu hạn. Thọ giả tướng ở mặt vĩ mô là vũ trụ, tinh tú, mặt trời, mặt trăng, các thiên thể, hành tinh, sơn hà, đại địa. Trung mô là nhà cửa, cây cối, đồ vật. Vi mô là phân tử, nguyên tử, các hạt cơ bản như quark, electron, neutrino.

Tóm lại tứ tướng là cách biện biệt các pháp sinh diệt từ chỗ hẹp, cái ngã của một cá thể, quán chiếu rộng ra đến kẻ khác, rồi đến chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Thực tướng của vạn pháp là vô tướng tức không có hình tướng, không có thực thể. Tất cả chỉ là Không. Như vậy tứ tướng chỉ là huyễn ảo, không có thật.

Tại sao tứ tướng là không có thật ? Vì tứ tướng chỉ là mối quan hệ nhân duyên trùng trùng duyên khởi của các hạt ảo như quark và electron, cộng với sự tưởng tượng mê lầm của nhất niệm vô minh mà có vật. Sự tưởng tượng này là một tập quán hay tập khí rất lâu đời, đã phổ biến trong thế gian gọi là thế lưu bố tưởng. Nếu có ai đó phá bỏ được tập khí này, và chủ động dùng tâm lực điều khiển vật thì sẽ xuất hiện hiện tượng kỳ lạ gọi là nhân thể đặc dị công năng mà Trương Bảo Thắng và nhiều người khác đã chứng tỏ. Dưới đây là câu chuyện có thật, Trương Bảo Thắng đã dùng đặc dị công năng để sửa lưng một nhà xã hội học thường hay phê phán công năng của anh là giả, là lừa gạt.

Lúc đó người chủ trì hội nghị đi ra khán đài, nói :

–        Xin yên lặng, hội nghị bắt đầu. Hôm nay chúng tôi mời ông X đến báo cáo. X tiên sinh là nhà xã hội học. Hai năm trước, tại nước ta xuất hiện phong trào tuyên truyền đặc dị công năng, duy tâm chủ nghĩa, ông ấy tư tưởng sắc bén, lập tức tiến hành đề kháng và phê phán. Hôm nay chúng ta có thể trực tiếp nghe ông báo cáo, đây cũng là cơ hội học tập cho chúng ta. Bên dưới xin hãy cho một tràng pháo tay nhiệt liệt hoan nghinh. Người chủ trì vỗ tay đầu tiên để cổ động.

Bên dưới có tiếng vỗ tay lác đác. Trên đài xuất hiện một ông già mập mạp, ông mở cặp lấy ra một một xấp bản thảo, bắt đầu giảng thuyết, ông ta dùng khẩu âm Bắc Kinh khá chuẩn, nói chậm, chia ra các phần 1,2,3,4 mà thuyết giảng, giống như đang lên lớp giảng triết học.

Nghe giảng đa phần là thanh niên, nghe nói là sinh viên đại học. Lúc đó, ngồi bên cạnh Trương Bảo Thắng là mấy người bạn của anh, yên lặng chờ đợi. Chỉ thấy họ có lúc nhìn lên khán đài, có lúc nhìn Bảo Thắng, giống như đang chờ đợi một sự kiện gì đó đã biết, sắp phát sinh.

Báo cáo đã tiến hành hơn một tiếng đồng hồ. Ông X đột nhiên dừng lại. Ông ta bắt đầu lật bản thảo, tiếp đó mở cặp da, tìm cái gì đó ở bên trong. Tình huống này bị ông thư ký đứng phía sau khán đài nhìn thấy. Thư ký từ sau khán đài chạy đến bên ông, hỏi nhỏ một câu gì đó, X tiên sinh có vẻ bức xúc:

–        Vài trang bản thảo sao không thấy vậy ? Anh đã chuẩn bị thế nào ? Ông X hỏi khẩn cấp

Dưới khán đài đã có chút xao động, bởi vì mọi người nghe được tiếng khẩn cấp của ông X qua máy khuếch âm.

