ỨNG DỤNG CỦA PHẬT PHÁP TRONG ĐỜI THƯỜNG

Ứng dụng lớn nhất của Phật pháp là cứu khổ. Mặc dù về cơ bản cảnh giới thế gian là ảo, nghĩa là không có thật, nhưng chúng sinh nhất là con người tưởng là thật nên chấp thật từ đó sinh ra khổ, phiền não, đủ thứ đau thương vô cùng vô tận. Như vậy về cơ bản khổ cũng chỉ là ảo tưởng, không có thật, nhưng do con người chấp thật nên đau khổ và hạnh phúc ngự trị trên thế gian. Cõi giới đời thường là tương đối, nghĩa là các pháp cần phải dựa vào nhau để tạo ra hiệu ứng chứ không có pháp nào độc lập tồn tại, điều đó kinh điển gọi là Tất cả các pháp đều không có tự tính (Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 All phenomena, all things lack self nature). Các hạt cơ bản như photon, electron…cũng đều không có tự tính, nghĩa là chúng không hề có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Chỉ khi nào có người hay thiết bị quan sát, kiểm tra thì các đặc trưng đó mới xuất hiện. Điều đó có nghĩa là phải có nhân duyên phối hợp thì các đặc trưng của vật mới xuất hiện, chúng nương tựa vào nhau để tạo ra hiện tượng. Nguyên tử chỉ xuất hiện trong mối liên hệ qua lại tương tác của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Trong đó sắc là vật chất (hạt) đồng thời cũng là phi vật chất (sóng tiềm năng). Trong trạng thái phi vật chất thì sắc chỉ là sóng, là thông tin mà vật lý lượng tử hiện đại gọi là miền tần số (frequency domain). Thế giới ảo của tin học hiện đại là bằng chứng chắc chắn rằng các hạt vật chất cơ bản như photon, electron, thực tế là sóng thông tin, là ảo, không phải là vật chất. Cũng có bằng chứng cho thấy rằng những cấu trúc vật chất to hơn, nặng hơn, có vẻ cứng chắc hơn, như nguyên tử, phân tử, cũng có lưỡng tính sóng, hạt. Và ở trạng thái sóng, chúng là sóng thông tin, là sóng tiềm năng chứ không phải là vật chất. Niels Bohr đã từng nói rằng : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Các nhà vật lý hiện đại cũng nêu lên rằng nguyên tử và phân tử cũng là sóng và hành xử giống y như photon hay electron.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Những cảnh đời đau khổ, thương tâm, khỏi cần giải thích chắc mọi người đều hiểu cái khổ đó là như thế nào : Với cá nhân thì nghèo khổ, đau ốm, bệnh tật, bị áp bức, chèn ép, ngu đần, kém cỏi, thua sút người chung quanh, vợ con hoặc chồng con nheo nhóc, gia đình bất hòa, cầu mong không được…đều là khổ. Trong cuộc sống xã hội thì bất công, tham nhũng, thất nghiệp, tai nạn giao thông, xe đụng, tàu chìm, máy bay rớt…là khổ. Ngoài ra còn hàng giả, thực phẩm độc hại, ô nhiễm môi trường. Về mặt thiên nhiên thì thiên tai, núi lửa, động đất, sóng thần, dông bão, lụt lội, tuyết phủ…Trên bình diện quốc gia thì chiến tranh, loạn lạc, tranh giành biển đảo, vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tất cả đều là biểu hiện đau khổ.
Trong cuộc sống đời thường, con người lệ thuộc vào đủ mọi thứ ràng buộc : Không gian sinh tồn bị đe dọa, do ô nhiễm, chật hẹp, chen chúc, nước biển dâng do hiệu ứng nhà kính, tài nguyên cạn kiệt, nguồn nước, khoáng sản, cây gỗ ngày càng khó khăn . Thời gian dường như lúc nào cũng thiếu nên người đời sống vội vả, tất bật, đời người ngắn ngủi, tuổi xuân chóng tàn; còn người có rộng thời gian thì lại đối diện với nguy cơ thất nghiệp, kiếm không ra tiền để sinh hoạt. Khối lượng vật chất, năng lượng khai thác được, luôn thiếu thốn, hữu hạn.
Với đủ thứ ràng buộc như vậy, con người cảm thấy tự do thật là hữu hạn. Ở một số quốc gia, tự do chính trị, tự do ngôn luận, tự do đi lại vẫn còn bị hạn chế ngoài những ràng buộc về vật chất, không gian, thời gian như kể trên.
Phật giáo xuất hiện trên đời nhằm giải cứu con người thoát khỏi tất cả mọi cảnh khổ nói trên bất kể là thiên tai hay nhân họa.
Phương pháp của PG là mỗi người tự giác ngộ giải thoát cho chính mình, từ đó giúp người chung quanh giải thoát. Thật ra thì không có cái gì trói buộc, cũng không có giải thoát, nhưng vì cái thói quen nhận thức lâu đời của con người, đã thành một sự cố chấp vô cùng kiên cố, nên muốn phá sự chấp thật kiên cố đó là vô cùng khó. Từ giai đoạn nhận ra thế giới chỉ là ảo đã khó, giai đoạn phá được cái ảo tưởng đó lại càng khó hơn. Chính vì lẽ đó số người giác ngộ giải thoát rất là hiếm hoi, chỉ thống kê được vài ngàn người trong số hàng tỷ người của nhân loại.
PG đã sáng chế ra rất nhiều pháp môn để dẫn dắt con người đến giác ngộ giải thoát. Đại khái là có Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Thừa Pháp, Thập Nhị Nhân Duyên, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ…Về sau các Tổ Sư phát triển thêm Duy Thức Tam Thập Tụng, Trung Quán Luận. Khi PG đến Tây Tạng và Trung Hoa, các Tổ Sư tại đó lại phát triển thêm Mật Tông, Thiền Tông, Câu Xá Tông, Thành Thật Tông, Pháp Tướng Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nghiêm Tông, Duy Thức Tông.
Rất nhiều tông phái Phật giáo đã được thành lập nhằm đem lại sự giác ngộ giải thoát cho con người. Đó đều là sự ứng dụng biến hóa của PG để đáp ứng nhiều loại căn cơ đa dạng của con người. Những ứng dụng kể trên đã thuộc về quá khứ. Kể từ thế kỷ 20 về sau, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ứng dụng của Phật pháp trong đời thường được nâng cao rõ rệt. Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu sâu về vấn đề này.
Chẳng hạn, một trong những vấn đề cốt lõi của PG được nêu ra trong Kinh Kim Cang : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 Câu này xưa nay người ta hiểu một cách mơ hồ. Mãi đến năm 1982, sau thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris và đã rút ra được kết luận thì ý nghĩa của câu trên mới được hiểu rõ ràng và xác thực.
Ưng vô sở trụ có nghĩa là trong điều kiện vô sở trụ tức là không có vị trí nhất định trong không gian (non locality). Cái gì vô sở trụ ? đó là pháp, có thể là vật chất như photon, electron, hoặc phi vật chất như thông tin, sóng tiềm năng.
Nhi sinh kỳ tâm nghĩa là xuất hiện cái tâm. Cái tâm (citta) là cái gì ? Đó là cái tâm bản nguyên mà Duy Thức học gọi là A-lại-da thức (Alaya), nó bao gồm 8 thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức).
