SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA THẾ GIỚI TIN HỌC VÀ ĐỜI THƯỜNG

Trên Duy Lực Thiền tôi đã nhiều lần nói đến sự tương đồng, nghĩa là giống nhau giữa thế giới tin học và cuộc sống đời thường, bởi vì cả hai đều có bản chất là ảo hóa. Trong bài này tôi muốn xem xét tường tận hơn nữa.

Khái niệm về mối tương quan giữa thế giới tin học và đời thường

Nói một cách khái quát, thế giới tin học là thế giới phẳng, về mặt không gian tĩnh thì chỉ có hai chiều (2 dimensions viết tắt 2D), còn không gian động thì thêm một chiều thời gian nữa để biểu diễn sự biến đổi thì thành 3 chiều. Phim ảnh, video chính là không thời gian ba chiều động của thế giới tin học.

Thế giới đời thường là thế giới có bề dày, về mặt không gian tĩnh thì có ba chiều (3 dimensions viết tắt 3D), còn không gian động thì thêm một chiều thời gian nữa thành không thời gian (space-time) bốn chiều. Thế gian chính là không thời gian bốn chiều động của thế giới đời thường.

Khi thế giới tin học tăng thêm một chiều kích (dimension) thì thành thế giới đời thường. Nghĩa là thế giới đời thường là sự phóng hiện ra không gian 3 chiều (tĩnh) của cuốn phim điện ảnh.

Chúng ta thường cảm nhận có sự khác nhau hoàn toàn giữa thế giới trong phim điện ảnh và thế giới thật bên ngoài, thực tế thì sự khác nhau đó chỉ là khả năng còn giới hạn về mặt kỹ thuật của con người trong tin học. Chúng ta hãy đối chiếu để thấy cảnh giới trong phim ảnh và ngoài đời giống và khác nhau thế nào.

Số TT Thế giới ngoài đời Thế giới Tin học Hiệu ứng (thức) Đối tượng  (objects)
1 Mắt Video card Thấy Sắc (vật chất)
2 Tai Sound card Nghe Âm thanh, tiếng động
3 Mũi Chưa có Ngửi Mùi hương
4 Lưỡi Chưa có Nếm Cảm giác ngọt mặn, chua, cay…
5 Thân thể Chưa có Cảm giác tiếp xúc Cảm giác êm, đau, trơn, nhám…
6 Não Ram và CPU Ý thức Tư tưởng, tình cảm, ưa, ghét, phân biệt…
7 Mạt-na (Manas) Đĩa cứng Chấp ngã, khu biệt Cái tôi, cái của tôi
8 A-lại-da (Alaya) Internet Chánh biến tri Vũ trụ, vạn vật

 

Qua bảng đối chiếu trên, chúng ta thấy thế giới ngoài đời phức tạp hơn bởi vì thế giới ngoài đời có thêm 3 thức (ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc) mà tin học chưa có.

Ngoài ra, vấn đề gởi cố thể vật chất đi xa trong không gian với vận tốc nhanh hơn ánh sáng hoặc tức thời hiện nay vẫn còn là vấn đề nan giải, khoa học chỉ mới thực hiện được việc gởi một photon đi xa tức thời mà thôi.

Thí nghiệm của Anton Zeilinger gởi một photon tức thời đi xa 89 dặm (miles)

Tuy nhiên thực nghiệm đặc dị công năng thì đã làm được nhiều hơn. Năm 1979 Hầu Hi Quý đã thực hiện lấy một gói thuốc lá ở khoảng cách xa 1600 km.

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

Các nhà khoa học hy vọng rằng một ngày kia họ cũng sẽ làm được giống như Hầu Hi Quý, thực hiện viễn tải lượng tử đồ vật, thậm chí là cả một con người bằng xương bằng thịt, giống như video viễn tưởng sau :

Di chuyển một con người đi xa tức thời bằng viễn tải lượng tử

Trở lại với sự tương đồng giữa thế giới tin học và đời thường, hai thế giới này giống nhau ở bản chất là thông tin. Thế giới tin học là thông tin thì ai cũng biết rồi, hoàn toàn không có tranh cãi, nhưng nói thế giới đời thường hay thế gian cũng là thông tin thì rất ít người tin hiểu, không có một ai tưởng tượng nổi. Vì vậy cần phải trình bày chứng cứ để đi tới kết luận rằng vũ trụ vật chất cũng là thông tin.

