TẠI SAO NGƯỜI VÀ VẬT ĐỀU VÔ NGà?

Tác hại của chấp ngã

Chúng ta đều thấy rõ những tác hại vô cùng lớn của việc chấp ngã. Từ quan hệ giữa các cá nhân tới quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội, giữa các quốc gia, chấp ngã đều gây ra những hậu quả rất lớn.

Giữa các cá nhân thì có sự tranh giành tiền tài, của cải, danh vọng, địa vị, quyền lợi, người tình, người hôn phối…Trong gia đình thì anh chị em hiềm khích, tranh giành tài sản. Ngoài xã hội thì có sự va chạm quyền lợi giữa các cá nhân, các công ty, xí nghiệp, tập đoàn, hoặc mỗi người tìm kiếm lợi ích cho mình bất chấp thủ đoạn, chẳng hạn sản xuất thuốc giả, thức ăn giả mạo kém chất lượng, thậm chí độc hại, sản phẩm giả, hàng nhái. Sự tham nhũng, thối nát của các quan chức cầm quyền cũng chỉ vì chấp ngã. Giữa các quốc gia thì tranh giành địa vị, tài nguyên, năng lượng, lãnh thổ, biển đảo v.v…Và những cuộc chiến tranh tàn khốc xảy ra liên miên gây ra chết chóc, đau thương, loạn lạc, tị nạn…xưa cũng vậy mà nay cũng vậy.

Xưa thì chúng ta thấy phản ánh trong thi ca, văn học, tiểu thuyết. Chẳng hạn cuộc chiến tranh giữa nhà Kim và nhà Tống đã gây đau khổ cho con người, được phản ánh trong thi từ của nhà thơ Lý Thanh Chiếu đời Tống, chính bản thân bà phải chịu đau khổ, mất mát vì loạn lạc. Mà ngay cả nỗi đau khổ triền miên vô tận của thi nhân cũng là sự chấp ngã.

  1. Đệ Nhất Nữ Từ Nhân Đời Tống – Lý Thanh Chiếu – Tuý Hoa Âm- Việt dịch

Ngày nay thì cuộc chiến tranh Syria đã gây ra cái chết cho 400 ngàn người và hàng chục triệu người phải đi tị nạn. Sự tranh giành địa vị bá quyền giữa hai cường quốc Mỹ-Trung đang gây ra cuộc chiến tranh thương mại lớn nhất trong lịch sử thế giới, gây điêu đứng rất lớn cho công nhân lao động của cả hai quốc gia. Tại sao xảy ra chiến tranh thương mại ? Lý do bề ngoài là vì Mỹ muốn tái lập cân bằng về thương mại giữa hai quốc gia, bởi vì hiện nay theo như thực tế của năm 2017, Mỹ nhập siêu 375 tỷ USD do Mỹ xuất khẩu sang TQ 130 tỷ đô la trong khi nhập từ TQ là 505 tỷ đô la. Nhưng lý do thực sự là Mỹ lo sợ vì kế hoạch Made in China 2025, kế hoạch này có tham vọng phát triển tự chủ về công nghệ cao của TQ để tránh lệ thuộc vào nước ngoài nhất là Mỹ, và cuối cùng vượt qua Mỹ, đẩy Mỹ xuống vị trí số 2. Mỹ tất nhiên không cam chịu và muốn ngăn chặn sự phát triển của TQ, duy trì địa vị cường quốc số 1. Mỹ tạo ra chiến tranh thương mại để làm cho kinh tế TQ bị khủng hoảng, sụp đổ càng tốt. Đó cũng là sự chấp ngã của một nhà nước. Nhưng thực tế thì cái quyết định là lực lượng nghiên cứu và sản xuất của quốc gia do qui mô dân số và trình độ học vấn của đất nước cùng với sự sáng suốt và ổn định của nhà cầm quyền quyết định. Donald Trump muốn cho TQ sụp đổ, để không bao giờ có thể vượt qua Mỹ, nhưng khó đạt được kết quả bởi vì thực tế năm 2017, TQ xuất khẩu ra toàn thế giới 2315 tỷ USD, trong đó xuất sang Mỹ 505 tỷ chỉ chiếm 21,8% không đủ để làm TQ sụp đổ. Mỹ chẳng những có nguy cơ bị đẩy xuống vị trí số 2 trong một thời gian ngắn nữa, mà trong thời gian dài hơn, sẽ bị đẩy xuống vị trí số 3 do qui mô của dân số Ấn Độ cũng gấp 4 lần nước Mỹ. Nhà nước Mỹ vì thể diện quốc gia tức cái tôi của mình, không muốn chấp nhận, nhưng tình hình thực tế sớm muộn gì cũng xảy ra.

Tại sao chấp ngã ? Tại sao vô ngã ?  

Người đời vẫn luôn yên trí rằng kể từ lúc con người hình thành trong bụng mẹ thì đã có cái ngã rồi. Cái ngã đó lớn dần và được tất cả mọi người chấp nhận là có thật, nó kéo dài trong suốt cuộc đời cho đến khi nhắm mắt lìa đời, thậm chí là kéo dài mãi mãi, bởi vì thể xác dù đã tiêu tan nhưng danh tiếng vẫn còn. Có một số triết gia cũng nhận thấy tác hại của việc chấp ngã nên họ phát biểu rằng cái tôi là đáng ghét. Nhà triết học Blaise Pascal (1623-1662), nhà toán học, vật lý kiêm triết gia Pháp, nói : « Le moi est haïssable » (Cái tôi là đáng ghét).

Si le « moi est haïssable », c’est que le monde est peuplé de milliards de « moi » qui veulent chacun « se faire le centre de tout ». Il en résulte que « chaque moi est l’ennemi et voudrait être le tyran de tous les autres ». (chữ trong ngoặc kép là của Pascal)

Sở dĩ “cái tôi là đáng ghét”, đó là bởi vì thế giới đang có hàng tỷ “cái tôi”, những người từng muốn “làm  trung tâm của tất cả”. Kết quả là, “mỗi cái tôi là kẻ thù và có lẽ muốn trở thành bạo chúa của tất cả những người khác”.

Quan điểm của Pascal về cái tôi là : Pure illusion de l’imagination, le moi serait une passion abusant autrui autant que nous-mêmes. L’amour-propre pousse les hommes à paraître plutôt qu’à être, à rêver leur vie plutôt qu’à la vivre. (Thuần túy là ảo tưởng của trí tưởng tượng, cái tôi là niềm đam mê lợi dụng người khác cũng như lợi dụng chính mình. Lòng yêu bản ngã khiến những người đàn ông tỏ ra thế này thế nọ hơn là thực tế đang là, ước mơ về cuộc sống của họ hơn là sống thực tế).

