BÁT NHÃ TÂM KINH NÓI LÊN NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH

Những người quan tâm tới khoa học, nhất là vật lý lượng tử đều biết qua nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heisenberg (1901-1976) phát biểu lần đầu tiên năm 1927. Phát biểu như sau :

It is impossible to determine both position and momentum of an electron simultaneously.
If one quantity is known then the determination of the other quantity will become impossible.

Không thể xác định được cả vị trí và động lượng (hoặc xung lượng) của một hạt electron vào cùng một lúc. Nếu biết được một đại lượng thì không thể xác định được đại lượng kia.

Ý nghĩa khoa học của nguyên lý bất định chỉ đề cập cụ thể tới hạt electron và nêu lên rằng không thể biết được vị trí và động lượng của hạt electron cùng một lúc, nếu xác định được vị trí tức là hạt electron ở hình thái vật chất, thì không thể biết được động lượng của nó. Tại sao không thể xác định được động lượng ? Bởi vì nó xuất hiện đột ngột, không biết từ đâu đến, không biết được quãng đường nó đi là bao xa với vận tốc là bao nhiêu. Còn khi xác định được động lượng, nghĩa là biết khối lượng tương đối và vận tốc nó di chuyển của nó, thì không thấy, không biết vị trí của nó ở chỗ nào. Điều đó có nghĩa là động lượng mà ta xác định được chỉ là ảo, không có thật.

Ý nghĩa khoa học của nguyên lý bất định xuất phát từ thực tế là các hạt cơ bản (elementary particles, hoặc fundamental particles) như photon, electron…có lưỡng tính sóng và hạt, đó là hai hình thái đối lập của vật chất.

Sóng là dạng tiềm năng của vật chất nhưng không phải là vật chất, đó có thể là năng lượng, như thế năng trọng trường hay thế năng hấp dẫn mà con người lợi dụng trong thủy điện, tức là dùng năng lượng của một khối lượng nước từ trên cao đổ xuống để biến thành dòng điện. Khối lượng nước vẫn y nguyên không mất tí nào, nhưng thế năng của khối nước đó biến thành dòng điện cho chúng ta sử dụng. Trong trường hợp này, năng lượng được coi như một hình thái khác của vật chất và có thể biến thành vật chất theo công thức nổi tiếng của Einstein :

Năng lượng E= Khối lượng M x Bình phương vận tốc ánh sáng C2

E tính bằng joule, M tính bằng kg, C tính bằng  m/s (mét trên giây)

Joule  là năng lượng thực hiện một công là 1 watt trong 1 giây. 1kwh (kilowatt/giờ) = 3.600.000 joules

Khi vật chất biến hoàn toàn thành năng lượng, nó sẽ giải phóng một năng lượng khổng lồ.

Ví dụ, 1kg vật chất, ví dụ 1 kg uranium nếu biến hoàn toàn thành năng lượng thì sẽ cho ra năng lượng bằng :

E =  1x (300.000.000)2  joule  = 9 x 1016 joules =  90 triệu tỷ joules = 25 tỷ kwh

Theo số liệu của điện lực Việt Nam, năm 2016, cả nước VN tiêu thụ điện (sản xuất và nhập khẩu) 183,28 tỷ kwh điện. Như vậy, chỉ cần 7,3kg vật chất nếu biến hoàn toàn thành năng lượng thì đủ cho cả nước sử dụng trong một năm với mức tiêu thụ tương đương như năm 2016.

Trong thực tế, các nhà máy điện nguyên tử chỉ có thể biến Uranium thành những nguyên tử khác với khối lượng nhỏ hơn và chỉ giải phóng được một phần rất nhỏ năng lượng nguyên tử, chứ không phải biến toàn bộ vật chất thành năng lượng.

Biểu đồ phản ứng phân hạch Uranium 235 Trong biểu đồ, một hạt neutron bắn vào, hạt

nhân U235 bị phân rã thành U236, Kripton và Barium

Do đó trong thực tế 1kg Uranium 235 đã được làm giàu, nghĩa là làm tăng tỉ lệ uranium 235 trong nguyên liệu thô từ 0.7%  lên từ 3% – 5%  mới có thể sử dụng trong lò phản ứng nguyên tử. Và 1kg 23592U (Uranium 235 với 92 proton) đã làm giàu giải phóng năng lượng khi  phân hạch hoàn toàn chỉ vào khoảng :

E= 7,217 x 1013  Joule = 7,217 x 10 ngàn tỷ joules = 20,047 triệu kwh

Nghĩa là chỉ giải phóng được số năng lượng thực tế chỉ bằng 1/1247 tức 0,8 phần ngàn so với biến đổi toàn bộ vật chất thành năng lượng. Tuy vậy số năng lượng phát ra cũng đã rất lớn.

