MÙA XUÂN VĨNH CỬU

Năm nào vào thời gian trước Tết âm lịch cổ truyền, tôi đều viết một bài về chủ đề Xuân với Tết. Năm nay cũng vậy, mùa xuân năm nay sẽ là bài viết tiêu biểu cho cuộc sống thế gian, lúc nào cũng là mùa xuân tươi đẹp không tùy thuộc vào hoàn cảnh, không gian và thời gian.

Con người sống trên đời, chắc là đa số mọi người đều mong ước một cuộc sống tươi đẹp, vật chất không thiếu thốn, sức khỏe dồi dào không bệnh tật, có cuộc sống gia đình đầm ấm, tình yêu bền vững với người hôn phối, con cái xinh xắn, thông minh, khỏe mạnh, không gặp nhiều nghịch cảnh, phải thế không ? Liệu ước vọng đó có thành tựu hay không ?

Có lẽ trong xã hội cũng có không ít người đạt được điều đó, đó là những người có nhiều phước báo. Nhưng cũng có rất nhiều người không đạt được điều đó, họ là những người có nhiều nghiệp báo. Vậy nói tới mùa xuân vĩnh cửu, phải chăng chỉ là nói ngoa, không có cơ sở thực tế ?

Muốn biết điều đó có cơ sở thực tế hay không, chúng ta phải xem xét lại ý nghĩa của hạnh phúc và đau khổ thực chất là gì. Tôi tin rằng nếu chúng ta hiểu thực chất của hạnh phúc và đau khổ là gì thì sẽ thấy mùa xuân vĩnh cửu là hiện thực.

Từ xưa đến nay cũng đã có không ít giấy mực bàn về hạnh phúc và đau khổ, nhưng theo tôi nhận thấy, tuyệt đại đa số chưa nhìn thấy rõ vấn đề. Tại sao tôi dám nói như thế ? Bởi vì cơ sở thực tế của vạn pháp từ thời xa xưa đã có ghi trong kinh điển của Phật giáo, chúng ta chỉ cần xem và hiểu. Nhưng kinh điển thực tế là khó hiểu, cực kỳ khó hiểu và đầy mâu thuẫn, nên nhiều người có thể không tin tưởng ở kinh điển, hoặc là chỉ tin một cách giới hạn, hoặc là cho rằng trong kinh điển có nhiều điều huyễn hoặc thiếu cơ sở khoa học, có phần nào đó hoang đường. Vâng, nhận thức như thế cũng không đáng trách, bởi vì kinh điển vừa mênh mông vừa mơ hồ, khó có thể thuyết phục người có học thức trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, người có học thức thì tin tưởng khoa học. Trong thế giới hiện đại, khoa học là cơ sở thực tế để biện biệt đúng sai. Khoa học cung cấp nhiều phát minh sáng chế làm thay đổi cuộc sống con người trên thế gian vô cùng lớn, nên người trí thức tin tưởng ở khoa học là lẽ đương nhiên. Nhưng liệu tri thức khoa học có bị hạn chế hay không ? Nền khoa học của nhân loại thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đã đủ trưởng thành để hiểu rằng, đúng là khoa học có hạn chế, tri thức của con người không thể biết hết tất cả. Thế nên nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới cũng đã quay lại với tôn giáo, bởi vì họ nhận ra rằng những vĩ nhân như Đức Phật Thích Ca có tri kiến vô cùng siêu việt mà nền khoa học hiện đại của nhân loại cũng chưa sánh kịp.

Tiến sĩ Robert Jastrow (Từng là chủ tịch đầu tiên của Chương trình thám hiểm mặt trăng của NASA, trưởng ban lý thuyết của NASA, cha đẻ và giám đốc của Viện nghiên cứu không gian Goddard của NASA, giáo sư địa vật lý tại Đại học Columbia, giáo sư khoa học về trái đất tại Học viện Dartmouth, cha đẻ và chủ tịch danh dự của Viện George Marshall, giám đốc danh dự Đài quan sát thiên văn Mount Wilson), là người theo thuyết bất khả tri về vấn đề tôn giáo, nhận xét về lý thuyết của vụ nổ Big Bang: Một cách cổ điển, những nhà khoa học đã phủ nhận ý tưởng về một hiện tượng tự nhiên không thể giải thích được, thậm chí với thời gian và tiền bạc không giới hạn của họ. Có một loại tôn giáo trong khoa học, ấy là mỗi sự kiện có thể được giải thích theo cách hợp lý như là kết quả của một sự kiện trước đó; mỗi hậu quả phải có nguyên nhân của nó. Bây giờ khoa học chứng minh rằng  trong một thời điểm nhất định có một vụ nổ (Big Bang) để vũ trụ phát sinh và tồn tại. Khi hỏi: “Nguyên nhân nào dẫn đến kết quả này? Ai hay cái gì đã đặt những vật chất và năng lượng vào trong vũ trụ?” thì khoa học không thể trả lời những câu hỏi này được.