Nhưng tại sao cái tôi chỉ thuần túy là tưởng tượng ? Về vấn đề này Phật giáo có câu trả lời rất rõ ràng và chính xác. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Kết luận này đã được chứng tỏ trong cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành năm 1982 tại Paris. Nó xác nhận rằng cuộc tranh cãi khoa học lớn nhất thế kỷ 20 giữa Niels Bohr và Albert Einstein đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Bohr.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Điều đó cũng hiển bày ý nghĩa mà kinh điển Phật giáo từ lâu đã nói rõ Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Như vậy có nghĩa là thân thể của chúng ta không có thật, chỉ là tâm tưởng tượng ra hạt quark, hạt electron và những hạt cơ bản của vật chất khác, rồi từ những hạt đó tiếp tục tưởng tượng thành nguyên tử, phân tử, chất sống hữu cơ, rồi tế bào sinh vật và cuối cùng là thân thể con người. Khi thân thể con người mà trung tâm là bộ não hoạt động thì phát sinh cảm giác: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc thân thể, ý thức, tư tưởng, tình cảm, ngôn ngữ, văn học, triết học, nghệ thuật, khoa học, công nghiệp, tin học v.v…

Tất cả những sự tưởng tượng này đã được Phật giáo tổng kết hết sức ngắn gọn chỉ trong 4 chữ Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰. Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination).

Phương Tây bây giờ cũng bắt đầu hiểu được khái niệm này, bằng chứng là khi ta gõ五蘊皆空 thì từ điển Translator của Microsoft dịch đúng là The five aggregates are empty trong khi đó thì từ điển Google Translate dịch cũng tương đối là Five elements are empty. (Nếu ta gõ Ngũ uẩn giai không bằng tiếng Việt thì cả hai từ điển đều không biết dịch đâu nhé)

Như vậy thì cái tôi từ thể xác cho tới tinh thần đều chỉ là sự tưởng tượng gán ghép của Mạt-na thức dựa trên cái cấu trúc ảo không có thật của các hạt cơ bản, tưởng tượng thành vật chất và sinh vật trong khi thực chất chỉ là sóng vô hình không phải vật chất, không có thực thể, cái đó Thiền gọi là vô thủy vô minh hay còn gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 pháp bất biến không sinh không diệt. Điều này đã được Niels Bohr vạch trần : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Nói rõ ràng hơn, các hạt quark, electron chỉ là những hạt ảo, nếu tách riêng, cô lập thì chúng không tồn tại, bản chất chúng chỉ là sóng vô hình không có thực thể, nhưng trong nhất niệm vô minh của chúng sinh thì sóng đó biến thành hạt vật chất. Hay nói rõ hơn nữa các hạt cơ bản chỉ tồn tại trong tâm, trong ý thức, trong tưởng tượng của con người chứ không phải là thực thể khách quan. Thí nghiệm hai khe hở đã xác nhận rõ ràng như vậy :

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Vũ trụ toàn ảnh

Lý thuyết khoa học về vũ trụ toàn ảnh (The holographic Universe) cũng nêu ý tưởng rằng vũ trụ mà con người đang sống cũng không có thật, đó chỉ là một ảo ảnh.

Giữa thế giới tin học và thế giới đời thường có sự tương đồng rất lớn. Điểm mấu chốt quan trọng nhất là dữ liệu không có tự tính, cụ thể là các con số của tin học không có tính chất đặc điểm gì cả, giống như các hạt cơ bản của vật chất vốn không có tính chất đặc trưng đặc điểm gì cả. Tất cả mọi tính chất đặc điểm là do thay thế từ một nguồn khác vào. Đối với cả hai thế giới, cái nguồn tính chất đặc trưng để thay thế là do tưởng tượng của con người. Con người có thể tưởng tượng ra bất cứ thứ gì và thay thế nó vào dữ liệu để tạo ra một thế giới hiện thực ảo hóa. Thế giới đời thường có nhiều tính năng phức tạp hơn tin học, như ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc và cần một cơ sở dữ liệu lớn hơn rất nhiều, bởi vì hiện tượng diễn ra trong không gian 3 chiều chứ không phải trên mặt phẳng 2 chiều như tin học. Đó là sự tương quan so sánh giữa diện tích và thể tích, ngoài ra độ phân giải của dữ liệu thông tin đời thường cũng phải rất lớn. Nhà khoa học Craig Hogan đã thử tính toán nhằm xác định bit thông tin của vũ trụ vạn vật đời thường như sau :

Theo lý thuyết của Hogan, mọi vật trong thế giới 3D (thế giới đời thường của chúng ta) đều có thể mã hóa trên một diện tích 2D ở độ phân giải Planck. Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất mà con người còn phân biệt được. Và những bit cơ bản của thông tin vũ trụ nằm trong kích cỡ Planck. Kích thước Planck là khoảng cách vật lý nhỏ nhất còn có ý nghĩa, dưới khoảng cách này thì con số chỉ còn là con số toán học vô nghĩa, nó vô nghĩa vì không còn tương ứng với một thực thể vật lý nào. Kích thước Planck là 10-33   (mười lũy thừa trừ 33) cm. Đó chính là kích thước của lượng tử (quantum). Từ kích thước Planck, ông tính ra diện tích Planck là 10-66 cm2 (mười lũy thừa trừ 66 centimét vuông). Một bit thông tin vũ trụ cần diện tích bằng 4 diện tích Planck.

Một bit thông tin vũ trụ chiếm diện tích bằng 4 diện tích Planck

Craig Hogan nói rằng khi dữ liệu được dựng lên thành không gian 3 chiều tức là đã tăng khoảng không gian lên gấp bội so với mặt phẳng 2 chiều, tạo ra một độ nhòe giống như khi chúng ta phóng một tấm ảnh lên quá lớn thì nó bị nhòe. Sự nhòe đó tạo ra tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise), tiếng ồn này đã được kiểm chứng, quả thực là có, cũng giống như việc người ta đã phát hiện được tàn tích của vụ nổ Big Bang.

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

Như vậy thuyết vũ trụ là số đã có cơ sở thực nghiệm. Mà vũ trụ là số tức nó phải là ảo. Vũ trụ đích thực là ảo thì không có gì phân biệt giữa thực và mộng. Sờ mó nắm bắt được, ngửi nếm ăn uống được, tiêu hóa tăng trưởng được, cũng không đảm bảo là thật, đó chỉ là sự đồng bộ giữa các giác quan mà thôi.

Và từ dữ liệu được mã hóa tức là biến thành con số trên mặt phẳng hai chiều, người ta sẽ có thể phóng hiện thành thế giới đời thường, thành cuộc sống thế gian. Đó chính là sự tương đồng đích thực giữa thế giới tin học và đời thường.

Thực hành phá ngã chấp

Nhất thiết pháp vô tự tính và Nhất thiết duy tâm tạo là hai mệnh đề cơ bản đã được khoa học chứng minh qua hai thí nghiệm : một của Alain Aspect tại Paris năm 1982 và cái kia là thí nghiệm về hai khe hở. Từ hai mệnh đề này có thể suy ra thế giới đời thường của chúng ta tức là vũ trụ vạn vật, chỉ là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng được lưu truyền qua nhiều đời nhiều kiếp, quá đỗi quen thuộc đến mức chúng ta tin chắc 100% rằng tưởng tượng đó là sự thật. Chúng ta không thể nào hoài nghi cái nhà mà mình đang ở, cái xe mà mình đang đi, cái thế giới mà mình đang sống, vợ con, chồng con, mà mình đang yêu thương… là không có thật. Vì người bình thường không có chút hoài nghi nào nên pháp môn tham thoại đầu của Tổ Sư Thiền đành phải gắng gượng nêu ra một số câu hỏi đầy nghi vấn rất khó hiểu để khiến hành giả phát sinh nghi tình. Chẳng hạn dưới đây là những câu thoại thông dụng :

  1. Khi chưa có trời đất, ta là cái gì ?
    2. Muôn pháp về một, một về chỗ nào ?
    3. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao ?
    4. Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ?
    5. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì ?

