VÔ THƯỢNG THỪA PHẬT GIÁO

Giới thiệu qua về vô thượng thừa

Vô thượng thừa Phật giáo là một trường phái tu tập thiền định do Đức Phật Thích Ca sáng lập và các Tổ Sư triển khai qua nhiều thế hệ. Họ không phải là nhà lý thuyết suông mà chủ yếu là nhà thực hành, họ ứng dụng vô thượng thừa trong cuộc sống của bản thân mình đạt tới giác ngộ cả về lý thuyết và thực hành.

Về mặt thực hành, họ đã phát hiện ra Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Giác ngộ tức là thành Phật, nghĩa là thành người giác ngộ (giác giả tức là Phật hay còn có tên gọi khác là Chánh biến tri, nghĩa là hiểu biết đúng thực tế khắp cả không gian và thời gian của Tam giới – gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới) và họ có thần thông, cụ thể là lục thông (6 loại thần thông mà kinh điển có nêu) bao gồm :

Lục thông, 六通 , tiếng Phạn ṣaḍ abhijñāḥ: Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực tâm thức bát nhã của chư Phật và Bồ tát.

A-tì-đạt-ma-câu-xá luận zh. 阿毗達磨俱舍論, sa. abhidharmakośa-śāstra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận) có kể rõ lục thông là :

  1. Thân như ý thông, Phạn (sa) ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, còn gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi… tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
  2. Thiên nhãn thông, sa. divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nhìn thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
  3. Thiên nhĩ thông, sa.  divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
  4. Tha tâm thông, sa.  paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
  5. Túc mệnh thông, sa.  purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, còn gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì…
  6. Lậu tận thông , sa.  āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba cõi, được giải thoát hoàn toàn.

Đức Phật hay Tổ Sư Vô Trước đã từng chứng tỏ là họ có khả năng đi lên các cõi trời. Đức Phật đi lên cõi trời Đao Lợi 忉利天để thuyết pháp cho thân mẫu là hoàng hậu Ma Da nghe, khi trở về Ấn Độ tại nơi có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay) có Phạm Thiên và Đế Thích theo hầu.

Bia đá tạc sự tích Đế Thích và Phạm Thiên hầu Phật trở về thế gian tại Sankasya (Tăng Già Thi)

Còn Vô Trước Asaṅga dành nhiều năm thiền định nghiêm túc, trong thời gian này, theo truyền thuật, ban đêm ông thường viếng thăm cõi trời Tuṣita (Đâu-suất) để nghe giảng pháp từ Bồ tát Maitreya (Di-lặc) và ban ngày về thế gian giảng giải lại cho tín đồ.

Vô thượng thừa phá tất cả mọi chấp trước

Về mặt lý thuyết, họ giảng nhiều bộ kinh có ý nghĩa thâm sâu và rốt ráo đủ khả năng bác bỏ những niềm tin sai lầm của nhiều nhà khoa học đời sau, kể cả nhà khoa học vĩ đại nhất thế gian trong thế kỷ 20 là Albert Einstein.

Einstein tin rằng thế giới vật chất là khách quan, là có thật, cụ thể là những hạt cơ bản (element particles) của vật chất như photon, electron là có thật. Những đặc trưng cơ bản của chúng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin, luôn luôn tồn tại. Trong khi đó kinh điển Phật giáo nói rằng các hạt cơ bản chỉ là hoa đốm trong hư không, chỉ là tưởng tượng chứ không có thật. Kinh Hoa Nghiêm còn nói rõ rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron và tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Tất cả mọi đặc trưng của hạt cơ bản như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin đều không có sẵn, chính người quan sát hay người khảo sát đo đạc, đã gán ghép tâm niệm, tưởng tượng của mình để tạo ra những đặc trưng của chúng. Những đặc trưng vô cùng cơ bản của vũ trụ như không gian, thời gian, số lượng cũng đều như vậy, nghĩa là do bộ óc tưởng tượng ra, hay nói cách khác, chỉ là vọng tưởng mà thôi. Cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Albert Einstein đến năm 1982 đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Bohr. Einstein đã sai lầm như tuyệt đại đa số chúng ta tưởng rằng vật chất là có thật. Tuyệt đại đa số người trên thế gian đều không hiểu rằng chính vì các hạt cơ bản không có đặc trưng, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát và đặc trưng tưởng tượng đó đã tạo ra thế giới vật chất, từ nguyên tử, phân tử cho tới cố thể vật chất, sinh vật, con người, sơn hà đại địa, vũ trụ .

Sai lầm của Einstein không phải nhỏ, đó là sai lầm rất lớn, rất cơ bản. Nhưng tại sao Einstein vẫn được người đời hết mực tôn sùng và tuyệt đại đa số hầu như không biết gì về sai lầm cơ bản của ông ? Bởi vì có một nguyên lý gọi là Nguyên lý bất định do Werner Heisenberg phát biểu lần đầu năm 1927. Ý nghĩa của nguyên lý đó về mặt triết học là nói rằng : không thể xác định electron thực chất là sóng hay là hạt; nó vừa là sóng, vừa là hạt; vừa là không phải sóng cũng không phải hạt; khoa học và loài người không thể khẳng định nó là cái gì; nó không phải là cái gì cả. Chúng ta phải trở lại triết học của Kant khi ông nói rằng : Người ta không thể nhận thức được vật tự thể (Ding an sich), mà chỉ nhận thức được sự trình hiện (Erscheinung) của nó. Electron và các hạt cơ bản khác của vật chất là cái gì thì con người không thể biết được. Cái đó Tổ Sư Thiền gọi là vô thủy vô minh (không có khởi đầu, không thể xác định). Còn sự trình hiện của nó là vũ trụ vạn vật mà chúng ta đang thấy. Bởi vì tuyệt đại đa số nhân loại và Einstein cùng thấy trình hiện như nhau nên họ hoàn toàn tin tưởng vào Einstein và không biết rằng ông hoàn toàn sai lầm, thực tế là mê muội, mộng ảo. Cái này Bát Nhã Tâm Kinh diễn tả là Sắc Bất Dị Không, Không Bất Dị Sắc; Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc. Einstein là người rất hâm mộ Phật giáo ông từng nói :

Nếu có tôn giáo nào có thể đối mặt với yêu cầu của khoa học hiện đại, nó có lẽ là Phật giáo

Thế nhưng rõ ràng là ông chưa hiểu hết PG nên mới tranh luận kịch liệt với Niels Bohr về vấn đề hạt photon có sẵn đặc trưng hay không, vì ông không biết PG có nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính. Kết quả là ông đã thất bại.

Kinh điển cũng bác bỏ thuyết Sinh vật tiến hóa của Darwin, đó chỉ là một giả thuyết khoa học lầm lạc. Thuyết sinh vật tiến hóa cho rằng do một sự ngẫu nhiên may mắn mà các chất vô cơ không phải chất sống như Carbon, Hydrogen, Oxygen và Nitrogen đã kết hợp được thành một thành phần cần thiết của chất sống đầu tiên là acid amin và từ đó hình thành các phân tử protein, tiến hóa dần thành các sinh vật, ban đầu chỉ là sinh vật đơn bào đơn giản và ngày càng phức tạp tinh vi cho đến trở thành con người với bộ não và các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, vô cùng phức tạp. Thuyết này có vẻ rất có lý, nhưng thực tế không phải như vậy.

