XUÂN ĐẾN XUÂN ĐI XUÂN LẠI VỀ

Năm ngoái mùa xuân đã đến rồi xuân đi mau bây giờ xuân lại về. Cái vòng tuần hoàn ấy cứ lặp đi lặp lại mãi theo chu kỳ 365 ngày. Cũng giống như vòng tuần hoàn sinh diệt của con người, ở đây không nói về luân hồi chuyển kiếp, mà nói về các thế hệ tiếp nối, cứ khoảng 25 năm thì có một thế hệ mới ra đời. Một đứa trẻ mới sinh ra, sau một chu kỳ trung bình khoảng 25 năm thì thành cha mẹ, rồi 25 năm sau nữa thành ông bà, rồi 25 năm sau nữa thành ông bà cố, sau đó thì diệt vong và các thế hệ sau cứ tiếp nối như thế. Những sự kiện của đất trời cũng như của con người diễn ra trong dòng thời gian.

Cảnh giới chúng ta đang sống, dòng thời gian trôi đi một chiều từ quá khứ trôi qua hiện tại và hướng đến tương lai, thời gian làm cho cảnh giới biến đổi do có sự chuyển động và làm cho con người lớn lên và già đi. Tuyệt đại đa số nhân loại đều cảm nhận như vậy và không hoài nghi gì, chấp nhận đó là một thực tế không thể thay đổi và cứ sống trong dòng thời gian ấy. Tuy nhiên cũng có một số rất ít người nghi ngờ rằng các cảnh giới cũng như dòng thời gian ấy không hoàn toàn là có thật và họ cố tìm cách chứng minh.

Zénon (tiếng Anh là Zeno 496 – 429 Trước Công nguyên) là triết gia người Hi Lạp.

Ông dùng lý luận toán học để chứng minh không gian và thời gian cũng như chuyển động là không có thật. Ông lý luận thế này :

Một mũi tên bắn ra muốn đi từ A đến E, trước hết nó phải vượt qua phân nửa đoạn đường tức là phải đến D, trước khi đến D nó phải vượt phân nửa đoạn đường tức là đến C, trước khi đến C nó phải vượt phân nửa đoạn đường tức là đến B. Lý luận cứ thế tiếp tục, đoạn đường cứ chia nhỏ ra mãi, tiệm cận điểm A nhưng không bao giờ trùng khít vào điểm A. Thời gian vượt từng nửa đoạn đường cũng chia nhỏ tương tự như thế. Khi chia đến một mức cực nhỏ,  nhỏ tối đa, khi khoảng cách không gian và thời gian chỉ còn là một điểm chứ không phải một đoạn thì mũi tên sẽ đứng yên một chỗ vì không có chuyển động. Nói cách khác, ở từng điểm không gian và thời gian thì mũi tên bất động. Đoạn đường AE cũng như thời gian cần thiết để mũi tên đi từ A đến E là tập hợp những điểm mà tại đó mũi tên đều bất động như thế, suy ra rằng mũi tên không chuyển động, chuyển động của mũi tên chỉ là ảo giác, thật tế là mũi tên bất động, mà đã bất động thì không bao giờ đến đích được.

Để dễ hiểu hơn lý luận của Zeno, chúng ta hãy xem một cuốn phim. Cuốn phim gồm rất nhiều tấm ảnh mỗi tấm ảnh chỉ khác nhau chút xíu. Máy chiếu kéo cuốn phim lướt tới với tốc độ khoảng 30 ảnh một giây, mắt con người không thể phân biệt từng tấm ảnh, chỉ thấy các nhân vật đi đứng, nói năng, hoạt động, mà không biết rằng từng tấm ảnh không có lay động biến đổi gì cả, cuộc sống của nhân vật trong phim là không hề có, nhân vật chỉ xuất hiện trong ảo tưởng của mắt, của tai, trong tưởng tượng của con người chứ không có thật. Chúng ta ai cũng biết rằng cuốn phim chỉ là ảo, cuộc sống của nhân vật trong phim chỉ là dàn dựng, không có thật. Nhưng ít ai nghĩ rằng cuộc sống ngoài đời thường cũng tương tự như trong phim, nghĩa là ảo hóa chứ không phải có thật.

