THẦN THÔNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

Câu hỏi này ngày nay đã có câu trả lời rõ ràng, thần thông còn được gọi là đặc dị công năng là hoàn toàn có thật, là tồn tại khách quan. Tại Trung Quốc, nó đã được Đảng Cộng Sản thừa nhận, các nhân vật có đặc dị công năng như Nghiêm Tân, Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý đã được quần chúng biết đến rộng rãi, sách vở nói về công năng thần kỳ của họ đã được phép xuất bản chính thức. Biểu diễn của họ đã được các nhà lãnh đạo cao cấp Trung Quốc như Diệp Kiếm Anh, Cơ Bằng Phi, Bạc Nhất Ba, Trương Chấn Hoàn, Phó Chủ tịch TQ Vương Chấn, Phó Thủ tướng TQ Dư Thu Lý

LanhdaoTQ copy

Từ trái qua phải : Hầu Hi Quý, Thị trưởng Châu Hải Lương Quảng Đại, Phó Chủ tịch TQ Vương Chấn, Phó Thủ tướng TQ Dư Thu Lý

hay các khoa học gia như Tiền Học Sâm, Nhiếp Xuân Vinh, Hạ Sùng Dần hoặc các nhà tỉ phú như Lý Gia Thành (Li Ka-shing) Bao Ngọc Cương, Hoắc Anh Đông…tán thưởng.

Các nhà tỉ phú đã tặng họ hàng triệu nhân dân tệ để tỏ lòng ngưỡng mộ. Có người hoài nghi như giáo sư Hà Tác Tú và một số nhà duy vật khác cho rằng Trương Bảo Thắng chỉ giỏi làm ảo thuật, nhưng kết luận của Hà Tác Tú chắc chắn chỉ là phiến diện bởi vì chỉ dựa vào một hai lần thực nghiệm thất bại để đánh giá. Còn nói chung, bao nhiêu nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp không phải là không có trình độ để nhận xét. Như Trương Chấn Hoàn từng nói, trạng thái tinh thần, sức khỏe của người thực hiện có ảnh hưởng quyết định đến sự thành công hay thất bại của thực nghiệm, không phải tất cả mọi lần thực nghiệm đều thành công.

Đại đệ tử Mục Kiền Liên của Đức Phật ngày xưa đã chứng quả và có được thần thông, có khả năng nhìn thấu suốt các cõi giới, ngài đã dùng khả năng đó để tìm người mẹ đã qua đời của mình, và thấy bà Thanh Đề đang chịu khổ ở địa ngục, mới tìm cách cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ.

Ngày nay, nền khoa học của nhân loại thế kỷ 21 đã đạt tới một trình độ khá cao, đủ để không vội vả bác bỏ những gì mà mình chưa hiểu thấu, chưa thể lý giải được. Bởi vì thực tế hiển nhiên là chúng ta đang sử dụng những điều thần kỳ mà ngày xưa gọi là thần thông còn ngày nay gọi là khoa học, đã lý giải và thực nghiệm được những khái niệm đó. Chẳng hạn xưa gọi là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, thì nay đó là viễn thông qua nhiều hình thức như internet, điện thoại, truyền hình, truyền thanh, liên lạc vệ tinh. Ngày nay chúng ta không còn xa lạ gì với việc nói chuyện và nhìn thấy hình ảnh của người thân, bạn bè ở tận bên kia trái đất dưới hình thức gọi là “video chat” qua internet, điều này hoàn toàn nằm trong tầm tay của cá nhân và rất rẻ tiền, kỹ thuật thì cực kỳ hiện đại, thấy và nghe rất rõ mà cước phí thì rẻ như bèo. Như thế chứng tỏ rằng thần thông là có cơ sở khoa học, ngày xưa có người đạt tới bằng tu tập, giác ngộ, còn ngày nay thì nhờ vào thiết bị.

Lý trí của chúng ta chia thế giới thành 2 phần : hữu hình và vô hình. Thế giới hữu hình là cái mà chúng ta có thể tiếp xúc được qua các giác quan như : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não, từ đó ta cho rằng thế giới hữu hình là có thật. Đối với thế giới vô hình thì không một giác quan nào của ta có thể tiếp xúc được, nên cho rằng đó chỉ là tưởng tượng vu vơ mà thôi, do đó ta cho rằng nó không có thật.

Thế giới của những người đã khuất là một trong các thế giới vô hình như vậy. Nhưng tình hình thực tế gần đây đã chứng thực sự tồn tại của thế giới vô hình đó qua sự thực nghiệm của rất nhiều nhà ngoại cảm mà tiêu biểu là Phan Thị Bích Hằng, người Hà Nội, họ đã tiếp xúc với vong linh và tìm ra hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ đã vị chôn vùi, mất tích trong chiến tranh, điển hình là việc tìm ra ngôi mộ của em gái giáo sư Trần Phương (do Phan Thị Bích Hằng thực hiện) và mộ của cố tổng bí thư Đảng Cộng Sản Đông Dương (1936-1938), Hà Huy Tập (do Trần Ngọc Ánh thực hiện).

TranNgocAnh2 copy

Nhà ngoại cảm Trần Ngọc Ánh và Hà Huy Lợi (cháu của Hà Huy Tập)

Nguyên Phó Thủ tướng Trần Phương tìm mộ em gái

Hành trình tìm mộ cố Tổng bí thư Hà Huy Tập

Theo Phật pháp thì tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) tức là cả thế giới hữu hình và vô hình đều là tâm niệm của chúng ta chứ chẳng phải là có thật, tức chỉ là ảo mà thôi. Cái không nhìn thấy, không tiếp xúc được, không hẳn là không có. Còn cái hữu hình cũng không hẳn là thật. Sau đây là các dẫn chứng.

Chẳng hạn quá khứ còn tồn tại không ?

Đó là một ngày mùa thu năm 1989, trưởng cơ quan hải quan Củng Bắc thuộc Châu Hải, Lưu Hạo Thanh mời Hầu Hi Quý đi ăn cơm. Ông Lưu đối với đặc dị công năng của Hầu Hi Quý thì tin sâu không nghi, nhưng đối với đặc dị công năng phải chăng do chưa tận mắt chứng kiến nên muốn biết, vì vậy sau khi uống vài ly rượu, ông ta bỗng nhiên có một chủ ý.

“Ông Hầu này, mọi người đều nói ông có thể biết được quá khứ vị lai, tôi cũng không thể không tin, thế này nhé, ông đoán thử xem tôi có bao nhiêu anh chị em ?”

Lưu thủ trưởng trong lòng nghĩ, chúng ta mới gặp nhau lần đầu, Hầu Hi Quý dù có đặc dị công năng, cũng không thể dự đoán trước ta có thể hỏi ông câu này ? Anh chị em của ta mỗi người tản lạc một nơi, nếu mà Hầu Hi Quý thật sự có thể nói được rõ ràng, đó mới thật là thần diệu !

Hầu Hi Quý bị Lưu thủ trưởng hỏi, chỉ theo thói quen sờ sờ cái đầu to lớn của mình, mắt nhìn tứ phía, sau đó ngưng thần chú mục vào một chỗ trên tường, ước khoảng ba bốn mươi giây, ông mới định thần lại, nhìn thẳng vào Lưu thủ trưởng.

“Ông hỏi tôi, ông có bao nhiêu anh chị em, phải không ? trả lời ông, ông có 7 anh chị em !”

Lưu thủ trưởng hạ ánh mắt cười. “Tôi nói nhé, cái này là đoán không chuẩn rồi, không phải 7, chỉ có 6 thôi !”

“ Sáu hả ?” Hầu Hi Quý xòe bàn tay, dựng đứng trước mắt, nhìn kỹ càng mấy đầu ngón tay. 6 người, 7 người, hao hao giống như nét mặt nhà điêu khắc. Nhìn một chút, ông nói với Lưu Hạo Thanh : “Không đúng, không đúng, khẳng định là 7 người, không tin ông đi hỏi mẹ ông xem.”

Lưu thủ trưởng cười hi hi. “Cái này đâu cần hỏi, 6 người là 6 người mà.”

Hầu Hi Quý không hài lòng, mở to mắt. “Tôi nói 7 là 7, không tin đi hỏi mẹ ông xem, bà ấy biết rõ hơn ông.”

Mọi người ở bàn tiệc không biết ai đúng ai sai, nhưng đều muốn biết rõ khả năng của Hầu Hi Quý, do đó nhao nhao thúc giục Lưu thủ trưởng đi hỏi bà mẹ. Lưu Hạo Thanh không cưỡng được, bèn bỏ đũa đi gọi điện thoại.

“Mẹ, có việc này muốn hỏi mẹ. Anh chị em con rốt cuộc là 6 hay là 7 vậy ?”

Sau câu nói của bà mẹ, Lưu thủ trưởng nghe xong trả lời một câu : “Không có gì, hỏi để biết thôi, vì có người nói con có 7 anh chị em, không phải 6, mẹ dĩ nhiên là biết rõ.” Câu nói của bà mẹ, Lưu thủ trưởng im lặng nghe, thỉnh thoảng lại chau mày. Gọi điện thoại xong, ông im lặng trở lại bàn tiệc, mắt nhìn thẳng vào Hầu Hi Quý nói : thật là kỳ lạ, ngay cả tôi cũng không biết, ông làm sao biết được ? Mẹ nói chúng tôi có chính xác 7 anh chị em, có một bé gái sinh ra không bao lâu thì chết, mẹ không bao giờ nhắc lại cho chúng tôi biết.”

Khí trong thân thể con người là cái không thể thấy không thể tiếp xúc bằng giác quan thông thường, nhưng nếu luyện tập thì có thể vận dụng được và tạo ra được công năng kỳ diệu.

Nhà khí công Nghiêm Tân

Trở lại vấn đề có nhiều người cho rằng thần thông hay đặc dị công năng chỉ là làm ảo thuật, chúng ta hãy xem thực nghiệm sau đây của Trương Bảo Thắng thì biết chắc chắn rằng đó không phải là ảo thuật.

Không phải chỉ có quần chúng phổ thông dùng “thường thức” cho rằng nó là ảo thuật, ngay cả ảo thuật gia và triết học gia cũng đều cho rằng nó là ảo thuật.

Từ hải ngoại xa xôi, một nữ ảo thuật gia cũng đến xem một cách kín đáo. Một hôm tại đại sảnh của một khách sạn, có rất nhiều người ngồi, nhiệt tình và nhẫn nại chờ Trương Bảo Thắng, vị nữ ảo thuật gia từ nước ngoài đến cũng ngồi đó. Bà ta thỉnh thoảng nhìn đồng hồ có vẻ sốt ruột.

–        Đến rồi ! Trương Bảo Thắng đến rồi !           

