HAI THỨ TỰ DO TRONG CUỘC ĐỜI

Có nhiều nhà đấu tranh cho tự do dân chủ, họ đấu tranh quyết liệt, chấp nhận rơi cả vào vòng lao lý cho một lý tưởng về tự do dân chủ. Nhưng theo quan điểm Phật pháp, cái tự do đó còn đầy trói buộc và rất hạn chế. Hành giả Đạo Phật phấn đấu cho một cái tự do rộng lớn và thực chất hơn nhiều.

Tự do của các nhà đấu tranh đương nhiên là chỉ là ảo tưởng, vấn đề không cần phải bàn, bởi vì trên thế gian tất cả mọi sự kiện (all events), tất cả mọi hiện tượng (all phenomena) đều chỉ là thế lưu bố tưởng (common imaginations over many generations). Thế thì tự do cũng chỉ là ảo tưởng thôi. Theo triết lý Ngũ uẩn giai không (the five aggregates including: material, perception, imagination, motion, consciousness, are all empty) thì tự do cũng chỉ là ý thức, là tưởng tượng.

Thế nào là tự do ?

Nhưng trên diễn đàn này, chúng ta cũng cần phân tích cho rõ ngọn nguồn để mọi người thấy rõ hơn, từ đó tin vào tự tâm hơn là tin vào những hình thức phù phiếm bên ngoài.

Nhiều nhà tranh đấu cho tự do dân chủ rất được truyền thông phương Tây cổ súy, chẳng hạn Lưu Hiểu Ba刘晓波, người từng được trao giải hòa bình Nobel năm 2010. Ông được ủy ban giải Nobel hòa bình trao giải vì “cuộc đấu tranh trường kỳ bất bạo động vì quyền con người ở Trung Quốc”. Cựu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon cho rằng giải thưởng dành cho Lưu Hiểu Ba là “sự công nhận rằng thế giới ngày càng đồng thuận trong việc cải thiện quyền con người”. Phát ngôn viên của chính phủ Đức Steffen Seibert tuyên bố chính phủ Trung Quốc nên thả Lưu Hiểu Ba để ông ta có thể tham gia lễ nhận giải. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Bernard Kouchner cũng hoan nghênh giải thưởng và cũng kêu gọi Trung Quốc thả ông Lưu.

Tại TQ có nạn tham nhũng trầm trọng, có áp bức bất công, nhũng nhiễu lạm quyền của các quan tham, nên Lưu Hiểu Ba có lý do đứng lên tranh đấu. Nhưng chính quyền TQ cũng đang cố gắng chống tham nhũng, xây dựng dựng kinh tế đời sống, đường sá, bến cảng, phương tiện giao thông và nhiều mặt khác cho đời sống nhân dân tốt đẹp hơn. Chẳng hạn như video sau đây minh họa.

Các sáng tạo mới của TQ 5 năm gần đây

Họ thấy ông soạn ra hiến chương 08 cổ súy dân chủ theo mô hình phương Tây và được phương Tây hết sức ủng hộ, kích động nhân dân ngã theo chiều hướng đó, trong khi Đảng Cộng sản và Nhà nước TQ lại muốn tạo ra một mô hình riêng mang đặc sắc TQ, không theo phương Tây, nên họ cũng có lý do để bắt giam ông vì chủ trương của ông đi trái với đường lối của họ. Ở phương Tây, người dân có thể chủ trương đối lập với đảng cầm quyền nhưng ở TQ thì không, họ không cho phép người dân có chủ trương đi ngược với đảng cầm quyền, cũng không có một đảng đối lập để người dân ủng hộ nhằm chống lại đường lối của nhà nước.

Ở đây chúng ta không bình luận về việc tranh đấu của ông Lưu Hiểu Ba đúng hay sai hoặc chính phủ TQ bắt giam ông ta là đúng hay sai. Chúng ta sẽ nói về những điều sâu xa hơn nhiều.

Con người thường tranh đấu để đạt được tự do sinh hoạt, tự do đi lại, tự do tư tưởng ngôn luận, tự do bầu cử chính quyền v.v…những cái đó gọi chung là nhân quyền, mọi người sinh ra trên đời đều ắt cần phải có, nếu nhân quyền bị cản trở thì các nhà tranh đấu sẽ đứng lên đòi hỏi.

Đó là một số hình thức tự do, nhưng không phải là tất cả tự do, cũng không hẳn là những tự do thiết yếu nhất của cuộc đời. Tại sao ?

Tại sao ta không sinh ra trong một gia đình giàu có, cởi mở, tại một quốc gia phồn thịnh, tôn trọng nhân quyền ? Tại sao ta không được tự do chọn hoàn cảnh không gian và thời gian nơi mình sinh ra ? Tại sao ta không muốn nghèo mà lại sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, tại một quốc gia chậm tiến, chiến tranh loạn lạc, có nạn áp bức bất công ? Tại sao ta không muốn già mà cơ thể cứ ngày càng già yếu, ta không muốn bệnh mà cơ thể cứ bệnh, ta không muốn chết mà không thể thoát chết được, ta không muốn bị thiên tai, chiến tranh, nhân họa mà vẫn cứ bị ? Nói chung, ta không có sinh tử tự do, không làm chủ được cuộc sống của mình. Những thứ tự do này thiết yếu hơn rất nhiều so với những tự do mà có một số người tranh đấu.

Theo Phật pháp, tất cả chúng sinh đều có đủ Tam thân tức là ba loại thân thể gồm : Pháp thân tức là cái thể chung cho tất cả chúng sinh, kể cả Phật, Bồ Tát và phàm phu. Ứng thân là cái thân thể mà các vị Bồ Tát theo ý nguyên của mình, sinh vào bất cứ cõi giới nào nhằm tiếp cận và cứu độ chúng sinh. Báo thân là cái thân thể do nghiệp lực chi phối, có phước báo thì sinh vào cõi an lành tốt đẹp hưởng phước, có ác báo thì sinh vào cõi xấu nhiều đau khổ, bị quả báo. Phàm phu không làm chủ được mình nên trôi lăn trong luân hồi sinh tử, lục đạo (trời- deva, thần- asura, người- manussa, súc sinh- tiracchānayoni, ngạ quỹ- petta, địa ngục- niraya). Phật, Bồ Tát là bậc giác ngộ, tự do, vận dụng được pháp thân và ứng thân một cách tự chủ để giúp đỡ, giáo hóa chúng sinh. Ví dụ, Thích Ca sinh ra ở cõi thế gian để chỉ cho con người nguyên nhân và cách thoát khổ. A-Di- Đà tạo ra cõi Tây phương cực lạc để tiếp dẫn những chúng sinh quyết tâm tu Tịnh Độ. Bồ Tát Quán Thế Âm thường xuất hiện cứu giúp chúng sinh gặp hoạn nạn.

