THIÊN TAI DƯỚI GÓC NHÌN PHẬT PHÁP

Mô tả trận động đất và sóng thần tại Indonesia 2018

Ngày 28/09/2018 một thảm họa kép bao gồm động đất và sóng thần đã giáng xuống đảo Sulawesi, Indonesia, thành phố Palu chịu thiệt hại nặng nhất vì nằm ven biển.

Vị trí xảy ra động đất tại vùng Trung Sulawesi

Động đất tại thành phố Palu, Indonesia ngày 28/09/2018 

Tin tức nói nhiều người bị kẹt trong các đống đổ nát của các tòa nhà bị sập trong trận động đất 7.5 độ richter. Các thống kê ban đầu cho thấy thảm họa kép động đất và sóng thần tại miền trung đảo Sulawesi cuối tháng 9-2018 đã phá hủy tổng cộng hơn 15.000 căn nhà, hơn 79.000 người đã bị đẩy vào cảnh màn trời chiếu đất.

Rồi cơn sóng thần đã ập vào vịnh hẹp và dòng bùn chôn lấp hoàn toàn những làng mạc và cư dân. Theo số liệu chính thức của Cơ quan quản lý thiên tai quốc gia Indonesia tính đến chiều ngày 16-10-2018, thảm họa động đất và sóng thần ở đảo Sulawesi đã cướp đi sinh mạng của 2.096 người, làm 10.679 người bị thương, trong đó có 2.549 người bị thương nặng và hiện vẫn còn 680 nạn nhân mất tích. Tổng cộng hơn 79.000 người phải di dời tại 112 điểm, trong khi 8.731 người đã di dời ra ngoài khu vực Miền Trung Sulawesi.

Thành phố Palu là khu vực có số người chết cao nhất vì nằm ven biển. Toàn bộ vịnh đã bị tấn công bởi sóng thần với chiều cao 2,2 – 6m và vào sâu khoảng 500m tính từ bờ biển.

Một điều khá kỳ lạ, tại nhiều khu vực chịu ảnh hưởng của thảm họa kép động đất, sóng thần ở Indonesia, mặt đất giờ đây nhìn giống như chất lỏng, Express dẫn lời một số nhân chứng miêu tả. Giới chuyên gia gọi đây là hiện tượng “đất hóa lỏng”, xảy ra khi đất bị bão hòa bởi nước và chịu sức ép do chuyển động đột ngột như rung chấn từ động đất.

Nền đất lúc này mất đi sức chịu lực và độ cứng, thể hiện đặc tính giống như nước. Hiện tượng hóa lỏng đất có thể gây nguy hiểm. Trong những trận động đất, xe hơi, mặt đường và thậm chí các tòa nhà có thể bị hút xuống dưới lớp đất nền.

“Nếu sự việc được cảnh báo sớm 10 phút thì hậu quả đã rất khác” – đó là nhận định của rất nhiều chuyên gia khi những người dân ở thành phố này hoàn toàn không được cảnh báo sớm về động đất và sóng thần.

Người dân thành phố này khẳng định, họ không hề biết một thông báo hay tín hiệu nào cả, sóng thần tới họ nhìn bằng mắt thường và hét lên cho nhau cùng chạy trốn. Thậm chí một buổi lễ vẫn diễn ra tại bờ biển khi sóng thần ập tới vào xẩm tối 28/9.

Nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương, Indonesia là quốc gia thường xuyên phải đối mặt với các trận động đất nhưng hệ thống cảnh báo sớm của quốc gia này lại hoạt động kém hiệu quả, nhiều thiết bị cảnh báo sóng thần không hoạt động, một số thiết bị lại cho kết quả sai. Năm 2004, một trận động đất và sóng thần khác đổ vào Aceh, đảo Sumatra khiến 230.000 người thiệt mạng. 14 năm trôi qua, những kinh nghiệm để ứng phó với động đất và sóng thần của Indonesia vẫn chưa hề được tích luỹ và chưa ứng phó hữu hiệu.

Giải thích động đất theo khoa học

Mỗi năm trên Trái đất có chừng 500.000 đến 1 triệu vụ rung chấn địa chất do các dụng cụ đo lường phát hiện được, trong đó có chừng 100.000 vụ có thể làm rung rinh ngôi nhà, nghiêng đảo một chậu nước, mà ta cảm nhận được gọi là động đất và 100 vụ gây hại thực sự.

Sóng thần chủ yếu là động đất dưới biển, nhiều khi không có ảnh hưởng gì lớn (trừ một số trận rất khủng khiếp) nên ít được chú ý hơn nhưng lại gây ra chết chóc rất lờn.

Lịch sử ghi lại nhiều trận động đất và sóng thần nghiêm trọng. Theo thống kê, nếu coi thiệt hại về người là sự đánh giá thì trận động đất lớn nhất xảy ra ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) năm 2006 có 379.484 người chết. Trận sóng thần lớn nhất là trận sóng thần Ấn Độ dương, ngày 26-12-2004 làm chết đến 230.000 người (riêng Inđonexia 168.000 người).

Kênh CNN (Mỹ) dẫn lời nhà khí tượng học Allison Chinchar cho biết: “Kiến tạo mảng và Vành đai lửa là nguyên nhân chính khiến Indonesia thường xảy ra động đất và phun trào núi lửa”.

Indonesia thường phải hứng chịu động đất bởi quốc gia vạn đảo này nằm trên “Vành đai Lửa” – cung núi lửa và các đường đứt gãy ở lòng chảo Thái Bình Dương. Khu vực này có hình dạng tựa như chiếc giày trải dài trên diện tích 40.000 km2 nơi xảy ra đa số các vụ động đất trên thế giới.

Vành đai lửa Thái Bình Dương

Một trong những khu vực thường xảy ra động đất nhất trên thế giới nằm trên diện tích trải dài từ Nhật Bản, Indonesia “vượt biển” tới California và Nam Mỹ.

Trong những tháng gần đây, Indonesia đã chịu nhiều trận động đất là minh chứng cho thấy vị trí tiềm ẩn nhiều nguy hiểm của quốc gia này.

Riêng tại đảo du lịch Lombok, khi người dân trong quá trình phục hồi sau trận động đất 6,4 độ richter xảy ra tháng 7 khiến 15 người thiệt mạng thì vào ngày 5/8 một trận động đất 6,9 độ richter lại ập đến nơi này khiến hơn 400 người thiệt mạng.

Gần đây nhất, trận động đất mạnh 7,5 độ richter đã xảy ra tại đảo Sulawesi ở Indonesia vào chiều 28/9, kéo theo sau đó là sóng thần cao tới 6m khiến cho hơn 2000 người thiệt mạng.

Vậy động đất hay địa chấn là sự rung chuyển trên bề mặt Trái Đất do kết quả của sự giải phóng năng lượng bất ngờ ở lớp vỏ Trái Đất và phát sinh ra Sóng địa chấn. Nguyên nhân của động đất do :

Nội sinh: Do vận động kiến tạo của các mảng kiến tạo trong vỏ Trái Đất, dẫn đến các hoạt động đứt gãy và/hoặc phun trào núi lửa ở các mảng lục địa liên quan đến vận động của các lớp và khối của Trái Đất. Tuy rất chậm, các lớp vỏ và mảng trong lòng Trái Đất vẫn luôn chuyển động. Khi chúng va vào nhau nếu xung lực lớn hơn sức chịu đựng của thể chất Trái Đất thì sự đứt gãy diễn ra, giải phóng năng lượng và xảy ra động đất. Nếu động đất xảy ra dưới đáy biển hoặc núi lửa dưới đáy biển phun trào thì có thể gây ra sóng thần tràn vào bờ cuốn trôi nhà cửa và sinh vật.

Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Thiên thạch, các vụ trượt lở đất đá với khối lượng khổng lồ do mưa lớn.

Nhân tạo : Hoạt động của con người gồm cả gây chấn động không chủ ý và các kích động có chủ ý trong khảo sát hoặc trong khai thác hay xây dựng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lòng đất.

Thiên tai dưới góc nhìn Phật pháp

Các nhà khoa học chỉ giải thích nguyên nhân thiên tai, động đất, sóng thần, theo quan điểm duy vật khách quan. Quan điểm này tuy rất gần gũi thực tế theo quan niệm phổ biến của con người nhưng không hoàn toàn đầy đủ. Chẳng hạn cấu tạo của các mảng địa chất trong lớp vỏ Trái Đất hay vành đai lửa Thái Bình Dương là rất rõ ràng, toàn thể nhân loại trên địa cầu đều thấy giống nhau như vậy. Nhưng nếu truy xét thật sâu xa về nguồn gốc, thì chúng ta sẽ không tìm thấy được nguyên nhân đầu tiên. Chẳng hạn :

– Nguyên nhân nào khiến phát sinh ra vật chất, tại sao vật chất không bền vững. Tại sao lớp vỏ trái đất giống như chiếc bè mong manh bồng bềnh trên khối dung nham nóng chảy là hỏa quyển, cấu tạo như vậy quả thật là không bền vững chút nào.

– Tại sao có các mảng cấu tạo địa chất và tại sao chúng lại di chuyển va chạm vào nhau, trượt lên nhau phát sinh ra động đất.

Khoa học dường như không thể giải thích được những nguyên nhân cơ bản đầu tiên đó, họ cho rằng quả địa cầu có cấu tạo tự nhiên như vậy, họ chỉ nhận thức và mô tả thôi chứ không có khả năng thay đổi cấu trúc địa cầu cho bền vững hơn. Tốt lắm là họ chỉ có khả năng dự báo trước khi động đất hay sóng thần xảy ra trong một thời gian rất ngắn để hy vọng dân chúng kịp thời di cư lánh nạn. Nhưng trong thực tế, như cuộc động đất ngày 28-09-2018 tại Sulawesi đã chỉ ra, các thiết bị dự báo sóng thần đã không hoạt động hoặc hoạt động không tốt, dự báo sai khiến cho dân chúng không kịp di tản lánh nạn, làm cho hàng ngàn người thiệt mạng. Chính quyền không hề có dự báo gì trước khi động đất xảy ra, mặc dù Indonesia đã từng bị trận động đất sóng thần kinh khủng làm chết hàng trăm ngàn người năm 2004, họ đã không rút được kinh nghiệm.

Vậy Phật pháp trả lời thế nào cho các câu hỏi cơ bản nêu trên ?

