NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

Hôm nay là ngày 8-3-2015, chúng ta chào mừng ngày Phụ nữ 8 tháng 3, nhưng cũng chính ngày này một năm trước, máy bay chở khách MH370 của hãng hàng không Malaysia đã biến mất mang theo 239 hành khách và phi hành đoàn. Người ta đã nỗ lực tìm kiếm rất nhiều, ban đầu là vùng Biển Đông của Việt Nam, sau đó là Ấn Độ Dương nhưng đã không tìm thấy bất cứ vết tích nào. Đây là một sự mất tích vô cùng bí ẩn gợi lên một thách thức đối với tri kiến nhân loại, nên bây giờ tôi xin được lạm bàn.

Nhà chức trách Malaysia đã tuyên bố là phi cơ gặp nạn và đã rơi xuống Ấn Độ Dương nhưng không có bằng chứng, chỉ là loại suy. Những thông tin mà họ nắm được là phi cơ đã đột ngột chuyển hướng khi tới vùng biển Việt Nam, thay vì bay đến Bắc Kinh, đã quay trở lại và bay về phía Ấn Độ Dương, cuối cùng mất liên lạc. Họ cho rằng phi cơ chỉ có thể tiếp tục bay tối đa 8 tiếng đồng hồ thì hết nhiên liệu và ắt là phải rơi xuống Ấn Độ Dương, thế nhưng một năm đã qua mà không tìm thấy bất cứ vết tích nhỏ nào.

Tôi cho rằng rất nhiều người trong nhân loại hiện nay vẫn còn mơ hồ, họ không hiểu hết thế giới vật chất và tâm linh, không hiểu Phật pháp, chỉ tư duy theo kiểu duy vật nông cạn, nên không thể hiểu được tại sao máy bay MH370 biến mất mà không để lại chút vết tích gì.

Khoa học ngày nay đã bắt đầu hiểu rằng không phải chỉ có duy nhất vũ trụ mà chúng ta đang sống, mà còn vô số vũ trụ song song đồng thời tồn tại cùng với vũ trụ của chúng ta mà con người không thể nhìn thấy, không thể tiếp xúc. Từ đầu thế kỷ 20, những nhà khoa học hàng đầu thế giới đã hiểu ra rằng thuyết duy vật của Karl Marx không còn đúng nữa.

Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).

Phật pháp từ ngàn xưa cũng đã nói rằng thế gian chỉ là ảo hóa, con người chỉ là nằm mơ giữa ban ngày, thế giới vật chất, tinh thần, tình cảm mà chúng ta cảm nhận, chỉ là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã được lưu truyền lâu ngày thành nề nếp trên đời).

Đó là những cơ sở khoa học và tâm thức để tôi nêu giả thuyết rằng có thể phi cơ MH370 đã bay lạc sang một vũ trụ khác mà chúng ta chưa hiểu được nguyên nhân tại sao.

Vấn đề đi lạc qua một thế giới khác đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử, nhưng vì người ta không hiểu nên cho rằng đó chỉ là truyền thuyết có tính chất thần thoại.

Xa xưa nhất là thời Đức Phật còn tại thế. Trong bản đồ thánh tích Phật giáo, chúng ta thấy có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay), địa danh này tương đối ít được biết. Đó là nơi Đức Phật dùng thần thông lên trời Đạo Lợi忉利天thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe, Phật lên cõi trời chỉ một buổi thôi, nhưng người trần gian thấy là ba tháng, sau ba tháng Phật mới trở về trần thế, có Đế Thích và Phạm Thiên theo hầu.

Sankasya 1

Bia đá tạc sự tích Đế Thích và Phạm Thiên hầu Phật trở về thế gian tại Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施)

Cõi trời Đao Lợi thuộc về một vũ trụ khác. Giả sử chúng ta có khả năng đi khắp vũ trụ của mình, cũng không tìm thấy Đao Lợi ở đâu, bởi vì nó không nằm trong vũ trụ của chúng ta, nhưng nó vẫn ở trong tâm của chúng ta nên vẫn có thể thấy được khi hội đủ nhân duyên.

