Trương Bảo Thắng bị cha nuôi bỏ rơi, người đời bắt đầu phát hiện siêu nhân

Nỗi khổ lúc tuổi mới lớn

Thời gian trôi qua, mọi sự vật dần thay đổi. Thoáng chốc đã đến năm 1979. Nhà nước chấn chỉnh những án oan sai. Tin vui về các chính sách cải cách tryuền đến mọi người ở huyện Hoàn Nhân. Mười mấy năm nay, tụ tập tại huyện Hoàn Nhân là thành phần “tiếp thu cải tạo”, “tiếp thu tái giáo dục”, trên mặt mọi người đã lộ vẻ vui mừng, một số người trong bọn họ có thể trở về thành thị, một số có thể bố trí lại công tác.

Cả nhà Trương Bảo Thắng từ Trương La trở về Bổn Khê. Cha của em từ 1957, bị đánh thành phần tử hữu phái, không có một ngày tốt đẹp, chính sách đưa xuống cho phép trở về thành phố có thể coi là một tin vui, nhưng có một việc khiến ông khó xử : mang theo hay không mang Trương Bảo Thắng về thành ? Nếu không mang theo, sợ người ta nói phân biệt đối xử với con nuôi. Còn mang theo, nó đã hơn 20 tuổi rồi, thì có thể trông đợi gì ? Học tập thì không học tốt, không có tay nghề kỹ thuật, khiến ông rầu lòng. Nghĩ đến việc trước mắt cho em đi học, thì em nói : “Nghe là hiểu hết, không cần học, nội dung mà thầy muốn giảng, con đều biết hết”. Em không bỏ học, chỉ ham chơi. Trương Tây Nghiêu buồn vì sắt không luyện thành thép được.

Một hôm, sau bữa cơm chiều, ông hỏi Bảo Thắng : “ Con rốt cuộc là làm được việc gì trong tương lai ?” Bảo Thắng không biết rõ đó là lời trách không cần trả lời hay là câu nói khích, em nói “Con không cần cha phải toan tính” Câu nói khí khái đó khiến Trương Tây Nghiêu nổi giận, bạt tai em và mắng : “Nói như mày chắc gà trống có thể đẻ trứng, mặt trời mọc ở hướng tây”. Việc đánh mắng này khiến Bảo Thắng nổi xung, em từ trong nhà chạy ra ngoài đi luôn.

Mùa đông ở vùng núi, tuyết rơi nhiều, mặt đường tuyết đóng càng lúc càng dày, bị xe cán lên, người đạp lên, hình thành nên lớp băng tuyết cứng. Bảo Thắng một mình đi dưới ánh trăng, kéo lê đôi ủng to, đi trên đường của thị trấn nhỏ. Trong đêm khuya vắng lặng bỗng có tiếng lách cách, lách cách. Chạy thôi ! Bất tri bất giác em lại chạy theo con đường núi hướng về khu mỏ, mép đường bên phải là ngọn núi cao, dưới chân núi có cái mả. Bảo Thắng chạy về phía một căn phòng nền xây bằng những tảng đá lớn thì dừng lại, hai mắt em nhìn trân trân vào một gò đất màu trắng. Đó là mộ của bà ngoại em, em đứng trước mộ, hồi tưởng bà ngoại rất yêu mến em, trong khi hiện tại ngôi mộ không ai ngó ngàng, lòng em cảm thấy bi thương, bất giác nhớ lại sự việc mấy năm trước.

Lúc Trương Bảo Thắng còn nhỏ, em sống cùng với bà ngoại, em rất hiếu kính bà, có món gì ngon em đều dành phần cho bà, mà bà cũng luôn bảo hộ em. Mỗi khi Trương Tây Nghiêu giận dữ trách mắng em, bà lên tiếng bênh vực : “Ngươi đừng coi thường bé Thắng, ta thấy đứa trẻ này không giống các trẻ khác, tương lai có thể có cống hiến lớn, mấy đứa con của ngươi sánh không kịp một mình đứa này đâu…” Bà ngoại của em tự tin như thế, có vẻ như có đầy đủ căn cứ. Trương Tây Nghiêu quyết không tin vào lời của bà già, cho rằng đó là bênh vực suông, khiến nó quen thói.