Thứ nhất, nguyên nhân nào phát sinh vật chất và tại sao vật chất không bền vững ? Đức Phật đã chứng ngộ và thuyết giảng vật chất phát sinh như thế nào. Nguyên lý cơ bản của vũ trụ vạn vật được trình bày trong Kinh Hoa Nghiêm : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì, chẳng hạn không có sẵn vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Kết luận này đã được chứng tỏ trong cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành năm 1982 tại Paris. Nó xác nhận rằng cuộc tranh cãi khoa học lớn nhất thế kỷ 20 giữa Niels Bohr và Albert Einstein đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Bohr. Như vậy không có cái gọi là duy vật khách quan bởi vì vật không có thật, các hạt cơ bản của vật chất chỉ là hạt ảo. Điều này đã được Niels Bohr nêu rõ : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Nói rõ ràng hơn, các hạt quark, electron chỉ là những hạt ảo, nếu tách riêng, cô lập thì chúng không tồn tại, bản chất chúng chỉ là sóng vô hình không có thực thể, nhưng trong nhất niệm vô minh của chúng sinh thì sóng đó biến thành hạt vật chất. Hay nói rõ hơn nữa các hạt cơ bản chỉ tồn tại trong tâm, trong ý thức, trong tưởng tượng của con người chứ không phải là thực thể khách quan. Thí nghiệm hai khe hở đã xác nhận rõ ràng như vậy :

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Thí nghiệm hai khe hở chứng tỏ rằng chính nhất niệm vô minh của con người đã biến sóng tiềm năng vô hình phi vật chất thành hạt cơ bản của vật chất và từ những hạt cơ bản đó mới cấu tạo thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, vũ trụ vạn vật. Thế nghĩa là thế giới vật chất và tinh thần đều là do tâm tạo. (一切唯心造  Nhất thiết duy tâm tạo, Kinh Hoa Nghiêm). Giáo lý cơ bản nhất của Phật pháp là Tánh Không : Ngũ Uẩn Giai Không, tất cả hiện tượng, sự vật trên thế gian đều không có thực thể, chỉ là biểu hiện ảo hóa của tánh không mà thôi.

117 Bài Ca Tánh Không – Huệ Phổ Pháp Sư – Việt dịch  

Chính vì vật chất là sản phẩm của tâm tạo, nó lung linh ảo hóa biến đổi vô chừng nên không thể hy vọng là vật chất bền vững dù nó có khối lượng rất to lớn như mặt trời hay trái đất, cố thể vật chất do tâm tạo không thể bền vững, nó chỉ tạm ổn định một cách tương đối mà thôi.

Trong bộ kinh Thành Duy Thức Luận của đại sư Huyền Trang biên dịch có tổng kết một câu vô cùng ý nghĩa : (Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức 三界唯心萬法唯識) có nghĩa là ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới đều là tâm, tất cả các pháp đều là thức. Thức tức là phân biệt, nhận thức, là biết (tri 知) cả chủ thể (năng tri, subject) và đối tượng (sở tri, object) cũng đều là thức, kinh điển gọi là Chánh biến tri. Tin học ngày nay gọi là thông tin (information). Toàn bộ vũ trụ vạn vật đều là thông tin, thuật ngữ khoa học gọi là Vũ trụ toàn ảnh (Holographic Universe).

Sở dĩ con người ngày nay lâm vào bế tắc vô phương giải quyết chính là vì con người mê muội, cứ mãi kiên cố nắm giữ Cái Ta (Ngã ) và Cái Của Ta (Ngã Sở cũng tức là Pháp). Chính hai thứ khái niệm đó là nguyên nhân của tất cả mọi thảm họa kể cả thiên tai như động đất, sóng thần, bão tố, lụt lội, núi lửa; kể cả nhân họa là những thảm cảnh chiến tranh, khủng bố, bạo lực, hàng triệu người phải di cư, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ quê hương xóm làng đi tha phương cầu thực. Ai vẫn còn mang nặng tâm chấp ngã, chấp pháp thì phải chịu trách nhiệm về tất cả những tai ương đó.

Tại sao như vậy ? Bởi vì những người chấp ngã và chấp pháp, nói chung là chấp thật, hành động lấy mình là trung tâm, làm sao có lợi cho mình, vun quén cho ngã sở ngày càng phình to, vơ vét cái của người khác, của sinh vật khác để phục vụ cho cuộc sống của mình. Họ giết hại sinh vật để cho mình ăn ngon mặc đẹp, có những món trang trí quý giá như ngà voi, sừng tê. Trên phạm vi quốc gia, họ trở thành những nước đế quốc hoạt động xâm chiếm lật đổ, gây ra những cuộc chiến tranh, cướp đoạt tài nguyên của nước khác.

Tâm của chúng sinh tạo ra những sự vật lung linh huyễn ảo, không có gì là chắc chắn vững bền cả. Tuy nhiên vật chất lại có một mức độ ổn định tương đối, ví dụ một dãy núi, một con sông, nhìn chung trong hàng ngàn năm có vẻ không thay đổi nhiều lắm. Nhưng quan sát ở cự ly gần hơn thì có sự thay đổi rất lớn. Thí dụ núi trẻ thì cao nhọn, núi già thì thấp tù vì bị gió mưa bào mòn và sạt lở. Những sinh vật, người dân sống trên sườn núi hàng năm đều có thể bị tai nạn do sạt lở núi. Những con sông cũng thế, có thể dần dần thay đổi dòng chảy, những chỗ cong, khúc uốn có thể biến thành hồ. Dòng nước cuốn trôi bùn đất và gây ra sạt lở làm cho nhà cửa sụp đổ xuống. Có khi nước sông dâng cao gây ra lụt lội. Những con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử, Mekong đều có gây ra những cảnh lụt lội kinh hoàng ở những vùng đất trũng. Bờ biển cũng bị sóng đánh sạt lở ăn sâu vào đất liền. Có những thời kỳ biển tiến, nước biển dâng làm chìm ngập một phần đất liền. Có những thời kỳ biển thoái, nước biển rút ra xa để lộ ra những bãi bồi. Người xưa gọi sự biến đổi đó là thương hải biến tang điền沧海变桑田 (biển xanh biến thành ruộng dâu) hoặc tang điền biến thương hải桑田变沧海 (ruộng dâu biến thành biển xanh), tiếng Việt gọi tắt là cuộc bể dâu. Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu :

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Con người đau khổ vì sự thay đổi khiến cho chạnh lòng, chẳng hạn trong bài Giang Thượng Ngâm của Lý Bạch :

屈平詞賦懸日月 Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt  Thơ phú Khuất Nguyên soi trời đất

楚王臺榭空山丘 Sở Vương đài tạ không sơn khâu          Vua Sở lâu đài biến núi hoang

Tệ hại hơn, sự thay đổi dữ dội tạo ra tai họa khủng khiếp như động đất, sóng thần, bão lụt mà chúng ta đã mô tả ở phần trên.

Cấu tạo mong manh của vỏ trái đất, các mảng địa chất di chuyển va chạm nhau, trượt lên nhau sẵn sàng gây tai họa động đất, sóng thần, là do cộng nghiệp của cư dân. Đó là cơ chế do tâm bất an tạo ra. Tâm bất an, tâm có chứa nhiều ác nghiệp sẽ chiêu cảm các sinh linh tụ tập về đó để chịu nghiệp báo. Những người có nghiệp động đất, sóng thần hay thiên tai sẽ sinh ra tại nơi có vành đai lửa Thái Bình Dương hoặc những nơi có nhiều nguy cơ xảy ra động đất. Hoặc có những cơ duyên xui khiến họ đến định cư ở những vùng đất xấu đó. Còn những người có nghiệp lành thì sẽ sinh ở những nơi đất lành hoặc cơ duyên xui khiến họ đến vùng đất lành.

Khoa học chỉ đề cập đến những nguyên nhân thuộc về vật chất, còn những nguyên nhân thuộc về tâm linh thì khoa học cảm thấy dường như không có liên hệ, chẳng hạn nghiệp lực có ảnh hưởng thế nào tới thiên tai thì không thể truy xét được.

Giữa vật chất và tinh thần, liệu có tác động lẫn nhau không ? Về phương diện y học và sinh lý cơ thể người ta thấy rõ ràng là có. Trạng thái tinh thần có ảnh hưởng tới cơ bắp. Trong một trận bóng đá, khi một đội ghi được bàn thắng thì tinh thần toàn đội sẽ hưng phấn và có thể đá hay hẳn lên. Trái lại nếu một đội bị thua liên tiếp vài ba bàn thì tinh thần sa sút và có thể bị vỡ trận, tiếp tục thua đậm.

Trong y học có khi người ta sử dụng liệu pháp giả dược, thuốc không thực sự chứa hoạt chất có tác dụng, không có chất thuốc gì đặc biệt cả, nhưng do bệnh nhân tin tưởng nên vẫn có thể lành bệnh. Chính sự tin tưởng sinh ra tác dụng. Được biết, trong một cuộc nghiên cứu kéo dài trong 6 tháng về cách chữa trị chứng trầm cảm, một loại thảo dược chỉ có tác dụng làm giảm 24% các ca bệnh trầm cảm mức độ vừa. Trong khi đó giả dược lại cải thiện được tình trạng cho khoảng 32% đối tượng.

Tại Việt Nam có một thầy thuốc chữa bệnh bằng tâm linh, đó là cụ Nguyễn Đức Cần còn gọi là cụ Trưởng Cần.

Cụ Nguyễn Đức Cần (trái)

Cụ dùng một phương pháp chữa bệnh rất đặc biệt của một người thầy thuốc, không dùng thuốc, chữa bệnh từ xa, chữa bằng nước trắng…. Nhiều người cho rằng, nó huyền bí không thể hiểu được vì nó xa lạ với các quy luật vật lý thông thường. Cách chữa bệnh của cụ so với cách chữa bệnh của một số vị thiền sư đạt đạo trong Phật giáo có sự tương đồng. Ở thời của cụ, Phật giáo được rất ít người biết đến nên nhiều người cho rằng, phương pháp chữa bệnh đó là bịp bợm, dùng bùa ngải, yêu thuật chữa bệnh…

Ngày nay, Phật giáo đã được truyền bá sâu rộng, các giáo lý Nhà Phật ngày càng  được khoa học chứng minh sự chính xác, tính thực tiễn của nó. Sự uyên thâm, vi diệu, bất khả tư nghì trong các Kinh, Chú của các đức Phật đã được thể hiện qua một số năng lực  thần thông của các vị thiền sư cũng như của một số nhân vật đặc dị công năng.  Cụ Nguyễn Đức Cần sinh ngày 29-12-1909 (Kỷ Dậu) ở thôn Đại Yên – Ngọc Hà – Quận Ba Đình – Hà Nội. Cụ là người có học vấn khá, thông thạo tiếng Pháp. Cụ hoạt động cách mạng trước năm 1945. Đã từng là đại đội trưởng đội Lam Sơn, bảo vệ Hà Nội sau ngày toàn quốc kháng chiến.