Hành giả chọn một câu trong số đó, câu nào dễ gợi nghi ngờ cho mình nhất để tham, mục đích là để phát sinh nghi tình rồi từ nghi tới ngộ, đi tới vô sinh pháp nhẫn tức là vô thủy vô minh, cả ngã và pháp đều không có thật, đó là kiến tánh, phát hiện cái ta mà mình yêu mến quý trọng xưa nay chỉ là cái ta giả, không có thực chất, tâm như hư không vô sở hữu mới chính thật là mình.

Cách thực hành tham thoại đầu thì dựa theo hướng dẫn của thầy Duy Lực như sau :

0050 Hướng dẫn tham Tổ Sư Thiền

Kết quả từ chỗ phá ngã chấp và pháp chấp

Hành giả có thể còn nhiều tập khí, điều đó đương nhiên thôi, tập quán chấp ngã chấp pháp trải qua nhiều đời nhiều kiếp không thể dễ dàng rũ sạch. Tuy nhiên nếu hiểu tính chất ảo hóa của ngã và pháp dù chỉ ở mức giải ngộ, chưa phải là chứng ngộ (chưa có thần thông, chưa có khả năng đi xuyên qua tường) nhưng cũng có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Ảnh hưởng đó như thế nào ?

Cuộc sống an tâm hơn, ít bị khủng hoảng vì sự vô thường của cuộc sống. Chẳng hạn khi bị mất mát về tài sản. Nếu cho rằng tài sản là thật thì sẽ vô cùng tiếc của, vô cùng bất an. Nếu mất mát quá lớn có thể dẫn đến thái độ tuyệt vọng. Nếu xảy ra mất mát về người thân yêu chẳng hạn do tai nạn. Nếu quá chấp thật, chẳng hạn một người mẹ mất liền một lúc hai đứa con thân yêu thì có thể phát điên, đó là điều đã từng xảy ra trong thực tế. Con người còn nhiều tập khí khó tránh khỏi tâm trạng đau buồn khi mất tài sản hay mất người thân, nhưng khi có hiểu biết về vô thường vô ngã thì mức độ đau buồn sẽ giảm đi rất nhiều.

Vô thường xảy ra rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Có những gia đình ở gần bờ sông, bỗng nhiên ngôi nhà sụp đổ hoàn toàn xuống sông. Có những gia đình ở vùng núi bị mưa lớn, đất sạt lở, nước cuốn trôi cả người và tài sản, gây mất mát chết chóc. Rồi những vụ tai nạn rớt máy bay, tai nạn giao thông, động đất, núi lửa, bão lụt xảy ra liên miên, chiến tranh bom đạn, tranh giành chẳng lúc nào ngừng. Rồi sinh lão bệnh tử, cảnh giới vật chất biến đổi vô thường không có gì là chắc chắn cả.

Khi không quá coi trọng cái tôi thì cuộc sống sẽ trở nên đơn giản hơn, bởi vì người ta sẽ không so sánh mình với người chung quanh nữa, từ đó sẽ bớt những đua đòi phù phiếm hơn thua với người. Mà chính những đua đòi đó là động lực khiến tham nhũng, bất công phát sinh, tệ nạn xã hội, cờ bạc, số đề, cá cược, trộm cắp, cướp bóc, cũng phát sinh. Người ta làm hàng giả, hàng nhái, hàng độc hại để hại người chẳng qua để làm giàu vì cái tôi và cái của tôi (tài sản, danh vọng v.v…). Người có tài thì dùng tài năng, người bất tài thì dùng đến mưu đồ đen tối hại người để kiếm lợi.

Mà cũng không phải bớt chấp ngã thì con người không còn chút bản sắc nào. Thật ra mỗi con người xuất hiện trên cõi đời là do cái nghiệp, chính nghiệp lực gọi là biệt nghiệp của mỗi cá nhân sẽ thúc đẩy người đó đi theo một con đường, một khuynh hướng có sẵn, làm những công việc không giống những người khác. Ví dụ khi chúng ta xem tiểu sử của các danh nhân thì thấy họ bị thôi thúc bởi những niềm đam mê mà người khác không thể hiểu nổi, họ làm nhiều điều gây lạ lùng cho người chung quanh và cuối cùng có sáng tạo mới. Điểm then chốt quan trọng là hiểu được ngũ uẩn giai không thì con người sẽ hành động theo sự sắp xếp của tâm chứ không theo vọng niệm của cá nhân. Sự việc đó bên Nho giáo gọi là chân nhân tức là con người thật, hiểu và làm theo mệnh trời. Còn bên Phật giáo gọi là tùy duyên, nhân duyên của mỗi người mỗi khác, do đó nói vô ngã là về mặt bản chất chứ thực tế mỗi cá nhân đều có những nét riêng khác người và bản chất đều là vọng tưởng, nhưng chúng ta đều cảm thấy rất thật, bởi vì vọng tưởng này là của mạt-na thức chứ không phải thuần túy là ý thức. Tức là vọng tưởng của mạt-na thức đi kèm với hiện thực vật chất.

Như vậy phá ngã chấp, phá pháp chấp, không phải là từ chối cuộc sống hay suốt ngày chỉ tụng kinh gõ mõ, niệm Phật, ngồi thiền. Hoàn toàn không phải như vậy. Chỉ là sống giác ngộ, bình an, an tâm, mỗi người tùy theo duyên nghiệp mà phát triển cuộc sống của chính mình, cứ theo đuổi đam mê sáng tạo của riêng mình, xây dựng xã hội sung túc, tốt đẹp, đại đồng, bình đẳng, mà không lo âu, không giành giật, không chiến tranh, không hận thù, không hại người. Thực tế con người sống trên đời chẳng khác gì diễn viên đóng kịch trên sân khấu, hoặc đóng phim trong điện ảnh.

Dân tộc, quốc tịch, chỉ là giả tạm 

Ngã và ngã sở cũng chỉ là giấc mộng nên quốc tịch của cá nhân không có thực chất. Chẳng hạn một người Mỹ có quốc tịch (nationality) Mỹ nhưng nguồn gốc của anh ta là từ Âu Châu chẳng hạn là người Anh, và tổ tiên xa nữa là người Đức hoặc người Pháp và xa xưa hơn nữa thì lại có gốc gác Châu Á. Điều này đã được nghiên cứu và phát biểu qua ngữ hệ Ấn-Âu.

Vào thế kỷ XVI, những người châu Âu đi đến tiểu lục địa Ấn Độ bắt đầu nhận ra những nét tương tự giữa các ngôn ngữ Ấn-Arya, Iran, và châu Âu. Năm 1583, nhà truyền giáo Dòng Tên người Anh Thomas Stephens tại Goa đã viết một lá thư cho người thân mà trong đó ông đề cập đến sự tương đồng giữa ngôn ngữ Ấn Độ (đặc biệt là tiếng Phạn- Sanskrit) với tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh. Filippo Sassetti, một nhà buôn sinh ra tại Florence năm 1540, cũng nhận thấy điều tương tự khi đi đến Ấn Độ. Năm 1585, ông ghi nhận một số sự tương đồng từ vựng giữa tiếng Phạn và tiếng Ý. Thomas Young lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ Indo-European (Ấn-Âu) năm 1813, dựa trên phân bố địa lý của hệ này: từ Tây Âu tới Bắc Ấn Độ.

