KỶ NIỆM VỀ MỘT NGƯỜI SƯ PHỤ

Mỗi khi Trái đất xoay hết một vòng quanh Mặt trời thì có chuyện xuân về tết đến. Mỗi độ xuân về tôi đều viết một hai bài mừng xuân để thay đổi không khí cho cái blog khá khô khan này. Năm nay viết về sự tương ứng với sư phụ.
Thế hệ con cái hiện nay có hiểu rõ cha mẹ, ông bà của mình không ? Và ông bà, cha mẹ có hiểu rõ con cháu không ? Vấn đề này có sự khác nhau ở từng gia đình, từng cá nhân. Nó tùy thuộc vào mối quan hệ có gần gũi thân thiết hay xa lạ giữa từng cá nhân của các thế hệ khác nhau. Nói chung, cùng thế hệ thì dễ hiểu nhau hơn, khác thế hệ thì có nhiều bất đồng, ít thông cảm. Trước khi đi vào nội dung chính, thiết tưởng cũng nên xem qua một số nghiên cứu xã hội học.
Danh từ Generation Gap, Khoảng Cách Thế Hệ được dùng tại các xã hội Âu Mỹ vào thập niên 1960. Mỗi thế hệ cách nhau từ 20-30 năm là thời gian trung bình để trẻ em lớn lên và thành người lớn thực thụ.
Từ điển Oxford định nghĩa generation gap là sự khác biệt về “thái độ” (Attitude) giữa những người ở thế hệ khác nhau. Thái độ bao gồm sự suy nghĩ và thấy thế nào về một sự việc hoặc một người nào đó. Như là:
-Sự khác nhau trong quan điểm về nếp sống hoặc thiếu sự hiểu biết lẫn nhau giữa lớp thanh niên và lớp người già.
– Khác biệt tuổi tác, giữa những người ở giai đoạn khác nhau của cuộc đời.
-Khác biệt thế hệ, giữa những người sinh trưởng trong thời gian khác nhau, hình thành trong điều kiện xã hội khác nhau.
Khoảng cách tạo ra những khác biệt về tâm lý, hành động, và đối xử.Vì họ không hiểu nhau, có những không giống nhau về chính kiến, kinh nghiệm và bản chất.
Thực ra, chuyện này cũng chẳng có gì mới lạ. Nó đã hiện diện trong nếp sống con người từ lâu, nhưng rõ ràng hơn kể từ khi có những tiến bộ về khoa học, kỹ thuât.
Thái độ người già
Thuở xưa, khi nhu cầu đời sống được đáp ứng bằng sức lực và sự khôn ngoan của con người, thì người già, nói chung, được trọng nể vì kinh nghiệm của họ.
Với tuổi đời, họ tích lũy được những hiểu biết về canh tác, săn bắn, về cách sống, về sự đối phó với khắc nghiệt của thiên nhiên, về quan hệ xã hội cũng như về văn hóa, nghệ thuật. Các kinh nghiệm này rất cần thiết cho con cháu, mới vào đời, cho nên vai trò của họ được coi như kim chỉ nam cho giới trẻ trong việc mưu sinh, lập nghiệp.
Ngoài ra, họ cũng là người nắm giữ tài sản gia đình giòng họ, có quyền sắp đặt, phân phát cho nên sự nhờ vả, tôn trọng của giới trẻ đối với họ là điều dễ hiểu.
Trong xã hội, có những tôn-ti-trật-tự, kính-trên-nhường-dưới, nuôi già, dạy trẻ, kính già, già để tuổi cho. Cha mẹ nào cũng muốn con cái theo gương cha mẹ, để “chẳng giống lông cũng giống cánh” và để giữ sự kế tục, danh dự dòng họ. Mà nói đến kế tục thì nhiều cụ thấm nhuần Nho học đều muốn ‘hãy nối tiếp, làm theo và không được thay đổi” những gì tiền nhân để lại.
Thái độ giới trẻ
Bản chất giới trẻ cũng có một số điều cần lưu ý, như là:
-Có thể nông cạn về lẽ sống
-Nhẹ tình cảm gia đình, quê hương, cội nguồn dân tộc.
-Nhiều hoài bão, không thỏa mãn với cái đã có
Trước hết, phải thừa nhận là con cái bây giờ có nhiều điểm thuận lợi hơn cha mẹ già. Các con có kiến thức cao, suy luận thực tế, khoa học hơn, tính tình cởi mở, dám nghĩ dám làm việc khó, việc lớn
Các con khỏe mạnh hơn, nhiều nhiệt huyết hơn, có thể làm nhiều việc trong một thời gian định sẵn. Tầm nhìn của con cái thoáng rộng và thực tế hơn. Họ có nhiều dự tính cho tương lai và luôn luôn nghĩ tới sự tranh đua, phấn đấu.
Đối với cha mẹ, các con cũng có một cái nhìn hơi e ngại dè dặt, ít thổ lộ, ít tiếp xúc. Lý do là văn hóa giáo dục khác biệt. Một bên nghiêm khắc, kín đáo, một bên ồn ào cởi mở. Một bên dùng những ngôn từ thời đại mà phía kia, mù tịt, chẳng hiểu ất giáp gì. Nào là “phần mềm, ổ cứng”…
Nhìn chung
Nói ra thì nhiều, nhưng đi vào thực tế, phải công nhận là có một khoảng cách dài ngắn, những khác biệt nào đó giữa các thế hệ khác nhau trong cộng đồng, giữa cha mẹ, con cái. Khác biệt về suy nghĩ, hành động, về quan niệm sống, về cách diễn tả tình cảm, tâm trạng.
Sông có khúc, người có lúc, thì mỗi lứa tuổi cũng có đặc điểm, cá tính của mỗi thế hệ, mỗi lớp tuổi.
(Trích Khoảng Cách Thế Hệ của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức)

