NHÂN LOẠI CẦN HAI NỀN GIÁO DỤC SONG HÀNH

Từ thời xa xưa khi nền giáo dục phổ thông dựa trên khoa học chưa ra đời, nhân loại cũng đã có một nền giáo dục dựa trên tôn giáo (tông giáo 宗教 religion). Tôn giáo xuất hiện do một số ít vĩ nhân, họ phát hiện ra một điều gì đó rất sâu sắc và đứng lên dạy bảo một số học trò rồi dần dần hình thành tông giáo.

I/GIÁO DỤC CỦA CÁC TÔN GIÁO

Các tôn giáo lớn của thế giới xuất hiện trong thời cổ đại, trong đó nổi bật là các vị giáo chủ :

A/ Đức Phật Thích Ca

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (释迦牟尼Sakya Muni) sinh năm 623 trước Công nguyên. Như vậy đến năm 2017 CN thì ngài được 2640 tuổi. Nhưng Phật Lịch chỉ bắt đầu từ lúc ngài nhập niết bàn, năm 543 trước CN kể là năm 1, đến đầu CN là PL 544 và đến nay là PL 2561.

Nguyên quán của Siddhārtha Gautama (Tất Đạt Đa 悉达多 Cù Đàm 瞿曇 hay Kiều Đạt Ma 喬達摩Gautama) là thành Ca Tỳ La Vệ [迦毘羅衛 sa. (sankrit): Kapilavastu], ngày nay có tên là Padaria. Vào thời đức Phật, đó là thủ đô của vương quốc cùng tên thuộc dòng họ Thích Ca 释迦 (Sakyas), dưới quyền trị vì của vua Tịnh Phạn (淨飯, sa. śuddhodana).

Ca Tỳ La Vệ, vào thời ấy, là một thuộc quốc của nước Kiều Tát La (憍薩羅, sa. kośala). Bấy giờ người cai trị Kosala là vua Ba Tư Nặc [波斯匿 Pali: Pasenadi; sa.: Prasenajit], có kinh đô đóng tại thành Xá Vệ (舍衛 sa.: Sravasti), nay thuộc bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Độ.

Lúc gần ngày sinh, hoàng hậu Ma Da 摩耶 (Mayadevi) đi về quê mẹ để chuẩn bị sinh con theo truyền thống, dọc đường đến vườn Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) thì hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa.

Lúc mới sinh ngài đã có đầy đủ 32 tướng tốt, nhà tiên tri A Tư Đà (阿私陀Asita) nói rằng Tất Đạt Đa sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Bảy ngày sau khi sinh thì mẹ mất, Tất Đạt Đa được người dì, em của hoàng hậu Ma Da, là Ma Ha Ba Xà Ba Đề Kiều Đàm Di ( 摩呵波闍波提 喬曇彌, sa. Mahāprajāpatī Gotami) chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất Đạt Đa kết hôn với công chúa Da Du Đà La ( 耶輸陀羅, sa. yaśodharā).

Năm 19 tuổi, sau khi công chúa Da Du Đà La hạ sinh một bé trai  được đặt tên là La Hầu La (羅睺羅, sa. rāhula), thái tử Tất Đạt Đa quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Tất Đạt Đa quyết tâm tìm cách diệt khổ và cầu đạo ở nhiều đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Có 5 anh em Kiều Trần Như (憍陈如 Koṇḍañña ) cùng tu với Tất Đạt Đa. Sau  nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất Đạt Đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, ngài bắt đầu ăn uống bình thường trở lại, năm người đồng tu kia thất vọng bỏ đi. Ngài  ngồi dưới gốc một cây pipala (về sau gọi là cây Bồ Đề) bên dòng sông Ni Liên Thiền (尼連禪 Niranjana) tại nơi mà về sau gọi là Bồ Đề Đạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định, mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu, Tất Đạt Đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 30, sau 5 năm tầm sư học đạo và 6 năm tu khổ hạnh. Từ thời điểm đó, Tất Đạt Đa kiến tánh thành Phật, là người Giác ngộ, Hán dịch là giác giả 覺者 và biết rằng cái ta chỉ là một khái niệm giả tạm, không có thật và tất cả các pháp đều là ảo hóa không có thật, chỉ là thế lưu bố tưởng 世流布想 abhuta kalpana sprastavya.

Nhưng vì thế lưu bố tưởng là một tập khí lâu đời thâm căn cố đế 深根固柢 nên Đức Phật phải bày ra Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, giảng thuyết nhiều bộ Kinh làm phương tiện để giáo hóa dần dần giải trừ các tập khí lâu đời để hướng tới giác ngộ.

B/Khổng Tử

Khổng Tử 孔子 tên Khâu 丘 , tự Trọng Ni 仲尼 sinh năm 551 trước công nguyên (TCN), tại ấp Tưu 陬邑, làng Xương Bình 昌平, nước Lỗ 鲁 (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Cha ông là Thúc Lương Hột 叔 梁 纥, một quan võ nhỏ của ấp  Tưu, đến 70 tuổi cha ông mới lấy vợ lẻ là Bà Nhan thị sinh ra Khổng Khâu. Ông Sống vào thời Đông Chu ở Trung Quốc, đó là một thời kỳ mà trên thế giới có nhiều vĩ nhân xuất hiện. Tại Trung Quốc, Lão Tử, ông Tổ của Đạo giáo, theo truyền thuyết, sống cùng thời với Khổng Tử, nhưng không biết rõ năm sinh và năm mất, đại khái ra đời khoảng năm 570 TCN, sau khi viết xong bộ Đạo Đức Kinh, để lại cho người giữ ải Hàm Cốc, Lão Tử cỡi trâu ra khỏi ải đi mất nên không ai biết chung cuộc của ông ra sao, có thuyết nói rằng ông sống đến 160 tuổi. Tương truyền Khổng Tử có gặp Lão Tử. Tại Hy Lạp, Socrates (470-399 TCN) và học trò là Platon (427-347 TCN) là những nhà triết học vĩ đại của Tây phương. Về sau vì Khổng Tử có viết cuốn sử biên niên là Xuân Thu 春 秋 nên các nhà sử học gọi đó là thời đại Xuân Thu (770-403 TCN) thời đại này bắt đầu khi Thiên tử nhà Chu là Chu Bình Vương lên ngôi và dời đô từ Cảo Kinh (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) về Lạc Ấp (nay thuộc tỉnh Hà Nam), và kết thúc lúc nước Tấn晉 là nước lớn mạnh nhất thời Xuân Thu, bị chia thành 3 nước là Hàn韓, Triệu趙và Ngụy魏  hình thành cục diện của thời Chiến Quốc với 7 nước lớn.

Tổ tiên dòng họ của Khổng Tử được sách sử chép như sau. Sau khi Nhà Chu diệt Nhà Thương Ân, Chu Võ Vương lên ngôi không lâu thì mất, Chu Thành Vương còn nhỏ tuổi nối ngôi, em của Võ Vương là Chu Công (tên thật là Cơ Đán 姬旦) nhiếp chính, phong cho một người thứ huynh (anh dòng thứ) của vua Trụ là Vi Tử Khải 微子启 làm chủ nước Tống, đóng đô ở Thương Khâu 商丘 (nay thuộc tỉnh Hà Nam). Khi Vi Tử Khải qua đời, người em trai là Vi Trọng Diễn 微 仲 衍 kế vị, Vi Trọng Diễn chính là tổ tiên của Khổng Tử. Kể từ ông tổ  6 đời của Khổng  Tử là Khổng Phụ Gia 孔父嘉  dòng họ này chính thức lấy họ là Khổng, Khổng Phụ Gia làm đại phu nước Tống, từng giữ chức Đại Tư Mã, trong cung có loạn, bị sát hại. Đời ông cố của Khổng Tử là  Khổng Phòng Thúc 孔防叔 chạy loạn từ nước Tống qua nước Lỗ định cư.

Đến đời cha ông là Thúc Lương Hột ( Thúc Lương là tự , tên là Hột), ông Hột ban đầu cưới bà họ Thi tên là Diệu Anh sinh được 9 con gái mà không có con trai, nên cưới thêm người thiếp sinh được một con trai là Mạnh Bì 孟皮 bị tàn tật (què chân), thời đó con gái và con trai tàn tật đều không được thừa tự (chính thức tiếp nối dòng họ), ở tuổi 70 ông lấy Bà Nhan Chinh Tại 颜 征 在 tuổi còn trẻ, sinh ra Khổng Tử. Vì Nhan thị có đi cầu tự ở núi Ni Khâu 尼丘山 , mặt khác trên đỉnh đầu Khổng Tử có một chỗ lõm hơi giống núi Ni Khâu, nên ông được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni , chữ Trọng có nghĩa là thứ hai, vì đã có Mạnh Bì là con trưởng, Mạnh có nghĩa là thứ nhất (các tháng trong mỗi mùa thường được gọi là Mạnh, Trọng, Quý).

Khổng Tử là người chủ trương nhập thế hành xử như một người quân tử, tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng xuất phát từ vị giáo chủ này vì ông chỉ dạy học cho nam nhân. Trong số hơn 3000 học trò của ông, không có ai là nữ. Ông dạy về mối quan hệ giữa con người với nhau (nhân luân 人倫) trong đó ông xác định những mối quan hệ chính là tam cương三綱 ba mối quan hệ, là quân thần, phụ tử, phu phụ君臣, 父子, 夫婦, và ngũ thường五常 năm thứ đạo lý mà con người  trong xã hội phải giữ gìn gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín仁,義,禮,智,信 . Những đạo lý này gọi tắt là cương thường綱常 hay còn gọi là kỷ cương紀綱 tức là giềng mối.

Sách Lễ Ký và Trung Dung nói “Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ” 仲尼祖述尧舜,宪章文武 (Trọng Ni góp nhặt và trình bày đạo lý của Nghiêu, Thuấn, phát huy hiến chương của Chu Văn Vương và Chu Võ Vương). Thời đại của ông không có nhiều sách vở lắm, đại khái chỉ có mấy quyển quan trọng Thi, Thư và Dịch. Thi là tập hợp những sáng tác thi ca của dân gian khắp các nước, sau Khổng Tử mới san định thành Kinh Thi. Thư chỉ là tài liệu ghi chép về lịch sử tối cổ của Trung Quốc, ông cũng noi theo đó mà viết một bộ sử biên niên về sau gọi là Kinh Xuân Thu. Riêng Dịch 易là quyển sách bói và cũng là triết học tối cổ của Trung Quốc tương truyền do Phục Hy伏羲đặt nền tảng đầu tiên, bàn về sự vận động biến hóa của  thiên nhiên và xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử về mặt triết học là dựa trên Dịch lý.

Triết lý của Dịch:

Biến hóa, thay đổi là nguyên lý của vũ trụ vạn vật, tức phải có biến hóa mới có trời, đất, người  và vạn vật. Biến hóa tạo ra vô số hiện tượng như sáng, tối, mưa, gió, sấm sét, sơn hà đại địa, cây cối sinh vật…Để diễn tả sự biến hóa đó, người xưa dùng các quẻ, có 8 quẻ cơ bản gọi là bát quái八卦 có từ thời Phục Hy, gồm những vạch gọi là hào , vạch liền gọi là dương hào阳và vạch đứt gọi là âm hào阴:

Hậu thiên Bát quái sắp theo thứ tự : Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn

Đây là thứ tự theo Chu Dịch do Chu Văn Vương đề xướng

Tổ hợp của bát quái thành 64 quái (quẻ) có từ đời Hạ Vũ夏禹 (Vua Vũ Nhà Hạ) trong đó có tất cả 384 hào, đó là tiên thiên bát quái lấy quẻ Cấn艮 làm đầu. Hào và quái chỉ là những ký hiệu vắn tắt, cần có thêm lời mô tả ý nghĩa mới rõ ràng gọi là từ 辭 , mỗi quái có quái từ, mỗi hào có hào từ. Chu Văn Vương là người đã diễn dịch ý nghĩa của 64 quẻ trong quái từ khi bị Vua Trụ cầm tù. Con thứ của Văn Vương, tức là em trai của Chu Võ Vương là Chu Công tên là Cơ Đán đã diễn dịch ý nghĩa 384 hào trong hào từ khi Nhà Chu đã thay Nhà Thương làm Thiên tử, do đó về sau Dịch còn được gọi là Chu Dịch周易hay Dịch Kinh易经 (sau thời Khổng Tử). Diễn giải của Dịch trong các quái từ và hào từ thường rất bí hiểm, mơ hồ, khó nắm bắt, nên có nhiều bất đồng giữa các học giả. Dịch khởi nguồn từ tượng 象 tức hiện tượng, sự vật trong tự nhiên. Con người thấy các tượng đó phát sinh ý tưởng.