Sóng có thể là thông tin, ví dụ sóng lan truyền trong mạng internet trong dây cáp đồng hoặc dây cáp quang, hay sóng wifi là thông tin, có thể biến thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh trên smartphone của chúng ta. Sóng não cũng là một dạng thông tin mà người nắm bắt được là có thần thông hay đặc dị công năng. Chẳng hạn Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý là những người có công năng đó. Trương Bảo Thắng không hề học vi tính, nhưng nếu bên cạnh anh có người rành vi tính thì anh ta có thể thao tác trên máy tính như người đã rất thông thạo.

Nếu năng lượng có thể biến thành vật chất theo công thức nổi tiếng của Einstein : E= mc2   thì thông tin cũng có thể biến thành vật chất, dù cho sóng thông tin cực kỳ vi tế hơn sóng năng lượng rất nhiều.

Hạt photon, hạt electron, các hạt cơ bản khác như quark up, quark down…đều có lưỡng tính sóng và hạt. Ở dạng sóng, chúng là một dạng sóng tiềm năng, phi vật chất, vô hình, trừu tượng, như phát biểu của Niels Bohr (1885-1962) : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Còn khi ở dạng hạt thì chúng là vật chất, chúng cấu tạo thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất như đất đai, sông núi, nhà cửa, xe cộ, sinh vật. Chúng ta cảm thấy vật chất cứng chắc, có tính bền vững, đó là do các hạt proton, neutron trong hạt nhân nguyên tử, rất bền vững, ổn định. Các hạt quark cấu tạo nên proton, neutron bị giam hãm gần như vĩnh viễn trong các hạt nầy, gọi là hiện tượng giam hãm màu (color confinement). Mô hình quark đã được các nhà vật lý Murray Gell-Mann và George Zweig đề xuất độc lập nhau năm 1964. Các quark được đưa ra như là một phần trong biểu đồ sắp xếp cho các hadron, và có rất ít chứng cứ về sự tồn tại của chúng cho đến tận năm 1968. Cả 6 loại quark, được gọi tên như là các hương vị (flavors) : lên (up), xuống (down), duyên (charm), lạ (strange), đỉnh (top), và đáy (bottom). Các quark lên (u) và quark xuống (d) có khối lượng nhỏ nhất trong các quark. Các quark nặng hơn nhanh chóng biến đổi sang các quark u và d thông qua một quá trình phân rã hạt: sự biến đổi từ một trạng thái khối lượng cao hơn sang trạng thái khối lượng thấp hơn. Vì điều này, các quark u và d nói chung là ổn định và thường gặp nhất trong vũ trụ, trong khi các quark duyên (c), lạ (s), đỉnh (t), và đáy (b) chỉ có thể được tạo ra trong va chạm năng lượng cao (như trong các tia vũ trụ và trong các máy gia tốc hạt) đều đã được quan sát trong các máy gia tốc thực nghiệm; quark cuối cùng được khám phá là quark đỉnh (t) được quan sát tại Fermilab năm 1995.

Tính bất định không phải chỉ có đối với hạt photon hay electron, mà có tính chất phổ quát đối với tất cả các hạt cơ bản, thậm chí đối với cả những cấu trúc vật chất cơ bản của chúng như hạt nhân nguyên tử, nguyên tử, phân tử.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Sâu xa hơn nữa, tính bất định còn thể hiện ở cả những cố thể vật chất như đồ vật, nhà cửa, núi sông, hành tinh, ngôi sao, thiên hà, vũ trụ.

Một số nhà khoa học lầm tưởng rằng tính bất định chỉ xảy ra ở quy mô lượng tử, cấp độ của các hạt cơ bản, bởi vì họ không biết hoặc không tin rằng ở cấp độ cố thể vật chất, tính bất định vẫn xảy ra mặc dù cơ hội để cho con người chứng kiến là khá hiếm hoi, nó gần như trái ngược với nhận thức thường nghiệm của con người.

Các nhà đặc dị công năng đã biểu diễn thực nghiệm cho chúng ta thấy rằng cố thể vật chất có thể biến mất ở chỗ này và xuất hiện ở chỗ khác có thể cách xa hàng ngàn km. Điều đó chứng tỏ tính bất định của cố thể vật chất. Điển hình là việc di chuyển gói thuốc lá đi xa 1600 km vào năm 1979 mà Hầu Hi Quý thực hiện, hoặc di chuyển cái bàn mạ vàng của tỷ phú Lý Gia Thành (Li Ka-shing) từ nhà ông tới văn phòng của ông cũng do Hầu Hi Quý thực hiện. Cái bàn biến mất khỏi nhà ông và xuất hiện ở văn phòng cũng của ông ngay lập tức.