Jastrow kết luận bằng câu nói bất hủ này:

Đối với nhà khoa học đã sống bằng niềm tin dựa vào sức mạnh của lý lẽ, thì câu chuyện kết thúc như một cơn ác mộng. Ông ta đã leo lên những ngọn núi của sự tự mãn; ông đang chuẩn bị chinh phục đỉnh cao nhất; ông bò qua tảng đá cuối cùng và thấy một nhóm các nhà thần học (cũng tức là các nhà sáng lập tôn giáo) đã ngồi đó hàng bao thế kỷ đang chào đón mình.

Nhưng dù sao khoa học hiện nay đã đủ trình độ để hiểu ra vấn đề mặc dù chưa thực hiện nổi. Chẳng hạn vấn đề viễn tải lượng tử, các nhà khoa học cảm nhận rằng đó là điều có cơ sở khoa học, nhưng nền khoa học hiện nay của nhân loại chưa làm được nhiều, thế nhưng Đức Phật Thích Ca làm được, trong kinh điển có ghi, chẳng hạn Đức Phật đã đi lên cõi trời Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe.

Trong bản đồ thánh tích Phật giáo, chúng ta thấy có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay), địa danh này tương đối ít được biết. Đó là nơi Đức Phật dùng thần thông lên trời Đạo Lợi忉利天thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe, Phật lên cõi trời chỉ một buổi thôi, nhưng người trần gian thấy là ba tháng, sau ba tháng Phật mới trở về trần thế, có Đế Thích và Phạm Thiên theo hầu.

Bia đá tạc sự tích Đế Thích và Phạm Thiên hầu Phật trở về thế gian tại Sankasya (Tăng Già Thi)

Mà ngay thời hiện đại cũng có những nhà đặc dị công năng như Hầu Hi Quý làm được, lấy được một gói thuốc lá ở khoảng cách xa hàng ngàn km.

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

Vấn đề bản chất của hạnh phúc và đau khổ           

Kinh điển Phật giáo nói thế nào về thực chất của hạnh phúc và đau khổ ? Kinh điển nói rằng hạnh phúc và đau khổ không có thực chất. Đó chỉ là sự gán ghép của tâm thức vào một cấu trúc ảo tưởng về cả hai phương diện vật chất và tâm lý.

Về mặt vật chất (matter, material, substance), cố thể vật chất là một cấu trúc, chẳng hạn nguyên tử (atoms), phân tử (molecules), cái nhà, con sông, quả núi, sinh vật. Nguyên tử được cấu tạo bởi hạt nhân (nuclear) và electron. Hạt nhân được cấu tạo bởi những hạt proton và neutron. Proton và neutron được cấu tạo bằng những hạt quarks. Khoa vật lý học đã giải thích tường tận như vậy.

Thế nhưng quark và electron chỉ là những hạt ảo, không có thật. Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Các hạt cơ bản (particles) như quark và electron, photon, chúng vốn là sóng vô hình, sóng tiềm năng, không phải là vật chất. Chúng không có sẵn bất cứ đặc trưng nào như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Chúng chỉ trở thành hạt vật chất như electron, photon là khi có người quan sát và đo đạc. Thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 đã chứng tỏ như vậy. Thí nghiệm đó chứng tỏ rằng quan niệm của Einstein cho rằng hạt photon luôn luôn có sẵn các đặc trưng về vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, là sai lầm, thế giới duy vật khách quan của Einstein và những người theo quan điểm duy vật đã sụp đổ.

Ngoài ra thí nghiệm về hai khe hở cũng chứng tỏ rằng hạt electron không độc lập khách quan, nó phụ thuộc vào một điều kiện khác ở ngoài bản thân nó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Điều này Duy Thức Học Phật giáo nêu ra nguyên lý Y tha khởi, nghĩa là sự hiện hữu của một vật phải dựa vào một vật khác chứ nó không thể độc lập tồn tại. Kinh điển PG cũng nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính, nghĩa là Tất cả mọi vật đều không có sẵn đặc trưng, mọi đặc trưng của vật đều là gán ghép từ nguồn khác.

Như vậy chính người quan sát đã gán ghép tâm niệm, tập quán, tưởng tượng của mình vào cấu trúc ảo tưởng không có thật để thành ra những hạt cơ bản, rồi thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, sinh vật, cảnh giới thế gian, chứ không phải có thật. Điều đó có nghĩa là cảnh giới thế gian chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Thuật ngữ PG gọi cảnh giới thế gian là thế lưu bố tưởng, nghĩa là cái tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian.