Cấu trúc chung của một phân tử acid amin, với nhóm amin ở bên trái và nhóm acid cacbonxylic ở bên phải. Nhóm R là nhóm thay thế tùy theo từng acid amin cụ thể.

Niềm tin vào tiến hóa giống như tin rằng một đứa trẻ không có chút hiểu biết gì, chỉ viết bậy viết bạ một cách ngẫu nhiên, cuối cùng may mắn tạo ra được một hệ điều hành Windows vô cùng tinh vi phức tạp. Đó thực tế chỉ là điều hoang tưởng không bao giờ xảy ra. Thực tế được Đức Phật và các vị Tổ Sư phát hiện là Tâm giác ngộ hay Phật, là tánh giác kỳ diệu, là sự hiểu biết vô cùng vi diệu, chứ không phải là vật chất tự mò mẫm một cách ngẫu nhiên, đã tạo ra vũ trụ vạn vật và mọi cấu trúc sinh vật tinh vi nhất. Vì vậy cái tánh giác vi diệu đó được gọi là Chánh biến tri 正遍知Samyaksaṃbodhi  còn được dịch âm là Tam Miệu Tam Bồ Đề hoặc dịch nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tính chất kỳ diệu của Chánh biến tri được các nhà đặc dị công năng hiện đại chứng tỏ một cách vô cùng thuyết phục. Chánh biến tri là một sức mạnh có ý thức vô cùng kỳ diệu, có khả phục hồi một tấm danh thiếp và một bức họa bị xé nát. Chính sức mạnh trí tuệ vô song đó là động lực tạo ra vũ trụ vạn vật, chính là cái kinh điển gọi là Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

TRƯƠNG BẢO THẮNG PHỤC NGUYÊN TẤM DANH THIẾP VÀ BỨC HỌA 

Một bức họa bị xé nát, bị ngâm nước cho tan rã hoàn toàn, không thể nào phục nguyên một cách ngẫu nhiên được. Chính điều này bác bỏ thuyết tiến hóa. Bởi vì nếu thuyết tiến hóa mà đúng thì bức tranh bị xé nát đó sau một thời gian dài xào xáo có thể tự phục nguyên thành bức tranh hoàn chỉnh. Điều đó không bao giờ xảy ra. Thực tế phải có sự tác động tâm linh của Trương Bảo Thắng, các mảnh vụn mới phục nguyên được. Nó phải được một lực kỳ diệu vô song có ý thức là Chánh biến tri điều khiển mới có thể phục nguyên được.

Câu chuyện của Trương Bảo Thắng là một hình ảnh minh họa cho nguồn gốc của muôn loài sinh vật, chúng không phải do tiến hóa, mà xuất hiện một cách đột ngột mang tính thần thoại (thần thoại chính là hiện thực của cơ học lượng tử) và bản chất của chúng là huyễn ảo không có thật. Thuyết sinh vật tiến hóa bị bác bỏ vì một lý do tưởng chừng rất đơn giản nhưng thực tế là nan giải, đó là sinh vật không có chỗ bắt đầu, cũng giống như vũ trụ không có chỗ bắt đầu như mô tả dưới đây.

Các nhà khoa học hiện đại hầu hết đều đồng ý với nhau là vũ trụ vạn vật có khởi điểm là vụ nổ Big Bang, trước vụ nổ, vũ trụ chỉ là một điểm kỳ dị có kích thứơc là 10-33 (mười lũy thừa âm 33) cm. Đó là kích thước Planck, kích thước nhỏ nhất còn có ý nghĩa trong vật lý học, nghĩa là con người còn phân biệt được. Dưới kích thước đó chỉ là con số toán học vô nghĩa, nằm ngoài khả năng phân biệt của con người. Đó là về mặt không gian, còn về mặt thời gian, thời điểm trước Big Bang là sự giãn nở lạm phát của vũ trụ, khi thể tích của vũ trụ mở rộng tăng theo hàm mũ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn đến thời điểm giữa 10−33 và 10−32 giây, phát sinh ra vụ nổ Sau giai đoạn lạm phát, kích thước vũ trụ đã tăng lên gấp 1030 so với kích thước ban đầu.

Nhưng các nhà khoa học không thể trả lời được câu hỏi : Nguyên nhân hay cái gì đã sinh ra điểm kỳ dị, từ đâu mà có cái điểm kỳ dị đó ? Cũng như các nhà khoa học sẽ không thể trả lời được câu hỏi : nguồn gốc phát sinh ra con người là gì ? Trong thế kỷ 19, Charles Darwin trong tác phẩm Nguồn Gốc Các Loài (On the Origin of Species, xuất bản năm 1859) có vẻ như trả lời được câu hỏi nguồn gốc của sinh vật, song qua thế kỷ thứ 21, đã có nhiều phản biện cho thấy những nhận định của Darwin chỉ là một dự phóng quá xa so với thực tế, thiếu rất nhiều chứng cứ khoa học về hóa thạch để chỉ ra quá trình trung gian của tiến hóa, hay nói cách khác, tiến hóa đã không xảy ra trong thực tế. Trái lại, hóa thạch của nhiều loài côn trùng như con gián, con dế, con cá…có tuổi hàng trăm triệu năm lại chứng tỏ rằng không hề có tiến hóa.

Nhận thức trong Tối Thượng Thừa của kinh điển Phật giáo nói rằng tất cả vũ trụ vạn vật chỉ là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã phổ biến trải qua nhiều đời) của con người chứ không cái gì là có thật. Từ Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư không không có thật) cho tới 18 hạt cơ bản của vật chất (element particles) tương ứng với 18 giới của Duy Thức Học (lục căn, lục trần, lục thức), cho tới nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cho tới tinh thần, ý thức (ngũ uẩn :  sắc, thọ, tưởng, hành, thức), không cái gì là có thực chất, nghĩa là có thật cả. Tất cả đều chỉ là vọng tưởng. Điều này được diễn tả tập trung trong Bát Nhã Tâm Kinh.

Bát Nhã Tâm Kinh- Biểu diễn Tôn Lộ

Tại sao tất cả đều không có thực chất mà chúng ta lại cảm nhận rất là thật ? Đó là do tác động của hai nguyên lý :

Một là Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron và tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Và chúng cần được thay thế bởi những đặc trưng, đặc điểm của tâm niệm để có thể tưởng tượng ra vật. Và sự thay thế này được diễn ra với nguyên lý thứ hai.

Hai là Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Hai nguyên lý này, chúng ta thấy rất rõ trong tin học.

Chúng ta biết rằng dữ liệu tin học chỉ là những dãy số 0 và 1 được sắp xếp theo một thứ tự khác nhau vô cùng tận. Chúng chỉ là vô số những con số khác nhau sắp xếp theo hệ nhị phân. Bộ vi xử lý (processor) của máy tính sẽ nhanh chóng thay thế các đặc điểm cho những con số đó. Nào là đặc điểm về hình dáng, màu sắc, độ sáng rồi cả âm thanh nữa. Thế là các con số đã biến đổi trở thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh, âm nhạc…vô cùng phong phú.

Trong cuộc sống đời thường, sự việc cũng diễn ra tương tự như vậy, các ý niệm, tưởng tượng đã được triển khai đồng bộ cho lục căn, lục trần khiến cho lục thức hiển hiện trong bộ não thành cảnh giới thế gian vô cùng sinh động, vô cùng phong phú.