Mọi người không hẹn mà cùng đứng dậy, dùng ánh mắt nghinh tiếp vị kỳ nhân…

–        Thưa quý bà, thưa quý ông : hôm nay chúng tôi lấy tư cách là bạn bè, tập họp tại đây, thỉnh tiên sinh Trương Bảo Thắng đến biểu diễn đặc dị công năng cho chúng ta xem. Đây là sự may mắn của chúng ta, Trương Bảo Thắng là quốc bảo của Trung Quốc, người đời gọi là “tiểu thần tiên” Công năng của ông là số một trong các nhà đặc dị công năng của nước ta, vì vậy nói : chúng ta hôm nay có thể tận mắt nhìn thấy ông biểu diễn, có thể nói là có phước được mở mắt…

Người chủ trì chỉ lo thuyết minh, Trương Bảo Thắng không sợ phiền kéo áo người này, tỏ ý không cần phải nói thêm. Lúc đó nữ ảo thuật gia không nhìn chỗ nào khác, chỉ nhìn chăm chú vào Bảo Thắng không chớp mắt, theo dõi nhất cử nhất động của anh.

Biểu diễn bắt đầu, Trương Bảo Thắng cũng như những lần biểu diễn trước, trước hết là ngồi yên bất động tại chỗ, sau đó dùng tay lắc một chai thuốc trên bàn uống trà, ánh mắt của nữ ảo thuật gia như điện tử theo dõi kỹ càng, quan  sát mọi cử động của anh.

Lúc Bảo Thắng dùng ý niệm lấy các viên thuốc trong chai mà nắp đã bị đóng chặt bỏ vào tay của những người vây quanh. Nữ ảo thuật gia cầm lấy chai thuốc, mở nắp, nhìn kỹ nút bấc.

–        Ra rồi! các viên thuốc đã ra ngoài rồi. Người xem tại hiện trường bị cuộc biểu diễn hấp dẫn, không chú ý nữ ảo thuật gia làm cái gì, họ hưng phấn kêu lên.

–        Không ! đó là ảo thuật, biểu diễn như vậy, tôi cũng có thể làm, tôi ở nước ngoài nhiều lần biểu diễn trò ảo thuật tương tự này. Nữ ảo thuật gia gây hấn nói to với mọi người.

Người chủ trì ngạc nhiên sững người, mọi người cũng đều ngạc nhiên. Trương Bảo Thắng vẫn tiếp tục tiến hành biểu diễn không ngưng lại. Bởi vì việc này xảy ra không ai nghĩ tới, không có chuẩn bị, đột nhiên xung kích bắt mọi người người phải làm thế nào mới được. Căn cứ kinh nghiệm quá khứ, lúc trước, khi Bảo Thắng biểu diễn gặp tình huống như vầy thì anh có thể nổi giận không phát công được, hoặc chí ít phải đợi một tiếng đồng hồ mới có thể bình tĩnh tiếp tục biểu diễn. Tình huống hôm nay thì có khác, không phải trước khi biểu diễn, cũng không phải sau khi biểu diễn, mà trong lúc đang biểu diễn di chuyển vật thể thì gặp tình huống không thích hợp này. Nhìn lại trạng huống của anh, anh vẫn trong trạng thái bình thường, không có chút nổi giận nào, chỉ thấy anh ngây người ngồi tại chỗ, mắt nhìn chết trân vào nữ ảo thuật gia. Mọi người không hiểu việc gì, nhìn hiện trường trong trạng thái cứng đờ, nhưng nữ ảo thuật gia vẫn tiếp tục nói, so sánh…

Chính lúc bà ta đang nói mạnh, Trương Bảo Thắng đột nhiên đứng dậy nói :

–        Đây là cái gì ?

Mọi người nhất tề tập trung ánh mắt vào bàn tay phải của Bảo Thắng. Chỉ thấy anh đưa cao một vật trong tay, màu trắng hình tam giác.

–        Áo ngực ! Có người vọt miệng nói ra

–        Của ai ! Có người buột miệng hỏi thất thanh

–        Có phải của bà không ? Bảo Thắng hỏi nữ ảo thuật gia

Bà ta bất giác tự sờ vào ngực mình, mặt đỏ lên. Nhưng vì lòng tự tôn, và tâm lý tỏ vẻ mạnh mẽ của người nữ khiến bà ta lắc đầu nói : “Không biết”

–        Được rồi ! Bà có thể không thừa nhận của bà. Ở đây tôi còn một vật mời bà xem thử . Trương Bảo Thắng tự đắc nói .

Chỉ thấy anh đưa hai tay lên không, hai bàn tay chấp lại, mọi người còn chưa thấy rõ là cái gì. Hai tay anh bèn buông xuống, mọi người định thần nhìn kỹ, một chiếc áo lót phụ nữ nằm trên mặt bàn trà.

–        Áo này có phải của bà không ?  Trương Bảo Thắng hỏi một cách bình tĩnh

Lúc đó nữ ảo thuật gia mới cảm thấy bên trong áo khoác cơ hồ trống trải, chỉ còn áo ngoài mà thôi. Trong chớp mắt bà chợt hiểu ra, trong lòng nghĩ : không thể lên tiếng thừa nhận, chối thì cũng thật xấu hổ. Miệng không nói nên lời, bà đứng dậy chuồn thẳng.

Mọi người xem xong một màn biểu diễn ngoài chương trình đầy kinh ngạc, như ngủ mơ mới tỉnh, nhiệt liệt vỗ tay hoan nghinh, người chủ trì nhanh chóng cầm áo ngực và nội y chạy theo vị nữ ảo thuật gia. Người hoài nghi công năng của Trương Bảo Thắng đã bị anh sửa lưng, đùa cho một mẻ. Trò đùa của anh khiến nữ ảo thuật gia không kham nổi. Có nhà  xã hội học thường hay phê phán đặc dị công năng của Bảo Thắng, cũng bị anh làm cho một mẻ ê mặt tương tự.  

Có một hôm, một người bạn tìm Trương Bảo Thắng, nói :

–        Anh đi giáo huấn người phê phán anh một chút đi !

Qua ba lần cổ động, Bảo Thắng mới chịu đi theo anh bạn này, ngoài ra có vài người bạn khác cùng đi. Trong một hội trường lớn, cử tọa rất đông chờ báo cáo viên. Nghe nói hôm nay có người thuyết trình phê phán đặc dị công năng (Do nguyên nhân dễ hiểu, chúng tôi không dùng tên họ thật của người đó)

Mấy thanh niên tháp tùng Trương Bảo Thắng ngồi bên dưới khán đài, tiếp theo hàng ghế phía trước.

–        Này ! Bảo Thắng, anh tính giáo huấn ông ta cách nào ? Người bạn kia hỏi

–        Để tôi suy nghĩ cái đã . Bảo Thắng trả lời

–        Hãy cho ông ta một bài học ! Ông ta đi khắp nơi phê phán người khác là duy tâm chủ nghĩa, là mê tín, ông ta tự tuyên bố tuyệt đối không xem biểu diễn đặc dị công năng, không xem thì làm sao biết đặc dị công năng là giả chứ ? Anh bạn kia cổ động Trương Bảo Thắng.

–        Được rồi ! anh đừng nói nữa, để Bảo Thắng suy nghĩ mà! Một người bạn khác nói.

Lúc đó người chủ trì hội nghị đi ra khán đài.

–        Xin yên lặng, hội nghị bắt đầu. Hôm nay chúng tôi mời ông X đến báo cáo. X tiên sinh là nhà xã hội học. Hai năm trước, tại nước ta xuất hiện phong trào tuyên truyền đặc dị công năng, duy tâm chủ nghĩa, ông ấy tư tưởng sắc bén, lập tức tiến hành đề kháng và phê phán. Hôm nay chúng ta có thể trực tiếp nghe ông báo cáo, đây cũng là cơ hội học tập cho chúng ta. Bên dưới xin hãy cho một tràng pháo tay nhiệt liệt hoan nghinh. Người chủ trì vỗ tay đầu tiên để cổ động.

Bên dưới có tiếng vỗ tay lác đác. Trên đài xuất hiện một ông già mập mạp, ông mở cặp lấy ra một một xấp bản thảo, bắt đầu giảng thuyết, ông ta dùng khẩu âm Bắc Kinh khá chuẩn, nói chậm, chia ra các phần 1,2,3,4 mà thuyết giảng, giống như đang lên lớp giảng triết học.

Nghe giảng đa phần là thanh niên, nghe nói là sinh viên đại học. Lúc đó ngồi bên cạnh Trương Bảo Thắng là mấy người bạn của anh, yên lặng chờ đợi. Chỉ thấy họ có lúc nhìn lên khán đài, có lúc nhìn Bảo Thắng, giống như đang chờ đợi một sự kiện gì đó đã biết, sắp phát sinh.

Báo cáo đã tiến hành hơn một tiếng đồng hồ. Ông X đột nhiên dừng lại. Ông ta bắt đầu lật bản thảo, tiếp đó mở cặp da, tìm cái gì đó ở bên trong. Tình huống này bị ông thư ký đứng phía sau khán đài nhìn thấy. Thư ký từ sau khán đài chạy đến bên ông, hỏi nhỏ một câu gì đó, X tiên sinh có vẻ bức xúc:

–        Vài trang bản thảo sao không thấy vậy ? Anh đã chuẩn bị thế nào ? Ông X hỏi khẩn cấp

Dưới khán đài đã có chút xao động, bởi vì mọi người nghe được tiếng khẩn cấp của ông X qua máy khuếch âm.

–        Bản thảo đánh xong cùng một lượt mà, làm sao có thể mất đi đâu ? Thư ký cũng tỏ ra bức xúc

Sự cố ngoài ý muốn này khiến cho trên đài dưới đài đều bất an. Đúng lúc đó Trương Bảo Thắng từ dưới đài đi lên, đến gần ông X :

–        Đây là vài trang bản thảo tôi nhặt được, có phải ông đang cần không ? Bảo Thắng bình tĩnh nói.

–        Anh làm sao mà nhặt được ? ông X nhìn bản thảo, đó đúng là mấy trang ông đang giảng thì bị thiếu.

–        Điều này thì ông không cần biết. Nếu không phải là bản thảo của ông, tôi mang đi vậy

–        Không ! Không ! Đó là bản thảo của tôi. Đương nhiên phải trả cho tôi

Lúc đó Trương Bảo Thắng để mấy tờ bản thảo trên bàn báo cáo viên. Dưới khán đài, thính chúng nghe đối thoại giống như nghe tương thanh (chuyện tiếu lâm). Đại đa số mọi người đều kinh ngạc, không hiểu gì hết, xem họ “biểu diễn” 

–        Anh rốt cuộc là ai ? X tiên sinh nghi hoặc hỏi

–        Tôi là ai, ông biết rồi . Chẳng qua ông không nhận ra tôi, tôi cũng không cần thiết nói cho ông biết. Một lát sau ông sẽ biết thôi. Trương Bảo Thắng nói xong quay người đi xuống đài.