Nói chung do khoảng cách thế hệ nên những người không cùng thế hệ thì khó có thể hiểu nhau dù cho có quan hệ huyết thống rất gần gũi. Điều quyết định khiến cho hai thế hệ không thể hiểu nhau là do tập quán của hai thế hệ khác nhau. Ảnh hưởng của tập quán là rất lớn, lớn tới mức nó quyết định tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống nhân sinh, từ quan điểm triết học, chính trị, vũ trụ quan, nhân sinh quan, cho tới cái ăn cái mặc, cách xử sự trong cuộc sống hàng ngày.
Nếu cha mẹ ông bà có những tập quán hay tư tưởng triết học, tôn giáo hay những niềm tin khó có thể lý giải, hoặc thuộc về một nền văn hóa ngôn ngữ khác thì con cái lại càng không thể hiểu. Trong bài viết này, tôi thử nêu một số sự kiện thực tế xảy ra ngay trong gia đình của mình. Cha tôi là người gốc Hoa sinh tại VN, nhưng lúc nhỏ có về TQ sống một thời gian, đến khoảng 15 tuổi mới trở lại VN. Năm 1949, khi Hoa lục thay đổi chế độ chính trị, đảng cộng sản nắm đươc chính quyền, thì giữa miền Nam VN và TQ không còn qua lại được nữa, cha tôi ở hẳn VN, cưới mẹ tôi. Mẹ tôi cũng là người lai, ông ngoại tôi là người Hoa nhưng bà ngoại tôi là người Việt thuần túy.
Cha tôi thường phải đi làm việc ở xa, ít sống gần gia đình, nên mối quan hệ với các con có phần hạn chế. Cha tôi là một thầy giáo dạy tiếng Hoa cho các trường trung tiểu học của người Hoa tại Cần Thơ và Cái Vồn (Bình Minh). Trong khi đó các con sống trong cộng đồng người Việt, chỉ học ở trường Việt và không biết tiếng Hoa. Ông cha tôi là người Triều Châu, nguyên quán tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, tỉnh Quảng Đông. Ngay cả cái nguyên quán này, các em tôi cũng không biết bởi vì chúng ít đi cúng thanh minh và không đọc được chữ Hán, những chi tiết này tôi đọc thấy trên bia mộ của ông nội tôi. Như vậy ngay cả gốc gác tổ tiên, các thế sau cũng đã không hiểu rồi. Thậm chí ông nội, bà nội tên gì, ông chú tên gì, nhiều đứa cũng không biết, ngay cả cha tên thật là gì chúng cũng không biết. Chúng chỉ biết tên trên giấy tờ, mà tên trên giấy là cái tên tùy tiện do cán bộ hành chính ghi bừa theo khai miệng. Cha tôi tên La Như Mậu 羅如茂 nhưng khi từ TQ qua VN, cha lúc đó còn là vị thành niên không có giấy tờ chính thức, khi khai báo nói tên La Như Mậu bằng tiếng phổ thông, bởi vì không biết âm Hán Việt nói thế nào, cán bộ nghe ba chớp ba nháng ghi đại là La Dũ bởi vì âm phổ thông của chữ Như nghe giống Dũ, từ đó thành tên luôn, chứ cha không hề trùng tên với Hàn Dũ. Dù là tên thật mà đời thường không sử dụng hoặc sử dụng dưới một hình thức khác thì người không tìm hiểu cũng không thể biết. Khi cha tôi qua đời bên Mỹ, thằng em út tôi làm giấy khai tử không biết tên ông nội, bà nội, nên những mục đó đều ghi không biết. Như vậy đủ thấy thế hệ sau ít hiểu biết các thế hệ trước đến mức nào. Nhưng cũng không thể trách em tôi, bởi vì khi nó ra đời thì ông nội bà nội qua đời đã lâu rồi. Bà nội mất có lẽ cùng năm với Tôn Trung Sơn (1925) lúc cha tôi mới hai, ba tuổi, còn ông nội mất năm 1961 trong khi em tôi ra đời năm 1966, chưa kịp gặp ông nội. Trên bia mộ ông nội có ghi tên bằng chữ Hán, Nghiêu Tú La công mộ 堯繡羅公墓, nó không thể đọc, vả lại đó là tên chữ, còn giấy tờ hành chính thì ghi La Xương, phức tạp như vậy làm sao nó biết được. Còn bia mộ bà nội thì chỉ ghi La mẫu Lưu thị mộ 羅母劉墓 bằng chữ Hán, nhiều phụ nữ thời xưa không có tên chính thức nên chỉ gọi bằng họ của cha.
Những đứa em trai áp út và út của tôi hoàn toàn không biết gì về thời kỳ cha chúng tôi đi dạy học bởi vì chúng chưa ra đời. Lúc đó tôi cũng còn rất nhỏ, mới ba bốn tuổi, mặc dù tôi lớn hơn các em trai cả chục hoặc mười mấy tuổi. Nhưng tôi còn nhớ có lần cha dẫn tôi đi các trường học cũ ở Cần Thơ, gặp hiệu trưởng và các giáo viên. Lúc đó tôi chỉ là đứa trẻ khờ, câm như hến vì không thể nói gì, cha nói chuyện với họ bằng tiếng Tiều, tôi cũng không hiểu mấy, chỉ lờ mờ hiểu rằng cha giới thiệu tôi là con cái.