Về mặt tâm lý (mentality, psychology), tâm niệm, tập quán chính là cái nguồn tưởng tượng, gán ghép quan niệm của mình vào đối tượng. Đối tượng có thể là cảnh giới vật chất như nhà cửa, núi sông, đường sá, bến cảng, sinh vật, thân thể của chính mình. Đối tượng cũng có thể là một vấn đề, một quan điểm, sự khen chê, v.v…

Tóm lại dù là vật chất hay là tâm lý đều là tưởng tượng, không một đối tượng nào có thực chất. Điều này PG diễn tả một cách ngắn gọn là Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật (Chữ uẩn 蘊 –skandha- còn gọi là ấm 陰 . Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination). Vì vậy hạnh phúc hay đau khổ cũng chỉ là tưởng tượng, là quan niệm. Ngày xưa có câu chuyện Tái ông thất mã 塞翁失馬 (Ông già ở vùng biên giới mất ngựa) diễn tả chuyện họa phúc cũng tức là đau khổ và hạnh phúc, chỉ là quan niệm thôi chứ không có thực chất. Bài này ngắn và có ý nghĩa thâm thúy, tôi xin dẫn nguyên văn để bạn nào biết Hán văn, cùng thưởng thức. (Trích trong sách Hoài Nam Tử, phần Nhân gian huấn).

Hoài  Nam Tử 《淮南子·人间训》

近塞上之人有善術者,馬無故亡而入胡。人皆吊之。其父曰:“此何遽不為福乎?”居數月,其馬將胡駿馬而歸。人皆賀之。其父曰:“此何遽不能為禍乎?”家富 良馬,其子好騎,墮而折其髀。人皆吊之。其父曰:“此何遽不為福乎?”居一年,胡人大入塞,丁壯者引弦而戰,近塞之人,死者十九,此獨以跛之故,父子相 保。

Cận tái thượng chi nhân hữu thiện thuật giả, mã vô cố vong nhi nhập  Hồ. Nhân giai điếu chi. Kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất vi phúc hồ?” Cư sổ nguyệt, kỳ mã tương Hồ tuấn mã nhi quy. Nhân giai hạ chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất năng vi họa hồ?” Gia phú lương mã, kỳ tử hiếu kỵ, đọa nhi chiết kỳ bễ. Nhân giai điếu chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất vi phúc hồ?” Cư nhất niên, Hồ nhân đại nhập tái, đinh tráng giả dẫn huyền nhi chiến, cận tái chi nhân, tử giả thập cửu, thử độc dĩ bả chi cố, phụ tử tương bảo.

Trong những người ở gần biên giới có người giỏi nuôi ngựa, con ngựa bỗng nhiên đi lạc sang đất Hồ. Hàng xóm đến chia buồn, ông ta nói : “Sao vội cho đó không phải là phúc ?”. Vài tháng sau, con ngựa đó dẫn một con tuấn mã của Hồ trở về. Mọi người đến chia vui, ông ta (người cha) nói : “Sao vội cho đó không phải là họa ?” Nhà có thêm ngựa hay, con trai ông ham cỡi ngựa, té bể xương đầu gối. Mọi người đến chia buồn, người cha nói : “Sao vội cho đó không phải là phúc ?”. Một năm sau, quân Hồ ồ ạt xâm lấn biên giới, trai trẻ cầm cung tên chiến đấu, người ở vùng gần biên giới, mười người chết hết chín, chỉ có nhà ông vì con trai bị què, nên cha con được bảo toàn.

Thế nhưng sự tưởng tượng ở đây không phải chỉ là tưởng tượng của ý thức (thức thứ 6 trong 8 thức) mà là sự tưởng tượng đồng bộ của cả 8 thức. Vì vậy nó sâu xa cơ bản hơn rất nhiều so với từ ngữ tưởng tượng (imagine) mà chúng ta thường dùng. Nó liên quan tới tiền ngũ thức (5 giác quan cơ sở là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể) do bộ não thống lĩnh và phát sinh ra ý thức. Một phần của bộ não chứa dữ liệu hoạt động hiện hành của ý thức (tương ứng bộ nhớ RAM của tin học). Một phần của bộ não chứa dữ liệu lưu trữ trong kiếp hiện sinh của ta tức Mạt-na thức (tương ứng với ổ đĩa cứng -hard disk của tin học). Và một phần lớn của bộ não chứa dữ liệu của vô lượng vô biên kiếp của quá khứ và vị lai tức A-lại-da thức, không còn phân biệt là ta hay không phải ta bởi vì tất cả đều là một (tương ứng với internet của tin học).

Ý nghĩa của mùa xuân vĩnh cửu là gì ?    

Chúng ta không thể nào tin nổi cảnh giới thế gian chỉ là ảo hóa, tưởng tượng, không phải thật mặc dù khoa học đã lý giải rõ ràng và đặc dị công năng đã chứng tỏ bằng thực nghiệm. Trương Bảo Thắng đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng quả táo và cái thùng sắt chỉ là ảo, nên anh ta có thể lấy quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà không cần mở nắp. Thân thể anh ta và cánh cửa cũng chỉ là ảo nên anh ta có thể đi qua cánh cửa mà không cần mở cửa.

