MÊ VÀ NGỘ, BÌNH THƯỜNG TÂM

Con người sống trên thế gian có vui có khổ lẫn lộn, niềm vui qua mau, nỗi khổ kéo dài. Chẳng hạn niềm hoan lạc ái ân chỉ trong phút chốc, còn nỗi khổ vì bệnh tật có thể kéo dài suốt kiếp. Do đó có những bậc thánh nhân xuất hiện chỉ đường cho nhân loại giác ngộ thực tế, thoát khỏi mê lầm, có thể bình an vĩnh viễn. Chúng ta sẽ tìm hiểu thực chất của mê và ngộ như thế nào.

Thế nào là mê ?

Mê theo Phật pháp chính là cái tâm thái chấp thật của con người chúng ta. Chúng ta cho là cảnh giới thế gian là có thật, thân thể tứ đại (theo quan niệm xưa thân thể cấu tạo bởi bốn thành phần gồm đất, nước, gió, lửa) của mình là có thật. Cái ta của mình là có thật, và những thứ sở hữu của mình (ngã sở) là có thật. Nói chung, quan niệm chấp thật của người đời là cho rằng ngã (cái tôi) và pháp (cảnh giới vật chất và tinh thần) là có thật. Từ đó mê chấp, tranh giành và khổ vì đủ thứ phiền não như : thân thể bệnh tật, sinh lão bệnh tử, tai nạn; xung đột chiến tranh vì tranh giành tài nguyên, biển đảo, tiền tài danh vọng, tranh giành cả những cái thuộc về quan điểm như ý thức hệ, quan niệm về độc tài, dân chủ, tự do; đau khổ vì thiên tai hoành hành, nhân họa giặc giả, áp bức, bất công. Chính vì mê lầm như vậy nên tranh giành xung đột quyết liệt, thế giới không có một ngày bình yên, nhân loại sống triền miên trong đau khổ.

Dựa vào đâu, chúng ta biết được tuyệt đại đa số nhân loại sống trong mê muội ?

Dựa vào sự khai thị của một bậc giác ngộ. Đức Phật Thích Ca là giác giả, tức là người giác ngộ, chữ Phật cũng chỉ có nghĩa là giác giả tức là người giác ngộ chứ không phải là một vị thần linh. Còn một số vị thiền sư kiến tánh thành Phật cũng chỉ có nghĩa là trở thành người giác ngộ mà thôi. Phật nhìn thấy (bằng tâm chứ không phải bằng con mắt) thấu suốt cả Tam giới (bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới) và chỉ dạy cho chúng sinh rằng : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức (Ba cõi giới chỉ là tâm, muôn vạn pháp chỉ là thức). Tâm là trí bất nhị, vô phân biệt, là bản chất vô hình vô thể vô dạng, nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Thức là tâm của chúng sinh (mạt-na thức) phân biệt ra những cặp phạm trù mâu thuẫn, phân biệt rạch ròi vi tế tất cả những khác biệt nhỏ nhất của các pháp.

Nếu chúng ta giải thích theo kiểu của khoa học thì Tâm (Citta) là trường thống nhất (unified field), bản chất của tâm là sóng vô hình, phi vật chất, đồng nhất, vô phân biệt, ở đâu cũng như nhau, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng. Còn thức (consciousness) là tâm phân biệt của chúng sinh, là nhất niệm vô minh của bộ não, nó tưởng tượng ra đủ mọi pháp khác nhau. Các hạt cơ bản của vật chất (material particles) như photon, electron, quark vốn là không có thật, không có bất cứ đặc điểm đặc trưng gì cả, nhưng thức tưởng tượng là chúng có thật, là hạt cơ bản của vật chất có các đặc trưng như vị trí trong không gian, khối lượng, điện tích, số spin. Chẳng hạn hạt electron có các đặc trưng như sau :

Ký hiệu e, β
Khối lượng { 9,109 382 15(45) × 10–31 kg

5,485 799 09(27) × 10–4 u
11822.888 4843(11) u (u là đơn vị đo khối lượng nguyên tử = 1/12 của khối lượng nguyên tử carbon 12)
0.510 998 918(44) MeV/c2 (MeV là mega electronvolt. C là vận tốc ánh sáng)

Điện tích –1,602 176 487(40) × 10–19 C(Coulomb)
Spin ½

 

Riêng về vị trí thì không thể xác định được vị trí của electron theo nguyên lý bất định của Heisenberg, chỉ xác định được vận tốc. Vận tốc của electron trong chân không xấp xỉ nhưng không bao giờ bằng c, hay vận tốc ánh sáng trong chân không, điều này là do hiệu ứng tương đối tính theo thuyết tương đối. Hiệu ứng của thuyết tương đối dựa trên một đại lượng được biết đến là gamma hay hệ số Lorentz. Gamma là một hàm của v – vận tốc của hạt, và c – vận tốc ánh sáng, với gamma hay hệ số lorentz :

γ = (1 − v2/c2)−1/2

Theo kết quả cuộc tranh luận thế kỷ của hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein, mà cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tiến hành năm 1982 tại Paris đã chứng tỏ, hạt photon hoặc hạt electron không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Chỉ khi có người tiến hành quan sát và đo đạc chúng thì các đặc trưng mới xuất hiện. Điều đó chứng tỏ rằng các đặc trưng của hạt cơ bản chỉ là tưởng tượng của con người mà thôi chứ nó không có thật. Điều này trong kinh điển có ghi rõ ràng. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Điều đó cũng hiển bày ý nghĩa mà kinh điển Phật giáo từ lâu đã nói rõ Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Niels Bohr đã nói rằng : “Tất cả những gì chúng ta gọi là thật được làm bằng những vật không thể được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử không làm cho bạn bị sốc nặng thì bạn đã chưa hiểu được nó.”