Như vậy chúng ta thấy rằng tính bất định là một nguyên lý cơ bản và phổ quát của thế giới, nó hiện diện ở khắp mọi nơi chứ không riêng gì đối với các hạt cơ bản, không phải chỉ có trong lĩnh vực lượng tử. Từ thời xa xưa, trong kinh điển Phật giáo cũng đã đề cập đến tính bất định, cụ thể là Bát Nhã Tâm Kinh.

Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh 般若波羅蜜多心經 (phiên latinh từ Phạn ngữ : Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra nghĩa là Quyển Kinh về Tâm Giác Ngộ đến bờ bên kia. Bờ bên kia nghĩa là gì ? Ngày nay khoa học đã giúp chúng ta khám phá rất cụ thể, bờ bên kia tức là Miền tần số (Frequency Domain),  nơi chưa có sự phân biệt nhị nguyên giữa các cặp phạm trù mâu thuẫn như đúng sai, sáng tối, sóng hạt, âm dương v.v…hoặc một tên gọi khác là Trường Thống Nhất (Unified Field) Trong Duy Thức Học thì bờ bên kia là A-lại-da thức (Alaya). Còn bờ bên này là Mạt-na-thức (Manas).

Bờ bên kia hay Alaya chỉ là thông tin đơn thuần, chưa có bất cứ đặc điểm, đặc trưng gì, không có tính chất gì cả, thông tin đó có dạng sóng vô hình, phi vật chất, vì vậy khoa học gọi là miền tần số. Còn bờ bên này là thông tin đã được gán ghép các tính chất, đặc điểm để phân biệt, để hiển thị theo một chiều hướng quen thuộc nào đó của tập quán. Trong tin học, chúng ta thấy rất rõ :

Bờ bên kia chỉ là hàng hàng lớp lớp những con số nhị phân với hai ký hiệu 0 và 1. Ngay cả hai ký hiệu này cũng chỉ là sự gán ghép, cho là số 0 để chỉ trạng thái không có dòng điện, số 1 để chỉ trạng thái có dòng điện. Còn bờ bên này là trạng thái đã gán ghép các tính chất này nọ cho từng con số để chúng hiển thị thành văn bản, hình ảnh, màu sắc, video, âm thanh v.v…Sự gán ghép này là tuân theo thói quen nhận thức của con người bình thường.

Trong thế giới đời thường cũng vậy, sự gán ghép quy chiếu theo tập khí nhiều đời nhiều kiếp của chúng sinh nên kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến qua nhiều đời). Ví dụ :

Hình tướng như thế này thì gọi là con trâu :

Hình tướng như thế này thì gọi là con ngựa :

Những đặc điểm của con trâu và con ngựa là do mạt-na thức gán ghép theo thế lưu bố tưởng của mình, hình dáng thì con người tưởng tượng giống nhau, nhưng tên gọi thì mỗi dân tộc gọi mỗi khác theo ngôn ngữ của mình. Ví dụ người Anh thì gọi hình trên là buffalo, hình dưới là horse. Người Pháp thì gọi hình trên là buffle, hình dưới là cheval. Còn người Hoa thì gọi hình trên là 牛 (ngưu), hình dưới là 馬 (mã).

Tính bất định của thế giới hiện tượng được Bát Nhã Tâm Kinh diễn tả trong những câu như :

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.   

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vật chất không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là không, không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.   

Ngày nay, chúng ta có thể dịch lại câu trên theo tiêu chí khoa học :

Này Xá Lợi Phất, Hạt không khác Sóng, Sóng không khác Hạt, Hạt tức là Sóng, Sóng tức là Hạt. Thọ, Tưởng, Hành, Thức, cũng tương tự như vậy.

tasmācchāriputra śūnyatāyām na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārā na vijñānāni. na cakṣuḥ-śrotra-ghrāṇa-jihvā-kāya-manāṃsi. na rūpa-sabda-gandha-rasa-spraṣṭavya-dharmāḥ. na cakṣur-dhātur yāvan na manovijñāna-dhātuḥ