Cõi trời Đao Lợi (忉利天) ở đâu ? Chúng ta không thể tìm thấy trong vũ trụ này, nhưng không phải là không có. Theo Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘sát na hiện tiền’). Vậy cõi trời Đao Lợi nằm trong một vũ trụ song song với vũ trụ của chúng ta, thuộc các chiều kích không gian bị cuốn lại nên người trần không thể thấy, nhưng người có thần thông như Đức Phật thì có thể thấy và đến được. Đến bằng cách nào ? Bằng cách dùng tâm niệm, chỉ một niệm là đến.

Trong kinh sách Phật giáo cũng có kể chuyện 3 nhà tu Phật giáo cùng nhau tu tập để cầu đến được cõi trời Đâu Suất兜率 (Tushita). Trong số họ, hai người đã đạt được ý nguyện. Câu chuyện như sau :

Vũ Trụ Song Song – Bồ Tát Vô Trước

Vô Trước 無著 (sa. asaṅga), nghĩa là “không bị ô nhiễm, không vướng mắc”, cũng được dịch âm là A-tăng-già 阿僧伽, khoảng thế kỷ 4, là một Đại luận sư của Phật giáo Ấn Độ, người sáng lập Duy thức tông (sa. vijñānavādin). Kinh điển kể rằng Sư được Phật Di-Lặc trực tiếp giảng pháp, sau đó trở về thế gian và giảng lại cho môn đồ, đệ tử.

Cõi trời Đâu Suất cũng thuộc về một vũ trụ khác nằm ngoài vũ trụ của chúng ta.

Theo sách “Thần Tiên Truyện”, khoảng năm 58-76 CN, đời Hán Minh Đế thời Đông Hán, có hai chàng trai là Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) hái thuốc, gặp tiên, kết làm vợ chồng. Được ít lâu, hai chàng nhớ nhà đòi về. Về tới làng xưa thì người làng không còn ai nhận ra họ, chỉ có người nói hồi xưa cụ tổ bảy đời vào núi hái thuốc rồi không trở về, trần thế đã trải qua mấy trăm năm. Hai người tìm cách quay về động cũ thì không thể tìm thấy cảnh tiên và vợ tiên đâu nữa. Câu chuyện này được nhạc sĩ Văn Cao diễn tả lại trong ca khúc Thiên Thai rất nổi tiếng thời tiền chiến.

Thiên Thai – Văn Cao – Hoàng Oanh

Cõi tiên Thiên Thai cũng không nằm trong vũ trụ của chúng ta nên không có lối vào nếu không có nhân duyên.

Vào đời Đông Tấn (317-420CN) ở Trung Quốc, cũng có người đi lạc vào một thế giới khác. Thế giới này còn khá gần gũi với thế gian bởi vì người thấy nó là người thế gian, sống vào khoảng 500 năm sau thời đại của những người trong thế giới kia, nhưng vì nó không phải nằm trong thế gian, nên sau đó nhà chức trách địa phương không thể nào tìm lại được. Câu chuyện này được nhà văn nông dân Đào Tiềm kể lại trong tác phẩm Đào Hoa Nguyên Ký.

La Source Aux Fleurs de Pêchers – Đào Hoa Nguyên Ký – Đào Tiềm- Pháp và Việt dịch

Gần đây nhất, thời hiện đại, có câu chuyện pháp sư Khoan Tịnh đến được cõi Tây phương Cực lạc của Phật A Di Đà, và trở về thế gian kể lại.