Các cụ già trong làng kể lại rằng, khi bà cụ Khế (Hoàng Thị Khế – mẫu thân ) sinh người con trai thứ năm vào đêm 30 tết thì đêm hôm ấy  bỗng trời sáng trưng như có trăng rằm. Phải chăng đó là một điềm lành báo rằng có một bậc kỳ tài xuất thế để giúp đời. Khi cha của cụ là cụ ông Nguyễn Đức Nhuận bị bệnh có khối u to bằng quả trứng ở vùng bụng, đã được một vị thầy về làng chữa khỏi. Cụ bà Khế đã cho cậu Nguyễn Đức Cần theo học cách trị bệnh với vị thầy đó. Từ những năm 1940 cụ Trưởng Cần đã bắt đầu chữa bệnh giúp cho nhiều người. Lúc đầu chữa trị cho những người trong họ tộc thân quen về sau cụ bắt đầu nhận chữa rộng rãi cho nhiều người.

Phương pháp chữa bệnh của cụ rất đặc biệt, người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân đến gặp cụ, nếu được cụ nhận lời, cụ sẽ cho một mảnh giấy có chữ ký của cụ mang về. Cụ chữa bệnh bằng nước trắng, dùng giấy có chữ ký  đốt hoặc dán lên chỗ đau. Cụ chữa bệnh không dùng thuốc và có thể chữa bệnh từ xa. Cụ chữa nhiều loại bệnh như: điên, ung thư, đau dạ dày, sơ gan cổ trướng, máu trắng, thấp khớp, câm điếc, liệt  tay,  hen. Cụ chữa bệnh không những không lấy tiền mà cụ còn giúp bệnh nhân thấy được những lỗi lầm của họ để sửa tính nết và giảm bệnh tật.

Ngày 13-7-21983, cụ Trưởng Cần đã mất đi trong sự tiếc thương vô hạn của nhiều người. Một cái chết nhẹ nhàng, bình thản mà cụ đã biết trước đó nhiều ngày. Theo nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải, cũng giống như những năng lực, khả năng của các nhà ngoại cảm, phương cách chữa bệnh của cụ Trưởng Cần nếu dùng khoa học để giải thích thì mãi mãi sẽ không giải thích được. Không thể dùng quy luật vật chất để giải thích quy luật về tâm linh. Cũng như không thể dùng trí tuệ hữu hạn mắt thường nhìn thấy để giải thích cái vô hạn của tam giới.

Các nhà đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý rõ ràng là có thể dùng tâm linh tác động tới vật chất. Chẳng hạn Trương Bảo Thắng có thể dùng sức mạnh tinh thần phục nguyên bức tranh đã bị ông xé nát vo tròn và ngâm nước. Hầu Hi Quý có thể phục nguyên chiếc đồng hồ tay bị đập bẹp.

Khi một cái ly bằng thủy tinh rơi từ trên cao xuống nền gạch vỡ tan. Các nhà khoa học nói rằng entropy của nó đã tăng lên tức là mức độ mất trật tự của cái ly tăng lên, và muốn tái lập trật tự như cũ thì phải chắp vá các mảnh vụn và dán lại nhưng hầu như không thể khôi phục hoàn toàn như ban đầu. Thế nhưng những người có đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng có thể dùng tâm linh để phục nguyên hoàn toàn cái ly vỡ giống y như là nó chưa hề bị vỡ bao giờ. Nghĩa là có thể làm cho entropy của cái ly vỡ nát giảm đi đến mức nguyên vẹn như lúc đầu mà không cần dùng tới cơ bắp của bàn tay. Những câu chuyện trên đây chứng tỏ rằng tâm và vật có quan hệ với nhau, tâm có thể tác động tới vật.

Trở lại với thiên tai động đất, các mảng kiến tạo lục địa đang di chuyển hay vành đai lửa Thái Bình Dương là biểu hiện cộng nghiệp của hàng tỷ người sống trên vành đai đó. Đó là một cơ chế để thi hành nghiệp của họ, và cơ chế đó cũng là do cộng nghiệp của họ tạo ra chứ không phải có sẵn. Cũng như cả quả địa cầu này là cộng nghiệp của hơn 7 tỷ người sống trên đó. Cũng như toàn bộ vũ trụ này là cộng nghiệp của toàn thể chúng sinh sống trong đó. Phật pháp nói rằng không phải vũ trụ hay quả địa cầu tự nhiên mà có, các cảnh giới đó là cộng nghiệp của toàn thể chúng sinh trong vũ trụ. Chính tâm niệm của chúng sinh tạo ra vũ trụ và quả địa cầu. Cũng như do đại nguyện của Phật A Di Đà mà cõi giới Tây phương cực lạc được tạo lập để tiếp dẫn chúng sinh thực hành đúng tín nguyện hành thì sẽ được vãng sinh về cõi đó.

Như vậy cảnh giới an lạc hay cảnh giới khủng khiếp cũng là do tâm tạo chứ không phải là tự nhiên có sẵn như quan điểm duy vật khách quan của một số nhà khoa học thiếu hiểu biết, họ chưa hiểu vấn đề vật chất là do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo), họ cũng chưa hiểu nguyên lý tất cả sự vật đều không có sẵn tự tính (Nhất thiết pháp vô tự tính). Quan điểm duy vật khách quan của Einstein đã bị Alain Aspect chứng minh là sai lầm kể từ năm 1982, nhưng nhiều nhà khoa học cho đến nay vẫn chưa hiểu rõ vấn đề này nên họ vẫn còn, hoặc là hoang mang hoăc là cố chấp quan điểm duy vật dù cho quan điểm này ngày nay đã không còn đứng vững.

Nói tóm lại, vành đai lửa Thái Bình Dương cũng như các mảng kiến tạo lục địa đang di chuyển và va vào nhau tạo ra động đất, sóng thần không phải là tự nhiên có sẵn bởi vì theo nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính, chúng xuất hiện là do cộng nghiệp của loài người, do tâm của họ tạo ra. Những người nặng nghiệp thì sẽ hội tụ với nhau trên vành đai lửa, còn những người nhẹ nghiệp thì ở cách xa vành đai lửa ấy và ít bị thiên tai hơn. Những người không có nghiệp khổ vì thiên tai thì sẽ sinh ra ở các cõi trời hoặc cõi Tây phương cực lạc mà cấu tạo địa chất ở các cõi đó hoàn toàn khác hẳn địa cầu và không bao giờ xảy ra thiên tai. Kinh Vô Lượng Thọ (sa. sukhāvatī-vyūha) mô tả cõi giới Tây phương như sau :

Toàn cõi Cực Lạc, đất lưu ly trong suốt. Phía dưới có tòa kim cương nâng đỡ. Tòa kim cương ấy tám góc đều đặn, mỗi mặt có trăm thứ bảo châu. Mỗi bảo châu phóng nghìn tia sáng. Mỗi tia sáng có 84.000 màu, chói đất lưu ly sáng như nghìn ức mặt trời. Mặt lưu ly bằng phẳng, có dây vàng ròng cùng thất bảo giăng phân khu vực và đường sá. Mỗi dây báu phóng ra tia sáng trăm màu. Tia sáng ấy hình như hoa, như sao, như trăng, chiếu lên kết thành đài sáng chói ở giữa chừng không. Bên những đài sáng ấy có trăm ức tràng hoa, cùng vô số nhạc khí. Từ trong đài sáng thổi ra tám thứ gió nhẹ mát, làm rung động những nhạc khí ấy reo lên tiếng diễn nói pháp “Khổ, Không, Vô Thường, Vô ngã, Từ bi Hỷ Xả, các phép tu Ba La Mật (các phép tu của Bồ tát để trở thành Phật)”    

Cõi đó không có cát bụi đất đá, không có ô nhiễm, mặt đất bằng phẳng cứng chắc như kim cương, không có gió bão, không có lửa cháy. Nước trong ao hồ sông suối luôn điều hòa không bao giờ gây hại.

Kết luận

Mỗi cá nhân nên có nhận thức đúng đắn về thế giới, không nên quá tin vào chủ nghĩa duy vật khách quan. Chủ nghĩa này đã bị khoa học lượng tử hiện đại bác bỏ, khả năng của khoa học tuy rất hữu ích giúp cải thiện đời sống vật chất cho con người, nhưng cũng có giới hạn, có nhiều vấn đề khoa học không thể giải quyết được bởi vì thế giới do tâm tạo ra, ngay cả vật chất tưởng là tồn tại khách quan thực tế cũng là do tâm tạo. Nên hiểu thuyết Nhất thiết duy tâm tạo của Phật giáo, hiểu thiên tai nhân họa là do cộng nghiệp của một tập thể chúng sinh chứ không phải tự nhiên xảy ra, nó có nguyên nhân là do nghiệp lực (karma), ác nghiệp của quá khứ. Do đó phải tu nhân tích đức để tránh nghiệp quả trong tương lai.

Đối với những vấn đề thực tế sát sườn trong cuộc sống hàng ngày, khoa học cũng có vai trò nhất định mặc dù có giới hạn, khoa học cũng đã góp phần rất lớn trong việc cải thiện đời sống vật chất cho con người. Đối với vấn đề thiên tai, vai trò của chính quyền áp dụng khoa học kỹ thuật để dự báo trước và phòng ngừa thiên tai, nếu làm tốt cũng có thể giúp giảm nhẹ thiệt hại về nhân mạng tài sản nhưng không thể hoàn toàn đảm bảo sẽ ngăn ngừa được mọi thiệt hại về người và của. Do đó cá nhân phải phát huy sức mạnh tâm linh của mình, một mặt phải chấp nhận những nghiệp báo của quá khứ, một mặt tránh tạo nghiệp cho tương lai.

Những ngư dân sống ở ven biển làm nghề đánh bắt hải sản, chăm lo cho đời sống của mình và gia đình mình bằng cách giết hại sinh vật biển, hàng ngày đánh bắt bao nhiêu tôm cá. Những người sống bằng nghề chăn nuôi, nuôi heo gà vịt cá để giết thịt. Những người dân bình thường, mỗi ngày ăn bao nhiêu thịt cá tôm tép cua ghẹ. Tất cả những sinh hoạt đó là sự vay mượn, họ vay mượn sinh mạng của chúng sinh khác để đáp ứng cho cuộc sống của mình. Có vay ắt có trả, vay kiếp này thì kiếp sau sẽ biến thành heo gà vịt cá để trả nợ. Có những món nợ không đợi tới kiếp sau mà hiện hành ngay kiếp này. Nỗi oán hận ngất trời của những sinh linh bị giết hại quá nhiều có thể biến thành giông bão, núi lửa, động đất, sóng thần. Những hiện tượng thiên nhiên đó cũng là do tâm tạo, ứng với nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo mà Phật giáo đã chỉ ra. Thiên đường hay địa ngục không phải là tự nhiên có sẵn mà là do tâm tạo. Vấn đề tâm tạo ra vật chất, ngày nay khoa học đã hiểu khá rõ ràng qua thí nghiệm hai khe hở mà phần trên đã nêu.