舍利子,是諸法空相,不生不滅、不垢不淨、不增不減。 是故空中無色、無受想行識、無眼耳鼻舌身意、無色聲香味觸法、 無眼界、乃至無意識界

XÁ LỢI TỬ! THỊ CHƯ PHÁP KHÔNG TƯỚNG, BẤT SANH BẤT DIỆT, BẤT CẤU BẤT TỊNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM, THỊ CỐ KHÔNG TRUNG VÔ SẮC, VÔ THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, VÔ NHÃN, NHĨ, TỶ, THIỆT, THÂN, Ý, VÔ SẮC THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP, VÔ NHÃN GIỚI NÃI CHÍ VÔ Ý THỨC GIỚI :

Này Xá Lợi Phất ! các pháp đều là hiển thị của tánh không : không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm; như vậy trong tánh không, không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có thế giới của hình tướng, màu sắc (nhãn giới) cho đến không có thế giới của tư tưởng ý thức (ý thức giới).

Như vậy chúng ta đã thấy rõ, nguyên lý bất định không chỉ hạn chế đối với photon và electron trong lĩnh vực lượng tử, mà có tính chất cơ bản và phổ quát đối với tất cả các pháp, đối với toàn pháp giới.

Kinh Bát Nhã đã nói rõ các pháp đều là hiển thị của tánh không, nghĩa là từ cái không, không có gì cả, mà thành vũ trụ vạn vật, điều đó có nghĩa là tất cả các pháp, tất cả mọi hiện tượng dù là vật chất hay tinh thần, đều chỉ là ảo hóa, nghĩa là không có thực chất, không có thực, nhưng được tưởng tượng ra, không phải chỉ bằng ý thức, mà bằng cả 8 thức, cũng không phải chỉ hiển thị trên mặt phẳng hai chiều, mà hiển thị trong không gian 3 chiều (3 dimensions), cộng thêm chiều thời gian, thành cuộc sống đời thường trong không gian 4 chiều (space-time) quen thuộc của chúng ta.

Vì hiển thị với cả 8 thức nên người đời không thể nhận ra sự ảo hóa. Người đời tin chắc 100% vật chất là có thật bởi vì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân thể tiếp xúc, tiêu hóa, tăng trưởng, bất cứ khía cạnh nào cũng thấy chân thật, vậy nên không có chỗ cho sự hoài nghi, thế nên số người giác ngộ rất ít, một triệu người mới có một người.

Nguyên lý bất định dựa trên hai nhân tố cơ bản :

Một là : Nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性  All phenomena, all things lack self nature Tất cả các pháp đều không có đặc điểm riêng, tính chất riêng.

Hai là : Nguyên lý thay thế : Principle of Replacement. Đây là nguyên lý nền tảng để tạo ra vũ trụ vạn vật.

Phật pháp nói rằng Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, nhưng Tâm là vô hình vô thể, vô ký (neutral, trung tính, chưa phân cực nhị nguyên), do đó Lục Tổ Đàn Kinh 六祖壇經 nói Tâm như hư không diệc vô hư không chi lượng 心如虛空,亦無虛空之量 Tâm giống như hư không nhưng khác hư không ở chỗ tâm không phải hoàn toàn trống rỗng không có gì cả như hư không, mà tâm bao hàm vô lượng thông tin dạng sóng vô ký, nghĩa là nó chưa phân cực nhị nguyên, không phải nhiều cũng không phải ít, không phải vật chất cũng không phải tinh thần, và có thể tạo ra ngũ uẩn.

Nhưng vì bản chất ảo hóa của tâm pháp nên kinh Bát Nhã nói rằng ngũ uẩn giai không :

āryāvalokiteśvarabodhisattvo

gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Qua nguyên bản tiếng Phạn, chúng ta biết rằng Bồ Tát Quán Tự Tại là Avalokitesvara Bodhisattva cũng chính là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nguyên lý pháp vô tự tính và nguyên lý thay thế là hai nguyên lý nền tảng phổ biến nhất của vũ trụ vạn vật. Toàn cả pháp giới đều dựa vào hai nguyên lý này để tạo ra vô lượng vô biên cảnh giới trong đó có cảnh giới thế gian mà chúng ta đang sống.