Bất hạnh là mấy năm trước bà bị bệnh nặng. Tại nơi sơn khu bần cùng này, nếu bị bệnh nặng thì chỉ có cách giao mệnh cho trời, bà lìa đời. Lúc lâm chung có để lại di chúc : “Các ngươi đừng coi thường bé Thắng này, nhất định không được bạc đãi nó…” Di chúc là một chuyện còn thực hiện  là một chuyện khác. Một bà lão trong tay không có chút quyền lực, thân không có một phân tiền, lưu lại di chúc thì có tác dụng gì ? Bà lúc sinh tiền còn không bảo vệ được Bảo Thắng, chết mất rồi thì còn có ai coi trọng lời nói của bà ? Nghĩ đến đây Bảo Thắng khóc to. Sau khi bà ngoại qua đời, cách vài ngày Bảo Thắng lại ra mộ bà thăm viếng và ký thác tâm sự bi ai.

Trương Bảo Thắng nhớ lại việc xưa, tâm lý buồn bã, nước mắt nước mũi rơi xuống tuyết, em cũng không biết đứng tại đây bao lâu, chỉ cảm giác gió đông thổi lại, thân thể rét run từng hồi. Em ngước đầu lên trời, mặt trăng đã qua khỏi đỉnh núi, bèn bước nhanh về thị trấn.

Em không trở về nhà. Em bắt đầu hận gia đình này. Giường của em là trong nhà kho nhỏ bé, trở về đó chỉ là một bộ ván lạnh băng băng. Em lúc trước từng tự sát, đó là việc xuẩn ngốc xảy ra lúc mười mấy tuổi…hiện tại phải làm sao ? đi đâu ? hay lại tự sát ?

Trương Bảo Thắng vừa đi vừa suy nghĩ, em nghĩ đến lời nói của vị toán mệnh tiên sinh (thầy bói) : “ nhiều nhà không chỗ về” trong tâm em hiện lên nhiều gia đình : Nam Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Trường Xuân, mỗi nơi này em từng có một gia đình, riêng Bổn Khê có tới mấy gia đình. Em đã nhiều lần bị đưa đến làm con trong những gia đình này, cuối cùng rơi vào gia đình họ Trương. “Mình hiện tại có nhiều gia đình mà không có chỗ dung thân, hiển nhiên lời nói này là đúng. Vậy thì câu “Ngươi có thể trở thành nhân vật không ai bì kịp” ắt cũng sẽ đúng. Đột nhiên em giống như bệnh nhân uống đúng thuốc, trong lòng cảm thấy mạnh mẽ, phấn chấn hẳn lên, từ chỗ trầm trọng nặng nề trở nên nhẹ nhõm. Em nhận thức rằng làm theo cái thấy thiển cận là việc làm ngu xuẩn. Em quay đầu ngó về bên trái, một dãy rừng tùng màu đen. Em cười lên “ Mình không thể đi về phía đó !” Lúc nảy, em có nghĩ đến việc đi về phía rừng tùng tự ải (treo cổ). Tiếp đó em lại cảm thấy sởn tóc gáy, tâm lý có chút sợ hãi, giống như có cái gì đó đuổi theo em, hoảng quá em bước nhanh như sao xẹt về thị trấn.

Tại thị trấn Hoàn Nhân, có một phụ nữ tên Lý Cảnh Kỳ, tuổi gần 30, sau khi tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, cùng với người yêu từ Cáp Nhĩ Tân được phân công tác tại mỏ chì Hoàn Nhân. Do làm việc ngay thẳng, quan tâm quần chúng, công việc trôi chảy, lại có văn hóa, được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo huyện Hoàn Nhân. Là lãnh đạo quan tâm chính sách cán bộ và gia đình từ trên đưa xuống, đó là chức trách của bà. Lúc giải quyết chính sách cán bộ trở về thành công tác và sinh hoạt, bà biết mâu thuẫn giữa Bảo Thắng và Tây Nghiêu, bà hiểu tình hình thực tế khốn quẫn của Tây Nghiêu mà cũng quan tâm tới sự trưởng thành của Bảo Thắng. Bà chuẩn bị nghĩ ra cách có thể bố trí cho Bảo Thắng một công việc tại mỏ chì, làm cho em một hộ khẩu riêng chỉ có một mình.