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

Qua nghiên cứu của khoa học và thực nghiệm của nhà đặc dị công năng, chúng ta có thể tin rằng cảnh giới vật chất chỉ là ảo hóa, vô thường, không phải là tồn tại vĩnh viễn. Nhưng trong đời thường, chúng ta thấy vật chất khá vững bền. Sở dĩ vật chất khá vững bền hoặc rất vững bền là do tuổi thọ của các hạt proton và neutron trong hạt nhân của nguyên tử là rất lớn.

Hạt proton là thành-phần cấu-tạo hạt-nhân nguyên tử. Proton có khối-lượng lớn gấp 1840 lần hạt electron, thời gian sống của hạt proton rất bền vững (1030 – mười lũy thừa 30 năm). Hạt photon, không phải là hạt cơ bản, mà cấu tạo bởi 3 hạt quark, khi ở trạng thái tự-do, nó chỉ sống được có 17 phút (1000s).

Đối với hạt neutron, cũng hơi giống hạt proton nhưng người ta không thể xác định chính xác tuổi thọ của nó, hai phương pháp  khác nhau tính tuổi thọ của hạt neutron đưa đến hai kết quả khác nhau, chỉ biết rằng nếu tách rời hạt neutron khỏi hạt nhân nguyên tử, ở trạng thái tự do, nó chỉ tồn tại 15 phút rồi nhanh chóng phân hóa thành một hạt proton, một hạt electron và một phản hạt neutrino.

Sở dĩ tuổi thọ của hạt proton và hạt neutron là rất lớn vì có hiện tượng giam hãm (confinement) là hiện tượng 3 hạt quark cấu tạo nên chúng bị giam hãm gần như vĩnh viễn trong hạt proton hoặc hạt neutron, vì vậy chúng rất vững bền trong hạt nhân nguyên tử khiến con người cảm thấy vật chất là có thật và rất bền chắc.

Nhưng vật chất dù cho bền chắc trong nhận thức của con người, chúng thực ra cũng chỉ là ảo hóa và có thể bị tâm khống  chế như thực nghiệm của các nhà đặc dị công năng đã cho thấy.

Vì vậy mùa xuân vĩnh cửu chủ yếu là tâm trạng, tâm trạng an lạc trước những biến thiên của cảnh giới, của thời gian và không gian. Như trên đã nói, không gian, thời gian, cảnh giới đều là tương đối, đều là do tâm tạo, vì vậy tâm có thể tạo ra mùa xuân vĩnh hằng.

Không phải không có cảnh giới : “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương” của mùa hè. Không phải không có cảnh giới : “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” của mùa thu. Cũng không phải không có cảnh giới : “Đêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”  của mùa đông. Các cảnh giới đều có đủ nhưng tâm trạng của hành giả tham thiền không bi thương hay hoan lạc theo sự biến thiên của cảnh giới mà lúc nào cũng an lạc tĩnh tại trong mùa xuân vĩnh hằng vô tướng dù có hay không cảnh giới : Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo, Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.

Những tiên nhân còn có thể dùng tâm lực để thực hiện vô sở trụ, chẳng những tâm không bị cảnh chi phối mà trái lại còn có thể biến đổi vị trí, hoàn cảnh của thân. Chẳng hạn câu chuyện của Hàn Tương Tử, một trong Bát tiên, là cháu kêu nhà văn Hàn Dũ đời Đường bằng ông chú như video sau đây :

  1. Hàn Dũ – Nhà Văn Nhà Thơ Thời Trung Đường – Việt dịch

Hàn Dũ vì dâng biểu định ngăn cản vua rước xương Phật tốn kém ngân khố nên vua nổi giận  tức thời đày ông đi Lĩnh Nam xa xôi trong mùa đông tuyết giá. Hàn Tương Tử đang ở Trường An nhưng có thể phân thân để xuất hiện ở Lĩnh Nam cứu giúp ông chú.

Theo quan điểm của khoa học ngày nay thì đó không phải là chuyện hoang đường, đó chính là viễn tải lượng tử như video sau đây.

Di chuyển một con người đi xa tức thời bằng viễn tải lượng tử

Không thực hiện được vô sở trụ (non locality), có những trường hợp sẽ rất đau khổ, chẳng hạn tác phẩm Thương Nhớ Mười Hai của nhà văn Vũ Bằng bộc lộ.

Nhà văn Vũ Bằng  (1913 – 1984), tên thật là Vũ Đăng Bằng, là một nhà văn, nhà báo của Việt Nam. Ông là người có sở trường về viết truyện ngắn, tùy bút, bút ký. Ông đã vào Sài Gòn trong đợt di cư 1954 từ Bắc vào Nam để làm báo và hoạt động tình báo. Tháng 3 năm 2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2 – Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có văn bản xác nhận nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo của cách mạng hoạt động tại Miền Nam.

Trong số trứ tác của Vũ Bằng, Thương Nhớ Mười Hai là tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông. Nội dung sách ông viết về hình ảnh người vợ tên Quỳ bên kia vỹ tuyến. Ông khởi sự viết từ tháng Giêng 1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang vào năm 1971 và xuất bản năm 1972.

