TÁNH KHÔNG VÀ TÍNH DỤC (姓欲)

Tánh không là gì ?

Tánh không thì trên blog này đã đề cập rất nhiều rồi, ở đây chỉ nhắc lại sơ qua những điểm chính.

Long Thọ Bồ Tát nói : Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư không, không có thật) Tâm chỉ là tánh không thôi, tuy giống hư không nhưng tâm không phải là hư không vì tâm có thể biến hóa ra tam giới, vũ trụ vạn vật. Tánh không biểu hiện dưới ba hình tướng hay nói theo khoa học là ba đại lượng :

1/ Không gian không có thật, điều này thì khoa học gọi là bất định xứ (non locality)

2/ Thời gian không có thật hay không có thời gian (no time, time does not exist)

3/ Số lượng không có thật (no quantity) và sự hiện hữu không có thật (no realism)

Về mặt thực nghiệm thì thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) đã chứng tỏ một cách rõ ràng rằng khoảng cách không gian, thời gian, số lượng vật chất chỉ là ảo.

Khoa học từng biết tới một hiện tượng vật lý gây kinh ngạc cho các nhà khoa học, đó là hiện tượng liên kết lượng tử, rối hay vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Hiện tượng rối lượng tử mới được khoa học tái lập thí nghiệm, chứng thực năm 2008, là thực nghiệm tiêu biểu xác nhận tính tương đối của không gian, thời gian và số lượng, tức là cả ba đại lượng trên đều không độc lập tồn tại. Hiện tượng rối lượng tử là hiện tượng các hạt cơ bản như photon, electron, proton, neutron, và kể cả nguyên tử, có thể xuất hiện đồng thời tại hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khiến người quan sát không thể xác định chúng là một hạt cùng lúc ở nhiều vị trí, hay là nhiều hạt gần giống hệt nhau ở tại các vị trí khác nhau. Nhưng điều quan trọng là nếu có sự biến đổi của một hạt ở vị trí này thì tất cả các vị trí khác đều biến đối tương ứng, tức thời, bất kể khoảng cách bao xa. Nicolas Gisin, nhà vật lý của Đại học Geneve phát biểu : “điều thú vị ở đây là tự nhiên có thể tạo ra các sự kiện cùng xuất hiện ở nhiều địa điểm”. Các nhà khoa học tại Geneve, Thụy Sĩ tạo ra những cặp photon hoặc các gói ánh sáng. Chúng được chia ra rồi truyền qua cáp quang được Swisscom cung cấp, đến hai trạm tại hai ngôi làng thuộc Thụy Sĩ cách nhau khoảng 11 dặm (18 kilômét). Các trạm khẳng định rằng từng cặp photon vẫn kết nối với nhau – bằng cách phân tích các đặc trưng của một photon, các nhà khoa học có thể dự đoán tính chất đặc trưng của photon kia. Hai photon đã tương tác với nhau một cách tức thời. Nếu cho rằng hai photon đã chuyển tín hiệu cho nhau thì tín hiệu đó phải di chuyển với tốc độ không tưởng, gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng.

Năm 2012, Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow đã tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu với nhau. Có nghĩa là một photon xuất hiện ở 100.000 vị trí khác nhau, điều đó cho thấy số lượng chỉ là ảo.

Hiện tượng rối lượng tử xác định rõ ràng rằng không gian, thời gian và số lượng là không có thật, các đại lượng này chỉ phát sinh trong tâm thức của người quan sát khi có đủ điều kiện. Khoa học hiện đại hiểu rằng người quan sát có vai trò quan trọng trong việc hình thành các hiện tượng.

Thí nghiệm hai khe hở (Double slit experiment) chứng tỏ rõ ràng rằng hạt electron chỉ xuất hiện trong tâm niệm của người quan sát. Nếu không có ai quan sát hoặc không có thiết bị khảo sát thì electron chỉ là sóng vô hình, không phải là hạt vật chất. Tức là chính tâm niệm của người quan sát đã tạo ra hiện tượng sụp đổ, biến sóng thành hạt, từ đó mới cấu trúc thành nguyên tử, phân tử và cố thể vật chất.