Trong tin học thì chúng ta đã biết rõ rồi, những dãy số nhị phân hàng hàng lớp lớp chứa trong đĩa cứng và thẻ nhớ vốn không có đặc điểm gì cả, không có gì liên quan với văn bản, hình ảnh, video, âm thanh cả. Chúng đơn thuần chỉ là những con số vô nghĩa. Nhưng mỗi con số được người ta tùy tiện gán ghép cho một đặc điểm. Ví dụ :

Số nhị phân Số thập phân Hiển thị
100 0001 65 A
100 0010 66 B
100 0011 67 C
110 0001 97 a
110 0010 98 b
110 0011 99 c

Cột đầu là số nhị phân, cột giữa là số thập phân quen thuộc, cột cuối là con chữ sẽ hiển thị lên màn hình. Như vậy khi thấy dãy số 100 0001 đây chính là số 65, màn hình sẽ hiện ra chữ A (hoa), còn khi thấy dãy số  110 0001  đây chính là số 97 màn hình sẽ hiện ra chữ a viết thường.

Việc gán cho mỗi con số một đặc điểm nào đó chỉ là qui ước tùy tiện chứ không có gì bắt buộc cả. Nhưng một khi đã thống nhất qui ước, thì toàn thế giới đều tuân theo qui ước đó, khiến cho nó có vẻ khách quan, ai cũng thấy như nhau.

Trong thế giới đời thường cũng vậy, khi một vật đã trở thành thế lưu bố tưởng, nghĩa là tưởng tượng đã được lưu truyền phổ biến, thì mọi người đều thấy giống nhau. Vì nhiều người thấy giống nhau nên tưởng là khách quan.

Có người sẽ thắc mắc làm thế nào một ảo ảnh lại có cuộc sống hoàn toàn thật bằng xương bằng thịt có cấu tạo vô cùng phức tạp và hoạt động được một cách độc lập. Tin học hiện đại có thể làm ví dụ điển hình. Trong các games của thế giới ảo, các nhân vật cũng có cuộc sống riêng, có cá tính, hoạt động theo ý đồ của người chơi, các chương trình ứng dụng (applications) rất phức tạp vẫn hoạt động được. Thế giới đời thường chỉ phức tạp hơn thế giới tin học rất nhiều thôi, phức tạp hơn nhiều bởi vì nó tăng thêm một chiều kích, chứ về cơ bản thì nguyên lý hoạt động của nó cũng giống như thế giới tin học.

Kết luận

Nguyên lý bất định rốt cuộc là có ý nghĩa gì ? Đó là thế giới vật chất, sinh vật, con người, tuy hiện hữu có vẻ rất chân thật, rất rõ ràng, nhưng không phải hoàn toàn có thật, thế giới đó không có thực chất, mà chỉ là cảm giác ảo tưởng, bởi vì tất cả mọi đặc điểm, đặc tính của vật, từ hạt cơ bản cho tới cố thể vật chất, đều là tưởng tượng, gán ghép cho vật, chứ không phải vật tự nó có sẵn những đặc điểm, đặc tính ấy. Cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Albert Einstein cuối cùng đã có kết luận, vật không có sẵn bất cứ đặc điểm, đặc trưng nào cả, tất cả chỉ là tâm niệm của con người gán ghép cho vật. Thí nghiệm Hai khe hở cũng xác nhận điều đó.

Tuy thế giới vật chất vốn chỉ là tưởng tượng, chỉ là ảo, nhưng sự hiện hữu của nó, khó có thể phủ nhận, sự thật luôn luôn có tính hai mặt, đối lập nhau nhưng bổ sung cho nhau. Tâm giống như hư không, vô hình, vô thể. Nhưng nếu chỉ có thế thì không có cuộc sống, không có vẻ đẹp, không có gì hay, không thú vị gì.

Thế nên tâm phải có biểu hiện ra nhiều cảnh giới, nào là cõi trời, cõi tiên, thế gian, địa ngục. Cõi thế gian là gần gũi quen thuộc với chúng ta, với biết bao cảnh đẹp kỳ vĩ, rồi mỹ nhân, bao nhiêu sáng tạo văn hóa nghệ thuật, kiến trúc, chế tạo của con người, thật là thiên hình vạn trạng. Nhưng nếu chấp thật, tức cho rằng những cảnh giới đó là hoàn có thật thì con người sẽ bị khổ, bởi vì sự vô thường, thấy đó rồi mất đó, với bao cảnh tranh giành, chiến tranh loạn lạc, thiên tai, động đất, sóng thần, bão lụt, khô hạn, tai nạn, thương yêu phải chia ly, oán ghét lại gặp nhau v.v…

Cho nên nguyên lý bất định đã thể hiện trong kinh điển xưa : SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ

Vật chất là hạt, chẳng hạn hạt photon, hạt electron, các hạt cơ bản, hạt nhân nguyên tử v.v…nhưng hạt cũng là sóng, hạt không khác sóng, tuy có khác về hình thái, nhưng bản chất không khác. Hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) hé lộ cho chúng ta biết rằng :

-vật chất (hạt) là phi hiện thực (non realism) tức không có thật

-vật chất (hạt) là vô sở trụ (non locality) tức không có vị trí nhất định trong không gian

-vật chất (hạt) là phi số lượng (non quantity) tức không có số lượng.