Ví dụ họ thấy khúc gỗ trôi trên sông, tượng là “mộc tại thủy thượng” (cây ở trên nước) phát sinh ý tưởng làm thuyền, đặt tên quẻ là hoán 涣 ký hiệu (xem hình) .

Quẻ Hoán và quẻ Tiểu quá

Ví dụ khác quẻ tiểu quá 小過 (xem hình)tượng là “thượng động hạ tĩnh” (trên động dưới tĩnh) từ đó phát sinh ý tưởng làm cái chày và cái cối giã gạo. Triết học cơ bản của Dịch là vạn vật xuất phát từ chỗ vô cùng đơn giản, phát triển dần đến chỗ cực kỳ phức tạp. Dịch Thoán từ truyện nói : “ Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái diễn Vạn vật”  是故易有太极,是生两仪两仪生四象,四象八卦, 八卦演万物   Như vậy Dịch đã phát triển từ Thái cực là cái đơn nguyên cực đơn giản cho tới Vạn vật là cái cực phức tạp. Thái cực tương đương với Đạo của Lão Tử, với Bất nhị hay Tâm của Phật giáo, tương đương với Chân không lượng tử của Vật lý học hiện đại, đó là trạng thái trung hòa, vô hướng, năng lượng cực tiểu nhưng lại vô hạn. Lưỡng nghi là Âm và Dương, trong Phật giáo là Sắc và Không, trong Vật lý học là hạt (sơ cấp) và sóng tiềm năng của vật chất. Hạt và phản hạt, là từng cặp hạt có cấu trúc giống nhau chỉ khác dấu về điện tích, (ví dụ electron mang điện âm, positron mang điện dương) khi gặp nhau thì có thể triệt tiêu lẫn nhau, cũng có thể tạo thành vật chất, đó cũng đồng với  tính tương sinh tương khắc của Dịch. Tứ tượng theo Dịch là 4 hình thái cơ bản của vật chất gồm : Thái dương, Thái âm, Thiếu dương, Thiếu âm, trong Phật giáo là Tứ Đại : đất (chất rắn), nước (chất lỏng), gió (chất khí), lửa (năng lượng). Trong Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics) thì đó là 4 lực tương tác cơ bản của vật chất gồm : lực hấp dẫn (gravitational force), lực điện từ electromagnetic force), lực tương tác mạnh (strong interaction force) và lực tương tác yếu (weak interaction force).  Bát quái là 8 hình thái đầu tiên của vạn vật :  乾,坤,震,艮,巽,坎,离,兑 Càn, Khôn, Chấn, Cấn, Tốn, Khảm, Ly, Đoài (Càn là quẻ thuần dương, chỉ Trời là năng lực nguyên thủy. Khôn là quẻ thuần âm, chỉ Đất có ý nghĩa nhu thuận, năng lực sinh sản. Chấn chỉ Sấm có ý nghĩa chuyển động. Cấn chỉ núi có ý nghĩa ngăn cản trở ngại. Tốn chỉ gió, có ý nghĩa nhu thuận, uyển chuyển. Khảm chỉ nước chảy không ngừng trong vực sâu, tượng trưng sự nguy hiểm, muốn thoát hiểm phải học tập rèn luyện không ngừng. Ly chỉ lửa có ý nghĩa sáng sủa, bừng sáng. Đoài chỉ đầm nước có ý nghĩa vui vẻ, trao đổi, hanh thông) Bát quái là 8 quẻ chỉ 8 hình thái sơ cấp của Trời Đất với ý nghĩa cơ bản, ý nghĩa này có thể mở rộng đến vô cùng thành vạn vật.

Tóm lại các tư tưởng triết học lớn của nhân loại đều có cơ sở khoa học, chỉ khác nhau về cách diễn tả và mức độ sâu cạn.

Khi nắm vững được qui luật biến hóa của Dịch, người ta có thể đoán định được những việc cát (tốt), hung (xấu) và tương lai hậu vận, do đó Dịch thường được dùng trong bói toán, ứng dụng cho mọi hoạt động của con người, từ cá nhân cho tới xã hội, nhất là trong xây dựng kiến trúc, kết hôn, tang ma, mộ táng…

Cấu trúc của Dịch về hình thức khá giống với kỹ thuật số theo hệ nhị phân được ứng dụng rộng rãi trong máy vi tính hiện nay, số 0 tương ứng với hào âm, số 1 tương ứng với hào dương. Nhưng Dịch chỉ mô tả thế giới thực và tìm cách phát minh sáng chế phục vụ đời sống và ảnh hưởng tới thế giới thực để đạt được hiệu quả tốt, như tìm một cục đất tốt hợp phong thuỷ để xây dựng một thủ đô, một ngôi đền miếu, một ngôi nhà, hoặc làm mộ phần để có ảnh hưởng tốt đến con cháu đời sau, hoặc chọn ngày lành tháng tốt cho những sự kiện quan trọng…  nhưng hiệu quả thực tế rất giới hạn, bởi vì triết học của Dịch còn nhiều thiếu sót, chưa rõ ràng, tức các ý tưởng còn hơi mơ hồ,  mặt khác, chưa nghiên cứu kỹ về nguyên nhân của biến đổi, về luật nhân quả, người ta có thể nhầm lẫn giữa triệu chứng và nguyên nhân. Ví dụ việc đặt mộ táng đúng long mạch không thể là nguyên nhân phát sinh một vương triều hưng thịnh. Một vương triều hưng thịnh chỉ có thể là cộng nghiệp của một xã hội.

Trong khi đó kỹ thuật số làm chủ hoàn toàn thế giới ảo, tạo ra vô số công dụng thần kỳ nhờ những máy móc thiết bị tinh vi và các chương trình phần mềm ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên kỹ thuật số cũng chỉ tạo thêm nhiều tiện nghi cho con người chứ cũng không làm chủ được thế giới thực hay thế giới đời thường.

Cảm khái của Khổng Tử về Dịch tiểu biểu là câu nói khi ông nhìn con sông nước chảy không ngừng : “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ”  逝者如斯夫。不舍昼夜( Trôi mãi như thế này ư ! ngày đêm không ngừng) Ngoài Dịch lý Khổng Tử còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các chế độ của Nhà Tây Chu.

Triều đại Tây Chu

Sau khi đánh bại vua Trụ ở Mục Dã, lật đổ Nhà Thương, Chu Võ Vương lên ngôi Thiên tử lập nên Nhà Chu, đóng đô ở đất Cảo (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây). Thời kỳ trước khi dời đô qua Lạc Ấp gọi là Tây Chu, đó là thời tương đối thịnh trị. Chu Công trong thời gian 7 năm nhiếp chính từ khi Võ Vương qua đời mà Thành Vương còn nhỏ, đã làm được rất nhiều việc ảnh hưởng lớn đến hậu thế, ông là người đã thể chế hoá hiến chương Văn Võ thành chế độ cụ thể, ví dụ :

-Chế độ phong kiến封建  (phong tước kiến địa) phân phong cho chư hầu. Sách Lễ ký, mục Vương chế có ghi:  王者之制禄爵,公、侯、伯、子、男凡五等…天子之田方千里,公、侯田方百里,伯七十里,子、男五十里, ( Vương giả chi chế lộc tước, Công, Hầu, Bá, Tử Nam phàm ngũ đẳng…Thiên tử chi điền phương thiên lý, công hầu điền phương bách lý, Bá thất thập lý, Tử, Nam ngũ thập lý _ Chế độ lộc tước của vương giả có 5 bậc là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam…Đất của Thiên tử vuông ngàn dặm, đất của Công, Hầu vuông trăm dặm, Bá bảy chục dặm, Tử, Nam năm chục dặm). Sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận dẫn “Cốc lương truyện” nói, theo phép tỉnh điền đời Chu “Tam bách bộ vi lý” ba trăm bước là một dặm, như vậy đại khái một dặm khoảng 150-200m.

– Chế độ đẳng cấp : Thiên tử, Chư hầu, Khanh, Đại phu, Sĩ. Các loại lễ nghi, trang phục, nhạc lễ cho từng cấp bậc đều được qui định rõ ràng, kẻ dưới không được tiếm của người trên. Tuy nhiên chế độ đẳng cấp của Trung Quốc không nghiêm nhặt như của Ấn Độ, giữa các đẳng cấp vẫn có thể thông hôn với nhau, giai cấp Sĩ bằng con đường học vấn vẫn có thể tiến lên các bậc trên.

– Chế độ tông pháp qui định quyền lợi và nghĩa vụ của từng thứ bậc trong một gia tộc để ràng buộc người cùng dòng họ với nhau, trong đó điểm quan trọng là tước vị được cha truyền cho con trưởng, trong khi chế độ trước đó được truyền lần lượt cho các em trai (như ta thấy Vi Tử Khải truyền ngôi vị cho em trai là Vi Trọng Diễn). Chế độ tông pháp khiến cho người trong họ tộc đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, đến ngày nay vẫn còn ảnh hưởng.

– Binh chế, qui định khi hữu sự thì các vị Công, Hầu, Bá, Tử, Nam phải cung cấp cho Thiên tử bao nhiêu quân lính, bao nhiêu cỗ chiến xa tùy theo tước vị.

– Chế độ giáo dục chia làm 2 cấp tiểu học và đại học đều do nhà nước lập. Cấp tiểu học có trường dành riêng cho quí tộc gọi là thục塾, phân biệt với trường dành cho bình dân gọi là tường庠. Chức quan dạy tiểu học ở trường quí tộc có Sư thị师 氏dạy luân lý, đức hạnh. Chức Bảo thị保 氏dạy lục nghệ và lục nghi (6 kiểu nghi lễ dung mạo dành cho các trường hợp như : tế tự, tiếp tân, trong triều đình, trong tang lễ, trong quân đội, khi cỡi ngựa, lúc ngồi xe…Trường đại học đời Chu gọi là tích ung辟 雍 dạy các sách xưa và các triết học cao thâm để hàm dưỡng đức tính.

-Chế độ tỉnh điền井 田: ở vùng đất ruộng bằng phẳng, chia đất làm 9 khu theo hình chữ tỉnh 井 mỗi khu 100 mẫu, khu ở trung tâm là công điền do nhà nước quản lý, 8 khu chung quanh chia cho tư gia, các nhà chung quanh phải chung sức cày cấy khu ở giữa cho nhà nước. Tuy nhiên công điền dành 20 mẫu để cho 8 nhà chung quanh làm đất thổ cư cất nhà ở, nên thực tế chỉ còn 80 mẫu. Người được chia đất chỉ được canh tác chứ  không có quyền sở hữu, đến tuổi già phải trả lại cho nhà nước. Thanh niên đến tuổi thì lại được cấp đất. Cứ 3 năm có một lần phân phối lại.

