AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

Thời nay, phương tiện thông tin liên lạc rất phát triển, hầu như nhà nào cũng có tivi, điện thoại di động. Không ít nhà có máy vi tính nối mạng. Vì vậy, hàng ngày đủ mọi thứ thông tin thượng vàng hạ cám đều có thể đến với những ai quan tâm đến chúng, kể cả những người không quan tâm đến thông tin, nhưng khi mở tivi hay radio để xem phim hay nghe nhạc, thì thông tin vẫn ập tới. Trong cả đống thông tin tràn ngập đó, tin thế giới khá được chú ý, người ta hay nghe nhắc đến tên của các nhà lãnh đạo của các siêu cường như tổng thống Mỹ, Barack Obama; chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình; tổng thống Nga, Vladimir Putin; hay lãnh đạo của các cường quốc như thủ tướng Nhật, Shinzo Abe; thủ tướng Đức, Angela Merkel; có khi họ không phải là lãnh đạo của một cường quốc, nhưng đang là quốc gia có vấn đề trên thế giới như chủ tịch Bắc Triều Tiên, Kim Jong Un, hay tổng thống của Syria, Bashar al-Assad…

Nhiều người tin rằng những nhân vật đó góp phần quyết định thế giới, hay có ảnh hưởng nào đó đến thế giới. Sự thật có phải như vậy không ? Đó là vấn đề chúng ta sẽ xem xét trong bài này. Tất nhiên chúng ta sẽ xem xét dưới một nhãn quan thâm sâu hơn bình thường, bởi vì, dù cho bàn về chính trị, kinh tế hay quân sự của thế giới, chúng ta vẫn đặt chúng dưới nhãn quang của Phật pháp.

Phát hiện của Đức Phật

Kinh điển Phật giáo nói rằng sau quá trình thiền định 49 ngày dưới gốc cây Bồ đề, Thích Ca đã chứng Anuttara Samyak Sambodhi (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác). Thích Ca đã khám phá rằng Tâm hay Thức là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, rằng Tâm và Vật không hề khác nhau mặc dù hình thái của chúng khác nhau hoàn toàn, chính vì vậy Phật pháp mới được gọi là Bất nhị pháp môn. Bất nhị tức không phải là hai nhưng cũng không phải là một. Kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm, Tâm có thể hiện ra ở bất cứ chỗ nào không có hạn chế. Tâm có thể hiện ra dưới hình thái của Thức, tức là thông tin, là hiểu biết, là tư tưởng (vô hình), hoặc dưới hình thái vật chất (hữu hình). Như vậy Thích Ca biết rõ vật chất chỉ là ảo, không có thật. Vũ trụ vạn vật và nhân sinh chỉ là ảo, không có thật. Thích Ca lìa bỏ ngai vàng, bỏ vợ, bỏ con, ra đi tìm đạo nhằm mục đích giải quyết vấn đề đau khổ mà cụ thể là 4 nỗi khổ cơ bản nhất của chúng sinh, đó là Sinh Lão Bệnh Tử. Cuối cùng phát hiện rằng những nỗi khổ đó là không có thật, bản thân con người cấu tạo bằng ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cũng đều là không có thật (ngũ uẩn giai không). Những khám phá này vô cùng vi diệu, vô cùng khó hiểu, khó tin. Thế nên Thích Ca định nhập diệt luôn, không giảng pháp làm gì, bởi vì chúng sinh không có thật, đau khổ cũng không có thật, đâu có ai cần phải giải cứu. Thế nhưng Phạm Thiên là vua ở cõi trời, có thần thông, biết Thích Ca đang nghĩ gì, bèn xuất hiện trước mặt Thích Ca, cầu khẩn xin giảng pháp, bởi vì chúng sinh mê muội tưởng là mình có thật, và đang bị đau khổ dày vò. Đối với Thích Ca thì đau khổ đó chỉ là ảo tưởng, nhưng đối với chúng sinh, đau khổ đó hoàn toàn có thật. Thật ra thì Thích Ca chỉ đóng kịch mà thôi, muốn giảng pháp cũng phải có nhân duyên, phải có người thành tâm yêu cầu. Thích Ca xuất hiện trên thế gian vì một đại sự nhân duyên, để giáo hóa cho chúng sinh thoát khổ, thì không có lý do gì mà không đứng lên giảng đạo. Thích Ca cần một đại diện đương cơ là Phạm Thiên đến cầu xin tạo nhân duyên cho việc giảng pháp.

Ban đầu Thích Ca giảng Tứ Diệu Đế, kế đó giảng Thập nhị nhân duyên, nêu rõ duyên khởi như thế nào và luật nhân quả có tác dụng ra sao. Nhưng cuối cùng, khi quần chúng đã có một số hiểu biết nền tảng rồi, Thích Ca bèn phá tất cả, giảng Bát Nhã Tâm Kinh, phá vỡ tất cả mọi tri kiến của thế gian, nói lên thắng nghĩa đế, nói rằng tánh không là bản chất của vạn pháp. Tất cả các pháp đều chỉ là ảo, không phải thật. Trong kinh có nói rõ rằng “Độ nhất thiết khổ ách” Giải thoát tất cả mọi khổ nạn, bởi vì tất cả chỉ là chiêm bao mà thôi.

Thân nhân của những hành khách đi trên chuyến máy bay MH370 của Malaysia bị mất tích, hay của những người đi trên tàu Sewol của Hàn Quốc bị chìm, đang cực kỳ đau khổ. Thậm chí hiệu phó Kang Min Kyu của trường Danwon nơi có nhiều học sinh bị chết, đã treo cổ tự tử, mặc dù ông là một trong số 3 giáo viên của trường, được cứu sống sau tai nạn, trong tổng số 15 giáo viên của trường đi trên tàu. Ông tự tử vì bị đau khổ dằn vặt bởi ông là người khởi xướng chuyến đi cho học sinh của trường, trong tổng số 325 học sinh, chỉ có 75 được cứu sống. Cái chết của hiệu phó gây thêm đau khổ oan uổng cho gia đình ông mà cũng chẳng giúp được gì cho ai. Nếu mọi người hiểu rằng thế gian chỉ là ảo ảnh, không phải thật, thì có giảm bớt được đau khổ không ? Hiệu phó có cần phải tự tử không ?

Hiệu phó tự tử vì cho rằng mình là người chịu trách nhiệm, đó thật là là một sai lầm đáng tiếc. Sau đây chúng ta sẽ xem xét các lãnh đạo đã kể ở trên và thầy hiệu phó Kang Min Kyu có thực sự quyết định gì không, hay mọi quyết định đều được lấy một cách vô ngã và vô thức ?