Nhưng tôi tự nhiên có khuynh hướng thích học ngoại ngữ. Năm 1965 tôi bắt đầu vào Lycée (trung học) Phan Thanh Giản Cần Thơ. Được vào học trường đó không phải dễ, trong các lớp nhất (ngày nay là lớp năm) tiểu học, hầu như tất cả đều thi vào trường đó, nhưng thường một lớp 50 em chỉ có vài em đậu, cụ thể lớp của tôi, mặc dù cuối năm tôi chỉ đứng hạng tư, nhưng năm đó chỉ một mình tôi duy nhất đậu vào Phan Thanh Giản, hạng 49 trong tổng số 480 học sinh được tuyển vào đệ thất năm đó, chia làm 8 lớp trong đó 5 lớp Pháp văn từ P1 tới P5, 3 lớp Anh văn từ A1 tới A3. Tôi học lớp 7P1 tức học Pháp văn là sinh ngữ 1, thời đó người ta vẫn còn chuộng tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Anh, tôi chọn tiếng Pháp vì má tôi biết Pháp có thể kèm cặp thêm chút đỉnh. Đến lớp đệ nhị (nay là lớp 11) thì tên gọi của hệ thống lớp học bắt đầu có thay đổi, chuyển qua cách gọi như hiện nay, lúc đó tôi học lớp 11A2 và năm sau lên lớp 12A2. Chữ A trong tên lớp không có nghĩa là Anh văn như thời đệ nhất cấp (nay là phổ thông cơ sở) mà có nghĩa là Ban A lấy môn Sinh học làm chính, còn Ban B thì lấy môn Toán làm chính. Từ lúc lên đệ tam thì học sinh phải học thêm sinh ngữ thứ hai, tôi chọn Anh văn.
Một điều đáng phàn nàn là chương trình môn ngoại ngữ ở trường trung học không có tính chất thực dụng, nếu chỉ học nội chương trình của nhà trường thì không sử dụng được gì cả, giao tiếp không được mà đọc sách báo cũng không nổi vì không có đủ từ vựng. Tôi sớm nhận ra điều đó nên tự mua thêm sách, tự rèn luyện thêm. Trong suốt 7 năm trung học, chương trình Pháp văn chỉ dạy 4 quyển sách : Le français élémentaire quyển 1 và quyển 2. Và bộ sách Cours de Langue et de Civilisation françaises, thường gọi tắt là Mauger vì do tác giả Gaston Mauger soạn. Bộ sách này có 4 quyển trong khi chương trình trung học từ lớp đệ tứ bắt đầu dạy bộ sách này và chỉ dạy quyển 1 và quyển 2. Trong suốt 3 năm phổ thông trung học, người ta chỉ dạy độc nhất quyển 2. Tôi rất thất vọng với chương trình quá hạn chế như vậy, nên muốn tìm học thêm, thời may chị tôi đã có mua sẵn quyển 3 và có mua sẵn luôn sách dịch và dẫn giải, tôi chỉ cần mua thêm quyển 4 và sách dịch của quyển 4. Tôi đã tự học một cách nghiêm túc trọn cả bộ sách. Tôi nhớ rõ ngày bắt đầu chương trình tự rèn luyện tiếng Pháp, đó là ngày 22-09-1969, lúc đó tôi học đệ tứ, tôi tự lên kế hoạch là kể từ ngày đó, mỗi ngày tôi đều bỏ ra ít nhất một tiếng đồng hồ để học Pháp văn và nghiêm túc thực hiện cho tới khi tốt nghiệp trung học vào tháng 5-1972. Trong khi chương trình của nhà trường dạy chưa hết quyển 2 thì tôi đã hoàn tất trọn bộ 4 quyển Mauger, làm đầy đủ tất cả các bài tập và đối chiếu với bài sửa mẫu trong quyển sách dịch để tự sửa lỗi. Vì vậy khi tốt nghiệp trung học, tôi đã có thể đọc được các sách và tiểu thuyết Pháp. Tôi đã đọc các quyển Grands Cœurs (Tâm hồn cao thượng) nguyên tác tiếng Ý Cuore của Edmondo De Amicis do Andrienne Piazzi dịch Pháp văn; Histoire D’Un Enfant (Thằng Nhóc) của nhà văn Pháp Alphonse Daudet; Pêcheur d’Islande (Ngư dân Islande) của nhà văn Pháp Pierre Loti.
Một điều đáng khích lệ là trong chương trình của các lớp đệ thất, đệ lục và đệ ngũ xưa (nay là lớp 6,7,8) có những môn phụ là Nhạc, Họa và Hán văn, mỗi tuần chỉ có một tiết. Những môn phụ này không có thi nên không mấy ai quan tâm. Thế nhưng những môn đó có tính gợi ý về văn hóa văn nghệ. Ví dụ môn nhạc, nó đem lại cảm hứng mà về sau khi lớn lên, nó có ảnh hưởng đáng kể trong đời sống. Hiện nay ca khúc mp3 và nhạc video trở nên rất phổ biến khi mà điện thoại di động trở nên thông dụng. Nhiều bạn trẻ ngày nay đều nghe nhạc mp3 và xem video ca nhạc trên điện thoại hoặc tablet. Tôi có thiết lập một số thư mục nhạc mp3 có gắn hình ca sĩ trên OneDrive và sử dụng Youtube là trang web về video lớn nhất trên thế giới để giới thiệu một số nhạc nước ngoài có chép ca từ để dễ theo dõi bài hát, và giới thiệu một số tác giả thơ văn Trung hoa mà xưa có một thời cha tôi dạy học trò ở các trường người Hoa.