Thế giới vật chất là do thức (thông tin) biến hiện đã được nhận thức rõ

Vạn Pháp Duy Thức

Thí nghiệm đã chỉ ra rằng tâm niệm của con người đã làm sụp đổ sóng tiềm năng và biến thành hạt vật chất như photon, electron và các hạt cơ bản khác. Nghiệp lực cũng là một dạng sóng tiềm năng. Tâm niệm thiện sẽ biến ra cảnh giới an lành tốt đẹp. Tâm niệm ác sẽ biến ra cảnh giới khủng khiếp của bạo lực, thiên tai, động đất, sóng thần…

Khoa học hiện nay cũng chỉ mới hiểu một cách khái quát là tâm niệm làm sụp đổ sóng tiềm năng và biến thành hạt cơ bản của vật chất. Còn cơ chế thế nào để nghiệp lực hiện hành thì khoa học hiện đại cũng còn rất mù mờ. Nhưng số phận của những con người trong xã hội có phước báo và nghiệp báo thì có thể thấy được rõ ràng. Có những người làm ăn thành công trở nên giàu có, làm gì cũng dễ dàng thành tựu, dường như có số mệnh trợ giúp, chẳng hạn như Bill Gates, Jack Ma. Còn có những người sinh ra đã ốm đau bệnh tật, nghèo khó, sống cuộc đời vất vả lầm than, thường gặp thất bại. Đó là do biệt nghiệp của mỗi người mỗi khác, nó đưa đến những kết quả khác nhau, mặc dù nếu xét riêng về mặt tài năng thì giữa hai người có hai kết quả khác nhau đó, khó nói là ai tài giỏi hơn ai.

Nhìn vào lịch sử chúng ta cũng thấy có những trường hợp như vậy. Giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh, giới nghiên cứu lịch sử có thể còn đánh giá Nguyễn Huệ cao hơn, nhưng triều đại nhà Tây Sơn thì rất ngắn ngủi, chỉ được 24 năm (1778-1802) kết thúc trong bại hoại trong khi triều đình nhà Nguyễn của Gia Long thì kéo dài hơn, được 143 năm (1802-1945). Vậy phải chăng do biệt nghiệp của hai nhân vật đó khác nhau, khiến cho kết quả khác nhau, chứ không phải do tài năng quyết định.

Thiên tai cũng là do tâm tạo, chỉ có tâm mới hóa giải được thiên tai, một điều nói ra thì vô cùng khó tin nhưng Phật pháp đã chỉ ra tâm đã tạo ra vật chất bằng một cơ chế như thế nào (nhất niệm vô minh đã tạo ra hạt cơ bản của vật chất) thì nghiệp lực của tâm niệm chúng sinh tạo ra các cảnh giới lành dữ của thế gian là điều có thể mường tượng ra được. Tâm tạo ra một thành phố hiện đại đầy đủ tiện nghi vật chất cho con người sinh sống thông qua phát minh khoa học và công nghiệp hóa, tin học hóa qua ý thức của con người. Đó là cảnh giới lành. Tâm tạo ra giông bão, động đất, sóng thần thông qua các sức mạnh thiên nhiên. Dù là thiên nhiên hay nhân tạo đều là do tâm tạo và tâm sẽ có ảnh hưởng tới mọi biến cố và mọi cảnh giới trên thế gian, đó là điều Phật pháp đã chỉ ra cho nhân loại con đường giải thoát khỏi những cảnh khổ, nghiệp chướng trên thế gian do tâm tạo.

Truyền Bình

 

Advertisement

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

49 Responses to THIÊN TAI DƯỚI GÓC NHÌN PHẬT PHÁP

  1. dsds nói:

    nhưng có những người họ là người tốt tại sao lại bị kẻ xấu hại , Tâm niệm thiện sẽ biến ra cảnh giới an lành tốt đẹp. Tâm niệm ác sẽ biến ra cảnh giới khủng khiếp của bạo lực, thiên tai, động đất, sóng thần, nhưng họ tâm niệm thiện sao vẫn bị kẻ xấu hại, còn những kẻ tâm niệm ác vẫn sống nhởn nhơ còn đi hại người, mà thực tế việc ác chỉ đến với người hiền người tốt mà thôi, kẻ ác chỉ tìm người tốt mà hãm hại

    • Bạn chỉ nhìn thấy một đoạn của thời gian mà không thể thấy hết toàn bộ thời gian nên thấy người tốt bị hại còn người ác sống nhởn nhơ. Sao bạn không nghĩ thiện ác chuyển hóa cho nhau. Người tốt hiện nay bị hại có thể tiền kiếp từng làm ác. Còn người ác hiện sống nhởn nhơ có thể tiền kiếp từng làm thiện.

  2. dsds nói:

    ta có nên hung dữ hơn qua đó giành nhiều lợi lộc hơn trong cuộc sống ko , vì ai hiền đều thua thiệt trên cuộc đời này, mọi thứ do tâm tạo có phải như thế ko , tâm dữ thì thắng , tâm hiền thì thua thiệt, rõ rãng cuộc sống là như vậy mà

    • Bạn nghĩ hung dữ thì thắng hiền thì thua thiệt là quan điểm tiêu cực bi quan. Thế sự xoay vần không ngừng, kẻ đang thắng rồi sẽ có lúc thua thảm hại, người đang bị thua thiệt, tương lai có thể được phước báo. Trời cho (thiện báo) tốt hơn là giành giật.

  3. lại gì nữa nữa nói:

    Cuộc tranh luận giữa Einstein và Bohr làm nền tảng ban đầu cho Alain Aspect tạo một bước ngoặc lịch sử trong vật lý lượng tử tại Paris 1982. Lúc gần cuối đời Albert Einstein đã miệt mài nghiên cứu trong cô độc với tham vọng to lớn là tìm ra được một công thức duy nhất có thể thống nhất các Lực(điện trường, hạt nhân và trọng lực) – cũng tức là diễn tả bản chất của vũ trụ trong 1 công thức duy nhất. Tuy nhiên, ông đã thất bại, điều này là tất yếu thôi vì Einstein cho rằng vũ trụ ở ngoài kia “ĐỘC LẬP VỚI Ý THỨC” của con người. Tiếc thay, ông đã mất năm 1955 trước khi Alain Aspect thực hiện thành công thí nghiệm chứng tỏa cái thế giới DUY VẬT KHÁC QUAN Ở NGOÀI KIA” của ông là sai lầm.
    Để thấy được “Pháp Môn Tâm Ấn” của chư Phật, người tu hành ít nhất phải phá được SẮC ẤM-tức VẬT CHẤT trong ngũ ấm(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) trong khi thực hành Thiền(Đạt Định). Tuy nhiên, người hiểu rõ vật lý lượng tử hiện nay – mà 2 nguyên lý quan trọng là “nguyên lý bất định” của Heisenberg và bản chất lưỡng tính sóng hạt thì cũng có thể thấu đạt rõ về nguồn gốc của thế giới, của vũ trụ – tức cũng có thể thấy được Pháp Môn Tâm Ấn(giải ngộ về vạn pháp).
    Thời nay(cái đời mạt pháp), nhiều người nghiên cứu Phật Pháp thiếu hiểu biết bài bác kinh điển đại thừa và pháp môn Tịnh Độ. Chưa phá được SẮC ẤM trong khi hành Thiền – nên chưa thấy được pháp môn tâm ấn của chư phật nên điên đảo, thị phi dẫn đến việc Phỉ Báng Lời Phật, Lời Tổ, Phỉ Báng Đại Thừa, Phỉ Báng Pháp Môn Tịnh Độ, tự ý sửa đổi cả Bát Nhã Tâm Kinh luôn… chiêu cảm nghiệp nhân đọa địa ngục – thật tiếc thay.

  4. Ct nói:

    Thần thông, vật chât hóa từ ko khí, chữa bệnh bằng tâm ý, cái nào là chánh biến tri

    • Chánh biến tri là tất cả thông tin dạng ứng dụng (application) nên có hiệu lực tác động. Còn những ý tưởng của bộ não là thông tin dạng text không có hiệu lực thi hành. Riêng ý niệm của những người có đặc dị công năng hay thần thông cũng là dạng ứng dụng nên có hiệu lực.

  5. Dl nói:

    Chánh biếm tri có thể phục nguyên chiéc đồng hồ bị đập bẹp vậy có thể làm người bị thương lành lặn trở lại ko

    • Tất nhiên là được. Người có đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng có thể làm cho cái đuôi con chuột đã bị đứt lìa dính lại lành lặn như cũ. Hầu Hi Quý có thể chặt đầu một người rồi ráp lại như cũ, người đó không hề gì. Tuy nhiên thần thông hay đặc dị công năng là có hạn chế, không thể thắng được nghiệp, do đó không nên hy vọng dùng thần thông để cải tử hoàn sinh cho một người bị tai nạn chết. Trương Bảo Thắng đã từng dùng đặc dị công năng để duy trì sự sống cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh nhưng cũng chỉ được một thời gian rồi ông ấy cũng chết.

  6. Dl nói:

    dĩ nhiên tôi đâu thể chống lại nghiệp , nhưng tôi hoàn toàn có thể dùng thần thông, chánh biến tri để phục nguyên 1 người bị tai nạn mất chân phải ko

  7. Dl nói:

    Nếu nói chúa trời là chánh bién tri chẳng phải là ngày tàn của thiên chúa giáo sao, vì thiêm chúa giáo nói chúa trời mang nghĩa rất khác, mục đích là để mọi người tin và đi theo, họ cũng đả kích đạo phật và ko tin có luâm hồi cơ mà

    • Đó chỉ là cách diễn tả khác nhau thôi, nói chánh biến tri thì có vẻ trừu tượng người bình thường khó hiểu nên nói chúa Trời thì họ dễ hiểu hơn, chứ thực tế thì chúa Trời chính là chánh biến tri.