Những thông tin này nói lên rằng mọi cảnh giới đều không có thật, đó đều là cảnh giới biểu kiến, ảo, tưởng tượng bằng cả 6 thức, không gian, thời gian, số lượng đều không có thật.

Những lý thuyết về vũ trụ toàn ảnh (holographic universe), vũ trụ giả lập (The universe is a simulation) xuất hiện ngày càng nhiều.

Cuộc tranh luận Isaac Asimov thường niên lần thứ 17 tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ TP New York,chỗ đã được bán hết chỉ trong 3 phút online, chủ trì Neil deGrasse Tyson nói chuyện với khán giả. Cuộc tranh luận này gồm 5 chuyên gia thảo luận ý tưởng về vũ trụ như một sự giả lập.

Những lý thuyết này đều nói rằng vũ trụ là ảo ảnh trong không gian 3 chiều, phóng hiện từ thông tin chứa trong mặt phẳng hai chiều. Không phải đến ngày nay mới có nhận thức này, từ xa xưa, tại phương đông và phương tây đều có người nêu ra nhận thức như thế, nhưng ngày xưa sự mô tả chưa được rõ ràng.

Tại Trung Quốc, vào thời Chiến Quốc, Huệ Thi 惠施 (370 TCN-310 TCN) nói : 無厚不可積也,其大千里 (Vô hậu bất khả tích dã, kỳ đại thiên lý) Không bề dày không thể tích, cái lớn của nó là ngàn dặm.

Huệ Thi muốn nói cái mặt phẳng không có bề dày, không có thể tích, cái lớn của nó là vô cùng. Các triết học gia xưa nay bàn luận về câu đó một cách ấu trĩ vô dụng. Chỉ đến khi khái niệm về Vũ Trụ Toàn Ảnh xuất hiện mới có thể hiểu được rõ ràng câu nói của Huệ Thi. Cái vũ trụ mà chúng ta đang sống là một toàn ảnh 3 chiều (3D Hologram) có thể ghi lại đầy đủ trên mặt phẳng 2 chiều, và từ dữ liệu 2 chiều đó, có thể khôi phục lại thành toàn ảnh 3 chiều.

Tại Âu Châu, Zénon (tiếng Anh là Zeno 496 – 429 Trước Công nguyên) là triết gia người Hi Lạp nhưng sống ở làng Elea (nay ở phía nam nước Ý) vào thế kỉ thứ 5 TrCN. Ông nổi tiếng với các nghịch lý (Paradoxes) mà người đời thường cho là ngụy biện vì nó trái với nhận thức thường nghiệm của con người. Một trong các nghịch lý ông nêu lên là mũi tên bắn ra không chuyển động, nên nó sẽ không bao giờ đến đích

Nghịch lý đó như thế này : một mũi tên bắn ra muốn đi từ A đến E, trước hết nó phải vượt qua phân nửa đoạn đường tức là phải đến D, trước khi đến D nó phải vượt phân nửa đoạn đường tức là đến C, trước khi đến C nó phải vượt phân nửa đoạn đường tức là đến B. Lý luận cứ thế tiếp tục, đoạn đường cứ chia nhỏ ra mãi, tiệm cận điểm A nhưng không bao giờ trùng khít vào điểm A. Thời gian vượt từng nửa đoạn đường cũng chia nhỏ tương tự như thế. Khi chia đến một mức cực nhỏ,  nhỏ tối đa, khi khoảng cách không gian và thời gian chỉ còn là một điểm chứ không phải một đoạn thì mũi tên sẽ đứng yên một chỗ vì chưa kịp chuyển động. Nói cách khác, ở từng điểm không gian và thời gian thì mũi tên bất động. Đoạn đường AE cũng như thời gian cần thiết để mũi tên đi từ A đến E là tập hợp những điểm mà tại đó mũi tên đều bất động như thế, suy ra rằng mũi tên không chuyển động, chuyển động của mũi tên chỉ là ảo giác, thật tế là mũi tên bất động, mà đã bất động thì không bao giờ đến đích được. Nghịch lý của Zénon là muốn nói rằng thế giới là ảo, là tưởng tượng.