Trương Bảo Thắng có công năng đặc dị của siêu nhân, nhưng lại thường bị bọn trẻ con coi thường. Bởi vì em hiếu động, hai tay luôn táy máy, hoặc hay khều người ta, khi nào ở yên không làm gì, dường như rất khó chịu. Đối với cố tật này của em, người lớn không lấy làm lạ, thế nhưng một số người trạc tuổi với em lại coi là “hành động khả ố”, khi có dịp thì sửa lưng em. Nói thì kỳ lạ, đối với con gái trạc tuổi thì em không hề động chân động tay. Đối với một số cô gái đẹp, em chỉ thích nhìn ngắm thôi, ngắm đến khi người ta tỏ ý khó chịu thì em bỏ đi. Sau khi bỏ đi, lại đứng ở góc tường hay nấp sau thân cây, thò đầu ra nhìn thêm mấy lần nữa. Có lúc các bạn em cười kêu lên “hầy ! hầy !”

Vì những hành động này, một vài đứa con trai muốn cho em bài học. Bọn con trai ở vùng núi thấy vậy gọi em là “Sọa tử” (thằng ngố) “Người không tâm không mắt”. Mỗi lần bị đánh, em hai tay ôm đầu, thét to : “Đừng đánh vào đầu tôi. Đừng đánh vào đầu tôi” Cứ thế, em cao chưa tới 1,7 m, trọng lượng chưa tới 50kg, người gầy nhỏ, đối diện với vài đứa vây đánh, có mà ốm đòn, không có sức để chống lại. Tại thị trấn nhỏ bé này, mỗi lần Trương Bảo Thắng bị đánh hôi, tin tức nhanh chóng lan truyền tới chỗ của bà Lý Cảnh Kỳ. Bà Lý giống như người mẹ bảo hộ con mình, lập tức chạy tới hiện trường, kéo Trương Bảo Thắng về, giúp em rửa và băng bó vết thương, thay giặt quần áo. Khi truy vấn lý do đánh nhau, kẻ đánh người luôn nói : “Nó đáng ghét”, “Nó nguýt em một cái rồi chạy” v.v…Đó cũng thành lý do để đánh nhau sao ? Song đó là sự việc thường thấy nơi vùng núi này.

Lý Cảnh Kỳ quan tâm và bảo hộ Trương Bảo Thắng như thế, bà tận tâm với trách nhiệm của người lãnh đạo, ngoài ra còn là lòng thương xót tội nghiệp Bảo Thắng, đồng cảm với em. Bảo Thắng đối với bà cũng sanh lòng cảm mến, có thời gian rảnh thì đến nhà Lý Cảnh Kỳ chơi. Khi em biết được Lý Cảnh Kỳ đang giúp em tìm một công việc tạm thời và một hộ khẩu riêng đơn thân, vừa cảm kích đối với bà, vừa quyết tâm tách khỏi gia đình Trương Tây Nghiêu.

Ngày Bảo Thắng tách khỏi gia đình Trương Tây Nghiêu cuối cùng cũng tới. Mùa thu 1979, Trương Tây Nghiêu và Dương Quân chính thức được tổ chức thông báo có thể dọn về Bổn Khê an cư và được bố trí lại công tác. Đó là ngày đại hỉ, nhưng Trương Bảo Thắng giống như đứa trẻ lưu lạc đáng thương, đứng xa xa nhìn cả gia đình bận rộn dọn hành lý lên xe.