Vậy làm thế nào chúng ta biết được tâm niệm lại có khả năng thần kỳ như vậy ? Một số nhà đặc dị công năng hiện đại chứng tỏ cho chúng ta thấy. Hầu Hi Quý có khả năng dùng tâm niệm của mình di chuyển vật thể qua không gian một cách vô ngại, bất kể khoảng cách là bao xa, bất kể những chướng ngại của vách tường hay hộp gỗ hay bàn tay nắm chặt.

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

Tối thượng thừa Phật giáo nói rằng toàn bộ Tam giới chỉ là Thức (vạn pháp duy thức 萬法唯識) không có gì là thật cả, vật chất cũng chỉ là cảm giác mà thôi. Một số nhà khoa học ngày nay cũng đồng tình với nhận thức này, họ làm ra video sau đây để diễn tả.

Vạn Pháp Duy Thức

Một số nhà khoa học khác nghi ngờ rằng cái vũ trụ mà chúng ta sống trong đó là giả lập chứ không phải có thật.

Vũ trụ là giả lập

Nhưng cách mà các nhà khoa học suy nghĩ thì có thể chưa đúng, không phải một nền văn minh của một nhân loại giả lập ra vũ trụ, mà vũ trụ là một sản phẩm tưởng tượng của Tâm như hư không vô sở hữu, cái tâm đó chính là người đã tạo ra vũ trụ, và nhân loại gọi cái tâm đó bằng những danh xưng khác nhau như Trời, Thượng Đế, Phật, Allah. Các nhà khoa học hiện đại đã tìm cách lý giải về cái vũ trụ không có thật đó như sau.

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Cuối cùng thì cuộc sống trên thế gian của chúng ta sẽ ra sao ?

Tối thượng thừa nêu ra nhận thức xác thực hơn về thế giới và đưa ra phương pháp giúp cho hành giả làm chủ được tâm. Làm chủ tâm cũng tức là làm chủ cả vũ trụ vạn vật, bởi vì nói cho cùng, vũ trụ chỉ là giả lập hay tưởng tượng của tâm. Chúng ta tưởng tượng như thế nào thì vũ trụ sẽ như thế ấy, không có cái gì gọi là thực tế khách quan cả.

Phương pháp của tối thượng thừa là tham thiền hay tham thoại đầu để đến được chỗ gọi là vô thủy vô minh. Đó là cái chỗ mà các nhà khoa học bị bế tắc. Các nhà vật lý nhận thức tới điểm kỳ dị nhưng không biết cái điểm kỳ dị ấy từ đâu mà ra và nguyên nhân gì phát sinh ra vụ nổ Big Bang tạo lập ra vũ trụ này. Họ cũng nghi ngờ rằng đây cũng không phải là vũ trụ duy nhất mà thực tế có rất nhiều vũ trụ song song đồng thời tồn tại với vũ trụ này, chỉ vì chúng ta không thấy, không tiếp xúc được nên tưởng là không có. Ví dụ cõi trời, cõi tiên, cõi âm, cõi tây phương cực lạc, cõi địa ngục, cõi quá khứ, cõi vị lai…đó là những cõi giới mà chỉ một số rất ít người thấy được, còn tuyệt đại đa số không thấy nên cảm thấy mơ hồ không thể tin được. Còn các nhà theo chủ thuyết tiến hóa thì bế tắc ở chỗ không thể xác định được sinh vật đầu tiên, cũng không thể chứng minh được là chất vô cơ không sống đã kết hợp lại thành chất sống như thế nào. Họ cứ tin như thế mà không có thực tế nào chứng minh cả. Các thí nghiệm chỉ chứng tỏ rằng xác suất để chất vô cơ ngẫu nhiên kết hợp lại thành chất sống là cực kỳ nhỏ, gần như không bao giờ có thể xảy ra được.

Mặc dù acid amin là một thành phần cơ bản của sự sống như ta thấy ngày nay, nhưng liệu chúng có thể NGẪU NHIÊN tập hợp lại với nhau để tạo thành protein không?

Để trả lời câu hỏi này, cần biết rằng khoa học ngày nay đã biết trong tự nhiên có 100 loại acid amin khác nhau, nhưng chỉ có 20 loại có mặt trong sự sống (sự sống chỉ sử dụng 20 loại). Hơn thế nữa, tất cả 20 loại acid amin này đều thuận tay trái. Vậy bài toán đặt ra là làm thế nào để 20 loại acid amin thuận tay trái trong tự nhiên ngẫu nhiên tập hợp lại với nhau để tạo thành protein?

Sẽ không giải được bài toán trên nếu không biết một định luật cơ bản của sự sống: Định luật sự sống bất đối xứng hay Định luật sự sống thuận tay trái do Louis Pasteur khám phá ra năm 1848, khi ông mới 26 tuổi.

Về mặt lý thuyết, đối với một hợp chất hữu cơ, xác suất để xuất hiện hai dạng cấu trúc đó là như nhau: tỷ lệ 50-50. Nhưng điều kỳ lạ là hợp chất hữu cơ trong các tế bào sống chỉ có cấu trúc bàn tay trái (chỉ thuận tay trái). Pasteur khám phá ra điều này khi ông nghiên cứu tinh thể acid tartaric. Trong khi acid tartaric do con người chế tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc trong công nghiệp (gọi là acid paratartaric) xuất hiện cả hai loại cấu trúc ban tay phải và bàn tay trái với tỷ lệ 50-50 thì acid tartaric chiết xuất từ sự sống (bã nho) chỉ có phân tử thuận tay trái. Với trực giác thiên tài, Pasteur đã tổng quát hóa nhận xét đó thành một định luật, rằng tính chất thuận tay trái là đặc trưng của sự sống – ở đâu có sự sống, ở đó có phân tử chỉ thuận tay trái, và ngược lại, ở đâu có phân tử chỉ thuận tay trái, ở đó có sự sống.

Qua hơn 150 năm thử thách, định luật này được kiểm chứng là tuyệt đối đúng – không có bất cứ một trường hợp thực tế nào trái với nó. Giới tiến hóa rất khó chịu, vì bị định luật này thách thức, nhưng họ vẫn phải thừa nhận đó là một sự thật khó hiểu của sự sống.

Áp dụng định luật này vào trường hợp của acid amin, chúng ta có nhận xét sau đây: trong 100 loại acid amin có trong tự nhiên, những acid amin có hai loại cấu trúc thuận tay phải và thuận tay trái với tỷ lệ 50-50 đều không có mặt trong sự sống, trong khi những loại acid amin được sự sống sử dụng đều có cấu trúc thuận tay trái.

Thật thú vị để nhắc lại một chút về thí nghiệm Urey-Miller năm 1953, một thí nghiệm đã được nhiều báo chí thời đó quảng cáo rùm beng là đã “chế tạo ra sự sống”, gây chấn động dư luận. Nhưng thực ra đó là chuyện phóng đại – Miller chỉ chế tạo được một vài loại acid amin, nhưng đều là những acid amin không sống, tức là những acid amin có cấu trúc đối xứng (phân tử thuận tay phải và thuận tay trái có mặt với tỷ lệ ngang bằng). Hóa ra thí nghiệm này có tác dụng ngược: nó cảnh báo rằng sự sống không thể tạo ra từ vật chất không sống! Sự sống đòi hỏi phải có những phân tử CHỈ THUẬN TAY TRÁI, và đó là điều vượt quá khả năng của con người. Bản thân Miller 40 năm sau đã thú nhận với tạp chí Scientific American rằng “Vấn đề nguồn gốc sự sống thực ra khó hơn tôi và hầu hết những người khác dự kiến” Năm 1969, giáo sư sinh học Dean Kenyon, người từng tin vào học thuyết Darwin, kết luận: “Về cơ bản, không thể tin được là vật chất và năng lượng không cần ai giúp mà tự tổ chức thành các hệ thống có sự sống”.