Có người bạn thân, trong lúc đàm đạo văn chương, hỏi tôi: “Sắp sang thế kỷ 21 rồi, nếu chỉ được phép mang mười cuốn sách văn học vào thế kỷ mới, ông mang những cuốn nào?”. Tôi trả lời ngay: “Một trong những cuốn tôi mang theo là Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng!

 Bởi viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng. Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng. Nỗi nhớ niềm yêu ấy là tuyệt vọng! Hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Quỳ, vợ hiền của ông, người đã góp phần quyết định làm nên một Vũ Bằng nhà văn, nhà báo, là nguồn cảm hứng văn chương của ông…(Triệu Xuân)

Vũ Bằng tự ngôn : “Bắt đầu viết cuốn sách này thì là nhớ. Viết đến câu chót bài “Tháng chín” thì là thương. Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn Nguyễn Thị Quỳ.

Sài Gòn, Phú Lâm, Bình Lợi, Chợ Lớn, Lồ Ồ… vui quá, cứ uống rượu mạnh thế này, nghe con hát đàn vừa múa vũ vừa ca, lại cặp kè với gái hơ hớ như trăng mới mọc thế này, thì sao lại có thể rầu rĩ được? Ấy vậy mà một buổi chiều trở gió kia, ngồi cúi xuống lòng để hỏi chuyện tim mình, ta cảm như có hàng ngàn vạn con mọt nhỏ li ti vừa rụng cánh o o vừa đục khoét con tim bệnh tật. Và tự nhiên ta có cảm giác rằng thân thể ta, không biết từ lúc nào, đã bị mối “xông” và đang đi đến chỗ mọt ruỗng, rã rời tan nát.  

Mỗi nỗi buồn se sắt xâm chiếm đầu óc ta. Buồn thì ngâm thơ:

Biệt ly ai kể xiết lời,
Vì hoa cách mặt cho người thương tâm.
Người đưa rượu hỏi thăm Bành Trạch,
Kẻ say trăng tìm khách Đào Chu;
Nào ai trang điểm máu thu,
Hoa vàng chén bạc tạc thù với ai?
Miền Dữu Lĩnh tin mai gắn bó,
Đỉnh Cô Sơn mối gió đợi chờ.
Muốn mang chén rượu câu thơ,
Lạnh lùng trong tuyết, hững hờ dưới trăng… 

(Những câu thơ trên trích trong bài thơ dài Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ, cháu kêu Cao Bá Quát bằng chú :

Bành Trạch là nơi Đào Uyên Minh tức Đào Tiềm làm huyện lệnh, ông chỉ làm quan được 80 ngày thì từ quan trở về nhà vì không thích sự gò bó của quan trường.

Đào Chu : Phạm Lãi là người yêu của Tây Thi, sau khi nước Ngô của Phù Sai diệt vong, ông đến đất Đào buôn bán làm giàu và được gọi là Đào Chu công.

Dữu Lĩnh (không phải Hữu Lĩnh) tức núi Đại Dữu còn gọi là Mai Lĩnh 梅岭, một trong ngũ lĩnh  nằm ở ranh giới tỉnh Giang Tây và tỉnh Quảng Đông, Tống Chi Vấn có bài thơ nổi tiếng : Đề Đại Dữu Lĩnh Bắc Dịch 題大庾嶺北驛 = Đề thơ ở trạm đưa thư phía bắc núi Đại Dữu.

Cô Sơn 孤山 là một hòn đảo nằm trong Tây Hồ Hàng Châu. Từ đời Đường khi Bạch Cư Dị xây dựng Bạch đê, con đê nối từ phía đông hòn đảo tới Tân Kiều và nối phía tây hòn đảo tới Tây Linh Kiều, thì hòn đảo không còn là cô đảo – đảo cô đơn – nữa- TB chú thích )

Ngâm thơ lại càng buồn, mình chán nản không để đâu cho hết. Sự chán nản không tên tuổi, không lý do, ví có muốn nói ra với người ở cạnh cũng không thể được.”

Nhà văn đã thổ lộ tâm tư đau buồn, chán nản đến tuyệt vọng. Thương Nhớ Mười Hai có nghĩa là một năm 12 tháng, nhà văn không lúc nào nguôi nhớ đến quê hương bản quán, đến người vợ trẻ có lẽ cũng đang âu sầu thương nhớ chồng mà không có thông tin cũng không có cách nào liên lạc được. Nhiều lắm thì cũng chỉ như Tô Thức : “Thiên lý cộng thuyền quyên” (Xa xôi nghìn đặm chỉ có mặt trăng là điểm chung cả hai nhìn thấy)

Trong hoàn cảnh đau buồn héo hắt như vậy, chúng ta mới cảm nhận được giá trị của mùa xuân vĩnh cửu. Trong hoàn cảnh như nhà văn Vũ Bằng thì có thực hiện được mùa xuân vĩnh cửu không ? Ngày nay thì quá dễ, với điện thoại di động và những công cụ thông tin tân tiến như Viber, Whatsapp, Zalo, có khả năng vô sở trụ thì những khoảng cách xa ngàn đặm trên địa cầu chẳng có nghĩa lý gì, lúc nào cũng có thể liên lạc được. Nhưng thời đại của Vũ Bằng thì chưa có phương tiện thế này nên bất khả thi. Ngay cả ngày nay mà ở vào những xứ nơi thông tin bị cấm đoán quá hà khắc như Triều Tiên thì người dân cũng khó lòng thực hiện được.