Con người lúc sắp biệt ly thì lại có nhiều tình cảm, Trương Bảo Thắng là người như vậy, cũng có tình cảm như người bình thường, bao nhiêu lưu luyến em dành cho hai người chị, đặc biệt là người chị lớn, từ nhỏ đã ẳm bồng em, rồi hai đứa em trai, sáng chiều cùng nhau chơi đùa, lại còn người mẹ đã cùng em trải qua bao nhiêu khổ nạn, tuy không phải mẹ ruột, nhưng đã nuôi nấng vỗ về em từ lúc còn là hài nhi đến lúc trưởng thành với vô số gian nan khổ sở. Thế nhưng tại sao họ không cần đến em ? Đối với vấn đề này, Trương Bảo Thắng nhất thời cũng không hiểu rõ, chỉ biết đại khái một nguyên nhân, đó là vì mình “không tranh thủ”. Trong lòng em len lén phát thề : “Hãy đợi xem ! ta chưa xuất đầu lộ diện thôi, thề không gặp các người” Nghĩ đến đây, lúc sắp tới giờ ly biệt Trương Tây Nghiêu, em cũng không nói một tiếng, giống như người xa lạ. Em từ xa nhìn chiếc xe dọn nhà nổ máy chạy đi. Đã là người không nhà để về, lần này cũng không phải là em chạy ra khỏi nhà, mà chân thực là không có nhà.

Qua nghiên cứu và sự can thiệp của vài vị lãnh đạo thị trấn, cuối cùng vùng núi khoáng cũng bố trí cho Trương Bảo Thắng một công việc phù hợp với sức lực của em.

Con trai sống một mình cũng không dễ, y phục không biết giặt giũ, quần áo rách không biết mạng vá, tóc dài không biết đi cắt. Tiền công lao động được phát có khi chỉ vài ngày là tiêu hết sạch. Lý Cảnh Kỳ biết được bèn giúp em chăm sóc cho đời sống. Lâu ngày như thế, trong tâm khảm của Trương Bảo Thắng, Lý Cảnh Kỳ đơn giản là mẹ của em. Thật ra bà Lý chỉ lớn hơn em 10 tuổi.

Phát hiện khả năng thấu thị và ngửi ra chữ

Trương Bảo Thắng một mình ở lại mỏ chì Hoàn Nhân, có nhiều người đồng tình với em, người khinh khi em cũng nhiều. Người đồng tình cho rằng em là người cô độc, không nơi nương tựa, thật đáng thương. Người khinh khi em cho rằng Bảo Thắng chỉ có một mình, thế đơn lực mỏng, thật đáng coi thường, ngay cả việc thưa kiện tại địa phương cũng không có.

Thật ra, trong lòng của Bảo Thắng, tại nơi núi sâu rừng già này, ngoài việc đi làm và ngủ, chỉ còn hai chỗ đến : một là nhà của Lý Cảnh Kỳ, hai là mộ của bà ngoại. Mỗi lần bị coi khinh hoặc bị đánh hôi, muốn khóc một hồi, nếu không đến nhà Lý Cảnh Kỳ, thì chỉ có đến mộ bà ngoại mà thôi.

Một hôm sau khi bị đánh, em chạy đến mộ của bà ngoại, khóc to lên, tiếng khóc như làn gió bi thương nổi lên bốn bề, khiến ai nghe cũng đau lòng đứt ruột. Đột nhiên em vừa khóc vừa nói “Bà ngoại ơi, sao bà biến dạng đi vậy ! đầu não sao lại biến dạng to thế ! bà ơi !…” Công nhân mỏ tan ca nghe tiếng chạy qua xem, người này khuyên giải, người kia thuyết phục, nhưng em nói cứng rằng bà của em biến dạng, hỏi người khác tại sao vậy, muốn người khác giúp khai quật bà lên. Người tại hiện trường cho rằng tinh thần của em bất thường, bèn mau mau dẫn em về túc xá. Có người đem việc này nói với Lý Cảnh Kỳ. Bà bèn đến thăm an ủi em, còn dặn dò đám công nhân quan tâm chăm sóc em.