    • lại gì nữa nữa nói:

      Các quan điểm nhìn nhận khá quen thuộc của tín đồ Thiên Chúa Giáo là: “Chúa luôn bên cạnh, chúa luôn ở trong con”. Giống như A Di Đà tự tánh của Tông Tịnh độ vậy đó bạn. Đức chúa Trời mang ý nghĩa ẩn dụ, mà họ chấp là Đại Ngã. Thế nên, nếu họ làm theo các điều thiện lành trong kinh thánh chỉ dạy, giống như hành thập thiện của Phật Giáo thì cùng lắm là được sanh thiên=> không thể thoát ra được tam giới vì họ chỉ nhờ vào THA LỰC không giống như vừa THA LỰC + TỰ LỰC của Tông Tịnh Độ(Thiên chúa giáo thoát thai từ Phật Giáo – bằng chứng lịch sử cho thấy chúa Giê Su từng qua Ấn Độ 2 năm trong thời gian ông mất tích để học pháp Phật).
      Thời xưa, có 2 trường phái truy tầm chân lý, một là hướng nội(tức tìm hiểu về Tâm – thực hành Thiền), còn 1 trường phái khác là hướng ngoại tìm cầu(quan sát sự biến hóa ở ngoài tâm, của thế giới, của vũ trụ- nói chung là duy vật biện chứng khách quan). Bạn có tìm hiểu về cuộc đời đức Phật, thì cũng biết là Đức Phật đã trãi qua nhiều trường phái khác nhau rồi nhé!
      Do có nhiều người nghiên cứu, tìm hiểu, thực hành theo cách hướng nội là THIỀN, họ cũng có định lực rất mạnh, có công phu rất sâu, và cũng có sở đắc=> Rồi từ sở đắc đó kiến lập chân lý và tôn giáo riêng. Nho-đạo giáo, như Khổng-Lão tử họ có định lực rất mạnh, nhưng sở đắc của họ là chỉ phá được đến TƯỞNG ẤM thôi nhé – tức tương đương hàng A la hán của tiểu thừa trong Phật Giáo(Khổng, Lão cũng được xem như là bậc thánh vậy!). Tuy nhiên, chỉ có Đức Phật mới phá sạch được ngũ ấm(sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Do đó, thuyết định mệnh của họ lập ra là khác với thuyết nhân quả của Phật Giáo! Còn khái niệm Trời là họ chấp vào Đại Ngã thật, chứ không mang nghĩa ẩn dụ. Khái niệm Trời của nhà Nho chỉ tương đương với KHÔNG CHẤP trong nhà phật thôi, chứ không tương đương được với Chánh Biến Tri(tức Phật Tánh) vậy. Tu hành đến được cảnh giới KHÔNG CHẤP là rất khó đấy nhé – chứ không phải cái lý chấp vào KHÔNG như nhiều người lầm tưởng!.
      Dù là ngoại đạo nhưng đều là hướng thiện, đều là CHÁNH GIÁO, cho nên bạn tu theo tôn giáo nào thì cũng là cái duyên của bạn vây. Tuy nhiên, NHO giáo ở nước mình chỉ dừng ở mức tu thân, tu nhân, nếu có phước báo nhiều thì cùng lắm là được sanh thiên.
      Thêm một điều nữa, là đừng nhầm lẫn giữa các tôn giáo với nhau. Đem nhãn hiệu Phật Giáo mà tu theo ngoại đạo, giảng pháp làm cho chúng sanh lầm đường, lạc lối giữa Phật Giáo và ngoại đạo là lỗi tại mình mà ra, nên đọa ngục đấy nhé(bạn có thể xem thêm về 3 thứ ngoại đạo trong Phật Giáo do thầy Thích Duy Lực giảng).
      Tóm lại:
      Thiên chúa giáo: CHÚA TRỜI = A DI ĐÀ TỰ TÁNH
      Nho giáo: TRỜI = KHÔNG CHẤP
      Chêm vào bình luận của chú Truyền Bình thấy ngại quá, định viết chút ít, mà thành ra hơi dài.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Đính chính lỗi: Khổng Tử không phải phá “đến” mà là phá HẾT Tưởng Ấm – tức đến được Hành Ấm.

      • Đạo giáo của Lão Tử và Nho giáo của Khổng Tử vẫn còn chấp thật. Chỉ có Phật pháp là phá chấp thật, không có chỗ bám víu.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Đúng vậy! Ý con là xét về ĐỊNH LỰC họ tương ứng với hàng A la hán trong Phật Giáo. A la hán phá được NGÃ CHẤP(tuy vẫn còn PHÁP CHẤP) nhưng cũng được ra khỏi sanh tử luân hồi.

  8. VD nói:

    Cám ơn tất cả, cho thêm bài viết: Càng dài càng tốt – sạch ý
    1/ Vì sao ta có mặt ở đây, để làm gì, có ý gì? (rất nhiều người loay hoay, lơ ngơ)
    2/ Giác Ngộ và Giải Thoát? Ý nghĩa, cái nào quan trọng trước sau? (Tổ: nói Kiến Tánh – Ngộ rồi mới nhập thất để giải trừ Tập Khí – Lậu Hoặc). Nhưng sao đức Phật lúc Giác Ngộ đồng thời chứng Lậu Tận Thông? (có phải Phật triệt ngộ? vậy nếu Triệt Ngộ là Mạt Hậu Lao Quan thì sạch Lậu? Vậy sao Phật dạy 7 pháp đoạn trừ Lậu Hoặc? Xin các Thiện Tri Thức trình bày mạch lạc và rõ hơn.
    3/ Phật dạy: trong Bát Chánh Đạo, đầu tiên là Chánh Kiến rất quan trọng. Nhưng sao các giảng sư nói không nhất quán làm kẻ hậu học chẳng thông? Hình như là Chánh Kiến theo Tục Đế và Chánh Kiến theo Chân Đế? Vậy hành tướng nó ra sao?
    4/ Chánh Niệm? Là không quên Niệm hay là Vô Niệm Niệm tức Chánh? Tổ Sư Thiền dạy Chánh Niệm là Nghi Tình? Chánh Niệm rất quan trọng là cửa ngõ vào Chánh Định. Tại sao Tổ nói Thiền Định là nhị pháp chẳng phải Phật Pháp? Vậy đâu cần Định, Niệm?
    5/ Phật dạy Pháp phá trừ Ngã Chấp (không giống các tôn giáo khác: tăng trưởng Ngã Chấp – Sở Đắc). Phật dạy: Sinh, Hữu, Tác, Thành là Thập Nhị Nhân Duyên – nằm trong luân hồi. Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt là Thiền bệnh. Vậy Phật Tử phải làm gì hay không làm gì? (lại rơi vào Nhị Nguyên)
    Xin cho chúng con thời Pháp.
    Hoan Hỷ,…

    • Những thắc mắc của bạn là đuổi theo Thị Phi (Đúng Sai) Đúng cũng là vọng tưởng, Sai cũng là vọng tưởng. Vậy đuổi theo làm gì ? Chấp trước là đau khổ, là luân hồi. Phật pháp dạy phá chấp. Về lý thuyết bạn nên hiểu Ngũ Uẩn Giai Không. Về thực hành : phá ngã chấp, phá pháp chấp. Tham thiền hay tham thoại đầu cũng nhằm phá chấp thôi, dừng vọng tưởng. Kết quả là : vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ. Cốt lõi Phật pháp chỉ bấy nhiêu thôi.

      • VD nói:

        Chào chú Truyền Bình.
        Rất quí chú với những bài viết trên trang này. Từ ngày biết được con đọc gần như tất cả.
        Thưa chú! Những kẻ hậu học sơ cơ như chúng con rất muốn nhập thông LÝ, SỰ. Tâm đầy nghi chướng trong mênh mông biển PHÁP này.
        Chú nói chúng con đuổi theo Nhị Nguyên là chính xác (Thầy Duy Lực dạy: Phàm Phu mở miệng là lọt vào Tứ Cú). Vậy chú mách chúng con: “hiểu Ngũ Uần Giai Không, hành phá Ngã chấp, Pháp chấp, kết quả Vô sở cầu, Vô sở đắc, Vô sở sợ”. Chúng con vẫn thấy loay hoay. Thưa chú theo con hiểu:
        1/ Ngũ Uẩn thật có khi cái Ngã thật có. Nếu Ngũ Uẩn Thật không thì cái Ngã cũng Thật không. (cái Có thì luôn luôn Có, cái Không thì luôn luôn Không). Phật dạy Vô Ngã (kinh Vô Ngã Tướng) nên con hàng ngày Hành Tác Vô Ngã: Ta không có ý nghĩa gì, không có gì là Ta, là của Ta, ai nói làm chứ chẳng phải Ta, không ý kiến, không phát biểu, không cho là – Tịch Chiếu.
        Con hiểu như vậy đúng với ý chú không? Sao con thấy chấp Không quá. (con biết Thầy Tổ dạy: vì chúng sanh chấp có nên Phật nó không và ngược lại…) Mục đích là chỉ dạy chúng ta lìa Nhị Biên theo Trung Đạo (tạm lập danh).
        2/ Ngã chấp, Pháp chấp: Ngã tức vô Ngã, Pháp tức vô Pháp vậy phá cái gì??? Phật pháp bất nhị, pháp vốn vô sanh nên vô diệt (vốn như bổn lai). Theo con hành tác hàng ngày biết chỉ là biết, nghe chỉ là nghe, thấy chỉ là thấy… bặt suy lường, ngữ ngôn. Tham Thoại Đầu tuyệt ở chổ chỉ biết trong đầu… Nghi Tình. CÒN NHỮNG AI CÒN ĐỐI ĐÃI TÂM ĐỜI LÀM SAO VÀO ĐẠO.
        3/ Vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ: Phật Tổ dạy vì chúng sanh THAM CẦU ta nói vô sở cầu, vì chúng sanh THAM ĐẮC ta nói vô sở đắc, vì chúng sanh sợ MẤT NGÃ ta nói vô sở sợ. Đồng thời cũng hiểu theo chiều ngược lai mới tương ưng với VÔ TRỤ. Tất cả điều sẳn đủ,chờ THỜI CƠ CHÍN MÙI TRỌN MÂM TRÌNH RA. Tổ nói do ông không chịu thừa nhận thôi.(VÌ LÀ CHIÊM BAO NÊN THẬT CÓ, THẬT KHÔNG GÌ ĐÂU)?
        Vì là thế gian pháp mong chú Hoan hỷ… hồi đáp.