Tuy vậy, mùa xuân vĩnh cửu là tâm trạng độc lập đối với hoàn cảnh. Nó cũng không lệ thuộc vào phương tiện, mà chủ yếu là do nhận thức. Chẳng hạn Huệ Trì là em trai của Tổ Sư Tịnh Độ Tông Huệ Viễn, ông đi đến Tứ Xuyên, ngồi trong bộng cây nhập định quên mất thời gian, ngồi suốt bảy trăm năm, không phát sinh một vọng tưởng nào nên thời gian gần như ngừng lại.

Pháp sư Huệ Trì

Đến khi người ta phát hiện được ông, ông cũng chưa xuất định, người ta phải dùng võng khiêng ông về Biện Kinh, thủ đô của Nhà Tống. Ở đây có cao tăng Ấn Độ giúp ông xuất định, khi đó ông mới hay rằng mình đã nhập định hơn bảy trăm năm, anh của ông là Huệ Viễn đã qua đời từ lâu lắm rồi. Vua Tống Huy Tông cảm khái làm ba bài thơ, xin trích một bài như sau :

Bài kệ thứ nhất của Tống Huy Tông :

七百年來老古錐    Thất bách niên lai lão cổ trùy

定中消息許誰知? Định trung tiêu tức hứa thùy tri ?

爭如只履西歸去    Tranh như chích lý Tây quy khứ

生死何勞木作皮    Sinh tử hà vinh mộc tác bì

Dịch nghĩa : Lão tăng sống hơn bảy trăm năm, căn cơ bén nhọn như cái dùi. Lúc nhập định có lẽ không ai biết tin tức gì của ông. Có thể sánh với Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc giày về Tây Thiên. Sống chết có vinh hoa gì khi lấy gỗ làm da. 

Hư Vân hòa thượng cũng có lần nhập định nửa tháng tại núi Chung Nam ở Trường An. Thầy Duy Lực có đề cập tới sự kiện này.

0940 Nhập định không cảm nhận được thời gian của ngài Hư Vân ở núi Chung Nam

Cuối cùng chúng ta có thể kết luận rằng mùa xuân vĩnh cửu là trạng thái an lạc không có vọng tưởng, không có vọng động, không có thời gian, tự do tự tại, không tùy thuộc vào bất cứ một điều kiện nào hay một cảnh giới nào, bất sinh bất diệt, vô sinh pháp nhẫn.

Cũng không nhất thiết phải ngồi thiền hay nhập định, bình thường tâm trong cuộc sống hàng ngày đời thường cũng chính là mùa xuân vĩnh cửu, khi ta thực hiện được vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở úy (sợ) 無所求無所得無所畏 ngay trong cuộc sống thế gian đời thường, ngay trong cuộc mưu sinh vất vả hàng ngày, ngay trong thế giới vô thường đầy bất trắc mà tâm vẫn an định.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

12 Responses to MÙA XUÂN VĨNH CỬU

  1. Xin chào Ông Truyền Bình, xin giới thiệu tôi tên Trần Ngẫu Hồ, tôi thấy phương pháp của Thầy rất hay, xin có vài câu hỏi, mong ông hoan hỷ trả lời:
    1) Khi tham, thì vừa nhìn câu tham vừa hỏi, như vậy câu hỏi có phải là dấu hỏi cuối câu? Nếu không thì câu hỏi xuất hiện lúc nào?
    2) Lúc mới tham, nghỉ cho đỡ mệt có tốt không? nên nghỉ bao lâu thì tốt?
    Mong được liên hệ với ông qua email, xin cám ơn.
    Ngẩu Hồ.

    • 1/Khi tham thoại đầu thì có câu hỏi tự hỏi mình, câu hỏi thì tất nhiên là có dấu chấm hỏi, nhưng không có tìm hiểu, không có câu trả lời. Đó là đề khởi câu thoại, vừa đề khởi vừa nhìn, nhưng nhìn không có mục tiêu, không có chỗ nhìn. Hỏi và nhìn đồng thời bằng tâm không phải bằng miệng.
      2/Lúc tham nếu cảm thấy mệt thì có thể nghỉ, nghỉ cho đến lúc cảm thấy hết mệt thì tham tiếp, không cần phải quá gò bó. Mục đích của tham thoại đầu là phát khởi nghi tình, từ nghi sẽ dẫn đến ngộ. Ông có thể tham khảo thêm cách tham thoại đầu của thầy Duy Lực như sau : (Câu số 0050 Duy Lực Mp3 Moi)
      https://drive.google.com/file/d/0B8CajDffWDQDeDhOc19mM2hfQUk/view

  2. nghi nói:

    xin chào bác Bình, đạo phật nói vô ngã vậy là ko có ta, nói vật chất là ảo vậy là ko có thật, vậy tại sao ko có ta ko có thật mà tự tử vẫn bị tội, ko có ta ko có thật tại sao buông bỏ tất cả laị là tội

    • Bạn nên hiểu rằng trong thế giới tương đối, tất cả đều là tương đối, tất cả mọi lời nói, mọi nhận nhận thức đều không hoàn toàn có nghĩa thật, không hoàn toàn đúng, nên không thể cố chấp, phải biết tùy duyện.