Thư mục Nhạc Việt

Thư mục Nhạc Pháp

Thư mục Nhạc Hoa

Nhạc Anh Mỹ và Nước Ngoài Khác

( Xem thêm blog Sơn Hải Quan của Truyền Bình )

Riêng về môn phụ Hán văn lại càng có ảnh hưởng đến tôi lớn hơn nữa. Giai đoạn tôi học các môn phụ đó ở Lycée Phan Thanh Giản thì cha tôi đã về làm việc tại Cần Thơ. Chiều thứ bảy và ngày chủ nhật cha có ở nhà, đôi khi tôi đem mấy bài học Hán văn ra hỏi. Cha khen nhà trường dạy lục thư (6 cách cấu tạo chữ Hán) ngay năm đệ thất là hợp lý bởi vì đó là những kiến thức cơ bản về Hán ngữ. Nhưng từ lớp đệ tứ trở lên thì không còn học Hán văn nữa nên việc học chữ Hán của tôi cũng bị gián đoạn, sau này lên đại học tôi mới thiết lập chương trình tự học như nói ở phần sau.
Không may cho tôi, năm 1972 tôi định thi vào lớp đào tạo giáo viên Pháp văn của Đại học Sư phạm Cần Thơ, nhưng năm đó người ta không có mở lớp Pháp văn bởi vì tiếng Pháp không còn có nhu cầu trong xã hội. Một anh bạn cùng lớp với tôi tên Trần Văn Buôl thời đệ nhất cấp, đã sớm thức thời chuyển sang Anh văn và khi lên đệ nhị cấp, học Ban C (môn chính là Văn học) và đậu vào lớp Anh văn Đại học Sư phạm Cần Thơ năm đó. Còn tôi đành thi lớp Việt văn và bị rớt.
Năm 1972 là Mùa hè đỏ lửa, tình hình chiến tranh căng thẳng. Để tiếp tục được hoãn dịch, tôi phải lên Long Xuyên thi vào Đại học Hòa Hảo, đậu ngành Khoa Học Quản Trị. Trong thời gian 3 năm học tại Long Xuyên, tôi tập trung vào Anh ngữ, đồng thời cũng học thêm Hoa ngữ. Trong quá trình học ngoại ngữ, tôi hoàn toàn tự học.
Điểm này tôi giống cha. Cha tôi là người Tiều, chỉ học hết tiểu học trong thời gian ở TQ, học trường địa phương ở nhà quê nên cũng học bằng tiếng Tiều. Khi trở lại VN, cha muốn trở thành giáo viên nên phải tự học tiếng phổ thông bởi vì các trường của người Hoa ở các thành phố cũng dạy tiếng phổ thông TQ. Để luyện tiếng phổ thông, trong thời gian trai trẻ ở Chợ Lớn Sài Gòn, cha đi xem phim nói tiếng phổ thông rất nhiều để luyên nghe và nói. Và có một thời gian ở Campuchia, cha thi lấy bằng cấp Hán ngữ để đủ điều kiện dạy Hoa ngữ tại các trường trung tiểu học.
Trong thời gian trung học đệ nhị cấp (phổ thông trung học) tôi đã chọn Anh văn làm sinh ngữ 2. Thời đó nhà trường dạy bộ sách English For Today. Bộ này có 6 quyển. Trong 3 năm từ lớp 10 tới lớp 12 chỉ học 3 quyển, tức là mỗi năm học một quyển. Trong thời gian 3 năm đại học ở Long Xuyên, tôi tự học bộ English For Today từ quyển 4 tới hết quyển 6.
Cũng trong thời gian này tôi tự học Hán văn. Bắt đầu là quyển sách Hán Văn của Trần Trọng San soạn. Kế đó là học Hán văn qua Thơ Đường, tôi học hết hai quyển Thơ Đường I và II cũng của Trần Trọng San. Ngoài ra tôi tự học thêm âm Quan thoại (Mandarin còn gọi là Quốc ngữ 国语) qua sách dạy Hán ngữ của Văn Khoa Đại học Hòa Hảo Long Xuyên.
