PHẬT GIÁO VÀ CÔNG NGHỆ

Chúng ta đã thấy có rất nhiều bài viết về Phật giáo và Khoa học, đề tài đó đã quá nhàm nên hôm nay tôi xin lạm bàn về Phật giáo và Công nghệ. Thuật ngữ công nghệ là muốn nói tới ứng dụng của khoa học trong Phật giáo, không dừng lại ở mức độ triết lý mà đi sâu hơn vào thực tiễn ứng dụng.

Hồi thời Đức Phật, hoàn toàn không sử dụng bất cứ công nghệ nào dù thô sơ nhất. Phật thuyết giảng cho các đệ tử bằng lời nói, họ thuộc lòng những thuyết giảng đó và nói lại cho những người khác nghe. Đó là phương pháp truyền khẩu, chưa có kinh điển bằng văn bản, mà Phật cũng không muốn sử dụng văn bản mặc dù thời đó Ấn Độ cũng đã có chữ viết.

Tiếng Phạn (Sanskrit) là ngôn ngữ cổ nhất trong họ ngôn ngữ  của người Aryan ở phía bắc Ấn Độ, một chi nhánh của họ ngôn ngữ Indo-Iranian thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Theo hiểu biết hiện nay, những từ tiếng Phạn đầu tiên xuất hiện trong một văn bản tiếng Hit-ti dạy về thuật cưỡi ngựa cách đây 3.500 năm, được tìm thấy ở vùng Anatolia của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Từ vùng đất Tây Á này, những người nói tiếng Phạn tiến về bình nguyên sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges), họ mang theo các bài thơ tế thần của tổ tiên đồng thời sáng tác thêm những bài mới  phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng.

Những đại đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên trước kia ở phái San Xa Dạ thuộc Lục Sư ngoại đạo, mỗi người có đến 100 đệ tử, cũng như đại đệ tử Ma Ha Ca Diếp vốn thuộc dòng dõi Bà La Môn, còn những vị vương tử khác thuộc dòng dõi Sát Ðế Lợi như A Nan, A Na Luật, Nan Ðà, Ma Ha Nam … đều là những người thông thạo chữ nghĩa Sanskrit, nhưng kinh điển đã không được ghi chép vì theo Tạng Luật của nhiều bộ phái còn ghi lại sự kiện sau đây: “Bấy giờ có hai anh em Bà La Môn xin xuất gia theo Phật. Họ yêu cầu Ngài cho phép họ tụng, đọc những lời Ngài dạy theo kiểu tụng đọc kinh điển Vệ Ðà (Veda) mà họ đã quen đọc, họ cũng yêu cầu sử dụng tiếng Sanskrit và sắp xếp câu văn thế nào cho hoa mỹ như cách hành văn của Sanskrit trong kinh điển ấy “. Về lời yêu cầu nầy, Phật dạy rằng trong đạo Ngài không cần văn chương hoa mỹ, chỉ cần nghĩa lý rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Lời văn giọng nói cần phải đơn giản, thế nào cho người nghe hiểu được mình muốn nói gì. Ðó là lý do chính yếu để giải đáp cho câu hỏi vì sao kinh điển không được ghi chép từ thời đức Phật còn hiện tiền.

Mãi đến lần Kết Tập Kinh Điển thứ IV, vào khoảng năm 35-32 trước Công nguyên, khoảng 500 tu sĩ của phái Đại Tự Viện họp lại, do vua Vattagamani triệu tập tại Tích Lan. Một điểm hết sức đặc biệt là trong lần kết tập này, kinh điển sau 500 năm truyền khẩu, lần đầu tiên được viết thành văn bản trên lá bối. Đó là bước đầu hình thành Tam Tạng Kinh văn bản. Đó cũng là lần đầu tiên PG sử dụng tới công nghệ, chế tác lá bối và mực để ghi chép.

Kinh điển với công nghệ cổ điển

Thời xưa chưa có công nghệ in, kinh điển chủ yếu là chép tay trên lá bối, trên vải hay lụa.

La boi (palm leaf)

Lá bối (palm leaf) là nguyên liệu được chế tác thành từng miếng để chép kinh

Palm Leaf ManusCript Sri Lanka

Kinh điển chép tay trên lá bối

Đến thế kỷ thứ 1 tại Ấn Độ, xuất hiện bản kinh làm bằng đất sét. Đây là bản kinh kệ trên đất sét sớm nhất mà Thư viện Bảo tàng Anh Quốc (British Museum Library) còn lưu giữ

Clay Buddhist Sutra

Bản kinh kệ trên đất sét vùng Gandhara thế kỷ thứ nhất Công nguyên

Đôi khi có người khắc kinh văn trên đá. Những công trình khắc đá được tìm thấy tại Nepal và Tây Tạng.