    • ho tran nói:

      Chào anh Bình,

      Tôi có một câu hỏi là: Thầy Duy Lực nói tham thoại đầu, thìđừng để niệm khởi lên mới là tham thoại đầu, khi niệm nổi lên là thành thoại vĩrồi, chỉ có thoại vĩ, hoặc chỉ niệm thoại đầu thì khó có nghi tình.

      Thưa anh, niệm mà thầy nói đó là niệm gì? Nó xuất hiện lúcnào? Vì trong khi tham thoại đầu thì chỉ có câu thoại ở trong đầu? Nếu không cóniệm thì làm cách nào hiện câu thoại trong đầu? Chúng ta phải duyệt câu thoại đầutừ chữ đầu tiên đến chữ cuối của câu hỏi rồi mới hiện lên dấu chấm hỏi? Sự duyệtấy có phải là niệm thoại đầu chưa? Nếu không niệm để hiện lên câu thoại trong đầuthì làm cách nào hiện lên câu thoại trong đầu lúc không có trang giấy của câuthoại? Hiện tôi thỉnhthoảng để câu thoại trên máy computer trước mắt để khán (nhìn)với dấu chấm hỏi sau cùng, thì có nên không? Dấu chấm hỏi đã là đại diện đầy đủcho câu hỏi? và phải hiện lên rõ ràng ngay sau chữ cuối của câu thoại? Dấu hỏivà dấu chấm dưới dấu hỏi phải rõ ràng. Khi có dấu chấm hỏi thì không cần có từHử? hay Hả trước dấu hỏi nữa phải không?

      Một câu hỏi quan trọng nữa cho tôi là: Hiện tôi đang thamcâu: Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?

      Tôi thấy câu này có 2 phần là: Sanh từ đâu đến, như vậy câunày cũng cần dấu chấm hỏi sau nó chứ? Tại sai trong câu thoại của thầy phần trênlại thiếu dấu chấm hỏi? Có cần thiết 2 dấu chấm hỏi hay chỉ cần một dấu chấm hỏicho phần câu sau được rồi, như thí dụ như sau: – Sanhtừ đâu đến? Chết đi về đâu?

      – Sanhtừ đâu đến, chết đi về đâu? Tham như số một hay số hai mới là đúng? Mong anh hoan hỉ chỉ dẫn, chúc anh một ngày thân tâman  lạc. N.H

      • Khi anh đề khởi câu thoại tất nhiên là phát sinh niệm, tiếp đó anh không suy nghĩ không tìm hiểu, tức là vô niệm, cũng là lúc anh rơi vào trạng thái không hiểu không biết, trong trạng thái đó có thể phát sinh nghi tình, nghi tình đó có thể kéo dài, có thể không. Nếu không có nghi tình, hoặc có mà không kéo dài, anh đề khởi câu thoại lần nữa. Cứ thế mà tiếp tục. Anh không nên để câu thoại trên computer để khán, bởi vì anh phải nhìn vào chỗ không có đối tượng, không có chỗ để nhìn mới được.
        Anh đừng chú trọng tới tiểu tiết dấu chấm hỏi làm gì, câu hỏi không quan trọng, một dấu chấm hỏi cũng đủ, quan trọng ở chỗ nó có phát sinh nghi tình hay không.

  3. Cám ơn anh Bình đã trả lời, tôi muốn hỏi kỹ thêm một chi tiết nữa, câu tham của tôi có 2 phần, phần thứ nhất là: Sinh từ đâu đến, như vậy phần này có cần dấu chấm hỏi hay chăng? Hay chỉ cần dấu chấm hỏi cho phần sau là đủ như sau: Chết đi về đâu?
    Dấu chấm hỏi cần phải có để đại diện cho câu hỏi, nên nó cần phải rõ ràng, tôi đánh giá dấu chấm hỏi quan trọng như vậy có đúng không? Và nó có cần thiết là quan trọng nhất không? Nó cần phải hiện lên rõ ràng chứ? Cám ơn anh, chúc anh một ngày vui vẻ, bình an.
    N.H