Đến 30-04-1975 một biến cố lớn xảy ra tại Miền Nam VN, đất nước thống nhất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Cả 3 ngoại ngữ mà tôi đã cố công học đều trở nên vô dụng, ngoại ngữ trở thành xa xỉ trong tình hình cơm áo gạo tiền trở nên rất khó khăn. Tôi lên SG, bấy giờ đã đổi tên thành TP Hồ Chí Minh, để tiếp tục học đại học trong khi tại Long Xuyên tôi đã học gần xong năm thứ ba. Tôi học tại trường đại học Luật bấy giờ đã đổi tên thành Đại học Kinh Tế. Hàng tháng được mua gạo tiêu chuẩn, có khi không đủ gạo phải kèm bo bo. Tôi học ở đó hơn một năm và ra trường với mảnh bằng cao đẳng và được cho về quê làm việc tại Ủy Ban Kế Hoạch tỉnh Hậu Giang (tỉnh Hậu Giang cũ bao gồm cả TP Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang mới ngày nay). Năm 1979 tình hình lương thực khó khăn đến nỗi chúng tôi là cán bộ của tỉnh nhưng được đưa về vùng nông thôn sâu để huy động lương thực.
Việc học ngoại ngữ dừng lại một thời gian khá lâu vì hoàn cảnh. Đến 1989, bấy giờ tôi đã rời khỏi Ủy Ban Kế Hoạch tỉnh Hậu Giang lên Thủ Đức làm việc cho một công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ. VN đã bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 và có hiệu quả, kinh tế dần ổn định. Tình hình kinh tế gia đình ổn định, nên năm 1989, tôi học lại tiếng Hoa và cũng bắt đầu tự học tiếng Nga. Một điều khá hi hữu là cha tôi từ năm 1976 có mua cho tôi một quyển sách dạy tiếng Nga dùng tiếng Anh làm chuyển ngữ, lúc đó ông đã xuất gia đi tu ở TP HCM, tình cờ vào tiệm sách thấy quyển sách dạy tiếng Nga nên mua và gởi về cho tôi. Trong thời gian học ở Đại học Kinh Tế từ 1976-1977, tôi cũng có mua một quyển sách dạy tiếng Nga dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Những quyển sách này tôi cũng có nghiên cứu sơ bộ nhưng chưa học kỹ. Đến 1989 tôi lôi ra học kỹ lại. Nhưng việc học tiếng Nga cũng không có tương lai vì đến 1991 thì Liên Xô sụp đổ, tiếng Nga trở nên vô dụng. Nên sau đó tôi chỉ còn học tiếng Hoa.
Tôi đẩy mạnh việc học tiếng phổ thông TQ bằng cách mua những băng cassette nhạc Hoa bằng quốc ngữ và chịu khó chép lời ca từ nhãn của hộp cassette, ca từ của từng bài hát được in bằng co chữ rất nhỏ, một cuộn băng C60 có khoảng 12 bài hát, toàn bộ ca từ của 12 bài hát đều được in trong tấm nhãn to bằng bàn tay, phải dùng kính lúp để soi mới thấy rõ chữ, tôi chép toàn bộ ca từ vào một quyển vở để dễ theo dõi và nghe ca sĩ hát, đối chiếu với ca từ. Tôi đã chép tất cả được hơn 600 bài hát như vậy. Đây là một ví dụ :