Nghĩa là khi có sở trụ thì đó là pháp, có thể là pháp hữu hình như hạt cơ bản của vật chất (particles) hoặc các loại cấu trúc phức tạp của nó như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, sơn hà đại địa, núi sông biển đảo, vũ trụ vạn vật. Hoặc là pháp vô hình như tình cảm, tình yêu, tư tưởng, văn hóa phi vật thể.
Còn khi vô sở trụ thì đó là tâm. Tại sao lại như thế ? Đây chính là điều vô cùng bí mật đã được khai mở ngoạn mục. Ban đầu đó là thí nghiệm kỳ bí về hai khe hở. Các nhà vật lý đã vô cùng bối rối không hiểu được tại sao khi cho từng hạt electron bay qua một tấm chắn có hai khe hở, nếu không có ai quan sát hoặc đặt thiết bị theo dõi, thì cái màn hứng phía sau lại cho ra giao thoa dạng sóng. Còn nếu có người quan sát hoặc đặt thiết bị theo dõi thì màn hứng phía sau lại thể hiện dạng hạt, nghĩa là chỉ có hai vạch tương ứng với hai khe hở.
Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ
Bí mật này đã lộ rõ trong cuộc tranh cãi vô tiền khoáng hậu giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 20. Niels Bohr và Albert Einstein đã có cuộc tranh cãi khoa học dài dằng dặc từ năm 1935 cho đến khi cả hai ông đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962) vẫn chưa ngã ngũ. Cho mãi đến cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 thì vấn đề mới được giải quyết. Hai ông tranh cãi về vấn đề gì ? Trọng tâm của cuộc tranh luận nằm ở chỗ pháp (cụ thể là hạt photon) có tự tính hay không, nghĩa là hạt photon lúc nào cũng có sẵn các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin (đây là quan điểm duy vật khách quan), hay các đặc trưng đó chỉ xuất hiện khi có người quan sát, đo đạc (đây là quan điểm duy tâm chủ quan). Einstein bảo vệ lập trường duy vật khách quan, còn Bohr bảo vệ lập trường duy tâm chủ quan.
Không biết Bohr có thâm cứu Phật pháp hay không, hay là ông chỉ dựa trên thực tế thí nghiệm mà phán đoán. Nhưng chúng ta thấy lập trường của Bohr rất tương đồng với PG. Bởi vì PG từ xa xưa đã nói rõ rằng Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Mặt khác kinh Hoa Nghiêm đã nói hết sức rõ ràng : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 (Everything has no characters Tất cả các pháp đều không có tự tính). Như vậy rõ ràng hạt photon hoặc hạt electron theo kinh Hoa Nghiêm là không có sẵn tự tính, nếu không có ai quan sát thì chúng chỉ là sóng vô hình, không có vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Chỉ khi có người hoặc thiết bị quan sát đo đạc thì các đặc trưng kia mới xuất hiện. Đức Phật là bậc giác ngộ đã nói ra điều đó, có ghi chép hẳn hòi trong kinh điển.
Einstein tuy cũng hâm mộ PG nhưng có thể chưa xem kinh Hoa Nghiêm, hoặc nếu có xem qua cũng không tin, vì vậy ông đã tranh luận kịch liệt với Niels Bohr, cuối cùng thí nghiệm của Alain Aspect đã xác nhận quan điểm của Einstein là sai, vật không có sẵn tự tính đúng như kinh điển nói. Chúng ta hãy xem lại clip mô tả cuộc tranh luận này.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Pháp hay vật được kinh điển xưa nói là vô sở trụ nhằm mô tả tính chất không có vị trí nhất định của vật mà ngày nay gọi là bất định xứ (non locality). Ngoài ra cả câu : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm còn phát hiện thêm một điều vô cùng quan trọng nữa. Vật không có sẵn đặc trưng, nhưng tại sao con người luôn luôn thấy vật có những đặc điểm riêng biệt, đến mức nhà vật lý thiên tài Einstein cả quyết rằng vật lúc nào cũng có đặc trưng. Phát hiện của PG đó là Nhi sinh kỳ tâm, nghĩa là tâm xuất hiện, tâm gán ghép tập khí của cá thể chúng sinh (mạt-na thức) để thành đặc trưng của vật, có nghĩa là vật với các đặc trưng (cụ thể là các hạt cơ bản, nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) là tưởng tượng của tâm chứ không phải có thật. Kinh điển dùng thuật ngữ Thế lưu bố tưởng để mô tả tình hình tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến qua nhiều đời.
Ưng vô sở trụ chỉ nêu một điều làm đại diện là vị trí, đó là điều quan trọng then chốt, trong điều kiện chưa có đặc trưng về vị trí, hay nói cho đầy đủ là trong điều kiện chưa có bất cứ đặc trưng nào thì tâm bản nguyên xuất hiện, đó là tâm giác ngộ, tâm tự giác hay chánh biến tri, còn khi đã có mọi đặc trưng, thì không phải là tâm giác ngộ mà là ý thức điên đảo mộng tưởng qua bộ não của cá thể chúng sinh.
Bây giờ chúng ta sẽ dịch lại câu này ra ra tiếng Anh và tiếng Việt với ý nghĩa cụ thể như đã phân tích trên trước khi bàn tiếp về mặt ứng dụng trong đời thường của nó.
Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 In the condition of non locality, that mind (citta) appears – Trong điều kiện bất định xứ, cái tâm ấy xuất hiện.
Ứng dụng của vô sở trụ
Ngày xưa các Phật tử học Phật pháp, đọc đến câu này chỉ hiểu một cách mơ hồ, chứ không có điều kiện hiểu rõ. Ngày nay với sự hỗ trợ của khoa học, chúng ta hoàn toàn hiểu rõ và ứng dụng được trong thực tế. Đó chính là ý tưởng chủ đề của bài Phật Pháp Ứng Dụng này. Điều đó cũng giống như Tô Thức có nhận thức trực quan về vô sở trụ mà ông có trình bày trong bài từ có tựa là Thủy Điệu Ca Đầu 水調歌頭 hay còn gọi là Minh Nguyệt Kỷ Thời Hữu 明月幾時有 trong đó ý tưởng chính xoay quanh hai câu :
Đản nguyện nhân trường cửu Chỉ mong sao đời người trường thọ
Thiên lý cộng thuyền quyên Sơn hà nghìn dặm một ánh trăng
Chúng ta hãy xem toàn bộ bài từ được phổ nhạc :
145Đản Nguyện Nhân Trường Cửu – Tô Thức – Đặng Lệ Quân – Việt dịch
Tô Thức nghĩ đến Mặt trăng trên trời cao, hai người ở hai nơi xa nhau trên mặt đất cùng thấy Mặt trăng, cũng coi như liên lạc được với nhau qua ánh trăng. Người xưa chỉ có thể thực nghiệm tới mức đó thôi. Chưa có gì rõ ràng cụ thể, ấn tượng. Nhưng nhận thức vô sở trụ trong kinh điển đã được chứng thực rõ ràng trong thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành năm 1982 tại Paris. Về sau đến năm 2008, Nicolas Gisin đã lặp lại thí nghiệm tại Thụy Sĩ với phương tiện hiện đại, chính xác hơn, đảm bảo rằng hiện tượng liên kết lượng tử là có thật và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong tin học nhất là smartphone.