Tại sao ai hiểu được cơ học lượng tử ắt phải bị sốc nặng ? Bởi vì nó làm sụp đổ tất cả mọi niềm tin của con người vào một thế giới vật chất khách quan. Bởi vì cái thế giới vật chất khách quan đó là không có thật. Einstein đã sai lầm, chỉ có cái thế giới tưởng tượng chủ quan do tâm tạo ra của con người mà thôi.

Bohr đã đưa ra một nhân định làm sụp đổ môn khoa học vật lý : Niels Bohr nói “Isolated material particles are abstractions”  (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Điều này có ý nghĩa sâu xa là tất cả các hạt cơ bản của vật chất chỉ là những hạt ảo không có thật. Vũ trụ vật chất xây dựng bằng những hạt ảo cũng chỉ là vũ trụ ảo không có thật. Loài người trên thế gian hoàn toàn sống trong mê muội chấp thật, họ sống trong thế giới tưởng tượng mà không tự biết.

Nhận định khoa học của Bohr khiến chúng ta phải trở lại, xem xét lại kinh điển Phật giáo dưới nhãn quang khoa học, chứ không phải với niềm tin tôn giáo nữa. Hãy xem lại lời dạy về Ngũ uẩn giai không của Đức Phật.

Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰 Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination).
Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời ở thế gian. Nguyên lý của vấn đề này nằm ở chỗ kinh điển diễn tả rằng tất cả các pháp đều không có tự tính, tất cả mọi tính chất của pháp là do tưởng tượng gán ghép của con người. Dễ thấy nhất là ngôn ngữ, từ ngữ của của bất cứ ngôn ngữ nào đều không có ý nghĩa, mọi ý nghĩa đều là do con người gán ghép cho từ ngữ. Tương tự như vậy, tất cả mọi vật trong vũ trụ đều không có thực chất, mọi tính chất đều do chúng sinh gán ghép cho vật. Đó cũng chính là ý nghĩa của ngũ uẩn giai không. Khoa học thế kỷ 20 đã xác minh vấn đề này qua cuộc tranh luận thế kỷ giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới, là Niels Bohr và Albert Einstein. Kết quả của cuộc tranh luận này chứng tỏ rằng các hạt cơ bản của vật chất đều chỉ là do con người tưởng tượng ra. Từ đó các cảnh giới vật chất cũng chỉ là tưởng tượng đồng bộ của các giác quan. Thí nghiệm hai khe hở là một chứng tỏ rõ ràng rằng hạt electron chỉ là tưởng tượng của người quan sát.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Đức Phật xuất hiện trên thế gian khoảng hơn 2600 năm trước, đã hướng dẫn cho con người biết cuộc sống trên thế gian chỉ là ảo tưởng mê muội, sướng khổ vô căn cứ, không có gì là thật cả, và chỉ dạy cho con người cách giác ngộ, thoát khổ.

Thế nào là ngộ ?     

Ngộ là khám phá ra Tâm chính là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Trực tiếp hội nhập vào tâm bất nhị đó. Về mặt ý thức thì hiểu rằng cuộc sống thế gian chỉ là mê muội, ảo tưởng, đó là sự giải ngộ. Giải ngộ là hiểu về mặt ý thức chứ chưa phải chứng ngộ triệt để. Hội nhập được với bản tâm và diệu dụng được nó mới là chứng ngộ. Bởi vì tập quán, tập khí thế lưu bố tưởng đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp quá sâu nặng, nên muốn phá hay giải thoát khỏi tập khí lâu đời đó, con người phải tu tập lâu năm, dùng giới, định, huệ để chuyển đổi thức thành trí. Cụ thể là chuyển bát thức thành tứ trí, nghĩa là chuyển đổi thói quen phân biệt của thức thành vô phân biệt trí và thoát khỏi sinh tử luân hồi.

Theo Duy Thức Học thì tất cả chúng sinh đều cùng một tâm mà ra. Bởi vì chúng sinh chấp ngã, chấp pháp nên trôi lăn trong lục đạo luân hồi nếm trải đủ mùi vị ngọt bùi, cay đắng, sướng khổ của Tam giới. Trong tâm thức của chúng sinh thì có bát thức gồm : tiền ngũ thức (5 thức cơ bản : thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc), ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức. Khi tu hành giác ngộ thì bát thức sẽ chuyển thành tứ trí như sau :

Tiền ngũ thức chuyển thành Thành sở tác trí, tức là khả năng cơ bản có thể đặt nền tảng cho mọi thứ công dụng ảo hóa. Thế gian tuy là cảnh ảo không phải thật nhưng ảo hóa cũng chính là công dụng của tâm. Tâm có công năng tạo ra vũ trụ vạn vật. Thành sở tác trí cung cấp dữ liệu cơ bản cho cuộc biến hóa vĩ đại của vũ trụ.

Ý thức chuyển thành Diệu quan sát trí, tức là khả năng phân biệt, dữ liệu của Thành sở tác trí chưa có phân biệt thành cặp phạm trù mâu thuẫn như tốt xấu, đúng sai, sáng tối. Diệu quan sát trí sẽ phân biệt các dữ liệu đó và hoạt động tương tác, khởi động cuộc xoay vần ảo hóa của vũ trụ.

Mạt-na thức chuyển thành Bình đẳng tánh trí. Đây là khả năng phân biệt ta người và muôn pháp. Bình đẳng tánh trí là không phân biệt, ta và người đều bình đẳng, tất cả chúng sinh, tất cả các pháp đều bình đẳng không phân biệt. Nhưng khi hoạt động thì Bình đẳng tánh trí chuyển thành Mạt-na thức và biết phân biệt. Nó phân biệt rõ ràng ta người, ngã và phần còn lại của vũ trụ.