Nhan Cassette 1

Băng cassette Tình Ca Luyến Khúc do ca sĩ Lâm Thục Quyên trình bày

Nhan Cassette 2

Mặt sau của nhãn chép đủ ca từ của mười mấy bài hát
Một điều khác cũng rất hi hữu là trước khi xuất gia, cha cho tôi quyển Cổ Kim Tổng Hợp Văn Tuyển. Quyển sách này chứa đựng nội dung của những gì ông đã giảng dạy tại các trường trung học của người Hoa, không phải toàn bộ nhưng chắc chắn có một số bài trích trong này hoặc trong những quyển sách có nội dung tương tự.
Lúc cha cho tôi quyển sách này thì tôi chỉ biết chữ Hán chưa đầy lá mít, hoàn toàn không thể đọc được, cũng không hiểu cha cho quyển sách với ý gì. Nhưng cha cho thì nhận rồi để đó. Phải 30 năm sau tôi mới có khả năng đọc được quyển sách này. Như thế có thể thấy, muốn hiểu được cha mình một cách tương đối rõ, tôi đã phải nỗ lực vượt bậc.

Co-kim-tong-hop-van-tuyen

Quyển sách Cổ Kim Tổng Hợp Văn Tuyển xuất bản tại Hong Kong
Tôi nói rất chi tiết về việc học ngoại ngữ của mình không phải để khoe khoang bởi vì cũng chẳng có thành tựu gì đáng kể để mà khoe khoang, chỉ là tốn nhiều công sức, cuối cùng vô dụng, không giúp được gì nhiều trong kế sinh nhai. Tuy vậy vốn ngoại ngữ đó phát huy được tác dụng rất lớn trong thời kỳ internet phát triển hiện nay, bởi vì nó cho phép tôi nghiên cứu nhiều vấn đề về khoa học và Phật pháp rất hữu ích với hai ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới là tiếng Anh và tiếng Hoa.
Tôi trình bày rất dài dòng như thế để đi đến kết luận rằng, để các thế hệ có thể hiểu nhau cần phải có điều kiện, phải chủ động tìm hiểu. Ngôn ngữ là một trong các điều kiện then chốt. Tôi không thể nào hiểu rõ cha nếu không biết chữ Hán. Bởi vì Hán ngữ là một phần rất quan trọng trong cuộc đời của cha. Trước kia cha là một Đông y sĩ tự học là chính. Cha đã ghi chép quá trình tự học về Trung y mà nay còn giữ lại rất ít, tuy nhiên cũng phản ánh cách cha tự học, đây là bút tích :

ThubutHan

Thủ bút ghi chép bài học về Đông Y của sư phụ

Ghi lại bằng chữ in cho dễ đọc và phiên âm dịch nghĩa như sau :
神農本草經 上 品 Thần Nông bản thảo kinh Thượng phẩm (Sách kinh điển về các dược thảo cơ bản tích lũy từ đời vua Thần Nông Quyển thượng)
人参,氣味甘微寒。無毒。主補五藏,安精神,定魂魄,止驚悸,除邪氣,明目,開心,益智,Nhân sâm, khí vị cam, vi hàn. Vô độc. Chủ bổ ngũ tạng, an tinh thần, chỉ kinh quý, trừ tà khí, khai tâm, ích trí (Nhân sâm mùi vị ngọt, hơi hàn. Không độc. Chủ yếu bồi bổ ngũ tạng, làm an tinh thần, hồn phách yên ổn, làm dừng sự kinh động, trừ khí độc, làm sáng mắt, tâm cởi mở, thêm trí tuệ).
久服輕身延年 Cửu phục khinh thân diên niên (Dùng lâu khiến thân thể nhẹ nhàng, tuổi thọ kéo dài).
Gia đình của cha chỉ biết được về công trình dịch kinh điển từ chữ Hán sang chữ Việt, bởi vì khi in xong quyển nào cha cũng có gởi cho gia đình để xem. Ngoài ra những thuyết giảng về Phật pháp của cha được ghi lại trong băng cassette, sau này được chuyển thành mp3 và chép trong các đĩa CD, gia đình có thể nghe.
Thế nhưng những nội dung văn học mà cha dạy cho học sinh trong thời kỳ làm giáo viên dạy tiếng Hoa và dạy văn học quốc ngữ Trung Hoa, thì gia đình hoàn toàn không biết do hạn chế về ngôn ngữ và phần đó cha không chú ý nhiều và không có dịch ra tiếng Việt và ít có cơ hội trao đổi với gia đình. Khi tôi nghiên cứu về văn học TQ thì hiểu thêm về cha khá nhiều.
Năm 1975, trong một lần hiếm hoi trở về thăm nhà, thấy tôi đang tích cực học chữ Hán, trong nội dung sách dạy có đề cập tới những bài Thơ Đường rất nổi tiếng, nhưng không có chép nguyên bài thơ, cha đã chép lại vài bài thơ ngắn như Hoàng Hạc Lâu 黃鶴樓, của Thôi Hiệu, Phong Kiều Dạ Bạc 風橋夜泊 của Trương Kế, còn những bài văn dài như Tế Thập Nhị Lang Văn 祭十二郎文của Hàn Dũ 韓愈 (Văn tế Lão Thành là cháu của Hàn Dũ gọi ông bằng chú nhưng chỉ nhỏ hơn ông 2 tuổi) thì cha chỉ nói cảm tưởng, rằng bài đó rất cảm động. Bài Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ 春江花月夜 của Trương Nhược Hư thì cha nói bài này tả cảnh tả tình rất hay. Tôi biết Hàn Dũ còn có một bài văn tế rất cảm động nữa, mà bài này có lẽ cha cũng chưa từng đọc vì nó không có mặt trong bất cứ quyển văn tuyển nào vì ngắn, khó hiểu và không nổi tiếng. Mãi sau này, khi đã có internet, người ta mới có thể tìm thấy bài này trong bộ Toàn Đường Thi, nhưng cũng không mấy người đọc tới. Đó là bài Tế Trịnh Phu Nhân Văn 祭鄭夫人文 của Hàn Dũ. Trịnh Phu Nhân là chị dâu của ông, vợ của người anh cả Hàn Hội, mà ông coi bà như mẹ.

