VẤN ĐỀ HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NAN GIẢI CỦA NHÂN LOẠI, GIẢI QUYẾT CÁCH NÀO ?

Hiệp định COP 21 Paris 2015 là một hứa hẹn không vững chắc

Hiệp định chống biến đổi khí hậu tại Hội nghị COP 21 Paris với 195 nước tham gia đàm phán từ ngày 30-11 đến 12-12-2015, đã được chấp thuận ngày 12/12/2015 trong niềm phấn khởi và được ca ngợi là lịch sử. Hiệp định Paris về khí hậu này sẽ thay thế cho Nghị định thư Kyoto ký năm 1997 đã hết hạn. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tất các các chính phủ hợp tác với nhau bảo vệ môi trường và tương lai trái đất với một mục tiêu cao vọng, có ít nhất 3 điểm quan trọng được thông qua :

Thứ nhất là vào lúc mọi người lo ngại không đạt được chuẩn mực giới hạn giữ cho nhiệt độ Trái đất không tăng quá 2°C thì mục tiêu cao vọng hơn là 1,5°C đã được ghi vào thỏa thuận.

Điểm thứ hai là từ nay « toàn thế giới » cùng nhau hợp tác, chia sẻ trách nhiệm chung. Những nước giàu phải tài trợ 100 tỷ đô la hàng năm cho các nước đang phát triển để đối phó với hệ quả của biến đổi khí hậu và chuyển đổi sử dụng năng lượng sạch thay cho năng lượng cũ như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên, gây nhiều chất thải làm tăng nhiệt độ địa cầu. Ngân sách này sẽ được xem xét lại vào năm 2025.

Điểm thành công thứ ba là lần đầu tiên cuộc tranh đấu dài hơi của các tổ chức phi chính phủ, của phong trào xã hội công dân đã kích động giới chính trị phải có hành động, không thể viện lý do lợi ích kinh tế trước mắt để hy sinh tương lai của các thế hệ mai sau.

Nhưng…

Theo nhóm chuyên gia Liên Hiệp Quốc GIEC, để duy trì nhiệt độ khí quyển tăng không quá 2°C từ nay cho đến cuối thế kỷ thì lượng khí thải CO2 từ nay đến năm 2030 không được quá 40 tỉ tấn/năm (khí thải CO2 năm 2015 là 36 tỉ tấn). Thế nhưng, các cam kết của các nước cộng lại chỉ không thể xuống dưới 55 tỉ tấn/năm mà thôi. Do vậy theo hiệp hội môi trường Pháp Fondation Nicolas Hulot, nếu các nước ký kết hiệp định không xem xét lại mục tiêu cam kết tại Le Bourget vào năm năm tới đây, thì mục tiêu tăng không quá 1,5°C sẽ không bao giờ đạt được.

Người ta vui mừng vì đạt được thỏa thuận nhưng mục tiêu thỏa thuận có đạt được hay không là chuyện khác, đó vẫn còn là một vấn đề rất khó giải quyết.

Tư duy mới để giải quyết vấn đề khí hậu và ô nhiễm môi trường cùng mọi vấn đề quan trọng nhất của loài người

Nhưng tôi cho rằng không phải là vô phương giải quyết, vấn đề có thể được giải quyết với một tư duy hoàn toàn mới. Tôi nói tư duy hoàn toàn mới là không có ngoa đâu, bởi vì đây sẽ là một bước ngoặt lớn nhất từ xưa đến nay.

Chúng ta biết rằng nền sản xuất vật chất của nhân loại đã đi từ sản xuất thủ công qui mô nhỏ sang sản xuất công nghiệp hóa qui mô lớn. Công nghiệp hóa đã đem lại sự thay đổi long trời lở đất đối với đời sống của nhân loại, đáp ứng tới mức dư thừa sản phẩm vật chất cho toàn cầu từ lương thực thực phẩm cho tới hàng công nghệ. Chẳng hạn hiện nay điện thoại di động đã trở nên quá phổ biến đến mức dư thừa, mỗi người có tới hai ba cái điện thoại di động cùng lúc, và mỗi năm phải thay mới để theo kịp xu hướng công nghệ. Nếu điện thoại smartphone thế hệ đầu, con chip chỉ có một nhân (lõi), tốc độ chỉ có trên dưới một trăm MHz, ví dụ con Nokia 7650 ra đời năm 2002, tốc độ 104MHz, bộ nhớ RAM 4MB, bộ nhớ trong 16MB. Còn hiện nay năm 2015, một chiếc điện thoại rẻ tiền như chiếc Lenovo A7000Plus, con chip 8 nhân x 1.7GHz, RAM 2GB, bộ nhớ trong 16GB, màn hình 5.5 inches. Như vậy một chiếc điện thoại hiện nay mạnh hơn từ vài trăm lần cho tới cả ngàn lần chiếc điện thoại đời đầu.