Mani stones in Nepal

Kinh kệ in trên đá gọi là Mani stones

Vào khoảng đầu Công nguyên, Phật giáo được truyền đến Trung Quốc. Trước khi Phật ra đời, bên TQ vào đời Chu Chiêu Vương (trị vì từ 1052-1002) năm thứ 26 (năm 1027 trước công nguyên), quan thái sử Tô Do đã tiên đóan bên phương Tây có thánh nhân xuất hiện, và 1000 năm sau, Đạo do thánh nhân ấy thuyết giảng sẽ truyền đến TQ. Vua bèn cho khắc vào bia đá để làm chứng tích.  Thời Hán Minh Đế (28-75CN), trong niên hiệu Vĩnh Bình, vào một đêm nọ, vua mộng thấy một điềm lạ kỳ. Trong giấc mộng, ông thấy một vị thân vàng, cao hơn một trượng sáu, trên đầu phát ra vầng hào quang màu trắng, bay trên không trung, đến trước cung điện, sau đó lại bay lên không trung đi về phía tây. Hôm sau, Hán Minh Đế hội tất cả quần thần để bàn đoán mộng đó, xem coi có ý nghĩa gì. Thái sử Phó Nghị傅毅bốc chiêm tinh rồi tấu trình: “Dựa vào bia của Chu Chiêu Vương, giấc mộng đêm hôm qua của Bệ Hạ, nếu tính theo thời gian, thì hiển nhiên có sự liên quan mật thiết. Hiện tại, Thần lại nghe rằng ở Tây Vực có Đức Phật. Bệ Hạ mộng thấy người vàng, thì nhất định đó là Đức Phật vậy”. Nhà vua bèn sai một phái đoàn gồm 18 sứ giả, dẫn đầu là hai đại thần là lang trung Thái Âm蔡愔và quan bác sĩ Tần Cảnh秦景, sang Tây Vực để tìm kiếm, trên đường đi, họ gặp hai nhà sư Thiên Trúc là Ca Diếp Ma Đằng (迦葉摩騰 Kasyapa-Matanga) và Trúc Pháp Lan (竺法蘭Dharmaraksa), bèn thỉnh về Lạc Dương, xây chùa Bạch Mã (năm 68CN)  cho hai ông trụ trì.

Bach Ma Tu

Chùa Bạch Mã tại Lạc Dương

Những quyển kinh do Trúc Pháp Lan và Ca Diếp Ma Đằng mang về và dịch ra Hán văn gồm có :

Ca Diếp Ma Đằng dịch Tứ Thập Nhị Chương Kinh四十二章经

Trúc Pháp Lan dịch 4 quyển kinh : Thập Địa Đoạn Kết Kinh十地段结经, Phật Bổn Sinh Kinh佛本生经, Pháp Hải Tạng Kinh法海藏经, Phật Bổn Hạnh Kinh佛本行经

Những bản kinh gốc tiếng Phạn có lẽ được viết trên lá bối theo công nghệ của Thiên Trúc (Ấn Độ). Còn những bản dịch Hán tự thì được viết hoặc in trên lụa.

Trước và sau khi phát minh ra giấy, tại Trung Quốc, người ta còn dùng thẻ tre và thẻ gỗ để chép kinh điển, kể cả sách vở của Đạo gia và Nho gia.

Thẻ tre gọi là trúc giản 竹简 Thẻ gỗ gọi là mộc giản 木简

Công nghệ chế tác trúc mộc giản chủ yếu là thủ công và tốn rất nhiều công sức, một nghệ nhân khắc trung bình mỗi giờ chỉ được 10 chữ, mỗi ngày trung bình làm việc 5 giờ chỉ khắc được 50 chữ. Đây là tổng kết của một nghệ nhân chuyên làm mộc giản là Sử Tấn Xuyên 史晋川

Su Tan Xuyen

Sử Tấn Xuyên đang khắc chữ trên mộc giản

Moc gian Lan Dinh Tu

Mộc giản Lan Đình Tự. Đây là tác phẩm trứ danh của nhà thư pháp nổi tiếng đời Đông Tấn, Vương Hi Chi 王羲之

Dao Duc Kinh

Đạo Đức Kinh của Lão Tử trên thẻ tre

Dai Bi Chu

Chú Đại Bi chép trên thẻ tre

Năm 105CN, Thái Luân蔡倫 phát minh ra giấy, ông là một thái giám, giữ chức Trung thường thị中常侍 trong triều của vua Hán Hòa Đế nhà Đông Hán, ông dâng lên vua những mẫu giấy do mình sáng chế và được trọng thưởng.