–        Bản thảo đánh xong cùng một lượt mà, làm sao có thể mất đi đâu ? Thư ký cũng tỏ ra bức xúc

Sự cố ngoài ý muốn này khiến cho trên đài dưới đài đều bất an. Đúng lúc đó Trương Bảo Thắng từ dưới đài đi lên, đến gần ông X :

–        Đây là vài trang bản thảo tôi nhặt được, có phải ông đang cần không ? Bảo Thắng bình tĩnh nói.

–        Anh làm sao mà nhặt được ? ông X nhìn bản thảo, đó đúng là mấy trang ông đang giảng thì bị thiếu.

–        Điều này thì ông không cần biết. Nếu không phải là bản thảo của ông, tôi mang đi vậy

–        Không ! Không ! Đó là bản thảo của tôi. Đương nhiên phải trả cho tôi

Lúc đó Trương Bảo Thắng để mấy tờ bản thảo trên bàn báo cáo viên. Dưới khán đài, thính chúng nghe đối thoại giống như nghe tương thanh (chuyện tiếu lâm). Đại đa số mọi người đều kinh ngạc, không hiểu gì hết, xem họ “biểu diễn” 

–        Anh rốt cuộc là ai ? X tiên sinh nghi hoặc hỏi

–        Tôi là ai, ông biết rồi . Chẳng qua ông không nhận ra tôi, tôi cũng không cần thiết nói cho ông biết. Một lát sau ông sẽ biết thôi. Trương Bảo Thắng nói xong quay người đi xuống đài.

–        Kinh thật ! Cho ông ta biết anh lợi hại thế nào ! Một trong số bạn đi theo Bảo Thắng nói

–        Chưa đủ kinh đâu, đợi một lát sẽ còn lợi hại hơn nữa. Một thanh niên khác nói

Chỉ thấy Bảo Thắng hai mắt nhìn thẳng, bình tâm tĩnh khí nhìn ông X giống như đang nghe ông ta báo cáo. Lúc đó báo cáo của ông X có vẻ không có thứ tự, không mạch lạc, báo cáo bắt đầu lại mà thần thái tự tin không còn nữa, ông vội kết thúc bài giảng của mình.

Trán vã mồ hôi, báo cáo coi như xong. Lúc đó tiếng vỗ tay so với lúc bắt đầu lại còn lưa thưa vô lực hơn nữa. Quần chúng bắt đầu giải tán.

Chỉ thấy ông X theo tiếng vỗ tay vừa dứt, đứng lên một giây, tiếp đó lại ngồi xuống. Chủ trì hội trường chỉ còn cách đứng bên cạnh bàn, cầm microphone lên, tuyên bố hội nghị kết thúc, kỳ thực trước lúc tuyên bố, cử tọa đã rời hội trường.

Thư ký của ông X và người chủ trì hội nghị, thấy ông X ngồi bất động trên ghế, bèn đến trước mặt hỏi :

–        Có phải trong người cảm thấy khó chịu ? Có phải tim phổi bất an ?

–        Thật là kỳ quái, dây nịt quần của tôi không biết sao đâu mất ? ông X nói

Thư ký và người chủ trì bắt đầu tìm sợi dây nịt dưới bàn báo cáo viên nhưng không thấy. Ông X thấy hội trường đã thưa người, mới dùng một tay vịn quần đi vào phía sau khán đài, những người khác cũng đi vào phòng nghỉ phía sau khán đài.

Lúc đó Trương Bảo Thắng và các bạn của anh đã đợi sẵn ở phòng nghỉ.

–        X tiên sinh, chúng tôi lượm được sợi dây nịt quần, có phải của ông không ? Bảo Thắng nói

–        Tại làm sao vậy ? Ông X buồn phiền và thẹn, trở nên giận. Trong lòng ông không muốn thừa nhận sợi dây nịt của mình, nhưng chính mình đang dùng tay giữ cái quần. Nếu thừa nhận thì còn ra thể thống gì. Trong trạng huống tả hữu đều khó, thì người thư ký đã bước đến nhận sợi dây nịt từ tay anh thanh niên, giao cho ông X, Khi ông không còn dùng tay vịn quần nữa, đã hơi ổn định tình hình, bắt đầu hỏi :

–         Các anh là ai ?