A-lại-da thức chuyển thành Đại viên cảnh trí. Giống như một chiếc gương lớn phản ánh tất cả mọi hoạt động, mọi biến đổi của Tam giới, nhưng không lưu lại dấu vết, bởi vì tất cả mọi biến đổi, vô lượng vô biên pháp đều chỉ là ảo hóa. Đây là nguồn dữ liệu vô cùng lớn, vô lượng vô biên, không phân biệt, nhưng khi nhất niệm vô minh của mạt-na thức khởi lên thì phân biệt ra ta người và vạn pháp.

Tóm lại Tứ trí là bốn khả năng lớn của tâm. Ở trạng thái tĩnh lặng, vô phân biệt, thì đó là tứ trí, nhưng ở trạng thái hoạt động, ứng dụng thì đó là bát thức, tạo ra vô lượng vô biên cảnh giới kỳ ảo của Tam giới với vô lượng vô biên chúng sinh.

Có thể nói vô lượng cảnh giới và vô lượng chúng sinh đều chỉ là ảo hóa, không có thật, nên chúng sinh, con người, đừng có chấp thật, đừng có chấp ngã thì sẽ không cảm thấy phiền não hay khổ, đó chỉ là công dụng vĩ đại của tâm mà thôi.

Người giác ngộ liên thông được với tâm và có thể làm chủ được thân, sinh tử tự do và có thể có thần thông.

1194 Thiền sư kiến tánh sinh tử tự do, không sợ uy quyền của vua

1128 Người tại gia cũng có thể kiến tánh- Kể chuyện gia đình Bàng Uẩn

1210 Quan Âm Diệu Trí Lực năng cứu thế gian khổ- kể chuyện Trương Bảo Thắng

Thần thông hay đặc dị công năng có thể làm được những điều phi thường mà người bình không thể nào hiểu được vì nó trái với cảm nhận thường nghiệm.

42 CÓ PHẢI ZÉNON (ZENO) NGỤY BIỆN KHÔNG ?

Cuộc sống hàng ngày, bình thường tâm là đạo

Một số vị thiền sư kiến tánh là Triệu Châu và Mã Tổ Đạo Nhất có nói như sau :

有学僧参访赵州禅师,向其请教什么是禅?赵州禅师问:吃粥了吗?僧人答:吃粥了。赵州说:“那就洗钵去吧!” 这则“洗钵去”的公案和另一则“吃茶去”的公案同样著名,寓意也异曲同工。 无论是洗钵还是吃茶,都是日常生活中再平常不过的事,却成为禅机中的重要意象。 禅宗大德马祖道一说,“平常心是道,无造作,无是非,无取舍,无断 无断常,无凡无圣。只今行住坐卧,应机接物,尽是道”,又说“道不用修,但莫污染。何为污染?但有生死心,造作趣向,皆是污染。

(Dịch nghĩa) Có một vị tăng tham vấn thiền sư Triệu Châu, xin thỉnh giáo thế nào là thiền ? Triệu Châu hỏi lại : ông có ăn cháo chưa ? ông tăng trả lời : ăn cháo rồi. Triệu Châu nói : “Vậy đi rửa bát đi !” Đây là công án “Đi rửa bát” cùng với công án “Uống trà đi” đều rất nổi tiếng, tuy lời khác nhau nhưng đồng công dụng. Bất luận là rửa bát hay uống trà, đều là trong việc sinh hoạt thường ngày, cứ hành xử bình thường là không sai, điều đó trở thành ấn tượng trọng yếu trong thiền cơ. Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất của Thiền tông nói : “Tâm bình thường là đạo, không tạo tác, không đúng sai, không lấy bỏ, không đoạn tuyệt không thường còn, không phàm không thánh. Chỉ việc bây giờ đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếp vật, tất cả đều là đạo”. Ngài lại nói “Đạo không cần phải tu sửa, chỉ đừng làm ô nhiễm. Thế nào là ô nhiễm ? Đó chỉ là có tâm sinh tử, tạo tác, thú hướng (hướng tới một mục tiêu nào đó, ví dụ ăn phải đòi ngon mới chịu ăn, mặc phải đòi đẹp mới chịu mặc) đều là ô nhiễm.

Trong cuộc sống đời thường, chúng ta cảm thấy dường như lời dạy của Mã Tổ Đạo Nhất trái với nhu cầu của xã hội hiện đại. Xã hội ngày càng hướng tới văn minh, ăn ngon, mặc đẹp, chế tạo các công cụ ngày càng tinh vi hoàn thiện, tiện dụng hơn. Thật ra thì lời dạy của Mã Tổ không hẳn là trái với sự tiến bộ xã hội, mà cần phải hiểu theo nghĩa biện chứng. Xã hội không thể đứng yên một chỗ mà phải phát triển, tiến tới. Cái hình thức bình thường của sự vật tùy thời mà thay đổi. Thí dụ ngày xưa đi giày cỏ, ngày nay có giày da. Vậy cái bình thường của ngày nay là giày da chứ không phải giày cỏ như hồi xưa nữa. Ngày xưa các vị tăng đi đâu cũng chỉ là hành cước tức đi bộ, còn cái bình thường của ngày nay là đi xe hơi, đi máy bay. Vật bình thường của ngày xưa là cây quạt giấy, chén trà, cây bút lông. Còn vật bình thường của ngày nay là quạt máy, máy điều hòa, computer, điện thoại di động. Tâm bình thường trong bất cứ hoàn cảnh nào đều có ứng dụng phù hợp và vô ngại, nó cũng không làm trì trệ sự phát triển của xã hội, đó gọi là tùy duyên. Tâm bình thường là không chê áo vải thô cũng không chê áo vải polyester cao cấp, áo nào cũng mặc được. Ăn thì món gì cũng ăn được, dù cao lương mỹ vị hay chay lạt, gạo lứt muối mè cũng xong.