    • lại gì nữa nữa nói:

      1) Ta có mặt ở đây là trả nghiệp hoặc hưởng phước(trôi theo dòng nghiệp – tức tập khí – nói hẹp và dễ hiểu hơn là thói quen).
      2) Trực tiếp CHỨNG NGỘ phật tánh khác với GIẢI NGỘ ở chổ GIẢI NGỘ là gián tiếp thông qua suy nghĩ của bộ não(Giải ngộ có chướng ngại trong tu hành – tuy nhiên, khi giải ngộ rồi thì không bị rơi vào các hiểu biết sai lầm, hoặc các kiến chấp của ngoại đạo nữa….).
      Có nhiều cách tu hành thì cũng chỉ là phương tiện thôi, tùy vào căn cơ, sở thích riêng của chúng sanh mà tu tập=> nhưng đều có cùng đích đến là đoạn lậu hoặc=> Kiến Tánh. Tại sao A la hán đoạn được lậu hoặc(được thoát khỏi sanh tử luân hồi) mà chưa kiến tánh?. Vì A La Hán đoạn tận được gốc rễ của phiền não(là cái nhân – cái gốc của sanh tử luân hồi trong tam giới – ở mức độ vi tế hơn là phá được nhất niệm vô minh, chứ chưa phá được vô thủy vô minh).
      3) Trong BÁT CHÁNH ĐẠO người thiếu hiểu biết chỉ lý giải suông ngoài môi(HỌ XEM NHƯ LÀ VIỆC DỄ DÀNG LẮM VẬY), chứ bạn thâm nhập được 2 thứ đầu tiên là:
      + CHÁNH KIẾN đoạn được KIẾN HOẶC
      + CHÁNH TƯ DUY là đoạn được TƯ HOẶC
      => Phá được 2 thứ này – tức tư hoặc và kiến hoặc => Đắc A la hán
      => Còn 6 thứ còn lại là cảnh giới của BỒ TÁT vậy.
      4) Trong Phật Giáo có nhiều loại thiền nhé! TỔ SƯ THIỀN thì lợi dụng nhất niệm vô minh(dùng niệm nghi) để phá vô thủy vô minh. Còn NHƯ LAI THIỀN chẳng hạn: thì tu chứng từng bậc(phá sạch được ngũ ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì được kiến tánh.
      Theo Pháp môn nào thì phải y cứ theo pháp môn đó mà thực hành. Tổ Sư Thiền có cách tu riêng, bạn đem kiến giải của pháp môn này vào pháp môn nọ thì chẳng có chổ đúng. Tổ phá chấp, chứ không phải Tổ phỉ báng các pháp môn khác nhé! (người tu hành các pháp môn khác thường bị tự ái, do họ không hiểu thôi).
      Thêm một điều nữa là nói KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT là đã thấy Tánh, chứ chưa thành phật được đâu nhé, vì vẫn còn tập khí – lậu hoặc chưa được dứt sạch(đến đây dùng LỤC ĐỘ BA LA MẬT để tẩy trừ tập khí – nói kiến tánh rồi mới khởi tu là lý này vậy).
      => Tóm lại ý bạn hỏi trong câu 4 này là việc nhầm lẫn giữa các pháp môn trong Phật Giáo.
      5) ĐỂ PHÁ NGÃ CHẤP Thì phải tu hành thôi, tu pháp môn nào thì cũng cần phải GIỮ GIỚI(cư sỹ thì giữ 5 giới – khuyên là nên giữ giới tin nghiêm) – vì từ giới mới sinh ra ĐỊNH LỰC – từ ĐỊNH LỰC mới phát HUỆ LỰC=>Giác ngộ. PHÁ NGÃ CHẤP được thì Đắc A La Hán rồi vậy(A la hán còn chấp Pháp) chứ đâu phải nói suông ngoài môi là hết NGÃ CHẤP được đâu.
      Tóm lại: Lý giải ngoài môi không bằng tu tập=> tu tập thì phải giư giới(tu hành mà không giữ giới thì cũng như nấu cát mà muốn thành cơm).

      • VD nói:

        Cảm ơn Sư Huynh có bài viết. Trên trang này rất cần nhiều ý kiến như sư huynh cho trang thêm phong phú (mặc cho ý kiến thuận nghịch – Tất cả pháp điều là Phật pháp). Nhưng cần thâm sâu theo Tuệ phân tích cho RÕ NGHĨA – SẠCH Ý. Đệ có ý kiến:
        Pháp bất nhị “tròn đồng thái hư, không thiếu không dư”. Không trước – không sau. không thêm – không bớt, không khứ – không lai, không bước tới – không dừng lại. Vậy không có trở thành (sở đắc). Phật dùng phương tiện nói pháp – được ý quên lời. Lục Tổ dạy Định Huệ đồng thời, tất cả điều sẳn đủ, vậy đâu phải có Định rồi mới có Huệ.
        Đâu có pháp môn khác nhau, vì Tướng có khác nhưng Thể đâu khác (sắc bất dị không). Do vậy mong sư huynh nói thêm SẠCH Ý phần CHÁNH KIẾN và CHÁNH NIỆM cho kẻ hậu học rõ thông.
        Kính mong.

      • lại gì nữa nữa nói:

        – Biết được rằng trên lý PHÁP LÀ BẤT NHỊ, nhưng tại sao ta không trực ngộ ra nó? Biết rằng TỰ TÁNH CÙNG KHĂP KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN; sao ta không ngộ được tự tánh? Biết rằng TỰ TÂM LÀ PHẬT tại sao không trực nhận ra được tự tâm?
        =>Bởi do PHÂN BIỆT, CHẤP TRƯỚC, TÂM CHẤP THẬT nặng nề từ nhiều đời, nhiều kiếp nên không nhận ra được CHÂN NGÃ.
        Để mình đưa ra một ví dụ cho bạn dễ hiểu nhé! Nhà bạn sống cạnh bãi rác chẳng hạn. Ban đầu bạn thấy CÁI MÙI rất hôi, nhưng trãi qua nhiều năm, CÁI MÙI hôi tự nhiên biến đâu mất. Không phải cái mùi hôi biến mất, mà là tâm bạn đã quen với cái MÙI đó rồi đến nổi không còn nhận ra nó, tuy nó vẫn đang hiện hữu => Ở đây chỉ ám chỉ thời gian vài năm. Chứ bạn thử nghĩ xem tâm CHẤP THÂT(chấp ngã, chấp pháp) của chúng ta là bao lâu rồi? bao nhiêu kiếp rồi? Bạn trả lời thử xem => Vậy đáp câu hỏi của bạn nói về Lục Tổ: “Thì trong tự tánh đã có sẵn Đức Tướng và Trí Tuệ của Như Lai rồi tại bạn không nhận ra nó thôi như ví dụ về CÁI MÙI vậy”.
        – Câu hỏi của bạn liên quan đến sắc tức thị không. Mình xin hỏi ngược lại, bạn hiểu thế nào là “SẮC BẤT DỊ KHÔNG?”. Những lời như sắc bất dị không hay kiến vô sở kiến tức chân kiến(những câu như thế này chư Phật, chư Tổ nói rất nhiều), những lời này người đã ngộ rồi mới được phép nói ra – vì sinh ra từ trong trí tuệ bát nhã. Bạn có giải bày ra cũng vô ích – vì bản chất của ngôn ngữ là tương đối(sản phẩm của bộ não – sản phẩm của nhất niệm vô minh). Để biết những câu như thế thì bạn phải CHỨNG NGỘ trước đã – người chấp chật vào những câu như này, tham cứu nhiều năm, rồi đem ra hỏi ngày NGUYỆT KHUÊ bị ngày quở là “THẬT QUÁ NGU DẠI”.
        – KIẾN HOẶC gồm 5 món: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ => Khi bạn không kẹt vào 5 món này thì bạn mới được gọi… bạn là người có CHÁNH KIẾN=> Để hoàn thiện về chánh kiến thì không dễ dàng đâu. Mình lấy ví dụ về phá “thân kiến” nhé!. Để phá thân kiến(thân thể thuộc về vật chất) – tức bạn phải phá được SẮC ẤM. Như vậy phải nhờ tới thiền định(Tứ Thiền Định). Bạn vào được ĐỊNH chưa mà đòi phá SẮC ẤM. Bạn dùng PHÁP BẢO CỦA NHƯ LAI để rèn luyện sức khỏe, để chánh niệm tỉnh giác(như trẻ con đem mấy viên kim cương của bố mẹ nó ra chơi bắn bi )=> không đạt định thì thật hoang phí=> A la hán hoàn thiện tứ thiền(đạt tứ thiền chưa chắc chứng đạo – nhưng người chứng đạo chắn chắn phải có tứ thiền – pháp tiểu thừa).
        *** Nhắc nhở: như lời nói của chư Tổ là để phá chấp nhé, bạn hiểu nhầm ý là rất tai hại đấy, xin hãy cẩn thận. Bạn kiến tánh chưa? Phật Tánh là ĐẠI ĐỊNH. Nếu chưa thì đừng nói lời rỗng tuếch.
        Bạn không giữ giới mà đòi có ĐỊNH LỰC được à? Không giữ được 5 giới thì ĐỊNH LỰC không những không có, mà tam ác đạo cũng sẽ không thiếu phần mình luôn.(Đừng nghĩ 6 cảnh giới luân hồi mang nghĩa tượng trưng, ẩn dụ thôi nhé – khi bạn chưa chứng ngộ nó là thật đấy – bản chất của vụ trũ không như cái thấy từ 6 giác quan của bạn đâu – mình không hù dọa bạn chút nào)=> Do đó, giữ giới có rất nhiều lợi ích nhé bạn,đừng thấy không có gì cao siêu mà không làm.
        *** Chú ý: Trong câu hỏi của bạn có quá nhiều ý để trả lời. Lần sau hãy hỏi SẠCH Ý từ 1 đến 3 ý thôi. Lần tới (nếu có) mình sẽ không trả lời các câu hỏi hỗn tạp như thế này. Thứ hai nữa là bạn nên hỏi chú Truyền Bình nữa nhé! Chú ấy có nhiều hiểu biết mà bạn không hỏi – mình chỉ là hàng hậu bói biết chút ít phật pháp thôi.

  9. Dl nói:

    Nếu cuộc sống này chỉ là tưởng tượng, vậy nếu trình độ khoa học cong nghe cao hoặc tâm lực đủ mạnh ta hoàn toàn có thể tạo ra 1 cuộc sống y như thật hả bác , giống như thuyết thế giới mô phỏng

    • Khoa học hiện nay làm chủ thế giới thông tin. Mà theo lý thuyết thì Vũ trụ cũng là thông tin. Vậy khoa học ở thời đại tin học bậc cao có thể làm những việc như viễn tải lượng tử, gởi người và đồ vật tới những nơi xa xôi mà không mất thời gian. Nhưng tôi e rằng khả năng khoa học có giới hạn, nó không thể đạt tới khả năng như Chánh biến tri.