Vũ trụ và thế giới đời thường cũng là thông tin

Phật giáo từ xa xưa đã nói thế gian là huyễn ảo, chỉ là do thức biến hiện (Duy Thức Học). Trong tác phẩm Thành Duy Thức Luận 成唯識論  tiếng Phạn (विज्ञप्तिमात्रतासिद्धि Vijñāptimātratāsiddhi),của Đại sư Huyền Trang  đã có tổng kết : Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thức 三界唯心 萬法唯識  nghĩa là : Ba cõi giới bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới đều là Tâm, Tất cả các pháp đều là Thức.

Mà bản chất của Thức là thông tin, giống như bản chất của tin học chính là thông tin. Thông tin chính là dữ liệu Data được biểu diễn trong đơn vị nhỏ nhất là bit, bit là đơn vị thông tin nhỏ nhất được ký hiệu là số 0 hoặc số 1. Với hệ đếm nhị phân, số 0 và số 1 được tổ hợp thành con số, bất cứ con số nào dù lớn hay nhỏ cũng đều có thể diễn tả bằng hệ đếm nhị phân này. Rồi tất cả mọi tính chất, đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ đều được thay thế bằng các con số gọi là số hóa hay kỹ thuật số (digital). Mỗi con số đại biểu cho một đặc điểm. Vô lượng vô biên đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ được gán ghép cho vô lượng vô biên con số. Bộ vi xử lý (processor) trong computer hay điện thoại sẽ thay thế các đặc điểm này vào các con số để phóng hiện lên màn hình thành văn bản, bài báo, hình ảnh, video, âm thanh. Ví dụ cụ thể như sau :

Nhị phân       Thập phân   Đồ hoạ
100 0000            64      @
100 0001            65      A
100 0010            66      B
100 0011            67      C
100 0100            68      D
110 0001            97      a

Chữ @ (a còng trong địa chỉ email) mã số là 64 (thập phân) hoặc 100 0000 (nhị phân)

Chữ A (viết hoa) có mã số là 65 (thập phân) hoặc 100 0001 (nhị phân)

Chữ a (viết thường) có mã số là 97 (thập phân) hoặc 110 0001 (nhị phân)

Về sau người ta sử dụng từ 8 tới 10 bit để diễn tả một con số hay một ký tự cơ bản và đặt tên là byte. Bội số của byte là kilobyte (KB) = 1024 bytes, Megabyte (MB) = 1024 KB, Gigabyte = 1024 MB, Terabyte = 1000 GB.

Và khi chúng ta gõ chữ A trên màn hình thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số 100 0001 tức 65 (thập phân) trong dữ liệu. Gõ chữ @ (a còng trong địa chỉ email) thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số  100 0000 (nhị phân) tức là 64 (thập phân).

Bộ vi xử lý có tốc độ cực kỳ nhanh, trong một giây có thể xử lý hàng tỷ bit  nên nó kịp thời hiển thị lên màn hình những biến hóa vô cùng đa dạng mà nguồn gốc chỉ là những con số được biểu diễn bằng 0 và 1 mà thôi.

Công tác xử lý của con chip chính là ứng dụng nguyên lý thay thế, nghĩa là mỗi tính chất, mỗi đặc điểm của sự vật được thay bằng một con số. Vô số con số của dữ liệu sẽ được hiển thị trở lại màn hình bằng cách giải mã khiến cho chúng ta chỉ thấy văn bản, hình ảnh, âm thanh, video chứ không phải chỉ là những con số vô hồn nữa.

Trở lại với Duy Thức Học, môn này giải thích các lý căn bản của thế gian đời thường bằng ba tính chất của sự vật :

1/ Y tha khởi tánh 依 他 起 性 : (Paratantra-svabhava), còn gọi là Duyên khởi tánh, Tương thuộc tánh. Tính chất này có thể diễn tả một cách khác là  Nhất thiết pháp vô tự tánh 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tánh, chính vì thế nó phải nương tựa vào một pháp khác mới thành ra có đặc điểm, thành một sự vật phân biệt được với sự vật khác. Điều này có ý nghĩa cụ thể là tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều không có sẵn đặc trưng, không có sẵn tính chất gì cả. Mọi đặc trưng đặc điểm của sự vật đều được thay thế hay gán ghép từ một nguồn khác. Điều này thấy rõ trong ngôn ngữ. Một chữ viết hay một âm thanh tự nó không có ý nghĩa; ý nghĩa của nó là do con người gán ghép. Sự gán ghép này lâu ngày trở thành một thói quen, một qui ước tự động, khiến cho nhiều người nhìn thấy chữ viết hay âm thanh thì liền hiểu ngay ý nghĩa được gán ghép của nó. Ví dụ : chữ “con ngựa” bất cứ người nào biết ngôn ngữ Việt Nam  đều tự động hiểu là chỉ con vật này. Còn đối với người chỉ biết tiếng Anh, phải dùng chữ horse họ mới hiểu.