Bảo Thắng về đến túc xá, để nguyên quần áo lên giường ngủ, mọi người cho rằng em lòng buồn chưa tan nên để mặc em ngủ. Đến khuya, công nhân ca tối tan ca về túc xá, lên giường chuẩn bị ngủ, phát hiện Trương Bảo Thắng đột nhiên ngồi dậy, không mang giày, đi ra ngoài, mắt nhìn thẳng về phía trước. Có vài người sợ xảy ra chuyện, bèn chạy theo em ra khỏi túc xá. Trên sườn núi vắng sáng sủa, chỉ thấy em chạy cực nhanh, giống như đuổi theo một vật gì. Phía trước có con suối nhỏ, lúc bình thường người ta không thể đi qua được, nhưng Bảo Thắng chạy đến bờ suối vẫn không dừng lại, em chạy trên mặt nước giống như trên đất bằng, hình ảnh biến mất trong bóng tối, mọi người không hết kinh ngạc, cho rằng em định nhảy xuống suối tự tử, vừa la lên vừa tìm kiếm, có người chạy về túc xá tìm công cụ chẩn bị cứu em. Thế nhưng, khi mọi người chạy  qua giường của em, có người kêu lên : “Trương Bảo Thắng sao vẫn còn nằm trên giường ngủ kìa !, nó làm cách nào trở về được ? ” Lúc đó mọi người xôn xao bàn tán.

Sự kiện này cứ thế mà lan ra, người nói thêm thắt chi tiết vào, người nghe rất khó tin. Về sau có người truy vấn em, rốt cuộc sự việc thế nào, em nhớ lại, nói : “Lúc đó tôi vừa nằm xuống, phát hiện có một người nữ, mặc áo dài, để tóc xõa, đi chân không  xuống núi. Tôi sợ phát sinh chuyện nên không kịp mang giày, chạy theo. Bà ta đi càng lúc càng nhanh, tôi cũng đuổi nhanh theo. Mắt tôi thấy bà chạy trên mặt nước qua suối. Lúc đó tôi nghĩ bà ta có thể đi qua được thì mình cũng có thể đi qua được. Do đó không nghĩ ngợi lâu, tôi chạy trên mặt nước mà qua. Nói thì kỳ lạ, tôi đi chân không mà không hề dính nước ướt, đuổi một hồi không thấy bà ta đâu nữa, xem lại thì chỉ là một cái mả lạn, tôi bèn trở lại. Làm cách nào trở lại thì tôi không nhớ rõ.

Đối với việc này, Trương Bảo Thắng nói như thế, nhưng khó làm người ta tin. Có người giải thích, lúc đó Bảo Thắng gặp hiện tượng mộng du, trong trạng thái mộng du anh ta có thể thực hiện những việc hoang tưởng, giống như người bị bệnh mộng du cầm dao xắt cải, sờ vào người ngủ say mà trong đầu óc ngộ nhận là quả dưa hấu, bèn cắt một nhát. Chỉ có điều trong sự việc này, ẩn tàng điều bí mật gì thì đến nay vẫn không ai biết.

Bên ngoài khu khái thác mỏ chì Hoàn Nhân, vùng núi này có nhiều rắn. Người ta đặc biệt sợ một vài loài rắn độc. Nhưng Trương Bảo Thắng không sợ rắn, trái lại rắn sợ em. Bất cứ loại rắn gì, hễ thấy em là như bị điện giật, bò không được. Bởi vậy Bảo Thắng thường lên núi bắt rắn. Người ta phát hiện nơi đâu có rắn, liền tìm Bảo Thắng đến bắt. Việc này khiến người lớn cảm thấy kỳ lạ, còn người trạc tuổi em thì thấy vui thích, bọn chúng lưu truyền một câu nói : “Rắn nào cũng sợ anh ta. Còn người thì chẳng một ai sợ gì”

Đời sống của công nhân mỏ cực kỳ gian khổ. Công nhân luôn phải mặc áo bông đi ủng lội nước vào trong giếng sâu. Người to lớn khỏe mạnh sau ca lao động khai khoáng cũng mệt mõi rã rời, người ốm yếu không kham nổi. Thế mà Trương Bảo Thắng lại tỏ ra không việc gì. Người khác rất mệt vì không được ngủ sớm, còn em thì giờ tạm nghỉ nửa tiếng cũng không buồn ngủ. Người khác có cảm giác em là một quái nhân.