Vân Sơn- Kristine Sa – Thấy Quán Thế Âm Bồ Tát

Còn phàm phu không làm chủ được mình, bị chi phối bởi nghiệp lực, không vận dụng được pháp thân và ứng thân, chỉ bị trói buộc bởi báo thân, phải cực nhọc kiếm miếng cơm manh áo, đồ dùng, hay bị hoạn nạn, áp bức bất công, chiến tranh loạn lạc. Trong hoàn cảnh đó, một số người đứng lên tranh đấu cho tự do dân chủ, một thứ tự do rất hạn chế, đôi khi không có thực chất. Thí dụ người dân Mỹ có tự do bầu cử, nhưng chọn được một tổng thống có ít phiếu phổ thông hơn mà vẫn đắc cử. Tự do sở hữu súng đạn ở Mỹ gây ra rất nhiều thảm họa bắn giết bừa bãi khiến nhiều người dân thường và học sinh, giáo viên bị chết tức tưởi và không có cách nào khắc phục được.

Các Phật tử hay các hành giả của Phật giáo nói chung phấn đấu để giải quyết vấn đề sinh tử tự do, vấn đề làm sao làm chủ được số phận của mình, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh nào, chứ không coi những cái gọi là nhân quyền nói trên là quá quan trọng, đó chỉ là một số hình thức tự do bề ngoài có thể không phải là cốt lõi nhất.

Người dân của những nước tự do dân chủ phương Tây, họ đang có những thứ mà Lưu Hiểu Ba tranh đấu, nhưng những tự do đó có thực chất không hay cũng chỉ là ảo tưởng ? Để hiểu rõ việc này, chúng ta hãy xem xét coi :

Thế nào là ảo ?        

Đa số mọi người chúng ta tưởng là đã hiểu thế nào là ảo, song có thể chưa thật sự hiểu, vì vậy ở đây xin được phép giải thích rõ hơn.

Ảo là không có thật, không có thực chất, chỉ là tưởng tượng. Thí dụ trò ảo thuật. Copperfied từng biểu diễn đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành. Nhưng thực tế ông ta không có thực sự đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành mà chỉ tạo ra một ảo giác thị giác là ông ta đi xuyên qua.

Tất cả những trò ảo thuật đó đều chỉ là đánh lừa thị giác của người xem. Diễn viên cần có đạo cụ và người trợ giúp. Bây giờ giả sử yêu cầu diễn viên đứng ở giữa, bốn phía đều có khán giả, hoàn toàn không có đạo cụ, cũng không có ai trợ giúp phối hợp, chỉ một mình trơ trọi, thì người đó không thể thực hiện được màn trình diễn.

Nhưng ảo không phải chỉ có thế. Thực chất của ảo là tưởng tượng, là sự gán ghép, thay thế (replacement), là đánh tráo tâm niệm, khái niệm của mình vào cái đang là. Cái đang là, Phật pháp gọi là đương thể tức không, là tánh không phổ quát của vũ trụ vạn vật, cái mà các nhà vật lý cố gắng diễn giải nó là trường thống nhất (unified field) hoặc là miền tần số (frequency domain) vì nó có bản chất là sóng, một loại sóng phi vật chất bởi vì nó không cần môi trường vật chất để lan truyền. Sóng đó khi bị con người quan sát thì lập tức nó biến thành hạt vật chất, chẳng hạn hạt photon, hạt electron, hạt quark, v.v…Thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ điều đó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Trong thí nghiệm này người khảo sát đã đánh tráo tưởng tượng của mình vào sóng để thấy xuất hiện hạt electron. Các hạt cơ bản khác cũng thế, chẳng hạn sóng đã biến thành quark rồi biến tiếp thành proton, neutron tạo thành hạt nhân nguyên tử, rồi kết hợp với hạt electron để thành nguyên tử và cứ thế tiếp tục để thành phân tử, cố thể vật chất, chất sống, sinh vật, con người. Nói chung hạt cơ bản của vật chất là không có thật, không có thực chất, chỉ là tưởng tượng như Niels Bohr đã nói như sau : “Isolated material particles are abstractions”  (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật).

Chính vì vật chất là tưởng tượng của tâm nên Phật pháp mới nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo (All things are made only by Citta). Citta là Tâm bao gồm 8 thức : tiền ngũ thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc) ý thức, mạt-na thức (thức chấp ngã) và A-lại-da thức (Tàng thức tức kho chứa bao gồm dữ liệu của tất cả các thức). A-lại-da thức được Long Thọ Bồ Tát mô tả là Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư vô không có thật = Citta resembles nothingness without real essence) nhưng Tâm lại có khả năng tạo ra vô lượng vô biên ảo ảnh, ảo tưởng. Tâm không có thật, ảo tưởng cũng không có thật, và tâm có khả năng sinh ra ảo tưởng. Big Bang là Tâm, các vũ trụ song song cũng là Tâm trong đó có vũ trụ vạn vật của chúng ta. Vì Tâm không có thật nên không thể đòi hỏi nó khởi đầu từ lúc nào (vô sinh, không có thời gian) và nguyên nhân gì phát sinh ra Big Bang (không có nhân quả) và sinh ra bao nhiêu vũ trụ (không có số lượng) mỗi vũ trụ bao lớn (không có không gian). Tất cả các khái niệm về không gian, thời gian, số lượng, luật nhân quả, đều là do bộ óc của con người tưởng tượng ra và đều không phải là chân lý. Điều này ngành tin học hiện đại có thể cung cấp cho chúng ta những chứng cứ rõ ràng. Electron và photon vốn là sóng phi vật chất, bản chất là không có thật, nhưng nó có khả năng sinh ra các hạt ảo là hạt photon và hạt electron và những hạt ảo này đang tạo ra ngành công nghệ thông tin (IT= Information Technology) đang phát triển rầm rộ hiên nay. Sóng phi vật chất, hạt electron, hạt photon, thế giới ảo tin học và thế giới đời thường đều là Tâm (Nhất thiết duy tâm tạo).