–        Kinh thật ! Cho ông ta biết anh lợi hại thế nào ! Một trong số bạn đi theo Bảo Thắng nói

–        Chưa đủ kinh đâu, đợi một lát sẽ còn lợi hại hơn nữa. Một thanh niên khác nói

Chỉ thấy Bảo Thắng hai mắt nhìn thẳng, bình tâm tĩnh khí nhìn ông X giống như đang nghe ông ta báo cáo. Lúc đó báo cáo của ông X có vẻ không có thứ tự, không mạch lạc, báo cáo bắt đầu lại mà thần thái tự tin không còn nữa, ông vội kết thúc bài giảng của mình.

Trán vã mồ hôi, báo cáo coi như xong. Lúc đó tiếng vỗ tay so với lúc bắt đầu lại còn lưa thưa vô lực hơn nữa. Quần chúng bắt đầu giải tán.

Chỉ thấy ông X theo tiếng vỗ tay vừa dứt, đứng lên một giây, tiếp đó lại ngồi xuống. Chủ trì hội trường chỉ còn cách đứng bên cạnh bàn, cầm microphone lên, tuyên bố hội nghị kết thúc, kỳ thực trước lúc tuyên bố, cử tọa đã rời hội trường.

Thư ký của ông X và người chủ trì hội nghị, thấy ông X ngồi bất động trên ghế, bèn đến trước mặt hỏi :

–        Có phải trong người cảm thấy khó chịu ? Có phải tim phổi bất an ?

–        Thật là kỳ quái, dây nịt quần của tôi không biết sao đâu mất ? ông X nói

Thư ký và người chủ trì bắt đầu tìm sợi dây nịt dưới bàn báo cáo viên nhưng không thấy. Ông X thấy hội trường đã thưa người, mới dùng một tay vịn quần đi vào phía sau khán đài, những người khác cũng đi vào phòng nghỉ phía sau khán đài.

Lúc đó Trương Bảo Thắng và các bạn của anh đã đợi sẵn ở phòng nghỉ.

–        X tiên sinh, chúng tôi lượm được sợi dây nịt quần, có phải của ông không ? Bảo Thắng nói

–        Tại làm sao vậy ? Ông X buồn phiền và thẹn, trở nên giận. Trong lòng ông không muốn thừa nhận sợi dây nịt của mình, nhưng chính mình đang dùng tay giữ cái quần. Nếu thừa nhận thì còn ra thể thống gì. Trong trạng huống tả hữu đều khó, thì người thư ký đã bước đến nhận sợi dây nịt từ tay anh thanh niên, giao cho ông X, Khi ông không còn dùng tay vịn quần nữa, đã hơi ổn định tình hình, bắt đầu hỏi :

–         Các anh là ai ?

–        Vị này là Trương Bảo Thắng tiên sinh. Người thư ký nhanh nhẩu trả lời thay

–        X tiên sinh ! Chúng tôi nhiều lần mời ông xem Trương Bảo Thắng biểu diễn một chút, nhưng ông một mực cự tuyệt không xem biểu diễn đặc dị công năng là như thế nào, nói bừa đặc dị công năng là lừa gạt, là ảo thuật. Tuy thư ký của ông có xem Trương Bảo Thắng biểu diễn, nghe nói anh ấy có hội báo cho ông đúng như sự thật, nhưng ông cho đến nay, chẳng những không xem hiện thực, mà còn tiếp tục viết ra nhiều bài phê phán, hiện tại lại còn báo cáo phủ định đặc dị công năng. Vì vậy, hôm nay chúng tôi đến đây trình cho ông xem, thực hiện hai hạng mục biểu diễn ngay trên người của ông. Nếu biểu diễn của Trương Bảo Thắng giống như ông nói, là giả, là ảo thuật, thì chẳng lẽ bản thảo và dây nịt là đạo cụ do ông cung cấp sao ? Một người bạn của Bảo Thắng nói.

–        Xin lỗi X tiên sinh, chúng tôi hôm nay hành sự đối với ông không tránh khỏi quá tay một chút, chẳng qua là vì việc chẳng đặng đừng, không làm sao khác được. Nếu không làm vậy, ông có thể vẫn tiếp tục đi trên con đường sai lầm, như vậy càng có thể làm tổn hại hình tượng của ông hơn. Hi vọng ông lượng giải. Một người bạn khác của Bảo Thắng nói một cách lễ phép.

X tiên sinh, trước mặt đám thanh niên này, bị á khẩu, nói không ra lời. Lúc đó Trương Bảo Thắng dùng cảm giác tư duy đặc biệt của mình, nhìn thấy tư duy của ông X có thay đổi. Anh cũng không nói gì thêm. Một lát sau, ông X nói lắp bắp một câu :

–        Được rồi ! từ nay về sau tôi không đề cập tới sự việc của các anh nữa

Không ! từ nay về sau hi vọng ông quan tâm hơn. Trương Bảo Thắng tiếp lời.        

 Lấy áo ngực, áo lót, dây nịt người ta đang mặc, đang mang trong người, thì nhất định không phải là ảo thuật, nhất là những người đó một mực phản kháng đặc dị công năng, không thể nói họ đồng tình phối hợp với người thực hiện.

Một câu chuyện sau có thể chứng tỏ đặc dị công năng là hoàn toàn có thật vì người chứng kiến là ông Lý Gia Thành (Li Ka-shing) nhà tỉ phú nổi tiếng của Hong Kong.

Li Ka-shing tỷ phú Hong Kong có tài sản 30 tỷ USD         

Đó là một ngày mùa xuân rộn rịp năm 1991, Hầu Hi Quý đi chúc tết ông Lý Gia Thành, chủ khách sau một hồi hàn huyên thăm hỏi, bèn nói chuyện một cách thoải mái không có gì câu thúc.

“Đã sớm nghe đại danh của Hầu tiên sinh, hôm nay mới gặp, quả nhiên là tướng mạo đường đường.” Lý Gia Thành ngồi trên sofa, cúi mình cười nói, “nhưng công phu phi phàm của ông, tôi chưa được xem qua, chẳng hay ông có vui lòng cho xem không ?”

Hầu Hi Quý cũng cúi mình, nói : “Không biết Lý tiên sinh muốn xem loại công phu nào ?”

“Ở đây tôi có 4 tách trà cao cấp do Cảnh Đức Trấn sản xuất, nếu như ông có thể biến chúng thành 8 tách với cùng phẩm chất, cùng màu sắc hoa văn, cùng tạo hình, tôi thật sự bội phục ông.”

Hầu Hi Quý mỉm cười, nói : “Điều đó không khó, nhưng tôi có điều kiện, quê hương của tôi mong mỏi tôi quyên góp cho họ chút tiền để xây dựng, mà tôi không có, nếu ông đồng ý giúp tôi việc đó, tôi nhất định sẽ biến cho ông xem.”

“Được, được,” ông Lý Gia Thành mỉm cười gật đầu, nói “Cái đó đương nhiên.”

Thế rồi Hầu Hi Quý đứng dậy, hỏi mượn chủ nhân một tấm vải đen, đem che lại 4 tách trà trên bàn, phủ kỹ lưỡng ở 4 góc bàn. Sau đó trên mặt Hầu Hi Quý lộ vẻ nghiêm trang, ngưng mâu trong chốc lát, môi miệng mấp máy vài lần, rồi hét lên một tiếng “đến”, xong dỡ mạnh tấm vải đen, 4 tách trà bây giờ đã biến thành 8 tách, mỗi mỗi đều tinh xảo, hoa văn tươi đẹp, xếp hàng ngay ngắn giữa bàn.

Ông Lý Gia Thành không nghi ngờ, bước đến gần, cầm từng tách trà lên xem kỹ, không thể phân biệt được chân giả, ngụy liệt, bất giác kêu lên “Bội phục”

“Tôi có một thỉnh cầu hơi bất thường, không biết Hầu tiên sinh có đáp ứng không ?” Lý Gia Thành muốn thử xem công phu của Hầu Hi Quý cao thấp, nên bỗng nhiên phát sinh chủ ý, ông nói với Hầu Hi Quý, “Ông đã từng đến nhà tôi ăn cơm, chắc còn nhớ trong phòng ăn của tôi có một cái bàn được bao bọc bằng vàng. Nếu như ông có thể đem cái bàn bọc vàng đó đến phòng làm việc của tôi, thì thật là thần diệu đó.”

Hầu Hi Quý nhướng mày hai cái, ông biết cái bàn bọc vàng đó rất nặng, “di chuyển” nó đi hao phí công phu rất lớn, nhưng để cho ông Lý chân thành kính phục, ông đáp ứng. Hầu Hi Quý yêu cầu ông Lý cung cấp tấm drap giường, lập tức có người đi ra giao cho ông. Ông trải tấm drap dưới đất, kéo cho bằng phẳng, sau đó cởi áo ngoài, mặt hướng về phía cửa, đứng ngưng thần, thời gian chốc lát, chỉ thấy bụng của Hầu Hi Quý từ từ hóp vào, mặt đỏ lên, tiếp đó liên tiếp kêu to : “bàn vàng mau đến! bàn vàng mau đến !” Năm ba phút trôi qua, tấm drap dưới đất bỗng đột ngột nổi lên, lúc kéo tấm drap ra, cái bàn vàng to lớn với ánh vàng óng ánh đã ở đó.

Ông Lý Gia Thành kinh ngạc chưa từng thấy, mắt trừng trừng nhìn cái bàn bọc vàng như muốn chứng thực rằng đây không phải là huyễn ảnh mà là sự thật sống động.

Lúc nhìn Hầu Hi Quý, thấy mồ hôi đầm đìa, mắt lờ đờ, ho nhẹ một tiếng, miệng thổ ra hai búng máu tươi.

Lý Gia Thành nghe tiếng kinh hô, bèn sực tỉnh, thấy Hầu Hi Quý miệng thổ máu tươi, cuống lên, vội kêu người đưa Hầu Hi Quý vào bệnh viện.

“Không cần phải khẩn cấp, không cần phải khẩn cấp.” Hầu Hi Quý xua xua bàn tay to lớn của mình, đặt mông ngồi xuống sofa, nói, “ Lý tiên sinh muốn tôi làm, tôi không thể không làm…có hơi mệt một chút, sẽ khỏe ngay thôi, không cần khẩn cấp.”