Sự bế tắc của thuyết tiến hóa đã được Phật pháp đề cập từ rất lâu rồi, trong một luận đề về Con gà và Cái trứng, cái nào có trước, cái nào sinh ra cái nào ? Ngày nay có người trả lời là con gà có trước quả trứng, song đó là một câu trả lời gượng gạo không mang tính triết học cao, bởi vì như thế chúng ta phải chấp nhận rằng con gà đột ngột xuất hiện không theo quy luật nhân quả. Như thế chúng ta cũng phải chấp nhận rằng con người đột ngột xuất hiện trên quả địa cầu cách nay khoảng 3 triệu năm mà không phải do con người sinh ra, có thể là do con vượn sinh ra theo tiến hóa luận.

Những tổ tiên thật sự gần của loài người chỉ xuất hiện vào khoảng 3,7 triệu năm trước, đó là thời điểm xa nhất mà đến nay chúng ta có thể ghi lại được dấu chân của loài vượn người đã có thể đi bằng hai chân. Loài này có tên Australopithecus, phát triển trong các vùng rừng châu Phi. Sự sa mạc hóa của lục địa này khiến rừng biến thành sa mạc hoặc thảo nguyên, không còn cây cối để leo trèo, loài Australopithecus mới dần tiến hóa để có thể thích nghi với việc sống thiếu các ngọn cây.

Australopithecus sau này tiến hóa thành Homo habilis với mức độ giống con người ngày nay nhiều hơn, và rồi xa hơn là Homo ergaster, rồi Homo erectus với ít lông hơn, chỉ tập trung chính ở trên đầu, các chức năng cơ thể khá giống với con người ngày nay.

Homo erectus được cho là tổ tiên đầu tiên ở dạng người của loài người chúng ta ngày nay, với bộ não có kích thước khoảng 74% bộ não của con người hiện đại. Đó là khoảng 1,8 triệu năm trước.

Cho tới tận 100.000 năm trước, loài người có trí tuệ đầu tiên mới thật sự xuất hiện, đó là những người Homo sapien. Họ là nhánh phát triển nhất về trí tuệ trong số các nhánh phát triển của thế hệ các loài vượn người Homo. Với sự sa mạc hóa của châu Phi, họ vượt qua ranh giới giữa châu Phi và châu Âu, phân tán trên cả châu Âu và châu Á (ban đầu là vùng Trung Đông) ngày nay.

Đoạn trên là mô tả của thuyết tiến hóa về nguồn gốc loài người, những mô tả đó ngày nay không còn đáng tin cậy bởi vì không tìm được hóa thạch trung gian giữa các loài đó để chứng tỏ rằng có sự tiến hóa từ Australopithecus tới Homo sapiens, những hình ảnh này chỉ là do những người theo thuyết tiến hóa vẽ vời ra.

Những chất sống đầu tiên đã không thể chế tạo được thì những giai đoạn tiếp theo chỉ là suy đoán. Những suy đoán này rất giống với việc tâm niệm của con người đã đánh tráo các đặc trưng của mình vào các cấu trúc tưởng tượng của các hạt cơ bản để tạo ra thế giới vật chất. Các nhà tiến hóa đã đánh tráo các suy đoán của mình thành học thuyết tiến hóa luận chứ đó không hẳn là thực tế của quả địa cầu.

Tóm lại về mặt vật lý học, Einstein đã đánh tráo tâm niệm của mình vào hạt photon và electron, nghĩa là ông đã tưởng tượng ra những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin và gán cho photon cũng như các hạt cơ bản khác, chứ bản thân các hạt cơ bản là không có thật, cũng không hề có sẵn bất cứ đặc trưng gì, mà thí nghiệm về hai khe hở đã chứng tỏ một cách rõ ràng,

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Chính cái tưởng tượng cơ bản nhất về các hạt cơ bản đã đặt nền tảng cho sự tồn tại của 18 hạt cơ bản trong mô hình chuẩn của Vật lý học về Hạt (Standard Model of Particle Physics). Và từ các hạt cơ bản đó, tâm đã tưởng tượng thành vũ trụ vạn vật, từ vụ nổ Big Bang cho tới các thiên hà, các hệ mặt trời, các hành tinh và sinh vật, con người.

Về mặt sinh vật học thì Charles Darwin đã tưởng tượng ra cuộc tiến hóa từ chất vô cơ thành hữu cơ rồi thành chất sống, sinh vật đơn bào, côn trùng, chim cá, loài vật có xương sống và hệ thần kinh, cuối cùng thành con người. Bởi vì loài người đang hiện hữu trên địa cầu với tổng dân số lên đến 7,5 tỷ người, đang xây dựng nền văn minh vô cùng phong phú và vĩ đại, nên những người ủng hộ thuyết tiến hóa tin chắc rằng học thuyết của mình là đúng.

Họ không nghi ngờ rằng bản thân vật chất, từ các hạt cơ bản đã không có thật, cho nên cái cấu trúc về con người cũng chỉ là tưởng tượng mà thôi. Đó thực tế chỉ là thông tin, toàn bộ vũ trụ vạn vật cũng chỉ là thông tin. Điều này một số nhà khoa học hiện đại gọi là Vũ trụ Toàn ảnh (Holographic Universe) có nghĩa là một vũ trụ ảo được xây dựng bằng thông tin, có người còn đề xuất cả bit thông tin vũ trụ là như thế nào. Craig Hogan đề xuất như thế này.

Theo lý thuyết của Hogan, mọi vật trong thế giới 3D (thế giới đời thường của chúng ta) đều có thể mã hóa trên một diện tích 2D ở độ phân giải Planck. Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất. Và những bit cơ bản của thông tin nằm trong kích cỡ Planck. Kích thước Planck là khoảng cách vật lý nhỏ nhất còn có ý nghĩa, dưới khoảng cách này thì con số chỉ còn là con số toán học vô nghĩa, nó vô nghĩa vì không còn tương ứng với một thực thể vật lý nào. Kích thước Planck là 10-33   (mười lũy thừa trừ 33) cm. Đó chính là kích thước của lượng tử (quantum). Từ kích thước Planck, ông tính ra diện tích Planck là 10-66 cm2 (mười lũy thừa trừ 66 centimét vuông). Một bit thông tin vũ trụ bằng 4 diện tích Planck.

Vũ trụ vạn vật nếu đã là thông tin thì thuyết sinh vật tiến hóa chỉ là ảo tưởng của Darwin. Con người chẳng phải do tiến hóa gì cả mà là do tâm tưởng tượng. Tâm tưởng tượng như thế nào thì con người và cả vạn vật là như thế ấy. Đó chính là điều mà Vô Thượng Thừa Phật giáo đề cập và ghi trong kinh điển bằng câu Nhất thiết duy tâm tạo 唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Phá đổ mọi chấp trước để làm gì ?