Khoa học ngày nay đã đạt được trình độ đủ tinh vi để hiểu và chứng thực khám phá của Thích Ca. Thích Ca nói nhân vô ngã, pháp vô thường, đây là một chi tiết thực sự quan trọng mà nhân loại nên hiểu, các tu sĩ Phật giáo và Phật tử cũng nên hiểu. Thí nghiệm sau đây chứng tỏ rằng ý thức hay ý chí của con người rất là phụ thuộc, nó không quyết định gì cả, ý thức của cái tôi chỉ là người thừa hành. Ngã chỉ là con số không, ngã tưởng rằng nó quyết định nhưng thực tế thì không.

Não phản ánh Tâm đã quyết định trước Ý thức 6 giây

Trong thí nghiệm này, mặc dù Marcus là người bấm nút bên trái hay bên phải, nhưng John nhìn vào não của anh ta, biết trước anh ta tới 6 giây rằng anh ta sẽ bấm nút nào. Điều đó chứng tỏ ý thức của Marcus không phải là người quyết định, quyết định đã có trước rồi, sau đó 6 giây anh ta mới ý thức và bấm nút.

Trong video chưa có luận giải đầy đủ, chúng ta cần nghiên cứu thêm như sau :

1/Quyết định có cơ sở sâu xa từ Nghiệp (karma) của tập thể hay cá thể là quyết định có hiệu lực, có đầy đủ sức mạnh để thực hiện. Đó là trường hợp Phật giáo nói là có đầy đủ nhân duyên, thì hiện tượng hay kết quả ắt phải xuất hiện. Nếu ý thức của ta (cá thể) lấy cùng một quyết định với nghiệp thì ắt sẽ thành công, kết quả đến đúng như mong đợi.

2/ Ý thức của cá thể cũng có thể lấy một quyết định dởm, tức là lấy theo vọng tưởng, chẳng có nhân duyên, chẳng có cơ sở gì sâu xa cả. Như thế thì kết quả sẽ không có, hoặc không đúng như mong đợi, tức là thất bại. Điều này giải thích tại sao có người thành công, có người thất bại.

Ví dụ Bill Gates quyết định bỏ học nửa chừng để ra đời kinh doanh, lập công ty Microsoft, sản xuất hệ điều hành máy tính. Ông ta đã thành công vì quyết định đó thật ra không phải là do ý thức của ông ta chọn, mà do chính nghiệp thức của ông ta đã chọn một cách vô ngã, phù hợp với nhân duyên hoàn cảnh thực tế của thế giới lúc đó. Nhiều người khác nếu muốn bắt chước Bill Gates, ý thức của họ tự lấy quyết định dởm, bỏ học đi kinh doanh thì chỉ có thất bại mà thôi.

Thí nghiệm này hé lộ cho chúng ta thấy rằng các lãnh đạo thế giới như Obama, Tập Cận Bình hay Putin, có thể không hề quyết định gì cả. Họ cũng giống như Marcus, chỉ là người thừa hành, mặc dù chính bản thân họ đều tưởng rằng họ quyết định. Chỉ như vậy họ mới thành công. Còn nếu ý thức của họ tự lấy bừa một quyết định dởm thì ắt sẽ thất bại. Việc Putin cho sáp nhập Cremea vào lãnh thổ Nga là một việc đúng như vậy. Hoàn cảnh, tình hình thực tế của Ukraina trong tháng 3-2014 hoàn toàn thuận lợi cho việc làm của Putin khiến ông ta thực hiện một cách ngon ơ. Và quyết định đó chắc chắn không phải do Putin làm, nếu ai đó có khả năng nhìn vào não của Putin, ắt sẽ thấy quyết định đã có trước khi Putin ý thức được điều đó.

Như vậy thế giới không phải do lãnh đạo của các siêu cường hay các cường quốc quyết định. Chắc chắn là như thế.

Mọi người đều lầm tưởng rằng Mikhail Gorbachev là người chịu trách nhiệm làm sụp đổ Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Sự thật không phải vậy. Cái cộng nghiệp của nhân loại là thế giới phải chịu 74 năm (1917-1991) dưới sự thống trị một nửa của Liên Xô và chủ nghĩa xã hội, hết nghiệp đó thì thế giới phải thay đổi, Gorbachev chỉ là người vâng mệnh trời một cách vô thức, thi hành sứ mệnh mà thôi. Ví dụ như mệnh trời hay nghiệp không phải là như thế, thì không ai làm gì được cả. Liên Xô sụp đổ vì nó đã tới lúc sụp đổ, chứ chẳng phải phương tây hay Gorbachev làm cho nó sụp đổ.

Chẳng hạn siêu cường Hoa Kỳ với sức mạnh vô địch về kinh tế và quân sự, nhưng ý thức của tổng thống Mỹ, George Bush đã lấy một quyết định dởm, không phù hợp với nhân duyên, nên không thể thắng nổi vài ngàn lính Taliban trang bị thô sơ, vì cộng nghiệp của dân Afghanistan chưa cho phép bình định xứ sở này.

Năm 1989, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa đang sụp đổ nhanh chóng, hàng triệu sinh viên Trung Quốc nghĩ rằng đã tới lúc họ đòi hỏi cải cách chính trị, cần có nhiều tự do dân chủ hơn, vì vậy họ tập trung rất đông ở quảng trường Thiên An Môn để đấu tranh. Họ có rất nhiều hi vọng thành công trước xu thế hệ thống xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ tới nơi rồi, chỉ ba tháng sau thì bức tường Berlin sụp đổ và hai năm sau thì cả Liên Xô cũng sụp đổ hoàn toàn. Thế nhưng cộng nghiệp của người TQ chưa tới lúc từ bỏ đảng cộng sản, thế nên mặc dù sinh viên rất đông và cả thế giới ủng hộ họ, nhưng cả sinh viên và thế giới đều không phải là người quyết định. Nghiệp chưa tới, nên chính quyền đàn áp được cuộc biểu tình, bởi vì cái nghiệp của TQ lúc đó là tiếp tục tiến hành cuộc cải cách mở cửa về kinh tế, thực thi đã được 10 năm và bắt đầu thành công, đưa TQ hiện đại hoá, cuộc gây rối của sinh viên nhanh chóng bị quên lãng. Phương tây cho rằng Đặng Tiểu Bình phải là người chịu trách nhiệm về cuộc thảm sát Thiên An Môn. Phương tây trong đó có BBC, mở một chiến dịch tuyên truyền và cấm vận chống TQ vì cuộc thảm sát này. Nhưng thực tế không phải Đặng Tiểu Bình quyết định, nếu ai đó có thể nhìn vào não của ông ta, thì có thể thấy trong não của ông đã có quyết định trước khi ông ta ý thức về điều đó, không phải chỉ 6 giây như trong thí nghiệm tại Berlin năm 2010, do BBC công bố, mà là hơn một tháng. Nếu nghĩ kỹ về ý nghĩa triết học của video này thì phải hiểu rằng không phải Đặng Tiểu Bình quyết định, ông ta chẳng có quyết định gì cả, vậy ai hay cái gì mới thực sự quyết định. Xin xem video sau :