Ông Lý Gia Thành lắc đầu nhè nhẹ tỏ vẻ áy náy, cầm bút lên, lập tức ký một tờ chi phiếu 100 vạn nhân dân tệ tặng cho Hầu Hi Quý, rồi cùng với Hầu Hi Quý tay khoác tay chụp hình để ghi nhớ kỷ niệm.

HHQ-LyGiaThanh copy

Lý Gia Thành và Hầu Hi Quý

Nếu không tận mắt chứng kiến công phu thần kỳ của Hầu Hi Quý, ông Lý Gia Thành không có lý do gì để tặng ông 100 vạn (một triệu) nhân dân tệ và còn khoác tay chụp hình một cách rất thân mật.

Mà cũng không phải chỉ có ông Lý Gia Thành, nhiều nhà hào phú khác của Hong Kong, Đài Loan cũng tặng những số tiền lớn cho Hầu Hi Quý sau khi xem ông biểu diễn. Hầu Hi Quý đã quyên tặng cho quê hương ông (Tỉnh Hồ Nam) tổng số tiền là 578 vạn (5,8 triệu) nhân dân tệ.

Không khí bữa tiệc tối rất náo nhiệt, các phó giám đốc Sở Văn hóa, Lưu Kiến Dân, Ngô Đào Phong chia nhau ngồi bên phải và bên trái Hầu Hi Quý. Người phụ trách kịch đoàn Hoa cổ của tỉnh, diễn viên nổi tiếng Lăng Quốc Khang, Lý Tiểu Gia, rời bàn tiệc ra phục vụ văn nghệ. 

HHQ-Tacgia copy

Trái sang phải : Lưu Kiến Dân, Lăng Quốc Khang, Hầu Hi Quý, Liêu Văn Vĩ

Đầu tiên phó giám đốc Lưu nâng ly rượu chúc mừng. Ông nói : “Tôi thay mặt giới văn hóa ở Hồ Nam cảm tạ ông Hầu Hi Quý lần này quyên tặng xây dựng quê hương 578 vạn nhân dân tệ !”

Hầu Hi Quý nâng cao ly rượu, nói “Quê hương của tôi hãy còn nghèo khó, tôi hi vọng quê hương có thể xây dựng giống như Thâm Quyến, Châu Hải !”

Tiếng vỗ tay vang lên khắp sảnh đường át tiếng cười của ông.

Tôi bị lời nói của Hầu Hi Quý làm rung động tâm tư, quay qua Thánh Đông Thăng, hỏi danh sách được quyên tặng, mới biết, số tiền lớn 578 vạn nguyên của ông, cuối cùng chia nhỏ như hồ tiêu như sau :

Tặng huyện Hán Thọ                                                    15 vạn nguyên (nhân dân tệ)

Đoàn Hán Kịch huyện Hán Thọ                                   16 vạn nguyên

Nhà nghỉ Hi Quý Lâu huyện Hán Thọ                         80 vạn nguyên

Nhà hát kịch Hi Quý, Kịch đoàn huyện Du                 40 vạn nguyên

Tặng huyện Du                                                             30 vạn nguyên

Kịch đoàn Võ Lăng thành phố Thường Đức                64 vạn nguyên

Nhà Bảo tàng Thường Đức                                           15 vạn nguyên

Trạm trung tâm Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em Thường Đức      6 vạn nguyên

Thị trấn Hà Phục địa khu Thường Đức Đỉnh                 5 vạn nguyên

Làng Cửu Khê huyện Đào Nguyên                                10 vạn nguyên

Tặng Công an Cục Võ Lăng 1 xe hơi Toyota Crown    36 vạn nguyên

… …

… …

toyota-crown

Xe hơi hiệu Crown của hãng Toyota

Tôi (ký giả Liêu Văn Vĩ) không phiền hà khi đọc la liệt các con số, cũng không phải không biết chúng ai có ai không, nhưng tôi tin rằng bất cứ ai đều có thể nhìn ra, điều Hầu Hi Quý quan tâm là làm cho nhân dân được thực sự ích lợi, lòng nhân từ và đôn hậu của ông được phân giải thành rất nhiều con số linh tinh.

Ông hoàn toàn có thể dùng 578 vạn nguyên này để xây dựng tại tỉnh hội Trường Sa một trung tâm văn hóa giải trí hùng vĩ, trên tường khắc một hàng chữ lớn “Hầu Hi Quý quyên tặng”; ông hoàn toàn có thể dùng 578 vạn nguyên này để cải tạo trung tâm thương nghiệp, bên cạnh dựng một tấm bia, trên đó viết “Hầu Hi Quý quyên tiền xây dựng…nhưng ông không làm.

Thần thông hay đặc dị công năng có vai trò hay mối quan hệ thế nào trong xã hội loài người, hãy tham khảo ý kiến của một nhà khoa học hàng đầu Trung Quốc, qua bài viết “Mối quan hệ giữa Nhân thể đặc dị công năng và Xã hội”

Vài nét về tác giả

TienHocSam2

Nhà khoa học Tiền Học Sâm

Nhà khoa học Tiền Học Sâm (钱学森 Qian Xue Sen) sinh ngày 11/12/1911 tại Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 1934, tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải. Năm 1935, ông sang Mỹ du học.

Sau khi có bằng thạc sĩ ngành động cơ hàng không, Tiền Học Sâm vào làm việc tại Học viện California. Tại đây, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Von Kame chuyên gia hàng đầu thế giới về động cơ tên lửa, Tiền Học Sâm đã bảo vệ thành công học vị Tiến sĩ năm 1938.

Những kết quả kiệt xuất mà Tiền Học Sâm thu được về phương diện nghiên cứu động cơ tên lửa đã được các nhà khoa học và Chính phủ Mỹ đánh giá rất cao. Năm 1945, Bộ Quốc phòng và Bộ Không quân Mỹ đã trao tặng Tiền Học Sâm Huân chương hạng nhất vì “sự nghiệp phụng sự quốc gia”.

Vào những ngày tháng 8/1955, Chính phủ nước CHND Trung Hoa và Chính phủ Mỹ đã có một cuộc trao đổi hy hữu. Chính phủ Mỹ đồng ý cho Tiền Học Sâm được trở về Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc trả tự do cho 11 phi công Mỹ đang bị Trung Quốc giam giữ (bị bắt trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953) được trở về Mỹ. Sự kiện này lúc đó được coi là chuyện “thâm cung bí sử” với cả hai bên.

Tiền Học Sâm là người từ thập niên 1950 đã góp một phần không nhỏ vào việc phát triển ngành không gian cho Trung Quốc và nhờ đó mà trong năm 2003, với chuyến bay Thần Châu 5 và phi hành gia Dương Lợi Vĩ, Trung Quốc đã trở thành nước thứ ba trên thế giới có khả năng đưa được người vào không gian vũ trụ, chỉ đứng sau hai đàn anh Nga và Mỹ.

Ông về hưu từ năm 1991 và sống một đời sống yên tỉnh ở Bắc Kinh. Ông qua đời ngày 31-10-2009 hưởng thọ 98 tuổi. 

Tôi từng kiến nghị thành lập một tiểu tổ nghiên cứu về “Nhân thể đặc dị công năng và xã hội”. Trước hết nghiên cứu về ảnh hưởng phản ứng mà nhân thể đặc dị công năng gây ra cho xã hội, lý giải tại sao xuất hiện sự tranh luận kịch liệt, tiến đến nghiên cứu vấn đề tổ chức quản lý công tác liên quan đến nhân thể đặc dị công năng. Các đồng chí của chúng ta nghiên cứu vấn đề này, cần căn cứ trên tình hình thực tế, xác định rõ xem nên tiến hành công việc như thế nào, nhất thiết không thể mù mờ, phải làm việc một cách đúng như thiên chân, sự thật để tránh sai lầm khiến cho công tác bị tổn thất. Đầu tiên chúng ta phải làm rõ, nói đặc dị công năng là nói về cái gì, thứ nhất là phải đúng, không phải giả : bởi vì cái giả cũng có, thậm chí chân giả lẫn lộn. Thứ hai là công năng nhân thể đó vượt khỏi khả năng nhận thức thông thường của chúng ta. Cái này có hai loại lớn :

1/Đặc dị cảm tri, tiếng Anh là ESP (Extra Sensory Perception) đó là cảm nhận vượt quá mô thức thông tin bình thường, ví dụ “dùng lỗ tai nhận thức chữ viết”.

2/Đặc dị trí động, tiếng Anh là PK (Psycho Kinesis) đó là sự di động vật thể vượt quá mô thức thông thường, tách rời bản chất của vật, như “đột phá chướng ngại không gian” tình hình cụ thể thế nào không thể lý giải rõ ràng được.

Trong sự phân chia của tôi, không có quy định thế nào là người có đặc dị công năng, vì không loại trừ người bình thường trong một tình huống nào đó cũng có thể có công năng dị thường, cụ thể là đặc dị công năng. Còn đối với người rõ ràng có công năng, có trường hợp tự phát như các em thiếu niên có đặc dị công năng; cũng có công năng do luyện tập khí công thâm sâu mà phát sinh, tức có thể luyện thành, như các nhà khí công cao cấp. Còn về khí công đối với việc rèn luyện thân thể, có tác dụng bảo vệ sức khỏe và gia tăng thể lực, thì không nằm trong nhân thể đặc dị công năng. Ở đây nói đến tính chất “đặc dị” của đặc dị công năng, cũng tức là nói rằng chúng ta hiện nay chưa giải thích được, còn chưa có khả năng dùng khoa học kỹ thuật hiện đại để giải thích, vì vậy không nhận thức, không lý giải được rõ ràng. Không nhận thức đương nhiên đều là tạm thời thôi, vì “Trên thế giới chỉ có sự vật chưa được nhận thức, chứ không có sự vật không thể nhận thức”. Về mặt này, lại phân ra hai loại :

-Loại 1 thì có thể dùng khoa học kỹ thuật hiện tại để giải thích được, chỉ là chưa tìm thấy con đường đi thôi.

-Loại 2 mới là loại cần khuếch đại, tăng bổ hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại mới có thể giải thích.

Loại 1 thì có loại như người xưa đã nhận thức, lỗ tai người không dùng thiết bị điện tử, mà cảm nhận được trực tiếp tín hiệu của ra-đa (雷达信号), đó là đặc dị công năng, nhưng năm rồi, nhóm Chu Khang Trọng (Chou Hang Chong) đã thuyết minh, chẳng qua sóng điện từ của ra-đa lan truyền qua đầu người không đồng đều khiến gia tăng nhiệt, vì vậy đó không phải là đặc dị công năng, loại trừ tính đặc dị của công năng. Người nghiên cứu đặc dị công năng của chúng ta cần nghiên cứu loại thứ nhất, nhưng cũng không sợ loại thứ hai, nghiên cứu chưa ra thì về sau chuyển qua loại 2.