Người đời cho rằng Zeno ngụy biện, nếu lý luận của ông là đúng thì ông ta hãy đứng làm bia cho người khác bắn, thử xem mũi tên có đến đích hay không. Zeno chỉ là triết gia nên ông không thể chứng minh bằng thực nghiệm cho lý luận của mình, do đó lý luận này bị chôn vùi trong suốt hơn hai ngàn năm. Nhưng đến năm 1984 thì có người sẵn sàng thực nghiệm lý luận của Zeno, người đó là Hầu Hi Quý.

Hầu Hi Quý (trái) và cựu thủ tướng TQ Chu Dung Cơ

Mùa thu năm 1984, Hầu Hi Quý cùng vợ là Hạ Linh Na (vợ thứ nhất) đến Du Huyện thăm người bạn cũ, trước là đến nhà của Ngô Tam Dư. Hôm ấy, vợ của Ngô Tam Dư vừa mới sinh con không bao lâu, còn nghỉ hộ sản một tháng, ngẫu nhiên trùng hợp với lúc Lưu Tư Lý của Công an Cục Du Huyện đến thăm hai mẹ con. Lưu Tư Lý đi cùng đồng nghiệp là Lý Bỉnh Hiền.

Hầu Hi Quý muốn chứng tỏ là viên đạn bắn ra không đi tới đích. Ông mượn cây súng của Lý Bỉnh Hiền, đó là cây súng của công an giao cho Lý Bỉnh Hiền để làm nhiệm vụ nên hoàn toàn là súng thật, và ông đưa nó cho Lưu Tư Lý và nói :

“Ông lại đây, ông nhắm vào tôi bắn ba phát, dám không ?” ông đưa tay vỗ vào ngực mình, “nhắm vào chỗ này mà bắn !”

Đương nhiên Lưu Tư Lý không dám bắn, anh ta sợ gây ra án mạng dù vẫn biết rằng Hầu Hi Quý không phải người bình thường. Cuối cùng Hầu Hi Quý phải gác chân lên tường tự bắn vào đùi mình.

“Tôi tự mình bắn vậy, các ông xem kỹ nhé !”

Nói xong, ông bóp cò, một tiếng “đoành” vang lên, không khí trong phòng lập tức căng thẳng. Mọi người còn đang kinh ngạc, lại hai tiếng súng nữa vang lên, tiếng súng nổ làm điếc tai. Mấy cặp mắt đều mở to nhìn trừng trừng vào chỗ đùi trần gác trên tường của chàng trai tráng kiện. Nhưng họ thấy Hầu Hi Quý vẫn tươi cười, ông cầm cây súng ngắn, đã dùng tay bóp cò mấy phát nhưng một là không thấy bị thương, hai là không thấy máu.

“Trả cho ông nè” Ông đưa súng cho Lý Bỉnh Hiền, tiếp đó buông lai quần xuống, “Ông kiểm tra xem có thiếu mất viên đạn nào không.”

Lý Bỉnh Hiền vừa mới kinh hồn, trấn tỉnh, lập tức mở súng, phát hiện mấy viên đạn vẫn còn y nguyên. Mọi người không hiểu tại sao, họ vừa chính mắt thấy Hầu Hi Quý lên cò súng, chính mắt thấy ông bóp cò khai hỏa, chính tai nghe ba tiếng súng nổ giòn, nhưng đạn lại không bắn ra.

Hầu Hi Quý đã chứng tỏ bằng thực nghiệm là viên đạn bắn ra không đi tới đích mặc dù ông có thể cũng không biết rằng từ hồi xa xưa đã có người lý luận như vậy. Thực nghiệm của ông đã chứng tỏ một điều là thế giới có hai hình thái trái ngược nhau. Một hình thái thông thường mà mọi người đều thấy và cảm nhận là thật, và một hình thái đặc biệt khác thường mọi người không thể tưởng tượng nổi, đó là không gian, thời gian, chuyển động đều không có thật.

Vào thời Tống ở TQ, đại gia về văn xuôi, Tô Đông Pha tức Tô Thức 蘇軾, một trong bát đại gia của hai thời kỳ Đường Tống, [bảy người kia là (đời Đường) Hàn Dũ 韓愈,Liễu Tông Nguyên 柳宗元và (đời Tống) Âu Dương Tu 歐陽脩、Tô Tuân 蘇洵、Tô Triệt 蘇轍、Tăng Củng 曾鞏và Vương An Thạch 王安石] ông có một cảm nhận về tính không biến đổi của các hiện tượng sự vật và trình bày cảm nhận này trong bài Tiền Xích Bích Phú  前赤壁賦 (bài phú về chuyến đi chơi Xích Bích lần đầu).

Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất, Tô tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bích. Hây hây gió mát, sóng lặng như tờ, cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Điệu. Một lát, trăng mọc lên trên núi Đông Sơn, đi lững thững trong khoảng hai sao ngưu, đẩu. Khi đó sương toả trên mặt sông, nước trong tiếp đến chân trời. Tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt trên mặt nước mênh mông muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cưỡi gió đi trên không, mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quên đời đứng một mình mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:
“Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.
Nhớ ai cánh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời”.
Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, bèn theo bài ca của ta mà hoạ lại. Tiếng sáo não nùng rên rỉ như sầu như thảm, như khóc như than. Dư âm vẫn còn lanh lảnh, nhỏ tít như sợi tơ chưa dứt, làm cho con giao long ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác cũng phải sụt sùi.
Tô tử buồn rầu sắc mặt, thu vạt áo, ngồi ngay ngắn mà hỏi khách rằng:
– Làm sao lại có tiếng não nùng làm vậy?
Khách đáp rằng:
– Câu “Minh nguyệt tinh hi, ô thước nam phi” chẳng phải là câu thơ của Tào Mạnh Đức đó ư? Phía tây trông sang Hạ Khẩu, phía đông nhìn sang Vũ Xương sông núi uốn khúc vây nhau, cây cối xanh tươi um tùm; đó chẳng phải là nơi Tào Mạnh Đức bị khốn với Chu Lang ư? Đương khi Tào công phá đất Kinh Châu, xuống thành Giang Lăng, thuận dòng mà sang mặt đông, thuyền bè muôn dặm, cờ tán rợp trời, rót chén rượu đứng trên mặt sông, cầm ngang ngọn giáo ngâm câu thơ, đó thực là anh hùng một đời mà nay thì ở đâu? Huống chi tôi với bác đánh cá, kiếm củi ở bến sông này, kết bạn cùng tôm cá, chơi bời với hươu nai, bơi một chiếc thuyền nho nhỏ, nhắc chén rượu để mời nhau, gửi thân phù du ở trong trời đất, nhỏ nhặt như hạt thóc ở trong bể xanh, thương cho sự sống của ta không được bao lâu mà khen cho con sông này dài vô cùng. Vậy mà muốn được dắt tiên bay để vui chơi cho sung sướng, ôm lấy vừng trăng tỏ mà sống mãi ở đời. Tôi không làm sao được như vậy, nên nảy ra tiếng rầu rĩ ở trong cơn gió thoảng!
Tô tử nói:

– Vậy thế thì bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ; mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy mà chưa thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; mà nếu tự ở nơi không biến đổi mà ra thì muôn vật cùng với ta, đều không bao giờ hết cả; cần gì phải khen đâu! Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy, nếu không phải là của ta thì dẫu một li ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông cùng vầng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của Tạo Hoá mà là cái vui chung của bác với tôi.

Khách nghe vậy, mừng và cười, rửa chén rót rượu uống một lần nữa. Khi đồ nhắm, hoa quả khan, mâm bát bỏ ngổn ngang, cùng nhau gối đầu ngủ ở trong khoang thuyền, không biết rằng vừng đông đã sáng bạch từ lúc nào.  (Phan Kế Bính dịch, Đông Dương tạp chí số 63)

“Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ; mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy mà chưa thêm bớt bao giờ.” Nhìn sự vật bằng quan điểm bất biến ắt hiểu rằng cái thấy của con người chỉ là biểu kiến, thấy như vậy mà thực tế không phải vậy. Xuân đến Xuân đi rồi Xuân lại đến là cái thấy của con người chứ thực tế thì Xuân không có đến cũng không có đi, Xuân chỉ là một khái niệm trong tâm trí con người. Không gian, thời gian và số lượng vật chất cũng chỉ là những khái niệm trong tâm. Thầy Duy Lực đã thuyết về vấn đề này như sau :

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

Tô Thức mơ hồ cảm nhận, ông diễn tả về cảm nhận khoảng cách không gian không có thật trong bài từ Đãn nguyện nhân trường cửu, bài này nguyên tác có tên Thủy Điệu Ca Đầu- Trung Thu 水調歌頭-中秋 (bài từ Trung Thu- bài ca điệu nước chảy). Trong bài này ông nói Đãn nguyện nhân trường cửu Thiên lý cộng thuyền quyên 但願人長久 千里共嬋娟 nghĩa là chỉ mong người sống lâu dù xa nghìn dặm vẫn cùng trông thấy một mặt trăng, ý nói khoảng cách không gian là không có thật nên những người ở xa nhau nghìn dặm vẫn cùng trông thấy mặt trăng. Ngày nay thì ý tưởng của ông đã được thực hiện tốt hơn rất nhiều khi con người đã chế tạo được điện thoại di động, đã phần nào triệt tiêu được khoảng cách không gian, giúp con người ở bất cứ nơi nào trên Địa cầu cũng có thể dễ dàng liên lạc với nhau.