Nhưng trong thế giới đời thường của con người thì có những lý tương đối. Những quy luật cơ bản nhất gọi là nguyên lý (principle), ví dụ Nguyên lý nhân quả (The universal law of Cause and Effect), nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính (All dharma do not have features), còn gọi là nguyên lý vô minh hay nguyên lý bất định. Khi tâm chưa khởi niệm thì nó ở trạng thái vô thủy vô minh. Nguyên lý thay thế (Principle of replacement). Nguyên lý bất định (Principle of uncertainty), nguyên lý này là hệ quả của nhất thiết pháp vô tự tính, chẳng hạn vì hạt electron không có sẵn đặc trưng về vị trí nên nó bất định, tức không thể xác định được vị trí. Nguyên lý bất toàn (Incompleteness theorem) tức là không có hệ thống lý thuyết nào không có mâu thuẫn. Mâu thuẫn là điều tất yếu của mọi lý thuyết. Chính nguyên lý bất toàn khiến cho chương trình Hilbert sụp đổ.

Vào năm 1920, nhà toán học David Hilbert đề nghị một dự án nghiên cứu rõ ràng về metamathematics (toán học) mà sau đó được biết đến như là chương trình Hilbert. Ông muốn toán học phải được hệ thống hóa trên một nền tảng logic vững chắc và đầy đủ. Ông tin rằng về nguyên tắc điều này có thể làm được, bằng cách chứng minh rằng:

  1. tất cả toán học có thể suy ra từ một hệ thống hữu hạn các tiên đề được chọn ra một cách đúng đắn;
  2. và một hệ thống tiên đề như vậy là có thể chứng minh được tính nhất quán của nó.

Hilbert và các nhà toán học tài năng làm việc cùng nhóm với ông đã dành hết tâm huyết cho dự án này. Cố gắng của ông để ủng hộ nền toán học được xây trên các tiên đề và các nguyên lý xác định trước, loại bỏ những bất định trong lý thuyết, tuy nhiên đã thất bại. Gödel đã chứng minh rằng bất kì một hệ thống hình thức không chứa đựng mâu thuẫn nào, không thể chứng minh được sự  toàn vẹn của nó bằng các tiên đề của chính nó. Vào năm 1931 định lý bất toàn của Gödel đã cho thấy rằng chương trình vĩ đại của Hilbert thất bại vì gặp phải mâu thuẫn nội tại không thể vượt qua nổi.

(Về những nguyên lý này xin đọc thêm bài : 5 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA VŨ TRỤ VẠN VẬT  )

Tóm lại thế giới là ảo, vật chất là ảo, nghĩa là không có thật, do tác dụng của hai nguyên lý : nhất thiết pháp vô tự tính và nguyên lý thay thế. Vì các hạt cơ bản vốn là sóng vô hình phi vật chất, không có tự tính, không có đặc trưng. Và chúng được Tâm gán ghép các đặc trưng vào để thành 18 loại hạt cơ bản trong Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics). Và từ các hạt ảo này, cấu thành vũ trụ vạn vật. Vì vậy các hạt quark, electron, photon v.v…đều là các hạt ảo do Tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật, đó chính là ý nghĩa sâu xa nhất của ảo (virtual cũng đồng nghĩa với imagination).

Con người nên phấn đấu cho tự do thế nào ?

Nhiều người sinh ra trong những gia đình nghèo khổ, thất học, nhiều bệnh tật, hoàn cảnh thật là bế tắc. Những người khác thì sinh sống trong những quốc gia loạn lạc như Syria chẳng hạn, hoàn cảnh thật là đen tối. Một số khác thì sống trong đất nước nhiều thiên tai, ví dụ Philippines, mỗi năm phải đối mặt với hàng chục cơn bão khủng khiếp. Đó là nêu lên một vài hoàn cảnh bất hạnh tiêu biểu, chứ nỗi khổ của nhân loại nhiều không kể xiết.

Vậy con người nên hướng đến tự do nào ? Họ ắt là nên lấy thoát khổ làm mục tiêu phấn đấu. Làm thế nào để thoát khổ ? Theo Phật pháp thì cảnh khổ hiện tại là quả mà nhân là ác nghiệp trong quá khứ. Vậy hãy bình tâm mà đón nhận cái nghiệp khổ không thể tránh khỏi và không gây ra ác nghiệp mới, đại khái là tuân thủ 5 giới căn bản của người tại gia, bao gồm :

  1. Pànàtipàtà veramanì: 離殺生Ly sát sinh(不殺生 bất sát sinh)Tránh xa sát sinh
  2. Adinnàdàna veramanì: 離不與取Ly bất dữ thủ(不偷盜bất thâu đạo)Tránh xa sự trộm cắp
  3. Kàmesu micchàcàrà veramanì: 離欲邪行Ly dục tà hành(不邪淫bất tà dâm)Tránh xa sự tà dâm
  4. Musà vàdà veramanì: 不妄語 (Bất vọng ngữ) Tránh xa sự nói dối
  5. Suràmeraya majjappamàdatthàna veramanì: 不飲酒 (Bất ẩm tửu) Tránh xa sự dễ dãi uống rượu và các chất gây nghiện.