Thai Luan

Thái Luân, người phát minh ra giấy vào năm 105CN

Sau đó kinh điển dần dần được khắc gỗ và in trên giấy, kinh điển trở nên phổ biến hơn. Bản kinh khắc gỗ in trên giấy xưa nhất mà ngày nay còn giữ được là Kinh Kim Cang ghi ngày 13 tháng 4 năm Đường Huyền Tông thứ 9 (năm 721CN).

Sau khi phát minh ra giấy thì kinh điển được in ấn thuận tiện dễ dàng hơn trước rất nhiều, những trang kinh được khắc trên gỗ và phết mực in lên giấy.

Công nghệ in xuất phát từ Trung Quốc nhưng trong cả ngàn năm, kỹ thuật không có sự đột phá. Công nghệ in được truyền sang phương tây. Đến thế kỷ 15 Johannes Gutenberg (khoảng 1389-1468), là một công nhân đồng thời là một nhà phát minh người Đức, đã nghĩ ra cách tạo con chữ rời bằng kim loại. Và sắp chữ thành bản in, như thế nhanh hơn việc khắc chữ trên gỗ rất nhiều lần.

Gutenberg

Johannes Gutenberg, người phát minh kỹ thuật in bằng chữ rời kim loại

Công nghệ in phát triển đã tạo ra một thời kỳ báo chí thông tin, sách vở trở nên rẻ tiền và phổ biến đến mọi người dân, ai cũng có thể mua sách báo. Báo chí, sách vở, kinh điển in trên giấy vẫn còn phổ biến cho tới ngày nay. Tuy nhiên tới thế kỷ 21 thì sách báo, kinh điển trên giấy bị sự cạnh tranh chưa từng có của công nghệ điện tử đến mức phải sang trang mới.

Kinh điển với công nghệ hiện đại

Kinh điển tiến bộ nhất trong thời đại cổ điển là những bản in trên giấy trắng mực đen, đẹp và rõ ràng dễ đọc, thường được tặng không chẳng có tốn phí, nhưng thường người thỉnh kinh cũng hoan hỉ và tự nguyện cúng lại một số tiền cho nhà chùa để trang trải kinh phí.

Đến cuối thế kỷ 20 thì ngành tin học phát triển mạnh mẽ với việc phát triển máy vi tính (computer) cá nhân và mạng internet. Máy vi tính cá nhân (PC= personal computer) đem lại cuộc cách mạng về thông tin khi từng chiếc máy riêng lẻ của từng cá nhân rải rác khắp nơi trên thế giới có thể liên thông với nhau qua mạng thông tin toàn cầu gọi là internet.

Như thế kinh điển không cần phải in nữa và tín đồ cũng không cần phải thỉnh. Một số trang web của tư nhân hoặc tổ chức tập trung đưa kinh điển lên mạng. Tín đồ chỉ việc ngồi tại nhà tải kinh xuống để xem, hoặc cứ xem trực tuyến trên mạng gọi là online.

Qua thế kỷ 21, việc xem online trở thành thuận tiện khi phương thức truyền tải ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line = Tuyến thuê bao kỹ thuật số bất đối xứng)  được ứng dụng. Sở dĩ gọi là bất đối xứng vì tốc độ tải xuống (download) và tải lên mạng (upload) không bằng nhau. Tốc độ tải xuống thường nhanh hơn nhiều lần tốc độ tải lên.

Phương thức ADSL trở nên vô cùng tiện lợi khi các nhà mạng cố định phí thuê bao hàng tháng, và không hạn chế lưu lượng tải. Tốc độ đường truyền cũng dần dần được cải thiện, dẫn đến multimedia (đa phương tiện). Nghĩa là tín đồ không chỉ đọc kinh bằng chữ mà còn có thể nghe kinh giảng bằng âm thanh với chính giọng nói của ông thầy. Hơn nữa còn có thể vừa nghe vừa thấy ông thầy đang giảng kinh.