– Các chế độ khác như công thương nghiệp, thuế khóa, …đều có qui định cụ thể.

Những thể chế tương đối hoàn bị do Chu Công thiết lập khiến Khổng Tử rất hâm mộ, ông thường nằm mơ thấy Chu Công.

C/Lão T

Lão Tử tên là Lý Nhĩ 李耳(Ước 570 _ mất sau 500 trước Công nguyên _TCN) tự Bá Dương 伯阳, còn gọi là Lão Đam 老聃, đời sau thường gọi là Lão Tử. Tài liệu cũ nói rằng ông là người Lộc Ấp 鹿邑huyện Khổ 苦 nước Sở 楚. Nhưng qua khảo chứng của chuyên gia kết hợp với khai quật khảo cổ, hiện nay người ta đã chứng thực Lão Tử là người huyện Oa Dương 涡阳 tỉnh An Huy 安徽. Ông sống trong thời đại Đông Chu, từng giữ chức Tàng Thất Sử ( quản lý thư viện) tại kinh đô Lạc Ấp 洛邑 của Nhà Chu. Khổng Tử lúc chu du liệt quốc có gặp Lão Tử hỏi về lễ tại Lạc Ấp. Vãn niên, ông cỡi trâu đi về phía tây đến ải Hàm Cốc 函谷 , ở lại ải viết bộ Đạo Đức Kinh dài 5000 chữ  để lại cho quan coi ải là Tổng binh Doãn Hỉ 尹喜, rồi ra khỏi ải đi về phía tây đến Chu Chất 盩厔 (nay là huyện Chu Chí 周至của thành phố Tây An) dừng chân ở nơi núi non trập trùng bên sông Điền Dục 田峪 cạnh núi Chung Nam 终南, kết cỏ làm nhà tu luyện và giảng kinh, di tích đó ngày nay hãy còn, gọi là Lâu Quán Đài 楼观台 được xếp vào trọng điểm văn vật cấp quốc gia. Đó là nơi phát nguyên của Đạo giáo hay còn gọi là Lão giáo. Tương truyền Lão Tử vũ hóa (thoát xác bay lên tiên) xác phàm chôn ở địa điểm cách Lâu Quán Đài 8km về phía tây, nay là mộ của Lão Tử. (thuyết cũ nói rằng Lão Tử cỡi trâu ra khỏi ải đi đâu bặt vô âm tín).

Sau khi Đạo giáo hình thành vào đời Đông Hán, Lão Tử được tôn xưng Thái Thượng Lão Quân 太上老君. Theo sách Liệt Tiên truyện thì Lão Tử được tôn xưng là thần tiên.

Thế giới quan của Lão Tử    

Lão Tử xem Đạo là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Trong Đạo Đức Kinh  có câu : “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu, ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo, cưỡng vi chi danh viết đại” 有物混成,先天地生,寂兮寥兮,独立而不改,周行而不殆,可以为天下母,吾不知其名,字之曰道,强为之名曰大 (Có vật hình thành từ sự hỗn độn, sinh ra trước trời đất, lặng lẽ mênh mông, đơn nhất không thay đổi, đi khắp mọi nơi mà không mệt mõi, có thể xem là mẹ của vạn vật trong trời đất, ta không biết tên nó, tạm đặt tên là đạo, miễn cưỡng gọi tên nó là lớn). Chữ “hỗn thành” ta có thể liên tưởng tới thuyết vũ trụ nổ Big Bang. “Độc lập nhi bất cải” có nghĩa là đơn nguyên bất biến vì chưa có sự phân cực thành cặp phạm trù mâu thuẫn. “Chu hành nhi bất đãi” nghĩa là khắp không gian vũ trụ nơi nào cũng có. “Khả dĩ vi thiên hạ mẫu” vì Đạo là mẹ sanh của vạn vật. Qui luật của Đạo là “Phản giả Đạo chi động” 反者道之动  Động lực của Đạo là ngược lại (với lực phát sinh) từ đó có thể chuyển hóa theo hướng mới. Lão Tử nhận định rằng những cặp phạm trù mâu thuẫn rất gần gũi nhau “Họa hề phúc chi sở ỷ, Phúc hề họa chi sở phục” 祸兮福之所倚,福兮祸之所伏  (Họa là chỗ dựa của Phúc, Phúc là chỗ nằm của Họa) ý nói họa và phúc rất gần nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, tức họa biến thành phúc, phúc biến thành họa. Ý này Phật giáo diễn tả một cách cơ bản và rốt ráo hơn trong câu sau, trích trong Bát nhã Tâm Kinh “Sắc bất dị không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” ( Sắc _vật chất hữu hình_ không khác với Không _hư không trống rỗng_ ; Sắc tức là Không, Không tức là Sắc_ hình thức tuy khác nhau nhưng bản chất vốn là một, tất cả chỉ là ý thức, là tâm niệm, không phải thực thể, không có tự tánh, không độc lập tồn tại ). Trong Đạo Đức Kinh, có những câu ngày xưa khó lòng hiểu nổi, chẳng hạn “Thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” 天 地 万 物 生 於 有, 有 生 於 无  (Trời đất vạn vật sinh từ chỗ có, có sinh từ chỗ không). Các tư tưởng lớn gặp nhau (Lão và Phật) qua các câu đã dẫn trên, tuy nhiên trong suốt mấy ngàn năm qua, nhân loại đa số đều mù mờ không hiểu rõ. Các Phật tử  ngày nào cũng tụng Bát nhã Tâm kinh song không thật sự hiểu. Chẳng hạn, một đại đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Thiền tông Trung Hoa là Thần Tú cũng vẫn mơ màng không hiểu bản chất không của vạn vật, huống hồ gì những người khác. Các học giả đã nghiền ngẫm Đạo Đức Kinh của Lão Tử suốt mấy ngàn năm qua song vẫn chưa ai nói được rõ ràng “hữu sinh ư vô” là như thế nào. Sở dĩ như vậy là vì dùng tư duy logic để hiểu thì không thể hiểu được vì gặp phải mâu thuẫn. Chỉ có thể chứng thực bằng thực nghiệm mà thôi. Phải đợi đến thế kỷ 20 khi Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics) phát triển, người ta chế tạo được kính hiển vi điện tử có khả năng phóng to một vật lên hàng trăm tỉ lần, chế tạo được máy gia tốc có khả năng cung cấp năng lượng cực lớn cho các hạt dưới nguyên tử (subatomic particles) di chuyển với tốc độ gần bằng ánh sáng, bây giờ mới có thể hiểu rõ một vài câu bí hiểm trong Đạo Đức Kinh, chẳng hạn Lão Tử nói : “Hốt hề, hoảng hề, kỳ trung hữu tượng, hoảng hề, hốt hề, kỳ trung hữu vật” 忽兮恍兮,其中有像;怳兮忽兮,其中有物  (trong hốt hoảng có hiện tượng, trong hoảng hốt có vật chất). Khi một hạt quark và phản quark gặp nhau chúng tạo thành hạt meson chỉ tồn tại khoảng một phần nghìn tỉ giây, đó chính là hiện tượng mà Lão Tử mô tả bằng câu “Hốt hề hoảng hề kỳ trung hữu tượng” Khi một hạt electron đụng phải phản hạt của nó là positron, cả hai biến mất tạo ra 2 tia gamma, đó là vật chất dạng sóng. Đây là trường hợp mà Lão Tử mô tả bằng câu “Hoảng hề hốt hề kỳ trung hữu vật”. Một hạt quark đứng một mình không tồn tại, (vô) nhưng 3 hạt quark hợp lại tạo ra hạt proton hoặc hạt neutron vô cùng bền chắc (hữu) Proton và neutron hình thành hạt nhân nguyên tử kết hợp với hạt electron xoay chung quanh tạo thành nguyên tử vật chất, ví dụ hydrogen gồm hạt nhân là một hạt proton với một electron xoay quanh.  Một chất  đồng vị của hydro là deuterium, hạt nhân có 1 proton và 1 neutron

Hydrogen và chất đồng vị của nó là deuterium

Những tính chất kỳ lạ của quark cũng như của lượng tử nói chung khiến cho thuyết tương đối của Einstein ngày càng được thực nghiệm chứng minh, chẳng những thế cơ học lượng tử còn đi xa hơn những quan điểm ban đầu của Einstein, do bản chất của lượng tử vốn hư ảo lại có thể sinh ra nguyên tử có vẻ rất thật mà Lão Tữ mô tả trong câu “Thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” và Phật giáo cũng đã đề cập trong Bát nhã Tâm Kinh. Nguyên tử là hữu, hạt quark đơn lẻ hay chất điểm (point particle) là hữu, hạt photon, hạt electron là hữu nhưng các hạt cơ bản của vật chất có bản chất là sóng vô hình vô thể nên gọi là vô  (nói là vô nhưng không phải hư vô, đó là cái mà vật lý hiện đại gọi là chân không lượng tử_ quantum vacuum), hữu và vô thật ra không khác nhau, vật chất và tinh thần cũng không khác nhau.  Đạo vô hình, vô thể, là gốc của vạn vật, ông nói : “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”  道生一,一生二,二生三,三生万物”  Đại khái ta có thể hiểu câu này như sau, Đạo là vô hình vô thể, sinh ra hữu thể đầu tiên là năng lượng với đơn vị là lượng tử (nhất), lượng tử sinh ra quark và electron (nhị), quark và electron sinh ra nguyên tử vật chất (tam), nguyên tử sinh ra vạn vật.

Chủ trương chính trị và nhân sinh của Lão Tử

Xuân Thu là một thời đại vô cùng hỗn loạn, do đó các nhà tư tưởng đều muốn tái lập trật tự . Tuy nhiên mỗi nhà từ chỗ nhận thức khác nhau về thế giới, nên có những chủ trương khác nhau. Khổng Tử mong muốn “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” (câu này chính xác do Nho gia có thể là Tăng Sâm ghi trong sách Đại học) bằng phương pháp chính danh, dùng lễ nhạc để cảm hóa nhưng không thành công. Còn Lão Tử trước hết phủ định Trời như một bậc Thượng đế có ý chí và quyền lực vô biên, ông nói : “Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu” 天地不仁 以万物为刍狗  (Trời đất bất nhân coi vạn vật như con chó rơm). Ông nói : “Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội, tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ, tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu”  绝圣弃智,民利百倍。绝仁弃义,民复孝慈。绝巧弃利,盗贼无有 (Dứt thánh bỏ trí, dân lợi trăm lần, dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại có hiếu và thương người, dứt kỹ xảo bỏ lợi lộc, không có trộm cướp) Khác với Khổng Tử, ông không đề cao các giá trị văn minh sáng tạo của của con người như thánh trí, nhân nghĩa, kỹ xảo và lợi tức. Xảo là cái mà ngày nay chúng ta gọi là khoa học kỹ thuật, còn Lợi chính là tiền tài, lợi tức, sản phẩm vật chất, là GDP (Gross Domestic Product= Tổng sản phẩm quốc nội).  Bởi vì các giá trị đó đều có mặt trái của chúng, do đó ông muốn thấy một xã hội thuần phác, yên tĩnh, vô vi. Có lẽ cuộc sống của bộ tộc  Kogi ở Colombia Nam Mỹ mà người ta quay phim năm 1993, gần với lý tưởng của Lão Tử. Họ sống cực kỳ đơn giản, không ăn thịt cá, chỉ ăn rau cải, trái cây, an tĩnh hướng nội, trí tuệ sáng suốt, rất ít bệnh tật, rất ít giao tiếp với bên ngoài, môi trường được bảo tồn hoàn hảo, suốt mấy ngàn năm không hề thay đổi. Họ đã sống hoà bình yên ổn, không tranh đua và có lẽ cảm thấy rất hạnh phúc trong rừng rậm. Lão Tử chủ trương “Vô vi nhi trị” không làm gì can thiệp vào trật tự của tự nhiên mà được thịnh trị. Ông nói : “Ngã vô vi nhi dân tự hoá, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nhi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác”  我无为而民自化,我好静而民自正,我无事而民自富,我无欲而民自朴   (Ta vô vi mà dân tự cải thiện, ta thích yên tĩnh mà dân tự làm đúng, ta không làm gì mà dân tự giàu, ta không ham muốn mà dân tự chất phác) Lão Tử đứng ở vị trí của bậc quân chủ mà nói, khuyên các bậc vua chúa vô vi, yên tĩnh, vô dục  để dân chúng, xã hội sẽ tự cải thiện lành mạnh. Chữ “phú” (giàu) ở đây có ý nghĩa tâm lý chứ không phải giàu về vật chất, giàu vì biết đủ, biết thế nào là đủ cho mình hạnh phúc, vì cái xã hội mà ông coi là lý tưởng thật ra có GDP rất thấp, dân chỉ có phương tiện sinh hoạt tối cần thiết mà thôi, nhưng họ hạnh phúc vì không có bất công, không ai chiếm đoạt tài sản của họ làm ra, không ai tranh giành. Cái xã hội đó không hướng về sự giàu có về của cải vật chất nên không cần nhiều kỹ xảo mà hướng về cuộc sống tinh thần an lạc, dựa trên sự quân bình của Đạo. Sự quân bình đó là “ Tổn hữu dư nhi bổ bất túc” 损有余而补不足  ( bớt chỗ dư bù chỗ thiếu). Trái lại con người sống theo tư dục luôn luôn hành động ngược lại, tức là họ bớt chỗ thiếu bù chỗ dư, chẳng hạn xã hội ngày nay là đầy bất công vì người giàu thì càng lúc càng giàu thêm, người nghèo thì càng lúc càng nghèo thêm, đến một lúc nào đó xã hội không còn chịu đựng nổi ắt nổ ra cách mạng.