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Bản chất của vũ trụ vạn vật là ảo, là giả

Theo tiến sĩ Amit Goswami hay vài nhà vật lý lượng tử khác mà video đã đề cập, Thức mới chính là “người” quyết định. Nhưng Thức không có bản ngã, nó thuần tuý chỉ là thông tin, là sự hiểu biết, là tinh thần, nó không phải là ai cả, nhưng nó thực tế là nhân tố quyết định tất cả mọi hiện tượng gì sẽ xảy ra trong thế giới. Các nhà vật lý lượng tử cũng bí về danh từ, họ không biết một thuật ngữ nào khác tốt hơn, nên đành dùng từ Conciousness. Nhưng từ này có thể nhầm lẫn với ý thức của mỗi cá nhân. Thức ở đây phải hiểu là đồng nghĩa với A-lại-da thức của Duy thức học Phật giáo. Nó là kho chứa vô hình của tất cả mọi hiện tượng xảy ra trong Tam giới. A-lại-da thức khi phân tích, lại bao gồm 8 thức. Cộng nghiệp của mỗi cá nhân, mỗi tập thể hay một dân tộc đều chứa sẵn trong A-lại-da, Thức sẽ tuỳ duyên, tuỳ nghiệp mà chọn lựa dữ liệu thông tin thích hợp cho từng trường hợp, sự kiện cụ thể. Ý thức của cá nhân, dù đó là lãnh tụ chính trị của siêu cường quốc mạnh nhất thế giới, cũng chẳng phải là yếu tố quyết định, nó thực sự chỉ đóng vai trò phụ thuộc. Vẻ bề ngoài là chính ông ta quyết định, ai cũng tưởng như vậy, chính bản thân ông ta cũng nghĩ như vậy. Chỉ có bậc giác ngộ mới hiểu ông ta thật ra không phải người quyết định, chỉ là người thừa hành mà thôi.

Có trường hợp cụ thể nào trong lịch sử, nó chứng tỏ người lãnh đạo không thực sự quyết định ? Chắc chắn là có, có cả một học thuyết. Lão Tử viết Đạo Đức Kinh chính là dành cho các bậc vua, chúa, lãnh đạo quốc gia, trong đó ông đề nghị Vô vi nhi trị 無 為 而 治 (không làm gì mà nước thịnh trị). Không làm là không có người lấy ý kiến riêng của mình để quyết định, chứ không phải tất cả mọi người đều khoanh tay ngồi không. Mọi người vẫn tiến hành cuộc sống của mình theo một cái đạo lý mà mọi người khi không có tư dục thì cảm nhận được ở trời. Loại cảm nhận này, các nhà thơ nhà văn thấy rõ và họ cũng thường diễn tả. Chẳng hạn Đào Tiềm thích một cuộc sống nơi điền viên, chân thật, sống trong tình cảm của người thân. Ông nói trong bài Quy khứ lai từ :

登東皋以舒嘯 Đăng đông cao dĩ thơ khiếu Lên chỗ bãi đông ngâm nga thoải mái

臨清流而賦詩 Lâm thanh lưu nhi phú thi     Đến con suối trong mà làm thơ văn

聊乘化以歸盡 Liêu thừa hoá dĩ quy tận   Hãy theo sự biến hoá mà về chỗ vô cùng

樂夫天命復奚疑 Lạc phù thiên thiên mệnh phục hề nghi Vui mệnh trời còn nghi ngờ chi !

Vậy nói không làm nhưng thực ra là không làm theo tư dục chứ không có điều gì không làm, và làm theo sự chỉ đạo rất chuẩn xác của Thức ở cõi vô hình.

Một ví dụ khác là các vị vua Phật giáo đời Trần ở Đại Việt với ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Lần 1 năm 1258 dưới sự lãnh đạo của vua Trần Thái Tông. Lần 2 năm 1285 dưới sự lãnh đạo của Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông. Lần 3 diễn ra năm 1287 dưới sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông. Các vua Nhà Trần đều là bậc giác ngộ nên tất nhiên là từ bi hỉ xả, hiểu rõ lẽ vô thường vô ngã. Thế nhưng đất nước sắp bị ngoại xâm, giặc Nguyên Mông rất mạnh, chúng từng làm khiếp đảm cả Châu Âu. Với vai trò làm vua thì các ngài phải đóng cho trọn vai trò làm vua. Biết rằng chiến tranh là tàn khốc, máu đổ đầu rơi, nhưng thực ra các ngài cũng không có tác ý, hoàn toàn đúng như video thứ nhất chỉ rõ. Không phải các ngài quyết định. Chính là nghiệp trong A-lại-da thức quyết định những gì diễn ra trong ba cuộc kháng chiến đó. Các ngài là bậc giác ngộ nên hiểu rõ là mình không có tác ý, không phải là mình quyết định chiến hay hoà. Hội nghị Diên Hồng diễn ra năm 1284, trước cuộc kháng chiến lần thứ hai chứng tỏ không phải vua quyết định. Chúng ta hãy xem lại video và tìm hiểu thêm các nhà vật lý lượng tử phối hợp với bác sĩ thần kinh giải thích rõ cơ chế trường Duy Thức tạo ra vật chất như thế nào, chúng ta cảm nhận vật chất đặc cứng, rắn chắc, nhưng đó chỉ là tưởng tượng của bộ não mà thôi, chúng ta bị đánh lừa mà không biết.

Universe 6 – Bộ não người và cơ chế tạo ra thực tại ảo

Các bậc giác ngộ biết rằng vật chất không có thật, chỉ là ảo tưởng mà thôi. Cái ta cũng không có thật, nó không quyết định gì cả, nếu nó mạo phạm, lấy quyết định dởm không có cơ sở thì ắt chuốc lấy khổ, chẳng hạn trường hợp của hiệu phó Kang Min Kyu. Vũ trụ vạn vật và cuộc sống con người chỉ là một cuộc hí trường, một trò chơi với những vui buồn sướng khổ mê muội. Tuy là hí trường, nhưng nó cũng có quy luật nhất định. Những quy luật này không phải là chân lý vĩnh viễn, nghĩa là, nói cho cùng thì luật nhân quả cũng không phải là chân lý vĩnh cửu, nó chỉ có giá trị trong chiêm bao, song chiêm bao lại là giấc mơ gần như vĩnh cửu đối với tuyệt đại đa số chúng sinh. Trong bộ Đại Bát Niết Bàn Kinh, Đức Phật đưa ra câu chuyện “người mù sờ voi” để làm ví dụ cho sự mê muội của người đời. Chúng ta đều đã nghe kể câu chuyện đó rồi, không cần nhắc lại, gần như toàn thể chúng sinh đều giống như những người mù, họ chỉ cảm nhận con voi theo sự tưởng tượng của họ, nên 5 người mù có 5 kiểu tưởng tượng hoàn toàn khác nhau. Họ không bao giờ biết được toàn thể hay chân tướng của con voi. Điều này được các nhà vật lý lượng tử trình bày lại một cách khoa học và thuyết phục. “Con voi” ngày nay được hiểu là miền tần số (frequency domain) có khi còn được gọi là Trường Siêu dây (Superstring field) hoặc Trường Thống nhất (Unified field). Còn nếu đối chiếu với Duy Thức học Phật giáo thì có thể gọi nó là Trường Duy thức hoặc Trường A-lại-da thức. Nó chứa tất cả dữ liệu (xưa gọi là chủng tử) để tạo ra vũ trụ. Nó vô hình nhưng các nhà khoa học nghĩ là nó có dạng sóng tần số, nó không nằm trong không gian vũ trụ, nhưng nó lại là nguồn gốc của không gian vũ trụ.