Công nghiệp hóa cải thiện rất đáng kể đời sống của nhân loại, số người nghèo đói trên thế giới đã giảm xuống đáng kể. Một nước đông dân và lạc hậu như Trung Quốc năm 1978 có 250 triệu người nghèo đói. Đến năm 2010, chỉ còn 26 triệu người nghèo, không còn người đói.

Năm 1990, Việt Nam có 32 triệu người nghèo đói, đến 2012 chỉ còn 8 triệu người nghèo.

Nhưng công nghiệp hóa gây ra ô nhiễm môi trường rất lớn và cũng là tác nhân chính gây hiệu ứng nhà kính làm cho bầu khí quyển toàn cầu nóng lên, băng sơn ở hai cực địa cầu tan chảy đe dọa làm ngập chìm nhiều vùng lãnh thổ ven biển. Công nghiệp hóa chính là tác nhân của ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính bởi vì nó tạo ra quá nhiều chất thải độc hại đối với môi trường và làm nóng bầu khí quyển. Vậy muốn giảm bớt đáng kể chất thải, giảm bớt những chất khí độc hại bốc lên cuồn cuộn từ ống khói của vô số nhà máy, nhân loại phải tìm ra một phương thức sản xuất khác thay cho công nghiệp hóa.

Vấn đề thay thế công nghiệp hóa bằng một phương thức sản xuất khác tốt lành hơn có khả thi hay không ? Đây chính là điểm mấu chốt đòi hỏi nhân loại phải có tư duy hoàn toàn mới. Tư duy mới này đã manh nha từ khi cơ học lượng tử đưa ra những nhận thức đầu tiên.

Cơ sở cho một phương pháp sản xuất mới

Năm 1900, Max Planck đưa ra ý tưởng là năng lượng phát xạ một cách gián đoạn theo từng lượng tử (quantum) chứ không phải liên tục, đó là sự phát sinh ý tưởng và danh xưng lượng tử. Năm 1905, Einstein giải thích hiệu ứng quang điện dựa trên ý tưởng lượng tử của Plank nhưng ông cho rằng năng lượng không chỉ phát xạ mà còn hấp thụ theo những lượng tử mà ông gọi là quang tử. Năm 1913, Bohr giải thích quang phổ vạch của nguyên tử hydrogen cũng bằng giả thuyết lượng tử và đề xuất mô hình nguyên tử gồm có hạt nhân mang điện tích dương và đám mây electron mang điện tích âm xoay quanh hạt nhân theo quỹ đạo tròn. Năm 1924 Louis de Broglie đưa ra lý thuyết của ông về vật chất có hai tính chất đối lập nhau là sóng và hạt. Chẳng hạn photon và electron đều có lưỡng tính sóng hạt.

Về sau các nhà vật lý lượng tử nghiên cứu sâu xa hơn về lưỡng tính sóng hạt và có những phát hiện mới rất quan trọng. Năm 1927, Werner Heisenberg đưa ra nguyên lý bất định (uncertainty principle) nói rằng không thể xác định đồng thời vị trí và động lượng của các hạt hạ nguyên tử, ví dụ hạt electron. Sau đó người ta phát hiện ra một hiện tượng lạ lùng gọi là liên kết lượng tử (quantum entanglement), đó là việc một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hay nhiều vị trí khác nhau, và các vị trí đó đều liên kết vướng víu với nhau không tùy thuộc vào khoảng cách không gian, nếu tác động vào một vị trí thì các vị trí còn lại đều bị tác động tương ứng mà người ta có thể đoán trước kết quả bất kể khoảng cách bao xa. Hiện tượng này là đầu mối của một cuộc tranh luận lớn nhất về khoa học trong thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein. Bohr nói rằng các đặc trưng của hạt photon như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, đều không có sẵn, chúng bất định (uncertainty), chỉ khi nào có người quan sát và đo đạc thì chúng mới xuất hiện. Einstein thì cho rằng các đặc trưng đó lúc nào cũng có sẵn, chúng xác định, độc lập, khách quan đối với người quan sát đo đạc. Cuộc tranh luận vẫn chưa ngã ngũ cho đến khi cả hai ông đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962). Đến năm 1982 thì Alain Aspect đã tiến hành một cuộc thí nghiệm quan trọng tại Paris, kết hợp thực tế thí nghiệm với phương pháp kiểm chứng bằng toán học là bất đẳng thức của John Bell, cuối cùng xác định một cách dứt khoát một lần cho tất cả, thực tế xác nhận Bohr đúng, Einstein sai. Lập trường của Bohr cũng chính là điều trong kinh điển Phật giáo đã nói từ lâu rằng các pháp không có tự tính. Tính chất của các pháp là do chúng sinh hay con người gán ghép cho các pháp. Ví dụ ngôn ngữ vốn không có ý nghĩa gì cả, mọi ý nghĩa đều là do con người gán ghép cho từ ngữ. Vũ trụ, thiên hà, ngôi sao, mặt trăng, con người, nhà cửa, cây cối, xe cộ, vật dụng…cũng đều như vậy nghĩa là không có tự tính, mọi đặc tính đều do tâm (Alaya thức) tạo ra.