Thầy Duy Lực giảng về phương pháp tự ngộ

Đến năm 2007, khi điện thoại thông minh (smartphone) bắt đầu phát triển, tín đồ càng tiện lợi hơn nữa. Smartphone là loại điện thoại có kết nối với mạng internet bằng wifi hoặc 3G,4G, và màn hình của điện thoại dần dần được mở rộng từ chỗ chỉ có 2-3 inches, ngày nay màn hình điện thoại đã rộng tới 5.5-6 inches. Tốc độ xử lý của con chip, bộ nhớ RAM, độ phân giải của màn hình đều tăng mạnh đến mức ngang bằng với computer. Cho đến năm 2016 thì con chip của smartphone có đến 8 nhân, tốc độ của mỗi nhân lên đến trên 2Ghz và bộ nhớ Ram có dung lượng 4GB. Thậm chí có hãng sản xuất con chip như TSMC (Taiwan Semiconductor Manufacturing Company) và Samsung còn có kế hoạch chế tạo con chip cực nhanh với chu trình mạch điện 10 nanomét, và họ có khả năng nâng số lõi (nhân) lên 10-12 lõi.

Tín đồ có thể nghe và xem trực tiếp online ông thầy đang giảng pháp bằng smartphone. Họ cũng có thể chép những lời thuyết giảng bằng âm thanh mp3 vào thẻ nhớ trong điện thoại, lúc nào tiện thì mở ra nghe, ngay cả khi không có kết nối internet. Khi nghe giảng tới những nhân vật lịch sử như Nguyệt Khê thiền sư, họ còn nhìn thấy hình.

Nguyet Khe thien su

Nhìn thấy hình Nguyệt Khê và nghe giải đáp một câu hỏi của Phật tử như sau :

0145 Biểu đồ 4 thừa của Phật giáo theo Ngài Nguyệt Khê

Như thế chúng ta thấy rằng việc tìm hiểu giáo lý đã trở nên vô cùng tiện lợi. Bất cứ Phật tử ở nơi chân trời góc biển nào cũng đều có thể tiếp xúc được dễ dàng với kinh điển, với những giảng giải của các vị sư thầy. Cho nên Phật tử chỉ còn lo thực hành để đem lại lợi ích cho bản thân mình và người chung quanh mà thôi.

Tiện đây chúng ta cũng nên tìm hiểu một chút về công nghệ nào đã biến những điều thần kỳ trở thành hiện thực.

Tại sao gọi là thần kỳ ? Bởi vì chúng ta chỉ ngồi ở nhà, không cần phải nhọc nhằn nguy hiểm khó khăn vô cùng như ngài Huyền Trang ở thế kỷ thứ 8, muốn có kinh Phật phải lặn lội sang tận Thiên Trúc (Ấn Độ) để cầu. Ngày nay chúng ta không cần phải đi đâu cả, mà tất cả kinh điển, tất cả những giáo huấn của các vị thầy đều có thể hiện ra trên smartphone của chúng ta.

Vậy vì sao mà có sự thần kỳ đó ?

Đó là nhờ các nhà khoa học và các nhà kỹ thuật cũng như các doanh nhân, họ tìm cách áp dụng và phổ biến những nguyên lý mà từ lâu đã có trong Phật pháp. Bát Nhã Tâm Kinh đã nói rằng “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc 色即是空, 空即是色” Câu này tự nhiên không hẹn mà gặp, năm 1927 Werner Heisenberg phát hiện ra nguyên lý bất định (principle of uncertainty). Ý nghĩa triết học của nguyên lý bất định có thể diễn tả rõ ràng không chút mơ hồ như sau : Hạt vật chất (ví dụ hạt electron) tức là sóng tiềm năng phi vật chất. Đây là hai hình thái đối lập của vật chất nhưng không phải mâu thuẫn nhau, mặc dù bề ngoài có vẻ mâu thuẫn. Điều đó cũng có nghĩa là : xác định tức là bất định, bất định tức là xác định. Tại sao phi lý như vậy ? Bởi vì vật chất không có thực chất, vật chất chỉ là ảo. Vật chất là xác định nhưng vì là ảo, nên vật chất cũng là sóng tiềm năng phi vật chất và cũng là bất định.

Thí nghiệm hai khe hở chứng tỏ hạt electron cũng là sóng và nó không độc lập đối với ý thức. Nghĩa là khi chúng ta nhìn và đo đạc thì electron là hạt vật chất. Còn khi chúng ta không nhìn, không tìm cách đo lường để xác định nó, thì electron là sóng, không phải là vật chất. Khi là hạt thì nó ở một nơi xác định, khi là sóng thì nó ở khắp mọi nơi không xác định.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Các nhà kỹ thuật đã lợi dụng tính chất vừa là hạt vừa là sóng của hạt photon và hạt electron để sáng chế ra mạng internet và các loại sóng wifi, 3G, 4G. Đó là một loại công nghệ thượng thặng đem lại sự thần kỳ như chúng ta thấy. Hình ảnh, âm thanh, chữ viết, video khi ở dạng sóng thì vô hình và ở khắp mọi nơi. Còn khi trở về dạng hạt thì nó xuất hiện thành bài viết, hình ảnh, âm thanh, video trên màn hình vi tính hoặc trên smartphone của chúng ta.