  10. Dl nói:

    Nếu ta biết nước ko có thật , vậy nếu ko biết bơi mà rơi xuống sông có chết đuối ko

    • Dù cho về mặt lý giải, ta biết nước không có thật, nhưng tâm chấp thật của ta vẫn còn kiên cố nên vẫn thấy có nước dưới sông và vẫn có thể bị chết đuối. Chỉ khi nào phá được tâm chấp thật thì nước mới không còn.

  11. Dl nói:

    Chánh biến tri là cái biết về khả năng, lái xe , nấu ăn, nói tiếng anh… hay về kiến thức tức biết toàn bộ mọi thứ trên cuoc đời hay là cái biết toàn thể

    • Chánh biến tri là cái biết không có người biết, không có đối tượng được biết bởi vì nó chính là quy luật, là nguyên lý, là thông tin, là tri thức

      • Dl nói:

        Ko có người biết, vậy người vận dụng được chánh biến tri là gì

      • Người vận dụng chánh biến tri là những cái ta giả của chúng sinh, người đó có thể là Trương Bảo Thắng, Quán Thế Âm, Thích Ca, A Di Đà…những cái ta giả không có thật, tất cả đều chung một Tâm tức là Chánh biến tri

  12. Dl nói:

    Phim mA trận CÓ NHIỀU thứ giống với phật pháp bác làm thử 1 bài về nó đi

  13. VD nói:

    Chào sư huynh lai gì nữa nữa! Đệ chúc sư huynh thân tâm khỏe vui.
    Như đã nói trước đây: cần thêm nhiều ý kiến của các đạo hữu khác cho trang này phong phú thêm.
    Chú Truyền Bình có cái dụng riêng (sư huynh có cái dụng khác), chú còn phải viết và trả lời nhiều bạn đọc khác nữa (với lại lời nói nhiều khi khác nhưng ý chẳng khác – do tâm người lãnh hội như thế nào thôi). Chú viết bài có người cho là ta biết rồi, nhưng còn rất rất nhiều người cần đấy. Trở lại vấn đề Đệ loay hoay nhé.
    1/ Đệ không lấy ý mình cho là, chỉ thắc mắc thôi (có người nói thế này, Phật Tổ nói thế kia). Mong được rõ ý hơn cho mọi người thông Lý Sự để tăng trưởng lòng tin – lòng tin là mẹ đẻ của công đức – đứng đầu trong NGŨ CĂN (không nói lý chướng, sự chướng đối với nhân vô vi). Phật dạy cái mê lầm của chúng sanh là cùng nhau nhận giả làm chơn. Cho mình là chúng sanh – hành tác gây khổ đau cho mình cho người là thường thôi – chúng sanh mà. Không chịu làm Phật (Phật Tử) – chúng sanh là Phật Đã Thành (Phật sẽ thành là lời phương tiện – tâm tương lai bất khả đắc…). Phật nói bất nhị, vậy Giác cũng ở nơi mình, Mê cũng ở nơi mình. Do mình không tin tự tâm nên hiểu một đường, làm một nẽo. Phật dạy “tri huyễn tức ly bất tác phương tiện/ ly huyễn tức giác diệt vô tiệm thứ”. Vậy không tin Phật thì tin ai – đâu cần phải Ngộ mới thấy biết. Lời ngài Nguyệt Khê nói chẳng sai cởi trói tâm chấp của người vấn Đạo. Nhưng chấp lời ấy là chân lý thì sai đấy. Lời Phật Tổ là phương tiện tỏ bày – “Pháp còn phải bỏ huống là Phi Pháp”. Vậy CHỨNG NGỘ là sẽ được cái gì mà khiếp thế? Pháp môn tham thoại đầu đơn giản chỉ là Ôm Nghi Tình – không cần Ngộ (không nổi lên niệm Ngộ)/ giáo môn thì KHÔNG – VÔ TƯỚNG – VÔ TÁC (VÔ CẦU) – không cần Ngộ (có sẳn nơi mình rồi). Cố tâm trừ vọng càng thêm vọng/ Buông ý cầu chơn bổng thấy chơn.
    2/ Phật dạy phải “tin tấn chánh niệm tỉnh giác”, mà xem là PHÁP BẢO NHƯ LAI ví như trẻ con lấy kim cương ra bắn bi…Cái này là tâm phân biệt sinh ra cho là pháp môn này thù thắng hơn pháp môn kia – Phật dạy tùy bệnh cho thuốc – các pháp bình đẳng nên gọi pháp vô sanh. Phật dạy không hành pháp NĂNG – SỞ, không hành pháp KIẾN VĂN GIÁC TRI. Vậy tu theo pháp môn nào thì y cứ như trên.
    3/ CHÁNH KIẾN và CHÁNH TƯ DUY như sư huynh nói làm em hoảng hồn luôn. Không kẹt (vượt qua) vào Kiến Hoặc và Tư Hoặc thì mới là người có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy trong Bát Chánh Đạo thì còn gì Thánh Đạo 8 Ngành nữa??? chưa đi đã đến rồi. xin sư huynh nói rõ thêm phần này cho hậu học chúng đệ nhé.
    4/ TU HÀNH PHẬT PHÁP: Là pháp giác ngộ, muốn giác ngộ thì buông xả thân tâm, vô sự (ngã chấp và pháp chấp). Đại kỵ là xưa nay nghĩ rằng thật có Ta, lấy cái Ta tu hành để trở thành: đắc định, đắc thiền, đắc cái này cái kia là ĐẮC MA.(TĂNG TRƯỞNG NGÃ CHẤP). Tu hành theo kinh hay theo Tổ (pháp môn) thì tùy duyên.
    Kính mong các Thiện Hữu bổ sung thêm.
    Hoan hỷ…

    • lại gì nữa nữa nói:

      Như đã nói mình sẽ ko trả lời các câu hỏi của bạn nhé, vì có quá nhiều ý. Thứ hai là cho mình hỏi: bạn có đọc kỹ câu trả lời của mình ko vậy? nếu có mà bạn viết ra một loạt được như thế này, thì mình nghĩ bạn không hiểu Phật Pháp. Bạn bị nhiễm tà kiến quá nặng. Nếu muốn mình đáp thì nên hỏi ngắn thôi – ý nào bạn không thông thì nên hỏi ra.

    • lại gì nữa nữa nói:

      Nếu bạn từ THIỀN TÔNG TÂN DIỆU ra thì mình không đi chung đường nhé! không có gì để bàn luận thêm nữa. Mình ngỡ bạn thật lòng hỏi Pháp, mình cố gắng đưa ra những ví dụ cụ thể, dễ hiểu, mà bạn còn chấp và cố ý làm lơ.

  14. Trả lời bạn VD : Bạn đừng có ham lý luận bởi vì tất cả lý luận đều chạy theo Đúng Sai tương đối không đi tới đâu cả. Ngũ Uẩn giai không là lý thuyết cơ bản của Phật pháp bạn nên biết qua. Biết rồi phải thực hành. Ngũ uẩn vốn là không có thật nhưng bạn chấp là Có Thật nên cuộc sống của bạn mới trở thành phiền não. Vì vậy bạn phải thực hành phá ngã chấp và phá pháp chấp bằng những cách đại loại như trì giới, nhẫn nhục, xả chấp v.v…cốt yếu là không vướng vào vọng tưởng thị phi, vinh nhục, giàu nghèo…Thực hành có hiệu quả thì bạn đạt được kết quả Vô sở cầu, Vô sở đắc, Vô sở sợ, không còn phiền não nữa. Bạn không còn bận tâm chuyện cầu hay không cầu, đắc hay không đắc, sợ hay không sợ. Trong cuộc sống đời thường thì bạn vẫn sống như bình thường, chăm sóc nhà cửa, cho con cái học hành, nếu bạn chưa nghỉ hưu thì tiếp tục làm việc nhưng trong lòng không còn nặng trĩu lo âu, đơn giản như vậy thôi.

    • lại gì nữa nữa nói:

      Phật Pháp và 3 môn vô lậu hậu học GIỚI – ĐỊNH – HUỆ của đức Phật ví như chiếc bè qua sông. Chưa qua sông mà đòi bỏ bè. Để ví dụ về hình ảnh của bạn này 1 cách trực quan, con thấy bạn ấy đang chìm hụp, lênh đênh ở gữa dòng, thật đáng thương xót. Mong là chú có duyên khuyên bạn ấy buông bỏ được tà kiến(khó khuyên lắm – thành kiến chấp luôn rồi). Mong là bạn ấy có thể được KÉO lại lên 3 chiế bè: GIỚI – ĐỊNH – HUỆ. Đây là hậu quả tai hại được sinh ra từ việc thiếu hiểu biết phật pháp căn bản, mà đòi học pháp cao siêu TỐI THƯỢNG THỪA của chư Phật, chư Tổ. Để rồi bị pháp TỐI THƯỢNG THỪA NUỐT CHỌN LUÔN CẢ SINH MẠNG.

  15. VD nói:

    Cám ơn chú Truyền Bình, cám ơn sư huynh lại gì nữa nữa. Kính chúc nhị vị thân tâm thường lạc.
    Đệ xin lỗi những hiểu lầm gây ra… Nam mô cầu sám hối bồ tát ma ha tát.