Tánh không được thầy DL thuyết như sau :

1001 Không gian- Thời gian- Số lượng- Không thể dùng quán tưởng để sửa đổi nhân quả

Về mặt thực nghiệm cụ thể của con người thì Trương Bảo Thắng có thể lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà nắp đã bị hàn kín, anh ta lấy một quả táo ra ngoài chỉ bằng tâm lực mà không cần mở nắp. Hầu Hi Quý có thể lấy một gói thuốc lá ở cách xa chỗ anh ta đứng 1600 km một cách tức thời. Những thực nghiệm này cũng chứng tỏ rằng vật chất, không gian, thời gian, đều chỉ là tâm niệm chứ không phải có thật.

Tính dục (姓欲) là gì ?      

Trong cuộc sống đời thường của con người, tính dục (sex) là một nhu cầu quan trọng, nhất là đối với người trẻ, những cặp vợ chồng, đó là một nhu cầu của cơ thể không khác gì cơm ăn, áo mặc, nhà ở, không khí để thở. Nhưng các nhà giáo dục thời xưa (như Khổng Tử) gần như dị ứng với sex, chỉ coi đó như là một hành vi cần thiết bất đắc dĩ để truyền giống. Các vị giáo chủ thường tìm cách khắc chế hoạt động sex, đến mức quy định rằng các tu sĩ, những người tham gia tăng đoàn phải từ bỏ sex vì đó là dục lạc, tu sĩ cần phải nhiếp lục căn. Nhưng trước hết chúng ta hãy tìm hiểu nguồn gốc của sex.

Theo Duy Thức Học thì con người có 8 thức bao gồm tiền ngũ thức là 5 thức cơ bản đầu tiên: thấy, nghe, ngửi, nếm, thân thể tiếp xúc (thân thức). Kế đó là 3 thức tổng hợp : ý thức, mạt-na thức là a-lại-da thức. Ý thức tổng hợp các tín hiệu điện của tiền ngũ thức bằng bộ não và ghi nhớ, phân biệt, suy luận. Mạt-na thức lưu trữ các dữ liệu đó và hình thành thói quen phân biệt (chấp trước tưởng, chấp ngã) cho rằng các dữ liệu đó chính là mình (ngã, cái ta). A-lại-da thức hay Tàng thức là kho chứa cực lớn, tất cả dữ liệu của tất cả chúng sinh, tất cả cảnh giới của tam giới đều chứa trong đó. Tám thức thường xuyên trao đổi dữ liệu thông tin cho nhau tạo ra cái cảnh giới mà chúng ta gọi là thế gian, cuộc sống đời thường.

Để dễ hình dung, chúng ta hãy mượn các khái niệm của tin học hiện đại để đối chiếu thì sẽ thấy rõ ràng hơn. Các chức năng thấy và nghe tương ứng với video card và sound card của máy vi tính. Máy vi tính hiện nay chưa có các chức năng tương ứng của ngửi, nếm và thân thức. Bộ nhớ RAM tương ứng với ý thức, đó là bộ nhớ hoạt động. Ổ đĩa cứng tương ứng với mạt-na thức. Mạng internet tương ứng với A-lại-da thức. Dữ liệu có thể lấy từ internet xuống đĩa cứng để lưu trữ. Khi hoạt động, chẳng hạn hiển thị một hình ảnh thì dữ liệu của cái ảnh phải chuyển từ đĩa cứng qua bộ nhớ RAM và từ đó hiển thị ra màn hình.

Tương tự như vậy, tâm là a-lại-da thức, dữ liệu từ tâm qua ký ức (mạt-na thức) chuyển qua ý thức thì mới hiện hành. Mạt-na thức là thức chấp ngã của mỗi người. Những dữ liệu xa xưa của ngàn vạn kiếp quá khứ hay ngàn vạn kiếp tương lai nằm trong a-lại-da thức, ký ức không thể nhớ nổi, không thể biết, nhưng trong một số trường hợp thì ký ức có thể nhớ. Thôi miên cũng có thể kích thích cho ký ức nhớ lại. Khoa học đã ghi nhận được một số trường hợp nhớ lại kiếp trước.