Nicolas Gisin của Đại học Geneva
Nhận thức vô sở trụ của Tô Thức (1037-1101) thể hiện qua câu Thiên lý cộng thuyền quyên còn rất mơ hồ. Ngay cả Werner Heisenberg khi đưa ra nguyên lý bất định năm 1927, mặc dù đã nhận ra tính vô sở trụ của hạt electron, nhưng cũng chưa hình dung hết ý nghĩa cực kỳ quan trọng của nguyên lý bất định, không phải chỉ có vị trí của hạt electron là bất định, mà tất cả mọi đặc trưng của tất cả hạt cơ bản (basic particles) và cả các cấu trúc nguyên tử, phân tử của chúng đều bất định. Còn nhận thức của con người ngày nay đã khá rõ ràng. Photon và electron bản chất là tánh không, là sóng tiềm năng và vô sở trụ. Khi chúng ở dạng sóng trong đường truyền, hay sóng wifi, 3G, 4G trong không gian thì chúng vô sở trụ (non locality), còn khi chúng được thiết bị kỹ thuật số nhận thức, nhận dạng (recognize, recognition) thì chúng trở thành hạt và xuất hiện ở vị trí nhất định (trên màn hình computer, laptop hoặc smartphone). Kỹ thuật số còn ứng dụng nguyên lý thay thế để biến chúng thành chữ viết, hình ảnh, video, âm thanh, màu sắc. Trong tương lai, còn có khả năng biến chúng thành hương thơm, thúi (khứu giác), hoặc chất vị (vị giác, cảm giác do lưỡi nếm) và thân thức (cảm giác do tiếp xúc thân thể).
Khi thực hiện được đầy đủ mọi chức năng của sinh vật, con người sẽ có khả năng gởi các cố thể vật chất đi xa bằng cách biến cố thể vật chất thành sóng tiềm năng và biến chúng trở lại thành cố thể vật chất ở tại cảnh giới mà con người muốn chúng đến mà không hề có sự di chuyển (bởi vì vô sở trụ, không gian không có thật), khoảng cách không gian vũ trụ không còn ý nghĩa.
Hoạt động này hiện nay còn là viễn tưởng, nhưng đã được con người hình dung qua video sau đây :

Vin Ti Và Máy Tính Lượng T – Quantum Teleportation And Computer

Tuy hiện nay khoa học chưa thực hiện được viễn tải lượng tử đối với một cố thể vật chất, nhưng theo kinh điển Phật pháp, các vị Phật và Bồ Tát có thể làm được dễ dàng. Và ngay trong thời đại ngày nay, một số nhà đặc dị công năng cũng làm được. Ví dụ Hầu Hi Quý có thể viễn tải một gói thuốc lá đi xa hàng ngàn cây số trong nháy mắt.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ
Trở lại với Tô Thức, ông mơ hồ cảm nhận hai con người ở hai nơi cách xa hàng ngàn dặm, vẫn có một vật chung cùng thấy được đồng thời, đó là Mặt trăng. Như vậy giữa hai người ắt có một mối liên lạc luôn luôn tồn tại. Còn con người ngày nay thì nhận thức được rõ ràng hơn rất nhiều, đúng là có một mối liên lạc luôn tồn tại, đó là liên kết lượng tử, giữa hai photon, giữa hai electron, giữa hai nguyên tử, giữa hai phân tử, giữa hai cố thể vật chất.
Năm 2012, với thí nghiệm tạo được liên kết lượng tử giữa 100.000 photon của Maria Chekhova của đại học Moscow càng khiến cho nhận thức của nhân loại tiến xa thêm một bậc nữa. Ý nghĩa triết học của thí nghiệm này là số lượng không có thật (non quantity). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau hoặc nhiều hơn nữa đến mức vô lượng vô biên, điều đó cho phép suy ra rằng bản ngã của cá thể là không có thật. Một trăm ngàn photon xuất hiện đồng thời tại một trăm ngàn vị trí khác nhau, mỗi photon không hoàn toàn giống các photon khác, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau, chẳng hạn vị trí khác nhau, số đo spin khác nhau. Như vậy một photon đã đồng thời biến thành 100.000 photon khác nhau.