Ngữ hệ Ấn-Âu (Indo- European) là một ngữ hệ lớn, gồm khoảng 445 ngôn ngữ còn tồn tại (theo ước tính của Ethnologue), với hơn hai phần ba (313) thuộc về nhánh Ấn-Iran. Những ngôn ngữ Ấn-Âu có số người bản ngữ lớn nhất là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Hindustan (tiếng Hindi và tiếng Urdu), tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Bengal, tiếng Nga, tiếng Ba Tư và tiếng Punjab, tất cả đều có trên 100 triệu người nói. Ngày nay, 46% dân số thế giới nói ít nhất một ngôn ngữ Ấn-Âu như tiếng mẹ đẻ, nhiều nhất trong tất cả ngữ hệ trên thế giới.

Ngữ hệ Ấn- Âu cho thấy nhiều dân tộc có chung nguồn gốc thể hiện qua ngôn ngữ. Như vậy nhiều dân tộc ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ có cùng tổ tiên, hay cùng văn hóa, đó là điều chắc chắn mà dấu vết còn tồn tại trong ngôn ngữ họ nói hiện nay.

Còn về mặt nhân chủng học, về tổ tiên xa xôi của loài người, có thuyết nói nguồn gốc loài người là ở Châu Phi, một giả thuyết mới hơn nói nguồn gốc loài người là từ Châu Âu, một giả thuyết khác nói loài người có nguồn gốc từ ngoài hành tinh. Nói chung là khi truy cứu sâu xa thì thấy rằng dân tộc, quốc tịch hoàn toàn chỉ là những khái niệm mê mờ, giả tạm, chẳng có gì xác thực cả. Trong lịch sử hàng trăm nghìn năm, con người đã hòa trộn huyết thống và từng nhóm người đi đến những vùng đất khác nhau, tạo ra những dân tộc khác nhau. Con người tự gán ghép cho mình một cái ngã, rồi một dân tộc, một quốc tịch để rồi đấu đá lẫn nhau không có cơ sở gì xác thực cả.

Kết luận  

Phật giáo nói Nhất thiết duy tâm tạo, tất cả là do tâm tưởng tượng ra bằng cả 18 giới (6 căn (organs) : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, bộ não- 6 trần- đối tượng của căn (organs’ objects) : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp- 6 thức (body’s functions): thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác thân thể, ý thức) Toàn bộ Tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) đều là do tâm tưởng tượng ra. Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, tất cả chúng sinh đều chung một tâm đó. Như vậy ý thức cá nhân chỉ là giả tạm do nghiệp ngụy tạo. Ngã và pháp đều không có thực chất và được diễn tả bằng thuật ngữ vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 (pháp bất biến không có sinh diệt = constant dharma no birth, no death).

Kể cả về hai phương diện Đạo và Đời, tiêu chuẩn để phân biệt chính tà được thầy Duy Lực khẳng định như sau : chấp ngã là tà, phá chấp ngã là chính. Người nào hành động vì cái tôi của mình bất cứ là về phương diện gì kể cả về mặt tu hành cũng đều là tà. Chẳng hạn thầy tu nhưng muốn Phật tử cúng dường cho nhiều, xây chùa cho to, dùng tiền của bá tánh cúng chùa để làm từ thiện, cho người này, cho người kia để họ theo mình, phô trương thanh thế của mình, cũng là tà đạo. Trong kinh Pháp Bảo Đàn có bài kệ :

世人若修道  Thế nhân nhược tu đạo      Người thế gian tu đạo

一切盡不妨  Nhất thiết tận bất phương  Không hại bất cứ ai

常見自己過  Thường kiến tự kỷ quá       Thường thấy lỗi của mình

于道即相當  Vu đạo tức tương đương    Như thế tức là đạo

Người tu đạo phá ngã chấp cũng tức là phá sự phân biệt ta và người, do đó chỉ thấy lỗi của mình, không thấy lỗi của người. Lỗi của người cũng là lỗi của mình bởi vì do mình phân biệt ta và người, đó là tà kiến của mình, không phải chánh kiến. Người với ta tuy hai mà một. Thầy Duy Lực đã thuyết như sau :

1217 Câu Thường kiến tự kỷ quá là nghĩa thế nào ?

Tóm lại ngã (cái tôi) là một khái niệm dựa trên sự mê muội của thức mà khi dùng trí bát nhã soi xét thì thấy không có gì là thật cả, do đó người tu đạo cần phải phá ngã chấp và phá ngã sở (cái của tôi) thì mới có thể giác ngộ, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Đi xa hơn nữa, hành giả còn phải phá pháp chấp (cho rằng thế giới vật chất và tinh thần, đạo lý, quy luật là có thật), như vậy sinh tử luân hồi không phải là sự thật khách quan, không phải luân hồi là có thật, hành giả tu đạo để thoát khỏi luân hồi, không phải vì luân hồi có sẵn, rồi mình thoát ra, mà tự chứng tỏ luân hồi không phải có thật, tam giới không phải có thật, thế gian không phải có thật, ngã cũng không mà pháp cũng không (vô sinh pháp nhẫn).

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

23 Responses to TẠI SAO NGƯỜI VÀ VẬT ĐỀU VÔ NGà?

  1. lại gì nữa nữa nói:

    Bảo là đi tới cảnh giới “vô thủy vô minh” là được kiến tánh, là chứng được vô sinh pháp nhẫn là tà kiến. Đừng nghĩ vô tâm(tức vô thủy vô minh) là đạo, vô tâm còn cách núi muôn trùng. Hay nói cách khác đây là “đầu sào trăm thước” cần tiến thêm một bước. Đây là cảnh giới “Vô Ký Không” hay “Vô Cực” của nho-đạo giáo. Mình đã đọc các bài trên blog Admin, tuy admin có nhiều hiểu biết nhưng lại bị vướng vào sự “giải ngộ ở cảnh giới này” tức cảnh giới: ngâm nước chết hay vô ký không. Hèn chi, admin đã có sự nhận định rằng ngoại đạo, nho giáo và phật giáo là giống nhau ở một số bài viết trên blog.

    • Phát biểu của bạn cho thấy bạn mang một thành kiến nào đó và chưa thật sự hiểu điều tôi muốn diễn đạt.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Admin sai rồi, minh đâu có biết admin là ai đâu mà mang thành kiến với ad. Admin bảo tới được “vô thủy vô minh” là chứng được vô sanh pháp nhẫn, là kiến tánh, là giác ngộ. Vậy là sai rồi, là tà kiến rồi. Không nói lạc đề nhé! Đã là “vô thủy VÔ MINH” thì sao gọi là Giác ngộ được. Nếu admin cứ cố chấp không muốn buông bỏ “Tà Kiến” của mình. Thì tui cũng chịu thua nhé, muốn giúp admin quay về chánh đạo cũng đành bất lực.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Chứng vô sanh pháp nhẫn, là chứng ngộ phấp thân không sanh, không diệt tức Phật tánh. Admin nên xem kỹ lại “Kinh Lăng Già” nhé hoặc ngữ lục của tổ sư đặc biệt là “Cội nguồn truyền thừa”. Giải ngộ hoặc chứng đến cảnh giới “vô thủy vô minh” tức Không Chấp. Cho cái gì cũng là không, cũng không cần, không quan tâm…. tóm lại là không, không, không…. Thì là nó đấy, là “Không Chấp” đấy. Mình muốn giúp admin nhận ra tà kiến thôi, chứ cớ sao lại có thành kiến để mà tranh luận để “dìm hàng” admin.