Trong vọng tưởng của con người, của Einstein và Darwin thì thế giới là có thật, là khách quan, có không gian, có thời gian, có số lượng, có cuộc sống, có tiến hóa, có lịch sử, có nền văn minh và hiện tại đang là năm 2018 của thế kỷ 21 Công nguyên. Các cường quốc hàng đầu thế giới như Mỹ, TQ, Nga, đang tranh bá, đang muốn thống trị thế giới. Còn các nước nhỏ thì đành phải phụ tùy vào các nước lớn, kẻ theo Mỹ, người theo TQ, kẻ khác ngã về Nga. Nhưng một số nhà khoa học thì nghi ngờ rằng cả vũ trụ và thế giới chỉ là giả lập chứ không phải là có thực hoàn toàn.

Tại sao con người cứ sống mê muội đau khổ triền miên mà không thể sống theo phương châm : Vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ (úy) ?  Bởi vì tuyệt đại đa số người chấp thật, họ tự trói buộc mình trong nhận thức nhị nguyên điên đảo mộng tưởng. Phá chấp trước để hội nhập với tâm bản nguyên có đủ mọi năng lực, chính năng lực này tạo ra vũ trụ vạn vật mà kinh điển nói là Nhất thiết duy tâm tạo.

Một số không ít người đau khổ, bất như ý với cuộc sống thế gian, nên hướng về một thế giới tốt đẹp hơn gọi là Thế giới Tây phương cực lạc do Phật A Di Đà chủ quản. Chúng sinh ở thế giới đó có sức mạnh lớn về tâm niệm, nên khi họ muốn ăn uống hay có quần áo, đồ dùng, thì tự khắc những vật phẩm đó sẽ hiện ra, khi dùng xong thì chúng tự biến mất.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Tuy nhiên thế giới đó cũng chỉ là hóa thành, một trạm dừng chân tạm thời trên con đường diệu vợi tới giác ngộ.

Kết luận

Vô thượng thừa Phật giáo chỉ ra tất cả mọi cảnh giới kể cả tương đối và tuyệt đối cho mọi người thấy. Ai muốn tiếp tục sống trong thế giới vọng tưởng, mê muội, đầy phiền não, đau khổ, thì cứ tiếp tục sống cuộc sống thế gian đời thường trong đó có áp bức bất công, có thiên tai nhân họa, có sinh lão bệnh tử, vui buồn bất chợt.

Còn ai muốn sống giác ngộ hơn thì làm quen với những khái niệm mới trong đó không gian, thời gian và số lượng không còn được coi là tuyệt đối, mà chỉ còn giá trị tương đối, thậm chí cái tương đối này đi xa hơn quan niệm của Einstein trong hai thuyết tương đối, hẹp và rộng của ông. Einstein tuy nói rằng không gian tương đối, thời gian tương đối nhưng vẫn còn mắc kẹt trong thế giới khách quan, không hiểu rằng không gian và thời gian cũng là do tâm niệm của ông sinh ra. Vì vậy Einstein không thể hiểu, không thể chấp nhận được hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) là có xảy ra. Và quan điểm của Einstein đã bị chứng minh là sai lầm trong thí nghiệm do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982.

Không gian, thời gian và số lượng không thể có bắt đầu. Phật pháp gọi đó là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Phạn ngữ :anutpattika-dharma-kṣānti). Pháp nhẫn là nhận thức kết tinh từ phép tu nhẫn nhục ba la mật phát hiện được bờ bên kia của nhận thức là vô sinh, là tánh không của vạn pháp. Các nhà khoa học vọng lập ra điểm bắt đầu của không gian và thời gian gọi là điểm kỳ dị có kích thước là 10-33 (mười lũy thừa âm 33) cm. Đó là kích thước Planck, kích thước nhỏ nhất còn có ý nghĩa trong vật lý học, nghĩa là con người còn phân biệt được. Dưới kích thước đó chỉ là con số toán học vô nghĩa, nằm ngoài khả năng phân biệt của con người. Đó là về mặt không gian, còn về mặt thời gian, thời điểm trước Big Bang là sự giãn nở lạm phát của vũ trụ, khi thể tích của vũ trụ mở rộng tăng theo hàm mũ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn đến thời điểm giữa 10−33 và 10−32 giây, phát sinh ra vụ nổ Big Bang. Đó chỉ là vọng tưởng về vũ trụ.

Kinh Kim Cang đã chỉ ra rằng : “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”.

Ý nói là thời gian không có thật, không thể có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, sự phân biệt quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ là vọng tưởng.

Các nhà khoa học về sinh vật mà nổi tiếng nhất là Darwin, vọng tưởng về sự bắt đầu của sinh vật. 4 Tỷ Năm trước: Các nguyên tử hidrogen và oxygen nối kết với nhau thành phân tử nước. Nước giúp cho sự tạo ra những phân tử khác, nước là chất cần thiết để tạo ra sự sống. Rồi chất hữu cơ là loại vật chất sống hình thành, đại phân tử hữu cơ có chứa cả 4 nguyên tố : carbon, hydro, oxy và nitro – phân tử protein đầu tiên, ra đời. Với cấu trúc bậc 4 (cấu trúc không gian), chất protein có một khả năng đặc biệt mà chất vô cơ không có được, đó là sự trao đổi chất. Sự sống đầu tiên hình thành. Còn động vật đầu tiên xuất hiện vào khoảng cách nay 640 triệu năm, đó là bọt biển

Bọt biển có thể đã xuất hiện trên Trái Đất từ 640 triệu năm trước, sớm hơn 100 triệu năm so với đa số các loài kỷ Cambri, giai đoạn hầu hết các nhóm động vật xuất hiện (540 triệu năm trước).  

Rồi do tiến hóa, động vật đầu tiên đã tiến hóa thành con người. Nhưng cũng theo nghiên cứu của ngành cổ sinh vật học. Hầu hết các nhóm động vật xuất hiện đồng thời ở kỷ Cambri, chúng đã có cấu trúc hoàn thiện như động vật ngày nay, không có sự tiến hóa. Ví dụ người ta tìm được hóa thạch của cá vây tay cách nay 240 triệu năm. Nó giống hệt như cá vây tay ngày nay.

Cá vây tay (coelacanth fish)

Tuổi: 240 triệu năm
Thời kỳ: Kỷ Triat
Địa điểm: Ambilobe, Madagascar

Cá vây tay ngày nay

Như vậy theo cái nhìn của vô thượng thừa Phật giáo, các nhà khoa học chỉ là vọng tưởng, dựa trên tưởng tượng, từ hạt cơ bản cho tới nguyên tử, phân tử, chất vô cơ, chất sống. Thế gian hiện tại là một bức tranh tưởng tượng toàn bích của tâm mà thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng 世流布. Trong kinh “Đại bát Niết bàn” 大般涅槃经  do ngài Đàm Vô Sấm 昙无谶 (Dharmaraksa) pháp sư người Ấn dịch, Phật nói với Ca Diếp.