Maria Vladimirovna Chekhova
Như vậy chúng ta có thể tin rằng 7 tỷ người trên quả địa cầu là 7 tỷ mạt-na thức khác nhau, nhưng xuất phát chỉ là cùng một a-lại-da thức. Không gian vũ trụ, địa cầu, các cảnh giới rất khác nhau trên địa cầu, thật ra chỉ là tưởng tượng, không phải là có thật, các cảnh giới chỉ là tưởng của bộ não của 7 tỷ mạt-na thức, trong đó có nhiều điểm giống nhau (từ đó cho là khách quan) và cũng có nhiều điểm khác nhau (từ đó cho là mỗi cá nhân đều có đặc điểm riêng do thông tin chứa trong các mạt-na thức khác nhau). Chúng ta có thể dùng tin học để dễ hình dung. Đại khái thì tất cả smartphone đều giống nhau, chúng đều có màn hình, bộ vi xử lý, loa, micro, camera, ổ đĩa cứng, bộ nhớ RAM, hệ điều hành (operation system). Nhưng chúng cũng có những điểm khác nhau như : dung lượng các bộ nhớ, tốc độ xử lý, độ nét của màn hình, độ phân giải, khẩu độ của camera, hệ điều hành có thể khác nhau như IOS của Iphone, hệ điều hành Android, hệ điều hành Windows phone…Ngoài ra các softwares (app hay ứng dụng – applications) của chúng cũng khác nhau.
Tóm lại Tô Thức chỉ mơ hồ cảm nhận giữa hai con người sống ở hai nơi khác nhau, có một mối dây liên hệ là Mặt trăng. Hai người cùng nhìn Mặt trăng thì cảm tưởng như tiếp xúc được với nhau. Còn con người ngày nay thì sao ? Chẳng hạn một người ở Luân Đôn, một người ở Hà Nội, hoàn toàn có thể nhìn thấy nhau thật rõ ràng, nghe rõ tiếng nói của nhau, trao đổi thông tin cho nhau thật tường tận bằng lời thoại, văn bản, hình ảnh, video…Và đến một lúc nào đó trong tương lai khi con người thực hiện được viễn tải lượng tử, một con người thật bằng xương bằng thịt có thể xuất hiện tức thời ở bất cứ nơi nào muốn tới chỉ trong nháy mắt, giống như trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không có thể đi tới bất cứ cảnh giới nào chỉ trong chốc lát.
Đó chính là ý nghĩa của Vô Sở Trụ, một nhận thức của Phật pháp, nay đã được khoa học ứng dụng rất phổ biến với smartphone.
Với một chiếc smartphone màn hình khá lớn, cỡ 5.5 inches, chúng ta có thể đọc báo thoải mái trên mạng internet, không tùy thuộc đang ở đâu trên địa cầu, chỉ cần có điều kiện là truy cập được internet, đó chính là ứng dụng của vô sở trụ mà ngày xưa Tô Thức lờ mờ cảm thấy.
Ứng dụng của Nhất thiết pháp vô tự tính
Cuộc tranh luận về một điểm mấu chốt vô cùng cơ bản giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới Niels Bohr và Albert Einstein, cuối cùng xác nhận một điều là Tất cả các pháp, các sự vật đều không có tự tính. Các đặc trưng, đặc điểm của vật chỉ là do con người tưởng tượng, gán ghép cho vật.
Nguyên lý này ngày nay được ứng dụng rất nhiều trong tin học. Như chúng ta đã biết, tin học dựa trên kỹ thuật số (digital), biến tất cả mọi đặc điểm thành con số, và người ta sử dụng hệ đếm nhị phân cho thật giản tiện. Hệ đếm này chỉ có hai cơ số 0 và 1. Số 0 ký hiệu cho mạch điện ngắt (không có dòng điện), số 1 ký hiệu cho mạch điện đóng (có dòng điện). Người ta quy ước tùy tiện mỗi chữ cái Latin, mỗi ký hiệu (symbol) trong đó kể cả chữ số Ả rập là một con số nhất định. Mỗi màu sắc trong hàng triệu màu khác nhau cũng là một con số. Mỗi mức độ sáng tối của ánh sáng, mỗi cung bậc âm nhạc, âm thanh đều tương ứng với những con số nhất định. Tất cả mọi tính chất, đặc điểm đều qui thành con số và được lưu trữ trong bộ nhớ dưới dạng ký hiệu số nhị phân, và khi xử lý, giải mã để thể hiện qua bộ vi xử lý bằng dòng điện cũng dựa trên quy tắc số nhị phân.
Như vậy trong bộ nhớ kỹ thuật số, tất cả chỉ là hàng hàng lớp lớp những con số, nó không có bất cứ đặc tính, đặc điểm gì cả. Chỉ khi qua bộ vi xử lý, gán ghép cho mỗi con số một đặc điểm theo qui ước và khi hiển thị trên màn hình hoặc phát ra thành sóng âm thanh, thì muôn vàn con số ấy sẽ biến thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh mà chúng ta thấy quen thuộc và hiểu được.
Bộ vi xử lý trong máy tính hoặc smartphone, đóng vai trò giống như bộ não con người. Trước khi qua bộ não, pháp hay vật, cụ thể là photon, electron, các hạt cơ bản, không có bất cứ đặc điểm gì, chúng chỉ là sóng tiềm năng mà thôi. Chính bộ não cùng với ký ức của nó gán ghép các đặc tính, đặc trưng này nọ cho các hạt cơ bản, rồi hình thành các đặc tính của nguyên tử, phân tử và các cố thể vật chất cùng với vô số khái niệm khác.
Thế thì trong thế giới đời thường và thế giới tin học có cùng một điểm chung, đó là bản chất thực thể của tất cả các pháp, tất cả mọi hiện tượng chỉ là tánh không, không có bất cứ đặc điểm, đặc tính, tính chất gì cả, nhưng cái không (sunyata = emptiness) cơ bản đó có dạng sóng tiềm năng, vô hình, và có chứa thông tin dưới dạng mật mã. Trong bộ nhớ tin học (đĩa cứng = hard disk, thẻ nhớ = memory card) thì chúng ta biết rõ, đó là những dãy số nhị phân chỉ có hai ký hiệu 0 và 1, chúng là vô số những con số đặt kế bên nhau. Còn trong bộ vi xử lý (processor) thì chúng là những mạch điện cực kỳ nhỏ nằm sát nhau, ngày nay các mạch điện chỉ còn cách nhau khoảng 10 nanometres, chúng rung động với tần số hàng tỷ lần trong một giây. Ví dụ :