Các nhà khoa học nói rằng không gian vũ trụ chỉ là ảo ảnh, là một toàn ảnh (hologram) nghĩa là không có thật. Vũ trụ vạn vật chỉ xuất hiện trong bộ não của sinh vật, một số tần số sóng được chọn lựa đưa vào bộ não, bộ não chuyển dịch chúng thành vật chất, thân thể, cây cối, nhà cửa, đồ vật…Ai hay cái gì chọn lựa ? Chính là Thức (Phật giáo còn gọi là Chánh biến tri). Chọn lựa theo tiêu chuẩn nào ? Theo nghiệp duyên của chúng sinh. Theo Duy thức học thì Thức bao gồm 8 loại trong đó Manas (Mạt-na) là thức chấp ngã của mỗi chúng sinh. Những dữ liệu trong Manas của chúng sinh được chọn lựa để đưa vào não của chúng sinh đó, và từ đó phóng hiện thành thế giới của chúng sinh đó. Rồi Manas sẽ tương tác với vật từ trong Thức của nó phóng hiện ra không gian 3 chiều. Do cộng nghiệp, nhiều chúng sinh có thể thấy và tương tác với cùng một vật. Chẳng hạn hàng tỉ con người trên địa cầu đều thấy có Mặt trăng. Thế nên nhà thơ đời Tống, Tô Thức, có làm bài thơ, câu cuối là :

Thiên lý cộng thuyền quyên (Xa nhau ngàn dặm nhưng cùng thấy một Mặt trăng).

Thuyền quyên là từ ngữ xưa ám chỉ Mặt trăng. Gái thuyền quyên ám chỉ cô gái tuổi trăng tròn khoảng 15, 16. Mời bạn xem bài hát để thư giãn một chút.

Đản Nguyện Nhân Trường Cửu – Tô Thức – Đặng Lệ Quân – Việt dịch

Vật chất không có thật, nên cũng không phải là khách quan. Đó là lý do giải thích tại sao con người đã cố gắng tìm sinh vật khác ngoài hành tinh, trải qua nửa thế kỷ rồi mà không hề thấy. Từ năm 1960 người Mỹ đã mở đầu chương trình SETI (Search for Extra-Terrestrial Intelligence = Tìm kiếm nền văn minh ngoài Trái đất) dùng sóng radio phát ra vũ trụ để tìm tín hiệu phản hồi từ những nền văn minh khác. Đến năm 1995 khi nhân loại đã có computer và mạng Internet, nhiều cá nhân trên khắp thế giới đã tình nguyện tham gia vào chương trình tìm kiếm này bằng cách tham gia phân tích dữ liệu, nhưng đến nay vẫn vô vọng, không tìm thấy một phản hồi có ý nghĩa nào cả.

Thỉnh thoảng cũng có người thấy, thậm chí có người tiếp xúc được, nhưng không có cơ sở vững chắc để khoa học kết luận là có sinh vật khác ngoài hành tinh. Có thể có người hay chúng sinh từ thế giới khác đến, nhưng họ không thấy có địa cầu, cũng không hề thấy có người trái đất. Bởi vì Trái đất và Nhân loại chỉ là ảo tưởng. Ảo tưởng là hiện thực vật chất bằng xương bằng thịt đối với người ở trong cùng toàn ảnh, nhưng là ảo, là không có thật đối với người ở ngoài toàn ảnh. Đây là một nguyên lý cơ bản của Khoa học Toàn Ảnh.

Nếu chúng ta không hiểu rằng ảo, giả, chính là nguyên lý của thế giới. Thế giới chỉ là thế lưu bố tưởng, là tưởng tượng của Thức. Chúng sinh, trong đó có con người, là những diễn viên trong đại hí viện vũ trụ. Nếu không hiểu, tưởng rằng mọi hiện tượng xảy ra đều chân thật, tưởng rằng hôn nhân, tình yêu, các mối quan hệ giữa con người là chân thật, quả là một nhầm lẫn lớn.

Tuy hiểu rõ bản chất của thế gian là ảo, là giả, song Phật pháp không dạy con người sống giả dối, bởi vì thế giới đó là tương đối. Ý nghĩa của tương đối đã được Albert Einstein nêu ra rất cụ thể. Khối lượng vật chất là tương đối nghĩa là nó không cố định và có thể tăng giảm. Khoảng cách không gian là tương đối nghĩa là 1 mét không phải lúc nào cũng là một mét, có khi nó là 10-33 (mười luỹ thừa trừ 33) cm. Có khi nó là 93 tỉ quang niên. Hoặc không gian vũ trụ đồng thời là chất điểm, đồng thời là vũ trụ hiện nay, bởi vì thời gian không có thật. Thời gian tương đối có nghĩa là tuổi thọ trung bình của con người là khoảng 70 năm, nhưng con người có thể du hành đến một hành tinh khác cách xa Trái đất vài trăm năm ánh sáng và trở về mà chưa hết đời người. Thế giới tương đối mang đến sự mới mẻ cho đời sống nhân sinh, có nhiều điều không thể dự đoán theo lô-gích, tức là nói theo toán học, không thể dùng phương trình đường thẳng để biểu diễn.

Vì vậy nền giáo dục của Phật giáo lại rất tôn trọng sinh mệnh của chúng sinh, không phải vì ảo mà coi thường sinh mệnh. Đạo Phật đặt ra giới luật, tối thiểu là ngũ giới dành cho Phật tử tại gia, trong đó giới đầu tiên là không được sát sinh hại vật, và nên ăn chay để tránh tàn hại loài hữu tình, gây thêm đau khổ cho đời, mặc dù biết rằng đau khổ cũng chỉ là ảo. Ở đây chúng ta lại rút ra được một nguyên lý quan trọng : Trong thế giới tương đối, không nên suy luận theo lô-gích. Lô-gích chứa đầy cảm tính, mà cảm tính có nhiều sai lầm.