Không tạo tác tức là tâm hạn chế phát sinh vọng tưởng chấp thật chứ không có nghĩa là không phát minh sáng chế hay không sáng tạo. Xã hội loài người không thể dừng lại ở cuộc sống đơn sơ như bộ lạc Kogi. Năm 1974, một chiếc phi cơ bay lạc vào khu rừng rậm xứ Colombia thuộc Nam Mỹ châu – về phía bắc của rặng Sierra Nevada de Santa Marta, là một phần của dãy núi lớn Andes, phi công của chiếc máy bay này đã khám phá ra bên dưới thấp thoáng một công trình xây cất cổ xưa bằng đá có hình dạng kim tự tháp nhưng không giống kim tự tháp Ai Cập hay kim tự tháp thường thấy ở Nam Mỹ. Đó chính là nơi cư trú của bộ lạc Kogi.

0026 Bộ lạc Kogi ở Nam Mỹ

Chúng ta cần phải hiểu toàn thế giới như là một người do một tâm tạo ra nhưng tâm phân thân ra thành vô lượng người và chúng sinh, giống như một hạt photon có thể xuất hiện ở 100.000 hay vô lượng vô biên vị trí khác nhau. Các chúng sinh trong Tam giới cũng thế, từ một tâm mà ra, có cuộc sống riêng, sở thích riêng, hình tướng cũng khác nhau, công việc của mỗi người mỗi vật đều khác nhau nhưng phối hợp điều hòa, không xung đột, không tranh giành, đó là điều mà người dân tộc Kogi làm được, nhưng nhân loại thì không làm được bởi vì đa số nhân loại chấp ngã và ngã sở một cách mê muội, chưa có được bình thường tâm.

Trong xã hội hiện đại, liệu con người có thể giữ bình thường tâm được không ? Tôi thiết tưởng không có gì mà không được. Nhà khoa học thì cứ tiếp tục phát minh sáng chế ra những phương pháp sản xuất hiệu quả hơn, ít tốn kém, ít ô nhiễm hơn, ngày càng có khuynh hướng thiên về phương pháp tin học hơn là phương pháp công nghiệp. Chẳng hạn sản xuất vật dụng bằng phương pháp in 3D sẽ ít tốn kém, ít lãng phí nguyên liệu, năng lượng, ít chất thải hơn, lại mau chóng và chính xác hơn. Nhưng nhà khoa học với bình thường tâm sẽ không phát minh ra bom đạn, bom nguyên tử, vũ khí hủy diệt, chất độc hóa học, bởi vì không có ý đồ tranh hơn thua.

Các nhà sản xuất đều có ý thức về bảo vệ môi trường, sử dụng nguồn năng lượng sạch như mặt trời, gió, thủy điện, thủy triều để tạo ra năng lượng, giảm bớt đi tới chấm dứt sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường, loại bỏ dần cả những nhà máy điện nguyên tử. Nhà sản xuất với bình thường tâm sẽ không quá chú trọng lợi nhuận, chỉ chú tâm phục vụ cho xã hội, mọi người đều được no cơm, ấm áo, có nhà cửa phương tiện sinh hoạt tiện lợi. Nhà buôn bán không đầu cơ kiếm lãi bất chính mà chỉ chú tâm làm tốt công việc lưu thông phân phối để hàng hóa đến tay của người cần dùng một cách thuận lợi, nhanh chóng, ít tốn kém.

Các nhà khoa học chú tâm nghiên cứu về vấn đề sản xuất trực tiếp protein làm thực phẩm mà không cần phải chăn nuôi giết mổ gia súc gia cầm, thủy hải sản, nghĩa là tránh sát sinh hại vật. Tức là có thể sản xuất ra thịt cá nhân tạo không cần phải chăn nuôi đánh bắt. Đó là một bước tiến lớn của nhân loại khi con người có thể sản xuất ra protein thực vật và động vật phục vụ nhu cầu ăn uống cho con người bằng phương pháp công nghiệp hoặc tin học mà không cần phải trồng trọt hoặc chăn nuôi. Khi xã hội tin học hóa cao độ thì thời đại đó ngày càng đến gần.

Theo kinh Vô Lượng Thọ thì chúng sinh ở cõi Tây phương Cực lạc không cần phải chăn nuôi trồng trọt hay sản xuất công nghiệp mà vẫn có đồ ăn thức uống và vật dụng sinh hoạt, thực hiện được hoàn toàn nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Các nhà lãnh đạo chính trị với bình thường tâm, thì không có ý tranh giành về tài nguyên biển đảo hoặc quyền lực mà chỉ cốt sao cho thế giới được hòa bình, cuộc sống của toàn thể nhân loại được hạnh phúc. Công nhân viên chức với bình thường tâm sẽ không tham ô móc ngoặc, chỉ tận tâm phục vụ, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.

Các nghệ sĩ với bình thường tâm có thể phát huy sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật và văn hóa phục vụ nhu cầu tinh thần, giải trí cho con người một cách lành mạnh, vui tươi, để lại những tác phẩm văn học, phim ảnh, âm nhạc điển hình,  phản ánh cuộc sống của từng thời đại.

Tóm lại trong xã hội văn minh hiện đại, con người vẫn có thể sống với bình thường tâm, một trạng thái giác ngộ, an nhiên tự tại mà vẫn không làm cho xã hội trì trệ chứ không nhất thiết phải sống nguyên sơ như một bộ lạc nguyên thủy, điển hình là bộ lạc Kogi ở Colombia.