Tất cả phàm phu có hai loại tưởng tượng, thứ nhứt là thế lưu bố tưởng, thứ hai là trước tưởng. Tất cả bậc thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng mà không có trước tưởng. Tất cả phàm phu vì dựa vào cảm giác sai lầm của giác quan , từ thế lưu bố tưởng sinh ra trước tưởng. Tất cả bậc thánh vì có chánh giác thấu suốt, từ thế lưu bố tưởng không sinh ra trước tưởng. Vì vậy mới gọi cái thấy của phàm phu là điên đảo tưởng. Thánh nhân tuy cũng có tri giác (giống phàm phu) nhưng không gọi là điên đảo tưởng

Hành giả vô thượng thừa vẫn sống trong cảnh giới thế gian đời thường nhưng không còn quá chấp thật, dần dần phá ngã chấp và pháp chấp để đi tới giác ngộ kiến tánh thành Phật. Thành Phật không phải là thành một vị chúa tể của vũ trụ, mà chỉ là giác giả, người giác ngộ, hiểu rốt ráo và tự chứng rằng vũ trụ vạn vật là không có thật, cũng chỉ là giả tạm do tâm tạo.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

27 Responses to VÔ THƯỢNG THỪA PHẬT GIÁO

  1. Cám ơn chú Truyền Bình, bài rất hay và có ích.

  2. linh nói:

    cho con hỏi tâm ở đâu , vì 7 thức đều có hình dạng cụ thể , mắt tai mũi lưỡi thân ý, mạt na là bản ngã của ta, còn a lại da là gì

    • Tôi trả lời chung cho bạn về tâm ở đâu và làm sao làm chủ tâm. Ta không thể chỉ tâm ở đâu, vì ở đâu cũng là tâm. Ý thức của bạn cũng là tâm mà A lại da thức cũng là tâm, các cảnh giới vật chất như cái nhà, cái xe, vũ trụ vạn vật cũng là tâm (nhất thiết duy tâm tạo). Muốn làm chủ tâm bạn phải phá ngã chấp và phá pháp chấp. Bởi vì sự chấp trước khiến cho vọng niệm của ý thức che lấp A lại da thức. Khi không còn vọng niệm thì chân tâm tự hiện ra, đó mới thật là mình, bất nhị.

  3. ha nói:

    tôi đọc trong 1 cuốn sách khoa học có trường hợp làm chủ tâm mà biến ra 1 đống tiền, tạo ra vô số vật mà ko cần “làm” mà bằng ý nghĩ, làm chủ cơ thể, ngăn bệnh tật, không còn già chết, vậy thi có ảnh hưởng gì đến sinh lão bệnh tử hay nhân quả ko. theo tôi sinh lão bệnh tử hay nhân quả hay “phải làm mới có” là cho những người chưa giác ngộ (99.999% chúng ta) còn những người làm chủ tâm thì đã vượt qua được “phải làm mới có”, tức là có thể biến ra bằng ý nghĩ, còn những người làm chủ tâm tối hậu thì sinh lão bênh tử nhân quả hay “phải làm mới có” ko còn ý ngĩa gì nữa

    • Có thể dùng năng lực của tâm để biến ra vật chất, điều đó một số nhà đặc dị công năng làm được bởi vì tất cả đều là do tâm tạo. Sinh lão bệnh tử hay nghiệp cũng là do tâm tạo. Nói chung tất cả đều là giả tạm, không phải có thật. Làm chủ tâm thì thoát khỏi luân hồi sinh tử hoặc sinh tử tự do như gia đình Bàng Uẩn chứng tỏ. Tám thức đều là tâm nhưng 7 thức đầu thì nhỏ bé gắn liền với cái ta hạn hẹp của mình, chỉ có A lại da mới bao trùm tất cả, đó mới thật là mình và có năng lực vô biên, tạo ra Tam giới (Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức).

      • linh nói:

        phá pháp chấp thì tôi hiểu là vạn pháp ko thật nhưng tôi ko biết phá ngã chấp, vì nó khó hơn pháp chấp, vì rõ ràng thân thể này khi nó bị bệnh thì tôi cũng bị đau, tôi cũng phải chăm lo cho bố tôi vì đó là bố của tôi , xin hỏi cách phá ngã chấp

      • Phá ngã chấp là điều rất khó vì từ khi mới sinh ra tới khi trưởng thành, chúng ta đã quá quen với khái niệm cái ta, chẳng những là khái niệm, chấp ngã đã gắn liền với lục căn, lục trần và lục thức của mình, do đó nếu có ai đánh mạnh vào người thì bạn cảm thấy đau, bạn ăn cảm thấy ngon, thức ăn tiêu hóa khiến thể xác bạn tăng trưởng, bạn trưởng thành và rồi già đi…Bạn có hai cách phá ngã chấp. Một là Tổ Sư Thiền, bạn cứ tham thiền không cần biết có ta hay không có ta, khi tâm định thì bạn thấu triệt vì định sinh trí tuệ Bát nhã, bạn kiến tánh thành người giác ngộ. Hai là Như Lai Thiền, bạn học quán tưởng thuyết vô ngã của nhà Phật. Bởi vì Tánh Không là bản thể của vạn pháp, những gì bạn cho là Có đều chỉ là điên đảo mộng tưởng, không có thật. Ngay cả những hạt cơ bản cũng không có thật, nguyên tử, phân tử, chất sống, thân thể của bạn cũng không có thật, cha mẹ anh chị em, vợ chồng của bạn đều chỉ là ảo tưởng. Quán tưởng như vậy lâu ngày bạn mới phát sinh nghi tình, nghi rằng bản thân bạn và thế giới chung quanh đều không có thật. Khi đó bạn đủ điều kiện để chuyển qua Tổ Sư Thiền và từ đó kiến tánh.

  4. cang nói:

    chào bác cho tôi hỏi thần thông có thể biến 1 người từ nam thành nữ không

    • Biến một người từ nam thành nữ hay từ nữ thành nam chẳng phải là điều gì mới lạ. Bồ Tát Quán Thế Âm là người có khả năng đó. Ngài không phải là người nữ cũng chẳng phải người nam bởi vì thực tướng là vô tướng, chẳng phải tướng nữ cũng chẳng phải tướng nam. Một người nam khi tái sinh có thể biến thành nữ, bạn hãy đọc bài này nói về Chiết Quốc Nga kiếp trước là đàn ông https://duylucthien.wordpress.com/2016/11/02/tam-phap-an-cua-phat-giao/ Ngay trong đời thường khoa học cũng có thể chuyển đổi giới tính.

  5. cang nói:

    hình như thần thông chỉ có thể di chuyển đồ vật chứ ko thể tạo ra vật từ ko có gì cả ví dụ có thể đưa bao thuốc lá từ xa về đây , lấy chiếc ghế từ cách xa 300 dặm nhưng tôi đọc trong 1 tài liệu nói rằng có thể biến 1 vật từ hư không, cho tôi hỏi làm cách nào có thể biến ra 1 vật từ ko có gì, tôi đã có thể dùng tâm niệm để giải hóa bênh tật nhưng biến ra 1 vật từ hư không tôi vẫn thấy khó hiểu

    • Tùy theo trình độ của người sử dụng thần thông. Với những nhà đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, họ chỉ có thể di chuyển một cố thể vật chất từ nơi xa đến. Còn đối với những người có trình độ cao siêu hơn, họ có thể tạo ra cố thể vật chất, chẳng hạn chúa Giê Su có thể tạo ra bánh mì và cá cho hàng ngàn tín đồ ăn no bên hồ Galilee. Vật chất cũng chỉ là thông tin, là tâm niệm nên tâm có thể tạo ra vật chất (Nhất thiết duy tâm tạo). Vì vật chất chỉ là một cấu trúc ảo không có thật nên tâm có thể thay thế các đặc tính tưởng tượng vào đó.

  6. hung nói:

    bây giờ tg phụ thuộc vào điện làm gì cũng cần điện, tivi điện thoại, đèn. theo anh điện có thể bị thay thế, và tivi, tủ lạnh có thể bị thay thế ?