Sự việc kỳ quái cuối cùng cũng phát sinh. Trương Bảo Thắng là người không thể ở yên. Nơi góc núi hẻo lánh này, em rất ít nhận được thư, nhưng em lại rất thích mang thư từ phòng thông tin đưa cho người khác. Một hôm em đưa cho một nữ công nhân trẻ một phong thư. Sau khi đưa cái thư cho cô gái đó, lại bí mật nói với bọn thanh niên quanh em : “Cô gái này nói chuyện yêu đương, đó là thư của người yêu gởi cho cô, tên là XXX, trong thơ nói rất nhiều lời thân thương nồng nhiệt…” em say mê nói, đem những lời đàm tình thuyết ái nồng nhiệt nói hết ra.

Nơi vùng núi khoáng này vốn thiếu tinh thần văn minh trong sinh hoạt, cô gái kia lại có chút nhan sắc, là đối tượng tìm kiếm của vài thanh niên vùng này. Phát hiện này nhất thời bị bọn con trai truyền bá như là “tin quan trọng” và rất nhanh chóng tới tai của cô gái kia. Cô vừa xấu hổ vừa phẫn nộ, quyết đem việc này dựng lên thành “xâm phạm quyền thư tín riêng tư của công dân”  khiếu kiện lên Ban Bảo vệ của Khu Mỏ, khóc lóc ầm ĩ, đe dọa “Nếu không xử lý thì sẽ tự tìm thủ phạm để giải quyết”.

Ban Bảo vệ trước tiên an ủi cô, bảo cô không nên lo lắng quá, không cần khóc ầm ĩ. Sau đó tìm đến Trương Bảo Thắng tiến hành thẩm vấn :

–        Tại sao anh xé thư của người ta ra đọc ? Người của Ban Bảo vệ nghiêm túc hỏi.

–        Tôi không có xé thư của người ta.  Bảo Thắng tự biện hộ

–        Không xé ra, anh làm sao đọc trộm thư của người ta ? Người kia truy vấn tiếp

–        Tôi càng không có xem trộm thư của người ta. Bảo Thắng biện giải

–        Không xem trộm, anh làm sao biết nội dung trong thư để mà nói ra ?

–        Đúng rồi ! Không xem trộm anh làm sao biết đối tượng của người ta tên gì ? Một người khác phụ họa.

Bảy miệng tám lưỡi thi nhau trách tội của những người thẩm vấn khiến Bảo Thắng mướt mồ hôi. Em có miệng mà không thể biện giải được, làm sao đáp lại lời chất vấn của người ta.

–        Tôi biết nội dung trong thư mà tôi không có xé thư ra. Bảo Thắng bắt buộc phải nói ra sự thật

–        Anh thật là không trung thực, đã không xem thư thì làm sao biết được nội dung trong thư chứ ?

–        Tôi dùng mũi ngửi mà biết

–        Nói dóc. Mũi làm sao nhận ra chữ được ? Hiển nhiên người hỏi nổi cáu

–        Thật đó ! Tôi nói toàn sự thật đó ! Trương Bảo Thắng đành phải lật bài ngữa.

Tại chỗ không có ai tin lời “quỷ quái” của em. Nhưng cũng có người nói : “Vậy tìm một phong thư cho anh ta ngửi thử xem” Có người thuận tay rút ra một tờ giấy viết thư, viết 3 chữ “Trương Bảo Thắng” lúc em quay lưng lại, bỏ vào bao thư rồi chuyển qua bàn. Mọi người dùng ánh mắt cười nhạo ngó anh ta. Em im lặng, để cho người thẩm vấn cảm thấy khẩn trương hồi hộp. Em cầm bao thơ lên, lật qua lật lại đưa lên mũi ngửi ngửi, sau cùng nói khiến mọi người khiếp đảm : “Đó là giấy viết thư màu hồng, trên đó viết tên của tôi” Những người có mặt ở đó đều kinh ngạc “Làm sao có thể được ?” Không ít người nghĩ vậy. Tiếp đó có người nói : “Thử một lần nữa xem sao” Thử đi thử lại vài lần, Trương Bảo Thắng đều nói đúng chữ trong thư.