Con ngựa (horse)

2/ Biến kế sở chấp tánh 遍计所执性 : còn gọi là Phân biệt tánh, Vọng kế tự tánh, Vọng phân biệt tánh, Vọng tưởng tự tánh, Tự tánh giả lập (parikalpita-svabhava).  Sở chấp nghĩa là nắm giữ, cái tính chất hay đặc điểm mà vật đang nắm giữ là nó có thể lấy từ khắp mọi nơi (biến kế) bất cứ tính chất hay đặc điểm gì. Tính chất này có thể diễn tả bằng nguyên lý thay thế. Nghĩa là có thể gán ghép cho vật bất cứ tính chất hay đặc điểm gì. Giống như trong tin học người ta có thể gán ghép bất cứ đặc điểm, tính chất gì cho một con số, đó hoàn toàn chỉ là quy ước thôi. Và trong thực tế những tính chất đặc trưng của hạt electron như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, chính là do người khảo sát gán ghép tâm niệm của mình vào vật, từ đó mới xuất hiện hạt electron, chứ thực ra hạt electron không có thật, không hiện hữu, nó chỉ hiện hữu trong tâm niệm của con người mà thôi. Do đó Phật pháp mới nói Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo. Thí nghiệm hai khe hở cho chúng ta thấy rõ hạt electron chỉ trở thành hạt khi có người quan sát hoặc đặt thiết bị để đo đạc, nếu không thì nó chỉ là sóng, một dạng tiềm thể của vật chất, chứ không phải là vật chất.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Một ví dụ để thấy ta có thể thay thế một vật bằng bất cứ cái gì, chữ Hán gọi là biến kế sở chấp. Chẳng hạn chúng ta có thể thay thế cái video clip trên bằng một nhóm chữ hoàn toàn khác.

Man attaches his mind to an indeterminate wave to turn it into an electron

3/ Viên thành thật tánh 圆成实性 : (Parinispana-svabhava), còn gọi là Viên thành tự tánh, Đệ nhất nghĩa đế thể tánh, Tự tánh tuyệt đối. Vậy rốt cuộc pháp hay vật, bản chất hay thực tướng của nó là gì ? Cái tự tánh viên mãn chân như của vật là tánh không. Tánh không giống như hư không, không có thật, không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng. Nhưng tánh không không phải hư không, nó là một tàng thức chứa đủ tất cả mọi thông tin. Nó ở khắp mọi nơi, mọi không gian vũ trụ, không hạn chế ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, không hạn chế bởi số lượng. Nó không phải nhỏ cũng không phải lớn, không phải Một cũng không phải Nhiều, Phật giáo tạm gọi là Bất Nhị. Khoa học ngày nay diễn tả nó như là Trường thống nhất (Unified Field) hoặc Miền Tần Số (Frequency Domain), nó có dạng là sóng vô hình, chỉ chứa thông tin, không phải là vật chất nhưng có tiềm năng biến thành vật chất trong nhất niệm vô minh của chúng sinh.

Nói tóm lại cái thực tướng của vạn hữu là vô tướng. Tùy theo tâm niệm của chúng sinh như thế nào mà cảnh sẽ hiện ra tương ứng. Đó gọi là nhất thiết duy tâm tạo. Tâm niệm của chúng sinh không phải chỉ là ý thức tức thức thứ sáu, ý thức chỉ là một phần rất nhỏ của tâm niệm, phần lớn của tâm niệm nằm ở Mạt-na thức hay biệt nghiệp của mỗi cá thể chúng sinh, và một phần lớn hơn nữa nằm ở A-lại-da thức hay cộng nghiệp của một tập thể chúng sinh. Tất cả tám thức đồng tương tác và hiển thị thành cảnh giới thế gian. Chính nghiệp lực (Karma) đang chi phối tất cả mọi diễn biến của thế gian. Cộng nghiệp chi phối ở những cảnh giới rộng lớn của xã hội, quốc gia, quốc tế. Biệt nghiệp chi phối ở những cảnh giới nhỏ hẹp hơn là cá nhân và gia đình.