Nếu có thêm hiểu biết về khoa học và triết học, thì biết rằng tất cả mọi cảnh giới, mọi hiện tượng trên thế gian đều chỉ là giả tạm, ảo hóa, không có thực chất. Như vậy hành giả sẽ đi tới chỗ phá ngã chấp và phá pháp chấp. Không có ngã thì ai đang chịu khổ ? Không có pháp thì khổ là cái quái gì ? Những câu hỏi đó sẽ dẫn tới nghi tình và nghi sẽ dẫn tới ngộ. Trạng thái giác ngộ như Bát Nhã Tâm Kinh mô tả :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Giải thoát được tất cả mọi khổ nạn tức hoàn toàn tự do kể cả sinh tử tự do. Đó mới đúng thật là cái tự do mà con người trên thế gian nên hướng tới. Tự do vì ngộ ra rằng tất cả mọi trói buộc là do chấp ngã chấp pháp, tức là tự mình trói buộc mình bằng vô số tập khí, thói quen từ vô lượng kiếp, chứ không phải có cái trói buộc từ hoàn cảnh bên ngoài, cái hoàn cảnh trói buộc mà con người hiện đang cảm thấy vốn là do tâm tạo chứ không phải có thật. Nếu làm chủ được tâm ắt không tạo ra những hoàn cảnh trói buộc đó nữa, hoặc tạo ra do tùy ý, đó là công dụng của tánh giác ngộ nhưng không mê chấp thì không có khổ. Chẳng hạn kinh Vô Lượng Thọ nói chúng sinh ở cõi Tây phương cực lạc có thể tùy ý tạo ra quần áo thực phẩm để dùng.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Ở cõi thế gian, muốn có thực phẩm, con người phải trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, trải qua bao nhiêu công đoạn cực nhọc khó khăn mới có vì khả năng vận dụng tâm của họ còn yếu kém, không có sức mạnh.

Còn ở cõi Cực lạc thì chúng sinh có khả vận dụng tâm mạnh hơn nhiều nên dễ dàng tạo ra thực phẩm tùy ý. Chúng ta cảm thấy điều đó có vẻ hoang đường, nhưng một số nhà đặc dị công năng có tâm lực mạnh thì có thể làm được.

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

Kết luận

Tự do mà con người thật sự cần và có thể đạt được không cần phải chờ nhà nước và xã hội ban cho, nó tùy thuộc ở tâm của mỗi người. Cái tự do này là không giới hạn, có thể thoát khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi thiên tai bão lụt, động đất, núi lửa, thoát khỏi tất cả mọi trói buộc. Nói thoát khỏi thiên tai có vẻ như nói ngoa, nhưng cũng có thực tế chứng minh. Từ năm 2013 tôi có đề cập đến Ngôi Làng Bình Yên, cuối năm 2017, cơn bão số 16 có vẻ đe dọa sự bình yên của ngôi làng này, nhưng cuối cùng cơn bão đã quẹo xuống phía nam để tránh. Giông bão không phải ngẫu nhiên từ trên trời rơi xuống, không có nghiệp bị giông bão thì sẽ không bị, đó là ý nghĩa của câu : thoát khỏi thiên tai bão lụt. Các nhà tranh đấu cho nhân quyền vào tù ra khám để tìm kiếm một cái tự do còn rất giới hạn và không mấy thực chất. Các hành giả Phật giáo tu hành để hướng tới một cái tự do rộng lớn và chân thực hơn nhiều.

Truyền Bình

Advertisement

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

52 Responses to HAI THỨ TỰ DO TRONG CUỘC ĐỜI

  1. mi nói:

    nếu mọi thứ là ảo thì kỹ năng có là ảo không, vậy có thể dùng tâm để đạt được kĩ nănng không, ví dụ 1 người ko biết nấu ăn chỉ dùng tâm có thể biết nấu ăn ko
    nếu vũ trụ là ảo thì người ngoài hành tinh với nền văn minh vượt chúng ta đến mấy triệu năm thì có ảo ko
    nếu mọi thứ là ảo , cái chết cũng là ảo thì 1 người giác ngộ tự tử có phải là tự tử ko vì tự tử cũng là ảo

  2. mi nói:

    nhưng giả sử có 1 giống loài người ngoài hành tinh vượt xa chúng ta mấy triệu năm nên tạo ra loài người chúng ta như tạo ra 1 game vậy , lúc đó cuộc đời của loài người chúng ta chỉ là 1 game mô phỏng. vậy người ngoài hành tinh có ảo không, ai tạo ra người ngoài hành tinh để người ngoài hành tinh lại tạo ra chúng ta, vậy người ngoài hành tinh cũng ảo , nhưng họ lại tạo ra chúng ta , vậy chúng ta là ảo trong ảo

    • Không phải thế giới của chúng ta do một giống người ngoài hành tinh phát triển hơn chúng ta tạo ra theo như giả thuyết của một số nhà khoa học. Mà cả thế giới của họ và thế giới của chúng ta nói chung đều nằm trong Tam giới do Tâm tạo ra (Tam giới duy tâm). Còn Tâm thì vô sinh vô diệt không phải do ai tạo ra cũng không phải là có thật (Tâm như hư không vô sở hữu) nhưng nó lại có thể tạo ra tất cả mọi cảnh giới (Nhất thiết duy tâm tạo) bởi vì tất cả cảnh giới đều là ảo không có thật, không có thực chất, chỉ là tưởng tượng (Thế lưu bố tưởng). Tình trạng vô sinh vô diệt này Phật pháp gọi là vô sinh pháp nhẫn nghĩa là tình trạng bất biến (constant state) không có bắt đầu không có kết thúc.