Phần I : Tình hình nhân thể đặc dị công năng trong xã hội phong kiến và nước ngoài.

Các đồng chí nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng thường nói, việc này thời cổ đã có, vì vậy khi chúng ta nói về nhân thể đặc dị công năng và vấn đề xã hội, nên nói qua về lịch sử. Về phương diện này, rất nhiều đồng chí đã làm không ít việc, từ thư tịch cổ mênh mông như khói biển của Trung Quốc, tìm kiếm các ghi chép liên quan đến nhân thể đặc dị công năng, Trần Đào Thu là một trong số đó, ngoài ra còn có Tạ Dục Du và Lý Kim Dung, nhưng tôi cho rằng từ góc độ nhân thể đặc dị công năng và xã hội mà nhìn, sau khi tìm ra ghi chép lịch sử, thấy rằng người có đặc dị công năng tuy có lúc được giai cấp phong kiến thống trị dung nạp, nhưng nói chung là thường bị đả kích áp chế, thậm chí có khi bị sát hại, vì sao thế ? việc này cần giải thích từ bản chất của xã hội phong kiến. Những kẻ phong kiến thống trị là bọn người tham lam mà không bị ai kềm chế, họ muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất lão, nhưng lười biếng, không chịu rèn luyện, vì vậy rất thích bái tiên cầu phật, tìm tiên đơn, thuốc bất tử. Đó là lý do tại sao dung nạp một số cao nhân của hai nhà Đạo, Thích, để tìm con đường bất tử. Vì vậy các hoàng đế già hay trẻ đều xưng là thiên tử, phô trương quyền uy vô thượng của họ, một khi xuất hiện người có đặc dị công năng cụ thể, bất luận đó là trẻ em hay người lớn, không thể không làm cho họ sợ uy : khi xuất hiện người có quyền lực còn hơn hoàng đế, nó sẽ hấp dẫn dân đen bị áp bức, bị bóc lột trong xã hội phong kiến tìm đến người đó như một vị cứu thế, điều đó khó chấp nhận, đó là mối hại không trừ không được, nếu may thì bị đuổi vào vùng sơn dã, không may thì bị chém đầu, còn nói những dị nhân này vi phạm điều gì, điều đó đôi khi cũng có, còn không thì chẳng qua là miệng lưỡi mà thôi. Vậy phải chăng có thể nói trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm của Trung Quốc và hơn 100 năm bán phong kiến, bán thực dân, mặc dù một mặt mê tín thần quỷ hoành hành, thần tiên chỉ có thể ở trên trời, không thể xuống thế gian. “Thuật thần tiên” thật sự là để chỉ nhân thể đặc dị công năng xuất hiện trong xã hội, là điều mà bọn phong kiến thống trị không thể dung thứ, xem thế thì nhân thể đặc dị công năng trong lịch sử Trung Quốc có địa vị xứng đáng hay không ? mọi người cần nên nghiên cứu, nhưng cứ theo tình huống đó mà nói, thì nhân thể đặc dị công năng có quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo. Cho đến ngày nay, tại các quốc gia tư bản chủ nghĩa, có tình trạng lấy nhân thể đặc dị công năng làm lời hiệu triệu để chấn hưng tôn giáo. Năm 1982, tập đoàn yoga Maharishi Mahesh đến nước ta du lịch là một ví dụ, người Ấn Độ này lợi dụng việc luyện tập khí công tạo được công năng, cũng làm được một vài thực nghiệm khoa học, nhưng xuất phát từ đó, tuyên truyền những nhận thức mới nào đó cho nhân loại, muốn tổ chức một chính phủ mới nào đó cho thế giới, cứu vãn thế giới, ông ta xưng là có 100 triệu tín đồ, còn có một đại học của Maharishi tại Thụy Sĩ, Âu Châu để làm cơ sở nghiên cứu khoa học, các đồng chí chúng ta cần phân biệt khoa học với tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có thể lợi dụng tiếp thu công tác thực nghiệm khoa học chân thật của họ, hành động của Maharishi tại các quốc gia tây phương cũng được thuyết minh, nói một cách nghiêm túc, khoa học, thì sự nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng khó được chi viện bởi các nhà tư bản, muốn họ xuất tiền trợ giúp, phải lợi dụng lòng nhiệt tâm của các nhà tư bản đối với hoạt động tôn giáo. Tại sao các nhà tư bản ở các quốc gia phương tây nhiệt tâm với tôn giáo ? đó là một vấn đề xưa cũ, không thể không dùng tôn giáo để làm hòa hoãn thái độ của nhân dân lao động đang bất mãn với chế độ tư bản chủ nghĩa của họ, đem cái góc nhìn của nhân dân di chuyển về phía không gian của tân thế giới mà thôi vậy. Như vậy nhân thể đặc dị công năng được dùng để phục vụ cho nhà tư bản ! thật ra các nhà tư bản còn lợi dụng nhân thể đặc dị công năng ở nhiều phương diện khác nữa như : để cho người có đặc dị công năng lên đài biểu diễn, quần chúng đang thất vọng với hiện thực có thể tìm thấy sự thỏa mãn bằng cách kích thích dục vọng, tìm kiếm con đường khác, một mặt có khả năng kiếm tiền, có rất nhiều tiết mục nhân thể đặc dị công năng trên truyền hình, cũng hấp dẫn quần chúng, đài truyền hình cũng gia tăng thu nhập quảng cáo phí, thật là nhất cử sổ đắc (làm một việc mà lợi nhiều điều) ! nhưng cũng do đó mà hấp dẫn một số phần tử đầu cơ, họ làm giả lừa gạt, trong biểu diễn thật ra chỉ làm ảo thuật, bịp mọi người để kiếm lợi, làm bại hoại thanh danh của nhân thể đặc dị công năng.

Như trên tôi đã nói, tại các quốc gia tây phương, vì có người cố ý quậy bùn, do đó dẫn đến tình trạng đa số người chân chính có sự hiểu lầm đối với nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng, cho rằng nhân thể đặc dị công năng là giả, từ đó không chi viện cho sự nghiên cứu về nó, đó là một nguyên nhân phản đối đặc dị công năng, trong giới nhân sĩ khoa học kỹ thuật cũng có bất đồng rất kịch liệt, một nguyên nhân khác khiến người ta không thể tiếp thu là nó mâu thuẫn với lý luận khoa học hiện đại. Số người này chiếm một số lượng không nhỏ trong giới khoa học kỹ thuật tại các quốc gia tây phương. Ở đây lại có một biến chủng, có thể nói là nguyên nhân thứ ba phản đối nhân thể đặc dị công năng : một số người vốn tin tưởng nhân thể đặc dị công năng, đã có làm qua công tác nghiên cứu, nhưng về sau lại suy nghĩ phản đối, bởi vì không có cách nào làm cho nó dung hợp với lý luận khoa học, bởi vì cảm thấy nó rất trái với cảm nhận thông thường; cuối cùng cái khiến người ta lìa bỏ nhân thể đặc dị công năng, đó là tinh thần cầu an, loại người này có thể cho tín hiệu bên ngoài gọi là “phản sô thoát tiết giả” 反芻脱节者 (kẻ nhai lại, thiếu tinh thần tìm tòi sáng tạo mang tính cách mạng) là nguyên nhân thứ tư phản đối, loại này cũng có rất nhiều tại các quốc gia tây phương, họ cho rằng nhân thể đặc dị công năng là không ổn định, đối với một người có đặc dị công năng mà nói, đều có lúc thất bại, về mặt ý nghĩa thống kê, không thể khiến người ta tin phục, vì vậy mà không ủng hộ. Do trong xã hội tây phương, có số lượng lớn người phản đối nhân thể đặc dị công năng, vì vậy mặc dù đã sớm có tổ chức học thuật nghiên cứu về nhân thể đặc dị công năng, có sự ủng hộ tích cực của các khoa học gia, nhưng công tác nghiên cứu vẫn gặp khó khăn vô cùng. Không có bao nhiêu kinh phí, cũng không thể đưa vào kế hoạch nghiên cứu của quốc gia, ngay cả tác phẩm của các nhà nghiên cứu cũng khó tìm được chỗ sẵn lòng xuất bản (những nhà xuất bản uy tín không chịu in) : ví dụ giáo sư đại học R. A. McConnell, sách của ông đã hỏi 29 nhà xuất bản thương mại và 32 nhà xuất bản của các trường đại học, nhưng không một ai đoái hoài, cuối cùng phải tự bỏ tiền ra in. Tình hình này đã được nêu ra rõ ràng trong vài báo cáo tổng hợp của Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh (Society for Psychical Reseach) Anh quốc tại Đại học Cambrige tháng 8-1982 nhân 100 năm thành lập, cũng như trong hội nghị 25 năm của Hội Cận Tâm lý học (Parapsychological Association) Mỹ.

Còn về tình hình tại Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, năm 1970, có sách của S. Ostrander và L. Schroeder đề cập, nói rằng công tác nghiên cứu về nhân thể đặc dị công năng tại những khu vực đó phát triển hưng thịnh như thế nào, có vẻ tiến bộ hơn nhiều so với các nước tây phương, mà báo chí phương tây đã vui thích đăng lại thông tin nhân thể đặc dị công năng với chút khoa đại ở bìa tạp chí và những vị trí trang trọng để hấp dẫn độc giả, còn ở chính Liên Xô và Đông Âu thì các thông tin này đã được tuyên truyền thổi phồng như là “thành tựu” của khoa học kỹ thuật Liên Xô, đối với một số người ở các nước tư bản thì đó là một loại cách thức, chỗ dựa cho việc cổ xúy gia tăng chế tạo quân bị. Năm 1975, lại có một nhà nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng người Mỹ là Stanley Krippner lại vạch ra chỗ bí ẩn này, nói rằng cái gọi là nghiên cứu đại qui mô về nhân thể đặc dị công năng của Liên Xô là không tồn tại. Nghiên cứu đại qui mô về nhân thể đặc dị công năng trong truyền thuyết ở nước ngoài, dù ở các nước tây phương hay đông phương, đều xây dựng trên ý tưởng ứng dụng quân sự, nếu thành công sẽ là một cuộc cách mạng lớn trong kỹ thuật quân sự, nhưng nhìn vào trình độ nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng mà nói, thì khả năng này còn quá xa vời, chủ yếu là vì loại công năng này không ổn định. Mà không ổn định thì không thể dùng làm căn cứ, đó là sự thiếu sót tai hại cho bất cứ ứng dụng nào, mà trong ứng dụng quân sự, sự thiếu sót tại hại này lại càng không thể chấp nhận. Thí dụ trong đặc dị cảm tri, dùng công năng nhận biết từ xa để thu thập thông tin tình báo mà không ổn định, thông tin tình báo không tin cậy có thể sử dụng được không ? nếu như trong ngàn vạn thông tin tình báo, chỉ tham khảo được một vài thông tin thì ý nghĩa của nó không lớn. Vì vậy, tôi cho rằng về mặt quân sự ở nước ngoài, nếu có dành ngân khoản để nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng, thì chẳng qua đó là tính toán lâu dài, trước mắt chỉ đầu tư số tiền nhỏ, đợi khi nào có mầm móng ứng dụng chân thật, công năng ổn định đáng tin, thì mới đầu tư lớn, phát triển gia tốc. Do đó ngân khoản dành cho nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng trong những năm trước mắt, không thể lớn, như có người nói rằng Liên Xô chỉ dành ngân khoản một triệu mỹ kim, so với ngân sách quân sự hàng năm của Mỹ khoảng 200 tỷ đô la (vào thập niên 1980), thì chỉ là một số lẻ rất nhỏ.