Con người vẫn sống trong xã hội văn minh hiện đại, hưởng thụ cuộc sống hiện đại, nhưng với bình thường tâm, an nhiên tự tại và hòa bình, làm chủ cả cảnh giới, cả thiên nhiên, liệu có thực hiện được không ? Điều này thuộc về cá nhân chứ không tùy thuộc xã hội, cá nhân là quyết định. Bởi vì mỗi người đều sống trong vũ trụ của mình, mỗi người mỗi khác. Một hành giả có thể sống với bình thường tâm trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chẳng hạn hòa thượng Hư Vân (1840-1959) là người kiến tánh, sống trong thời kỳ cuối Nhà Thanh dưới triều Đạo Quang, trải qua thời Trung Hoa Dân Quốc và viên tịch dưới thời Trung Quốc Cộng Sản, qua bao biến loạn của thời thế, bản thân ngài cũng bị khổ nạn trong biến cố Vân Môn là ngôi chùa ngài trụ trì.

Chùa Vân Môn là thánh địa đạo tràng của thiền tông Trung Hoa dựng lên từ năm 923 bởi tổ Vân Môn Văn Yển, tọa lạc trên núi Vân Môn – một danh sơn thuộc huyện Nhũ Nguyên 乳源, phía bắc tỉnh Quảng Đông. Sau hơn 1.000 năm hưng phế, đến đầu thế kỷ 20, chùa nghiêng đổ tiêu điều, không người lui tới  – chỉ còn sót một vị tăng già ngày đêm giữ ngọn lửa Phật bên nền điện Đại Hùng lạnh cóng. Quanh ngôi cổ tự đầy những lùm lau lách, cỏ dại, hang hốc, chồn hoang, rắn, chuột…

Đến năm 1942, giữa thời chiến tranh Trung Nhật, chùa Vân Môn được trùng hưng trong suốt 9 năm, mọc lên điện đài, lầu gác, sảnh đường và các công trình kiến trúc mới, uy nghiêm đồ sộ với ngót 180 ngôi, trên diện tích hơn 20 mẫu – là nhờ nguyện lực và sức bình sinh đích thân đứng ra tái tạo của vị đại sư nổi danh nhất Trung Quốc thời ấy: hòa thượng Hư Vân.

Nhưng, đầu xuân Tân Mão, Thứ bảy 31.3.1951, ngài Hư Vân đang mở “giới đàn Ngàn Phật” ở chùa Vân Môn, có đông đảo tứ chúng vân tập cùng 120 tăng, bỗng bị công an đến bao vây. Họ ào vào chùa, ngang nhiên bắt hòa thượng Hư Vân nhốt trong Phương trượng. Tất cả các cổng ra vào chùa đều có công an ngăn giữ, không cho ai thoát đi. Phật tử đến cúng dường, nghe kinh, bị ngăn lại, đuổi về. Các sư đang niệm hương lễ Phật, bị gom lên thiền đường giam giữ, nạt nộ “hỏi cung”.

Chủ nhật 8.4.1951 (3.3 Tân Mão): “hơn 10 người lực lưỡng kéo vào thất, ép buộc sư Hư Vân phải giao nộp vàng bạc, súng ống cho chúng. Sư bảo là không có. Họ bèn thẳng tay đánh đập. Ban đầu thì dùng gậy, sau dùng côn sắt, họ quất tới tấp vào đầu, cổ, khắp thân thể sư. Vừa đánh vừa nạt nộ tra hỏi. Tiếng dùi cui và cây sắt bổ xuống nghe rầm rầm. Ngài lỗ đầu, chảy máu, gãy xương sườn… nhưng ngài cứ nhắm mắt, ngậm miệng làm thinh nhập định. Hôm ấy, bọn chúng lôi sư xuống đất đánh đập dã man tới bốn lần. Đến khi thấy tình trạng sư quá nguy kịch, chỉ còn chờ chết, chúng mới kéo nhau đi”. Ngày thứ 10 của cuộc vây ráp chùa Vân Môn, công an đinh ninh hòa thượng Hư Vân đã chết vì bị họ đánh thẳng tay bằng côn sắt vào đầu, nhưng khi mở cửa phương trượng, họ thấy ngài vẫn đang… ngồi thiền!

Ngay trong lúc bị đánh đập tàn nhẫn nhứt, ngài vẫn an nhiên nhập định, lên cõi trời Đao Lợi nghe Phật Di Lặc thuyết giảng, không cảm thấy khổ.

Qua nhiều ngày không ăn không uống, Hư Vân lão sư đột nhiên tỉnh dậy, ngài nhờ người lấy giấy bút, ghi lại khoảng thời gian ngài đến được cõi trời, vào Đâu Suất cung, ngài nói: “Ta thấy mình đến bên trong tự viện, trang nghiêm mỹ lệ, khung cảnh thần tiên, được gặp Phật Di Lặc đang ngồi thuyết pháp, rất đông người nghe, khoảng hơn 10 người, như Giang Tây Hải Hội tự Chí Thiện hòa thượng, Thiên Thai Tông Dung Kính Pháp sư, Kỳ sơn Hằng Chí Công, Bách Tuế cung Bảo Ngộ hòa thượng, Bảo Hoa sơn Thánh Tâm hòa thượng, Độc Thể luật sư, Kim sơn Quan Tâm hòa thượng, cùng Tử Bách tôn giả, hết thảy đều rất quen thuộc, ta ngồi vào chỗ trống thứ 3, tôn giả A Nan ra vẻ đăm chiêu, ngồi gần ta, cùng nghe Di Lặc thuyết giảng  ‘Duy tâm thức định’, đoạn giảng chưa xong, ngài Di Lặc quay sang bảo ta: ‘Ngươi phải trở lại’; ta bảo: ‘Đệ tử nghiệp chướng sâu nặng, không muốn trở lại’, Phật Di Lặc nói: ‘Ngươi nghiệp duyên chưa xong, phải trở lại,  thế rồi ta mới quay về, nay viết thành bài kệ ”.