Câu chuyện tái sinh của Suresh Verma

Sau khi đã xem qua 8 thức, chúng ta có thể xác định sex thuộc về thân thức, những cảm giác về sự tiếp xúc của thân thể. Tình yêu giữa nam và nữ nhất thiết dẫn đến ôm ấp hôn hít, khởi động thân thức. Cảm giác dâng trào đưa đến việc cởi quần áo để sự tiếp xúc thân thể trọn vẹn hơn, nhiều cảm giác hơn. Cuối cùng sex chính là phần quan trọng nhất của thân thức, đem lại khoái cảm chất ngất cho nam nữ khi giao hợp, khi đạt cực khoái, người nam phóng xuất tinh dịch trong đó có tinh trùng, chúng tìm đến trứng của người nữ để thụ tinh, tạo thành bào thai, truyền thừa nòi giống. Sex chính là một cơ chế của tâm tạo ra để giúp sinh vật nhất là con người biểu hiện tình cảm yêu thương với nhiều lạc thú và truyền thừa nòi giống. Tâm phải tạo ra lạc thú ái ân như một cơ chế để phóng xuất tinh dịch và tinh trùng ở người nam và cơ chế rụng trứng ở người nữ để tạo ra sự thụ tinh và sự sinh sôi của sinh vật.

Chúng ta sẽ tìm hiểu xem trong lịch sử văn hóa của nhân loại, quan niệm về sex biến chuyển như thế nào.

Đối với Nho giáo tại TQ, mối quan hệ giữa con người với nhau gọi là nhân luân cơ bản có 5 mối quan hệ gọi là ngũ luân 五伦 bao gồm :phụ tử (cha con) 父子、quân thần (vua tôi) 君臣、phu phụ (chồng vợ) 夫妇、huynh đệ (anh em)兄弟、bằng hữu (bạn bè) 朋友。Trong ngũ luân thì sex là nội dung quan trọng trong quan hệ phu phụ. Nhưng Nho giáo coi quan hệ phu phụ như là một cách để có con nối dõi tông đường chứ cố tình tránh né không đề cập đến lạc thú ái ân. Nam nữ khi đến tuổi trưởng thành thì dựng vợ gả chồng để thành phu phụ và có con nối dõi. Đối với Nho giáo thì sex là hành vi đáng xấu hổ nhưng cần thiết phải làm để có con nối dõi. Vì vậy nam nữ phải thực hiện sex trong phòng tối mịt mùng không nhìn thấy nhau, người quân tử mà nhìn thấy cơ thể khỏa thân của người vợ là dơ mắt, đáng xấu hổ, không thể chấp nhận. Trong sách vở của Nho giáo có ghi lại câu chuyện của Mạnh Tử 孟子 vị Á thánh của Nho giáo, một hôm bước vào phòng ngủ của vợ chồng ông mà không gõ cửa, tình cờ thấy vợ khỏa thân, ông bất bình đến mức đòi bỏ vợ vì cho rằng thế là vô lễ. May mà có bà mẹ can thiệp, nói lỗi tại ông vào phòng mà không gõ cửa, nên ông mới chịu bỏ qua.