Con chip Core i7 6700 của hãng Intel có tần số dao động 3 tỷ 400 triệu Hertz một giây (3.4Ghz)
Với tốc độ xử lý cao như vậy, mỗi giây nó có thể gán ghép rất nhiều đặc điểm, khiến cho hằng hà sa số con số nhị phân vốn vô nghĩa, trở thành có ý nghĩa quen thuộc với con người, chẳng hạn văn bản, hình ảnh, video, âm thanh. Nếu không có bộ vi xử lý và hệ thống phụ trợ, thẻ nhớ chẳng có nghĩa lý gì cả. Tương tự như vậy, nếu không có bộ não và các cơ quan chức năng trong cơ thể, thế giới địa cầu, hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ, chỉ là sóng tiềm năng phi vật chất, là tánh không, chẳng có gì cả.
Các nhà khoa học kỹ thuật hiện đại có thể không biết tới Phật pháp của Thích Ca, nhưng càng đi sâu nghiên cứu vật lý học, họ càng phát hiện lại nhiều điều mà Phật pháp đã nêu rõ trong kinh điển. Chẳng hạn nếu Einstein có đọc và hiểu kinh Hoa Nghiêm thì không cần phải mất 30 năm tranh luận (1935- 1955) với Niels Bohr, để rồi cuối cùng cũng thua.
Ứng dụng của Tam Pháp Ấn (vô thường, khổ, vô ngã) trong thế giới hiện đại
Thế giới hiện đại là thời kỳ khoa học phát triển đạt trình độ cao, đặc biệt tin học rất phát triển, thông tin giữa các cá nhân trên toàn thế giới rất dễ dàng thuận tiện qua mạng internet, nhanh cấp kỳ và rẻ tiền, thuận lợi nhất là qua các app OTT (Over The Top) như Viber, Zalo, Whatsapp.
Trong thế giới hiện đại, kinh tế kỹ thuật sản xuất phát triển, sản phẩm hàng hóa dư thừa, cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty và giữa các quốc gia.
Trên qui mô quốc gia, không chỉ có cạnh tranh kinh tế, mà sự tranh giành còn quyết liệt hơn về mặt sức mạnh quân sự và vũ khí để tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, không gian sống và hoạt động.
Đối với các nền dân chủ truyền thống như Tây Âu và Mỹ, tự do cá nhân là quan trọng, họ đề cao nhân quyền, họ có chế độ bầu cử dân chủ để chọn lựa người cầm quyền, đứng đầu là tổng thống, bên dưới là các nghị sĩ hay đại biểu của quốc hội, xây dựng hiến pháp và luật lệ rõ ràng để điều hành đất nước theo cơ chế tam quyền phân lập bao gồm : cơ quan lập pháp là Quốc hội (Parliament), cơ quan hành pháp là Chính phủ (Government), cơ quan tư pháp là Tòa án (Court) để giải quyết vấn đề giữa các cá nhân hay phán quyết một điều gì đó có hợp pháp (legal) hay không.
Mỹ là quốc gia rất coi trọng dân chủ, tự do, đồng thời là nước có nền kinh tế phát triển đứng đầu thế giới, cũng là nước có sức mạnh quân sự đứng đầu thế giới. Kể từ năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ nghiễm nhiên trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới. Mỹ cũng là nước có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất, là nước duy nhất cho đến nay đưa được người lên Mặt trăng vào năm 1969, là nước đưa phi thuyền thám hiểm không gian đi xa địa cầu nhất. (Phi thuyền Voyager 1 phóng đi ngày 5-9-1977 đến ngày 25-8-2013, sau 36 năm du hành, với dữ liệu thông tin nhận được từ phi thuyền, người ta đoán rằng nó đã rời khỏi hệ Mặt trời, đi vào vùng không gian liên hành tinh, và cách xa địa cầu 19 tỷ km).
Những thành quả mà nước Mỹ đóng góp cho nhân loại là không thể phủ nhận, chẳng hạn Mỹ là nơi xuất phát của ngành hàng không thế giới, hai anh em Orville Wright (1871-1948) và Wilbur Wright (1867- 1912) là những người đầu tiên chế tạo được máy bay, bay thử thành công năm 1903, lần bay cuối cùng trong đợt thí nghiệm đó do Wilbur thực hiện, bay được 59 giây, xa 296 m). Sau đó ngành công nghiệp sản xuất máy bay của Mỹ phát triển mạnh mẽ, hãng Boeing thành lập năm 1916, đến nay vẫn được coi là công ty sản xuất máy bay lớn nhất thế giới. Mỹ cũng là nơi có thung lũng silicon, chiếc nôi của ngành tin học, máy tính, với hệ điều hành Windows, của hãng Microsoft do tỷ phú Bill Gates (sinh năm 1955) sáng lập, phổ biến khắp thế giới. Ngoài ra Google, Facebook, là những tập đoàn tin học lừng danh, có ảnh hưởng rất lớn trên thế giới. Mỹ cũng là quốc gia có nhiều người đoạt giải Nobel, một giải thưởng danh giá nhất thế giới. Theo tổng kết đến năm 2014, số người Mỹ đoạt giải Nobel là 359 người trong tổng số 876 cá nhân đoạt giải đến thời điểm đó trên toàn thế giới, chiếm 40 % toàn cầu.
Nhưng nước Mỹ cũng không thể tránh khỏi luật vô thường, một trong tam pháp ấn của PG. Nước Mỹ không thể giữ mãi địa vị độc tôn. Sau khi thắng trận trong Thế Chiến thứ hai, đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, nước Mỹ lên như diều gặp gió, trở thành cường quốc đứng đầu thế giới với sức mạnh toàn diện, khoa học kỹ thuật, tài chính tiền tệ, kinh tế, quân sự.
Tuy vậy, Mỹ đã không thể giành chiến thắng trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) mặc dù có ưu thế về vũ khí và quân sự với sự tham gia của quân đội một số nước trong Liên Hiệp Quốc, bởi vì trước một lực lượng quân đội đông đảo với 800 ngàn quân và chấp nhận gian khổ của TQ, có Liên Xô hậu thuẫn, dù trang bị vũ khí kém hơn, nên cuộc chiến đã bất phân thắng bại, rốt cuộc hai bên tạm thời đình chiến lấy làng Bàn Môn Điếm làm ranh giới cho tới nay.
Đến chiến tranh Việt Nam 1960-1975, Mỹ đã can thiệp mạnh mẽ trong khoảng 10 năm (1965-1975) nhưng cuối cùng thất bại, rút lui, để cho Miền Bắc thống nhất cả nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Dù cho có vũ khí tối tân, quân lực hùng hậu nhưng Mỹ vẫn thất bại.