    • Điện cũng là một dạng tín hiệu thông tin. Theo Duy Thức Học, vũ trụ vạn vật là thông tin, nguồn của nó là Tâm hay A lại da thức. Chính nguồn thông tin này hiển thị thành vũ trụ vạn vật với tất cả mọi hiện tượng kể cả không gian, thời gian, số lượng, năng lượng trong đó có điện lực.

  7. thanh nói:

    phật giáo nói có luân hồi nhưng theo tôi ko hề có luân hồi vì cái tôi(ego) đơn giản chẳng gì hơn là một ảo tưởng mơ mộng, thì làm gì có luân hồi

    • Thực tế là không có luân hồi bởi vì không có cái gì là có thật, nhưng chúng sinh thì thấy có luân hồi bởi vì chúng chấp ngã, chấp pháp do đó chúng bị chi phối bởi cái nghiệp tưởng tượng.

  8. anh nói:

    Cho tôi hỏi:
    “tháng 2/2015, giáo sư Kater Murch thuộc Đại học Washington cùng các đồng nghiệp đã tiến hành một thí nghiệm lượng tử.
    Họ đặt một bảng mạch trong lò vi sóng, sau đó bắn các hạt photon ánh sáng vào đây – nơi trường lượng tử của hạt tương tác với bảng mạch.
    Sau khi các hạt photon đầu tiên bay qua, kết quả phân tích của máy tính được “giấu kín” còn các chuyên gia sẽ cùng dự đoán kết quả của lần bắn tiếp theo.
    Theo Murch, điều này giống như việc ta dự đoán trước các sự việc tương lai, và xác suất đúng cao nhất chỉ là 50%.
    Trong khi đó, nhóm của Murch cho rằng nếu biết trước được trạng thái và sự phát triển tương lai của từng hạt, khả năng dự đoán đúng kết quả bay của photon trong thí nghiệm lên tới 90%.
    Theo ông, các hạt nguyên tử không được định hình cho tới khi con người đo đạc chúng. Điều đó có nghĩa, trong quá khứ, các hạt không xác định nhưng khi con người tiến hành nghiên cứu (trong tương lai), chúng đã có hình dạng, trọng lượng hay tốc độ đầy đủ.
    Hiểu đơn giản, chính hành động trong tương lai đã thay đổi những gì diễn ra trong quá khứ.”
    Tôi vẫn chưa hiểu lắm về thí nghiệm này và những kết luận ở cuối, chính hành động trong tương lai đã thay đổi những gì diễn ra trong quá khứ là sao, quá khứ quyết định tương lai chứ sao lại tương lai qđ quá khứ, quá khó hiểu.

    • Các hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, cả cái hạt cơ bản và những đặc trưng của nó đều do người khảo sát gán ghép, tưởng tượng từ tâm niệm của mình. Tâm niệm là tập khí đã có từ lâu đời mà PG gọi là thế lưu bố tưởng. Như vậy cả quá khứ, hiện tại và tương lai cũng đều là tưởng tượng nhưng diễn tiến của nó bình thường thì theo một chiều của thời gian từ quá khứ tới tương lai, nhưng cũng có thể theo chiều ngược lại. Ví dụ Trương Bảo Thắng đã phục nguyên bức tranh, tức là diễn tiến đã theo chiều ngược lại. Tóm lại cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều chỉ là tưởng tượng không có nhân quả, nghĩa lý gì cả. Nhưng vì con người chấp thật nên thấy có nhân quả và diễn tiến của sự việc theo một chiều thời gian, đó chỉ là tưởng tượng thôi chứ không phải chân lý.

  9. my nói:

    nói thế gian là ảo nghiệp báo cũng ảo mà 1 người như đức phật giác ngộ cũng ko trốn được nghiệp, người dân trong kinh thành đức phật bị truy sát, đức phật nói là nghiệp cũng ko thể trốn được thần thông cũng ko cứu được nghiệp, thậm chí chính bản thân đức phật giác ngộ cũng vẫn phải trả quả báo, sao lại nói mọi thứ là ảo được, tại sao giác ngộ vẫn còn quả

    • Bạn thấy cái thế giới chung quanh bạn là rất thật, 100% là thật phải không ? Đó là cái thế giới nơi mà các quy luật vật lý và luật nhân quả có tác dụng. Nhưng Phật pháp nói đó là thế giới cảm giác thế lưu bố tưởng chứ không phải có thật. Nếu bạn cứ chấp cho là thế gian là thật không có chút nghi ngờ nào thì không bao giờ giác ngộ được. Ngày nay cơ học lượng tử đã hiểu rõ tất cả các hạt cơ bản đều là hạt ảo, nhưng bạn thì cứ theo cái quán tính tư duy của người đời cho là thật thì bạn đã không hiểu quả báo chỉ có trong chiêm bao giữa ban ngày.

      • my nói:

        xin lỗi thầy sau khi tôi tìm hiểu được biết
        “đoạn kinh đức phật giác ngộ cũng ko trốn được nghiệp là do các Tổ thêm vào để dựng lên thuyết nhân quả định mệnh, tức là nhân quả cố định không thay đổi được, đó là để chỉ rõ pháp môn Thiền của Ðại Thừa và Thiền Tông không làm chủ sanh, già, bệnh, chết. Thiền của Ðại Thừa và Thiền Tông là loại thiền ức chế tâm, chứ không phải là thiền xả tâm, vì thế càng tu càng chạy theo danh lợi và dục lạc thế gian.Trong thuyết nhân quả định mệnh này của Bà La Môn Ấn Ðộ và của Thiền Tông Trung Hoa, cho rằng người tu hành dù có chứng đạo cũng không làm chủ nhân quả chỉ chẳng muội nhân quả mà thôi.
        Do không hiểu luật nhân quả thiện pháp chuyển ác pháp nên tưởng ra thuyết định mệnh nhân quả, khiến cho biết bao nhiêu người hiểu sai lạc. Vì hiểu như vậy nên các Tổ mới biên soạn viết đoạn kinh trên đây để thêm vào làm cho sáng tỏ thuyết định mệnh, nhưng không ngờ vô tình lại phỉ báng Phật.
        Như vậy rõ ràng, đoạn kinh trên đây không phải Phật thuyết mà do các Tổ viết thêm”
        Vậy thì bản thân phật giáo có sự mâu thuẫn, kinh của phật đã bị thay đổi bởi chính những người được kính trọng tôn sùng trong đạo phật, xin lỗi thầy, tôi thấy bối rối quá, ngay chính trong đạo phật thật thât giả giả lẫn lộn,mà đó lại là đại thừa và thiền tông,

      • Vấn đề trong Phật pháp có đầy mâu thuẫn không có gì lạ bởi vì mâu thuẫn chỉ là tâm niệm do khả năng nhận thức khác nhau. Trong tâm niệm thì có luân hồi quả báo, có thế giới. Còn trong tánh không thì không có luân hồi không có nhân quả , không có thế giới. Bạn đừng có lầm lạc mà cho là Đại Thừa và Thiền Tông là sai, nhận thức như vậy rất ấu trĩ.