Qua đối chiếu, chúng ta thấy giữa thế giới tin học và thế giới đời thường có sự tương đồng rất lớn. Điểm mấu chốt quan trọng nhất là dữ liệu không có tự tính, cụ thể là các con số của tin học không có tính chất đặc điểm gì cả, giống như các hạt cơ bản của vật chất vốn không có tính chất đặc trưng đặc điểm gì cả. Tất cả mọi tính chất đặc điểm là do thay thế từ một nguồn khác vào. Đối với cả hai thế giới, cái nguồn tính chất đặc trưng để thay thế là do tưởng tượng của con người. Con người có thể tưởng tượng ra bất cứ thứ gì và thay thế nó vào dữ liệu để tạo ra một thế giới hiện thực ảo hóa. Thế giới đời thường có nhiều tính năng phức tạp hơn tin học, như ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc và cần một cơ sở dữ liệu lớn hơn rất nhiều, bởi vì hiện tượng diễn ra trong không gian 3 chiều chứ không phải trên mặt phẳng 2 chiều như tin học. Đó là sự tương quan so sánh giữa diện tích và thể tích, ngoài ra độ phân giải của dữ liệu thông tin đời thường cũng phải rất lớn. Nhà khoa học Craig Hogan đã thử tính toán nhằm xác định bit thông tin của vũ trụ vạn vật đời thường như sau :

Theo lý thuyết của Hogan, mọi vật trong thế giới 3D (thế giới đời thường của chúng ta) đều có thể mã hóa trên một diện tích 2D ở độ phân giải Planck. Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất. Và những bit cơ bản của thông tin vũ trụ nằm trong kích cỡ Planck. Kích thước Planck là khoảng cách vật lý nhỏ nhất còn có ý nghĩa, dưới khoảng cách này thì con số chỉ còn là con số toán học vô nghĩa, nó vô nghĩa vì không còn tương ứng với một thực thể vật lý nào. Kích thước Planck là 10-33   (mười lũy thừa trừ 33) cm. Đó chính là kích thước của lượng tử (quantum). Từ kích thước Planck, ông tính ra diện tích Planck là 10-66 cm2 (mười lũy thừa trừ 66 centimét vuông). Một bit thông tin vũ trụ cần diện tích bằng 4 diện tích Planck.

Một bit thông tin vũ trụ chiếm diện tích bằng 4 diện tích Planck

Craig Hogan nói rằng khi dữ liệu được dựng lên thành không gian 3 chiều tức là đã tăng khoảng không gian lên gấp bội so với mặt phẳng 2 chiều, tạo ra một độ nhòe giống như khi chúng ta phóng một tấm ảnh lên quá lớn thì nó bị nhòe. Sự nhòe đó tạo ra tiếng ồn toàn ảnh, tiếng ồn này đã được kiểm chứng, quả thực là có, cũng giống như việc người ta đã phát hiện được tàn tích của vụ nổ Big Bang.

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

Như vậy thuyết vũ trụ là số đã có cơ sở thực nghiệm. Mà vũ trụ là số tức nó phải là ảo. Vũ trụ đích thực là ảo thì không có gì phân biệt giữa thực và mộng. Sờ mó nắm bắt được, ngửi nếm ăn uống được, tiêu hóa tăng trưởng được, cũng không đảm bảo là thật, đó chỉ là sự đồng bộ giữa các giác quan mà thôi.

Và từ dữ liệu được mã hóa tức là biến thành con số trên mặt phẳng hai chiều, người ta sẽ có thể phóng hiện thành thế giới đời thường, thành cuộc sống thế gian. Đó chính là sự tương đồng đích thực giữa thế giới tin học và đời thường.

Bây giờ chúng ta thử quy đổi một bit tin học ra bit vũ trụ để thấy độ lớn khủng khiếp của dữ liệu vũ trụ.

Bit tin học ở mức độ hiện nay khi mạch điện cách nhau 10 nano mét, như vậy bit tin học chiếm diện tích 10-6 x 10-6  = 10-12  cm2 (mười lũy thừa trừ 12 centi mét vuông).