Năm 2001, Mỹ tấn công Taliban tại Afghanistan, tuy đánh đổ được chính quyền Taliban, nhưng không bình định được, cho đến nay lực lượng Taliban vẫn còn hoạt động.
Năm 2003 Mỹ tấn công Iraq lấy cớ chính quyền của nước này do Saddam Hussein lãnh đạo, sở hữu vũ hủy diệt hàng loạt, nhưng lý do đó chỉ là cái cớ không có thật, tuy diệt được Hussein nhưng không bình định nổi Iraq, khiến tình hình nước này vô cùng hỗn loạn, những vụ đánh bom tự sát xảy ra liên miên, dân chúng chết chóc, khổ sở lầm than. Ngày 29-06-2014 bọn IS đã đánh chiếm một phần Iraq và Syria.
Ngày 19-03-2011 Mỹ, Anh, Pháp cùng tấn công nước Libya của chính quyền Moammar Gadhafi lấy lý do chính quyền này thảm sát thường dân, nhưng đó chỉ là lý do không xác đáng. Họ tiêu diệt được Gadhafi, nhưng Libya rơi vào hỗn loạn, dân chúng không được bất cứ lợi lộc gì, chỉ có khổ sở lầm than do các nhóm phiến quân tranh giành quyền lực.
Ngày 26-01-2011, nổi lên phong trào được mệnh danh là Mùa Xuân Ả Rập bắt đầu từ cuối năm 2010 nhằm lật đổ một số chính phủ bị coi là độc tài tham nhũng, Mỹ và các nước phương tây rất ủng hộ phong trào này, Mỹ ủng hộ các đám biểu tình bị chính quyền đàn áp, sau đó ủng hộ các nhóm phiến quân nổi dậy, nhằm lật đổ chính quyền của tổng thống Bashar al-Assad của nước Syria. Cuộc chiến tranh kéo dài gây chết chóc đau thương cho người dân mà chưa lật đổ được Assad. Ngày 30-09-2015 nước Nga của tổng thống Putin can thiệp, giúp chính quyền Assad lật ngược thế cờ, khiến cho tham vọng lật đổ chính quyền Assad của Mỹ ngày càng xa vời.
Cuộc cách mạng Euromaidan diễn ra vào tháng 2-2014 do nhóm đối lập với chính phủ Yanukovych (người đã đắc cử tổng thống Ucraina -Україна- năm 2010) tiến hành với sự ủng hộ của Mỹ và phương tây, đã lật đổ thành công chính phủ Yanukovych, thành lập một chính phủ mới do tổng thống Petro Poroshenko lãnh đạo. Những người gốc Nga tại Ucraina đã phản ứng với sự trợ giúp của nước Nga dưới sự lãnh đạo của tổng thống Putin, chống lại chính quyền mới của Kiev, họ đã tổ chức trưng cầu dân ý ngày 16-03-2014 và theo kết quả cuộc trưng cầu, quyết định sáp nhập lãnh thổ Crimea (Крым) vào nước Nga. Ngoài ra những người thân Nga tại hai bang miền đông Ucraina là Donetsk và Luhansk đã nổi dậy vũ trang chống lại chính quyền mới tại Kiev với sự trợ giúp của Nga, khiến cho Ucraina lâm vào nội chiến, làm cho đời sống của nhân dân cực kỳ tồi tệ.
Sau khi điểm qua một số nét chính của tình hình chính trị thế giới trong những năm gần đây, chúng ta thấy điều gì ? Chúng ta thấy rằng siêu cường số một thế giới Hoa Kỳ đã hết thời, họ không thể thoát khỏi luật vô thường. Họ can thiệp vào đâu cũng không đem lại kết quả gì tốt đẹp, trái lại càng làm cho tình hình tồi tệ thêm rất nhiều. Những cuộc can thiệp vào Afghanistan và Iraq khiến chính quyền Mỹ tốn nhiều tiền của và hao tâm tổn trí, khiến cho sức mạnh Mỹ càng mau cạn kiệt. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tiêu biểu là Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản, tiếp theo sau là một số công ty khác, càng khiến Mỹ sa sút.
Giờ đây sức mạnh kinh tế của Mỹ bị TQ thách thức và vượt qua. Năm 2014 đánh dấu GDP của Mỹ tính theo ngang giá sức mua (PPP= Purchasing Power Parity) đã bị TQ vượt qua, ngày nay ngành công nghiệp sản xuất và tiêu thụ xe hơi Mỹ sau 100 năm thống trị, bắt đầu với dây chuyền sản xuất xe hơi của Henry Fort, khởi nghiệp năm 1914, đến nay cũng đã bị TQ vượt qua. Số người sử dụng internet, số người sử dụng smartphone, thương mại điện tử, các ngân hàng lớn nhất thế giới, cán cân thương mại giữa hai quốc gia…đều nghiêng về phía TQ.
Sức mạnh quân sự của Mỹ tiêu biểu là 10 chiếc hàng không mẫu hạm, với nhiều tàu chiến, tàu ngầm, máy bay, xe tăng, tên lửa hành trình, hiện cũng bị Nga và TQ thách thức. Cụ thể là năm 2014, Nga can thiệp vào Ucraina, sáp nhập Crimea vào lãnh thổ Nga, bất chấp việc Mỹ và phương tây trừng phạt kinh tế; tháng 9-2015, Nga đã can thiệp vào Syria, trực tiếp giúp chính quyền của Assad chống lại bọn ISIS (Islamic State in Iraq and Syria) gọi tắt là IS và các nhóm phiến quân do Mỹ và các nước phương tây ủng hộ. Còn ở Biển Đông và biển Hoa Đông, TQ cũng thách thức Mỹ với việc lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ = Air Defense Identification Zone) tại biển Hoa Đông trùng lấn với vùng phòng không của Nhật và thường xuyên cho tàu hải cảnh và đôi khi cả máy bay xâm nhập đảo Sensaku/Điếu Ngư mà Nhật và TQ đều tuyên bố chủ quyền, bất chấp Nhật là đồng minh thân thiết của Mỹ và có hiệp ước an ninh hỗ tương. Ngoài ra TQ còn xây dựng 7 đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa có mục đích kiểm soát Biển Đông. Đến tháng 7-2015, TQ đã bồi đắp thêm tại các đá của Trường Sa như sau :
Cuarteron Reef (Đá Châu Viên华阳礁 Hoa Dương Tiều) 231 100 m2
Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập永暑礁 Vĩnh Thử Tiều) 2470 000 m2
Gaven Reef (đá Ga ven và đá Lạc南薰 礁 và 小南薰礁 Nam Huân Tiều và Tiểu Nam Huân Tiều)
136 000 m2
Hughes Reef (Đá Tư Nghĩa 东门礁 Đông Môn Tiều) 76 000 m2
Johnson South Reef (Đá Gạc Ma赤瓜礁 Xích Qua Tiều) 109 000 m2
Mischief Reef (Đá Vành Khăn美济礁 Mỹ Tế Tiều) 5 580 000 m2
Subi Reef (Đá Subi渚碧礁 Chữ Bích Tiều) 3 950 000 m2
Tổng cộng diện tích bồi đắp : 12 552 100 m2