Chẳng hạn một người bắn cung đứng cách đích 10m, mũi tên bay với vận tốc 100m/giây. Vậy chỉ trong một phần mười giây, mũi tên sẽ cắm phập vào đích. Đó chỉ là một cách suy luận. Zénon có một cách suy luận khác. Mũi tên luôn luôn còn một nửa đoạn đường để vượt qua nên sẽ không bao giờ đến đích. Người bình thường cho rằng chỉ có cách suy luận thứ nhất là đúng, mũi tên chắc chắn sẽ cắm vào đích chỉ sau một phần mười giây. Nhưng Hầu Hi Quý cũng đã hai lần chứng tỏ rằng cách suy luận của Zénon cũng không phải sai, thực tế viên đạn từ họng súng bắn ra đã không đến đích. Điều đó xác nhận lập trường của Phật giáo, thế giới chỉ là tưởng tượng, không có thật nên cũng không có chân lý vĩnh cửu, chỉ có lẽ đúng tương đối mà thôi.

Đức Phật khám phá rằng toàn bộ lục thức đều là sai lầm, không đáng tin cậy. Như vậy nếu chúng ta dựa vào các giác quan, ắt không tránh khỏi sai lầm. Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng sinh là tưởng thế gian có thật, trong khi trí bát nhã của Thích Ca thấy rằng thực tế chỉ là tánh không, không có gì cả, tất cả chỉ là tưởng tượng. Trong hiện tượng vướng víu lượng tử (quantum entanglement), đã thể hiện rõ ràng tính chất phi hiện thực (nonrealism), bất định xứ (nonlocality) và phi số lượng (nonquantity) của lượng tử, chứng minh một cách ngoạn mục tánh Không mà Thích Ca đã khám phá. Khám phá của Đức Phật, ngày nay được các nhà vật lý lượng tử trình bày lại một cách rõ ràng, rõ đến mức tiến sĩ Amit Goswami nói rằng rõ như ban ngày.

Universe 8 – Tiến sĩ Amit Goswami nói về Thức

Kết luận

Thế giới không phải do lãnh đạo các siêu cường hay các cường quốc quyết định. Bề ngoài thì có vẻ như họ quyết định vận mệnh của thế giới, nhưng luận chứng khoa học về cả hai phương diện vũ trụ quan (thí nghiệm hai khe hở, hiện tượng vướng víu lượng tử) và cơ thể học (bộ não là toàn ảnh, não đã có quyết định trước ý thức 6 giây) đều chứng tỏ vũ trụ và bộ não người đều là toàn ảnh. Toàn ảnh được định nghĩa là ảo ảnh xuất hiện ở nơi nó không tồn tại. Điều này mới được khoa học thế kỷ 21 xác nhận trong thời gian rất gần đây (phát hiện tiếng ồn toàn ảnh năm 2012). Nhưng Phật giáo đã đề cập vấn đề này từ lúc Thích Ca chứng Anuttara Samyak Sambodhi (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) cách nay hơn 2500 năm. Trong kinh điển Phật giáo cũng không hiếm trường hợp đề cập như : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Kim Cang). Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc (Bát Nhã Tâm Kinh). Pháp giới Hoa Nghiêm Sự Sự vô ngại (Hoa Nghiêm). Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức (Thành Duy Thức Luận) v.v…

Những gì xảy ra hay xuất hiện trong vũ trụ đều là vô thường, vô ngã, không có ai quyết định. Đây chính là niềm hi vọng của các nước nhược tiểu, vì họ sẽ không phải mãi mãi tuỳ thuộc vào nước lớn. Vận mệnh của thế giới không phải do nước lớn quyết định. Mà nước lớn cũng không thể đắc thời mãi mãi, nhiều việc xảy ra không thể lường trước được. Đế quốc Anh, đế quốc Pháp, phát xít Đức, quân phiệt Nhật, chỉ tồn tại một thời. Nước Mỹ cũng không thể lãnh đạo thế giới mãi. Trung Quốc hiện đang đắc thời, nhưng chắc chắn cũng không thể lâu dài mãi mãi.

Truyền Bình

 

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

33 Responses to AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

  1. Khang Le nói:

    Con rất cảm ơn thầy Truyền Bình đã có bài viết quý giá để con và mọi người tham khảo và nghiên cứu. Sau khi con đọc bài viết, con có một vài điều thắc mắc chưa rõ, xin thầy hãy từ bi khai thị.
    Đó là, con biết mọi vật là ảo, nhưng trong thế giới ảo này, vai trò của mỗi con người hay cá nhân đối toàn thể thế giới, và đối với mỗi cá nhân đó thật sự ra như thế nào? Chẳng lẽ mình không có khả năng quyết định nghiệp của mình sao? Nếu có ảnh hưởng, thì cường độ ảnh hưởng của mỗi cá nhân đó quan trọng ra sao so với nghiệp chung toàn thể và mỗi cá nhân?
    Đức Phật quyết định từ bỏ ngai vàng để tìm đạo, đó là một đại sự nhân duyên. Nhưng quyết định của Phật Thích Ca và quyết định của tổng thống Bush trong bài có gì khác nhau? Làm sao mình nhận ra được vòng xoay của nghiệp để quyết đinh thuận theo? Theo kinh nghiệm của bản thân con, nếu quyết định nào mà mình cảm thấy khó khăn và khó chịu thì có vẻ như là trái với nhân duyên, nhưng con biết điều đó là không đúng. Phải chăng để nhìn thấy nhân duyên, chỉ có một cách là tu đến kiến tánh?
    Con có những quyết định theo con cho là sai lầm và ảnh hưởng đến con và mọi người xung quanh, con rất đau khổ điều đó. Phải chăng những quyết định đó cũng không phải thật sự sai lầm?
    Đó là nghi hoặc và kiến giải non nớt của con, xin thầy hãy mở lòng từ bi phá nghi cho con.
    Con cảm ơn

    • Vai trò của ý thức của cá nhân rất là phụ thuộc, rất là nhỏ bé. Do đó nếu dùng cái biết của ý thức để tu thì phải rất lâu, cuối cùng cũng phải buông bỏ ý thức, dừng bặt tư duy thì Phật tánh mới hiện ra. Sự khác nhau giữa Thích Ca và Bush là : Thích Ca biết quyết định của mình là vô ngã, thật ra không có ai quyết định cả, đó là đại sự nhân duyên diễn ra không có tác ý, còn Bush thì không biết, tưởng là mình có thật và chính mình quyết định. Khi không có tác ý thì làm bất cứ điều gì đều hợp nhân duyên, không cần phải suy nghĩ đắn đo. Câu hỏi của bạn chứng tỏ bạn vẫn ôm ấp mãi cái ngã.