Tại Ấn Độ, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, Đức Phật Thích Ca ra đời, đã thuyết giảng về Vi Diệu Pháp còn gọi là Thắng Pháp Tạng gồm 7 quyển, thuyết giảng rất nhiều về sự ảo hóa của các cõi giới, cơ bản là 4 bộ luận :

1-Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận)

2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)
3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến
4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 đế…phân biệt các hạng người.

Từ các bộ luận này, về sau các Tổ Sư khai triển thêm thành các kinh điển Đại Thừa như Bát Nhã Tâm Kinh, Duy Thức Tam Thập Tụng, Trung Quán Luận, Lăng Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Lục Tổ Đàn Kinh v.v…

Tóm lại, ý nghĩa rốt ráo của nguyên lý bất định là sự phá chấp, không thể bám víu vào một hình thái nhất định nào, cuộc sống luôn trôi chảy, chân lý không thể nắm bắt, gò bó nó vô một khuôn khổ giới hạn nào đều không thể được. Cho Kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Đó là tâm giác ngộ không có chỗ trụ, không bám víu vào một chân lý cố định, đó chính là ý nghĩa cơ bản phổ quát của nguyên lý bất định vậy.

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

7 Responses to BÁT NHÃ TÂM KINH NÓI LÊN NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH

  1. Nguyễn Đăng Trí nói:

    Chào thầy Truyền Bình.
    Con rất kính trọng thầy và cám ơn những bài viết của thầy. Con lúc nào lên mạng cũng vào trang này để chờ đợi bài viết mới của thầy. (thật ít quá, chờ mỏi mòn, có cách nào phổ biến rộng ra và thêm nhiều bài viết không thầy). Hay.. các bài viết quá Hay, thật ngưỡng mộ thầy. Mong rằng trang viết này của thầy có nhiều Phật Tử biết đến thật nhiều (con không phải là Phật Tử vì chỉ đứng từ xa mà nhìn, cũng buồn Thật!).

    Trân trọng./. con – Nguyễn Đăng Trí.

  2. Nguyễn Đăng Trí nói:

    Kính chào thầy Truyền Bình.
    Con có vài dòng tâm sự và xin hỏi thầy giải đáp cho chúng con:
    1/ Nguyên lý bất định cũng giống như sự VÔ THƯỜNG của PHÁP (pháp hữu vi, vô vi) phải không thầy?
    2/ Do bởi “Thế gian tướng thường trụ” (chấp cố định, cho là như vầy nhưng bất như ý) —> sinh ra KHỔ phải không?
    3/ Do tất cả điều chẳng thật “PHÁP, PHI PHÁP, PHI PHI PHÁP” (hữu vi, vô vi) >>> quét sạch các tri kiến. Chẳng có ngã và ngã sở —> không có TA thọ cái khổ ấy (Sao vẫn thấy có TA???).

    @ NHỮNG NGƯỜI NHƯ CHÚNG CON CÓ CHÚT HIỂU BIẾT PHẬT PHÁP (TRONG ĐẠO VÀ NGOÀI ĐẠO), TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY ÁP DỤNG LỜI PHẬT DẠY MÀ SAO VẪN THẤY KHỔ HIỆN TIỀN. CUỘC ĐỜI MÌNH, GIA ĐÌNH MÌNH NGÀY QUA NGÀY CỨ LẶP ĐI LẶP LẠI (RỨT RA KHÔNG NỔI BUÔNG XUỐNG KHÔNG XONG) NHIỀU KHI THẤY BỨT BÁCH VÀ CHÁN LẮM.
    @ HÀNG NGÀY CHÚNG CON NÚP, TRỐN TRONG KINH ĐIỂN, CÂU CHUYỆN CỦA TỔ, NGHE PHÁP THOẠI CON THẤY KHÔNG ỔN (ĐÃ BIẾT RỒI SAO CỨ LẶP LẠI HOÀI —> “TRI GIÁC NÃI CHÚNG SANH”). CHÚNG CON LÀ NHỮNG NGƯỜI DUY LÝ BIẾT RẰNG CÁI BIẾT CỦA NHÂN LOẠI QUÁ NHỎ BÉ SO VỚI CÁI KHÔNG BIẾT VỀ VŨ TRỤ VẠN HỮU (HỮU TƯỚNG VÔ TƯỚNG). CÁI BIẾT NÀY LÀ CÁI BIẾT BỘ NẢO LÀM MÓN ĂN CỦA “MẠT NA THỨC” TĂNG TRƯỞNG NGÃ CHẤP —> ĐI MÃI TRONG LUÂN HỒI.
    @ HAY LÚC CON SUY TƯ: TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY MÌNH “TÙY DUYÊN, BẤT BIẾN” NGHĨA LÀ LÀM ĂN ĐỐI ĐÃI XONG RỒI TA CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC PHÁP PHẬT ĐANG THỰC HÀNH (VÍ NHƯ THAM THOẠI ĐẦU). NHƯNG MỘT THỜI GIAN CHÁNH NIỆM GIỬ KHÔNG ĐƯỢC VÀ CON THẤY KHÔNG CÓ NGHI TÌNH.(HIỆN TIỀN CÁI KHÔNG BIẾT). CON NGHỈ KHÓ CÓ VỚI NGƯỜI TẠI GIA???
    @ NGÀY QUA NGÀY NHƯ VẦY HẾT ĐỜI TỚI NƠI RỒI —> HAY LÀ BỎ LẠI ĐI XUẤT GIA MAY RA CÓ NGHI TÌNH (GIẢI PHÁP CUỐI CÙNG).