Việc Mỹ can thiệp lật thành công các nhà độc tài Saddam Hussein của Iraq và Moammar Gadhafi của Libya và mưu toan lật đổ Al- Assad của Syria nhưng bất thành, khiến cho chính quyền Bắc Triều Tiên lo lắng. Họ không hoàn toàn tin tưởng ở sự bảo vệ của TQ, nên dốc sức chế tạo bom nguyên tử để tự vệ, họ cũng cố gắng chế tạo các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân có thể phóng đi từ mặt đất hoặc tàu ngầm để răn đe Mỹ tấn công. Từ thời của Kim Yong Il (Kim Chính Nhật), Bắc Triều Tiên đã hai lần thử bom hạt nhân vào năm 2006 và 2009. Đến thời con là Kim Yong Un (Kim Chính Ân), hoạt động này càng được đẩy mạnh với ba lần thử hạt nhân, một lần vào năm 2013, và hai lần trong năm 2016.
Liên Hiệp Quốc nhiều lần ra nghị quyết trừng phạt Bắc Triều Tiên nhưng không hiệu quả. Mỹ muốn tấn công tiêu diệt các cơ sở hạt nhân của nước này nhưng chưa dám thực hiện vì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, Bắc Triều Tiên có lực lượng quân sự và vũ khí rất hùng hậu sau bao năm chuẩn bị, lực lượng pháo binh rất mạnh có thể tấn công gây thiệt hại nặng cho thủ đô Seoul của Hàn Quốc, các tên lửa có thể bắn phá các căn cứ quân sự của Mỹ tại Hàn Quốc, Nhật Bản và đảo Guam. Bắc Triều Tiên cũng lớn tiếng đe dọa đánh chìm hàng không mẫu hạm của Mỹ mặc dù khả năng thực tế chưa có gì chứng thực.
Mỹ hay tiến hành các hoạt động lật đổ chính quyền các nước khác, những chính quyền mà họ cho rằng độc tài, tàn bạo, không dân chủ. Chính những hoạt động đó khiến cho những nước nhỏ hoặc trung bình như Bắc Triều Tiên, Iran, cảm thấy bất an, họ muốn có vũ khí hạt nhân để răn đe, chủ yếu là để tự vệ. Thế rồi chính Mỹ lại cảm thấy bất an khi Bắc Triều Tiên chế tạo được bom hạt nhân và tên lửa tầm xa có thể bắn tới các căn cứ của Mỹ tại Hàn Quốc, Nhật Bản, đảo Guam và lãnh thổ Mỹ. Mỹ và Hàn Quốc năm nào cũng tập trận ngoài khơi và trên lãnh thổ Hàn Quốc kéo dài cả hai tháng gọi là Đại Bàng Non (Foal Eagle) nhằm răn đe Triều Tiên, còn nước này thì lớn tiếng đe dọa sẽ tấn công hạt nhân vào lãnh thổ Mỹ nếu bị tấn công quân sự. Sự tiến bộ về công nghệ quân sự của Triều Tiên khiến Mỹ ngày càng bất an. Hai nước cứ ở trong vòng luẩn quẩn mê muội. Thật ra không nước nào dám tấn công trước, bởi vì hậu quả sẽ rất thảm khốc. Nhưng tình hình cứ căng thẳng giả tạo để cho truyền thông có dịp đưa tin giật gân.
Bắc Triều Tiên trở thành vấn đề nan giải của Mỹ. Sức mạnh quân sự Mỹ với 10 chiếc hàng không mẫu hạm ngày nay có vẻ đã lỗi thời, bởi vì các nước như Nga, TQ, và ngay cả nước nhỏ như Bắc Triều Tiên cũng rêu rao sở hữu những tên lửa có khả năng đánh chìm hàng không mẫu hạm ở khoảng cách rất xa, mà người ta gọi là chống tiếp cận, chống xâm nhập (Anti-Access/Area Denial– A2/AD). Thiếu tướng Bành Quang Khiêm, Phó chủ tịch Ủy ban chính sách an ninh Trung Quốc tự tin tuyên bố tại Diễn đàn Hòa bình thế giới lần thứ 5 do Trung Quốc tổ chức tại Hong Kong, rằng Mỹ có 10 tàu sân bay, nhưng cho dù có đưa 11 tàu sân bay đến Biển Đông thì cũng “không chiếc nào trở về được” nếu xảy ra chiến sự. Tuyên bố của phía TQ không phải là hù dọa suông, bởi vì họ có những tên lửa mệnh danh là sát thủ diệt hạm DF-21D có khả năng đánh chìm hàng không mẫu hạm ở khoảng cách xa 1500 km, họ có loại vũ khí siêu thanh bay với vận tốc gấp 10 lần âm thanh, không thể đánh chặn. Ngoài ra họ còn có khả năng phá hỏng các vệ tinh trong hệ thống định vị toàn cầu GPS, nên những vũ khí tối tân của Mỹ như tên lửa hành trình không chắc phát huy được tác dụng nếu xảy ra chiến tranh toàn diện.
Thực tế đã chứng minh rõ ràng không thể chối cãi rằng vũ khí quy ước tối tân của Mỹ chỉ có thể thắng những nước nhỏ đơn độc như Afghanistan, Iraq, Libya…còn những nước nhỏ mà có nước lớn hậu thuẫn như Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Syria, Mỹ không thể thắng.
Có rất nhiều chỉ dấu cho thấy nền truyền thông tự do và chế độ dân chủ của Mỹ là có vấn đề, không còn đáng tin cậy, bởi vì ai muốn nói sao cũng được, không ai kiểm duyệt :
Thứ nhất, họ nói kinh tế tài chính TQ sắp sụp đổ đến nơi, và họ đã nói như vậy suốt hơn 20 năm qua, với lý do một đảng độc tài toàn trị, tham nhũng, thiếu dân chủ không thể quản lý nền kinh tế hiệu quả, và nợ trong xã hội tăng lên quá nhanh và quá cao, nhưng đến nay TQ vẫn chưa sụp đổ.
Thứ hai, trong suốt cuộc bầu cử tổng thống vừa qua ở Mỹ, truyền thông luôn dự đoán đến phút chót rằng Bà Hillary Clinton sẽ thắng cử, nhưng kết quả ông Donald Trump đắc cử. Thực tế số phiếu phổ thông của Bà Hillary nhiều hơn Ông Trump 3 triệu phiếu nhưng Ông Trump vẫn đắc cử với số phiếu đại cử tri 301 phiếu, Bà Hillary chỉ được 163 phiếu, các ứng cử viên khác được 6 phiếu. Đó quả thật là một chế độ bầu cử bất cập nhưng không thể sửa đổi được.
Thứ ba, những tin tức trái với thực tế vẫn được đăng tải rầm rộ trên báo chí, như vụ việc Mỹ điều hàng không mẫu hạm Carl Vinson áp sát vùng biển Triều Tiên sẵn sàng tấn công, trong khi thực tế nó ở cách xa Triều Tiên 5600km, và Mỹ sẽ không dám khinh suất mà tấn công Triều Tiên.
Thứ tư, những vụ xả súng bừa bãi tại Mỹ xảy ra rất nhiều, nhưng chính quyền không thể nào hạn chế việc sử dụng súng đạn. Đó là một điểm trừ của nền dân chủ Mỹ.