Triết học nhân sinh của ông có thể tóm tắt như sau “ Tích nhật Lão Đam chi sinh dã, do vô chí hữu; Kim nhật Lão Đam chi tử dã, do hữu qui vô” 昔日老聃之生也,由无至有”、“今日老聃之死也,由有归无   (Ngày xưa Lão Đam sinh ra là từ không tới có, nay Lão Đam chết là từ có trở về không) Như thế sống hay chết đối với ông chỉ là sự biến đổi, chẳng có gì quan trọng. Trong cuộc sống ông chủ trương bất tranh : “Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh” 以其不争,故天下莫能与之争  (Mình không tranh giành thì thiên hạ không ai tranh được với mình). Sở dĩ không tranh giành, vì hiểu qui luật “ Vật hoặc tổn chi nhi ích, hoặc ích chi nhi tổn. Nhân chi sở giáo ngã diệc giáo chi. Cường lương giả, bất đắc kỳ tử” 故物或損之而 益,或益之而損。人之所教,我亦教之。強梁者不得其死  (Vật hoặc bớt mà được thêm, hoặc thêm mà bị bớt. Người mà dạy được ta ắt cũng dạy hắn rồi. Kẻ hung bạo chết bất đắc kỳ tử). Đạo không có thêm bớt, thêm bớt chỉ là biểu hiện cục bộ của vật, vì vậy người trí không tranh.

D/Jesus Christ

Jesus hay Giêsu là người sáng lập ra Kitô giáo. Giêsu là người Do Thái có tên là Yehoshua (יהושע – có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ” trong tiếng Hebrew), thường được gọi vắn tắt là Yeshua (ישוע). Từ “Kitô” (tiếng Latinh: Christus; tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós hoặc từ “Cơ Đốc”, chữ Hán: 基督 Ji-du) là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là “người được xức dầu”, nhằm chỉ ông là một vị lãnh đạo, chính trị cũng như tôn giáo, được chọn bởi Thiên Chúa. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm. Đó là “Đấng cứu thế”.Chữ Kitô hữu được chỉ những người tin và theo Chúa Kitô. Trong Phúc âm John chương 14 câu 6 chép: “Đức Chúa Giêsu phán rằng: Thầy là đạo, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (John 14:6). Theo đức tin Kitô giáo, Giê-su là con Đức Chúa Trời, và được sinh ra trên Trái Đất và chịu đóng đinh, để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, nên Giê-su còn được xưng tụng là Đấng Cứu Thế.

Hầu hết các học giả đồng ý rằng Giêsu là một người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36 CN tại xứ Judea, ông chỉ sống và hoạt động tại Galilee và Judea (vùng Bờ Tây sông Jordan) chứ không ở nơi nào khác.

Bản đồ vùng Galilee và Judea thuộc nước Israel ngày nay

Luca (Luke, một trong bốn sách Phúc Âm) 1:5 viết rằng Herod đã trị vì trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ khi ông khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius (khoảng năm 28 hoặc 29 Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Giêsu sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến 4 trước Công nguyên. Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện ông bị đóng đinh trên cây thập giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên.

Theo Kinh thánh Tân Ước, Cuộc đời và tư tưởng của chúa Giêsu được tuyên giảng lại theo bốn sách Phúc Âm (the four gospels, bao gồm: Matthew, Mark, Luke and John )

Phúc âm Mark 6:3 ký thuật rằng “Giêsu là con của Maria, anh của Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon”. Nhưng  Hieronymus hay thánh Jerome cho rằng Giacôbê và những người em khác chỉ là em họ của Giêsu.

Giêsu trải qua thời niên thiếu tại làng Nazareth thuộc xứ Galilee. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Giêsu theo gia đình lên Jerusalem trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Giêsu 12 tuổi được tìm thấy trong Đền thờ Jerusalem, đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo.

Theo Kinh Thánh, Giêsu đã cùng các môn đồ đi khắp xứ Galilee để giảng dạy và chữa bệnh. Ông thường tập trung giảng về Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là Bài giảng trên núi, trong đó đề cập đến Tám Mối Phúc thật (Beatitudes). Trong số những dụ ngôn của Giêsu, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện: Người Samaria nhân lành và Người con trai hoang đàng. Giêsu có nhiều môn đồ, thân cận nhất là mười hai sứ đồ (hoặc tông đồ), Phêrô (Peter) được Công giáo Rôma cho là sứ đồ trưởng. Theo Tân Ước, Giêsu làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazarô sống lại khi đã chết. Một phép lạ nổi tiếng khác là  Giêsu từ 5 ổ bánh mì và 2 con cá, đã biến ra đủ số lượng cho cả chục ngàn người ăn no.

Sách Phúc Âm John kể rằng : [Khi ấy, Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilee, cũng gọi là Tiberias. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua  (Passover) là đại lễ của người Do-thái đã gần tới.

Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?” Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philipphê thưa: “Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút”. Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người”. Chúa Giêsu nói: “Cứ bảo người ta ngồi xuống”. Nơi đó có nhiều cỏ, người ta ngồi xuống, số đàn ông độ năm ngàn chưa kể đàn bà và trẻ con.

Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã ăn no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi”. Họ thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư].

Giêsu cùng các môn đồ lên thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua (Passover); ông vào Đền thờ Jerusalem, đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: “Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp”. Sau đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (Sanhedrin) bởi viên Thượng tế Joseph Caiaphas. Trong bóng đêm của khu vườn Getsemani ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện được Giêsu nhờ cái hôn của Judas Iscariot, một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền.

Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin kết án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc Pontius Pilatus (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt INRI (của câu: “Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái”) được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilatus.

Sau khi Giêsu chết, Giuse người Arimathea đến gặp Pilatus và xin được phép chôn cất với sự chứng kiến của Maria (mẹ của Giacôbê), Maria Magdalena (Maria của thành Magdala, người yêu của Giêsu), và những phụ nữ khác.

Theo hầu hết các giải thích Kinh Thánh của Kitô giáo, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải, tình yêu vô điều kiện, tha thứ tội lỗi, khoan dung và hướng về Thiên đường. Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái, Ki tô giáo đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với đạo Do Thái chỉ vài thập kỷ sau cái chết của Giêsu. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp đế chế La Mã dưới dạng được biết đến qua Tín điều Nicea [  hay Kinh Tin kính Nicea (Tiếng Latinh: Symbolum Nicaenum) là kinh tuyên xưng đức tin của Giáo hội Công giáo] và trở thành quốc giáo dưới thời Theodosius I. Qua hàng thế kỷ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới.

Một số Phật tử, trong đó có Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 thời hiện đại xem Giêsu như một vị Bồ tát, người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại.

II/NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Đối với nền giáo dục phổ thông của từng quốc gia, hầu hết chúng ta đều quen thuộc. Nó có nguồn gốc từ Phương Tây và chủ yếu dựa vào khoa học.

Trong các thế kỷ 19 và 20, sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, của phương Tây lan tràn khắp thế giới và chiếm vị trí chủ đạo trong giáo dục kể cả tại mẫu quốc và thuộc địa. Do đó nền giáo dục phổ thông của hầu hết các quốc gia hiện nay là tương đối giống nhau, chủ yếu dựa trên các bộ môn khoa học như :

1/Vật Lý học (Physics), dạy về sự nhận thức thế giới tự nhiên chung quanh con người nhưng thiên về các định luật vật lý, các hiện tượng tự nhiên như điện, quang, từ trường, các lực cơ bản của vật lý hoặc một số phát minh của con người như máy hơi nước, động cơ xăng dầu, thủy điện, nhiệt điện, quang điện, phong điện v.v…

2/Hóa học (Chemistry), dạy về cấu trúc phân tử của vật chất, sự tương tác của các nguyên tố, bảng phân loại tuần hoàn (Periodic table) do nhà hóa học Nga Dmitri Mendeleev công bố lần đầu năm 1869, trong đó sắp xếp theo thứ tự các nguyên tố hóa học dựa trên cấu trúc nguyên tử, mà hạt nhân là các hạt proton và neutron, sự phân bố electron, từ đó có ảnh hưởng tác động khi các nguyên tố tương tác với nhau.

3/Sinh Vật học (Biology), dạy về sự nhận thức thế giới tự nhiên chung quanh con người nhưng thiên về mô tả thế giới sinh vật, động vật, thực vật, côn trùng, con người, các quy luật về di truyền, đời sống, tập tính. Đối với cơ thể con người thì đi sâu hơn về mặt giải phẫu học, sinh lý học cơ thể, từ đó tiến tới Y học, trị bệnh khi hoạt động cơ thể bị rối loạn hoặc gặp trở ngại và cách phòng bệnh.

4/Tin học (IT= Information Technology) là một bộ môn khoa học mới phát minh gần đây, vào cuối thế kỷ 20, nhưng có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống nhân loại hiện nay. Tin học dạy về sự vận động của hạt electron và hạt photon, chúng được lợi dụng qua cơ chế đóng ngắt của dòng điện hoặc dòng ánh sáng, với quy ước mô tả bằng số nhị phân, đóng tức có dòng điện hay dòng ánh sáng quy ước là số 1, ngắt tức không có dòng điện hay dòng ánh sáng quy ước là số 0. Chỉ với hai cơ số này, người ta có thể diễn tả bất cứ số lượng bao nhiêu, bất cứ con số nào. Mỗi con số được gán cho một đặc điểm về hình dáng, màu sắc, độ sáng, cao độ, cường độ của âm thanh v.v…Kỹ thuật gán ghép này gọi là số hóa, nghĩa là diễn tả tất cả mọi đặc điểm gì mà con người nhận thức được bằng những con số nhị phân.