–        Vị này là Trương Bảo Thắng tiên sinh. Người thư ký nhanh nhẩu trả lời thay

–        X tiên sinh ! Chúng tôi nhiều lần mời ông xem Trương Bảo Thắng biểu diễn một chút, nhưng ông một mực cự tuyệt không xem biểu diễn đặc dị công năng là như thế nào, nói bừa đặc dị công năng là lừa gạt, là ảo thuật. Tuy thư ký của ông có xem Trương Bảo Thắng biểu diễn, nghe nói anh ấy có hội báo cho ông đúng như sự thật, nhưng ông cho đến nay, chẳng những không xem hiện thực, mà còn tiếp tục viết ra nhiều bài phê phán, hiện tại lại còn báo cáo phủ định đặc dị công năng. Vì vậy, hôm nay chúng tôi đến đây trình cho ông xem, thực hiện hai hạng mục biểu diễn ngay trên người của ông. Nếu biểu diễn của Trương Bảo Thắng giống như ông nói, là giả, là ảo thuật, thì chẳng lẽ bản thảo và dây nịt là đạo cụ do ông cung cấp sao ? Một người bạn của Bảo Thắng nói.

–        Xin lỗi X tiên sinh, chúng tôi hôm nay hành sự đối với ông không tránh khỏi quá tay một chút, chẳng qua là vì việc chẳng đặng đừng, không làm sao khác được. Nếu không làm vậy, ông có thể vẫn tiếp tục đi trên con đường sai lầm, như vậy càng có thể làm tổn hại hình tượng của ông hơn. Hi vọng ông lượng giải. Một người bạn khác của Bảo Thắng nói một cách lễ phép.

X tiên sinh, trước mặt đám thanh niên này, bị á khẩu, nói không ra lời. Lúc đó Trương Bảo Thắng dùng cảm giác tư duy đặc biệt của mình, nhìn thấy tư duy của ông X có thay đổi. Anh cũng không nói gì thêm. Một lát sau, ông X nói lắp bắp một câu :

–        Được rồi ! từ nay về sau tôi không đề cập tới sự việc của các anh nữa

Trái sang phải : Trương Bảo Thắng, Cơ Bằng Phi (Ngoại trưởng Trung Quốc), Lý Gia Thành (Tỉ phú Hong Kong)

Trương Bảo Thắng đã dùng tâm lực của anh để lấy mấy trang bản thảo trong tay và sợi dây nịt  đang mang trong lưng quần của ông X, mà ông ta không hay và không thể ngăn cản được, vì các vật đó thực tướng là vô tướng nên tâm có thể điều khiển được một cách vô ngại.

3/ Thực tướng vô tướng tức không gian, thời gian và số lượng vật chất năng lượng là không có thật, chỉ là ảo.

Không gian, thời gian, số lượng đều là thọ giả tướng, không phải thật. Einstein nêu ra thuyết tương đối nói rằng thời không (space-time) và khối lượng vật chất (material quantity) đều tương đối, có thể biến đổi chứ không phải bất biến như Newton quan niệm trước kia. Phát hiện của Einstein là bước tiến lớn của Vật lý học, nó khiến cho ông trở nên nhà khoa học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20. Tuy nhiên hiểu biết của Einstein vẫn còn giới hạn. Ông chỉ biết thời không có thể biến đổi chứ không biết thời không vốn không có thật. Vì vậy ông không thể hiểu hiện tượng rối, vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Hiện tượng này chứng tỏ không gian, thời gian và số lượng đều không có thật. Vì khoảng cách không gian là không có thật, nên hai photon ở cách xa nhau thật ra chỉ là một photon. Không phải tín hiệu từ photon này truyền qua photon kia với tốc độ gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng, mà thật ra là không có sự dịch chuyển. Sự kiện thấy có hai hoặc nhiều photon ở cách xa nhau là ảo tưởng trong tâm thức của người quan sát chứ không phải có thực. Chúng ta thấy Hà Nội khác Sài Gòn, từ Sài Gòn muốn ra Hà Nội, phải vượt qua khoảng cách hơn một ngàn cây số, đi máy bay phải mất 1g45 phút. Ai cũng tin đó là sự thật, không ai có thể hình dung nổi cái thấy của bậc giác ngộ. Phủ nhận sự thật đó cũng không đúng, mà cho rằng đó là sự thật tuyệt đối cũng không đúng. Chính vì vậy mà không thể nói được. Nếu tin rằng đó là sự thật tuyệt đối thì hãy xem biểu diễn của Hầu Hi Quý.