Trên đây là phân tích công tác nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng ở nước ngoài, chỉ là sơ bộ thôi, còn phải tiếp tục tiến hành, để làm một khóa đề nghiên cứu về nhân thể đặc dị công năng và xã hội, chúng ta cần phải từ trong đó tìm ra cái mà chúng ta có thể dựa vào để quan sát. 

Phần II. Tình hình nhân thể đặc dị công năng tại Trung Quốc

Trong phần I, tôi đã nói về tình hình nhân thể đặc dị công năng trong xã hộc cổ đại Trung Quốc và trong xã hội hiện đại ở nước ngoài, trong phần này sẽ nói về tình hình nhân thể đặc dị công năng trong xã hội hiện đại Trung Quốc, đặc biệt từ mùa xuân năm 1979, lúc phát hiện tại huyện Đại Túc tỉnh Tứ Xuyên, em bé Đường Vũ có đặc dị công năng, có thể dùng lỗ tai nhận thức chữ, cho tới tình hình các mặt xã hội 4 năm sau này.

Đầu tiên nói về mặt phản đối, các nhân viên khoa học kỹ thuật, các khoa học gia, kiến trúc sư, thành thật nói chung, bất kể quốc tịch, bất luận họ thuộc chế độ xã hội nào, đều có chỗ tương đồng do ảnh hưởng của nghề nghiệp mà thành. Tại Trung Quốc, số người phản đối nhân thể đặc dị công năng không ít, nếu phân loại riêng biệt ra thì cũng giống như nước ngoài, có thể phân ra 4 loại :

Thứ nhất, có người lập luận cho rằng đó là làm giả, là vi phạm lý luận khoa học, là nhai lại, nên có thái độ tạm thời không bảo lưu, thái độ này không phải chỉ chúng ta mới có, cũng có thể không cần đi sâu vào. Thứ hai, đó là vì đặc điểm của chúng ta là nước xã hội chủ nghĩa, đối với vấn đề này có những người phản đối với lập luận rất cao, đó là nói về căn cứ của nó, họ tự mình nói, ý kiến của họ là căn cứ trên kinh điển của chủ nghĩa Mác, họ phản đối vì nó vi phạm lý luận của chủ nghĩa Mác là một lập luận rất cao, không ai không nghĩ rằng từ trên cao thế này áp xuống, khiến cho những người bị họ phản đối phải chịu áp lực rất lớn. Họ trích dẫn khá nhiều trứ tác kinh điển của Engels “Biện chứng pháp của tự nhiên” (Dialectics of Nature), “Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh” (Natural Science and the Spirit World), trong đó Engels phê phán nghiêm túc những người lừa dối, đồng thời cũng phê phán những người để cho mình bị lừa dối như các ông Wallace và Crookes, người làm giả và người để cho bị lừa đương nhiên cũng đáng phê phán, bởi vì làm giả là vi phạm nguyên tắc của nghiên cứu khoa học, điểm này tôi đã sớm nêu rõ trong bài viết từ đầu năm 1980 : “ Chúng ta đối với Wallace và Crookes của ngày nay đều không tán thưởng”. Do đó cái “cao” của những người cao luận là ở trên không, hãy hạ thấp xuống đến những thí dụ trước mắt, một điều mà trong hàng ngũ những người phản đối làm giả, lý luận giả, được cho là thích đáng. Thứ ba, bên cạnh số người cho rằng làm giả, lý luận giả, cũng có một số người có chỗ không giống với những người khác, một là phải mời ông xem thực nghiệm về nhân thể đặc dị công năng, để chứng nghiệm chân hay giả, ông trả lời là không xem, nói : “Không thể che con mắt được !”, hai là nói trong thực nghiệm nhân thể đặc dị công năng, bao gồm tính trắc nghiệm của biểu diễn, chỉ chứng minh có một lần là giả mà cho rằng toàn bộ đều là giả. Bọn họ mới thực là “kỳ nhân” khó gặp trong thiên hạ : có thể so với bệnh nhân cự tuyệt y liệu, nói trị liệu có thể làm ô nhiễm toàn thân; hoặc nói chỉ cần một lần nào đó, một bác sĩ nào đó trị liệu sai, bèn cho rằng bác sĩ nào cũng là kẻ lừa gạt. Do đó hãy để chúng ta bình tĩnh ôn hòa mà nghiên cứu, tại nhân thể đặc dị công năng thực nghiệm và trắc định vì sao xuất hiện hư giả, vấn đề bản chất là công năng của người có đặc dị công năng tự phát không hoàn toàn ổn định, khi có các nhân tố can thiệp của hoàn cảnh thì không thể hoàn toàn khống chế được. Chỉ có sự bức xúc khiến làm giả là nguyên nhân xã hội, hoặc nói cho uyển chuyển một chút, đó là nhân tố tâm lý. Đối với đặc dị công năng, yếu tố nhân thể, con người là quan trọng, có lúc có thể làm giả, mọi người đều quá biết, vấn đề là rõ ràng, từ nay về sau cần nghiên cứu làm sao để tránh. Thứ tư, nhân thể đặc dị công năng và vấn đề xã hội : trong xã hội của chúng ta, hiện tại cũng có một số người nào đó, nghĩ rằng từ trong biểu diễn nhân thể đặc dị công năng có thể lấy ra điểm tốt cho cá nhân anh ta, đặc biệt là hình thái xã hội ngày nay có lợi cho nhân thể đặc dị công năng, mọi người hứng thú với nhân thể đặc dị công năng, như từ nửa cuối năm 1980 đến nửa đầu năm 1981, lúc đó họ có thể xuất hiện trên đài truyền hình, xuất hiện ở các loại trường hợp khác, có đông đảo các chuyên gia, các tổ chức khoa học thực nghiệm, những người nhiệt tình, họ có thể khoa trương nói : “nhân thể đặc dị công năng tồn tại rộng rãi, lại có thể lập tức ứng dụng trong khảo cổ, công an … …cho tới quốc phòng, quân sự, ông không tin hả ? xin mời xem !” Nhưng nếu như họ tổ chức các em bé có nhân thể đặc dị công năng biểu diễn, nhất thời gặp trường hợp công năng không hiệu quả, đó chẳng phải làm ngã đổ cái đài của họ sao ? Không thể được, họ cần phải làm giả, loại người này là một con ngựa làm hại đàn trong đội ngũ nghiên cứu nhân thể đặc dị công năng của chúng ta, đối với họ phải cảnh giác, nhưng cũng không khó nhận ra hành vi của họ. 

Tại Trung Quốc, ảnh hưởng của 10 năm nội loạn (cách mạng văn hóa 1966-1976) hãy còn chưa hoàn toàn tẩy sạch, vẫn còn một số người mang tinh thần nịnh bợ của xã hội phong kiến, tung hê phụ họa “bản lĩnh” của thượng cấp, bọn họ trở thành số người mà chúng ta đang nói trước mắt, là lập luận rất cao, đập tay phản đối, cái đập tay phản đối của những người này không có nguyên tắc gì cả, tất cả chỉ là phụ họa, thượng cấp nói phản đối nhân thể đặc dị công năng, bọn họ bèn che mờ lương tâm, đem thị nói thành phi, đem sai nói thành đúng, chỉ khi loại người này có ngày lộ mặt, mới hay đều là cái mà người ta không thể coi trọng. Đối với bọn họ thì không đáng phí nhiều hơi sức để nói, nhưng khi nói về nhân thể đặc dị công năng và xã hội, thì phải đề cập tới, rằng có một kiểu như vậy.  

Phần III. Những vấn đề liên quan đến người có đặc dị công năng

Nói về phương diện phản đối công tác nhân thể đặc dị công năng, còn một vấn đề nữa, hiện nay trong đội ngũ công tác nhân thể đặc dị công năng của chúng ta, một bộ phận thành viên quan trọng là người có đặc dị công năng, trong đó phân thành hai loại là : tự phát có và luyện tập mà có. Tại Trung Quốc, người tự phát có đặc dị công năng, đại bộ phận là trẻ em trong khoảng trên dưới 10 tuổi, cũng có một số ít khoảng trên dưới 20 tuổi, cho đến thanh niên lớn tuổi hơn nữa, chúng ta đã có nhiều thí nghiệm để thuyết minh kinh qua dẫn dụ hướng dẫn giản đơn, không phải là luyện tập trường kỳ, trong số thiếu niên trên dưới 10 tuổi, có khá nhiều trường hợp thu hoạch được nhân thể đặc dị công năng sơ cấp, như dùng lỗ tai nhận thức chữ, do đó có thể nói số người có đặc dị công năng tự phát tại Trung Quốc là rất đông, dĩ nhiên là số người có công năng rất mạnh thì cực kỳ ít trong đám thiếu niên. Hiện tại, cha mẹ của số thiếu niên có công năng mạnh đều có phản ánh một số vấn đề cần giải quyết : số trẻ em này không thể thích ứng với thể chế và phương pháp giáo dục hiện có, bởi vì có công năng thì lại làm trở ngại việc học tập của chúng, học không tốt. Lại thêm khi phát công làm tiêu hao thể lực, do đó phải có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho trẻ em có đặc dị công năng.   

              Tiền Học Sâm (Bài do đồng chí Trương Chấn Hoàn cung cấp, có tinh giản)

Người phê bình thì cho rằng nếu đặc dị công năng là chân thật thì toàn bộ lý luận khoa học cần phải bổ sung và đánh giá lại, thậm chí toàn bộ hoặc một bộ phận phải sụp đổ, đối với triết học cũng có thể bị công kích toàn diện. Tỉ như công năng “dùng ý niệm di chuyển vật” có thể gây ra cuộc khiêu chiến giữa hai khái niệm cơ bản là lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần. Trong học thuyết truyền thống, chỉ có vật chất mới có khả năng sản sinh trực tiếp lực lượng di động vật chất, tinh thần (tư tưởng) không thể trực tiếp sản sinh lực lượng. Thế nhưng người có đặc dị công năng chỉ dùng “ nghĩ tưởng” (ý niệm) lại có thể di động được vật chất (giống như Trương Bảo Thắng di chuyển trái táo trong thùng sắt ra ngoài). Đó chẳng phải là xung đột với quy luật cơ bản của khoa học truyền thống sao ? Không lấy làm lạ là tại Liên Xô trong một khoảng thời gian, nhà nước đã lưu đày những người có quan điểm đặc dị công năng đi Tây Bá Lợi Á, thậm chí xử bắn.