      • Thành kiến của bạn là hễ nghe nói phá ngã chấp, phá pháp chấp hoặc nói ngũ uẩn giai không, vậy là chấp không, vậy là lọt vào vô ký không. Đó chỉ là sự gán ghép thô thiển. Bạn luôn muốn chứng tỏ rằng bạn hiểu Phật pháp hơn tôi, đó là ngã tướng của bạn. Bạn không nhận ra rằng mọi lời nói, mọi diễn tả, các kinh điển, ngữ lục của chư Tổ chỉ là nhằm mục đích phá chấp, không phải tuyên thuyết một chân lý, không có nghĩa thật. Đừng quá cố chấp như vậy.

  2. lại gì nữa nữa nói:

    Sao bạn luôn nghĩ mình có “Thành Kiến” với bạn vậy. Mình đâu có để Tên hay Thông Tin gì về mình từ bình luận của mình đâu, để mọi người biết đến để được tán thán, khen ngợi. Mình chỉ e là một số “Tà Kiến” của bạn làm hại nhiều người mà thôi. Sao bạn luôn nói chuyện lạc đề vậy?
    Quay lại vấn đề chính “Vô Thủy Vô Minh” và “Vô sanh pháp nhẫn” đi.
    Khi bạn không đáp được các luận cứ mà mình đưa ra thì bạn nêu sửa lại một số “Tà Kiến” của bài viết để tránh làm hại cho người đọc.
    Còn bạn muốn tiếp tục giữ “Tà Kiến” của mình không chịu buông bỏ, “cứ nói chuyện lạc đề hoài” thì đành thôi vậy.

    • Rita nói:

      Tôi xin gởi lời bình luận với bạn: “lại gì nữa nữa”. Tôi có duyên lành biết đến và đọc hiểu rất nhiều bài viếc của Bác “Truyền Bình” ở blog này. Nếu Bác “Truyền Bình” kiểm tra và xét duyệt những bình luận của còn, duy nhất chỉ câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Hôm nay, con đọc được bài viết này của Bác lòng con hoan hỷ, không vì riêng con mà cho mọi người cùng duyên học đạo. Con phải nói ra chánh khiến của con, vì những lời bình luận của bạn “lại gì nữa nữa”, con phải nói ra để “còn người thấp – kẻ cao hiểu tròn.” Ai có duyên lành đã và đang theo dõi blog này – là duyên khó có trong đời thế gian. Bạn “lại gì nữa nữa”, đạo Phật là đạo phá chấp, Phật thuyết pháp bao năm không nhận một lời thuyết, kinh điển truyền thừa có nhiểu đổi thay. Đó là phương tiện, nguôn ngữ – văn tự, lịch sử, văn hoá, địa lý của từng vùng miền, lãnh thổ, quốc gia, khu vực… Bạn “lại gì nữa nữa” phải hiểu rằng làm gì có một pháp mảy may để mà tranh luận, còn ở đây tranh luận theo ngôn ngữ Phật Pháp thì thật sự rất là sai lệch. Bạn học Phật mà lại lấy Pháp Phật mâu thuẩn với Phương Tiện Phật Độ (nói rõ cho bạn và các bạn hữu đồng tu: Phương Tiện Phật Độ ở đây là: ngôn ngữ – Tông chỉ cho từng đối tượng, bộ – phái trong giáo hội Phật Giáo (GHPG) Việt Nam và GHPG Thế Giới Hiểu Tu – hướng theo Chánh Pháp). Bạn đã có duyên tìm đọc tới blog này, là đã có những thuận duyên – căn cơ học Phật rất lớn. Tôi có lời khuyên với bạn, về những gì bạn bình luận hãy tự suy xét lại từ “thân – căn – giác – giải (nghiệp thức) – trí – độ”. Đây là bài viết nói về sự vô ngã, thân – tâm bạn còn chấp ngã nên mới viết những lời bình luận như vậy, thử ai đọc đến nick name của bạn là: “lại gì nữa nữa”, cũng đã hiểu bạn đang còn chấp rất nhiều cho hiện tại và tương lai. Con nói tới đây là bình luận của con đã rất dài, con mong Bác “Truyền Bình” duyệt bình luận này của con. Bạn “lại gì nữa nữa” muốn vấn đáp hay chia sẽ điều gì con xin giải đáp và chia sẽ. Con phải viết bình luận này vì pháp tu này là pháp Phá Chấp – Pháp Tối Thượng Thừa, người mê – kẻ tỉnh cũng đều phải tu. Con không muốn người có duyên đọc được bài viết này, bị vướng bận bởi những lời chấp ngã. “Con đã hiểu đời này con chứng, nên con nói lời mình sẽ chia. Cho người đến – người đi có đọc, Pháp tu Thiền chẵng dễ hiểu thông. Thành tâm – chánh nguyện cho mình, tìm hiểu biết để rồi hiểu Pháp, Pháp Phật dạy muôn đời chẵng sai.

      Nam Mô A Di Đà Phật – Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
      Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát!

      Rita

      • Rất cám ơn bạn đã hiểu Duy Lực Thiền, cốt yếu là phá cái chấp thật của người đời khiến họ đau khổ chứ không phải tranh luận đúng sai. Bởi vì Phật giáo không có kiến lập chân lý. Phật đã thuyết pháp 49 năm rồi trước khi nhập diệt, Phật tuyên bố ta không có nói một chữ nào, vậy còn tranh cãi đúng sai để làm gì.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Rita nè! Con nên học hỏi thêm, để đủ khả năng bàn luận về những vấn đề này. Làm như thế là hổn hào đấy nhé!. Tuy nhiên, có ý tranh luận để phát triển thì cũng tốt thôi, nhưng con tuy nói nhiều, mà lại LẠC ĐỀ so với vấn đề đang được thảo luận ở đây rồi.

      • xk nói:

        #Rita nói chuyện với người lớn phải biết khiêm nhường là đạo đức cơ bản. Chổ người lớn đang bàn luận bạn vào ăn nói cho dài dòng, rồi chớt quớt, lạc đề. Con cái nhà ai mà mất dại quá.