Người ta chế tạo được những bộ vi xử lý (processor) có tốc độ rất cao, rung động hàng tỷ lần trong một giây để làm công việc thay thế gán ghép đó. Người ta cũng chế tạo được những thiết bị để ghi nhớ vô lượng vô biên những con số nằm sát khít bên nhau, hiện nay chúng chỉ còn cách nhau khoảng 10 nanomettre (một nano mét bằng một phần tỷ mét). Bộ nhớ có hai loại : bộ nhớ lưu trữ (storage memory) và bộ nhớ hoạt động (RAM= random access memory). Khi hoạt động thì dữ liệu từ bộ nhớ lưu trữ phải được đưa vào bộ nhớ RAM để hiển thị và tương tác.

Người ta cũng chế tạo ra mạng internet để kết nối toàn bộ các thiết bị thông tin trên toàn thế giới lại với nhau. Như thế nghĩa là một người đang ở bất cứ đâu, khi vào mạng internet thì có thể liên lạc, tương tác, trao đổi thông tin với bất cứ ai có vào mạng internet.

Ngày nay đại đa số con người trên địa cầu đều có sử dụng điện thoại di động, nhất là smartphone là một loại thiết bị thông tin tiêu biểu và phổ biến của kỹ thuật số, khiến cho việc liên lạc giữa con người với nhau trên phạm vi toàn thế giới trở nên dễ dàng, thuận lợi và ít tốn kém.

5/Toán học bao gồm Hình học, Số học và Đại số học (Mathematics includes geometry, arithmetics and algebra). Hình học dạy về mối quan hệ giữa các loại hình dáng như hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình thoi, hình bình hành, đường thẳng, đường cong, không gian vũ trụ. Số học dạy về mối quan hệ tính toán giữa các con số. Đại số học là mức độ cao cấp của số học, con số có thể mang dấu cộng (dương) hoặc trừ (âm) và có những ẩn số tức những con số chưa xác định, được thay thế bằng chữ. Ví dụ công thức biến đổi giữa vật chất và năng lượng của Einstein :

E = MC2

E là con số thay thế cho năng lượng, M là khối lượng vật chất, C là một hằng số, tốc độ của ánh sáng.

6/Lịch sử (History) dạy về những sự kiện xảy ra trong quá khứ liên quan tới đời sống của một đối tượng nào đó như Địa cầu, một quốc gia, một vùng đất, một dân tộc, một con người hay một ngành khoa học v.v…

Lịch sử chia ra :

a/Thời tiền sử và Thượng cổ (Prehistoric and Ancient period). Khi con người chưa có văn minh, chưa có ngôn ngữ, văn tự để ghi chép, chưa có sách vở ghi nhận thông tin, đó là thời tiền sử. Do đó thông tin của thời tiền sử dựa vào ngành khảo cổ khai quật từ lòng đất. Thời thượng cổ (Ancient period) khi con người đã bắt đầu có văn minh, có ngôn ngữ văn tự để ghi chép. Trên thế giới chỉ có một vài nền văn minh cổ đại mới có thông tin về thời thượng cổ.

Văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamian civilization) là vùng đất thuộc vùng đồng bằng trăng lưỡi liềm, nơi khai sinh ra các nhà nước thành bang cổ đại vùng Trung Đông. Vùng giao nhau của hai sông Tigris và sông Euphrates đã tạo nên một vùng đất màu mỡ và nguồn cung cấp nước cho tưới tiêu.

Vùng Lưỡng Hà, giữa hai sông Tigris và Euphrates

Những nền văn minh nổi lên xung quanh hai con sông này là những nền văn minh lâu đời nhất không du canh, du cư, được biết cho đến nay. Vùng Lưỡng Hà này sản sinh ra những nền văn minh như Sumerian, Akkadian, Assyrian, and Babylonian.

Văn minh Ai Cập cổ đại (Ancient Egyptian civilization)

Lưu vực sông Nil ở Bắc Phi là nơi ra đời nền văn minh Ai Cập cổ đại. Khoảng 6000 năm TCN, xuất hiện các vương quốc của xã hội tiền Ai Cập cổ đại (trước khi xuất hiện chế độ quân chủ ở Ai Cập) có kĩ năng trồng trọt và chăn thả gia súc. Những hình ảnh ban đầu đó có thể quan sát được qua những biểu tượng trên đồ gốm của nền văn hóa Gerzeh, khoảng 4000 năm TCN, giống với chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại. Vữa hồ bắt đầu được sử dụng từ khoảng 4000 năm TCN, đồ gốm sứ bắt đầu được sản xuất từ khoảng 3500 năm TCN. Bệnh viện và trung tâm phục vụ y tế bắt đầu có từ 3000 năm TCN.

Lưu vực sông Nil Ai Cập

Văn minh Ấn- Hằng (Indus-Ganges Civilisation)  

Văn minh lưu vực sông Ấn xuất hiện khoảng 3300 năm TCN. Giai đoạn đầu xuất hiện trước 4000 năm TCN. Trung tâm của nền văn minh là nằm bao quanh sông Ấn (chủ yếu thuộc lãnh thổ của Pakistan, và một phần nhỏ là thuộc Afghanistan, Iran và Ấn Độ), mở rộng về phía đông đến lưu vực sông Ghaggar-Hakra và ngược dòng vươn tới sông Hằng, sông Yamuna . Phía tây mở rộng tới bờ biển Makran thuộc Balochistan (Pakistan), phía nam đến làng Daimabad, tỉnh Maharashtra, Ấn Độ.

Nền văn minh sông Hằng gắn với công cuộc hoạt động truyền bá Đạo Phật của Thích Ca Mâu Ni vào thế kỷ thứ 7 và thứ 6 Trước CN.

Bản đồ Ấn Độ thời Đức Phật

Văn minh Hoàng Hà

Lưu vực sông Hoàng Hà miền Bắc TQ

Khởi phát nền văn minh Trung Quốc nằm cách không xa sông Hoàng Hà (song song với sông Trường Giang) do xung quanh khu vực tìm thấy nhiều di tích của thời Trung Quốc tiền sử. Các nền văn minh thời đại đồ đá mới tìm thấy được ở Trung Quốc là văn minh Bành Đầu Sơn (Pengtoushan) (sông Trường Giang) và văn minh Bùi Lý Cương (Kebudayaan Peiligang), tất cả chúng đều xuất hiện khoảng 7000 năm TCN hoặc sớm hơn. Giai đoạn văn hóa Bành Đầu Sơn, tại di chỉ này tìm thấy dấu tích của lúa gạo từ khoảng 7000 năm TCN. Tại di chỉ Giả Hồ (Jiahu) cổ đại tìm thấy vài bằng chứng về việc trồng lúa. Một khám phá quan trọng tại Giả Hồ là cây sáo cổ làm bằng ống xương có niên đại khoảng 7000-6000 năm TCN.

Cây sáo Giả Hồ làm bằng xương ống

Văn minh Bùi Lý Cương là một trong những nền văn minh lâu đời nhất tại Trung Quốc có sản xuất đồ gốm. Cả nền văn minh Bành Đầu Sơn và nền văn minh Bùi Lý Cương đều phát triển hoạt động trồng , chăn nuôi, lưu trữ và phân phối thực phẩm. Bằng chứng khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của các thợ thủ công, đày tớ. Lối chữ hình vẽ (Pictogram) được cho là khởi đầu của hệ thống chữ viết Trung Quốc bắt nguồn từ các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi tại Trung Quốc. Tại di chỉ Giả Hồ tìm thấy một số lối chữ hình vẽ, nó không được xem là có hệ thống chữ viết nhưng những ký hiệu đó là giai đoạn đầu dẫn đến hệ thống chữ viết tượng hình.

Văn minh Hy Lạp cổ đại

Trong hang động Franchthi, phía đông nam Argolis, Hy Lạp có bằng chứng về hoạt động nông nghiệp của Hy Lạp cổ đại. Gần 11000 năm TCN, canh tác ngũ cốc, các loạt hạt, lúa mì xảy ra đồng thời, trong khi yến mạch và đại mạch xuất hiện khoảng 10500 năm TCN; đậu Hà Lan và  thì khoảng 7300 năm TCN. Khu vực định cư thời đồ đá mới rải rác khắp Hy Lạp cùng với hoạt động nông nghiệp và sản xuất đồ gốm. Những địa điểm nổi tiếng như Sesklo và Dimini, đã có đường giao thông, quảng trường. Nó là một ví dụ về không gian thành phố cổ trong lục địa châu Âu. Một địa điểm quan trọng khác là Dispilio nơi phát hiện ra một phiến đá cổ xưa với đường nét như văn bản cổ.

Phiến đá Dispilio có chữ viết niên đại 5260 TCN

Văn minh Minoan là nền văn minh thời đại đồ đồng đầu tiên tại Hy Lạp. Nền văn minh phát sinh trên đảo Crete và phát triển mạnh mẽ khoảng 2700-1500 năm TCN, nhưng thời điểm khởi đầu phát triển của nó xảy ra rất xa trước đó.

Bản đồ Hy Lạp cổ 750 Trước CN

b/ Thời Trung cổ  

Là giai đoạn khoảng 1000 năm từ năm 501 – 1500 CN. Thời trung cổ là một giai đoạn lịch sử hơi đen tối tại Châu Âu, không còn thời kỳ huy hoàng của nền văn minh Hy Lạp- La Mã, xã hội có nhiều xáo trộn, dịch bệnh, giáo dục dựa hoàn toàn vào nhà thờ, khoa học chưa phát triển. Đây cũng là thời kỳ phát sinh nhiều quốc gia Âu Châu hiện đại như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha.

Thời kỳ trung cổ tại Ấn Độ được coi là thời hoàng kim với đế quốc Gupta. Sau khi vương triều Gupta diệt vong , vua Harsha của Kannauj đã thống nhất được miền Bắc Ấn Độ trong thế kỷ 7. Từ thế kỷ 7 đến 9, có 3 vương triều cạnh tranh nhau để làm bá chủ miền Bắc Ấn: Pratihara của Malwa và sau đó là Kannauj, Pala của Bengal, và Rashtrakuta của Deccan. Vương triều Sena sau đó cai trị vương quốc Pala, còn Pratiharas thì phân rã thành nhiều nhà nước nhỏ. Đây là những Rajputs đầu tiên, những vương quốc cố tồn tại dưới hình thức nào đó suốt gần một thiên niên kỷ cho đến khi Ấn Độ giành được độc lập từ người Anh.

Đây là thời kỳ mà nền nghệ thuật của Ấn Độ đã có những tác phẩm đẹp nhất, được xem là bản thu nhỏ của sự phát triển nghệ thuật kinh điển, và sự phát triển của các hệ thống tinh thần và triết học sẽ được tiếp tục trong Ấn giáo, Phật giáo.

Thời trung cổ tại Trung Quốc là một thời kỳ trải qua các triều đại lớn là Nhà Tùy (隋朝 561-619 CN), Nhà Đường ( 唐朝 618-907), Nhà Tống (宋朝 960-1279), Nhà Nguyên (元朝 1271-1368), Nhà Minh (明朝 1368-1644).

Thời Nhà Tùy, Thiền tông Ấn Độ bắt đầu truyền sang TQ với vị tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma菩提達磨bodhidharma đi thuyền đến miền nam TQ vào năm 520 đời Lương Võ Đế và có yết kiến ông vua này.

Nhà Đường là một trong những triều đại hưng thịnh nhất trong lịch sử TQ, thời kỳ hưng thịnh của  con đường Tơ Lụa ( 絲綢之路Silk Road) buôn bán giữa Châu Á và Châu Âu. Con đường tơ lụa được mở ra từ thời Nhà Hán, và phát triển mạnh thời Nhà Đường. Đây cũng là  thời hoàng kim của Thơ Đường.