Sự thật có thể giáo dục người ta. Sự thật có thể cải biến người. Bầu không khí lúc đó biến đổi hẳn, hoàn toàn không giống lúc nảy :

–        Kỳ quái. Mũi làm sao có thể nhận ra chữ ?

–        Tôi đã nói mà. Trương Bảo Thắng không giống những người khác

–        Bảo Thắng, Bảo Thắng, Đúng là Bảo bối mà !

Nhiều người đều xưng tán công năng thần kỳ của Bảo Thắng. Dùng mũi có thể “ngửi” được chữ . Đại kỳ quái ! Mũi xưa nay chỉ để ngửi mùi hương, làm sao có thể thấy chữ dán kín trong bao thư chứ ? Nhiều người vẫn còn nhớ một vài hiện tượng kỳ đặc của Trương Bảo Thắng trong quá khứ.

–        Một lần tôi và anh ta cùng đi trên đất phủ tuyết, anh ta đã thấy cây thước cuốn chôn trong tuyết…

–        Có một hôm anh ta và tôi đi trên đường, anh ta nói ra rằng người lạ đi phía trước đằng xa là người cao…

–        Anh ta đến nhà tôi phía sau viện, không vào nhà mà anh ta biết ai đang nói chuyện trong nhà…

–        Chúng tôi bảo anh ta dùng mũi “nghe” xem trong giỏ có cái gì, anh ta nói không sai chút nào…

Mọi người tại hiện trường đều hết lời xưng tụng đặc dị công năng của Trương Bảo Thắng. Mọi người đều nói một cách hưng phấn, giống như đột nhiên phát hiện ra “người ngoài hành tinh”. Những người bình thường khinh khi Trương Bảo Thắng cũng thay đổi cách nói.

–        Tiểu tử này lúc trước tôi thấy nó biết người khác giấu đồ vật ở đâu, từng cho rằng nó là tên trộm vặt…

–        Thật là không phải. Chúng ta đã đánh oan nó.

–        Nghĩ không thấu, anh ta thật ra có hai con người !

Người ta thật kỳ lạ. Cùng là một Trương Bảo Thắng, nửa giờ trước, người ta chê bai em, tố khổ em, thẩm vấn em, em như một tù nhân dưới thềm. Hiện tại, cũng vẫn những người đó, thi nhau tán tụng em, kính phục em. Sự thay đổi nhanh chóng đó, đối với Bảo Thắng thật là “đề tiếu giai phi” (tất cả sự cười nhạo đều sai). Đó chính thực là sự vận động cho lời thề về sau của em “Nếu mình không nổi bật lên, thề không gặp người”

Tin tức về những việc làm siêu nhân của Trương Bảo Thắng chẳng mấy chốc từ thị trấn nhỏ lan truyền. Cô nương tố em “xâm phạm thơ riêng” bây giờ không còn xem em là kỳ quái nữa. Người già tóc bạc nghe tin xong, phát biểu : “Từ xưa đến giờ khu núi của chúng ta mới xuất hiện cây  nhân sâm thật, bảy lạng là sâm, tám lạng là ngọc. Địa phương nào xuất hiện ngọc là xuất hiện “chân nhân” đó.”

Lần đầu tiên được tiến dẫn lên thị trấn Bổn Khê

Trương Bảo Thắng sau khi đến Bổn Khê, mọi người hiếu kỳ với đặc dị công năng và các ban ngành có quan hệ của chính phủ nhận chân và có thái độ công tác nghiêm túc khiến Bảo Thắng phải tiếp thu nhiều cuộc trắc nghiệm.