    • Tôi biết bạn hay chấp vào lời nói. Vậy bạn hãy nói đi bạn hiểu Vô thủy vô minh là thế nào ? Tại sao Vô tâm do cách nhất trùng quan ? Hãy nói một cách khoa học và không quá 10 dòng.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Mình copy cái đoạn của bạn đây. Chổ sai của bạn là chổ in hoa.
        <>
        *** Vì sao sai? Vì ngã và Pháp đều Không là Không chấp, là vô thủy vô minh chớ chưa kiến tánh được nhé. Mình đưa Video trích trong Cội nguồn truyền thừa làm chứng cứ cho chổ sai của bạn vậy(Còn bạn bảo cội nguồn truyền thừa là ĐỒ GIẢ KHÔNG ĐỦ THUYẾT PHỤC – THÌ ĐÀNH BÓ TAY LUÔN).
        Còn bạn Rita nhá! Mình đồng ý là Admin của blog có nhiều hiểu biết về Phật Pháp và cũng chia sẻ những điều hữu ích. Tuy nhiên, có sai, có nhầm lẫn thì phải buông bỏ cái tôi thể diện để sửa chửa nhé. Bạn Rita viết nhiều quá nhưng bị lạc đề rồi. Vấn đền ở đây không nói đến chấp trước hay không chấp trước. Mà vấn đề chính là: “ĐI ĐẾN VÔ THỦY VÔ MINH MÀ CHO LÀ ĐƯỢC KIẾN TÁNH”

      • lại gì nữa nữa nói:

        Mình copy cái đoạn của bạn đây. Chổ sai của bạn là chổ in hoa.
        “Hành giả chọn một câu trong số đó, câu nào dễ gợi nghi ngờ cho mình nhất để tham, mục đích là để phát sinh nghi tình rồi từ nghi tới ngộ, DI TỚI VÔ SINH PHÁP NHẪN TỨC LÀ VÔ THỦY VÔ MINH, CẢ NGÃ VÀ PHÁP ĐỀU KHÔNG CÓ THẬT LÀ KIẾN TÁNH”
        *** Vì sao sai? Vì ngã và Pháp đều Không là Không chấp, là vô thủy vô minh chớ chưa kiến tánh được nhé. Mình đưa Video trích trong Cội nguồn truyền thừa làm chứng cứ cho chổ sai của bạn vậy(Còn bạn bảo cội nguồn truyền thừa là ĐỒ GIẢ KHÔNG ĐỦ THUYẾT PHỤC – THÌ ĐÀNH BÓ TAY LUÔN).
        Còn bạn Rita nhá! Mình đồng ý là Admin của blog có nhiều hiểu biết về Phật Pháp và cũng chia sẻ những điều hữu ích. Tuy nhiên, có sai, có nhầm lẫn thì phải buông bỏ cái tôi thể diện để sửa chửa nhé. Bạn Rita viết nhiều quá nhưng bị lạc đề rồi. Vấn đền ở đây không nói đến chấp trước hay không chấp trước. Mà vấn đề chính là: “ĐI ĐẾN VÔ THỦY VÔ MINH MÀ CHO LÀ ĐƯỢC KIẾN TÁNH”

  3. lại gì nữa nữa nói:

    Không nói chuyện vòng vo, lạc đề hoài cho mệt: Bạn đã bảo:
    “ĐI TỚI VÔ SINH PHÁP NHẪN TỨC LÀ VÔ THỦY VÔ MINH, CẢ NGÃ VÀ PHÁP ĐỀU KHÔNG CÓ THẬT LÀ KIẾN TÁNH”
    Mình chỉ xác nhận lại một chữ thôi không nói nhiều: ĐÚNG hay SAI

    • Thật đáng tiếc là có những lời lẽ bất nhã nhắm vào cá nhân. Đó là điều rất đáng tiếc, nên tránh. Bây giờ tôi nói lại Vô thủy vô minh là gì và tại sao Vô tâm do cách nhất trùng quan dưới cái nhìn khoa học.
      Vô thủy vô minh là tâm bản lai diện mục, nó vô hình, vô thể, vô dạng, không thể chứng minh là nó hiện hữu vì không có cách nào nắm bắt được, cũng không thể phủ định là nó không tồn tại vì nó là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Khoa học hình dung (tưởng tượng) nó là trường thống nhất (unified field) hoặc miền tần số (frequency domain) vì cho rằng nó có dạng sóng. Nó luôn có hai mặt đối lập : sóng vô hình (tánh không) và hạt cơ bản (vật chất) gọi là lưỡng tính sóng hạt. Thí nghiệm hai khe hở là thực nghiệm rõ nhất để hiểu về nó. Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có hai khe hở, phía sau là màn hứng. Nếu không có ai quan sát (vô tâm không có nhất niệm vô minh) thì màn hứng hiện ra nhiều vạch, chứng tỏ nó là sóng. Nếu có người quan sát thì màn hứng chỉ hiện ra hai vạch tương ứng với hai khe hở, chứng tỏ nó là hạt. Vậy vô tâm chưa phải là Đạo vì vật chất chưa xuất hiện, chưa có không gian, thời gian và số lượng, chưa có cuộc sống, chưa có công dụng. Chính nhất niệm vô minh tạo ra hạt cơ bản của vật chất, từ đó mới có vũ trụ vạn vật. Đó cũng là ý nghĩa của câu Nhất thiết duy tâm tạo. Hành giả không thể chấp Không, cũng không được chấp Có, vì hễ chấp là sai, chấp bất cứ cái gì cũng là sai.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Chú cũng hơn 80 tuổi rồi nên xưng hô là Chú vậy. Con không có thành kiến, hay muốn đã kích cá nhân với chú gì hết (người con Phật không nói dối).
        Bắn các hạt electrons qua tấm chắn có khe hở, khi không có người quan sát thì là dạng sóng tiềm năng, còn khi có người quan sát(Kiến, Văn, Giác, Tri) tác dụng của Vô Minh thì nó biến thành hạt, chứng tỏ là “Vọng Tâm” tạo ra các cảnh giới vật chất. Trường Thống nhất (unified field) hoặc miền tần số(frequency domain) ở đây đang nói đến là Vô Thủy Vô Minh, Bạch Tịnh Thức hay Alaya thức(đang ở trạng thái tiềm ẩn – từ vô thủy vô minh chưa phát khởi nhất niệm Vô Minh). Nói nhất thiết duy tâm tạo là nói “Vọng Tâm”(hay nhất niệm vô minh) tạo ra các cảnh giới vật chắc – Mà nguồn gốc của nó lại là Vô Thủy Vô Minh. Chứ Alaya thức ở dạng sóng electron tiềm năng(unfied field) chỉ là Vô Thủy Vô Minh khác với bản thể Giác Ngộ là Phật Tánh. Khi chú hỏi tiếp Phật tánh là gì? Thì con không biết trả lời. Vì theo, chư Tổ có nói(Phật Tánh chẳng thể chứng minh).
        Ngày nay, khoa học đã có thể đưa ra giả thuyết khá chính xác của Alaya thức ở trạng thái tiềm ẩn(hay Vô Thủy Vô Minh). Tuy nhiên, bộ não do vô minh làm chủ nên không thể nào vượt qua được Vô Thủy Vô Minh=> Kiến thức khoa học giúp chúng ta hiểu được các Pháp của thế gian, chứ không thể giúp ta chứng ngộ được=> Có thực hành các Pháp môn trong Phật Giáo thì mới chứng ngộ được.
        Lời kết: Do đó đi đến được Vô Thủy Vô Minh và được Kiến Tánh(giác ngộ Phật Tánh) là 2 chyện khác nhau. Con không có thành kiến, hay ghét chú gì hết nhé. Con cũng không biết chú cao tuổi đến vậy – nên chỉ nói chuyện cho giảng dị như bạn bè thôi.