Những nghiên cứu về sau với những điều kiện thí nghiệm chuẩn xác, chặt chẽ hơn, tiến hành trong thế kỷ 21, càng khẳng định tính đúng đắn của cơ học lượng tử. Ví dụ thí nghiệm của Nicolas Gisin và đồng sự tại đại học Geneva, Thụy Sĩ về liên kết lượng tử, tiến hành năm 2008. Thí nghiệm của Maria Chekhova tiến hành năm 2012 về việc làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời tại 100.000 vị trí khác nhau và tất cả đều liên kết. Herman Batelaan thuộc trường Đại học Nebraska-Lincoln, cùng với các đồng nghiệp ở đó và tại Viện Vật lý Lý thuyết Perimeter ở Waterloo, Canada, cũng báo cáo cho biết họ vừa tạo ra một thí nghiệm hai khe tuân theo phương pháp luận chính xác của thí nghiệm tưởng tượng Feynman. Công trình được công bố đầu năm 2014. Thí nghiệm về bắn từng hạt electron qua hai khe hở theo điều kiện thí nghiệm thật chuẩn mà Richard Feynman từng nêu ra, đều xác nhận electron có thể là sóng mà cũng có thể là hạt, khi bị quan sát thì nó là hạt, còn khi không có ai quan sát thì nó là sóng.

Sóng là dạng tiềm năng phi vật chất, phi hiện thực, bất định xứ, phi số lượng. Còn hạt là dạng vật chất hiện hữu, có vị trí nhất định, có số lượng, do tâm (8 thức) tạo ra. Hai dạng sóng và hạt đồng thời hiện hữu tạo ra cuộc sống huyễn ảo của thế gian. Vấn đề này khoa học ngày nay đã hiểu rõ. Vật chất chỉ là ảo, chỉ là cảm giác, là tưởng tượng có điều kiện. Cơ chế giải thích sự ảo hóa này là Trường thống nhất (unified field) và Vũ trụ toàn ảnh (holographic universe). Thực nghiệm sau đây chứng tỏ vật chất không cứng chắc như chúng ta quen cảm nhận, tâm có thể tác động đến vật chất một cách trực tiếp là sự thể hiện mở rộng của thí nghiệm về hai khe hở mà Herman Batelaan đã thực hiện đúng theo điều kiện chuẩn của Richard Feynman nêu ra.

Đông Phương Kỳ Nhân Lý Liên Duyên- Việt dịch

Trường thống nhất là một miền tần số (frequency domain) là sóng tiềm năng phi vật chất, vô hình vô thể, không thể chứng minh sự tồn tại của nó nhưng tác dụng của nó thì rất rõ ràng. Giống như Phật giáo nói “Tâm như hư không vô sở hữu” (tâm giống như hư không không có thật) nhưng cuộc sống đời thường của chúng ta là dựa vào tâm này, nó là chánh biến tri (cái biết khắp không gian và thời gian) xuất hiện dưới dạng thân thể vật chất, nhà cửa, xe cộ… thì rất rõ ràng, rất cụ thể, không thể phủ nhận. Người tu hành giác ngộ là tự mình chứng thực cái tâm này. Giống như Thiên chúa giáo nói có một Đấng sáng tạo là Chúa Trời tạo ra vũ trụ vạn vật. Không ai chứng minh được sự hiện hữu của Chúa Trời nhưng cảnh tượng thế gian là rõ ràng, vạn vật, con người là kỳ diệu.