  10. hu nói:

    bác ơi cho cháu hỏi trong hiện tượng rối lượng tử, 2 electron/phôton có tính chất gì thì chúng mới thành 1 đôi được

    • photon hoặc electron vốn là không có thật, chúng chẳng có tính chất gì cả, nhưng tâm niệm của người khảo sát thì chúng có các đặc điểm như vị trí, khối lượng v.v…Ngoài những tính chất đó chúng còn có những tính chất kỳ bí mà cơ học lượng tử khám phá như bất định xứ (non locality) vô số lượng (non quantity)… Chính những tính chất này khiến chúng có thể xuất hiện đồng thời ở hai nơi khác nhau (một cặp) chẳng những thế chúng còn có thể xuất hiện ở vô số vị trí khác nhau cùng lúc. Chính vì sự ảo hóa như thế nên Chúa Giê Su mới có thể chỉ với 5 ổ bánh mì và 2 con cá, chia cho mười ngàn người ăn no.

  11. Nguyễn Đăng Trí nói:

    Kính thầy cho con ý kiến nhé:
    Nhiều năm nay con chiêm nghiệm những vấn đề của cuộc đời con thấy có vài thắc mắc:
    1/ Có những suy nghỉ nhất quyết chọn bên này nhưng khi làm lại chọn bên ngược lại (thật điên máu, lúc ấy đầu óc ngơ ngơ sao ấy vì khoảng thời gian ngắn). Hình như ai đó thực hiện chứ không phải mình. Con có đọc bài BỘ NÃO QUYẾT ĐỊNH TRƯỚC Ý THỨC 6 GIÂY và trong kinh Phật nói về CÁI TA HUYỄN CÓ (kinh vô ngã tướng). Những lúc ấy đau khổ ùa về, con biết ấy là NGHIỆP LỰC CHI PHỐI (nghiệp lực bất khả tư nghì, khủng khiếp thật). Sau những lúc ấy con nghi ngờ bản thân, không tin vào những quyết định của mình, tất cả là nghiệp. Vậy thì TA là ai? TA ở đâu? ai đang làm việc, ai đang đọc kinh, ai đang tu sửa…?. Con không muốn làm gì cả vì chẳng phải con, vì TÁC Ý LÀ NGHIỆP. Hiện tại con vẫn đang gánh trách nhiệm gia đình, công việc??? Thật tình con muốn bỏ mặc tất cả sau lưng, rất muốn miên mật tu hành tìm thấy TA CHÂN THẬT rồi hãy tính sau. Lúc ấy là TA làm, TA quyết định!!! việc cần làm đã làm xong…
    2/ Con thực hành tham thoại đầu (dụng công nửa vời, lúc thì tham, lúc thì tác ý việc đời làm đầy tớ của nghiệp, nói đến là chán ngán). Con thiết nghỉ rằng: Phải dụng công như ngài LAI QUẢ, ngài NGUYỆT KHÊ chỉ có nhìn thẳng vào nơi đen tối mịt mù với cây gậy chạm vào là thoại đầu hiện tiền –>> May ra ma nghiệp không chạm được vào ta???
    3/ Những lúc tác ý công việc không thể tham được thì ta phải sống trong giới đức trọn vẹn để được bảo vệ, mọi hành tác phải ly dục ly bất thiện pháp –>> May ra ma nghiệp không chạm được vào ta?
    4/ Hãy thực hành như vậy mãi đến khi KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT (ủa sao còn có cái gọi là kiến tánh khởi tu nửa???)
    Thầy hãy trả lời giúp con./
    Kính mong./

    • 1/Theo Phật pháp thì chúng sinh đều có tam thân : Pháp thân tức là cái thể chung của tất cả chúng sinh, tức là Phật hay là Tánh giác ngộ. Ứng thân là cái thân do nguyện lực của Bồ Tát biến hóa để tiếp cận chúng sinh đang cần cứu giúp. Báo thân tức cái thân do nghiệp tạo thành. Bạn cũng có đủ tam thân, hai cái thân trước thì bạn không vận dụng nổi, cái ta của bạn là báo thân bị chi phối bởi nghiệp. Khi bạn định chọn bên A nhưng thực tế lại chọn bên B là vì nghiệp lực mạnh hơn ý thức của bạn. Nếu ý thức của bạn khớp với nghiệp thì sự thành nếu khác với nghiệp thì sự không thành. Thí dụ Trump muốn lật đổ Assad nhưng nghiệp của Assad là không bị lật đổ nên mưu sự của Trump không thành. Bởi vậy Phật pháp mới nói nên tùy duyên. Ý thức tuy yếu nhưng nếu nó được phát nguyện liên tục thì sẽ trở nên mạnh, nên những người tu Tịnh Độ cứ niệm A Di Đà cầu vãng sanh Cực lạc liên tục mãi thì sự cũng thành.
      2/Bạn tham thoại đầu là tìm cách phát khởi nghi tình, từ nghi dẫn đến ngộ. Trong khi bạn tham thì nghiệp vẫn chi phối chứ không phải tham thiền là thoát được nghiệp.
      3/ Lúc bạn làm việc hoặc sống cuộc đời hàng ngày, bạn giữ giới, ít nhất là 5 giới cơ bản để tránh tạo nghiệp ác mới, chứ nghiệp cũ thì vẫn chi phối nhưng bạn đừng sợ bởi vì cái gì phải đến thì sẽ đến, bạn sợ thì nó vẫn đến, tốt nhất là cứ chấp nhận.
      4/ Kiến tánh thành Phật là bạn chứng ngộ tam giới duy tâm vạn pháp duy thức, tất cả chỉ là ảo hóa không có gì là thật, bạn không còn chấp ngã chấp pháp gì nữa. Nhưng vẫn còn phải tu để giải trừ bớt tập khí là những thói quen lâu đời khó bỏ, thời gian đó gọi là bảo nhậm. Ví dụ Huệ Năng kiến tánh rồi còn phải bảo nhậm 15 năm nữa mới ra hoằng pháp.

      • vantruc2 nói:

        _”Ví dụ Huệ Năng kiến tánh rồi còn phải bảo nhậm 15 năm nữa mới ra hoằng pháp.” Cho con hỏi là nếu Huệ Năng đã kiến tánh rồi thì sao ông ấy chưa thành Phật?
        _Như câu “Khi bạn định chọn bên A nhưng thực tế lại chọn bên B là vì nghiệp lực mạnh hơn ý thức của bạn.” được nêu ra thì nghiệp lực ở đây chính là tập khí có sẵn từ trước và nó quá mạnh mẽ nên lấn át ý thức trong lúc đưa ra quyết định đúng không ạ?
        _Cho con hỏi thêm 1 điều nữa là chữ “pháp” ý chỉ cho vạn vật đúng không ạ? Vì con để ý nhiều lần thấy là trong mỗi hoàn cảnh thì chữ “pháp” có nghĩa hoàn toàn khác. Con xin cảm ơn!

  12. – Kiến tánh thành Phật tức là thành người giác ngộ (giác giả), Huệ Năng kiến tánh tức là đã thành người giác ngộ.
    – Vâng, nghiệp lực chính là tập khí có sẵn từ nhiều kiếp trước, chính tập khí của mình trói buộc mình chứ không thực sự có hoàn cảnh khách quan bởi vì vật không có tự tính. Hoàn cảnh là do tưởng tượng của 8 thức.
    – Pháp là một từ có ý nghĩa vô cùng rộng lớn, tất cả sự vật hữu hình hay vô hình, lý hay sự đều gọi là pháp. Định lý, quy luật, lý thuyết, con vật, con người, cục đá v.v… đều gọi chung là pháp.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s