    • Anh nên xem câu thoại của anh là một câu thôi, chỉ cần một dấu chấm hỏi là đủ. Câu thoại không có gì quan trọng, cái quan trọng là nó kích thích cái tâm ham tìm hiểu của anh như thế nào, có phát sinh nghi tình hay không. Có lẽ anh nên nghe kỹ lại lời hướng dẫn tham Tổ Sư Thiền của thầy Duy Lực (câu 0050) : https://onedrive.live.com/?authkey=%21AJyr9npTiJwdpyQ&cid=3A697DD6BE1AB73E&id=3A697DD6BE1AB73E%2166453&parId=3A697DD6BE1AB73E%212950&o=OneUp

      • Cám ơn anh Bình đã trả lời, như vậy phần đầu câu hỏi đã xong, chỉ cần một dấu chấm hỏi ở phần sau là đủ.
        Bây giờ xin anh trả lời cho ở phần câu hỏi: Nhờ câu hỏi thầm mà phát khởi nghi tình, nên đại diện cho câu hỏi thầm là dấu chấm hỏi, thế nên dấu chấm hỏi cần xuất hiện rõ ràng ở cuối câu, phải luôn luôn xuất hiện, không được vắng khuyết, đúng không thưa anh? Hay thỉnh thoảng có vắng dấu chấm hỏi cũng không sao?
        Câu tham và dấu chấm hỏi gắn liền với nhau xuất hiện một cách liền lỷ là đã đủ, hay trong lòng người tham phải rạo rực một câu hỏi đồng thời với câu tham? Hay cứ tham chẳng cần quan tâm đến sự hỏi vì đã có dấu chấm hỏi trong đó?
        Cảm phiền anh Bình trả lời lần nữa, để khi vào sự tham tôi không còn thắc mắc nào, thầy giảng đã là kỹ rồi, nhưng có những thắc mắc như đã nêu trên tôi chưa nắm bắt được.
        Cám ơn anh một lần nữa, chúc anh một ngày vui, mạnh.
        N.H

      • Bạn quá chú tâm vào điều không đáng, dấu hỏi chẳng có chút quan trọng nào, kể cả câu thoại cũng không quan trọng. Quan trọng là tâm bạn có khởi lên nghi tình hay không. Nếu tâm bạn vốn đã có lòng nghi rằng thế giới có cái gì đó không thật đúng như ta thấy, thì cũng chẳng cần tới câu thoại, không đề khởi câu thoại mà vẫn có nghi tình là tốt nhất. Cứ duy trì nghi tình đó sẽ có lúc ngộ.

  4. Chào anh Bình, theo anh thì dấu hỏi không quan trọng, kể cả câu thoại. Như vậy sự quan trọng là ở nghi tình, nhưng hiện tại thì nói tới nghi tình với tôi là quá sớm.
    Vấn đề hiện tại của tôi là làm sao cho câu thoại trở thành liên lỉ, quen thuộc. Thưa anh Bình, có phải khi câu tham ở trong đầu mình thành khối thì nghi tình tự nó có, tức câu tham đó, sẽ thành hình nghi tình?
    Tôi chỉ mong sao bắt đầu không sai với nguyên tắc, giống như đặt cái cột đầu tiên cho căn nhà, Bắt buộc nó phải đứng ngay thẳng, đúng vị trí .
    Câu hỏi kế tiếp là, làm thế nào để khởi lên nghi tình lúc tham, khi anh nói không quan trọng dấu chấm hỏi, như vậy có phải cuối câu tham phải có mơ hồ một câu hỏi trong lòng, lâu dần câu hỏi mơ hồ này lớn dần thành nghi tình? Như vậy căn bản vẫn cần một câu hỏi dù mơ hồ ở cuối câu tham, tôi cho là như vậy đúng không? Vì lúc tham cần phải liên lỷ không gián đoạn và chú tâm tới câu tham. Vậy Câu tham liên lỷ với dấu hỏi thành nghi tình hay câu hỏi mơ hồ trong lòng lúc tham thành nghi tình? Cảm phiền anh giải thích một lần nữa, chúc anh một ngày vui vẻ.
    N.H

    • Tôi nói thế này để bạn nắm được cái chính yếu, đừng mãi loay hoay với những cái không quan trọng. Từ nhỏ tới lớn bạn vẫn luôn tin chắc 100% là cái thế giới chung quanh bạn là có thật, không chút mảy may nghi ngờ. Tổ Sư Thiền đưa ra một số câu hỏi nhằm mục đích gợi lên lòng nghi ngờ trong bạn rằng lòng tin của bạn là có vấn đề. Bạn chọn câu nào dễ khiến bạn quan tâm nhất làm câu thoại để tự hỏi. Bạn cứ tiếp tục đề khởi câu hỏi và duy trì lòng nghi ngờ càng lâu càng tốt và không tìm cách lý giải. Nếu bạn tìm cách lý giải là chuyển qua một cách tu khác gọi là Như Lai Thiền. Toàn bộ kinh điển Đại Thừa đều là Như Lai Thiền. Tu Tổ Sư Thiền chỉ đơn giản như vậy thôi, gợi ra lòng hoài nghi và duy trì cái hoài nghi đó.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s