  3. mi nói:

    với thần thông tôi thấy là
    người ta chỉ có thể lấy ý nghĩ của người khác , rồi quên phải không anh, sao trương bảo thắng lúc không có tài xế thì bới rối vì không có ai để lấy “khả năng lái xe”, sao anh ta không lấy luôn khả năng lái xe đó để thành 1 người giỏi lái xe vĩnh viễn mà phải phụ thuộc vào tài xế ngồi cạnh, như thế thì phụ thuộc suốt đời vào tài xế rồi
    khi anh ta di chuyển đồ vật là anh ta dùng tâm để di chuyển hay biến nó từ trạng thái rắn sang trạng thái thứ sáu

    • Thần thông hay đặc dị công năng của Trương Bảo Thắng vẫn còn rất giới hạn, còn xa mới bằng Đức Phật, nên nó còn phải tùy thuộc điều kiện, phải có người biết lái xe hay biết sử dụng vi tính ngồi bên cạnh thì anh ta mới biết thực hiện các thao tác cần thiết, chứ nếu đạt trình độ cao hơn thì không cần có người biết ngồi bên cạnh anh ta vẫn làm được vì trong Tâm (Chánh biến tri có đủ cả). Ngay cả người kiến tánh như Huệ Năng vốn không biết chữ, cũng chưa có thần thông nên khi muốn viết bài kệ Bồ đề bản vô thọ, ông còn cần người viết hộ, chứ như Trương Bảo Thắng thì không cần người viết hộ, chỉ cần đọc lên, người biết chữ bên cạnh hình dung trong óc chữ gì thì anh ta có thể viết ra. Khả năng của Trương Bảo Thắng thì chỉ có thể di chuyển đồ vật từ nơi xa tới chứ chưa đạt tới trình độ tạo ra ngay tức thời từ ánh sáng, không khí v.v…Như Phật A Di Đà thì không cần bất cứ nguyên liệu gì cũng có thể tạo ra Thế giới Tây phương cực lạc.

  4. mi nói:

    vậy giả thiết chúa tạo ra muôn loài của đạo chúa thì sao , nếu nó sai thì không lẽ chúng ta chấp nhận 1 giả thiết sai

    • Chúng ta cần hiểu đúng ý nghĩa của Đạo Thiên Chúa khi họ nói rằng Chúa Trời sáng tạo ra thế giới. So với Phật giáo hay Nho giáo thì chỉ khác về danh từ, về cách nói mà thôi.Phật giáo dùng chữ Phật hay Tâm, Thiên Chúa giáo dùng chữ Chúa Trời hay Thượng Đế (God), Nho giáo dùng chữ Trời (Thiên), những tên gọi khác nhau đó đều chỉ cùng một pháp là Tâm mà thôi. Phật giáo gọi đích danh là Tâm, còn các tôn giáo khác gọi chệch đi cho người bình thường dễ hiểu mà thôi. Chỗ khác nhau giữa PG và các tôn giáo kia là : PG không chấp thật, không cho Tâm là có thật, còn các tôn giáo kia cho Thượng Đế hay Trời là có thật, do đó họ có chỗ bế tắc. PG nói Tâm cũng không có thật (Tâm như hư không vô sở hữu) vì không có thật nên không cần cái gì sinh ra (Vô sinh pháp nhẫn). Còn nếu nói Có Thật, thí dụ như Big Bang, thì Big Bang cũng phải có cái gì sinh ra, các nhà khoa học cũng bế tắc ở chỗ này.

  5. mi nói:

    cám ơn thầy giờ tôi đã biết công dụng của tâm, nhưng nếu tâm có khả năng biến ra tiền từ không khí thì những người biết vận dụng tâm thành tỷ phú hết rồi sao

    • Bạn lại suy nghĩ lệch lạc nữa rồi. Những người có khả năng biến ra tiền vô cùng hiếm. Vả lại họ cũng không còn mê tiền. Hầu Hi Quý có khả năng lấy tiền từ ngân hàng về nhà mình bao nhiêu cũng được, nhưng ông ta không bao giờ làm, chỉ biểu diễn cho người khác coi thôi rồi trả lại vì nếu làm điều sai trái sẽ bị sư phụ phạt. Ngay cả khi lấy một gói thuốc lá từ nơi xa xôi, ông ta cũng trả tiền đàng hoàng. Cho dù không lấy từ ngân hàng mà tự biến ra tiền để xài cũng là hành vi trộm cắp của xã hội. Mà thay vì biến ra tiền, cứ biến thẳng ra đồ dùng phải hay hơn không, nhưng họ cũng không làm vì không còn mê tiền, không còn mê vật chất.

  6. bat buoc nói:

    Thưa Thầy, tâm là có thật hay không thật? nếu không thật thì sao lại “nhất thuyết duy tâm tạo” được? nếu là thật thì sao Huệ Khả không thể tìm?

    • Tâm cũng không có thật (Tâm như hư không vô sở hữu) bởi vì nếu có thật thì tâm phải có thực thể và có nguồn gốc. Dù không có thật, tâm vẫn có thể tạo ra vũ trụ vạn vật (Nhất thiết duy tâm tạo) bởi vì ảo vẫn có thể tạo ra ảo. Ví dụ electron là hạt ảo không có thật, nhưng nó có thể tạo ra ngành công nghệ thông tin, thế giới ảo vô cùng phong phú như hiện nay.

      • bắt buộc nói:

        Thưa thầy, nếu tâm có thực thể và nguồn gốc thì cũng là không thật. Vì có thực thể thì là pháp hòa hợp còn có nguồn gốc thì là pháp nhân duyên, có sinh có diệt thì sao là thật được? electron có lưỡng tính sóng và hạt. electron tự nó không tạo ra ngành công nghệ nào được. mà phải nhờ con người. suy cho cùng cũng là do tâm con người.

      • Hạt electron cũng không phải là một thực thể ở bên ngoài tâm, nó cũng là tâm theo nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo, nó không có đặc trưng đặc điểm gì cả, mọi đặc điểm đều do tâm gán ghép, tâm tưởng tượng ra do nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính.

  7. bắt buộc nói:

    Không có vật gì ở ngoài tâm, cũng chẳng có vật gì trong tâm. Nhất thiết pháp vô tự tính thì đúng rồi, vì vô tự tính nên electron không phải là tâm.

    • Chính xác là như thế này : electron là do tâm tạo nhưng tâm không phải chỉ là electron mà tâm thì rộng lớn bao trùm tất cả các pháp.

      • bắt buộc nói:

        Đúng rồi! đó là điều kinh Lăng Nghiêm nói “Nhất thiết thế gian, sơn hà đại địa, sinh tử niết bàn, giai tức cuồng lao điên đảo hoa tướng.” Trong kinh Hoa Nghiem thì là “Nhất thiết duy tâm tạo.” Nếu mở rộng tầm mắt thì không chỉ sanh tử, niết bàn mà địa ngục, thiên đàn, và ngay cả Thế Giới Tây Phương Cực Lạc cũng do tâm tạo. cúng Mông sơn thí thực cho cô hồn cũng nguyên tắc này, v.v… Các học giả không dựa trên nguyên tắc này, mà toàn lý luận văn chương chữ nghĩa, hoa lá cành, rồi cải nhau om sòm có hay không có! đó là còn chưa nói chữ tâm trong “Nhất thiết duy tâm tạo” là tâm nào.