Khoan Tịnh Đại Pháp Sư ra đời lúc 10 giờ mùng 7 tháng 7 năm giáp Tý (1924). Ngài ra đời trong căn nhà số 140 đại lộ Thành Quan Trấn Đông thuộc huyện Bồ Điền, Tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc.  Là một hộ cư sĩ Phật giáo tên thật là Phan Kim Vinh. Ngày 25-10-1967, đó là thời kỳ diễn ra cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc, pháp sư nhập định trong động Di Lặc, núi Cửu Tiên, dãy Quế Lạc, Công Xã Thượng Dõng Huyện Đức Hóa Tỉnh Phước Kiến, và thấy mình được Bồ Tát Quán Thế Âm dẫn đến cõi Tây phương của Phật A Di Đà. Pháp sư thấy mình thăm viếng cảnh giới Tây phương chưa tới một ngày đêm (khoảng 20 tiếng đồng hồ) nhưng người trên thế gian thấy ngài bỗng nhiên mất tích từ ngày 25-10-1967 đến ngày 8-4-1973 mới thấy ngài xuất hiện trở lại, tính ra ngài đã biến mất trong 5 năm 6 tháng. Thế gian lúc ấy không thấy dấu tích Pháp Sư đâu, đổ xô đi tìm, tăng lục cả Chùa, tìm khắp cả núi, hằng trăm cái động, lớn có nhỏ có, vẫn không thấy tông tích của Pháp Sư, thậm chí huy động cả các đội trục vớt, đội cứu nạn bãi biển, cứu nạn thác ghềnh vẫn không thấy. Một số thiện tín nhiệt thành, còn tuôn ra các huyện thành, các chợ Tuyền Châu, chợ Hạ Môn, chợ Phước Châu, chợ Nam Bình kiếm tìm, còn gởi thơ nhờ các tỉnh huyện lân cận như huyện Vĩnh Thái, Huyện Vĩnh Xuân, Đức Hóa, Phước Thanh, lăng xăng cả mấy năm dài mà vẫn không tin tức gì cả.

Thế rồi, mọi người đều nghĩ Pháp Sư đã viên tịch trong lòng thương tiếc vô cùng. Thật ra từ đầu đến cuối, nhục thân Pháp sư chưa hề rời khỏi động Di Lạc nữa bước. Do được Phật hộ, nhục thể để trong động những sáu bảy năm mà không bị phát hiện, không bị mục hư, cũng không rõ là được giấu ở đâu (rất có thể ẩn ở một vũ trụ khác), về điểm nầy có các cư sĩ ở đây xác minh được, như cư sĩ Trịnh Tú Kiên chẳng hạn.

Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

Chúng ta biết chắc rằng cảnh giới mà pháp sư Khoan Tịnh thấy chỉ là tưởng tượng, nhưng đó là tưởng tượng có điều kiện. Tương tự như cảnh giới của chúng ta trên thế gian cũng là tưởng tượng có điều kiện mà Phật gọi là thế lưu bố tưởng. Chúng sinh ở vũ trụ khác cũng không thể thấy thế gian trừ khi có nhân duyên gì đó tương thích, cũng giống như người thế gian không thể thấy vũ trụ khác trừ phi có nhân duyên đặc biệt. Chính vì bản chất là tưởng tượng nên chúng sinh ở hai cõi giới khác nhau không thể thấy, không thể tiếp xúc được với nhau trừ phi có nhân duyên đặc biệt. Lưu Thần và Nguyễn Triệu cũng như pháp sư Khoan Tịnh không thể chủ động tạo được nhân duyên đó, còn Phật Thích Ca thì có thể chủ động, bởi vì tâm không còn chướng ngại. Tâm chướng ngại là thế nào ?

Đó là tâm cố chấp, là thói quen của tập khí cố chấp. Người ta thường tin vào một điều gì đó và cho rằng đó là chân lý, chính lòng tin đó cản trở không cho họ thấy điều gì khác mới mẻ. Chẳng hạn người đời cố chấp vật chất thế gian là có thật nên họ không bao giờ hiểu được phi cơ MH370 bay đi đâu, họ cho rằng nó chỉ có thể đâm xuống biển vì hết nhiên liệu mà thôi. Chúng ta hiện nay cũng chưa biết rõ là nó bay đi đâu, nhưng vì con người không tìm được chút dấu vết, mảnh vụn nào của nó sau một năm tìm kiếm, nên tôi đặt ra giả thuyết là nó có thể bay lạc qua một vũ trụ khác. Trong lịch sử và truyền thuyết của nhân loại, đã có những trường hợp như vậy. Khoa học hiện đại cũng bắt đầu hiểu được thuyết có nhiều vũ trụ tồn tại đồng thời, chồng chập lên nhau, thế giới vật chất có bản chất là ảo, điều đó không phải là hoang đường mà là hiện thực, và thuyết Big Bang về sự hình thành của vũ trụ này là một minh chứng.