Vũ trụ toàn ảnh là hình ảnh ảo 3 chiều của vũ trụ vạn vật được phóng hiện ra từ một nguồn thông tin chứa trong mặt phẳng hai chiều. Ngay từ thời cổ đại đã có những bộ óc siêu việt, cả ở phương tây và phương đông, nhận ra cái toàn ảnh (hologram) này, nhưng đa số người đời không thể hiểu họ, cho rằng họ ngụy biện. Ví dụ Zenon của Hy Lạp cổ đại, nói rằng bắn một mũi tên, mũi tên thực tế là không có di chuyển nên không bao giờ đến đích. Việc bắn tên chỉ là một thực tế ảo. Trong thế kỷ 20 có một nhà đặc dị công năng là Hầu Hi Quý, ông ta đã chứng tỏ lý luận của Zenon không sai. Năm 1979 tại Du Huyện tỉnh Hồ Nam, TQ, Hầu Hi Quý yêu cầu anh công an Lưu Tư Lý lấy khẩu súng mà nhà nước cấp cho anh ta, cứ nhắm vào ngực Hầu Hi Quý mà bắn thử xem viên đạn có đến đích hay không. Lưu Tư Lý không dám bắn nên Hầu Hi Quý đành phải lấy khẩu súng tự bắn vào đùi mình, mọi người đều nghe tiếng súng nổ chát chúa, nhưng viên đạn không hề đi, không đến đích nên Hầu Hi Quý cũng không hề bị thương.

Bên phương đông, Huệ Thi người đồng thời với Trang Tử (thời Chiến Quốc) có đưa ra những nhận thức rất quái dị không ai hiểu. Ví dụ ông nói無厚,不可積也,其大千里 vô hậu, bất khả tích dã, kỳ đại thiên lý (không có bề dày, không thể chồng chất lên, cái lớn của nó ngàn dặm). Câu này chính là nói về toàn ảnh. Toàn ảnh là thông tin nằm trong mặt phẳng hai chiều nên không có bề dày, giống như hạt cực vi trước vụ nổ Big Bang, thông tin không phải là vật chất nên không thể chồng chất, nhưng khi phóng hiện lên thành toàn ảnh thì nó thành vũ trụ bao la, chứ không phải chỉ là ngàn dặm.

Lý thuyết vũ trụ toàn ảnh nói rằng vũ trụ vạn vật chỉ là ảo ảnh trong không gian 3 chiều. Chúng ta biết chắc rằng những hình ảnh động trên video chỉ là ảo trong không gian 2 chiều. Thế nhưng những hình ảnh video đó khi phóng hiện trong không gian 3 chiều thì chúng ta không còn biết đó là ảo nữa mà tưởng là thật. Cái ảo tưởng này được lưu truyền lâu đời trở thành tập khí (thói quen) không thể buông bỏ bởi vì nó gắn liền với các giác quan, kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng 世流布chính tập khí này khiến cho người đời không thể giác ngộ. Nền tảng của vũ trụ là thông tin, là số (the universe is digital). Mà thông tin chính là Thức, là Chánh biến tri, là Tâm, là Chúa, là Trời.

Năm 2012 các nhà khoa học Anh và Đức làm việc trong dự án GEO600 đã phát hiện ra một loại tiếng ồn của vũ trụ mà họ không biết xuất phát từ đâu. Craig Hogan, Giám đốc Trung tâm Vật lý thiên văn các hạt cơ bản, Phòng thí nghiệm Gia tốc quốc gia Fermi , GS Đại học Chicago, Illinois, giải thích rằng đó là tiếng ồn toàn ảnh, là một hiện tượng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó là dấu hiệu thực nghiệm chứng tỏ vũ trụ có bản chất là số, nghĩa là vũ trụ có bản chất là thông tin, vật chất cũng là thông tin. Ông đề xuất bit thông tin của vũ trụ là thế này :

vutrulaso-1

Bit thông tin vũ trụ nằm trong mặt phẳng 2 chiều, khi phóng hiện thành vật thể trong không gian 3 chiều, kích thước tăng lên quá lớn nên có một độ nhòe nhất định, giống như khi ta phóng to quá mức một tấm ảnh, thì đường nét của tấm ảnh bị bể không còn mịn. Độ nhòe đó biểu hiện thành tiếng ồn toàn ảnh mà nhóm GEO600 đã phát hiện năm 2012.

Việc phát hiện ra bản chất là thông tin của vũ trụ vạn vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó là một sự xác nhận lý thuyết của Duy Thức Học Phật giáo là đúng đắn. Duy Thức Học đã được đại sư Huyền Trang玄奘 (602-664 CN), người đã từng du hành bằng đường bộ đến Ấn Độ trong 16 năm dưới thời Nhà Đường, tổng kết trong bộ kinh Thành Duy Thức Luận成唯識論

Sản xuất vật chất bằng tin học thay cho công nghiệp hóa

Đây là nền tảng của cuộc đại cách mạng tin học hóa mà nhân loại hiện đang tiến hành và chỉ mới bắt đầu. Đời sống và sản xuất của nhân loại sẽ tiến tới một bước ngoặt mới cực lớn, thay đổi toàn diện vô cùng sâu xa. Sự thay đổi đó sẽ như thế nào ?