Tuy nhiên, nhà khoa học trứ danh Tiền Học Sâm, trong một bài viết khác luận bàn về đặc dị công năng, đầy hứng khởi nói : “Tổng quát mà nói, gầy dựng sự nghiệp này không dễ, nhưng chúng ta tin rằng xây dựng được, nhất định là dẫn đến một cuộc cách mạng khoa học, đó là người ta nhận thức nhảy vọt về thế giới khách quan. Nếu làm tốt, có thể cuộc cách mạng này sẽ đến trong thế kỷ 21”

Một điều đáng chú ý trong bài viết của Tiền Học Sâm là thiếu niên có đặc dị công năng mạnh không thể thích ứng với thể chế và phương pháp của nền giáo dục hiện tại của xã hội. Điều này có thể thấy rất rõ trong trường hợp của Trương Bảo Thắng.

Trương Bảo Thắng đến Bắc Kinh không lâu, Tiền Học Sâm đã xem anh biểu diễn và tiếp kiến anh. Ông nhận định : công năng của Trương Bảo Thắng rất mạnh, đáng tiếc là trình độ học vấn của anh rất thấp, vì nghiên cứu khoa học và nhu cầu trong tương lai, Trương Bảo Thắng phải đi học đại học.

Lúc đó muốn vào đại học phải kinh qua thi tuyển, căn cứ vào đề nghị của Tiền Học Sâm, Trương Bảo Thắng phải chuẩn bị vào đại học. Anh chuẩn bị thi, bắt đầu khẩn trương học tập và đọc sách. Học tập và đọc sách là việc rất nhức đầu đối với Trương Bảo Thắng. Anh nói mỗi lần học là bị nhức đầu, từ lúc nhỏ đã như vậy. Nhưng mà đến nay là lúc thi thố, lại có đề nghị của Tiền Học Sâm, Trương Bảo Thắng chỉ còn cách ôm đầu ứng phó với việc thi cử.

Khảo thí tiến hành tại Lễ Đường Trung Nam Hải. Đối với Trương Bảo Thắng, các đề mục trong bài thi anh không thể làm được. Trong phòng thi yên lặng, không ai biết anh đang thi triển công năng của mình : anh bắt đầu thấu thị bài thi của người khác. Đáp án của người khác từ từ hiện lên trong não của anh, anh có thể giống như học sinh chép bài giải của thầy giáo trên bảng đen. Sao chép bài thi của người khác, nếu đáp án đúng thì anh cũng đúng, nếu đáp án sai thì anh cũng sai theo.

Sau khi kỳ thi đặc biệt này kết thúc, điểm trong bài thi của anh không phải thấp. Nhưng thành tích của cuộc thi có tính đến anh không ? Đương nhiên là không. Trương Bảo Thắng sau khi thi xong, nhất nhất đều báo cáo với thầy giáo và lãnh đạo, rồi nói : “Tôi không thể đọc sách được, vì tôi nhức đầu” do anh thêm một lần phát biểu không tình nguyện học tập, cơ quan hữu quan bèn thôi bỏ qua việc cho anh vào đại học.

Nhưng vấn đề là Trương Bảo Thắng không cần phải học mà vẫn có thể lợi dụng được toàn diện tri thức của người khác.

Từ lúc anh phát hiện mình có thể lợi dụng tri thức của người khác trong việc thi tuyển bằng công năng tư duy cảm tri, bèn thường xuyên lợi dụng tư tưởng của người khác bổ sung tri thức cho mình. Trong một khoảng thời gian, anh thường theo tài xế học lái xe, chỉ cần có tài xế ngồi một bên là anh biết lái xe, người khác cho rằng anh biết lái xe, kỳ thực anh chỉ học các thao tác bên ngoài của tài xế, còn chủ yếu là lợi dụng tín hiệu tư duy trong đại não của tài xế để chỉ đạo thao tác của mình. Lúc mới học lái xe, phát sinh sự kiện này : anh mượn một chiếc xe của người khác, tài xế đi theo xe, nhưng chỉ ngồi trên xe chứ không lái. Bảo Thắng mượn tín hiệu trong não của anh tài xế, tự lái xe từ ngoại ô phía tây đến nội thành. Anh xong công việc, nhưng anh tài xế có việc cũng đã đi rồi. Khi Trương Bảo Thắng lên xe, thấy không có tài xế, chỉ có hai vị khách không biết lái xe, trong một lúc anh hốt hoảng, đã không biết khởi động, lại không biết bẻ lái thế nào, giống như trong phút chốc anh hoàn toàn quên hết kỹ thuật lái xe. Sau đó anh cũng phải khó khăn mới tìm được một người tài xế ngồi trên xe, anh bắt đầu mô phỏng tín hiệu trong não người này và lái xe đi.

Một lần, các chuyên gia máy tính muốn lợi dụng khả năng thấu thị của anh để kiểm tra một bộ máy tính lớn mới nhập khẩu xem tình trạng kết cấu bên trong máy. Để cho anh hiểu máy tính, họ mời anh vào bên trong một phòng máy tính để làm quen với tình huống. Mọi người ngạc nhiên khi phát hiện anh dù chưa hề học qua máy tính, cũng không tiếp xúc với máy tính, nhưng anh tỏ ra không hề xa lạ chút nào.

Sau khi xem thao tác biểu diễn của nhân viên xong, anh ngồi vào máy để tự mình thao tác, nhưng không hề có sai sót. Mọi người mới hỏi anh làm sao học được cách sử dụng máy tính và học lúc nào, anh cười trả lời : “Tôi chưa học bao giờ, bởi vì có nhân viên máy tính ở bên cạnh, tôi chỉ lợi dụng tín hiệu não của anh ta mà biết thao tác” Mọi người bán tín bán nghi về lời anh nói.

Trong một lần chấp hành nhiệm vụ, anh đến vùng tây nam của đất nước, anh xem máy bay trực thăng một cách thích thú, anh muốn lái nó bay lên trời cho bằng được. Phi công và các đồng chí khác khẩn quyết không để cho anh lái, cho rằng đó là việc rất nguy hiểm, anh chỉ nói chơi thôi. Anh cười nói “Đừng căng thẳng, chỉ cần có các anh (phi hành đoàn) ở bên cạnh là tôi biết lái máy bay”. Người khác căn bản là không tin lời anh, chỉ để cho anh mò mẫm thao tác một chút. Mọi người ngạc nhiên phát hiện, trình tự thao tác của anh giống như người “biết lái máy bay”. Sau đó anh nói ra cách tư duy bí mật của mình. Mặc dù mọi người đã tin khả năng của anh là thật nhưng cũng không dám để cho anh mạo hiểm.

Kết luận

Thần thông hay đặc dị công năng trong thế giới đời thường tuy có nhiều câu chuyện làm giả, hay đôi khi chính người có đặc dị công năng thật, cũng thất bại trong thực nghiệm, nhưng nói chung đó là tồn tại khách quan không thể phủ nhận. Chính Trương Bảo Thắng chỉ mới có trình độ học vấn tiểu học, nhưng anh vẫn có khả năng viết ra những bài tiểu luận có trình độ cao, không học mà biết là việc có thật. Sau đây là những điều do anh tự viết :

Đối với tôi là người có đặc dị công năng, đương nhiên tôi cũng có kiến giải của chính mình.

Đặc dị công năng đã được phát hiện và ghi chép không phải bắt đầu từ năm 1979, Trung Quốc cổ đại đã sớm có ghi chép. Chỉ vì do hạn chế của thời đại, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, lại thêm một số nhà thần học giải thích theo ý riêng, ngoài ra còn thêm sắc thái mê tín, thần bí không thể trắc nghiệm, khiến cho nó khó được nghiên cứu một cách chân chính.

Tại nước ngoài, từ Phi châu đến Âu Mỹ, đến Nhật Bản, đều có không ít phát hiện liên quan đến người có đặc dị công năng, được ghi chép, đặc biệt là mấy chục năm gần đây. Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều nhà vật lý học, sinh vật học, y học, tham gia vào hàng ngũ phát hiện và nghiên cứu đặc dị công năng, phát biểu ngày càng nhiều các tài liệu nghiên cứu.

Đương nhiên các tài liệu này có tốt có xấu lẫn lộn, đen và trắng vừa bổ sung cho nhau vừa khắc chế lẫn nhau. Đối với người không tin đặc dị công năng, cho rằng đó là đánh lừa, là ảo thuật, là duy tâm luận, là duy linh luận, nói rằng nước dâng cao thì thuyền lên cao, một số người hẳn là có nhìn xem và bày tỏ như thế. Có lúc quả là có tình hình chân giả khó phân biệt.

Theo ngu kiến của cá nhân tôi, đại khái cả hai bên đều có lý lẽ.

Trung Quốc trong quá khứ có một số thày bói, ông thần bà bóng, đại đa số là hồ đồ bá đạo, gài bẫy người gạt tiền.

Nghe nói ở nước ngoài có một pháp sư tự xưng có thuật yoga, có thể khiến cho tim mình ngừng đập, chết đi nhưng sau đó sống lại, sau bị người phát hiện là lợi dụng áo dệt kim bằng đồng quấn chặt thân cứng đờ, lại lợi dụng quả cầu bằng đồng kẹp dưới nách khiến mạch đập của tim bị mất đi, từ đó đạt mục đích gạt tiền.

Có người báo rằng : một số người tự xưng có đặc dị công năng, có thể dùng ý niệm bẻ cong cái muỗng canh, nhưng bị phát hiện là dùng thủ pháp của nhà ảo thuật, đánh tráo cái muỗng đã bẻ cong sẵn trên ghế hoặc trên bệ cửa, chỉ là gạt người thôi.

Từ giác độ đó mà xem, do sự sai khiến của lòng hư vinh hoặc do sự bức bách của đời sống, càng dễ bị hơi đồng kim tiền dẫn dụ, từ cổ chí kim, bốn phương tám hướng, lừa gạt có kỹ thuật, xác thực là có trong số lớn trường hợp.