Năm 1266, những người Châu Âu đầu tiên là cha của Marco Polo là Nicolai Polo và em trai của ông đã tới triều đình của đại hãn Hốt Tất Liệt tại Đại Đô (Khanbaliq), nay là Bắc Kinh, đánh dấu bước đầu giao lưu chính thức giữa Âu và Á Châu. Năm 1275, hai anh em Nicolai dẫn theo Marco Polo đến gặp Hốt  Tất Liệt lần thứ hai lúc đó đã trở thành hoàng đế Nhà Nguyên tức Nguyên Thế Tổ. Marco Polo sau đó viết sách ca tụng TQ là nước giàu có hùng mạnh nhất thế giới thời đó.

b/ Thời cận và hiện đại (khoảng sau năm 1500 cho đến nay)

Đó là thời kỳ phục hưng ở Âu Châu, khoa học phát triển, sức mạnh về kinh tế và quân sự của phương Tây tăng lên mạnh mẽ. Một số cường quốc Âu Châu nổi lên thành đế quốc, đi thám hiểm thế giới bằng thuyền. Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha bắt đầu đi biển tìm hiểu và chinh phục thế giới. Năm 1492, trên danh nghĩa là người đại diện cho vương triều Tây Ban Nha, Cristoforo Colombo đã vượt Đại Tây Dương khám phá ra Châu Mỹ và gọi đó là tân thế giới để phân biệt với Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, là cựu thế giới. Năm 1519 Magellan, người Bồ Đào Nha tổ chức một chuyến đi vòng quanh thế giới lần đầu tiên dưới sự bảo trợ của triều đình Tây Ban Nha. Ông tin rằng quả đất tròn nên để đi sang phương đông, mục đích là đến Ấn Độ, TQ, nhưng ông đã đi về phía tây, vượt qua eo biển hiểm trở ở cực nam Châu Mỹ mà ngày nay gọi là eo biển Magellan để qua Thái Bình Dương và đến được Philippines, đáng tiếc là ông đã tử trận tại đảo Mactan. Trong năm chiếc tàu của hạm đội, chỉ có một chiếc duy nhất là Victoria trọng tải 85 tấn trở về được tới Tây Ban Nha sau khi đi một vòng quanh thế giới.           

Nếu các cường quốc hang hải Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tổ chức các chuyến vượt biển để khám phá, chính phục thế giới và di dân sang tân thế giới nhất là Trung và Nam Mỹ trong các thế kỷ từ 13 tới 17, thì các đế quốc phát triển sau là Anh, Pháp, Hà Lan thống trị từ thế kỷ 18 tới đầu 20, tìm cách chiếm hữu thuộc địa tại Châu Phi, Châu Á, Châu Úc và Bắc Mỹ. Nhiều nước thuộc các châu lục này trở thành thuộc địa của họ như Ấn Độ, Miến Điện, Malaysia, Indonesia, Đông Dương, Philippines, một phần Trung Quốc, toàn bộ Châu Phi, Châu Úc.

Sau Thế Chiến thứ hai, hầu hết các nước thuộc địa đều giành được độc lập. Các đế quốc lừng lẫy một thời như Anh, Pháp mất thế lực, nước Mỹ nổi lên thành siêu cường, đối đầu với khối cộng sản do Liên Xô dẫn đầu, đó là thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Đến năm 1991 Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu hoàn toàn sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Tuy nhiên các nước cộng sản TQ, VN, Triều Tiên, Cu Ba không sụp đổ. TQ và VN tiến hành cải cách mở cửa, phát triển nhanh. Qua thế kỷ 21 thì TQ đã phát triển thành siêu cường mới, năm 2009 GDP của TQ vượt qua Nhật Bản, trở thành nước số hai về kinh tế. Đến năm 2014, GDP của TQ tính theo phương pháp ngang giá sức mua (PPP= Purchasing Power Parity) thực tế đã vượt qua Mỹ.

7/Địa Lý

Môn Địa Lý dạy về tình hình thực tế liên quan tới lãnh thổ, dân số, kinh tế, chính trị của các quốc gia. Điều kiện tự nhiên của đất đai, sông ngòi, núi non, thời tiết. Yếu tố chính tạo ra thời tiết mùa màng trong năm là do trục địa cầu nằm nghiêng một góc 23 độ 27 phút so với mặt phẳng hoàng đạo của Mặt trời. Tùy theo vị trí của quả đất quanh quỹ đạo Mặt trời mà tia sáng chiếu thẳng hay chiếu nghiêng xuống trái đất, từ đó gây ra hiệu ứng khác nhau về ánh sáng, nhiệt độ của bầu khí quyển địa cầu, tạo ra chênh lệch về áp suất, sinh ra gió, mưa, thời tiết, mùa màng.

Vị trí Trái Đất trên mặt phẳng hoàng đạo tạo ra bốn mùa

Trục trái đất nằm nghiêng còn tạo ra hiệu ứng các mùa khác nhau trong năm gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông và sự trái ngược về mùa tại Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Ví dụ tháng giêng ở nước Pháp thuộc Bắc bán cầu là mùa đông thì Argentina thuộc Nam bán cầu là mùa hè.

Thời gian trên Địa cầu cũng được qui ước. Người ta chia địa cầu ra 360 kinh tuyến, mỗi kinh tuyến tương ứng với một góc độ hình học. Kinh tuyến gốc 0 độ được xác định đi ngang qua đài thiên văn Hoàng gia Greenwich, Luân Đôn, nước Anh. Bên trái của kinh tuyến gốc là các kinh tuyến Tây, bên phải kinh tuyến gốc là các kinh tuyến Đông. Một ngày đêm có 24 giờ nên một múi giờ bao gồm 15 kinh tuyến. Đường xích đạo dài 40077 km,  nên trên xích đạo các kinh tuyến cách nhau 111,3 km, như vậy chiều rộng của một múi giờ trên xích đạo là 1670 km. Tại các vĩ tuyến càng gần cực địa cầu, thì chiều rộng của múi giờ càng nhỏ đi. Giờ giấc khi qua một múi giờ khác thì sẽ thay đổi. Địa cầu quay từ tây sang đông, những múi giờ ở về phía đông kinh tuyến gốc, xa nhất là vùng viễn đông, ở về phía tây kinh tuyến gốc, xa nhất là vùng viễn tây. Thủ đô Wellington của New Zealand có giờ +12 , đường đổi ngày nằm trên kinh tuyến 180 độ đông thuộc Thái Bình Dương có giờ là -12 .  Theo quy định, hễ đi ngang qua đường này, ngày trong tháng sẽ phải thay đổi. Đi từ Tây sang Đông qua đây phải thêm 1 ngày. Đi từ Đông sang Tây phải giảm đi 1 ngày. Quy ước này khiến cho những người sống trên bán đảo Kamchatka sẽ đón giao thừa sớm nhất thế giới, còn người sống tại Alaska lại phải đợi thêm 1 ngày đêm nữa mới được ăn Tết, trong khi họ chỉ cách nhau trong gang tấc.

Người ta cũng chia địa cầu ra 180 vĩ tuyến lấy xích đạo làm vĩ tuyến gốc, phía bắc xích đạo có 90 vĩ tuyến bắc, phía nam xích đạo có 90 vĩ tuyến nam. Các vĩ tuyến vuông góc với kinh tuyến. Xích đạo là vĩ tuyến 0 độ. Có 5 vĩ tuyến đặc biệt có tên riếng :

  • Bắc cực khuyên (66° 33′ 38″ vĩ bắc)
  • Hạ chí tuyến (23° 26′ 22″ vĩ bắc)
  • Xích đạo (0° vĩ bắc)
  • Đông chí tuyến (23° 26′ 22″ vĩ nam)
  • Nam Cực khuyên (66° 33′ 38″ vĩ nam)

8/Triết học

Triết học dạy học sinh nhận thức về thế giới một cách khái quát, theo một thế giới quan như thế nào còn tùy thuộc hệ thống , không có sự thống nhất.  Học sinh các nước theo nền giáo dục phương Tây  thì học cho biết triết học Hy Lạp cổ đại với các triết gia như Socrates, Aristotle, Plato.  Thời trung cổ thì họ học tư tưởng của Ki tô giáo. Thời cận và hiện đại thì có Francis Bacon (1561–1626),  René Descartes (1596-1650), Martin Heidegger (1889-1976), Jean Paul Sartre (1905-1980).

Ở các nước theo chủ nghĩa xã hội, học sinh được dạy kỹ về triết học Marx- Lenine . Hệ thống này khẳng định thế giới quan duy vật khách quan, phù hợp với vật lý học cổ điển nhưng không còn đúng với vật lý lượng tử hiện đại.

9/Văn học

Bộ môn Văn học dạy cho học sinh biết những tác phẩm văn học, thi ca tiêu biểu của từng thời kỳ lịch sử. Các tác phẩm của thời xưa gọi là Cổ văn, còn các tác phẩm hiện đại gọi là Kim văn.

Tác phẩm văn học phản ánh đời sống của con người và xã hội trong hoàn cảnh cụ thể của các cá nhân, thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng. Tác phẩm văn học xuất hiện sớm nhất tại TQ là Kinh Thi, là thi ca của dân gian sống cách nay 3000 năm, được sưu tầm và tập họp trong quyển sách. Sau khi được Khổng Tử tuyển chọn gọi là san thi (删诗)thì Kinh Thi còn lại 305 bài lưu truyền tới ngày nay.

Thơ Đường là một thể thơ thành tựu trong đời Đường trở thành tiêu biểu cho thơ TQ, rất hưng thịnh dưới triều đại này, có hàng vạn bài thơ với hơn 2000 thi nhân. Trần Thượng Quân biên soạn cuốn Toàn Đường Thi Bổ Biên ghi nhận con số 52800 bài thơ được sáng tác dưới triều Đường.

Ở Ấn Độ có hai bộ sử thi  Ramayana và Mahabharata. Ramayana (cử chỉ của chàng Rama) ra đời khoảng 1500 Trước Công nguyên. Mahabharata là  thiên sử thi dài nhất trên thế giới, gấp 7 lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad và Odyssey cộng lại.

Illiad nghĩa là Bài ca thành Ilium.  Odyssey (truyện kể cuộc hành trình trở về quê hương của Odysseus còn gọi là Ulysses sau khi đánh chiếm thành Troia). là sự kết tinh hoàn thiện của nghệ thuật sử thi Hy Lạp. Hai tác phẩm này được cho là của Homer. Theo nhà sử học Herodote thì nhà thơ cổ Hy Lạp Homer (tiếng Hy Lạp Hómēros sống trong thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên.  Hầu hết các học giả sau này đặt Homer vào giai đoạn lịch sử thế kỷ 8 hoặc 7 trước Công nguyên.

Nhiều tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của phương tây và phương đông cũng được trích giảng trong trường học, giới thiệu cho học sinh, và đưa cả lên mạng internet dưới nhiều hình thức, từ phim truyện tới văn bản và sách nói dưới dạng âm thanh mp3.

10/Nghệ thuật

Các bộ môn nghệ thuật như nhạc, họa, cờ, kịch, điêu khắc, nặn tượng, chụp hình, quay phim, múa, hát, v.v… chủ yếu giúp cho học sinh có chút kiến thức để có thể thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật. Những học sinh có năng khiếu có thể tiếp tục tiến xa hơn trên con đường làm nghệ thuật. Khác với thời xưa, lúc một số bộ môn nghệ thuật bị rẻ rúng do quan niệm xướng ca vô loại. Ngày nay các bộ môn nghệ thuật rất được xã hội xem trọng, nhất là chụp hình, quay phim, múa, hát. Lý do là cuộc sống xã hội được nâng cao, cùng với sự phổ biến của tivi, điện thoại di động thông minh, bất cứ ai nếu muốn đều có thể có phương tiện để xem phim, chụp ảnh, quay video, nghe ca nhạc.