Xin mời các bạn xem một cô gái trẻ người Nga tên là Natalia Bobunnikova, một người rất hâm mộ văn học cổ điển TQ, trình bày bài hát này bằng tiếng Trung.

Đãn nguyện nhân trường cửu- Tô Thức đời Tống 

Kinh Phật  từng chép rằng, hai nghìn sáu trăm năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, tức là khoảng thời gian hiện nay, đệ tử của Phật Thích Ca,  Đại Ca Diếp vẫn còn tại thế và chưa nhập niết bàn. Ông  từng phát nguyện rằng: “Nguyện thân ta không bị hư hỏng, sau khi đức Di Lặc giáng thế, thân cốt này sẽ vẫn tồn tại, từ nhân duyên đó hóa độ chúng sinh”. Nói xong, ông cầm  y bát của Đức Phật, bước vào trong tảng đá trên đỉnh Kê Túc, như thể bước vào bùn mềm. Sau khi ông đã vào bên trong, tảng đá trở lại như lúc đầu. Ông ở đây kể từ đó, chờ đức Di Lặc giáng sinh. Cách đây vài chục năm, nghe nói rằng, có vị tiến sĩ nước Anh là ông Bockson từng trông thấy khuôn mặt của tôn giả Đại Ca Diếp nơi vách núi Kê Túc. Trong kinh điển cũng có ghi lại việc Đức Phật phó thác cho một số đệ tử không nhập niết bàn.

在佛陀時代,摩訶迦葉、君屠缽歎、賓頭盧、羅睺羅皆受佛囑託,不入涅槃。《增一阿含經》卷四十四、《彌勒下生經》卷一云:「大迦葉亦不應般涅槃。」而《付 法藏因緣傳》、《大唐西域記》亦記大迦葉在雞足山入定,發願身至彌勒成佛,令不朽壞,所以他至今仍在定中,是娑婆世界入定最久的記錄保持者。

Trong thời đại của Đức Phật, Ma Ha Ca Diếp, Quân Đồ Bát Thán (Kundopadhaniya), Tân Đầu Lô (Pindola), La Hầu La, đều nhận lãnh lời Phật phó thác, là không nhập Niết Bàn. “Tăng Nhất A Hàm Kinh” quyển 44, “Di Lặc Hạ Sinh Kinh” quyển 1, nói : “Đại Ca Diếp cũng không về cõi Niết Bàn” mà các quyển “Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện”, “Đại Đường Tây Vực Ký” đều ghi Đại Ca Diếp nhập định tại núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri hay còn gọi là Tôn túc sơn Gradhakuta, nay thuộc bang Bihar, Ấn Độ, gần thành Vương Xá –Rājagaha-  của nước Ma Kiệt Đà- Magadha- xưa) phát nguyện giữ thân cho đến khi Di Lặc thành Phật, khiến thân không bị hư hoại, vì vậy cho đến ngày nay, ông vẫn còn nhập định tại núi Kê Túc, là người bảo trì được thân thể lâu kỷ lục trong cõi ta bà thế giới này. 

Maha Ca Diếp hay Đại Ca Diếp (Mahakasyapa) là Sơ Tổ của Thiền Tông Ấn Độ, ông là đại đệ tử của Phật Thích Ca, được Phật đích thân truyền pháp Tổ Sư Thiền qua sự kiện “Niêm hoa vi tiếu”, Phật đưa cánh hoa, Maha Ca Diếp mỉm cười. Thế là đủ, vì là tâm truyền tâm, nên tất cả pháp sâu xa nhất đều được truyền. Đại Ca Diếp tuy là đệ tử của Phật nhưng ông lớn tuổi hơn Đức Phật lịch sử. Sau khi Phật nhập diệt vào năm 543 Trước CN, (năm đó được lấy làm năm đầu của Phật lịch, đến năm nay 2019 dương lịch, thì Phật lịch là 2563), Đại Ca Diếp lo làm lễ trà tỳ cho Phật xong, 3 tháng sau thì lo tổ chức kết tập kinh điển lần thứ nhất, kéo dài trong 7 tháng. Hai mươi năm sau, Đại Ca Diếp truyền tâm ấn cho A-nan, có lẽ là năm 522 TCN, ông đi vào núi Kê Túc, nhập đại định, lúc đó ông 120 tuổi.