    Đôi lời tâm sự của chúng con với thầy. Xin thầy với trải nghiệm và sự chứng của thầy hãy giúp chúng con đôi lời về thực hành???
    Thành kính thầy./. con Nguyễn Đăng Trí

    • 1/Vô thường là sự biến đổi vô chừng của các pháp, thấy đó rồi mất đó, sinh ra lớn lên rồi già chết, xuân qua hè tới,v.v…mọi thứ biến đổi không có chỗ dừng. Còn nguyên lý bất định là ý nói trong các cặp phạm trù mâu thuẫn, ví dụ giữa sóng và hạt, đúng và sai, thiện và ác v.v…không có cái nào là chân lý, không thể khẳng định được lẽ phải nằm ở đâu. Những giữa vô thường và nguyên lý bất cũng có chỗ đồng, đó là vô sở trụ nghĩa là bất định xứ, không có chỗ dừng.
      2/Vô thường là nguyên nhân của khổ. Ví dụ ta có một người rất thân yêu, rủi bị tai nạn qua đời thì ta cảm thấy khổ. Nếu muốn thoát khổ thì không được chấp thật, nghĩa là chấp ta có thật, chấp người thân của ta có thật.
      3/Chúng ta nghe kinh nói tất cả các pháp đều chẳng thật. Nhưng chúng ta vẫn cứ chấp thật, bởi vì tuyệt đại đa số chúng ta nghe mà không thật sự hiểu. Chúng ta nghe kinh nói Nhất thiết duy tâm tạo, nhưng đâu có hiểu làm sao tâm tạo được ngôi nhà, tạo được cái xe, tạo được quần áo, đồ dùng, thức ăn. Chừng nào bạn thật sự hiểu làm cách nào tâm tạo ra được vật chất, chừng đó bạn mới có hi vọng hết khổ.

  3. Cao An nói:

    Cháu chào Bác!
    Bác cho cháu hỏi: khi nghi tình bùng vỡ, lìa ý thức rồi thì đến vô thủy vô minh. Vậy vô thủy vô minh có phải là tánh không chưa? bởi vì tánh không là không có gì cả, trong khi vô thủy vô minh vẫn còn có cấu trúc ảo. Cháu cảm ơn Bác!

    • Trong Bát Nhã Tâm Kinh nói : Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc…Như vậy Tánh Không không phải là không có gì cả, Tánh Không khác với Hư Vô. Không tức là Vật Chất. Bởi vì Vật Chất vốn là ảo không có thật nên mới gọi là Tánh Không. Như vậy Vô thủy vô minh cũng tức là Tánh Không. Tuy nhiên Kinh điển nói Vô thủy vô minh chưa phải là Kiến tánh, Giác ngộ. Giống như hành giả leo cây sào cao trăm thước , đã tới thước cuối cùng rồi, nhưng vẫn còn phải leo thêm một bước nữa mới Kiến tánh, mà không còn chỗ để leo. Ý muốn nói không được chấp vào Tánh Không. Không được chấp Không cũng không được chấp Có mới là triệt ngộ.

      • Cao An nói:

        “Ý muốn nói không được chấp vào Tánh Không. Không được chấp Không cũng không được chấp Có mới là triệt ngộ”. Thật tuyệt vời, cháu đã hiểu, cảm ơn Bác nhiều lắm! nhờ cách dùng góc nhìn khoa học để hiểu Kinh điển của Bác mà mọi thứ khó hình dung trong Kinh đều rõ ràng, đem lại lợi ích vô cùng cho người học Phật. Chúc Bác và Gia đình luôn mạnh khỏe!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s