Nhưng tôi cho rằng, không thể vì có một số thày bói đoán mệnh hồ đồ bá đạo mà phủ định khả năng cảm tri quá khứ, dự báo vị lai của đặc dị công năng. Không thể vì có những bà bóng, ông thần lừa người hại mạng mà phủ định khả năng dùng đặc dị công năng chẩn bệnh, khám bệnh của “tân đại thần nhi” thời thập niên 30. Cũng không thể vì có kẻ dùng áo đồng, quả cầu đồng gạt người theo cách của các thầy yoga mà cho rằng thuật yoga là mê tín, lừa gạt. Thậm chí không thể cho rằng vì một số người có đặc dị công năng trước đám đông làm một vài lần giả mạo mà nói rằng họ không có đặc dị công năng. Đối với điểm sau cùng này, tôi đặc biệt nêu ra vài câu tất yếu :

Đặc dị công năng là một loại công năng mà người bình thường khó lý giải, cũng là một hiện tượng mà khoa học kỹ thuật hiện tại chưa thể giải thích được, khiến cho chính người có đặc dị công năng thỉnh thoảng cũng phải ngạc nhiên than thở không nguôi, hoang mang không hiểu. Người bình thường thấy người có đặc dị công năng là quái nhân, quái vật, luôn mang một nhận thức tiên nghiệm tuyệt đối không thể tin được, và mang một tâm lý săn đón yêu cầu người có đặc dị công năng biểu diễn. Do cái thấy là hiện tượng mà lý thuyết vật lý thông thường không thể giải thích được. Vì vậy dẫn đến thái độ xem thấy rồi nhưng nhất quyết không tin.

Thiết tưởng, người biểu diễn làm thế nào làm giả một cách kỳ diệu được để lừa được người, rồi còn bị yêu cầu biểu diễn lại nhiều lần ? Lấy trường hợp thể nghiệm cá nhân của tôi, có lúc người biểu diễn không được chủ động, tức bị động làm giả, gạt người một chút, có ba nguyên nhân : Đầu tiên, xử lý theo cách này đối với bạn là cực bất tín nhiệm, hoặc trong khí thế bị xem là quái vật, thực tế là khiến người ta không thể kiên nhẫn chịu được. Hai là theo cảm thụ tự thân của chính mình, vô luận là dùng mũi ngửi chữ, hoặc thấu thị vật thể, hoặc là dùng ý niệm di chuyển vật thể, hoặc dùng thấu thị viết ra v.v…mỗi lần làm một việc gì đều cần tiêu hao năng lượng nhất định, não rất mệt, làm sao có thể kiên trì chịu đựng làm đi làm lại hoài, lần hai, lần ba, trùng phục một cách tùy tiện được ! Ba là, dù là người có công năng cực mạnh, cũng không thể bất cứ lúc nào, đều có thể thực hiện bất cứ hạng mục công năng nào một cách thành công được, đặc biệt là trạng thái tinh thần và trạng thái thân thể, gặp lúc không tốt, thì có thể thất bại.

Xem xét các tình huống kể trên, có lúc vì để ứng phó, có lúc vì đóng kịch bất đắc dĩ, không thể không làm giả. Tôi nghĩ dù là người rất trung thực, có lúc cũng có thể làm như thế. Vì vậy tôi cho rằng, nếu như có một số người chỉ vì một hai lần xem biểu diễn giả, lại một mực cho rằng đặc dị công năng là thuật lừa người, thì không tránh khỏi tình trạng lấy lá che mắt nên không thấy được núi Thái sơn. Đến như một số người cho rằng hiện tượng biểu hiện của đặc dị công năng, không thể dùng lý luận khoa học để giải thích, không thể phù hợp với lý giải của “biện chứng duy vật luận”, bèn nói rằng đặc dị công năng là dị đoan, tà thuật, mà nhất luật cấm chỉ, thì người không biết nhiều như tôi cũng không khỏi cho là bá đạo.

Đến như chính tôi thì tin chắc vô nghi rằng đặc dị công năng của nhân thể là sự thực thiên chân vạn xác (chính xác) mà cho đến nay vẫn chưa được khoa học giải thích rõ ràng, vẫn còn trong tình trạng mê hoặc. Theo đà vấn đề được dần dần giải quyết, rất có thể mang đến cho khoa học kỹ thuật và lý luận nghiên cứu một cuộc cách mạng chân chính, trước mắt là đem lại cho vật lý học một lần nữa có bước tiến nhảy vọt, lấy nhãn quang hoàn toàn mới mà xem lại các định luật vật lý do Galileo (1564-1642), Newton (1642-1727) và Einstein (1879-1955) kiến lập.

Một người có đặc dị công năng khác là Hầu Hi Quý cũng thế, ông không được học bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng bất cứ Hán tự khó, rất ít sử dụng nào mà ký giả Liêu Văn Vĩ viết ra ông đều đọc được.

Hầu Hi Quý học vấn ít, tôi biết rất rõ. Nhớ lại năm 1984, lúc vì ông viết bài “Giang Nam quái khách”, ông gởi cho tôi vài tấm hình, ông chủ động cầm bút viết tên vào. Tôi có chút ngạc nhiên, ông dùng tay trái viết chữ, ba chữ Hầu Hi Quý xiêu vẹo không thành hàng, không tập trung, méo mó lệch lạc, tôi thỉnh thoảng nói một hai câu thành ngữ, ông dường như không hiểu tôi nói cái gì. Ông từ bé theo gánh hát, nhiều năm lưu lạc, không có mấy cơ hội và điều kiện để học tập.

Tôi dùng bút bi viết trên giấy hoa tiên, rõ ràng, ngay ngắn chữ “lậu” (hẹp) trong câu “cô lậu quả văn” 孤陋寡聞 (kiến thức hẹp hòi không hiểu biết nhiều) rồi thản nhiên gác bút, cho rằng ông sẽ nhận không ra.

Hầu Hi Quý cầm tờ giấy, chau mày xem, không nói tiếng nào, rồi cầm tờ giấy để trên giường, rồi đưa bàn tay trái to lớn che chữ “lậu” đi, im lặng một chút, rồi thư giãn chân mày cười, hướng về ông Chiêm Mỹ nói : chữ “lậu”.

Tôi ngạc nhiên, lại cầm bút lên, viết trên giấy chữ “chỉ” (thước đo) trong từ ngữ “chỉ xích” 咫尺, trong lòng nghĩ, chưa chắc ông nhận ra.

Hầu Hi Quý lần này, ngay cả tờ giấy hoa tiên cũng không động tới, chỉ cười, đưa bàn tay to hướng về chữ che lại, đầu hướng về con đường trên tấm rèm cửa sổ dày phủ xuống tới đất, ba bốn mươi giây sau, ông thu tay lại, nhìn tôi nói : “Khó nhận, đó là chữ ‘chỉ’ ”.

Tôi vẫn chưa phục, viết những chữ rất thần bí là chữ “hề” (trợ từ cuối câu trong bài hát), trong “hề hề” 兮兮, chữ “kha” (bệnh nặng) trong “trầm kha” 沉疴, chữ “phi”trong “phi lậu” 纰漏 (sai lầm) Hầu Hi Quý lần lượt dùng bàn tay che chữ, thời gian rút ngắn nhiều so với nhận thức chữ “chỉ”, đều đọc ra tự âm của chữ.  

Công phu này tôi mới thấy lần đầu, rời khỏi khách sạn rồi mà vẫn còn suy nghĩ. Hiển nhiên Hầu Hi Quý trong cuộc sống đời thường, chưa từng sử dụng cũng như chưa từng viết qua những chữ này, thế mà làm sao ông vẫn nhận ra và đọc được âm của chúng ?

Khả năng của Trương Bảo Thắng và Hầu Hi Quý trong những trường hợp trên chính là tha tâm thông. Bởi vì họ nắm bắt và giải mã được sóng não của người chung quanh nên họ biết được và lợi dụng được tri thức của người khác.

Tuy nhiên khả năng này của họ không triệt để nên chỉ khi nào vận dụng công phu mới làm được chứ không phải tự nhiên dễ dàng. Cũng giống như chúng ta phải mở computer, mở software Yahoo Messenger, có trang bị đầy đủ loa, micro, camera, thì mới có thể nhìn thấy và nói chuyện được với người bạn bên kia Thái Bình Dương, cách xa 20.000 km.

Đức Phật Thích Ca sau khi đã chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác thì có đầy đủ lục thông. Lục thông là khả năng siêu việt không gian, thời gian, và số lượng. Có điều gì chứng tỏ khả năng đó ? Đó là sự phát hiện Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, đó là Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư không không có thật) nhưng có khả năng tạo ra vũ trụ vạn vật, tức là vũ trụ vạn vật là ảo hóa không phải thật, chúng sinh nằm mơ giữa ban ngày mà không tự biết. Thích Ca phát hiện tánh Không của vạn hữu, vạn hữu bao gồm cả vật chất và tâm lý, bao gồm mọi cõi giới hữu hình và vô hình, tất cả đều là ảo hóa.

Các nhà khoa học trên thế giới hiện nay, ít ai dám thừa nhận không gian, thời gian, số lượng đều chỉ là ảo hóa, chỉ trừ một số ít nhà khoa học hiếm hoi quan tâm tới triết học như David Bohm, Craig Hogan. Trong khi đó tánh Không của Phật giáo rõ ràng là bao gồm ý nghĩa rằng không gian, thời gian và số lượng cũng chỉ là ảo chứ không phải thật. Thuyết nhân vô ngã, pháp vô thường của Phật giáo là phương tiện để phá đổ sự mê muội chấp thật của nhân loại. Thần thông hay đặc dị công năng chính là chứng cớ thuyết minh tính ảo hóa của vũ trụ vạn vật.

Hiểu như vậy không phải để chúng ta từ bỏ thế giới, bởi vì công dụng của Tâm chính là sự ảo hóa. Hiểu để không còn cố chấp, để thoát khỏi cái khổ do chính mình mê lầm tạo ra, để tránh tranh giành, áp bức, bất công, lợi mình hại người, chiến tranh, chém giết lẫn nhau một cách mê muội. Sâu xa hơn nữa, hiểu thiên tai, nhân họa đều do chính chúng sinh tạo ra (cộng nghiệp) chứ không phải Trời nào đổ xuống. Điều này thì chính Lão Tử trong Đạo Đức Kinh cũng nhận thức chưa tới. Lão Tử nói :

Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu

天地不仁,以萬物爲芻狗

Trời đất bất nhân, đối xử với vạn vật như con chó rơm

Trời đất không có nhân hay bất nhân, trời đất cũng chính là tâm, là a-lại-ya thức, chính chúng sinh mê lầm tự mình làm con chó rơm để tự mình khổ sướng chứ không có trời đất nào làm cả. Thiên tai cũng chính là tự mình gây họa giáng xuống đầu mình.

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s