Nho giáo trọng nam khinh nữ, không coi nữ giới bình đẳng với nam giới, do đó con gái không được đi học. Trong số 3000 học trò của Khổng Tử, không có ai là nữ. Tuy Nho học phát triển có giúp cho xã hội ổn định, nhân luân có phần tốt đẹp, nhưng cũng tạo ra nhiều phiền toái cho nhân sinh trong cuộc sống đời thường với nhiều ràng buộc, có khi phi lý. Ví dụ đời Hán, Ban Chiêu ( 班昭_45-116 CN), em gái của sử học gia Ban Cố, trong sách Nữ giới 女誡 (Lời khuyên răn đối với phụ nữ) bà nói : “Trinh nữ bất giá nhị phu” 贞女不嫁二夫 (Gái trinh không lấy hai chồng) ý bà muốn khuyên phụ nữ nếu lỡ chồng chết sớm, nên thủ tiết thờ chồng. Tại sao gái trinh không lấy hai chồng ? bởi vì người ta coi sex là việc đáng xấu hổ nên trong cuộc đời của một phụ nữ, người đàn bà chỉ nên biết một người đàn ông duy nhất. Trong câu chuyện về nàng Mạnh Khương khóc Trường Thành 孟姜女哭长城 có kể rằng trong đời Tần có xảy ra sự kiện đốt sách, một thư sinh tên là Vạn Hỷ Lương 万喜良 vì muốn giữ gìn sách nên bị truy nã, phải chạy trốn vào khuôn viên của Mạnh viên ngoại, trèo lên một cội cây um tùm bên cạnh cái ao, ẩn trong đám lá. Không  ngờ đúng lúc ấy, một nàng người hầu lại đưa tiểu thư Mạnh Khương đến khỏa thân tắm tại chiếc ao. Hỷ Lương hoảng quá giật mình rơi tòm xuống ao và bị gia nhân của viên ngoại bắt. Nàng Mạnh Khương có hai lựa chọn, một là tự sát để bảo toàn trinh tiết vì lỡ bị đàn ông nhìn thấy mình khỏa thân, hai là phải lấy người đàn ông đó làm chồng. Vì Hỷ Lương là thư sinh tuấn tú còn Mạnh Khương là tiểu thư xinh đẹp, họ rất xứng đôi, nên đã chọn giải pháp thứ hai. Nhưng số phận thật cay nghiệt đối với họ. Ngay trong đêm tân hôn, Hỷ Lương bị quan quân triều đình bắt đi xây Trường Thành. Chàng được đưa tới Sơn Hải Quan làm việc vô cùng cực khổ và bệnh mất chôn dưới chân Trường Thành. Nàng Mạnh Khương đan áo ấm đi tìm chồng, biết tin chồng đã chết, nàng khóc thảm thiết đến mức động lòng trời, sấm sét nổi dậy làm sụp đổ một đoạn Trường Thành, lộ ra bộ xương người chồng. Nàng làm lễ an táng chồng xong xuôi thì nhảy xuống biển Bột Hải tự tử. Câu chuyện của nàng làm cảm động lòng người, dân chúng xây đền thờ để kỷ niệm. Hiện nay đền thờ vẫn còn tại Sơn Hải Quan.

Đền thờ nàng Mạnh Khương     

Nếu với Ban Chiêu đời Hán, việc thủ tiết còn là tự nguyện của phụ nữ, thì đến Trình Di đời Tống, trong sách Cận tư lục 近思录đã đẩy việc thủ tiết đến cực đoan, có người hỏi ông nếu có người phụ nữ chồng chết mà nghèo quá không thể tự lập được, có nên tái giá không, ông cho rằng chết đói là việc rất nhỏ, thất tiết là việc rất lớn. “ Ngạ tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại”  饿死事极小,失节事极大 Như vậy phụ nữ không còn đường tái giá !

Có lẽ do quan niệm trọng nam khinh nữ mà Khổng Tử và các hậu duệ của ông đều gặp trục trặc trong cuộc sống hôn nhân của mình đến mức phải bỏ vợ. Người đàn bà khó có thể sống hạnh phúc thoải mái khi người chồng không xem mình ngang hàng, không có sự bình đẳng.

Chế độ phong kiến xưa qui định 7 trường hợp nam nhân có quyền bỏ vợ gọi là phụ nhân thất xuất 妇人七出 (7 điều người đàn bà có chồng phải ra đi ) được ghi trong sách Đại Đới Lễ Ký : 1. Bất thuận phụ mẫu, vi  kỳ nghịch đức dã (không hiếu thuận với cha mẹ, làm điều trái với đức) 2. Vô tử, vi kỳ tuyệt thế dã (Không có con trai là điều khiến cho không có người nối dõi) 3. Dâm, vi kỳ loạn tộc dã (dâm khiến cho dòng họ bị rối loạn) 4. Đố, vi kỳ loạn gia dã ( đố kỵ làm cho gia đình rối rắm) 5. Hữu ác tật , vi kỳ bất khả dữ cộng tư thình dã ( Có tật bệnh nặng khiến không thể ăn cùng mâm được) 6. Khẩu đa ngôn, vi kỳ ly thân dã ( miệng lắm lời khiến người thân ly tán) 7.Thiết đạo, vi kỳ phản nghĩa dã ( trộm cắp, làm trái với điều nghĩa).