11/Ngoại ngữ    

Trong thời hiện đại, sự giao lưu giữa nhân dân các nước qua kinh tế, thương mại, du lịch, học tập, ngày càng phổ biến, nên việc học ngoại ngữ cũng trở nên thịnh hành. Mặt khác internet là một phương tiện giao lưu mới giúp cho người biết ngoại ngữ có nhiều cơ hội sử dụng hơn trước rất nhiều.

Những ngôn ngữ được nhiều người sử dụng hiện nay trên thế giới là tiếng Anh, Hoa, Ả Rập (422 triệu người nói), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hindi (Ấn Độ 260 triệu người nói) Nga, Nhật, Pháp, Đức, Hàn.

Tiếng Anh chiếm địa vị gần như độc tôn, là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới, do mức độ phổ biến, dễ học, là một ngôn ngữ để làm việc trong các hội nghị. Còn tiếng Hoa thì lại là ngôn ngữ có số người sử dụng đông đảo nhất trên thế giới. Chữ Hán do sự thống nhất văn tự dưới đời Tần Thủy Hoàng cách nay 2200 năm, khiến cho tất cả 1,4 tỷ người Hoa tại TQ đại lục và khắp nơi trên thế giới đều thống nhất sử dụng cùng một thứ văn tự mặc dù ngôn ngữ nói của họ có thể khác nhau. Tiếng phổ thông (Quan Thoại) TQ, tiếng Ngô (Thượng Hải), tiếng Khách Gia hay Hẹ (hakka), tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến, và một số tiếng địa phương TQ khác, nói khác nhau nghe không hiểu nhưng chữ viết thì vẫn giống nhau dễ dàng đọc hiểu.

Hai thứ ngôn ngữ có đông người sử dụng nhất trên internet cũng là tiếng Anh và tiếng Hoa.

Top Spoken Languages By Internet Users (2015): Top 10 ngôn ngữ được dùng hàng đầu trên internet năm 2015 như sau :

Đơn vị tính : triệu người

English – Tiếng Anh        565 Million Users – 33%

Chinese – Tiếng Hoa        509 Million Users – 30%

Spanish – Tây Ban Nha    164 Million Users – 10%

Japanese – Tiếng Nhật     100 Million Users –   6%

Portuguese – Bồ Đào Nha  83 Millions Users – 5%

German – Tiếng Đức          75 Million Users –  4%

Arabic – Tiếng Ả Rập         65 Million Users –  4%

Russian – Tiếng Nga           60 Million Users –  3%

French – Tiếng Pháp           60 Million Users –  3%

Korean – Tiếng Hàn Quốc  40 Million Users –  2%

12/Các môn học khác

Trong nền giáo dục phổ thông còn có một số môn học phụ khác như :

Công dân giáo dục : dạy về ý thức, cách ứng xử của một công dân tốt trong xã hội.

Thể dục : dạy rèn luyện cơ thể để bảo vệ sức khỏe.

Quân sự : dạy một số kỹ năng để sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ đất nước chống nội loạn, ngoại xâm.

III/ SỰ SONG HÀNH CẦN THIẾT CỦA HAI NỀN GIÁO DỤC

Nền giáo dục phổ thông bắt đầu khi đứa trẻ được 6 tuổi. Trước đó đứa trẻ cũng đã đi học mẫu giáo, nhưng trong thời mẫu giáo, đứa trẻ vừa học vừa chơi, việc học chưa được đặt nặng. Chỉ trong quá trình 12 năm học phổ thông, đứa trẻ được dạy dỗ các bộ môn như nêu trên.

Lên đến bậc đại học, học sinh học thêm một số chuyên ngành để có kỹ năng làm việc sau khi tốt nghiệp, chẳng hạn về kinh tế, tài chính, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, thủy sản, kiến trúc, văn khoa, ngoại ngữ, chính trị v.v…

Nền giáo dục phổ thông chú trọng dạy về kiến thức và kỹ năng khoa học trên cơ sở thế giới quan duy vật khách quan. Không phải chỉ có các nước xã hội chủ nghĩa mới xem trọng thế giới quan duy vật, ngay cả tại các nước dân chủ phương Tây, thế giới quan duy vật vẫn là chủ đạo. Thế giới quan duy vật cho rằng thế giới vật chất là có thật, là khách quan, là nền tảng của vũ trụ vạn vật. Hầu như tất cả mọi người đều xem trọng vật chất tiền bạc. Cả đời người chỉ lo kiếm tiền và hưởng thụ.

Song trong cuộc sống thực tế, một số người cảm thấy bất hạnh, không phải vì thiếu thốn tiền bạc vật chất, mà bởi vì cảm thấy cuộc sống mong manh, nhiều bệnh tật trong đó có nhiều bệnh nan y, nhiều biến cố xảy ra một cách vô thường như tai nạn máy bay, xe cộ, tàu thủy. Rồi bao nhiêu thiên tai, bão lụt, núi lửa, động đất, sóng thần, cuồng phong…khiến cho không thể an tâm hưởng thụ đời sống được. Ngoài ra còn chiến tranh, cướp bóc, nghèo đói, bất công, bạo loạn. Các quốc gia tranh giành nhau tài nguyên thiên nhiên, biển đảo, dẫn tới chiến tranh hoặc đe dọa chiến tranh. Ngay cả không phải tranh giành tài nguyên, chỉ là thể chế chính trị khác nhau, cũng đủ gây ra hiềm khích, thù địch. Một thời Chiến Tranh Lạnh chỉ vì chế độ chính trị khác nhau giữa hai phe Xã hội Chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và Tự do Dân chủ đứng đầu là Mỹ. Nước lớn mạnh thì muốn lật đổ chính quyền của nước nhỏ yếu thù địch. Nước nhỏ yếu thì cố gắng thắt lưng buộc bụng, mặc tình dân đói, cố gắng chế tạo tên lửa mang đầu đạn hạt nhân để tự vệ. Đó chính là tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Triều Tiên hiện nay, không ai chịu nhường ai và chưa biết sẽ dẫn tới đâu.

Chính vì những vấn nạn của cuộc sống như thế, một số người cảm thấy rằng nền giáo dục phổ thông không đủ mang lại hạnh phúc, an tâm cho con người. Thế nên họ phải hướng tới nền giáo dục của tôn giáo, coi trọng tâm linh hơn vật chất, tiền bạc.

Thế giới quan của tôn giáo, chẳng hạn Phật giáo, cũng khác hoàn toàn so với quan niệm phổ thông của tuyệt đại bộ phận trong nhân loại.

Thông thường con người, kể cả nhà khoa học lừng lẫy tiếng tăm là Einstein đều cho rằng vật chất là có thật, là khách quan. Không gian, thời gian, số lượng, đều là có thật. Nhưng PG nói rằng vật chất chỉ là chủ quan, là thế lưu bố tưởng, là vọng tưởng chứ không phải có thật. Chúa Giê su cũng đồng quan điểm này, chẳng những thế, ngài còn chứng tỏ bằng cách thực hiện phép mầu phân chia 5 ổ bánh và 2 con cá cho một vạn người ăn no. Điều đó chứng tỏ số lượng vật chất chỉ là ảo tưởng chứ không phải thật. Kinh Vô Lượng Thọ của Tịnh Độ Tông cũng nói rằng ở cõi Tây phương Cực lạc, khi chúng sinh ở đó muốn ăn hay cần vật dụng gì thì thực phẩm hay vật dụng đều hiện ra, ăn xong hoặc dùng xong thì mọi thứ đều tự biến mất.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Einstein đã bị chứng minh là sai lầm trong thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect thực hiện tại Paris năm 1982. Thí nghiệm đó chứng minh rằng hiện tượng liên kết lượng tử là có xảy ra, hạt photon không có sẵn bất cứ đặc trưng gì, chỉ khi có người quan sát, các đặc trưng đó mới xuất hiện, kết quả này trái với quan điểm duy vật khách quan của Einstein cho rằng các đặc trưng của hạt photon và hạt electron luôn luôn có sẵn. Điều đó chứng tỏ là hạt photon cũng như hạt electron và tất cả hạt cơ bản khác đều do con người tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Điều đó cũng tương ứng với hai câu trong kinh Hoa Nghiêm : Nhất thiết pháp vô tự tính (tất cả các pháp đều không tự có tính chất, đặc trưng gì cả). Và Nhất thiết duy tâm tạo (tất cả là do tâm tưởng tượng tạo ra).

Đức Phật từ hơn 2600 năm trước đã nhận ra cảnh giới thế gian chỉ là huyễn ảo không có thật. Nên ngài mới đi khắp nơi trong một địa bàn rộng khoảng 340 000 km2 của hai bang Uttar Pradesh, Bihar và một phần Nepal ngày nay để thuyết giảng về đạo giác ngộ, giải thoát con người khỏi mê lầm đau khổ một cách oan uổng.

Địa bàn hoạt động thuyết pháp của Đức Phật lúc sinh thời

Kết luận             

Ngay cả trong thời đại khoa học kỹ thuật rất phát triển, con người vẫn luôn luôn cần hai nền giáo dục trái ngược nhau để điều hòa cuộc sống. Nền giáo dục phổ thông dạy cho con người những kiến thức và kỹ năng tương ứng với một thế giới quan thông thường, phù hợp với nhận thức, cảm giác đời thường của con người. Nhưng những nhận thức đời thường đó mang tính chất vọng tưởng, mê muội, không đủ để đem đến cuộc sống an tâm, hạnh phúc cho con người. Vì vậy những người có hiểu biết một chút, cảm thấy sự cần thiết phải hướng tới nền giáo dục truyền thống của tôn giáo, nhất là Phật giáo, một nền giáo dục hướng tới sự giác ngộ, giải thoát tất cả khổ ách như Bát Nhã Tâm Kinh đã nêu :

āryāvalokiteśvarabodhisattvo

gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại (tức Quán Thế Âm) khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Giải thoát tất cả mọi khổ nạn vì thấu hiểu tất cả mọi cảnh giới đều là vọng tưởng của bộ não chứ không phải có thật. Giống như đêm nằm chiêm bao thấy nhà cháy, mất mát tài sản và người thân, lúc giật mình tỉnh dậy, biết rằng tất cả cảnh chiêm bao là không có thật, không cần phải lo âu, buồn rầu, sợ hãi, đau khổ.

Đức Phật đã chứng nghiệm, đã tuyên thuyết trong 2600 năm qua, rằng cảnh giới thế gian chỉ là huyễn ảo. Einstein mặc dù rất hâm mộ Phật giáo nhưng vẫn chưa hiểu điều đó. Sau khi ông qua đời, khoa học đã chứng minh rõ ràng rằng vật chất là chủ quan chứ không phải khách quan, các hạt cơ bản của vật chất, cụ thể là hạt electron không độc lập đối với ý thức. Thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ điều đó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Cho nên những lời dạy của Đức Phật ghi trong kinh điển vẫn còn nguyên giá trị.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

9 Responses to NHÂN LOẠI CẦN HAI NỀN GIÁO DỤC SONG HÀNH

  1. tran minh anh nói:

    chào anh anh có thể giải thích cho tôi điều này không: tâm luôn luôn đáp ứng cho bất cứ trải nghiệm nào nó muốn tôi có nhưng không nhất thiết đáp ứng cho bất cứ trải nghiệm nào mà tôi muốn có.