Bit vũ trụ có diện tích 4×10-66   cm2 (bốn lần mười trừ 66 centi mét vuông)

Bit vũ trụ bằng 4 lần diện tích Planck, vậy bit vũ trụ nhỏ hơn bit tin học 10-12 / 4x 10-66  = ¼ x1054  lần  (đại khái là số lượng bit vũ trụ nhiều hơn bit tin học 0.25×1054 lần, tạm hình dung là số lượng bit vũ trụ phải nhiều gấp một phần tư của tỷ x tỷ x tỷ x tỷ x tỷ x tỷ (mỗi chữ tỷ tương ứng với 9 số 0) bit tin học, hoặc viết cách khác, số lượng bit vũ trụ nhiều gấp ¼ x1.000.000.0006 bit tin học. Như vậy chỉ có các siêu máy tính một giây có thể xử lý hàng tỷ tỷ phép tính mới đủ sức xử lý bit vũ trụ. Tóm lại một diện tích chứa một bit tin học có thể chứa tới ¼ x 1000000000bit vũ trụ.

Có lẽ chúng ta phải chờ đến khi máy tính lượng tử ra đời, có khả năng xử lý nhanh gấp hàng tỷ tỷ lần máy tính điện tử hiện nay thì mới có hy vọng gởi một cố thể vật chất đi xa tức thời bằng viễn tải lượng tử.

Kết luận

Thế giới tin học và thế giới đời thường có cùng bản chất là sự ảo hóa. Nhiều nhà khoa học hiện nay tin rằng vũ trụ chúng ta đang sống trong đó là giả lập chứ không phải có thật.

Vũ trụ giả lập theo doanh nhân Elon Musk

Vũ trụ ảo giả lập bởi siêu máy tính Sunway Taihu Light

Các nhà khoa học Đức nói họ đã có bằng chứng về vũ trụ giả lập

Phật giáo từ ngàn xưa đã nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo, tức vũ trụ vạn vật chỉ là do tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật, điều đó đã được tổng kết trong câu kinh : Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thức 三界唯心 萬法唯識  nghĩa là : Ba cõi giới bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới đều là Tâm, Tất cả các pháp đều là Thức. Nói cách khác toàn bộ Tam giới đều chỉ là thông tin từ trong A-lại-da thức biến hiện ra chứ không phải có thật.

Máy tính điện tử hiện nay còn rất chậm, không đủ khả năng xử lý bit vũ trụ. Thật vậy, siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay là Thần Uy Thái Hồ Chi Quang (神威太湖之光Sunway ThaihuLight) chỉ mới xử lý được 93 triệu tỷ phép tính một giây, nghĩa là chưa tới một phần mười của một tỷ bình phương, còn thấp xa so với yêu cầu một phần tư của một tỷ lũy thừa 6 phép tính một giây, tương ứng với diện tích 1 nano mét của tin học hiện nay. Như vậy có lẽ chúng ta còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa loài người mới tiến đến chỗ xử lý nổi bit thông tin vũ trụ.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

11 Responses to SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA THẾ GIỚI TIN HỌC VÀ ĐỜI THƯỜNG

  1. nói:

    xin đạo sư cho hỏi hội nhập, ta tức là tâm, tâm tức là ta. Tức là không còn cố chấp cái ta giả tạm, nhỏ bé, để dung thông với tâm vô lượng là sao ạ , và liệu con người ta có thể làm được điều đó ko, làm được thì nếu có ai hại cái thân của ta thì ta có đau ko cám ơn

    • Hội nhập tức là ta ngộ ra cái tâm mới là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, nguồn gốc của cái ta giả tạm. Ngộ rồi thì sẽ không quá cố chấp cái ta nhỏ bé đó nữa mà liên thông với cái tâm rộng lớn vô biên. Giống như con ếch rời khỏi đáy giếng bước ra thế giới rộng lớn bên ngoài. Nếu có ai đánh vào cái thân thể của ta giả tạm, nó vẫn biết đau, nhưng cũng biết đó chỉ là cái đau giả tạm và không quá căm thù người gây ra cái đau đó. Khi liên thông được thì sẽ có hiệu ứng kỳ diệu. Ví dụ, mỗi ngày ta thường đi vệ sinh lúc 7 giờ sáng. Nhưng có hôm vào giờ đó ta bận đi công việc bên ngoài, nhưng kỳ diệu là vào giờ đó ta không mắc đi vệ sinh, đến khi về nhà có khi 9 hay 10 giờ hoặc tới chiều, thì khi về tới nhà mới mắc đi vệ sinh. Một hiệu ứng khác là khi nào ta thật sự cần tiền thì tự nhiên tâm sẽ có cách mang tiền đến cho ta.