Trên đỉnh núi Kê Túc (Kukkutapadagiri) có một tảng đá to ngáng đường, để lên được đỉnh thì phải trèo lên. Thế nhưng, theo lịch sử ghi lại, Ngài Ca Diếp đã dùng thần lực chẻ đôi tảng đá ấy, rồi đi vào bên trong. Hiện nay, chứng tích ấy vẫn còn. Vách đá hai bên của đường chẻ bằng phẳng. Đường vào bên trong nhỏ hẹp dần, nếu ai mập quá thì không thể lách người qua được. Đi đến cuối đường thì rẽ trái, có một cái lỗ nhỏ chui qua để lên phía trên, có một tòa tháp nhỏ, hơi khó đi nhưng rất ấn tượng. Đây không phải là sự sáng tạo của thiên nhiên, mà của một vị Thánh nhân, là bậc thầy của người, đệ tử của Phật nên ta có cảm giác vừa thú vị, vừa kỳ diệu về điều này.

Đỉnh núi Kê Túc Ấn Độ

Vách núi xẻ làm đôi theo truyền thuyết là do thần thông của Ma Ha Ca Diếp

Miếu do Phật tử dựng để thờ Ma Ha Ca Diếp

Núi Kê Túc không phải là một dãy núi mà chỉ là một ngọn núi nằm trơ trọi ở một vùng đất bằng phẳng thuộc bang Bihar, cách Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh-Gaya) khoảng 75 km về hướng Đông Nam. Tầm nhìn xa và rất đẹp. Trên đỉnh núi có một cái tháp đang được xây, theo kiến trúc của Phật giáo Tây Tạng, dưới tháp đó là một cái hang, được cho là nơi đức Ca Diếp ngồi nhập định. Chỗ đó giờ được xây thành một điện thờ nhỏ, trong có tôn tượng đức Ca Diếp, làm nơi hành lễ của các đoàn đến chiêm bái.

Cách đây không lâu, khoảng đầu thế kỷ 20, tiến sĩ triết học Bá Khắc Sâm (Bockson), người Anh, đã được gặp tôn giả Đại Ca-Diếp tại Kê Túc Sơn, Ấn Độ, mà không biết. Sau đó theo hướng dẫn, ông đã quy y, trở thành tỳ kheo, đến Rangun, Myanmar thiền định và gặp lại, mới biết người lúc trước gặp chính là Đại Ca Diếp. Như vậy Đại Ca Diếp đã nhập định được hơn 2500 năm và đến nay vẫn còn sống. Ông ẩn thân trong tảng đá lớn nên không ai có thể thấy, chỉ trừ những người có nhân duyên ông muốn cho gặp. Thời gian chẳng có nghĩa lý gì.

Tại TQ cũng có núi Kê Túc và cũng có truyền thuyết ngài Đại Ca Diếp nhập định trong một tảng đá lớn.

Núi Kê Túc ở TQ

Kê Túc sơn thuộc huyện Tân Xuyên 宾川县, phía tây Tỉnh Vân Nam, bờ nam sông Kim Sa, Trung Quốc,huyện thành Tân Xuyên rất gần núi Kê Túc. Từ Đại Lý đến núi Kê Túc là 79km, có thể đi bằng xe đò. Núi sừng sững đứng tại nơi giao nhau của các huyện Tân Xuyên, Đặng Xuyên, Vĩnh Thắng, Hạc Khánh, Nhị Nguyên. Dãy núi Kê Túc với Thiên Trụ là đỉnh chính giữa, và cũng là đỉnh cao nhất cách mặt nước biển 3.248 mét. Trên đường đến núi Kê Túc có rất nhiều chùa.

ke tuc son

Vị trí  Kê Túc Sơn

Nương tựa vào nhau trên cùng một chân núi, dù hướng về các phía khác nhau, ba đỉnh núi uy nghi sừng sững với khí thế như tương trợ, đầu dãy núi đặt tại Tây Bắc, cuối dãy ở Đông Nam, tạo thành hình chân gà, cũng vì thế mà có cái tên Kê Túc. Thầy Duy Lực có nói tới núi Kê Túc và hòa thượng Hư Vân như sau :