Khổng Tử 19 tuổi, lấy Bà Ngột Quan thị, sinh ra Khổng Lý, sau thời gian dài chung sống, đã  bỏ vợ vì lý do vợ lắm lời. Mẹ chết, Khổng Lý khóc, Khổng Tử còn phê bình: “Hi! kỳ thậm dã” 嘻!其甚也 (Ôi thật quá đáng!) tức tỏ ý bất bình khi đứa con khóc người mẹ mà ông đã bỏ.  Con trai của ông là Khổng Lý cũng từng bỏ vợ. Rồi cháu nội ông là Khổng Cấp cũng bỏ vợ. Con của Khổng Cấp là Khổng Bạch tự Tử Thượng, khi mẹ chết còn không được để tang, có người hỏi tại sao, Khổng Cấp nói: “Bất vi Cấp dã thê giả, thị bất vi Bạch dã mẫu” 不为伋也妻者,是不为白也母 (Không phải vợ của Cấp thì không phải mẹ của Bạch). Hậu thế có câu “ Khổng thị tam thế xuất thê” ( Họ Khổng ba đời bỏ vợ). Chẳng những thế, học trò nổi tiếng nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm cũng bỏ vợ vì lý do “lê chưng bất nhục” 梨蒸不熟  (nấu canh lê không chín) tức là vì không cẩn thận, không chu đáo nên bị chồng bỏ.

Nhưng chế độ phong kiến không cho phép người đàn bà bỏ chồng, nhất là vào đời Tống, thời kỳ các nhà Nho trói buộc phụ nữ đến mức cao điểm. Đời Tống có một nhà làm từ nữ nổi tiếng là Lý Thanh Chiếu lấy chồng là thái học sinh Triệu Minh Thành. Cuộc chiến tranh với người Kim đã phá vỡ hạnh phúc gia đình của bà, hai vợ chồng đã phải chịu đựng không biết bao nhiêu gian nan khốn khổ vì chiến tranh, chạy loạn về phương nam. Rồi năm 1129, chồng bệnh mất, bà lại một mình lăn lóc, phiêu bạc, sống những năm cuối đời trong sự cô đơn khổ sở, sau cùng bà đến Hàng Châu. Những bài từ của bà, thời kỳ đầu diễn tả cuộc sống vui tươi nhàn hạ, thời kỳ sau là tiếng kêu bi thán về tình cảnh của mình, tình cảm, giọng điệu bi thương, hoài niệm về một thời kỳ hạnh phúc đã mất nơi quê cũ, hình thức là tả chân, kể rõ bước đường chạy loạn của mình, cách dùng từ cô đọng và đẹp.  Cuối cùng, bà có một bức thư cảm tạ gởi cho quan nội hàn Kỳ Sùng Lễ vào năm 1149. Đó là việc bà tái giá nhưng bị lừa dối, lấy phải người chồng không tử tế là Trương Nhữ Châu, chưa được một năm, bà gởi đơn kiện chồng và xin ly hôn. Bà thắng kiện nhưng theo luật đời Tống, vợ kiện chồng dù đúng cũng bị phạt tù hai năm. Vì bà là phụ nữ tài hoa, nổi tiếng nên quan lớn Kỳ Sùng Lễ hết lòng giúp đỡ, giảm miễn cho bà những việc lao khổ trong tù, sau khi mãn hạn tù, bà có gởi thư cảm tạ. Việc này phản ánh tình cảnh khó khăn, bất bình đẳng của phụ nữ dưới thời phong kiến.