    • lại gì nữa nữa nói:

      — Mình thấy bạn hiểu sai về Phật Pháp là điều đương nhiên thôi – hiện nay có vô số người có cái hiểu lệch lạc về Phật Pháp như bạn. Xem như là bạn cũng có duyên, nên mình sẽ gợi ý cho bạn về cách nhìn nhận Phật Pháp 1 cách toàn diện. Để bạn hoằnh pháp lợi sanh không bị vướng vào tà kiến.
      — Trong Phật Pháp từ Tiểu Thừa, Trung Thừa, Đại Thừa và Tối Thượng Thừa đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau – giống như 1 cái mạng nhện vậy(Bạn càng hiểu Phật Pháp bạn càng nể phục đức Phật – giáo lý tuyệt vời của đức Phật không có 1 khe hở nhỏ).
      — Để nêu lên mối quan hệ chặt chẽ trong Phật Pháp 1 cách chi tiết, thì giấy bút viết ra không hết nhé, nên mình sẽ đưa ra một bức tranh tổng thể cho bạn dễ hình dung.
      + TIỂU THỪA: phá được NGÃ CHẤP
      + TRUNG THỪA: phá được NGÃ CHẤP + PHÁP CHẤP => lọt vào KHÔNG CHẤP.
      + ĐẠI THỪA: Chấp có trí huệ cho mình đắc, chấp có chúng sanh để độ.
      + TỐI THƯỢNG THỪA: Phá tất cả các chấp trước (NGÃ CHẤP + PHÁP CHẤP + KHÔNG CHẤP)=> đạt VÔ SỞ TRỤ KIẾN TÁNH.
      Do đó: Ngay cả bậc A la há + Bồ Tát mà vẫn còn có CHẤP TRƯỚC. Bạn mạnh miệng bảo không có dính mắc, không có chấp trước vậy chẳng phải là ĐẠI VỌNG TƯỞNG ư?
      => VỀ PHÁP TỐI THƯỢNG THỪA. Thầy Thích Duy Lực giảng cho chúng ta biết cách để thực hành, để tăng trưởng lòng tin=> cốt yếu là(bất lập văn tự- không cần lý luận- chỉ thực hành thôi). Mục đích thực hành là để đạt VÔ SỞ TRỤKIẾN TÁNH THÀNH PHẬT. Chứ bạn lấy VÔ SỞ TRỤ, KHÔNG CÓ TẤT CẢ CÁC DÍNH MẮC, đem ra lý luận, đả kích là sẽ quét sạch luôn các Pháp Môn khác THIỀN TÔNG TÂN DIỆU dùng cái này để làm cơ sở vững chắc cho lý luận(- vì thuật ngữ VÔ SỞ TRỤ, KHÔNG CÓ TẤT CẢ CÁC DÍNH MẮC là trong Phật Giáo mà), nên quét sạch được tất cả các pháp môn khác, cãi nhau không ai cãi lại luôn. Người không hiểu Phật Pháp thường đem cái này ra hí luận=> Dẫn đến hậu quả là thấy ai cũng tu sai cách, thấy ai cũng đả kích, phí báng các pháp môn khác(đều là CHÁNH PHÁP cả)=> chiêu cảm nghiệp quả gì thì tự hiểu rồi nhé!
      **** Mình nhắc nhở đi, nhắc nhở lại thêm lần nữa là: Thực hành để đạt VÔ SỞ TRỤ chớ đừng đem VÔ SỞ TRỤ, KHÔNG CÓ TẤT CẢ CÁC DÍNH MẮC vào lý luận => Đừng vì lý luận thị phi, đúng sai mà rơi vào địa ngục nhé bạn. Chúc bạn ngày càng tiến triển trên đương đạo.

  16. VD nói:

    Chào sư huynh, hôm rồi đệ gây hiểu lầm làm phiền lòng sư huynh nên áy náy, đã xin lỗi và cầu sám hối…
    Hôm nay lòng hoan hỷ thưa chuyện với sư huynh mà không sợ hiểu lầm nữa. Vì sư huynh nói có duyên với đệ, với lại đệ thiết nghĩ nếu bồ tát vào đời cùng kiếm bảo lục độ ba la mật và hành sự là tứ nhiếp pháp thì sư huynh khi bị cái ngã tham sân si che lấp thì tỉnh giác mà hoan hỷ cho đệ nghen. (lời thuận nghịch nếu tâm bình đẳng thì không chấp vào một bên). Đệ trao đổi các vấn đề sau (thanh minh):
    1/ Trang này có nhiều người vào xem, tham khảo ý và học hỏi nên lời nói về vấn đề nào đó (liên quan phật pháp) không chở hết ý muốn nói (mặt hạn chế của văn tự) thì phải mở ngoặc hoặc chú thích cuối bài. Nhằm tránh cho người hậu học chấp vào đó, hiểu cạn rồi lầm đường (nhất là những người nể và tin theo mình). Những lời nói của đệ với chú Truyền Bình và sư huynh là nói ý còn lại của nhị nguyên. Vì hiểu lầm ý rồi lại cho là… làm bản ngã tham sân si nổi lên xa rời thật tánh pháp, mất hết tác dụng của phật pháp.
    2/ Trình độ phật học của chú Truyền Bình và sư huynh quá cao, đệ chỉ có ngước nhìn. Đệ không nói đã chứng (TỘI ĐẠI VỌNG NGỮ), không bài bác pháp môn khác (các pháp bình đẳng), không xem thường Giới – Định – Huệ (như thế nào là giử giới – lấy giới đức làm sở y như thế nào để vượt qua giới cấm thủ mà nhập vào dòng thánh???. Định là gì – thiền định hay chánh định? còn đại định nhập tam ma địa?. Huệ ra sao – sao lại nói trí huệ của thánh bất khả tư nghì? huệ từ trong bát nhã sao nói bát nhã vô danh?. Người tu ai cũng nói về nó, nhưng chánh tri kiến như thế nào là một vấn đề. Bởi vậy đệ không nhận chưa chứng nói chứng, cho qua giới định huệ.
    Còn vấn đề ngài Nguyệt Khê có nói “kiến vô sở kiến tức chân kiến – bậc chứng ngộ nói chẳng sai (chân kiến đồng tri kiến phật, bất tư nghì), còn chúng ta không được hành theo sao (bặt năng sở)?. Ngũ uẩn giai không cũng vậy – phật dạy kinh vô ngã tướng cho ta hành theo, sao không được phép nói. Lời ngài Nguyệt Khê là nói phá chấp cho người ôm khư khư suy nghĩ ấy (có năng sở), cũng giống như người tham thoại đầu cứ ôm câu thoại (có năng sở). Tổ bảo tham vấn đề câu thoại nêu ra để khởi nghi tình (bặt năng sở) mới đúng pháp chế định của tổ – Nói phật tử phải Tam Qui là vậy. Vậy đệ có tà kiến hay không? (ngược chánh kiến – chánh là đối với phật giáo mà nói).
    3/ Đệ chỉ dẫn nhập lời phật tổ dẫn chứng cho ý muốn nói và đang thực hành theo. (trong kinh Pháp Hoa: phẩm Pháp sư có nói ngồi tòa như lai thuyết tất cả pháp không – chẳng chấp vào một bên. Phẩm an lạc hạnh có nói quán các pháp như thật tướng, đối với các pháp điều vô sở hành – chẳng hành pháp năng sở, chẳng hành pháp kiến văn giác tri, đối với các pháp điều vô sở đắc). Bàn bạc trong kinh Viên Giác, Lăng Nghiêm phật chỉ dạy pháp hành như thế rất nhiều. Kinh nguyên thủy cũng vậy như kinh Bahiya… Vậy là vô sở hành nên không thể nói thực hành để đạt VÔ SỞ TRỤ. Chổ này rất vi tế, bởi vì từ có bản ngã tham sân si mà thực hành đến vô ngã, lý này chẳng thông (từ có ngã tu hành để trở thành – sở đắc). Vậy nên chẳng hành pháp năng sở (tâm không – thi đậu về). Buông xuống đi, buông xuống đến ngơ ngác không còn tâm buông (nghi tình – hoát nhiên tỏ ngộ). Thời nay đa phần người tu từ chấp thật cái ta rồi dụng tâm sai lầm nên tu hoài bản ngã tham sân si càng tăng thêm.(phật dạy: này Anan, nay ông thấy ta thấy ông thấy sơn hà đại địa, là kiến bệnh đã thành từ vô thủy – cái thấy ta này là cả Danh và Sắc), đã vô thủy thì vô chung – đến bao giờ hết kiến bệnh. Hành trình sụp đổ bản ngã phải là bặt năng sở (sở tri, sở đắc, sở cầu… sở sở).
    Đôi đều hàn huyên của đệ nhằm thanh minh với sư huynh.
    Mong hoan hỷ lợi hành./.

    • lại gì nữa nữa nói:

      — Mình bảo bạn đã thành kiến chấp luôn rồi – không sai chút nào. Có lẽ vì bạn nể chú Truyền Bình nên không muốn tranh luận tiếp thôi.
      — Mình chỉ biết chút ít Phật Pháp thôi, mình ko đủ khả năng để lý luận tiếp với bạn nhé! Chúc bạn thượng lộ bình an!

      • xk nói:

        chúc thượng lộ bình an nghĩa là gì?

      • lại gì nữa nữa nói:

        Sao bạn?

      • xk nói:

        À đùa thôi, bạn này mang tà kiến y hệt bạn #Rita lúc trước đó bạn, nhớ không? Và bạn này là bạn #Rita đó bạn. Lý lẽ của bạn này giống với bạn #Rita và có cái tật ham nói nhiều. người ta có thành kiến đi theo chọc phá, đâm thọc bạn đó. Huynh huynh đệ đệ giả vờ chớ cô này là phái nữ đó nghen. Ham nói nhiều và thù dai, ham nói cho nhiều mà toàn chớt quớt, không có ăn khớp vào đâu.

      • lại gì nữa nữa nói:

        Bạn nhắc mình mới nhớ, mang tri kiến khá giống nhau, nhưng mình nghĩ người giống người về tri kiến là chuyện bình thường mà bạn. Hơn nữa, bạn bảo người ta là con gái thù dai, chắc có lẽ là không phải đâu.

    • lại gì nữa nữa nói:

      Giúp bạn lần cuối tùy duyên vậy. Mong là bạn đừng bị đắm chìm quá sâu.
      1) Thứ nhất: Bạn hãy tìmh iểu kỹ về Phật Pháp cơ bản nhé!
      2) Thứ hai; Hãy tìm hiểu về bệnh MẶC KỆ – NHẬM BỆNH trong Phật Pháp.
      ==> Trong bình luận của bạn có quá nhiều ý(đa phần là hiểu sai ý nghĩa – đem Đông gắn vào Tây), nên mình không chỉ rõ ra hết được nhé! Do đó, mình khuyên bạn hãy tìm hiểu về 2 thứ ở trên.
      3) Thứ ba: Đừng thích thể hiện và biểu diễn nhé, bạn viết ra quá nhiều, là đủ hiểu rồi. Xem bạn giống như biểu diễn, múa mai hơn là đi hỏi Pháp. Mình vừa thấy thương xót cho bạn mà cũng vừa thấy khá là buồn cười.
      4) Thứ tư: Hãy biết tàm, quý, hãy biết hổ thẹn nhé, đó là đức tính cao quí giúp bạn có thể buông bỏ được tà kiến.
      Kết thúc tranh luận nhé! – Mình không muốn tranh luận với bạn đâu – mình ngỡ bạn đi hỏi Pháp – nên mới nhiệt tình trả lời cho bạn, chứ đâu ngỡ là bạn đi đả kích, biểu diễn Phật Pháp.
      Thân! Chúc bạn thân tâm luôn an lạc.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s