Sau khi tôi công bố bài viết này thì hai trường hợp có thể xảy ra. Một là người ta bất ngờ tìm thấy xác chiếc máy bay MH370. Hai là người ta phải tin rằng nó đã bay lạc sang một vũ trụ khác và có thể trở về sau một thời gian có thể vài năm, vài chục năm, vài trăm năm, vài ngàn năm. Chẳng hạn trường hợp sau :

Năm 1954, Harry Logan và Derek Norton ngồi trong một khinh khí cầu bay qua tam giác quỷ Bermuda đã biến mất một cách thần bí. Đến mùa xuân năm 1990, trong một cuộc thi đấu khinh khí cầu ở Cuba, chiếc khinh khí cầu đã mất tích 36 năm trước, đột nhiên xuất hiện. Người dân Cuba tưởng đó là vũ khí bí mật của Mỹ.

Nếu nó trở về sau vài năm hoặc vài chục năm thì thân nhân của những người đi trên máy bay có thể gặp lại người thân của mình. Còn nếu lâu hơn nữa, càng lâu thì càng ít hi vọng.

Tuy nhiên nếu thân nhân của những người đi trên máy bay MH370 hiểu Phật pháp, hiểu ý nghĩa của câu tổng kết bộ kinh Thành Duy Thức Luận : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” Hiểu được rằng tất cả mọi hiện tượng trên thế gian đều là giả tạm, hễ có sinh thì có tử, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Nhưng sinh tử chỉ là giả tạm, như Bát Nhã Tâm Kinh nói “Không có sinh tử, cũng không có hết sinh tử”. Nếu hiểu được như vậy thì sẽ bớt đau khổ.

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh – Mạnh Đình Vy – Ca từ – Việt dịch

Tất cả mọi hiện tượng đều chỉ là thế lưu bố tưởng mà thôi. Thơ xưa có câu :

一生幾許傷心事Nhất sinh kỷ hử thương tâm sự Một đời bao nỗi thương tâm

不向空門何處銷 Bất hướng không môn hà xứ tiêu Không nương cửa Phật biết làm sao khuây.

Chính vì thế gian có nhiều cảnh khổ nên mới có Phật pháp, chỉ cho con đường thoát khổ. Những người đang gặp cảnh khổ như thân nhân của những người đi trên máy bay MH370, nếu chưa gặp Phật pháp, thì đây chính là cơ duyên để họ thức tỉnh và có thể tìm thấy an lạc vững chắc như Bát Nhã Tâm Kinh nói : Giải thoát tất cả mọi khổ nạn. Giải thoát ở đây tức ngộ ra rằng tất cả mọi khổ nạn cũng chỉ là những hiện tượng giả tạm huyễn ảo, chỉ là thế lưu bố tưởng mà thôi, không cần phải quá bi thương đau khổ.

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Nhà sau. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

5 Responses to NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

  1. Tham Ngo nói:

    Cảm ơn các bài viết, nhận định của Tác giả. Xin hỏi Chú Truyền Bình, Chú có suy nghĩ gì về những thông tin của Người dân Kogi, cháu rất muốn biết nhận định của chú.

    • Người dân bộ lạc Kogi sống rất an lạc và hạnh phúc. Đó là một xã hội lý tưởng theo quan điểm của Lão Tử nói trong Đạo Đức Kinh. Những người lãnh đạo của bộ lạc đó hình như hiểu biết rõ về thế giới bên ngoài nên họ gởi thông điệp cảnh giác loài người văn minh chớ nên quá sa đà vào lối sống duy vật không có lối thoát. Chúng ta đang sống ở thế giới văn minh cũng nên tham khảo thông điệp của họ và cũng nên bớt ham mê vật chất. Tuy nhiên con người hiện đại cũng không thể sống như bộ lạc Kogi. Xã hội loài người dù muốn hay không muốn, nó cũng phải phát triển. Giống như đứa trẻ 3 tuổi khỏe mạnh xinh xắn, sống rất hồn nhiên hạnh phúc, không lo nghĩ. Nhưng nó không thể mãi mãi là đứa bé 3 tuổi, nó phải lớn lên, kết hôn, sinh con đẻ cái và cuối cùng là chết. Tóm lại cuộc sống không thể dừng lại ở hình thức nguyên thủy của bộ lạc Kogi, dù nó có tốt đến mấy đi nữa.

  2. Tham Ngo nói:

    Cảm ơn Chú, Chú có thể cho cháu số máy cầm tay để tiện liên lạc với chú.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s