Nho gia một mặt trọng nam khinh nữ, một mặt đè nén sex nhất là đối với nữ giới. Phụ nữ có chồng, lỡ chồng chết sớm thì phải ở vậy để thờ chồng không được tái giá, không quan tâm tới nhu cầu tâm sinh lý của họ. Có những phụ nữ quá bức xúc vì nhu cầu không thể đè nén, họ ngoại tình mà lỡ bị phát hiện thì phải chịu hình phạt rất tàn khốc. Họ bị nhốt vào cái lồng tre gọi là tẩm trư lung 寖猪籠 (lồng trấn nước heo) và ném xuống sông cho chết trôi.

Tẩm trư lung (lồng trấn nước heo)

Trái lại các bậc vua chúa thì tự do theo đuổi sắc dục. Vua Tần Thủy Hoàng xây dựng cung A Phòng rất vĩ đại và diễm lệ chứa tới 3000 cung nữ. Bài A Phòng Cung Phú 阿房宮賦 của Đỗ Mục 杜牧 mô tả như sau (trích một đoạn).

“Phi tần thị nữ , vương tử hoàng tôn, từ lầu xuống điện, ngồi xe tới Tần, sáng ca tối đàn, và thành cung nhân. Kìa sao lấp lánh: mở gương đấy mà; mây xanh rối loạn: mớ tóc xõa ra; sông Vị đầy mà; đốt tiêu đốt lan: đám khói tà tà; sấm động kinh hồn: tiếng xe chạy qua; nào biết đi đâu, ầm ầm ở xa. Da thịt dung mạo, làm đỏm làm duyên, đứng chờ xa xa, mong được vua nhìn. Có kẻ trông ngóng ba mươi sáu năm liền chưa được gặp vua”.

Ngoài vua chúa, các văn nhân tài tử cũng có thể thoải mái theo đuổi sắc dục. Chế độ phong kiến cấm đoán phụ nữ nhưng thả lỏng cho nam giới, thể hiện trong câu tục ngữ “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”

Đường Dần 唐寅 (1470-1524) tự Bá Hổ 伯虎là một danh hoạ, một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Minh. Đường Dần có sở trường vẽ nhân vật, đặc biệt là tranh về phụ nữ, ông vẽ Xuân Cung họa, điều này có liên quan đến thói quen phong lưu trong cuộc sống của ông và đây cũng là một biểu hiện về tính cách phong lưu bất kham của Đường Bá Hổ.

Xuân cung họa của Đường Bá Hổ

Thậm chí, chúng ta còn có thể cho rằng đây chính là sự phản ánh mang tính châm biếm đối với sự hủ bại của quan trường, mặt trái trong xã hội và lễ giáo phong kiến thời bấy giờ.

Người đời sau có khá nhiều ghi chép về Xuân Cung họa của Đường Bá Hổ. Trong Thái Bình Thanh Thoại của tác giả Trần Kế Nho đời nhà Minh có ghi Đường Bá Hổ có quyển sách ghi chép lại quá trình mây mưa với kỹ nữ, tên sách là Phong lưu tuần nay đã thất truyền.

Tác phẩm Uyên Ương Bí Phổ của Đường Bá Hổ

Đường Bá Hổ là một nhân vật phong lưu ở TQ thời xưa, không ngờ ngày nay ông lại được một cô gái người phương tây hâm mộ. Cô Annie Kathryn Lowdermilk người Mỹ sang TQ nghiên cứu văn học cổ và lấy tên tiếng Hoa của mình là Đường Bá Hổ, cô nói và hát trong clip sau :

Uổng Ngưng Mi- Vạn Thủy Thiên Sơn Tình- Annie Kathryn Lowdermilk

Vậy tánh không và tính dục có liên quan gì với nhau ?

Tánh không là bản thể của vũ trụ vạn vật, của cuộc sống thế gian. Sex là một hoạt động có thể nói là chính yếu của thân thức, một nội dung quan trọng của tình yêu nam nữ, hạnh phúc vợ chồng, cuộc sống của con người. Ngày nay khoa học kỹ thuật tiến bộ, ứng dụng được phần nào tánh không khiến cho đời sống của con người nhất là phụ nữ, dễ thở hơn rất nhiều.