Đầu tháng 5.1951, trước áp lực trong cũng như ngoài nước, chính quyền Bắc Kinh phái một viên chức cao cấp cùng các nhân viên đến huyện Nhũ Nguyên để “điều tra sự vụ”, thả các vị tăng đang bị nhốt trong tù ra. Vài hôm sau, họ đem mấy tên công an đã đánh đập ngài đến để cho ngài nhận diện nhưng ngài từ chối không chỉ ra để tránh cho họ khỏi bị khép tội. Ngài cũng từ chối không ký tên vào bản cáo trạng nên sau cùng phái đoàn trung ương chỉ lập biên bản lấy lệ, nói rằng chỉ có một vài hiểu lầm nhỏ, không đáng kể mà thôi. Sự biến thảm khốc ở Vân Môn từ 24.2 đến 23.5.1951 chấm dứt. Sau đó đến năm 1953 ngài lại bình an đến chùa Ngọc Phật ở Thượng Hải để đả thất và thuyết pháp, đến năm 1959 ngài viên tịch, thọ 120 tuổi.

Hành trạng của Hư Vân hòa thượng cho thấy hành giả có thể an nhiên tự tại trong bất cứ hoàn cảnh nào không tùy thuộc vào ngoại cảnh. Đến như gia đình Bàng Uẩn thì lại càng tự tại, sinh tử hoàn toàn tự do, việc sống chết nhẹ tợ lông hồng chẳng chút bận tâm. Tóm lại hành giả thiền có thể sống với bình thường tâm trong bất cứ hoàn cảnh nào, không tùy thuộc vào hoàn cảnh vì phá được ngã chấp và pháp chấp.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

24 Responses to MÊ VÀ NGỘ, BÌNH THƯỜNG TÂM

  1. ly nói:

    Chúng ta cần phải hiểu toàn thế giới như là một người do một tâm tạo ra nhưng tâm phân thân ra thành vô lượng người và chúng sinh
    tôi vẫn chưa hiểu khúc này lắm xin tác giả giải thích

    • Giới hữu tình (toàn thề chúng sinh trong Tam giới) và giới vô tình (toàn thể vật vô tri trong Tam giới) đều từ một Tâm mà ra, đó chinh là đạo lý Một là tất cả, Tất cả là Một. Giới hữu tình và giới vô tình đều là vọng tưởng của bộ não. Bộ não tưởng tượng ra vũ trụ vạn vật, tưởng tượng ra không gian, thời gian và số lượng. Ngày nay thì khoa học đã hiểu đạo lý đó qua hiện tượng liên kết lượng tử hay còn gọi là rối lượng tử (quantum entanglement). Năm 2012 Maria Chekhova của Đại học Moscow đã làm thí nghiệm cho một photon xuất hiện đồng thời tại 100.000 vị trí khác nhau trong không gian. Tương tự như vậy, Tâm là photon gốc, vô lượng vô biên chúng sinh là phóng hiện của vô số photon ở vô số vị trí khác nhau đó, tưởng là có vô số photon khác nhau, thật ra chỉ có một photon thôi, cái này trong Phật pháp gọi là Bất nhị pháp môn. Không phải Một, cũng không phải Nhiều, đúng ra là không có số lượng hay Số lượng không có thật (Non quantity).

      • ly nói:

        cám ơn tác giả , cho tôi hỏi 2 thắc mắc
        1.vậy ko lẽ tôi là anh A , anh A là tôi, anh A đánh tôi tức là đánh anh A ?
        2.vậy tôi đang sống trong 1 thế giới ảo, nhưng ko dễ gì buông bỏ nó.Một là vì dù ảo nhưng ta vẫn mê luyến nó, giống như trò chơi điện tử dù biết là ảo nhưng vẫn mê.Hai là vì quá khó phá ảo, dù là bậc giác ngộ nhưng bệnh tới thân thì vẫn đau dù đã giác ngộ thân này là ảo có đúng ko ?

      • 1/Thấy có vẻ rất vô lý nhưng thực tế đúng là như vậy. Bạn đánh A tức là tự đánh mình, đó chính là nguyên lý nhân quả. Không phải do Ông Trời giám sát và trừng phạt bạn khi bạn làm điều ác và ban thưởng khi bạn làm điều thiện, mà đó là cơ chế tự động. Bây giờ bạn đánh A, trong tương lai A sẽ đánh lại bạn vì đó là một cơ chế tự động, bạn và A không phải là hai. Bạn đánh A và A đánh bạn là sự việc xảy ra đồng thời, nhưng bạn không thấy đồng thời mà thấy sau một khoảng thời gian có thể rất lâu sau A mới đánh lại bạn, nhưng bạn không biết rằng thời gian không có thật, sự việc xảy ra đồng thời, nên dù cho có thần thông đệ nhất như Mục Kiền Liên vẫn không thoát khỏi nhân quả.
        2/Thế gian là ảo, tức việc xảy ra trong chiêm bao, người giác ngộ nhưng vẫn còn thế lưu bố tưởng tức tưởng tượng của giấc chiêm bao nên bệnh tới vẫn bị hành, nhưng không còn khổ vì không sinh chấp trước tưởng nên không còn phiền não, Hư Vân bị đánh đập tàn nhẫn như vậy nhưng không khổ, cũng không oán trách, không trả thù những người đã đánh đập mình.

      • ly nói:

        ý tôi là tác giả có nói tất cả chỉ là một,Giới hữu tình (toàn thề chúng sinh trong Tam giới) và giới vô tình (toàn thể vật vô tri trong Tam giới) đều từ một Tâm mà ra, đó chinh là đạo lý Một là tất cả, Tất cả là Một.
        tất cả là một vậy tại sao lại có A, có tôi, là một tại sao có A đánh tôi, tôi đánh A, là một tại sao A đánh tôi , tôi lại đau mà A ko đau. Là một ko lẽ tôi là A, A là tôi, ý tôi là vậy xin tác giả giải thích.