Không phải chỉ có truyền thông của Mỹ không thể tin cậy hoàn toàn, mà toàn bộ nền truyền thông thế giới đều không thể hoàn toàn tin cậy, bởi một lẽ là nguyên lý bất định, còn trong kinh điển Phật giáo từ lâu đã nói rằng : Tất cả mọi lời nói, mọi mô tả đều không có nghĩa thật. Lưỡng tính sóng hạt của hạt electron chính là tiêu biểu cho nguyên lý bất định. Chúng ta không thể khẳng định electron chỉ là sóng hay chỉ là hạt, hay vừa là sóng vừa là hạt, hoặc không phải sóng cũng không phải hạt. Khẳng định thế nào cũng không đúng, giống như Thiền sư Lâm Tế nói về Tứ Liệu Giản 四料簡 (thẻ tre có chứa 4 thứ).

有時奪人不奪境
有時奪境不奪人
有時人境俱奪
有時人境俱不奪
Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh
Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân
Hữu thời nhân cảnh câu đoạt
Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt
Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh
Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân
Có khi nhân cảnh đều đoạt
Có khi nhân cảnh đều không đoạt.

Đoạt ở đây có nghĩa là buông bỏ

Bài này đúng là nói về nguyên lý bất định mà tiêu biểu là hạt electron

Nhân là người quan sát, cảnh là hạt electron

Người quan sát cũng là tâm

Câu thứ nhất hạt electron có vẻ như độc lập khách quan đối với con người

Câu thứ hai ở trạng thái sóng thì không có hạt electron, chỉ có tâm (Citta hay Alaya)

Câu thứ ba là tánh không, người và cảnh đều là không

Câu thứ tư là thế giới đời thường, có người quan sát và có hạt electron như là chủ thể và đối tượng riêng biệt

Bây giờ chúng ta xét tới những nhận thức sâu xa của Phật giáo về vũ trụ quan, thế giới quan, có thể ứng dụng để giải quyết các vấn đề của thế giới hiện đại như thế nào ?
Chúng ta biết rằng PG có Tam Pháp Ấn : Vô thường, Khổ, Vô ngã.
Vô thường là chuyện vật đổi sao dời trên thế gian, mọi cảnh giới đều luôn luôn biến đổi. Thế kỷ 19, các đế quốc Anh và Pháp thống trị thế giới. Qua thế kỷ 20, Mỹ và Liên Xô đối đầu trong Chiến tranh lạnh. Cuối thế kỷ 20 Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Qua thế kỷ 21, TQ vươn lên thành siêu cường mới, nhiều phương diện đã vượt qua Mỹ. Nước Nga phục hồi địa vị cường quốc mặc dù chỉ về mặt quân sự. Nếu hiểu đó là lẽ tự nhiên, không quá cố chấp, không quá bảo thủ, thì thế giới có thể tránh được những cuộc chiến tranh gây khổ cho dân chúng.
Chính vì vô thường nên các nước từng là siêu cường thế giới cảm thấy khổ, không đành lòng để nước khác vượt qua, nên tìm cách ngăn cản, do đó hay xảy ra chiến tranh. Nguyên do vì sự chấp ngã. Cá nhân của mỗi người có cái ta (ngã). Một nước cũng có cái ngã gọi là thể diện quốc gia, cái đó có khi còn lớn hơn cái ta riêng, nên nhiều khi người ta chấp nhận hi sinh tính mạng để bảo vệ màu cờ sắc áo của dân tộc, quốc gia. Đã có ngã thì ắt có ngã sở, đó là danh dự của ta, tài sản của ta, tổ quốc, giang sơn, biển đảo của ta. Theo Phật pháp, chấp ngã là một khái niệm sai lầm, mê muội, và là đầu mối của đau khổ. Từ chấp ngã dẫn đến khái niệm có những thứ của ta, và mâu thuẫn với người khác, đó là đầu mối của tranh chấp và chiến tranh. Vấn đề tranh giành biển đảo giữa các quốc gia hiện nay chính là biểu hiện mê lầm của chấp ngã. Nếu cứ khăng khăng cố chấp một cái gì đó cố định thì là mê muội và khổ, dù đó là tiền tài, danh vọng, địa vị, nhan sắc, giang sơn, biển đảo, tổ quốc, dân tộc.
Nguyên lý bất định cho chúng ta biết rằng tuy cảnh thế gian có vẻ rất hiện thực, vững chắc, nhưng không phải hoàn toàn chân thực, và những lời dạy của Đức Phật về tánh không, vô ngã, tuy có vẻ xa xôi, trái với cảm giác thường nghiệm, nhưng không phải là không có sự thật trong đó. Nếu con người, nhất là các chính phủ hiểu Phật pháp, cũng tức là hiểu những nguyên lý phổ quát nhất của vũ trụ, chẳng hạn nguyên lý bất định, nguyên lý thay thế, thì chiến tranh loạn lạc sẽ ít có điều kiện xảy ra.
Nguyên lý thay thế được ứng dụng rất lớn trong tin học hiện đại, cũng là một nguyên lý cơ bản của vũ trụ vạn vật. Trong thí nghiệm hai khe hở, các nhà vật lý học vô cùng ngạc nhiên và không thể hiểu nổi tại sao hạt electron lại biết phân biệt khi nào có người hay thiết bị quan sát, khi nào không. Thật ra điều đó rất dễ hiểu, Phật pháp đã giải thích rất rõ ràng, đó là hạt electron không có tự tính, tức không có sẵn bất cứ đặc trưng, đặc điểm gì, chính người quan sát hay thiết bị cảm ứng đã gán các đặc điểm cho chúng giống y như trong tin học, chỉ khác ở chỗ vật thể trong không gian phức tạp hơn rất nhiều bởi vì sự kiện diễn ra trong không gian 3 chiều. Điều đó có nghĩa là cuốn phim khi phóng hiện ra không gian 3 chiều với hiệu ứng đầy đủ của 8 thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, thân thể tiếp xúc, mạt-na thức, a-lại-da thức) thì sẽ thành cuộc sống đời thường của thế gian. Vấn về này khoa học ngày nay đã bắt đầu hiểu được qua video clip sau :
Vạn Pháp Duy Thức
Nếu mọi người trên thế giới hiểu biết Phật pháp, cũng tức là hiểu những nguyên lý cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật và hành xử theo những nguyên tắc đó thì trong gia đình, cho tới ngoài xã hội và trên bình diện quốc gia, sẽ tránh được rất nhiều tranh giành, xung đột, chiến tranh, loạn lạc, người ta sẵn lòng hòa giải hơn. Cho dù đại bộ phận nhân loại không hiểu và không theo những nguyên tắc đó, những người hiểu và hành xử theo những nguyên tắc đó vẫn có thể không nhất thiết tùy thuộc vào số đông, hay tùy thuộc vào người khác, bởi vì mọi cảnh giới đều là do tâm tạo, nên tâm bình an sẽ dẫn dắt đến thế giới bình an, không nhất thiết phải ở tại thế gian để tranh giành những không gian sống nhỏ hẹp, tài nguyên khan hiếm, họ có thể đến các cõi trời an ổn hơn, hoặc đến thế giới tây phương cực lạc của Phật A Di Đà chẳng hạn.
Pháp giới bình đẳng có nghĩa là cõi thế gian, cõi trời, hay cõi tây phương cực lạc đều là những cõi giới tưởng tượng do tâm tạo theo duyên nghiệp và theo nguyên lý thay thế. Chính vì tất cả các pháp đều không có tự tính, chính tâm niệm và 8 thức của con người gán ghép mọi đặc điểm, đặc trưng cho vật, nên kinh điển PG đã nói rất rõ ràng rằng : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to ỨNG DỤNG CỦA PHẬT PHÁP TRONG ĐỜI THƯỜNG

  1. Phi Long nói:

    Cháu đang định làm video trên youtube cho nước ngoài.
    Đang nghiên cứu bài này: http://www.collective-evolution.com/2016/06/17/quantum-experiment-shows-how-the-present-can-change-the-past-thats-not-all/
    Suy nghĩ quán chiếu một hồi lại tìm trang của bác đọc.
    Chúc bác luôn khỏe mạnh và có những bài viết hay ạ.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s