Một ngày chủ nhật, Lý Cường và một số nhân viên của khách sạn Kinh Kỳ (tại Bắc Kinh) gồm Miêu Đắc Thắng, Triệu Bác Lan, Tống Huệ Mẫn, Lưu Quảng Kiệt, Uông Gia Lộc, Lý Linh Mẫn, Lưu Kinh Thông, bàn bạc với nhau mời Hầu Hi Quý cùng với họ đến hồ chứa nước Mật Vân thuộc huyện Mật Vân chơi. Hôm đó lái xe là một đảng viên thuộc phòng chiêu đãi của một doanh trại Nhân dân Giải phóng Quân. Anh ta nghe nói có Hầu Hi Quý cùng đi thì rất phấn khởi. Nam nữ tám chín người đi trên xe tới hồ Mật Vân, cách trung tâm Bắc Kinh 50 km. Đến nơi, mọi người vui đùa mệt nghỉ. Họ đem bia theo uống, rồi nằm dài bên bãi cỏ bên bờ hồ nghỉ ngơi thật thoải mái. Sau đó họ lên đường trở về. Không ngờ vừa qua khỏi suối Sa Cốc, lái xe phát hiện xăng trong bình sắp cạn. Thật là sự chẳng lành. Chưa ra khỏi địa phận huyện Mật Vân, xa nhà hàng trăm dặm (dặm Trung Quốc khoảng nửa km), làm sao xoay sở đây ?

–        Mọi người đừng hốt hoảng, hãy dừng lại suy nghĩ biện pháp

Hầu Hi Quý chẳng sốt ruột tí nào, ông ta lại còn hát lên bài “Hoa vì sao lại đỏ” (Đây là bài hát ruột của ca sĩ Lý Cốc Nhất. Bạn có thể nghe bài hát theo các link dưới đây, copy link dán vào address bar )

https://skydrive.live.com/?cid=3A697DD6BE1AB73E&id=3A697DD6BE1AB73E!433

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Hoa-Sao-Do-Nhu-Vay-Ly-Coc-Nhat/ZWZFO7W0.html

tiếng ca thật hồn hậu, lời ca giọng nam cao trong trẻo. Nhưng mọi người chẳng còn lòng dạ nào để nghe, chỉ lo làm sao trở về nhà.

–        Về được mà ! Tôi đảm bảo mọi người có thể về nhà ăn cơm chiều. Như vậy được chưa ? Nghe mọi người đang bàn bạc, Hầu Hi Quý thôi hát hỏi. Có cần tôi nghĩ giúp biện pháp không ?

Mọi người đều nói cần. Thế là xe dừng lại. Trước mặt chẳng có thôn xóm nào. Sau lưng cũng chẳng có hàng quán nào.

–        Ai có hộp diêm không ? Hầu Hi Quý hỏi

Có người móc hộp diêm ra đưa cho ông ta. Hầu Hi Quý trút bỏ hết các que diêm xuống đất, cầm cái vỏ bao diêm không, đến bên thùng xăng xe, ngồi xổm xuống, gác một đầu hộp diêm lên miệng bình xăng, đầu kia hướng về phía Bắc Kinh, hai đầu ngón tay kẹp ở giữa hộp diêm. Chỉ thấy ông ta ngưng thần chốc lát, sau đó gọi mọi người đến nghe. Mọi người hiếu kỳ chạy đến bên thùng xăng, áp tai nghe, trong thùng xăng có tiếng nước chảy òng ọc.

–        Tiếng nước chảy ! tiếng nước chảy ! Vài cô gái đồng thời kêu lên. Trong mắt các cô hiện ra vẻ nghi ngờ lẫn vui mừng kinh ngạc.