Trước hết về phương diện thông tin liên lạc, hiện nay đã có mạng internet toàn cầu, rất nhiều hoạt động của con người, nay đã có thể tiến hành trên mạng. Ví dụ gặp nhau nói chuyện trên mạng Skype, có thể hội thoại và nhìn thấy nhau không tùy thuộc vào khoảng cách không gian, trên mạng internet thì khái niệm về khoảng cách không gian không còn ý nghĩa, không gian đã bị triệt tiêu. Chúng ta có thể ngồi nhà tại VN nói chuyện thoải mái với thân nhân bạn bè bên Mỹ mà không sợ tốn tiền, nói chuyện trong bao lâu tùy thích không có gì trở ngại.

Những tri thức trên mạng là tài sản chung của nhân loại, ai cũng có thể dễ dàng và thuận tiện sử dụng. Tìm kiếm thông tin ngày nay là hết sức dễ dàng, số lượng thông tin rất lớn và rất chi tiết. Thông tin có thể thể hiện bằng văn bản (text) bằng âm thanh (audio) hoặc bằng hình ảnh động (video). Siêu văn bản (hypertext) có thể bao gồm tất cả các dạng trên. Thông tin còn xuất hiện ở dạng chương trình rất sống động có thể thao tác để làm nhiều việc phức tạp gọi là ứng dụng (application) mà trên điện thoại hiện đã quen thuộc với tên gọi tắt là apps.

Ngày nay chúng ta có thể mua sắm trên mạng, xem hàng và đặt hàng trên mạng, bên bán hàng sẽ đem sản phẩm tới tận nhà cho mình, vừa rẻ vừa khỏi mất công đi lại.

Nhưng tin học còn có thể tiến xa hơn nữa. Nền sản xuất vật chất của nhân loại hiện nay đang ở đoạn cuối của thời kỳ công nghiệp hóa và đã bắt đầu chuyển sang tin học hóa. Tin học hóa sản xuất là như thế nào ? Như trên đã nói, toàn bộ vật chất với hàng trăm nguyên tố (bảng tuần hoàn hiện đại có 118 nguyên tố) đều có thể quy về lượng tử và quy về bit thông tin vũ trụ, đại khái như Craig Hogan đã vẽ ra. Chúng ta biết rằng ánh sáng mặt trời là một nguồn năng lượng rất lớn. Nếu con người chế tạo được chiếc máy có khả năng sử dụng nguồn ánh sáng này làm nguyên liệu đồng thời cũng làm năng lượng để sản xuất vật chất thì viễn ảnh tương lai nhân loại sẽ ra sao ?

Sản xuất vật chất bằng tin học dạng thô sơ đã bắt đầu

Hiện nay đã xuất hiện dạng sản xuất vật chất đầu tiên bằng tin học, đó là máy in 3D. Thay vì in hình ảnh của vật trên giấy, máy in 3D sản xuất ra vật trong không gian 3 chiều, một sản phẩm thực thụ chứ không phải chỉ là hình ảnh.

Khoa học hiện đại nhất của loài người gần đây cũng phát hiện rằng vũ trụ chỉ là số (digital). Tất cả có thể quy về lượng tử. Như vậy khi chế tạo được máy tính lượng tử, thì loài người sẽ có khả năng xử lý vật chất và năng lượng trong không gian ba chiều bằng máy tính lượng tử. Máy tính lượng tử có khả năng xử lý thông tin nhanh hơn máy tính điện tử hàng tỉ lần, ngoài ra có thể đồng thời xử lý lượng tử ở trạng thái chồng chập hay vướng víu (entangled), điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì dữ liệu được xử lý trong điều kiện không có không gian và thời gian, như vậy sẽ có những hiệu ứng không tưởng tượng nổi.

Ngay hiện nay cũng bắt đầu có những ứng dụng mới, ví dụ máy in 3D. Một số sản phẩm bằng nhựa và nhiều vật liệu khác, hiện nay đã có thể sản xuất bằng loại máy này.

Mayin3D-B  Mayin3D

Máy in 3D

Ngay cả cái nhà cũng có thể được làm bằng công nghệ này.