0105 Núi Kê Túc, hòa thượng Hư Vân và ông tăng đắp đường lộ

Tại sao ngài Ca Diếp lại nhập định ở hai nơi khác nhau ? Một ở Ấn Độ và một ở TQ, cả hai nơi đều có những nét huyền bí. Đó là vì chúng ta phân biệt có hai vị trí khác nhau trong không gian, thật ra khoảng cách không gian là không có thật. Điều này đã được chứng tỏ rõ ràng trong thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau, do đó con người tưởng tượng là có khoảng cách không gian và từ đó mới phát sinh thời gian và số lượng. Thực tế là không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, những đại lượng này đều là tưởng tượng. Hai vị trí núi Kê Túc tại Ấn Độ và tại TQ cũng chỉ là thế lưu bố tưởng của bộ não con người mà thôi. Hầu Hi Quý có thể chứng tỏ cho nhà tỷ phú Hong Kong Lý Gia Thành thấy cái bàn mạ vàng của nhà tỷ phú này có thể tùy theo ý muốn của ông mà biến mất khỏi nhà và xuất hiện ở văn phòng của nhà tỷ phú. Sau màn trình diễn này vào mùa xuân năm 1991, hai người có chụp hình kỷ niệm.

Lý Gia Thành và Hầu Hi Quý

Phần trên đây chúng ta đã nói tới một hình thái đặc biệt nghịch với cảm nhận thông thường của con người. Nhưng cuộc sống đời thường với cảm giác thường nghiệm thì vẫn luôn diễn ra và dễ hiểu đối với mọi người, mỗi năm lại có một lần xuân về tết đến, mọi người hân hoan chào đón mùa xuân. Sắc xuân hiện ra trong hoa mai, hoa đào nở rộ, những chuẩn bị rộn rịp làm mới lại nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, thức ăn, cúng kiến ông bà tổ tiên, làm tiệc mừng tất niên và tân niên v.v…Giới ca nhạc làm ra, biểu diễn những bài hát mừng xuân, nhất là các bạn trẻ hân hoan nô nức mừng xuân.

Nam nữ thanh niên mừng xuân 2019

Xuân Hạ Thu Đông, vui tươi hớn hở, nắng cháy mưa dầm, hay buồn tênh ảm đạm, hoặc lạnh giá khắc khổ, đều là cảnh tượng mà con người cảm thấy, đó là thế lưu bố tưởng chứ không phải là sự thật có thực thể. Tuy nhiên cuộc sống của thế gian vốn là như vậy, chúng ta vui mừng hay buồn rầu theo những cảnh tượng biến đổi không có thực chất như vậy. Biết thế thì chúng ta sẽ bình tĩnh, điều độ, không quá đà trước những diễn biến của thiên nhiên, của thế sự nữa, nhưng cũng không phải là ngoảnh mặt không thưởng thức những vẻ đẹp, những biến đổi phong phú của đất trời, không phải không sống bình thường trong thế gian. Chúng ta vẫn có thế lưu bố tưởng nhưng không chất chứa chấp trước tưởng thì cuộc sống sẽ ổn hơn.

Truyền Bình

 

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to XUÂN ĐẾN XUÂN ĐI XUÂN LẠI VỀ

  1. lại gì nữa nữa nói:

    Không gian và thời gian là không có thật, chúng ta đang sống trong vũ trụ ảo(do tâm tạo). Vật lý lượng tử hiện đại đã chứng tỏ điều này rõ như ban ngày qua thí nghiệm 2 khe hở, liên kết lượng tử… Tuy nhiên, vật lý lượng tử dường như là một thứ vô cùng xa xỉ với phần đông thiên hạ, và hơn nữa tâm cố chấp là một thứ gông cùm vô cùng kiên cố, nó ngăn cản chúng ta tìm ra được sự thật. Nhắm mắt chiêm bao thì sáng mai thức dậy. Mở mắt mà chiêm bao thì khó mong mà có ngày thức tỉnh. Một niệm dấy khởi thì liền chu biến pháp giới(không gian + thời gian + số lượng), xuất hiện đối đãi, ngã và ngã sở, sum la vạn tượng, vũ trụ vạn vật. cũng như 3 nẻo, 6 cõi luân hồi

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s