        Giờ quay lại câu ban đầu “tâm là thật hay ảo”, hy vọng đạo hữu có cái nhìn rõ ràng hơn về vấn đề này. Nếu nói gì cũng không (ảo) thì chỉ e rằng lý luận này rơi vào thuyết của ngoại đạo chấp không, chấp đoạn. A Di Đà Phật!

      • Phật pháp nói Tất cả là do tâm tạo, tất cả chỉ là tưởng tượng, là ảo hóa nhằm mục đích phá chấp thật chứ không phải khẳng định đó là chân lý. Phật pháp không có kiến lập chân lý, cho nên hành giả không được chấp Có mà cũng không được chấp Không, đó là ý nghĩa của nguyên lý bất định mà tôi đề cập rất nhiều trên Duy Lực Thiền.

  8. buddha nói:

    thầy ơi, đỉnh cao , đúng nhất , tuyệt đỉnh , cuối cùng, hoàn hảo , đúng đắn , công bằng bình đẳng bác ái, nhiều lâu ổn định, thông minh khôn ngoan, hạnh phúc , luôn luôn , dễ dàng đơn giản và toàn thiện không thể chê vào đâu được , hơn mọi thứ mà các nhà vĩ nhân đã đưa ra
    xin thầy hãy nghiên cứu https://www.thuvienthaythonglac.net/

    • Bạn tin vào giáo pháp của thầy Thích Thông Lạc thì bạn cứ tin, đó là hệ thống Phật pháp nguyên thủy. Còn việc phản bác giáo pháp Đại Thừa và Thiền Tông, tức phủ nhận việc Đức Phật truyền tâm ấn Thiền cho Ma Ha Ca Diếp, phủ nhận 28 vị Tổ Sư của Thiền Ấn Độ, phủ nhận các vị Thiền sư kiến tánh của Trung Quốc, đó là việc làm rất nguy hiểm. Người làm việc đó đã không hiểu rằng Phật pháp không có kiến lập chân lý. Người kiến lập chân lý là người còn chấp pháp, chưa phải giác ngộ.

      • bat buoc nói:

        Thấy nhóm Thông Lạc họ giống “hội thánh đức chúa trời” gì đó đang hót bi giờ nhỉ? ở đâu cũng có vòi bạch tuộc của họ 🙂

  9. bat buoc nói:

    Nếu mọi thứ là tưởng tượng thì đã là chấp không rồi. Khi còn chấp thì mọi thứ là tưởng tượng. khi không mê chẳng lẽ mọi thứ lại cũng là tưởng tượng? chẳng lẽ Phật và những người ngộ đạo cũng còn tưởng tượng?

    • Kinh điển nói Thế gian là thế lưu bố tưởng, nghĩa là tưởng tượng phổ biến đã trải qua nhiều đời, chỉ là ảo hóa, không có thực chất. Nhưng không phải là chấp không bởi vì ảo không phải là hư không, chỉ là không có thật thôi. Nhưng ảo hóa chính là công dụng của tâm. Thế giới hiện đại mà chúng ta đang sống với nhà cửa, xe cộ, sinh vật, con người, đường sá, bến cảng, tàu thuyền, máy bay, điện thoại di động v.v… đều là công dụng của tâm. Nhưng tại sao chúng ta biết thế giới là ảo ? Bởi vì Nhất thiết pháp vô tự tính và Nhất thiết duy tâm tạo. Hai phát biểu cốt lõi của Phật pháp đã được khoa học chứng minh rõ ràng trong thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982. Nó chứng minh rằng quan điểm của Einstein là sai, hạt photon hay hạt electron không có sẵn các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Những đặc trưng này chỉ xuất hiện khi có người quan sát, chính người quan sát đã tưởng tượng ra các đặc trưng đó. Xem thêm video này : https://www.youtube.com/watch?v=E9RYW5_TGk0 Phật hay các bậc giác ngộ khác cũng có thế lưu bố tưởng chỉ là không chấp thật nên không có chấp trước tưởng mà thôi.

      • bắt buộc nói:

        thì rõ ràng kinh nói đó là thế gian mà! Phật xuất thế, nếu nhập thế gian mà không chấp thế gian pháp. Nên tưởng hay không tưởng? Phật có thể thấy tận hư không khắp pháp giới mà không cần quan sát. Nếu không có quan sát thì thí nghiệm đó sai rồi.

      • Pháp thế gian là tương đối mới có đúng hay sai. Thí nghiệm đó chứng tỏ quan điểm duy vật khách quan của Einstein là sai, chứ không phải kết luận của thí nghiệm đó là sai. Còn về mặt tuyệt đối bất nhị pháp môn thì không có phân biệt đúng hay sai, không có chủ thể quan sát, không có đối tượng quan sát, không có cái gì cả, không có nghĩa lý gì cả.

  10. bắt buộc nói:

    Vậy thí nghiệm đó là pháp xuất thế gian chăng? Tâm kinh nói không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thí nghiêm đó có người quan sát bằng mắt, có ý suy lường thì sao là pháp xuất thế gian, sao là tuyệt đối được? Tuyệt đối bất nhị, vì bất nhị nên chẳng nói “không có”, vì có “không có” thì sẽ có cái “có”. đạo lý chân không-diệu hữu, không mà chẳng không mới là bất nhị

    • Thí nghiệm đó là pháp thế gian tương đối nên mới có đúng sai. Nhưng Phật pháp bất ly thế gian pháp. Thí nghiệm đó chứng tỏ ý chỉ Nhất thiết pháp vô tự tính trong kinh điển.