Một công ty xây dựng của Trung Quốc cho biết họ đã sử dụng công nghệ in 3D để xây những ngôi nhà. Họ sử dụng một máy in 3D khổng lồ để phun xi-măng và một loại vật liệu đã được tái chế thay thế cho các loại bê-tông thông thường dùng để xây nhà. Những ngôi nhà được xây bằng công nghệ 3D không có thiết kế quá đẹp và kích thước lớn, tuy nhiên giá thành của chúng khá rẻ, chỉ khoảng 5000 USD một căn. Bên cạnh đó, thời gian hoàn thành một ngôi nhà được xây bằng công nghệ in 3D rất nhanh, công ty này đã xây xong 10 ngôi nhà chỉ trong một ngày.

CHINA-SHANGHAI-3D PRINTING-HOUSE(CN)

Nhà làm bằng công nghệ 3D

Vật liệu cho loại sản phẩm này, theo như mô tả của các nhà nghiên cứu, thì vật liệu mà họ phát triển là một dạng siêu vật liệu (metamaterial) cấu trúc micro. Đây là vật liệu nhân tạo có các đặc tính mà không loại vật liệu thiên nhiên nào có được. Nó gần như vẫn giữ nguyên được độ cứng trên từng mật độ đơn vị, thậm chí ở mật độ rất thấp nó vẫn đảm bảo độ cứng.

Với các đặc tính đó, các nhà nghiên cứu hy vọng trong tương lai nó sẽ được dùng để phát triển các bộ phận và linh kiện cho máy bay, xe hơi hay tàu vũ trụ nhờ vào công nghệ in 3D.

Kỹ sư Jim Kor và các đồng nghiệp của mình đã có một ý tưởng táo bạo khi chế tạo nguyên một chiếc ô tô bằng công nghệ in 3D. Chiếc xe được sản xuất năm 2013, có hai bánh và có thể chở được hai hành khách, với các chi tiết được làm chủ yếu từ nhựa nhờ máy in 3D. Chiếc xe được trang bị động cơ hybrid được làm bằng sắt.

Xe hoi 3D

Xe hơi 3D    

Sản xuất vật chất bằng tin học ở giai đoạn trưởng thành

Chúng ta hiện nay chỉ mới ở thời kỳ sơ khai của công nghệ 3D. Trong tương lai sẽ còn nhiều hứa hẹn thần kỳ hơn nữa. Thử tưởng tượng như sau :

Người ta có thể sử dụng lượng tử vừa là thông tin vừa là vật liệu cơ bản để sản xuất bất cứ thứ gì mà con người có thể tưởng tượng ra theo đúng nguyên tắc vạn pháp duy tâm. Mỗi gia đình có thể trang bị cho mình cái máy vạn năng. Chiếc máy này có thể tạo ra đủ thứ sản phẩm, từ quần áo, giày dép, cho tới mọi thứ vật dụng, kể cả lương thực thực phẩm, bánh, trái cây, xe máy, xe hơi. Năng lượng và vật liệu cho tất cả sản phẩm là điện hoặc ánh sáng mặt trời. Thiết kế của sản phẩm có sẵn trên mạng internet, chúng ta chỉ việc download về và dùng chiếc máy vạn năng để làm ra.

Chúng ta có thể chế tạo trực tiếp lương thực thực phẩm, vật dụng sinh hoạt hàng ngày như quần áo giày dép, đồ dùng khác bằng phương pháp tin học ngay tại nhà mình bằng chiếc máy kỳ diệu nói trên.

Sản xuất vật chất bằng phương pháp tin học vừa nhanh, ít tốn năng lượng và không tạo ra chất thải nên không làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt không cần sự giết chóc tàn bạo. Ví dụ có thể sản xuất trực tiếp ra thịt cá mà không cần tới con heo, con bò, con gà, con tôm, con cá…do đó không có thảm cảnh giết hại sinh vật, không có lò sát sinh, không có cảnh máu chảy, đầu rơi, banh da, xẻ thịt. Có thể sản xuất trứng gà mà không cần tới con gà, cũng như có thể tạo ra thịt gà mà không cần trứng gà nở ra con gà.

Chúng ta có thể so sánh hai phương pháp công nghiệp và tin học qua những gì chúng ta đã biết, đã thấy, qua so sánh giữa báo in trên giấy và báo mạng internet như sau.

Sản xuất báo in là phương pháp công nghiệp đòi hỏi phải trồng cây, sản xuất giấy in, mực in; phải có máy in, nhà in, đúc chữ, xếp chữ rất vất vả. Rồi phải có hệ thống phân phối, xe chở báo. Trong cả quá trình đó tạo ra nhiều chất thải. Ngay cả tờ báo đọc xong cũng trở thành một thứ phế thải.