      • Có vô số cảnh giới và vô số chúng sinh khác nhau là do công dụng của Tâm. Tâm vô cùng rộng lớn, chứa đủ loại thông tin. Bạn và A cũng đều là thông tin từ trong Tâm phát ra. Giống như một photon có thể xuất hiện thành 100.000 photon khác nhau, các photon đều có khác nhau chút ít, ví dụ vị trí khác nhau, độ xoay spin khác nhau.

      • ly nói:

        Bạn đánh A và A đánh bạn là sự việc xảy ra đồng thời, nhưng bạn không thấy đồng thời mà thấy sau một khoảng thời gian có thể rất lâu sau A mới đánh lại bạn, nhưng bạn không biết rằng thời gian không có thật, sự việc xảy ra đồng thời
        nhưng tôi thấy nhiều trường hợp người khác hại người vẫn sống phây phây cho tới lúc chết chứ có thấy người bị hại đánh lại gì đâu, mà người bị hại thì hiền khô tốt bụng có bao giờ đánh ai đâu, mà bạn nói xảy ra đồng thời. Ông lão kia hiếp dâm con bé đến chết ko lẽ con bé cũng hiếp lại ông ấy đồng thời.

      • Cái quả có thể kiếp sau hoặc nhiều kiếp sau nữa mới đến, bạn không có thần thông nên không thể thấy cái nhân quả đồng thời. Con bạch tuột Paul có thần thông đó nên nó thấy trước kết quả cả 8 trân đấu bóng đá trong Word Cup 2010 tại Nam Phi, nếu bạn có theo dõi thì thấy sự kiện đó, nó dự báo đúng kết quả của cả 8 trận đấu mà người ta yêu cầu nó đoán.

      • ly nói:

        cám ơn cho tôi hỏi câu hỏi cuối vì người trần gian như tôi còn cảm thấy khá kỳ lạ về thời gian. Bạn nói thời gian không có thật, sự việc xảy ra đồng thời. Ko lẽ việc đến kiếp sau mới xảy ra cũng là đồng thời, rõ ràng người đời chúng tôi thấy mấy chục năm sau cơ mà. Nếu thời gian ko có thật nhưng rõ ràng tôi thấy năm 2000 mọi vật khác, đến năm 2100 thì rõ ràng mọi vật khác đi mà, nếu thời gian ko có thật nhưng rõ ràng 1 đời người sinh ra già rồi chết đi mà, cảnh vật qua mấy ngàn năm cũng khác nhau mà khó hiểu quá ????

      • Để cho dễ hiểu, bạn hãy xem một ví dụ, chẳng hạn phim Tây Du Ký. Quá khứ là những đoạn bạn đã xem qua, hiện tại là đoạn bạn đang xem, nó đang diễn ra, còn tương lai là cái bạn chưa xem tới. Người đã xem qua bộ phim ấy rồi thì biết tất cả các cảnh phim đều đồng thời hiện hữu, đã có sẵn hết rồi. Bạn mới mở ra xem lại tập đầu nhưng bạn đã biết chắc kết cục ra sao rồi. Bạch tuộc Paul dự báo đúng kết quả của cả 8 trận đấu tại Word Cup Nam Phi 2010 mặc dù mọi người đều thấy các trận đấu chưa diễn ra nhưng thật ra trong Tâm đã có hết rồi, nó chỉ báo cái nó thấy thôi chứ không phải dự đoán.

      • ly nói:

        bạn nói vậy tức là mọi thứ đã có sẵn hết rồi, tôi ko thể thay đổi tương lai sao, ko lẽ tương lai đã được sắp đặt, nếu vậy tôi cứ nằm ra đấy mà ăn chơi thì cuốn phim cuộc đời cũng ko thay đổi, tôi giác ngô cuốn phim cuộc đời cũng ko thay đổi.

      • Bạn không làm chủ được tâm nên tương lai ra sao bạn không biết, không biết được tương lai sẽ diễn ra như thế nào, no ấm hay đói rách, nhưng nếu bạn tin tự tâm thì không có gì phải lo lắng, cái gọi là ý chí, nỗ lực hay tài năng của con người cũng do tâm sắp xếp thôi. Tài năng của Bill Gates hay số phận bỏ học nửa chừng và trở nên giàu có của ông ta cũng do tâm sắp xếp thôi.

      • ly nói:

        1.vậy ko lẽ tôi ko nỗ lực gì hết cứ nằm ra đấy rồi chết cũng là do tâm, tôi chẳng phải làm gì cả, mọi thứ đã có tâm sắp xếp sao, vậy tại sao 1 người chăm chỉ thì lại thành công , người lười biếng thì chẳng có gì cả. Vậy tôi cứ nằm ườn ra đấy tâm sắp xếp hết cho tôi sao.
        2. vậy hôm nay tôi lên hỏi tác giả những điều này rồi cuộc sống của tôi thay đổi hoàn toàn so với những người khác cũng đã được sắp đặt trước ko thay đổi được?

      • Bạn không nên suy nghĩ tiêu cực như vậy mà phải biết tùy duyên. Vì dụ tới tuổi đi học thì bạn phải đi học đi thi. Lớn lên tới độ tuổi hôn nhân thì cũng phải lấy vợ lấy chồng nếu không tình nguyện sống độc thân, rồi cũng phải đi làm việc để kiếm sống, rồi cũng phải làm tròn bổn phận đối với bản thân, gia đình, con cái, xã hội, quốc gia, v.v… không có gì khác cuộc sống bình thường cả. Nhưng có một điểm khác quan trọng, là tâm của bạn lúc nào cũng bình an, không có gì lo sợ trước mọi biến cố, vì đã ngộ tất cả chỉ là ảo hóa, tất cả chỉ là trò ảo thuật của tâm thôi.