31. Tế Trịnh Phu Nhân Văn – Hàn Dũ – Việt dịch

Về mặt tư tưởng nhân sinh, tông giáo, thì cha đã trình bày rất nhiều trong các kinh sách và hàng ngàn câu giải đáp thắc mắc. Tôi xin trình bày tóm tắt như sau :
Tư tưởng Phật học phổ thông như ngũ giới, thập thiện, khuyên làm thiện đừng làm ác, làm lành lánh dữ, tu hành tinh tấn, giới hạnh trang nghiêm. Tư tưởng này tương ứng với nhận thức bình thường của thế gian và tương ứng với cơ học cổ điển của Newton bên khoa học. Trong cuộc sống đời thường của tu sĩ và cư sĩ thì sống theo tư tưởng này, nhưng đó chưa phải là Thiền, chưa phải tối thượng thừa.
Cha có khuynh hướng về Tổ Sư Thiền. Thiền không nghĩ thiện không nghĩ ác, tìm cách phát khởi nghi tình bằng phương pháp tham thoại đầu. Thoại đầu là không có vọng tưởng, bất cứ thiện, ác, tốt, xấu, đúng sai, cũng đều là vọng tưởng. Vậy thoại đầu tương ứng với cái gì bên khoa học ? Toàn bộ vật lý cổ điển từ Newton cho tới Einstein cũng như phần lớn các khoa học đều là vọng tưởng, nên không có cái gì tương ứng với thoại đầu. Chỉ có vật lý lượng tử mới may ra có chút tương ứng. Vậy trong vật lý lượng tử cái gì không phải vọng tưởng ? Cái không phải vọng tưởng là sóng tiềm năng phi vật chất còn gọi là miền tần số (frequency domain) hay trường thống nhất (unified field). Bởi vì nó vô hình, vô thể, vô sinh nên không thể chứng minh cái tiềm năng này tồn tại cũng không thể bác bỏ nó, vì vũ trụ vạn vật hiện hữu trước mắt chúng ta mặc dù là ảo nhưng có liên quan tới nó, bằng chứng là các phương trình toán học rất phù hợp với nó và cảnh hiện ra rất hiện thực, rất thật, khiến ai cũng chấp là thật,. Long Thọ gọi nó là “tâm như hư không vô sở hữu” tâm giống như hư không không có thật. Phật giáo gọi nó là Phật tánh, tánh không, như lai, chánh biến tri, nói chung là rất nhiều tên gọi. Duy thức học Phật giáo gọi nó là Alaya thức. Các tôn giáo khác gọi nó là Chúa, Thượng đế, Trời, Đạo…Người tu hành kiến tánh là tiếp xúc trực tiếp được với nó và điều khiển được nó, hiển thị thần thông. Do đó vận dụng được sức mạnh vô biên của nó, vận dụng được các thần thông như đi xuyên qua tường, lấy được vật thể ở xa, sinh tử tự do, đã được giới thiệu nhiều trên Duy Lực Thiền.
Vật lý lượng tử dùng thực nghiệm và toán học để chứng minh một khả năng mà kinh điển Phật giáo đã nói từ lâu : các pháp không có tự tính. Kinh Pháp Hoa nói : 因為諸法無性,隨緣而成。諸法緣起,故其性空 (nhân vi chư pháp vô tính, tùy duyên nhi thành, chư pháp duyên khởi, cố kỳ tính không, nghĩa là : bởi vì các pháp không có tự tính, tùy duyên mà thành, các pháp do duyên khởi nên tính của nó là không _tức là không có tự tính).
Khoa học thế kỷ 20 đã diễn ra cuộc tranh luận rất lớn, rất cơ bản giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein về vấn đề vật (cụ thể là hạt photon) có tự tính hay không. Quan điểm của Niels Bohr giống như Phật pháp, nói rằng hạt photon không có sẵn tự tính, nghĩa là không có sẵn những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Chỉ khi nào người khảo sát đo đạc thì những đặc trưng đó mới xuất hiện. Trái lại, Einstein cho rằng hạt photon lúc nào cũng có sẵn tự tính, nghĩa là có sẵn những đặc trưng nêu trên. Lúc hai ông còn sống, nhân loại chưa giải quyết được vấn đề này, nghĩa là không xác định được ai đúng ai sai. Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962, vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Năm 1964, John Bell, một nhà khoa học Ái Nhĩ Lan, đề xuất một phương án có thể giải quyết vấn đề bằng một thí nghiệm và dùng bất đẳng thức do ông sáng tạo (sau này gọi là bất đẳng thức Bell) để xác minh. Nhưng lúc đó điều kiện thí nghiệm chưa có. Năm 1967, một người Mỹ tên là John Clauser, vốn ủng hộ lập trường của Einstein, quyết tâm phân rõ trắng đen, nên đã dốc sức chế tạo một bộ máy có thể làm cho một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau để tạo ra hiện tượng gọi là liên kết lượng tử (quantum entanglement), đó chính là điều kiện cần thiết để tiến hành thí nghiệm. Năm 1982, tại Paris, Alain Aspect sử dụng cổ máy của John Clauser làm cuộc thí nghiệm lớn, áp dụng bất đẳng thức Bell và xác định được đúng sai. Những người thâm hiểu Phật pháp ắt có thể đoán trước kết quả, bởi vì Đức Phật là bậc giác ngộ, Phật đã nói trong kinh điển rành rành hàng ngàn năm trước rằng các pháp không có tự tính. Vậy các nhà khoa học khi tính toán chính xác thì ắt phải ra kết quả là Bohr đúng, Einstein sai. John Clauser dù ban đầu ủng hộ lập trường của Einstein, ông ta muốn chứng minh Einstein đúng, cũng như tất cả chúng ta dựa vào kinh nghiệm thực tế của mình, đều nghĩ rằng Einstein có lý, nhưng kết quả thì trái lại. Xin mời xem video diễn tả cuộc tranh luận thế kỷ này:

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Từ cuộc thí nghiệm này, người ta rút ra được hai kết luận hết sức quan trọng về vũ trụ luận :
Một là vật không hiện thực (non realism) tức vật chỉ là ảo mà thôi.
Hai là vật không có vị trí nhất định (non locality) đều này cũng có nghĩa là vị trí của vật trong không gian chỉ là ảo mà thôi, hay nói cách khác, khoảng cách không gian không có thật. Suy ra thời gian cũng không có thật.
Năm 2012, Maria Chekhova của Đại học Moscow làm được thí nghiệm liên kết lượng tử, cho một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Từ đó có thể rút ra kết luận quan trọng thứ ba :
Ba là vật không có số lượng nhất định, số lượng chỉ là ảo mà thôi.
Tóm lại ba đại lượng cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật là không gian, thời gian và số lượng đều không có thật. Cha đã thâm cứu kinh điển, đã nhận thức điều đó.
Những kết luận này là vô cùng khó hiểu đối với tất cả mọi người, giống như John Clauser thú nhận trong video trên là ông không thể hiểu được. Einstein cũng không thể hiểu. Ông nói : “Chẳng lẽ nếu không có ai nhìn thì Mặt trăng không tồn tại hay sao ?”
Nhưng sư phụ đã thâm cứu Phật pháp và tin những điều kinh điển Phật pháp nói và khoa học cũng đã chứng minh một cách rõ ràng. Ông nói rất rõ ràng như sau :

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay

Kết luận
Tóm lại thông thường hai người khác thế hệ, tuy cùng một gia đình cũng rất khó hiểu nhau, nhất là khi có sự biến đổi về hoàn cảnh cuộc sống khiến cho ngôn ngữ cũng trở nên khác nhau, chẳng hạn cha tôi suy nghĩ và nói bằng Hoa ngữ trong khi các con của ông suy nghĩ và nói bằng Việt ngữ nên khó có thể thông hiểu nhau đầy đủ. Tuy nhiên nếu tôi chịu khó học ngôn ngữ của ông cha, chịu khó tìm hiểu một chút thì hoàn toàn có thể hiểu được cả những điều sâu kín nhất trong lĩnh vực tư tưởng và tình cảm của những người thuộc các thế hệ trước.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
This entry was posted in Nhà sau. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s