Trong khi đó phương pháp tin học thuận lợi hơn nhiều, không cần tới giấy mực, nhà in, độc giả đọc báo trên điện thoại di động. Thông tin trực tiếp chạy tới người đọc qua mạng internet cáp quang, hoặc 3G, 4G, wifi và không có sản phẩm phế thải. Từ khi thông tin được tạo ra cho tới lúc tới người đọc rất ngắn có thể tính bằng phút hay giờ, và thông tin được thực hiện ở văn phòng, không cần công xưởng, không cần xe tải chở báo, do đó không tạo ra chất thải.

Trong thời đại tin học hóa trưởng thành, những thiết bị như computer, các thiết bị thông tin, điện thoại di động đều được sản xuất bằng phương pháp tin học. Những sản phẩm hư cũ cũng được phá hủy bằng tin học để tạo ra sản phẩm mới, do đó hầu như không có chất thải. Nhân loại không cần phải lo hiệu ứng nhà kính, những hiệp định chống biến đổi khí hậu như kiểu Hiệp định Paris COP 21 trở thành thừa, bởi vì không còn khí thải.

Nghe nói hiện tại, ở những cõi giới khác như cõi Tây phương cực lạc của Phật A Di Đà, do niệm lực của cõi giới đó rất mạnh, họ chẳng những không cần tới phương pháp công nghiệp để sản xuất thức ăn, vật phẩm, mà ngay cả phương pháp tin học cũng chẳng cần, họ sử dụng phương pháp tâm linh. Khi muốn ăn thì thức ăn, chén bát, mâm đũa tự xuất hiện. Khi ăn xong tất cả tự biến mất mà không cần phải dọn dẹp.

Ăn Uống Ở Cõi Tây Phương Cực Lạc

Trong thời đại tin học trưởng thành, ranh giới giữa phần cứng (hardware) và phần mềm (software) đã bị xóa nhòa, cũng tương tự như trên internet, khoảng cách không gian đã bị xóa nhòa. Khoảng cách vài ba mét ở nhà bên cạnh và khoảng cách 20.000 km bên kia Thái Bình Dương đều như nhau không có gì khác biệt. Người ta có thể tạo ra hardware cũng như tất cả mọi loại vật chất một cách dễ dàng như tạo ra software.

Vấn đề di chuyển người và hàng hóa được tiến hành bằng phương thức viễn tải lượng tử. Người ta chỉ cần bước vào một cabin thì thân thể và quần áo đều biến thành lượng tử và tức thời xuất hiện trở lại ở một cabin khác cách xa hàng vạn km mà không mất thời gian vì sử dụng hiệu ứng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Đoạn video clip sau mô tả viễn tải lượng tử.

Viễn Tải Và Máy Tính Lượng Tử – Quantum Teleportation And Computer

Kết luận

Vấn đề hiệu ứng nhà kính, vấn đề bầu khí quyển địa cầu nóng lên khiến băng sơn ở hai cực tan chảy, nước biển dâng cao, sẽ không còn là vấn đề, khi nhân loại bước vào thời đại tin học hóa trưởng thành, sản xuất vật chất bằng phương pháp tin học sẽ thay thế cho phương pháp công nghiệp. Bởi vì phương pháp công nghiệp vẫn còn là thô sơ, tạo ra rất nhiều chất thải, trong khi phương pháp sản xuất vật chất bằng tin học rất nhanh gọn và không tạo ra chất thải, không gây ra ô nhiễm môi trường.

Bởi vì hàng hóa có thể sản xuất dễ dàng ngay tại nơi tiêu thụ, nên không đặt ra vấn đề lưu thông hàng hóa, hoặc lưu thông hàng hóa giảm xuống mức tối thiểu. Nhiều đồ dùng nhỏ có thể sản xuất ngay tại nhà của người sử dụng. Người ta chỉ cần lấy bản thiết kế sản phẩm từ trên mạng và sử dụng máy sản xuất đa năng của riêng mình để làm ra sản phẩm cho chính mình và gia đình mình sử dụng. Việc đó đơn giản như việc lấy các software từ trên mạng và cài trên computer, laptop hay smartphone của mình mà chúng ta thường làm hiện nay.