      • Đả kích cá nhân với lời lẽ bất nhã, ý tôi muốn nói là có người đả kích bạn Rita như vậy. Bạn ấy cũng không biết chính xác tuổi của tôi, không phải ngoài 80, tôi chỉ mới 66 thôi.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Ai đó nói lời bất nhã với bạn #Rita là đều không nên, nên tránh thì hơn. Con không bênh vực ai, nhưng bị mắng cũng có ái lý ấy chứ(mong là được cho ăn vài gậy mà còn biết quay đầu).
        [Trả lời bạn #Rita]
        Nói về việc chấp trước hay không chấp trước trong Phật Giáo thì rất nhiều người hiểu lầm. Không chấp vào nhị nguyên(tức biên kiến: đúng-sai; có-không, âm-dương, cao-thấp; nhỏ-lớn…..) nhưng ấy chỉ là LỜI NÓI khác với việc được CHỨNG NHẬP. Nếu chưa chứng mà ai có cái suy nghĩ này thì rớt vào cái lối sống “MẶC KỆ”.
        Nếu không chấp vào Đúng & Sai => Sao phân biệt được chánh tà?
        Nếu không chấp vào Kinh điển => Làm sao biết được con đường tu tập?
        Còn đáng sai lầm hơn nữa là hiểu lầm KHÔNG CHẤP là chấp vào KHÔNG(cái họ hiểu là đối lập với chấp CÓ – trong tứ cú [CÓ, KHÔNG, CŨNG CÓ, CŨNG KHÔNG]).
        KHÔNG CHẤP ở đây là tu hành đã đến được Vô Thủy Vô Minh rồi(không phải chuyện dễ dàng đâu — nếu là Tham Thoại Đầu thì công phu đã đến được đầu sào trăm thước).
        ==> VIỆC NÓI KHÔNG CHẤP TRƯỚC(TỨC VÔ SỞ TRỤ) thì người chứng ngộ rồi mới được nói nhé — Còn phàm phu mà cứ phán không cần chấp Trước như Thánh bị người ta cười là phải rồi.
        ==> NÓI Ở MỨC ĐỘ VI TẾ HƠN cho bạn dễ hiểu. Khi bạn nổi lên 1 niệm thì đã có CHẤP TRƯỚC rồi. Bồ tát Di Lặc trong kinh có nói: “Ở Phàm Phu” trong thời gian một cái khảy móng tay có hơn 32 ức niệm(đương nhiên là kể cả các vọng niệm nhỏ nhiệm, vi tế mà ta không thể quán sát được, phàm phu chúng ta chỉ thấy được vài vọng niệm thô, “vô số ý niệm mà chúng ta không thể kiểm soát được – cái này cũng là do nghiệp ấy mà – nói ra thêm dài dòng”). “Những người có thực hành tham thiền hoặc quán chiếu nội tâm khi niệm Phật có thể thấu đạt được cái này”.
        Khi bạn tham thiền hoặc (niệm Phật đạt nhất tâm bất loạn) làm cho ngưng bật vọng tưởng(ngưng khoảng hơn 32 ức niệm trong thời gian 1 cái khảy móng tay) thì bạn sẽ “Trong không có thân Tâm; ngoài không có Vũ Trụ” (Ngã và Pháp đều Không) đến đây được gọi là Vô Thủy Vô Minh-Tức Không Chấp.
        ==> Tu hành đến mức độ này mà còn dính vào 1 cái chấp nữa là Không Chấp. Huống chi là ở Phàm Phu, mỗi cái khảy móng tay có hơn 32 ức chấp trước. Bạn bảo là không nên chấp vào cái này, cái nọ, đó có phải là vọng ngôn từ không?
        #Rita gặp nhau được âu cũng là cái duyên, nếu không có duyên thì nói nhiều cũng dư thừa. Chúng ta nên kết thúc cuộc tranh luận này sớm thôi vậy.

  4. Rita nói:

    Bạn “lại gì nữa nữa”, tôi không biết bạn là ai, bao nhiêu tuổi nên tôi dùng danh xưng bình đẳng là bạn và tôi. Còn với Bác “Truyền Bình”, tôi biết bác năm nay đã ngoài 80. Còn với bạn, với cách dùng từ và lời bình luận của bạn tôi cảm nhận được bạn.
    Bạn “xk”, có ý kiến thì hãy bình luận theo chánh kiến của bản thân, đừng bình luận như vậy. Điều đó không hay. Nói lời hay, góp ý đẹp – đừng nói theo người, nghe theo người. Bạn cũng đừng đánh giá, nhận định thiển cận như lời bình của bạn. Bạn biết tôi? biết ai ở đây là lớn là nhỏ mà bình luận như vậy? Phật dạy: “Chẵng có Thượng – Trung – Hạ Căn, tất cả chung sanh đều đồng một Tâm – Phật Tánh”. Bạn chẵng có căn cứ gì về tuổi tác mà nói tôi như vậy, chưa kể bạn lấy tuổi Sanh hay tuổi Tử để so sánh hơn – thấp? Lấy thức phàm hay thức thánh mà bàn luận? Phàm là phàm ăn tục nói, nói cho hay cho được. Thánh là nói cho đời, cho đạo.

    Vấn đề của bạn”lại gì nữa nữa” đang đề cập: ““ĐI TỚI VÔ SINH PHÁP NHẪN TỨC LÀ VÔ THỦY VÔ MINH, CẢ NGÃ VÀ PHÁP ĐỀU KHÔNG CÓ THẬT LÀ KIẾN TÁNH”. Nguyên câu của Bác “Truyền Bình” đã nói là: “Hành giả chọn một câu trong số đó, câu nào dễ gợi nghi ngờ cho mình nhất để tham, mục đích là để phát sinh nghi tình rồi từ nghi tới ngộ, đi tới vô sinh pháp nhẫn tức là vô thủy vô minh, cả ngã và pháp đều không có thật, đó là kiến tánh, phát hiện cái ta mà mình yêu mến quý trọng xưa nay chỉ là cái ta giả, không có thực chất, tâm như hư không vô sở hữu mới chính thật là mình.” Câu bạn nêu lại lời Bác “Truyền Bình” hoàn toàn khác nhau. Lời Bác là lời chia sẽ với mọi người là cách tham thiền, từ nghi đến ngộ y theo lời dạy của Tổ Sư Thiền và ở blog này là lời của Thầy Duy Lực. Bạn copy lại một phần câu sau đó bỏ mất dấu phẩy ngay câu này: “CẢ NGÃ VÀ PHÁP ĐỀU KHÔNG CÓ THẬT LÀ KIẾN TÁNH”.
    Copy đúng thì phải có dấu phẩy câu: “”CẢ NGÃ VÀ PHÁP ĐỀU KHÔNG CÓ THẬT, LÀ KIẾN TÁNH”. Ý câu hoàn toàn khác với ý bạn, đó là những quá trình, tham thiền – từ nghi – đến ngộ.
    Còn vấn đề bạn muốn tranh luận là: “Vô Thuỷ Vô Minh – Chưa Phải là Kiến Tánh” – vấn đề này có gì phải bàn cải. Ý Bác là đến giai đoạn này rồi sẽ kiến tánh. Bác dùng phương pháp liệt kê quy trình học tu theo từng dấu phẩy trong bài viết này. Bác cũng đã nói rõ vấn đề này trong nhiều bài viết trước chuyên sâu hơn. “Đầu Sào Trăm Thước” – “Tiểu Ngộ hay Đại Ngộ”. Tất cả cũng là lời nói – ngôn ngữ của các Tổ Sư Thiền truyền thừa, mọi chúng ta đều là phận đệ tử học theo, chưa Tu chua Hiểu – chưa Chứng chưa Đắc nên ở đây mới tranh luận như vậy.
    Tôi viết ra bình luận như vậy cũng vì bình luận của bạn. Bạn hãy đọc lại bình luận của mình, xem đó là Hảo Kiến hay Thành Kiến Chấp Ngã (Kiến Chấp). Vấn đề Chấp Kiến ở đây chẵng có gì hay mới, là ý mà ai cũng hiểu nếu đã học tu. Nói như Bác “Truyền Bình” cũng chẵng sai đâu, vì ngôn ngữ làm gì có đúng sai. Đến được “Vô Thuỷ Vô
    Minh” chẵng phải dễ dàng. Nhiều câu chuyện về Tổ Sư Thiền qua cơ xảo, các Tổ được đốn ngộ.
    Theo lời bạn nói: “Đừng nghĩ vô tâm(tức vô thủy vô minh) là đạo, vô tâm còn cách núi muôn trùng”
    Đó là theo chấp kiến của bạn, hoặc những người cùng mang tâm tưởng này. Thử hỏi đời nay, mấy ai dứt được niệm vô minh để quay về tâm thức vô thuỷ vô minh? Nhưng với những người có căn cơ lớn, có duyên với Phật Pháp từ vô lượng kiếp họ chứng ngộ theo cách của họ. Không phải theo ý niệm cứng nhắc của bất cứ bài Kinh – bài Kệ nào. Kinh-Kệ từ đâu ra bạn học tu bạn đã hiểu,
    bạn lấy Kinh-Kệ ra chứng Pháp là không thể.