–        Nước chảy à ? Xăng chảy đó ! Hầu Hi Quý nói.

Mọi người hoàn toàn không hiểu, một bao diêm nhỏ bé như thế, từ đâu có xăng chảy ra ? Anh lái xe cắn môi nhìn chăm chăm vào Hầu Hi Quý, hít hít hai cánh mũi, ngửi thấy mùi khí năng nồng đậm.

–        Đúng là xăng, đúng là xăng, từ đâu đến ? Anh ta hỏi Hầu Hi Quý.

Hầu Hi Quý không trả lời, dời vị trí bao diêm, lấy tay gõ gõ vào thùng xăng. Bình xăng phát ra âm thanh trầm muộn chứng tỏ là đã đầy xăng, ông ta hài lòng mỉm cười, bước đi dưới ánh mắt kinh dị của mọi người. Anh lái xe nhúng ngón tay trỏ vào thùng xăng, ngón tay thấm ướt hơi xăng.

–        Má ơi ! Thùng xăng mới vừa trống không, bây giờ lại đầy nhóc !

Anh ta đứng dậy, vẫy tay :

–        Có xăng rồi, chúng ta đi thôi !

Thế là mọi người hoan hỉ lên xe, máy rồ một cái, xe từ từ chuyển bánh.   

Từ trái sang phải : Cổ Nguyệt, diễn viên thường đóng vai Mao Trạch Đông, ca sĩ Lý Cốc Nhất và Hầu Hi Quý. Ảnh chụp ngày 24-08-1992 tại liên hoan điện ảnh Trường Xuân 

Hầu Hi Quý đã lấy xăng từ Bắc Kinh đổ vào bình xăng xe tại Mật Vân cách xa 50 km. Tại sao làm được việc đó ? Làm được là vì khoảng cách không gian là không có thật. Các pháp có tính bất định xứ. Người có thần thông hay có đặc dị công năng thì có thể ứng dụng được tính bất định xứ đó. Người phàm chúng ta cũng có thể ứng dụng được tính bất định xứ nhưng nhờ vào máy móc. Chẳng hạn bài viết này có thể đến với bạn bất kể bạn đứng ở đâu trên Trái đất, miễn là bạn có một smartphone kết nối được với internet bằng wifi hay 3G.

Thuyết tương đối của Einstein nói rằng nếu bạn có thể ngồi trên phi thuyền bay với tốc độ bằng ánh sáng thì thời gian sẽ ngừng hẳn, Trái đất có thể trải qua một ngàn năm nhưng bạn không tăng thêm tuổi nào, vì thời gian trên phi thuyền đã ngừng. Nhưng các khoa học gia chỉ mới chứng minh được thời gian quả có rút ngắn đi khi phi thuyền bay nhanh bằng cách dùng đồng hồ nguyên tử để so sánh. Nhưng còn lâu lắm con người mới chế tạo được phi thuyền bay với vận tốc bằng ánh sáng.

Phật pháp nói rằng khi nhập định sâu, nhất niệm vô minh không khởi lên thì thời gian cũng dừng lại hay nói đúng hơn là chứng nghiệm thời gian không có thật. Đã có nhiều người thực nghiệm được việc này. Sư Huệ Trì đời Đông Tấn nhập định hơn 700 năm, đến đời Tống Huy Tông mới xuất định. Hư Vân Hoà thượng nhập định tại núi Chung Nam, ông tưởng đâu mới có một lát nhưng người khác thì thấy nửa tháng đã trôi qua. Maha Ca Diếp nhập định từ lúc Đức Phật mới nhập diệt được 20 năm, đến nay vẫn còn nhập định tại núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri) thuộc bang Bihar Ấn Độ. Trong thế kỷ 20, có một Tiến sĩ triết học người Anh đã có duyên gặp được Maha Ca Diếp.

Về tính chất không thật của số lượng vật chất hay năng lượng, chúng ta có thể căn cứ vào lý thuyết của các nhà Vật lý học.