      • nói:

        vậy làm sao để liên thông thưa đạo sư

      • Để liên thông giữa ý thức của cái ta và tâm, bạn cần phải tin vào tâm, đó mới là nguồn gốc thật sự của vũ trụ vạn vật, nguồn gốc của cái ngã của bạn. Từ đó bạn không còn quá chấp ngã, không còn quá chấp cảnh giới thế gian là thật. Dần dần bạn liên thông được với tâm.

  2. Quang nói:

    thưa đạo sư !
    vậy khi hiểu đc :”tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Thế gian này là ảo hóa vậy ta có quyền truy cầu (sự ảo hóa này – thế giới vật chất- tinh thần) theo ý mình k ạ? ví dụ như tiền tài danh vọng bằng cách hướng tâm và thức mình đến điều đó. Và liệu ta có xứng đáng với điều đó k? Kể cả sắc dục trai gái? Kể cả thần thông? Vì k phải mọi thứ đều như ta muốn sao?
    Cám ơn đạo sư !

    • Khi bạn liên thông được với tâm tức là bạn đã từ bỏ cái ta giả, bạn không còn mê luyến nó nữa. Tuy nhiên khi cần tiếp cận với các chúng sinh khác, các vị Bồ Tát có thể hóa thân thành nam hay thành nữ để tiếp cận để giáo hóa, dùng mọi phương tiện thiện xảo để giúp chúng sinh giác ngộ. Chứ thật ra người giác ngộ không còn ham mê tiền tài, sắc dục. Chỉ coi đó là phương tiện chứ không phải sở cầu.

      • Quang nói:

        cám ơn đạo sư đã trả lời con nhanh chóng!
        ở mỹ có 1 vị tiến sỹ đang hành 1 pháp có tên “ho’oponopono” ( một truyền thừa tâm linh lâu đời của người hawai cổ) , họ hiểu rõ trường “a lại da” và bản chất của thế giới là thông tin, là chương trình. Với tinh yếu của pháp là vận dụng tâm- thức với tình yêu thương và lòng tri ân để tác động đến nghiệp lực mỗi người và trường “a lại da” ấy để chuyển hóa những đau khổ, bế tắc của mỗi người thành hạnh phúc và thông suốt. Nó có tác dụng đến bất cứ sự việc nào trên đời con người có thể nghỉ tới. tột cùng là câu nói :” vũ trụ vật lý hoàn toàn là sự sáng tạo của tôi và tôi chịu trách nhiệm 100% để chuyển hóa mọi sự thành tốt đẹp”
        Nó như 1 phương pháp tâm linh để chữa lành và chuyển hóa những thông tin trong “maya” và “a lại da”
        Ông tiến sĩ ấy đã hành pháp rất nhiều năm nay và như 1 pháp sư ẩn cư, giới truyền thông chỉ biết tới thông qua 1 sự kiện ông chữa lành những bệnh nhân tâm thần mà y học mỹ đã bó tay và đặc biệt là không dùng tới 1 viên thuốc hay tiếp xúc thân thể nào…
        Ở Việt Nam có 1 đội nhóm đang nghiên cứu và vận dụng pháp này được 5-7 năm nay (con đang ở trong nhóm này)
        Con thông tin đến này và mong nghe quan kiến của ngài về việc này, cũng như nếu ngài hứng thú con xin mời ngài vào group trên facebook để tham khảo.

      • Tôi nghĩ vị tiến sĩ mà bạn nói đã liên thông được với tâm. Tôi chỉ đề cập tới điểm mà bạn nói “tâm- thức với tình yêu thương và lòng tri ân” thật ra không có nghĩa thật, tức lòng từ bi trong Phật pháp, là không có chủ thể yêu thương, không có đối tượng được yêu thương, cũng không có cái vật trung gian biểu hiện lòng yêu thương đó. Như thế mới triệt ngộ.