  2. Phi Long nói:

    Nếu mình tưởng tượng về người ngoài hành tinh , thành ra là có thông tin về người ngoài hành tinh , thông tin này có được là do Thức . Thức đó là do Tâm hiện ra . Do Nhi sinh Kỳ Tâm , nên tồn tại người ngoài hành tinh ?
    Trong vật lý , có từ chuyên nghành là “phổ khả năng”, Sư phụ có rõ về từ này không ạ ?
    Người ở trong toàn ảnh có thể thoát ra được toàn ảnh nhờ vào Tâm không nhỉ ? Vũ trụ là toàn ảnh thì cái gì mới là ” Phi toàn ảnh ” ?
    ” Đại kiếp đại ngộ” , câu này trong Thiên Long Bát bộ 1996 thì phải ạ . Người lãnh đạo có quyết định dởm sẽ sinh ra kiếp dởm cho nhiều người . Có cách trộn nào để cho đại kiếp chứa dởm kiếp ? 😀
    Duy Lực Thiền xem Ma Trận 2 xem , hình như có đoạn nói về nhà tiên tri và sự từ bi của con nguwoif mới là yếu tố quyết định cho sự tồn tại của chúng ta . http://phimnhanh.net/movie/xem-phim-ma-tran-2-m68355.html . Đoạn này có khi giải thích rõ ràng hơn cho vấn đề về câu nói :” Vì vậy nền giáo dục của Phật giáo lại rất tôn trọng sinh mệnh của chúng sinh, không phải vì ảo mà coi thường sinh mệnh. Đạo Phật đặt ra giới luật, tối thiểu là ngũ giới dành cho Phật tử tại gia, trong đó giới đầu tiên là không được sát sinh hại vật, và nên ăn chay để tránh tàn hại loài hữu tình, gây thêm đau khổ cho đời, mặc dù biết rằng đau khổ cũng chỉ là ảo ”
    ở Việt Nam mình bây giờ nếu có Kinh Kha VN có kết cục khac Kinh Kha Tàu , để làm thay đổi quyết định của lãnh đạo . Theo Duy Sư phụ thì có nên hay không nên có Kinh Kha VN ạ ? Xin Duy sư phụ cho ý kiến về vấn đề nay !

    • “Phổ khả năng” chẳng qua là tên gọi khác của “Miền tần số” (frequency domain). Trong đó chứa đựng tất cả mọi khả năng. Miền tần số thì ở ngoài toàn ảnh, nó là nguồn gốc của toàn ảnh mà tôi cho rằng chính là A-lại-da thức. Phim Ma Trận 2 mà bạn giới thiệu có phải là phim khoa học hay phim thương mại ? Lúc nào rảnh tôi sẽ xem thử. Những việc xảy ra trong thế giới đều có nhân duyên, không tuỳ thuộc vào ý thức dởm hay không dởm của lãnh tụ. Mình nói dởm là chỉ trường hợp thực tế xảy ra không đúng như mong muốn của ông ta. Mình đã nói thực tế xảy ra không phải do lãnh đạo quyết định thì còn đặt vấn đề Kinh Kha để hi vọng thay đổi quyết định của lãnh đạo làm gì ?

  3. Phi Long nói:

    Phim đó là phim khoa học ạ.
    Theo Duy Lực Thiền , “Quyết định có cơ sở sâu xa từ Nghiệp (karma) của tập thể hay cá thể “. Quyết định được tải từ miền tần số ,vì vậy nhà lãnh đạo khác nhau có những cách tải miền tần số khác nhau . Ai chọn nhà lãnh đạo để tải ? Nếu nói là nhân duyên thì nhân vô ngã , pháp vô thường mà … Kinh Kha xuất hiện là nên hay không nên có khi để cho vô ngã vô thường quyết định !?

  4. laitran247 nói:

    Cho con hỏi nếu như hoàn toàn không phải do con quyết định mà do vô thức làm chủ vậy con nhiều khi tạo ra các nghiệp xấu , hay các phát xít sau khi hành hết nước này nước khác cũng chưa hẳn là có tác ý …vậy họ có phải gánh chịu hậu quả quá nặng nề hay không ?

    • Thực tế là nghiệp quyết định chứ không phải do ý thức con người quyết định. Nhưng theo Phật giáo thì ý thức cũng có ảnh hưởng tới nghiệp mặc dù rất yếu ớt, nhưng nếu kiên trì tu hành lâu năm cũng sẽ có ảnh hưởng tới nghiệp. Các đồ tễ phát xít cũng làm theo cộng nghiệp thôi, nhưng nếu họ có tác ý, có tăng cường ý thức của mình vào thì cũng sẽ có nhân quả cho phần tăng thêm này. Các vua nhà Trần là bậc giác ngộ, họ chống giặc Nguyên Mông nhưng không có tác ý nên không gánh nghiệp.

  5. laitran247 nói:

    Với lại nếu như con quyết phát tâm Bồ Đề thay đổi vận mạng mặc dù trong con rất nhiều chủng tử xấu làm chướng ngại Tâm Bồ Đề …vậy con có quyền quyết định số mạng của con không ???

    • Ý thức của cá nhân tuy nhỏ bé và yếu ớt so với nghiệp nhưng nếu kiên trì thì cũng sẽ có anh hưởng. Nhưng PG dạy rằng cái ta là không có thật, sao bạn cứ muốn lấy cái ta làm chủ thể quyết định ? Bạn cần hiểu rằng mọi lời nói ra đều không có nghĩa thật. Phật pháp chỉ phá chấp vì chấp trước dẫn tới phiền não, chứ không có kiến lập chân lý.

  6. laitran247 nói:

    Con hiểu lời chú nói , con cũng muốn tu kiểu phá chấp vì nó hợp căn cơ của con …con thấy rất nhẹ nhàng khi nhìn rõ cấu trúc giả ngã của cái ta ảo tưởng …nhưng con vẫn có một nỗi sợ là đến khi chết nếu con không hoàn toàn thoát khỏi các nghiệp chướng cũng như các chấp trước chắc chắn con phải chịu luân hồi tiếp tục trong khi con muốn giải thoát sanh tử ngay trong đời này …nếu con vô chấp con sẽ không có mục tiêu để đi về như là Tây Phương Lực Lạc để tiếp tục quá trình tu tập theo như Kinh điển đã nói …vì con biết chắc là ngay trong đời này con không thể phá hết chấp nỗi …

    • Khang Le nói:

      Chào bạn. Theo mình nghĩ, đây chỉ là ý kiến của mình, là điều cần thiết là trước hết bạn nên tin tự tâm mình. Dù bạn có đang chấp cỡ nào đi nữa, nếu bạn tin vào chính mình thì có thể làm được thì bạn sẽ làm được
      Trong pháp môn tổ sư thiền, có hai điều trọng yếu là tin tự tâm và giữ nghi tình
      Trong Kinh A Di Đà có nói nếu bạn phát dù chỉ một niệm thành tâm thì vẫn có thể được Phật đến rước
      Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ có nói, người ngu nếu được che bỏ sự mây mù và vọng tưởng chấp trước thì chẳng khác gì kẻ trí, người thượng căn
      Các chư Tổ và người kiến tánh phần lớn xuất phát là người bình thường, do tu tập đều kiến tánh.
      Nếu bạn tin bản thân mình có thể làm được thì bạn sẽ làm được, không kiếp này thì sẽ là kiếp sau, nhưng không ai biết trước được

    • Giác ngộ là rất đơn giản (trực há thừa đương) nhìn xuống là thấy, hiểu và tin rằng Tôi không có thật và không chấp chặt nó nữa. Chấp hoài thì phải chịu khổ với nó.