      • bắt buộc nói:

        Câu này “Phật pháp bất ly thế gian pháp” để bóp nắn cho lọt với cái tri kiến diễn giải của ai đó rồi, câu nguyên góc của Lục Tổ Huệ Năng có nội dung gần giống như sau “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác…”, chữ “bất ly thế gian giác..” quan trọng là chữ Giác. chẳng phải nói Phật pháp là pháp thế gian. ngay trong thế gian mà biết pháp thế gian, cũng như phải biết pháp xuât thế gian. Nếu nói Phật Pháp là Pháp thế gian thế thì thế gian pháp ô nhiễm như dâm ô, thác loạn, cờ bạc rượu chè cũng là pháp xuât thế gian! Bạn tu theo thí nghiệm đó đến muôn kiếp thì cũng mãi trong thế gian, chẳng giúp bạn kết thúc luân hồi thì sao gọi là pháp xuất thế?

      • Bạn còn chấp trước quá. Pháp thế gian hay pháp xuất thế gian đều là vọng tưởng phân biệt của bạn chứ cả hai đều không có thực chất. Bởi vì Nhất thiết pháp vô tự tính.

  11. Cao An nói:

    Cháu chào Bác!
    Cháu nghĩ clip bên dưới có thể tạm dùng để minh họa về vô thủy vô minh và nhất niệm vô minh cho dễ hiểu!

    Cái màn hình trắng trong clip bản thân nó đã có cấu trúc, thông tin…giống như vô thủy vô minh, nhưng vì chưa có nhất niệm vô minh nên mọi thông tin văn bản, hình ảnh không thấy được. Đến khi có cái tấm màn nhất niệm vô minh(được gắn vào cái mắt kính) thì mọi thứ ở cái màn hình trắng đều biểu hiện ra.

  12. Vâng, cái màn hình trắng biểu hiện tánh không là bản thể tâm hay tánh giác còn gọi là Phật tánh. Tuy nói là không nhưng không phải hư không, nó là sóng vô hình phi vật chất giống như hư không nhưng không phải hư không. Còn nhất niệm vô minh là vọng tâm, nó tưởng tượng ra tất cả các pháp, cả vật chất hữu hình (từ các hạt cơ bản cho tới cố thể vật chất, vũ trụ vạn vật) và ý niệm vô hình (tinh thần, quy luật). Hai cái tâm đó cũng không phải là hai Phật pháp gọi là Bất nhị mặc dù hình tướng khác hẳn nhau. Đó chính là ý nghĩa Sắc Bất Dị Không trong Bát Nhã Tâm Kinh.

  13. Cao An nói:

    Cháu cảm ơn Bác nhiều!

  14. bắt buộc nói:

    Nếu nói “Pháp thế gian hay pháp xuất thế gian đều là vọng tưởng phân biệt” thì chẳng phải bạn cũng nói Phật và các tổ sư thiền đều là vọng tưởng? Phật dạy người tu hành không làm các ác pháp mà bạn cũng nói Phật phân biệt vọng tưởng? Biết phân biệt rõ rằng thì cũng chẳng phải vọng tưởng, nếu không biết phân biệt thì như cục đá, cỏ cây.

    • Vâng, trong mê thì có đủ thứ phân biệt : Thiện Ác, Luân Hồi Nghiệp Báo, Có Chúng Sinh, Có Phật, Có Sinh Tử, Có Tu Hành Giác Ngộ. Kiến Tánh rồi mới biết Không cái gì là Có Thật, Vô Tu Vô Chứng.

      • bắt buộc nói:

        Nếu bạn mà không biết bạn còn chưa kiến tánh, hà huống gì nói tới “vô tu vô chứng” mà nói gì cũng không thì là chấp không, chẳng phải trung đạo, nói khẩu đầu thiền rồi.

    • li nói:

      chào đạo hữu theo thiển ý của tôi , ta phải phân biệt mọi thứ tương đối và tuyệt đối, đạo hữu nói rất đúng, đã còn sống trong thế gian này thì còn phân biệt

  15. Trong mê thì thấy có ngã có pháp. Phá được ngã chấp và pháp chấp rồi thì ai tu, ai chứng ? chứng cái gì ?

    • bắt buộc nói:

      Bạn lại bị chấp không nữa rồi. bạn đã hết mê chưa? còn đang mơ mà cứ nói chuyên ngoài mơ. Phật nói phá ngã chấp là phá ngã giả tức cơ thể vật lý sinh học của bạn. Chẳng nói phá ngã rồi dùng cái chấp không của bạn suy diễn thành không có ngã. Lúc đầu, Phật dạy tiểu thừa Phật đã dạy các lẽ vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, về sau người ta chấp không, Phật dạy Thường Lạc Ngã Tịnh, tức là có Ngã.
      Nếu không ai tu, không ai chứng thì Phật và các tổ sư tu chi cho uổng? nói như thế chẳng khác nào ngoại đạo nói chết là hết, không còn gi.
      Bạn đã diễn giải Vô Tu Vô Chứng theo kiểu chấp không nên mới thành như thế, “Vô Tu” nghĩa là đã tu thành và vẫn tu mà không chấp mình tu và còn “Vô chứng” tức là đã chứng nhưng không chấp vào chứng đắc của mình theo trong kinh Kim Cang. Và cũng vì đã chứng nên không còn gì quả vị để chứng. chứ chẳng phải nói chẳng có chứng đắc. Giống như bạn đi đâu đó về nhà, thì khi đang đi về thì nói có nhà để về, về tới nhà thì không nói tui sẽ về nhà nữa, nhưng bạn có nhà và bạn đang ở trong nhà. Chẳng phải bạn về tới nhà rồi nói bạn không có nhà. Nếu bạn đang ở trong nhà mà nói bạn không có nhà, chắc bạn phải vào trại Tâm Thần Biên Hoà cho sớm!

  16. Bạn mới đúng là cái người chấp trước. Tôi chỉ nói trong tương đối thì có tu có chứng, đó là còn ngã chấp và pháp chấp. Còn trong tuyệt đối bất nhị thì mới vô tu vô chứng. Không cái gì là có thật cả. Người tu không được chấp Có cũng không được chấp Không.

    • bắt buộc nói:

      bất cứ gì bạn nói ra đều là vô với không thì là bất nhị cái gì?