    • Trước trước khi trả lời, cần thống nhất ý nghĩa của tâm và bạn. Tâm là A-lại-da thức (Alaya) còn bạn là Mạt-na thức (Manas). Alaya và Manas thật ra thì không có khác nhau, Alaya là thức thứ 8 mà cũng là 8 thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, ý thức, manas, alaya). Nó không phải là hai (bất nhị) cũng không phải là một, mà là không có số lượng (non quantity) là bất định (uncertainty). Bạn tức Manas thì bị hạn chế, giống như ổ đĩa cứng trong tin học, còn Tâm tức Alaya thì không hạn chế, giống như internet. Alaya bao trùm tất cả, có khả năng vô hạn, Nho giáo gọi nó là Trời, Thiên Chúa giáo gọi nó là Thượng Đế. Người tu hành cầu đạo giác ngộ, không muốn làm Manas nữa mà muốn làm Alaya. Muốn đạt tới đó phải phá ngã chấp, phá pháp chấp, tức là phá vỡ mọi giới hạn. Theo kinh nghiệm của những người đi trước thì Manas cũng chính là Alaya, chỉ vì nó tự trói buộc mình thôi, tự giới hạn mình nên thành ra nhỏ bé, kém cỏi, làm gì cũng không được. Cái lý phi số lượng này được khoa học phát hiện năm 2012 khi Maria Chekhova có thể làm cho một photon xuất hiện đồng thời tại 100.000 vị trí khác nhau trong không gian. 100.000 cũng không phải là con số cuối cùng, thực tế là vô lượng vô biên vị trí. Nếu bạn làm Manas tức là cố định mình vô một vị trí nhất định. Còn nếu bạn làm Alaya thì vô lượng vô biên vị trí đều là bạn hết.

    • tran minh anh nói:

      nhưng tại sao ở BÁT THỨC QUI CỦ TỤNG TRANG CHÚ 八識規矩頌奘註
      Đại sư Thái Hư hiệu đính lại nói, thức Mạt na là đạo diễn, thức A lại da là nhà sản xuất

      • Lời mô tả giữa người này và người khác có thể rất khác nhau nhưng ý thì không có khác. Bạn cũng biết nhà sản xuất một bộ phim là người bỏ tiền đầu tư, là người có toàn quyền quyết định về bộ phim, là người thuê đạo diễn thực hiện. Còn nhà đạo diễn chỉ là người thừa hành, chỉ quyết định những vấn đề về kỹ thuật, thẩm quyền hạn chế hơn rất nhiều. Vậy thì có khác gì Duy Thức Học mô tả Alaya là Tàng thức rộng lớn vô biên, còn Manas chỉ là thức chấp ngã nhỏ hẹp.
        Bạn nên hiểu là tất cả chỉ là vọng tưởng thôi. Chỉ có trong nhất niệm vô minh mới có sinh tử luân hồi, khổ, nghiệp và giải thoát, niết bàn. Các bậc kiến tánh, giác ngộ đều nói rằng không có cái gì là có thật, có thực thể cả (Huệ Năng nói Bản lai vô nhất vật). Còn trong vọng tưởng thì có đủ thứ và Duy Thức Học ngày càng được khoa học chứng tỏ là đúng đắn.

      • tran minh anh nói:

        à hiểu rồi cảm ơn rất nhiều

    • tran minh anh nói:

      mà trên trang lại nói tâm alaida mới là đạo diễn

    • tran minh anh nói:

      trên trang nguyenthuychonnhu thậm chí còn phủ định duy thức học
      Theo kinh Nguyên Thủy, nghiệp lực không có thức, tức là không có cái biết. Do sự vô minh tương ưng nghiệp tái sanh luân hồi, chứ không có cái thức đi tái sanh.

      Các nhà duy thức học, chỉ tưởng ra màthôi, nên tưởng ra người giữ kho và cái kho đitái sanh (Mạc na thức và A lại da thức đi tái sanh).

      Sự thật trong kinh Nguyên Thủy dạy không có thức nào đi tái sanh luân hồi, chỉ có nghiệp thiện, ác đi tái sanh mà thôi. Nghiệp thiện ác, tức là do hành động nhân quả thiện ác tạo thành nghiệp.

      Kinh sách Phát triển đã lầm lạc vì bị thế tục hóa, nên biến linh hồn mê tín trong dân gian thành thần thức và khéo lý luận đặt tên là Mạc na thức và A lại da thức đi tái sanh luân hồi để xây dựng thế giới linh hồn người chết, để sanh ra cái nghề tụng niệm, nếu không có linh hồn thì các thầy đều thất nghiệp.

      Phật giáo nguyên thủy đã dạy: “Trong thân người gồm có 5 uẩn: 1 – sắc uẩn; 2 – thọ uẩn; 3 – tuởng uẩn; 4 – hành uẩn; 5- thức uẩn”.

      SẮC UẨN còn gọi là sắc ấm họat động gồm có sáu thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Gọi chung là SẮC THỨC. Khi một người sống bình thường suy nghĩ, nói nín hay họat động làm bất cứ một việc gì, nói bất cứ một điều nào hay suy nghĩ bất cứ một điều gì thì sắc thức họat động tức là nhóm sáu thức trong đó có ý thức họat động. Ý thức còn gọi là TRI THỨC là TRI KIẾN.

      TƯỞNG UẨN họat động khi nào lục thức ngưng hoạt động. Lục thức ngưng hoạt động là lúc chúng ta đang nằm ngủ chiêm bao. Trong giấc chiêm bao chúng ta cũng nghe, thấy, biết, ngửi, cảm giác rõ ràng. Cái biết trong chiêm bao gọi là TƯỞNG THỨC. Như vậy, tưởng thức và ý thức là hai thức chỉ giống nhau là cái biết, nhưng cái biết này có thì cái biết kia dừng lại. Có đúng như vậy không quý vị?

      THỨC UẨN họat động chỉ khi nào sắc uẩnvà tưởng uẩn ngưng họat động. Muốn sắc uẩn và tưởng uẩn ngưng họat động thì phải nhập định thứ tư. Nhập định thứ tư là phải tịnh chỉ hơi thở. Khi tịnh chỉ hơi thở thì thức uẩn hoạt động. Thức uẩn họat động tức là Tam Minh. Tam Minh gồm có: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận Minh. Tam Minh còn gọi là “TUỆ”. Tuệ Tam Minh là cấp học thứ ba, cấp học cao nhất của Phật giáo. Phật giáo có ba cấp học gồm có: “GIỚI, ÐỊNH, TUỆ”. Như vậy, Phật giáo không có Mạc na thức và A lại da thức. Có đúng như vậy không quí vị?

      THỌ UẨN là sự cảm thọ của ba thức, khi các thức họat động thì thọ uẩn có mặt.

      HÀNH UẨN là sự họat động của ba thức, khi ba thức họat động thì hành uẩn có mặt.

      Cho nên, Mạc na thức và A lại da thức là tưởng tri của kinh sách phát triển tưởng ra, vốn để chia chẻ tâm thức con người ra nhiều mảnh. Ðó là ý đồ làm lệch hướng Phật giáo chân chánh, để biến tôn giáo Phật giáo thành một tôn giáo mê tín, đầy lý luận, đầy ảo giác tưởng tri.

  2. Nguyễn Đăng Trí nói:

    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
    Con xin phép ngài cho con tạm mượn tinh thần LỤC HÒA – Kiến hòa đồng giải – Khẩu hòa vô tránh.

    Chào Tran Minh Anh.
    Tôi rất Tôn – Ngưỡng thầy Thích Thông Lạc với phương cách hoằng hóa của Thầy. Những gì Thầy hướng dẫn Tu Tập theo kinh điển Nguyên Thủy làm sống lại tinh thần tìm về ngày xưa BỔN SƯ THUYẾT (dựa theo bản dịch Thầy Thích Minh Châu./ Bạn nên biết rằng lời ngỏ trong bản dịch rất nhẹ nhàng và ý vị). Những lời dạy của thầy Thích Thông Lạc thấy hay ta theo, thấy dở thì không (bạn hãy đề phòng Tri Kiến của mình, đừng bị nó đánh lừa hùa theo./ lời dạy của Phật trong kinh Nguyên Thủy – Kalama (đừng tin …..). Bạn hãy thực hành đi …

    PGTGNTVN (Theravada) do Hòa Thượng GIỚI NGHIÊM có công khai sáng, ngày nay Thầy Viên Minh, Thầy Giới Đức, Thầy Bửư Chánh đang ra sức hoằng hóa RẤT HAY. Các thầy có chê bai phỉ báng gì đâu??? và các bậc Tôn Túc đứng đầu trong các hệ phái trực thuộc giáo hội PGVN có lên tiếng đâu??? bạn biết vì sao không??? —>>> TINH THẦN LỤC HÒA.

    GIÁO PHÁP CỦA PHẬT RA ĐỜI TRỊ BỆNH KHỔ CHÚNG SANH BÂY GIỜ VÀ MÃI MÃI VỀ SAU KHÔNG CÒN KHỔ TRỞ LẠI NỮA. TÙY HỢP THỜI MÀ THUYẾT PHÁP KHÁC NHAU. Tứ Diệu Đế tri bệnh khổ./ Tánh Không trị bệnh khổ (do nhất niệm vô minh nên chấp thật)./ Nhất thiết hữư vi pháp như Mộng Huyễn … cho đến tri Huyễn tức ly, ly Huyễn tức giác —>>> trị bệnh khổ. Pháp hội khác nhau, thời gian khác nhau, phương tiện khác nhau (LIỄU NGHĨA và BẤT LIỄU NGHĨA).
    CÁC BẬC THẦY TỔ TRUYỀN ĐĂNG VỀ SAU ĐẾN BÂY GIỜ HƠN 2500 NĂM (bạn nên biết trong giới luật phạm tứ trọng cấm – VỌNG NGỮ). Chúng ta ngày nay được nghe biết giáo pháp Như Lai là may mắn lắm trong đời làm người. Cảm ân sâu sắc nghĩa QUI TĂNG.
    Do vậy khi nghe một giáo pháp, một thời pháp nào ta phải VĂN TƯ TU (thực hành) theo tinh thần y pháp bất y nhân và luôn trân quí điều đó (có thể ta hiểu rồi không cần nhưng còn rất nhiều người cần theo nghĩa gieo duyên).

    TRANG DUY LỰC THIỀN hoằng pháp Tổ Sư Thiền nên dành cho chúng sanh cùng duyên, những học giả, hành giả thực hành THAM THOẠI ĐẦU (có nghi tình) tu tập trị bệnh khổ. Nhưng tôi thấy gần đây có nhiều bạn có biết giáo pháp Thầy Thích Thông Lạc hoằng pháp KINH NGUYÊN THỦY (nhưng một số danh từ mạnh miệng không có trong kinh như TƯỞNG TRI … v.v.). Các bạn hãy thực hành theo giáo pháp mình cho là đúng, nếu trị được bệnh khổ thì … LÀNH THAY, LÀNH THAY.

    Các bạn đọc có cảm tình bên NGUYÊN THỦY (dùng cái biết để tu) có thể nguyên cứu thêm những khám phá của nhân loại ngày nay như: LUẬT HẤP DẪN VŨ TRỤ, ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA NƯỚC, VẬT LÝ LƯỢNG TỬ, THÔI MIÊN TIỀN KIẾP và những ví dụ clip – kiến thức trong DUY LỰC THIỀN.
    Mong rằng giáo lý bất nhị đem lại AN LẠC, TỰ DO TỰ TẠI cho tất cả chúng sinh.

    Biết rằng trang này có rất nhiều bạn đọc công phu CAO THÂM giấu mặt. nhưng để Thầy Truyền Bình một mình đơn độc nên tôi không cam lòng. Xin mời các vị thượng nhân tham gia giúp đời.
    NAM MÔ CẦU SÁM HỐI BỒ TÁT MA HA TÁT.

    • tran minh anh nói:

      dĩ nhiên tôi không trách cứ gì thầy duy lực hay thầy Truyền Bình, tôi chỉ thắc mắc vì sao nói thức Mạt na là đạo diễn, thức A lại da là nhà sản xuất, và vì sao phật giáo nguyên thủy lại phủ nhận duy thức học

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s