  7. Tô Duy Hanh nói:

    Xin được chia sẽ ý kiến của tôi như sau, tôi có thể sai, vì vậy xin mọi người chỉ điểm.
    _Ở chỗ tôi thấy, đa số con người chúng ta có cái khổ vì có cái “tôi tâm lý”…CHính cái “tôi tâm lý” này dẫn chúng ta đi hết từ Phật Thích Ca, cho đến Chúa Jêsu rồi thì Osho ,Krishnamurti .vv..vv v..những lời dạy, những kinh điển và bây giờ là đến những kiến thức khoa học chứng minh sự tồn tại của thế giới vật chất chỉ là những khoảng không….nhưng cái chúng ta thực sự làm chỉ là tích trữ kiến thức và lẩn tránh sợ hãi. Hai hành động này sẽ làm lớn “cái tôi” thêm nữa.
    _Vậy tại sao chúng ta lại làm lớn “cái tôi” lên, trong khi chúng ta thực sự ko hề muốn như vậy.? Ở chỗ này, nguyên nhân có thể, chỉ là có thể, là do chúng ta “muốn” cái khác ngoài cái đang có… Cái khác này, sẽ đảm bảo cho “tôi” thoải mái hay tự tin hơn ,hoặc chí ít là an tâm hơn cái bây giờ đang có…. Chúng ta biến giác ngộ thành cái bên ngoài, biến giác ngộ thành một trạng thái mà khi chúng ta “đạt” được sẽ làm chúng ta thật sự giải thoát, vâng có thể chính hành động này đã góp phần làm cho những kinh điển,cũng như những lời dạy của những người giác ngộ đi trước trở thành những kiến thức không bao giờ là đủ, trở thành những ý tưởng cao siêu và hơn hết là trở thành những khuôn mẫu mà chúng ta làm theo với niềm tin : tôi sẽ giác ngộ nếu tôi làm như thế này, vì trước tôi đã có Phật có Chúa có nhiều người làm vậy và họ đã giác ngộ, họ chính là sự bảo đảm cho phương pháp này.( xin lỗi vì đã nói như vậy)
    _Câu hỏi bật lên sẽ là : vậy những lời dạy của họ là vô ích sao, hay tại tôi “tu” chưa đúng cách ? Xin được viện dẫn một lời dạy của Phật :” Hãy tự là ành sáng cho bản thân”….một sự thật vĩ đại đằng sau lời dạy này, và dĩ nhiên nếu chúng ta thấy được nó như là một kinh nghiệm thật sự, chứ không phải là một ý tưởng trên lý thuyết, những người ngoài kia, những người khác với bạn, sẽ nói là :”Bạn đã giác ngộ”….và cũng dĩ nhiên, bạn không hề biết mình như vậy, vì khi bạn thấy mình giác ngộ, thì giác ngộ biến mất rồi…”dĩ vô sở đắc” có thể được hiểu theo nghĩa này.

    • Tánh không là bản chất của vạn pháp. Mọi vật chất, mọi suy nghĩ, mọi lý thuyết đều không thoát khỏi tánh không, tức đều là ảo, là thế lưu bố tưởng, là tưởng tượng.

  8. Tô Duy Hanh nói:

    Xin chú Truyền Bình có thể, hãy làm ơn, dùng những từ ngữ đơn giản hơn…vì thực sự, con không hiểu. Xin được diễn giải cách hiểu của con như sau.
    _ Tôi, một con người bình thường, nghe nói có một cái gọi là “Tánh Không”, tôi tò mò muốn hiểu nó là gì, thế rồi, tôi đi thu lượm kiến thức về nó từ những nguồi đáng tin cậy: từ Phật giáo, đến Ấn giáo, và giờ là khoa học công nghệ…trong quá trình đó, tôi làm đầy kiến thức của mình lên về cái “Tánh KHông”….nhưng có một sự thật là: tôi chỉ tiếp xúc với nó, không khác gì là 1 ý niệm..Sau 1 thời gian dài, kiến thức của tôi về tánh không có thể nói là vô cùng to lớn, và mỗi khi có ai hỏi, tôi đều có thể trình bày nó 1 cách lưu loát nhờ sự hồi tưởng. Vậy liệu chúng ta đã thấy “tánh không” như là thấy 1 bông hoa, hay chúng ta thấy nó như thấy trên bề mặt tư duy : sự tập hợp của 1 mớ những sự mô tả, kể lại và cũng có 1 phần sản phẩm của ta trong đó. Có thể nói theo kiểu : Tập làm văn lớp 3,4 yêu cầu mô tả bà nội của học sinh, em hs này có thể tả rất hay,rất chân thực,rất sông động, nhưng cô giáo dù có tưởng tượng giỏi đến đâu cũng không thể biết được bà nội của em hs này khi 2 người gặp nhau mà không được báo trước, vì trong cô chỉ toàn là tưởng tượng.
    _ Lại nữa, khi có người nghe nói tôi là 1 người am hiểu về “Tánh Không”, khi họ đến và nói chuyện với tôi về đề tài : đau khổ…Liệu tôi có thể giúp họ hiểu được cái “tánh không” đó, hay tôi chỉ đơn giản nói với họ 1 ý niệm, 1 sự tu tập là : Mọi thứ đều là ảo, không có thật hãy thôi đau khổ,..nhưng thực tế là, họ lại vẫn tiếp tục và tiếp tục đau khổ hơn nữa vì làm như thế, có thể nói là tự lừa gạt bản thân bằng ý niệm : mọi thứ chỉ là ảo. Nghĩa là kết thúc tư tưởng bằng tư tưởng…vậy là ,không lối thoát.
    Câu hỏi bật lên là : Cách thế chúng ta sống ra sao ? Cư xử với nhau ra sao trong cái thế giới mà chúng ta nghe nói là “ảo” này ?

  9. Trần Bình nói:

    Thích Ca có nói ” ý dẫn đầu các Pháp ” do vậy chúng sanh tu tập nên giữ thiện ý, nhưng Thầy tôi lại dạy rằng, rất khó để con có thể giữ thiện niệm trong suốt cuộc đời do vậy hay bỏ cái ý thức ( thức số 06 ) của con qua một bên mà dụng cái thức số 08 ( A Lại Da Thức ) !