Chân không lượng tử (viết gọn thành Không) là trạng thái cơ bản tận cùng của vạn vật, nó vô hướng, trung hòa, mang năng lượng cực tiểu, trong đó chẳng hề vẩn gợn chút vật chất kể cả điện từ trường (ánh sáng nói riêng). Do những nhiễu loạn của năng lượng trong Không mà vật chất (cùng phản vật chất) nẩy sinh, tương tác, biến chuyển, phân rã và trở về với Không, cứ thế tiếp nối vòng sinh hủy. Tuy vậy năng lượng của Không lại vô hạn theo nguyên lý bất định Heisenberg. Cực tiểu nhưng vô hạn, nghịch lý này hẳn đòi hỏi một cuộc cách mạng trong nhận thức?  (Phạm Xuân Yêm – Cái Không trong lượng tử)

Trong chân không lượng tử, Vật chất (cũng là năng lượng) cực tiểu nhưng Năng lượng lại vô hạn, đó là một nghịch lý mà lý trí duy lý của con người không thể hiểu nổi. Ta chỉ còn một cách hiểu theo Phật giáo là năng lượng cũng không có số lượng. Theo Phật giáo thì tất cả năng lượng hay vật chất đều xuất phát từ Tâm. Cái Không, hay chân không lượng tử nói theo khoa học, cũng là Tâm bất nhị nói theo Phật giáo.

Ngoài ra có thể căn cứ trên thực nghiệm để thấy rõ tính không có thực của số lượng. Thực nghiệm về hiện tượng rối lượng tử chứng tỏ số lượng photon là không có thực. Một tấm ảnh đưa lên mạng internet thì số lượng của nó trở thành vô lượng, đó là điều chúng ta hoàn toàn có thể thực nghiệm.

Người giác ngộ tuỳ theo mức độ phá bỏ hết được tập khí hay chưa mà sự vận dụng thần thông được nhiều hay ít. Các thiền sư hoặc hành giả kiến tánh đều thoát được sinh tử luân hồi, đạt tới sinh tử tự do. Chẳng hạn gia đình Bàng Uẩn gồm 4 người (ông ta, vợ, con trai và con gái) sinh tử tự do, muốn nhập diệt lúc nào cũng được. Lục Tổ Huệ Năng, Sư Hám Sơn, Sư Đơn Điền, Ngài Nguyệt Khê có thể chủ động làm cho nhục thân của mình trở thành bất hoại mà không cần bất cứ xử lý nào từ bên ngoài, để làm chứng cứ niềm tin cho đời sau.

Mục Kiền Liên là một đại đệ tử của Đức Phật, nổi tiếng về thần thông. Ông có thể biến ra một chiếc cầu bắc ngang sông để mọi người có thể đi qua, vì chiếc cầu có sẵn đã bị nước lũ cuốn trôi.

Trong cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất do Maha Ca Diếp chủ trì, tất cả người tham dự ít nhất phải chứng quả A La Hán. Cuộc kết tập diễn ra trong hang đá dưới chân núi Vibhana, gần thành Vương Xá (Rajagriha) là thủ đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), thuộc vùng biên giới Ấn Độ Nepal ngày nay. Có 500 vị A La Hán tham dự. Cửa hang đóng chặt, tất cả người tham dự đều phải dùng thần thông đi xuyên qua cửa hang. A Nan chưa kịp chứng quả A La Hán nên gặp khó khăn, nhưng nhờ quyết tâm tu tập, đêm cuối trước ngày kết tập đã chứng quả, và dùng thần thông bay vào trong hang. Đọc sự kiện này, chúng ta có thể nghi ngờ rằng có sự thêu dệt, làm sao con người bằng xương bằng thịt có thể đi xuyên qua được vách đá ? Song Trương Bảo Thắng đã giúp chúng ta giải toả mối nghi ngờ, quả thật anh có thể đi xuyên qua tường vách, có thể lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt hàn kín mà không cần mở nắp. Điều đó chứng tỏ tánh không của vạn pháp.

Để tóm tắt lại tính không thật của không gian, thời gian và số lượng, xin hãy nghe lời thuyết giảng của Thầy Duy Lực :

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của không gian thời gian

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

  1. Pingback: Danh sách chuyên mục Bài Viết của Duy Lực Thiền | Duy Lực Thiền

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s