Còn một nguyên lý nữa cũng rất quan trọng mà các kinh điển Phật giáo đều có ghi rõ là : “Các pháp không có tự tính” (Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性)Nghĩa là hạt photon và hạt electron không có bất kỳ đặc trưng nào cả, tất cả mọi tính chất đặc trưng đều là do con người gán ghép cho chúng. Cuộc tranh luận giữa hai nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ 20 là Niels Bohr và Albert Einstein chính là cuộc tranh luận về việc các pháp có tự tính hay không. Bohr đồng lập trường với PG tức đồng ý rằng các pháp không có tự tính. Còn Einstein thì trái lại cho rằng các pháp phải có sẵn tự tính.  Kết quả thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris chứng tỏ là Einstein đã sai.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Các nhà kỹ thuật đã lợi dụng sự không có tự tính của hạt photon và hạt electron để gán ghép cho chúng những tính chất mà chúng ta cần có để thấy và nghe, để có thông tin về màu sắc, về chữ viết, về âm thanh của bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới. Bất kỳ tính chất gì con người mong muốn đều có thể gán ghép cho các hạt này.

Kết quả là con người muốn cái gì đều có thể gán ghép cho photon và electron, và chúng sẵn sàng chiều theo ý muốn của mình bởi vì chúng không có tự tính, kể cả những việc khó có thể tưởng tượng nổi như giả lập một vụ nổ nguyên tử. Các hạt đó không hề có những tính chất gì liên quan tới vụ nổ nguyên tử cả, nhưng con người có thể gán ghép tính chất của một vụ nổ nguyên tử cho chúng và thu được những kết quả đáp ứng được lòng mong muốn của mình. Sự thần kỳ chính là như vậy. Ngoài ra, sự thần kỳ còn ở chỗ chúng có mặt khắp nơi, không hạn chế về không gian. Nên ngày nay chúng ta có thể gặp, nhìn thấy nhau và nói chuyện với thân nhân bạn bè ở khắp mọi nơi trên thế giới một cách dễ dàng bất cứ lúc nào hai bên cảm thấy thuận tiện.

Có người sẽ hỏi rằng chính nhờ các hạt đó có khả năng di chuyển với tốc độ ánh sáng mới có thể giúp chúng ta liên lạc dễ dàng với thân nhân bè bạn khắp năm châu. Thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum  entanglement) bác bỏ vấn đề truyền tín hiệu, không liên quan gì tới tốc độ của photon. Giữa hai photon có sự liên kết thần kỳ không phải bằng cách truyền tín hiệu. Nếu các nhà khoa học kỹ thuật khai thác được sự liên kết này thì có thể liên lạc tức thời với những hành tinh cách xa Trái đất hàng triệu năm ánh sáng mà không mất chút thời gian nào. Chính bằng phương thức này mà chúng sinh trong Tam Giới có thể đi đầu thai tái sinh ở bất cứ thế giới xa xôi nào mà không hề lệ thuộc vào khoảng cách không gian, nghĩa là không gian và thời gian đều không có thật. Ngay số lượng cũng không có thật vì một photon có thể xuất hiện ở vô số vị trí khác nhau khiến chúng ta tưởng là có vô số photon khác nhau.

Tóm lại công nghệ hiện đại đem lại sự tiện lợi rất lớn cho tín đồ. Ngày nay chỉ còn người già không thể thích ứng với sự đổi mới công nghệ, mới còn xem kinh điển trên giấy. Đọc kinh hoặc bài viết trên giấy bị hạn chế rất nhiều, không thể nghe âm thanh, không thể thấy hình ảnh, không thể xem video minh họa.

Phật tử ngày nay không còn gặp khó khăn về việc học tập giáo lý vì đã có mạng internet sẵn sàng cung cấp mọi thông tin, chỉ cần biết một chút về tin học và chịu khó tìm kiếm trên mạng. Các nhà sản xuất và kinh doanh smartphone đã làm cho giá bán của điện thoại thông minh rẻ tới mức ai cũng có thể mua được. Do đó mọi người chỉ cần cố gắng tìm hiểu cách sử dụng điện thoại thông minh thì sẽ nắm được giáo lý, dù cho mình ở một vùng nông thôn xa thì sóng 3G ngày nay cũng truyền tới. Việc duy nhất còn lại là thực hành để tự tìm thấy sự bình an hạnh phúc vững chắc cho bản thân mình và người chung quanh.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
This entry was posted in Bài viết. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s