    Tôi hỏi Thầy cách dùng thức số 08 Thầy bảo hết sức đơn giản ( khi dùng ít & không dùng thức số 06 thì tự động thức số 08 sẽ phát huy ) chỉ việc Tịnh & Lạc Pháp sẽ nhập vào con, lúc đó khi cần sử lý việc gì tất thành ! Tương ưng tuỳ thuận mà hành

    Xin Sư Duy Lực Thiền cho cháu ý kiến về việc này ah !

    • Thức thứ 6 (ý thức) là thức hoạt dụng hàng ngày của con người, tại sao không dùng ? bậc thánh vẫn phải dùng nó (thế lưu bố tưởng) chỉ cần không chấp trước mà thôi. Thức thứ 8 (A-lại-da) là nơi chứa tất cả dữ liệu của Tam giới. Dữ liệu từ A-lại-da được đưa qua Mạt-na và biểu hiện thành ý thức của cá nhân. Tương tự như bên tin học, dữ liệu từ Internet (A-lại-da) chuyển vào ổ đĩa cứng (Mạt-na) rồi từ đó chuyển vào RAM (ý thức) để hoạt động.

  10. Trần Bình nói:

    Vô Trước, Thế Thân, Long Thọ, Mã Minh là các vị Bồ Tát giảng về Pháp Duy Thức Học ! Pháp này Di Lặc Bồ Tát có dạy ( tương ưng tuỳ thuận mà hành )

    Vậy xin hỏi Truyền Bình ” các bồ tát dùng pháp gì để thanh tịnh trang nghiêm ” ?

    • Các vị Bồ Tát đều đạt tới vô phân biệt trí, ở cảnh giới đó tất cả các pháp đều bình đẳng, không có trang nghiêm thanh tịnh khác với ô trược. Cảnh giới đó được diễn tả rất rõ ràng trong Bát Nhã Tâm Kinh. Không có Khổ Tập Diệt Đạo cũng không có hết Khổ Tập Diệt Đạo. Vậy cũng không có trang nghiêm thanh tịnh cũng không có hết trang nghiêm thanh tịnh.

  11. Trần Bình nói:

    Bồ tát có Thập quả vị từ sơ căn đến thượng căn. Bồ tát từ bậc 5 trở xuống vẫn còn bị Ma, Quỷ nhiếp.

    Do vậy Phật dạy ông Tu Bồ Đề ” Các Bồ Tát quả vị sơ căn muốn thanh tịnh trang nghiêm thân thì phải VÔ SỞ TRỤ ”

    Trong 21 ngày đầu sau khi đắc quả. Đức Phật thuyết Hoa Nghiêm Kinh chỉ dành cho hàng bồ tát có 2 pháp ” Từ Pháp Giới Quy Nhiếp Sắc Thân ” & ” Từ Pháp Thân Siêu Xuất Pháp Giới ”

    Xin hỏi Truyền Bình hiện chúng sanh đang tu theo Pháp nào ? Vì sao hơn 2500 năm nay không có người đắc quả, người tu nhiều nhưng tẩu hỏa với điên cũng nhiều, người đắc quả không thấy ?

    Thanks

    • Chúng sinh hiện nay tu theo pháp nào là việc cá nhân của mỗi người. Mỗi người có thể chọn pháp tu thích hợp cho mình. Nói hơn 2500 năm nay không có người đắc quả là không đúng. Chỉ riêng thiền sử Trung Quốc cũng đã liệt kê hơn 5000 người kiến tánh. Có người kiến tánh cũng không ai biết, ví dụ ông tăng làm đường ở Vân Nam, khi hòa thượng Hư Vân tình cờ gặp mới biết đó là người giác ngộ.

  12. laitran247 nói:

    Vì tất cả là do tâm tạo nên cứ Tu Tâm là Ok thôi , đằng nào cũng có lợi ích nếu vận dụng đúng pháp đúng hoàn cảnh .

  13. điên đảo nói:

    Càng nói lại càng đi xa hơn. dẫu biết ngôn ngữ chỉ là giả danh nó đâu nói lên được sự thật đâu mà lại chấp vào nó. Sư Tổ ta không giảng pháp mà khi đối diện liền chỉ thẳng chổ vào, còn qua vòng ý thức liền thành vọng, vì vậy ngay tại đây và bây giờ thì thực tại luôn hiện tiền không làm gì thêm nữa

  14. Phi Long nói:

    Muốn thoát khỏi sự phân biệt và tưởng này thì có mấy cách hả bác ?
    Ai cũng thoát khỏi cuộc chơi có Luật nhân Quả, khi đó ” Thế giới ” sẽ thế nào ạ ?
    Cảm ơn bác ạ .

    • Không ai quyết định thế giới. Thế giới diễn tiến theo cộng nghiệp của nhân loại. Như vậy vẫn có luật nhân quả. Nhưng luật nhân quả không tuyệt đối vì những tưởng tượng đầu Ngô mình Sở thì không duy lý, điều này được phản ánh trong nguyên lý bất định và định lý bất toàn. Chỉ có một cách duy nhất thoát khỏi sự phân biệt tưởng tượng này, đó là ngừng tưởng tượng. Nếu ai cũng như vậy cả thì thế giới chỉ là tánh không trống rỗng. Bài hát này là nói lên điều đó :

  15. Phi Long nói:

    Làm sao để ngừng tưởng tượng ạ ?
    Đầu Ngô mình Ngô, đầu Sở mình Sở còn là Vô minh được chăng ?
    Vừa trưa nay cháu kiếm được một tài liệu, xin kính tặng bác ạ http://www.dlu.edu.vn/FileUpload/20081101015542.pdf https://www.youtube.com/watch?v=LHtHmKXdcaM

    • Không thể ngừng tưởng tượng kể cả bậc thánh (thế lưu bố tưởng). Tuy nhiên Huệ Trung Quốc Sư có thể chủ động ngừng tưởng tượng khiến ngoại đạo dù có tha tâm thông cũng không biết ông đang nghĩ gì. Làm sao để ngừng tưởng tượng thì tôi không biết và chưa làm được. Đầu Ngô mình Ngô thì đó là cuộc sống duy lý đời thường, vẫn là vô minh thôi. Tài liệu PDF của bạn tôi không dùng được vì tôi chỉ quan tâm phần triết học trong khoa học chứ không đi sâu vào toán học. Video thì nghe được. Cám ơn.

  16. Phi Long nói:

    Dựa vào những điều bác nói, cháu truy tầm đến quyển Thiền Đạo Tu Tập. Nhưng tìm trên mạng không có. Bác biết cuốn này như nào không ạ ? http://tangthuphathoc.net/thien/cottuycuathien.htm

  17. Phi Long nói:

    Bản pdf về thuyết tương đối cháu gửi cho bác nhưng lại khó đọc, cháu vừa phát hiện web do thầy Đỗ Ngọc Diệp giới thiệu ạ, mong là thế được vào bản pdf trên http://phys.org/news/2014-08-physicists-superabsorption-limits-classical-physics.html
    Cám ơn bac về những bái viết ạ.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s