Trong khoảng thời gian hai thập niên cuối của thế kỷ 20, Hầu Hi Quý thường biểu diễn lấy thuốc lá hoặc rượu ở những nơi xa xôi bằng đặc dị công năng. Chẳng hạn năm 1979, ông biểu diễn lấy một gói thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa từ huyện Lạc Đô tỉnh Thanh Hải cách xa chỗ ông đứng là làng Loan Sơn, Du Huyện tỉnh Hồ Nam, hai nơi cách xa 1600 km. Cũng trong năm 1979, trong lúc đoàn kịch Hoa Cổ của Hầu Hi Quý tiếp xúc với trưởng xưởng thiết bị đường sắt Tửu Phụ Giang là Phan Hải Thọ để xin trình diễn trong xưởng, ông này yêu cầu Hầu Hi Quý biến ra chai rượu Hoa dương tiểu khúc là một thứ rượu ngon khó kiếm của vùng này. Hầu Hi Quý lấy ra chai rượu mới nguyên còn trong hộp từ một thùng vốn đựng sơn nhưng hiện đang trống có sẵn trong phòng. Vậy chai rượu từ đâu xuất hiện trong thùng ? Bởi vì cố thể vật chất cũng giống như lượng tử, nó có thể tùy tiện biến mất ở nơi sản xuất và xuất hiện ở nơi nhà đặc dị công năng muốn. Hầu Hi Quý là người đàng hoàng, ông không lấy không của người ta mà trả tiền sòng phẳng cũng bằng đặc dị công năng. Nhà sản xuất thấy mất một chai rượu và thấy có số tiền tương đương nhưng không biết tại sao như vậy.

LuuDuongtieukhuc

Rượu Lưu Dương tiểu khúc

Đặc dị công năng có thể làm được những việc khó tưởng tượng, còn viễn tải lượng tử cũng có thể làm những việc tương tự nhưng bằng phương pháp tin học.

Mặt khác viễn tải lượng tử cho phép những thứ hàng cần gởi đi xa sẽ được gởi đi dễ dàng và nhanh chóng, giống như chúng ta gởi hình ảnh hay video hiện nay mà thôi. Ngay cả việc đi lại giữa hai nước cách xa nhau như Mỹ và VN cũng rất dễ dàng nhanh chóng giống như đoạn video trên mô tả.

Tóm lại, sản xuất và lưu thông hàng hóa bằng phương pháp tin học thay cho công nghiệp và thương mại sẽ giải quyết triệt để vấn đề khí hậu địa cầu nóng lên, ngoài ra cũng giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường. Ngoài ra sản xuất vật chất bằng tin học còn giải quyết được vô số vấn đề nan giải của nhân loại. Sự tranh giành nguồn tài nguyên khoáng sản không còn cần thiết nữa. Sự trộm cắp, cướp của giết người cũng không còn lý do để xảy ra nữa, bởi vì người ta dễ dàng có được mọi thứ theo nhu cầu. Kể cả vấn đề hiếp dâm cũng không xảy ra, bởi vì người ta có thể dễ dàng sản xuất ra đối tượng yêu đương cho mình theo đúng gu mà mình mong muốn. Người ta có thể sản xuất bất cứ thứ gì mà con người có thể tưởng tượng. Vấn đề tranh giành lãnh thổ, biển đảo, cũng trở thành tầm phào bởi vì mọi nhu cầu vật chất của tất cả mọi người trên thế giới đều đã được giải quyết ổn thỏa thì tranh giành để làm gì ? Người ta không cần đánh bắt hải sản, không cần trồng trọt, chăn nuôi, không cần tài nguyên khoáng sản, không cần lưu thông vật tư hàng hóa, vậy thì có còn đối tượng gì để mà tranh giành ?

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
This entry was posted in Bài viết. Bookmark the permalink.

Có 2 phản hồi tại VẤN ĐỀ HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NAN GIẢI CỦA NHÂN LOẠI, GIẢI QUYẾT CÁCH NÀO ?

  1. Huỳnh nói:

    Thưa bác Truyền Bình,

    Mong muốn của bác, thật tình cờ hoàn toàn trùng hợp với suy nghĩ của cháu.
    Mong chiếc máy sản xuất lượng tử như ý tưởng của bác sớm được phát minh để giải thoát sự đau khổ chết chóc cho hàng vạn loài động thực vật trên quả đất này do loài người gây ra.
    Là người tu đạo, trước hết phải công bằng, lương thiện, trong sáng với những loài yếu đuối hơn mình.
    Mọi sự tranh giành vật chất, tình cảm, tinh thần, lý tưởng…của loài người hiện tại hoàn toàn là một vở hài kịch.

    • Cám ơn bạn Huỳnh đã phản hồi tích cực. Trên thế giới hiện nay hầu như chưa có ai nghĩ đến thời đại Tin Học Hóa sẽ thay thế thời đại Công Nghiệp Hóa nên suy nghĩ của tôi còn cô đơn lắm.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s