  2. Tram Truong nói:

    Bài viết rất hay, cám ơn chú Truyền Bình.
    Kích thích tu tập, hợp với câu được ý quên lời của Tổ. 🙂

  3. hung nói:

    chào thầy Truyền Bình cho tôi hỏi trong bài có nói đặc trưng là do tâm gán ghép cho vật chứ vật ko có đặc trưng, nếu tôi sống trong môi trường độc hại thì đó cũng chỉ là niềm tin của tôi mà thôi. Nhưng nếu đó là đặc trưng thật của vật thì sao. Ví dụ mất nhà cửa, bị truy sát, bị bệnh đau đớn, bị tai nạn mất bộ phận cơ thể nằm đau đớn trên giường bệnh. Thì đó đúng là đau khổ rồi chứ đâu phải tôi gán ghép đặc trưng đau khổ cho nó đâu. Khi bị truy sát hay bị bệnh đau đớn. thì đó đúng là đau khổ thật rồi chứ đâu phải tôi gán ghép cho nó đâu. Thực tế bản chất nó là đau khổ đau đớn về thể xác lẫn tinh thần chứ tôi đâu có gán ghép cho nó. Em tôi đang bình thường bị người khác hại đến mức điên dại giờ như người điên và chết rồi. Vậy thì tôi thấy rõ ràng là 1 sự đau khổ chứ tôi đâu có gán ghép gì.

    • Sự gán ghép sâu xa hơn bạn nghĩ rất nhiều. Hạt electron chỉ xuất hiện trong nhất niệm vô minh của người quan sát, hạt nhân nguyên tử cũng vậy. Nguyên tử, phân tử, sinh vật, đồ vật, tất cả đều xuất hiện trong tâm niệm của con người, do 8 thức tưởng tượng ra. Nhà cửa, xe cộ, chính thân thể của bạn đều không phải là có thật. Chính vì vậy mới có chuyện Trương Bảo Thắng có thể đi xuyên qua tường, hoặc có thể lấy một trái táo từ trong một thùng sắt bị hàn kín mà không cần mở nắp.

      • hung nói:

        phật pháp có nói vạn pháp do tâm tạo, vậy tâm có thể biến cơ thể mập thành gầy được ko, vì cơ thể ko có thật do tâm tạo ra vậy có thể biến cơ thể mập thành gầy bằng tâm bằng ý nghĩ ko, nếu ko tại sao nói ko có thật do tâm tạo, nếu có thì bằng cách nào, có phải do ý nghĩ ko.
        xin cám ơn thầy

      • Có thể biến được nếu bạn làm chủ được tâm. Chẳng hạn Hầu Hi Quý đã làm được việc biến thấp thành cao : https://duylucthien.wordpress.com/2018/02/02/hau-hi-quy-bien-co-the-minh-cao-lon-len/ Muốn làm được bạn phải tu hành kiến tánh làm chủ được tâm. Trong đời thường bạn muốn gầy thì có cách dễ hơn là ăn gạo lứt muối mè, nếu bạn ăn được 3 tháng thì đảm bảo bạn sẽ gầy đi nhiều.

      • ly nói:

        cám ơn thầy tôi hỏi ngay bài mới đúng là có duyên và may mắn

  4. Huỳnh nói:

    Cho cháu hỏi là giác giả có còn ở trong “Tâm” không? hay đã vượt ra khỏi phạm vi của “Tâm”?
    Theo cháu hiểu về định luật bất toàn thì muốn hiểu rõ hoàn toàn cái “Tâm” tức là giác ngộ, phải vượt ra ngoài phạm vi của “Tâm”, trong khi “Tâm” là cái duy nhất, cái tất cả.

    • Tâm là tất cả, lớn không có gì hơn mà nhỏ cũng không có gì nhỏ hơn. Cái bạn biết về định lý bất toàn là tương đối. Còn Tâm giác ngộ là bất nhị, không có đối đãi, không còn tương đối, nghĩa là không có chủ thể biết, không có đối tượng được biết, không có cái tri kiến gọi sự thấy biết. Cho nên giác ngộ không thể dùng lời nói diễn tả được.

      • Huỳnh nói:

        Thưa bác, bản ngã là không có thật.
        Luật nhân quả hành xử như một chiếc cối xay thịt, khi ta trộn chung thịt trắng ( gà) với thịt đỏ(bò) bỏ vào trong chiếc cối xay thịt, tất cả rồi sẽ nhuyễn nhừ. Sự tương tác lẫn nhau (tranh đấu lẫn nhau) giữa thịt trắng (xem như Thiện) và thịt đỏ ( xem như Ác) hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì.
        Hơn nữa, bản ngã ( trắng, đỏ, Thiện,Ác) là không có thật, vậy làm thịt trắng hay thịt đỏ thì có gì khác nhau? Sự giác ngộ triệt tiêu bản ngã, lúc giác ngộ cũng là lúc tất cả trở thành “không”, vậy sự giác ngộ có khác gì sự tan biến vĩnh viễn vào hư không?
        Vậy có phải nên hưởng thụ nhân sinh là cách sống tốt nhất hay không?

  5. Bản ngã là vọng tưởng, thiện cũng là vọng tưởng, ác cũng là vọng tưởng. Hành giả giác ngộ thì hết vọng tưởng, sinh tử tự do, không còn bị trói buộc bởi nghiệp, vì nghiệp cũng chỉ có trong vọng tưởng. Trong Thập Mục Ngưu Đồ diễn tả hành giả buông tay vào chợ, không có gì trói buộc cả. Nhưng nếu bạn chưa giác ngộ thì không nên đoán mò làm càn, bởi vì bạn chưa thoát khỏi nghiệp, chấp ngã, chấp pháp vẫn còn nặng nề.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s