Trong hội trường của Nhà khách Nhân dân của nhà nước tại Bổn Khê, quần chúng đến xem vây lấy anh, bảy miệng tám lời hỏi anh về nhiều đề mục. Có người viết chữ trên giấy rồi vò lại bảo anh dùng mũi “nghe”. Có người vẽ chữ như họa rồi bỏ vào phong bì đưa anh “ngửi”. Anh đều mỗi mỗi nhận ra chữ. “Qua lớp giấy, đọc chữ”, “Dùng mũi nhận ra chữ” những thông tin này không chân mà chạy, không bao lâu cơ hồ truyền khắp Bổn Khê.

Chủ nhiệm văn phòng Hiệp hội Khoa kỹ Bổn Khê là người đứng về phía chính quyền, chính tại hội trường này nghiêm túc tiến hành trắc nghiệm. Có người cách bức tường ở phòng bên kia, lấy tờ nhân dân nhật báo, cắt lấy phần trên đầu rồi bỏ vào phong bì rất dày, dùng keo dán kín, xong đưa Bảo Thắng. Chỉ thấy anh hai mắt ngây dại, khẩn trương dùng mũi hít hít ngửi ngửi, một lát sau anh nói nhỏ : đó là phần trên đầu của nhân dân nhật báo. Sau một tràng vỗ tay, anh hít một hơi khí. Tại hội trường hai vị phó thị trưởng xem xong rất cao hứng, phát biểu đồng ý điều anh về thị trấn. Vị phó thị trưởng quản lý Cục Công an rất hứng thú với công năng đặc thù của anh, ông nói : “Tôi chủ trương trước hết điều anh đến Cục Công an công tác”. Vị phó thị trưởng kia bổ sung : “Tôi đồng ý điều anh ta, có thể tiến hành làm thủ tục với tỉnh đi”

Công an Cục là một ngành quan trọng, bao nhiêu con em cán bộ đều muốn vào làm việc tại đó. Trương Bảo Thắng bỗng chốc được hai vị phó thị trưởng biểu lộ thái độ đều đến cơ quan đó, không phải là điều dễ dàng. Người lãnh đạo chủ yếu của Thị ủy Bổn Khê nghe tin cũng rất quan tâm tới việc này. Hai ngày sau vị Phó Bí thư Thị ủy mời bốn đồng chí chuyên viên đến thảo luận, ông này muốn trắc nghiệm lại công năng của Bảo Thắng.

Cuộc trắc nghiệm nghiêm túc hơn bắt đầu. Do Bảo Thắng là nhân vật do Hiệp hội Khoa Kỹ phát hiện và giới thiệu, do tị hiềm, toàn bộ quá trình của cuộc trắc nghiệm này không phải do Hiệp hội giới thiệu đưa vào mà chỉ do bốn đồng chí của Ban chuyên viên đề xuất và tiến hành. Trương Bảo Thắng dễ dàng nói ra là trong phong bì bằng da bò, tờ giấy ghi chữ “Mỏ chì Hoàn Nhân” và đề bài toán.

Hiện tại, mọi người xác tín là anh có bản lĩnh thấu thị (nhìn xuyên qua). Đương nhiên anh “nhìn” ra, “nghe” ra hay “ngửi” ra thì hãy còn là vấn đề chưa rõ.

Đối với việc này Bổn Khê Khoa Kỹ Báo ngày 15 tháng 6 năm 1984, ấn bản lần đầu có báo cáo chi tiết. Bản văn giới thiệu nói : Trương Bảo Thắng dùng mũi “nhận thức chữ, biết hình ảnh và nhận ra sự vật” không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, sáng tối hay các điều kiện ngoại cảnh tự nhiên khác, có thể nhìn thấy xuyên qua các vật bằng sắt, giấy, vải, đồ gốm, phân biệt được màu sắc, hình ảnh, đồ vật. Ảnh hưởng của nhân tố hiệu ứng “nhận thức chữ, biết hình ảnh và nhận ra sự vật” chủ yếu còn tùy thuộc trạng thái tinh thần. Tinh thần nhẹ nhàng sảng khoái thì tốc độ nhận thức nhanh, tính chuẩn xác cao; nếu trái lại thì tốc độ chậm, tính chuẩn xác kém, thậm chí không nhận ra được.

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Nhà sau. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s