    Vấn đề chính tôi muốn nói cho những ai đọc đến bài viết này là tự mình học tu, đến blog này và đọc được thật nhiều bài viết ở đây để làm nền tảng Phật học cho chính mình đã là một duyên lành.
    Phải có căn cơ học Phật, cũng như tri thức khoa học, xã hội nhất định. Từ mọi căn duyên của mỗi người, trên nền tảng này hãy “Chánh Tinh Tấn”, “Chia Sẽ và Biết ơn” đến những con nguời đang làm Phật Sự. Đóng góp một cách tích cực, khách quan để cùng nhau thông đạt Pháp Phật!

    Phật Pháp Vô Biên – Vô Ngôn Hữu Ý.

    • xk nói:

      #Rita bạn hiểu ý nghĩa của bình đẳng là gì không mà muốn nói gì thì nói vậy? Tôn trọng người lớn tuổi hơn là Đạo Đức là Đạo Đức, Đạo Đức cơ bản. Cái đạo đức cơ bản mà bạn còn không có nữa thì có nói nhiều thì tà kiến cũng càng nhiều mà thôi, nên khi nói chuyện với bạn chỉ thêm dư thừa. Trong bình luận của bạn còn có gợi ý khuyến khích Chú Truyền Bình “kiểm duyệt” bình luận. Chúng ta học Phật là để trao đổi việc đúng, hay sai. Chứ có ai vô đây mà bàn về chính trị, hay nói tục chửi thề đâu. Chẳng lẽ ai vô đây nêu lên ý kiến trái chiều với quan điểm của Chú Truyền Bình thì chặn bình luận lại à? Quan điểm của bạn cho thấy bạn là người bảo thủ, yêu quý cái tôi và chấp ngã. Tâm chấp ngã còn nặng nề, mà mở miệng ra nói không nên chấp, không nên chấp, không nên chấp…. THẬT LÀ LÀM TRÒ CƯỜI CHO KẺ KHÁC.
      Bạn vào đây ăn nói hồ đồ. Cả ngã và Pháp đều không là lọt vào không chấp. Không chấp cũng tức là vô thủy vô minh. Con gái phải biết ngoan ngoãn chứ kiểu như bạn chắc ế chồng. Ham nói cho nhiều rồi rốt cuộc CHỚT QUỚT.

  5. Diệp Tâm nói:

    Mọi thứ nhất định sẽ tỏ tường khi đến lúc, mọi tranh luận tự thoái trào. vì sao? vì tự đã hiểu đã rõ rồi thì không còn tranh luận, muốn tranh luận cũng không được! như người no cơm không thể ăn thêm dù một hột cơm. Khi đọc một dòng gì, bài viết gì tôi nghĩ chúng ta nên hiểu được xuất phát điểm, nơi đến của nó. Như ở diễn đàn này, tại sao bác Truyền Bình lại dùng các thí nghiệm khoa học để nêu lên tinh thần thiền? khoa học là khoa học, thiền là thiền nếu làm vậy sẽ phát sinh nhiều bất cập nếu đứng từ góc độ trực nhận sao? Con trẻ ngày nay lọt lòng là rơi vào hàng loạt các phạm trù duy vật, 12 năm đi học là sống dưới sắc màu khoa học, nên dùng khoa học mà nêu lên tinh thần thiền sẽ tạo cơ duyên rất lớn cho lớp trẻ. Ai có duyên từ cửa ngõ này sẽ tự đi tiếp và sẽ tự rời bỏ các phương tiện khi đến lúc thôi (như xe không thể qua sông, thuyền không thể lên cạn). Chứ mong cầu sự trực nhận thẳng thừng, ôi hỡi ơi, bao nhiêu ngàn năm mới có một đây?
    Các tổ nói lời ruột gan hòng phá chấp, nhưng quay lại chấp chính lời tổ nói thì ôi, tổ cạn lời…
    Ngày nào đó, nghe ngữ lục của các tổ mà như gió thổi qua vành tai chẳng mảy mai gì nhưng cũng không khinh suất gì, ta hiểu tổ như tổ hiểu ta… lòng thường rời các lo âu sợ chấp nhưng vẫn không khinh suất để sụp hầm. Các chấp thủ tự rời ta như ta và nó không chung đường cùng nhau…

    • lại gì nữa nữa nói:

      #Diệp Tâm bạn đã viết: “Ngày nào đó, nghe ngữ lục của các tổ mà như gió thổi qua vành tai chẳng mảy mai gì nhưng cũng không khinh suất gì, TA HIỂU TỔ NHƯ TỔ HIỂU TA… lòng thường rời các lo âu sợ chấp nhưng vẫn không khinh suất để sụp hầm. CÁC CHẤP THỦ TỰ RỜI TA NHƯ TA VÀ NÓ KHÔNG CHUNG ĐƯỜNG CÙNG NHAU…”
      Chắc bạn đã trực nhận lời của CHƯ TỔ và CHỨNG NGỘ rồi nhỉ?. Thôi ngay đi dùm tui cái kẻo mang nghiệp PHỈ BÁNG lờ củai Phật, lời của Tổ. Mình đọc comment của bạn mà không thể nhịn được cười. Có nhiều người như bạn chắc có lẽ Chí Tài và Hoài Linh bị thất nghiệp mất.

  6. ” khoa học là khoa học, thiền là thiền” lời nói này e là không đúng, Phật pháp là bất nhị mà. Thiền cũng là khoa học, khoa học cũng là thiền. Khoa học có những ví dụ rất hay để ngộ thiền. Ví dụ nguyên lý bất định của Heisenberg giúp ngộ Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm mà thí nghiệm liên kết lượng tử do Nicolas Gisin tiến hành năm 2008 và thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ rõ ràng.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s