  3. Quang nói:

    Thưa ngài !
    Xin ngài giành thời gian đọc và kiến giải ngu kiến của con như sau:
    gần đây con biết được rằng ngay cã tánh “Không” cũng vô nghĩa, không có thật, là tương đối. Vì “nhất niệm vô minh và “vô thủy vô minh” hoán đổi liên tục ,như bài “tại sao tâm là không lại có vô số công dung” có câu: “khi xuất hiện 1 cấu trúc ảo khác là lục căn, phát sinh được nhất niệm vô minh thì lập tức cấu trúc ảo ấy…trở thành vật, tức “không thành có”.
    —-> Vậy “KHÔNG” và “CÓ” cũng như “SẮC tức thị KHÔNG, KHÔNG tức thị SẮC” , đều bình đẳng như nhau, biến chuyển qua lại, Hai điều ấy không còn phân biệt đối nghịch, không đúng không sai ĐỀU LÀ TƯƠNG ĐỐI… Bản thể của tuyệt đối Phật tánh là “bất sanh bất diệt, phị động phi tịnh” . Nhận thức điều này ta hiểu rằng dù “CÓ” vật chất đi nữa (của cải ,tiền tài, dục vọng) cũng k gì là sai, đều do nhân duyên.
    —->Vậy “Có” hoặc “Không” biến chuyển tùy vào lục căn và nhất niệm vô minh (tức thức thứ 6) của ta. Câu hỏi của con là , hiểu được điều này, vậy khi ta khởi thức thứ 6 ( là ý thức cũng là nhất niệm vô minh) tác động tích cực vào thức thứ 7 (mạt-na) và thức thứ 8 (a-lại-da) để mong cầu (mọi thứ gồm bất kì dạng vật chất và cả ý thức nào) từ (chưa hoặc không) như sở nguyện thành (có như sở nguyện) liệu có sai? Và nếu thành công liệu mình có xứng đáng sở hửu quyền năng ấy không?
    Con có 1 tâm nguyện là phải có thật nhiều tiền rồi dùng tiền giúp dân nghèo, nhân duyên không tốt, chia sẽ những “quy luật” này cho nhân sinh càng ngày càng tinh tiến, nhân duyên tốt hơn từng thời điểm để ngộ đạo…Nhưng con đường con thấy hiệu quả là dùng vật chất. VD xây 1 cái chùa, tạo duyên nhiều người tới tu tập, xây 1 cây cầu qua sông tới trường, tạo sự thuận lợi dân nghèo tiếp cận học vấn…Chứ sức mạnh đồng tiền hiện nay quá lớn, nó là giá trị lớn nhất con người hiện nay truy cầu và nếu không hiểu càng lúc càng quay cuồng… Một người đói sẽ chỉ lo kím thức ăn mưu sinh gia đình chứ ai lại lo đọc sách niệm kinh…? Nhưng khi họ no rồi, họ mới có cơ hội để tâm học Phật…Liệu con có đúng k? (dẫu biết “đúng” cũng chỉ là tương đối) Liệu con có xứng đáng k?
    Cám ơn công đức ngài trò chuyện với con !

    • Đúng hay Sai chỉ có giá trị tương đối trong mê muội. Trong mê muội có nhiều chúng sinh đau khổ vì nghèo đói, bệnh tật và nhiều thứ khổ khác. Bạn phát tâm kiếm nhiều tiền để giúp cho họ thì không sai. Nhưng cũng phải xem bạn có nhân duyên đó không, Nếu không có mà bạn cố làm thì chỉ rước mệt nhọc cho bản thân và gia đình mà không thực sự giúp được cho họ. Bà xã tôi cũng phát tâm giống như bạn, nhưng kết quả thì sao ? Bà ấy buôn bán toàn thua lỗ trong mấy chục năm gây ra rất nhiều nợ nần không tự trả nổi. Tôi phải ba lần bán nhà để giải quyết nợ nần cho bà ấy.

      • Quang nói:

        Cám ơn ngài đã chia sẻ.
        Con truy cầu sự hiểu biết về “luật của cõi giới này” để mong vận dụng đúng luật để thành công.
        Con truy cầu sự “đúng đắn tương đối của lục căn và cũng như nhất niệm vô minh của con” để quyết định hiển thị ra thế giới vật chất.
        Hiện tại con mới lĩnh hội tới đó, tùy duyên tiếp theo mà biến chuyển.
        Nếu có duyên liên hệ…để ngài khai thị cho con hoặc…(bất cứ nguyên nhân gì khác con chưa biết đc, tùy duyên…) thì đây là số của con: 0936 090 528 (Đinh Nhật Quang)
        Cám ơn ngài và cầu mong ngài và gia đình an lạc.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s