      • Bậc Bồ Tát phá được ngã chấp và pháp chấp, có thần thông, có thể đi xuyên qua tường dễ dàng, tới trình độ đó mới có điều kiện để chấp không. Còn như bạn và tôi thì chỉ có khả năng chấp Có thôi, chứ chưa tới trình độ chấp không đâu. Nói gì thì nói vẫn là chấp Có.

  17. Cao An nói:

    Có một con ếch sống lâu ngày trong một giếng nọ. Xung quanh nó chỉ có vài con nhái, cua, ốc bé nhỏ. Từ dưới đáy giếng nhìn lên, ếch ta chỉ thấy một khoảng trời bé bằng cái vung. Nó nghĩ: Tất cả vũ trụ chỉ có vậy, vì thế ếch tự coi mình là chúa tể. Hằng ngày nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng, khiến các con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng chiếc vung và nó thì oai như một vị chúa tể.
    Một năm nọ, trời mưa to làm nước trong giếng dềnh lên, tràn bờ, đưa ếch ta ra ngoài. Quen thói cũ, ếch nhâng nháo nhìn lên trời, nó bỗng thấy cả một bầu trời rộng lớn hơn nhiều so với cái khoảng trời nó vẫn thấy. Ếch ta không tin và thấy bực bội vì điều đó. Để ra oai, nó cất tiếng kêu ồm ộp. Vị chúa tể hy vọng là sau những tiếng kêu của mình, mọi thứ phải trở lại như cũ. Nhưng bầu trời vẫn là bầu trời. Còn con ếch vì mải nhìn lên trời đã không chú ý đến xung quanh nên đã bị một con trâu đi qua dẫm bẹp.
    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    • Nguyễn Đăng Trí nói:

      Thiện tai, thiện tai !!! “Tất Cả Pháp Điều Là Phật Pháp”.
      Oh Cop Ai xem kìa, “Tâm Không Thi Đậu Về”.

  18. bắt buộc nói:

    bạn chấp gì có vậy? nói nghe thử coi?

  19. Bạn cần có nhà cửa để ở, xe cộ để di chuyển, thực phẩm để ăn, smartphone để liên lạc, không có không được tức là đã chấp có. Chứ như Bồ Tát Quán Thế Âm không chấp có thì đâu cần những thứ đó.

    • bắt buộc nói:

      Lậy bạn. tôi nói bạn chấp không thì bạn còn có một nữa công phu. Bạn càng nói thì tôi quán sát thấy bạn chấp ngoan không. có lẽ bạn cũng chẳng biết chấp ngoan không là gì. giờ nói ra thì bạn có thể rõ như bạn thì là chấp ngoan không. Còn nói về Phật và Bồ Tát thì bạn đừng lấy bạn ra làm chuẩn để suy diễn bồ tát chấp gì, cần gì. Nếu nói như bạn thì thì bạn coi thường Chư Phật và Bồ Tát rồi.

  20. lu nói:

    vì sao bác biết tất cả những thứ này nhưng bác vẫn khổ, vẫn bị trói buộc cơm áo gạo tiền, vẫn chưa giải thoát có phải giữa biết và giác ngộ là 1 khoảng cách mênh mông

    • Bạn khổ là vì tập khí (thói quen lâu đời) trói buộc. Càng hiểu sâu thì bạn càng ít khổ. Bà xã tôi gây ra nợ nần liên tục suốt mấy chục năm, tôi phải 3 lần bán nhà để trả nợ cho bả mà không cảm thấy khổ mấy.

  21. Sanh Y nói:

    Khổ !
    Khổ !
    Khổ !
    Đó là thực tại và ai cũng biết SANH, GIÀ, BỆNH, CHẾT là khổ !
    Và đó cũng là CHÂN LÝ thứ nhất trong TỨ DIỆU ĐẾ !
    Chúng ta không còn phải nghi ngờ, suy tư hay phải lăn tăn gì ở những thứ KHỔ này nữa !

    Dù là khổ ít, khổ nhiều, không cảm thấy khổ mấy,… thì vẫn là KHỔ !

    KHỔ trong Tâm, trong Thân là những loại khổ ai ai cũng cảm nhận được dù ít dù nhiều, dù sớm hay muộn.
    Vâng, câu hỏi đi tìm lời giải để hết khổ, diệt khổ và làm chủ SANH, GIÀ, BỆNH, CHẾT là điều mà chính Đức Phật khai sáng cho chúng ta. Còn chần chừ gì nữa mà chúng ta không thực hành theo pháp mà Ngài đã để lại.

    Thần thông biến hóa để làm gì chứ !?
    Đặc dị công năng hay gì gì nữa thì cũng giải quyết được gì chứ ?!

    Tôi quá tâm đắc điều này: chúng ta KHỔ là vì còn chấp THƯỜNG, chấp ĐOẠN. Và con đường TRUNG ĐẠO chính là giải pháp giúp chúng ta thoát ra vòng tròn luẩn quẩn của KHỔ. Và tất nhiên chính là phá tan 12 NHÂN DUYÊN chói buộc muôn loài bấy lâu. Ai hiểu thấu THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN theo đúng Chánh Pháp thì thời gian còn lại là để tu tập, thực hành để dần thoát khổ ít, thoát khổ nhiều và tận diệt khổ (làm chủ Nhân Quả).

    Còn đâu mà để tranh với cả luận loanh quanh chứ !

    Pháp của Phật là để HÀNH (thực hành, tu tập từng giây, từng phút,…) để rồi từng bước thấy kết quả ngay trên Thân, Tâm mỗi người. Và có lẽ, đây là câu trả lời tuyệt vời nhất cho bất kỳ ai đang có duyên thực sự với Chánh Phật Pháp !

    Xin tri ân nhiều đến bác Truyền Bình vì đã dày công soạn viết, chia sẻ nhiều bài hay. Nhờ có vậy mà đến khi gặp đúng Chánh Phật Pháp đã giúp Tôi thực sự hiểu cần phải làm gì cho hành trình tu tập Thân, Tâm của bản thân.

    Cảm ơn Bác nhiều !

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s