Trong thời phong kiến, phụ nữ bị Nho giáo gò bó đủ thứ, bị lệ thuộc đàn ông, không có quyền tự chủ. Nào là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử 在家从父 出嫁从夫 夫死从子 (Trong nhà thì theo cha, xuất giá thì theo chồng, chồng chết thì theo con). Nào là “Trinh nữ bất giá nhị phu” 贞女不嫁二夫 (Gái trinh không lấy hai chồng). Trớ trêu thay tôn chỉ này lại do chính phụ nữ (Bà Ban Chiêu, em gái của Ban Cố và Ban Siêu) đưa ra. Nào là “ Ngạ tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại”  饿死事极小,失节事极大(chết đói là việc rất nhỏ, thất tiết là việc rất lớn). Câu này do Trình Di 程颐 một nhà Nho đời Tống đưa ra. Như vậy phụ nữ không còn đường tái giá ! Chúng ta biết rằng đời Tống là thời kỳ phụ nữ bị trói buộc nặng nề nhất.

Đạo lý tánh không của Phật pháp giúp cho con người hiểu rằng tất cả các pháp, tất cả các cảnh giới từ vật chất cho tới tinh thần đều là giả tạm, đều là vọng tưởng của nhất niệm vô minh chứ không có thực chất. Con người nhất là phụ nữ không nhất thiết phải bị gò bó đến mức như Nho giáo quy định, mất hết tự do và niềm vui trong cuộc sống. Con người một mặt cần phải tu tập để làm chủ thân tâm, tránh các ác nghiệp, mặt khác con người cũng phải có cuộc sống thoải mái trên thế gian, bởi vì thế gian cũng là công dụng của tâm. Phật pháp khuyên con người nên tu hành giác ngộ, thoát khổ, nhưng không yêu cầu tất cả con người trên thế gian đều trở thành tăng ni. Tăng ni, tăng đoàn chỉ là hình mẫu, mẫu mực để làm gương cho quần chúng. Mà đã là hình mẫu thì chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong xã hội. Vì là mẫu mực nên tăng, ni phải giữ nhiều giới luật nghiêm túc như phải ăn chay, phải hoàn toàn từ bỏ dục lạc, từ bỏ sex, tinh tấn tu tập đến kiến tánh giác ngộ để làm gương mẫu. Còn đối với Phật tử, cư sĩ tại gia, Phật pháp chỉ yêu cầu giữ 5 giới cơ bản trong đó có giới tà dâm chứ không bắt buộc phải từ bỏ sex hoàn toàn đối với vợ hay chồng của mình.

Những người nào có điều kiện để trở thành tu sĩ hay ni cô ? Đó là những người họ không còn hoặc rất ít nhu cầu về tính dục, về sex. Chẳng hạn trong lịch sử Thiền tông có một người kiến tánh trong thời kỳ cận hiện đại, đó là Hư Vân hòa thượng (1840-1959). Tự truyện của ngài được kể trong sách Hư Vân Hòa Thượng Niên Phổ 虚云和尚年谱. Ngài sinh ra trong bọc điều, có chí xuất gia từ nhỏ và không có nhu cầu sex. Năm ngài 17 tuổi, người cha vì muốn ràng buộc ngài ở nhà nên cùng lúc cưới liền cho ngài hai cô vợ, họ Điền và họ Đàm. Thế nhưng thực tế ngài chẳng bao giờ tiến hành sex với họ. Họ trở thành phụ nữ lấy chồng cũng như không. Hai cô này về sau cũng theo kế mẫu của ngài là Vương Thị, xuất gia làm ni cô. Năm ngài 31 tuổi, gặp Pháp sư Dung Cảnh, được giáo huấn : “Ông chỉ biết người xưa tu thân. Vậy ông có biết người xưa tu tâm như thế nào không? Thấy hình thể tu hành của ông như vầy, thật gần với ngoại đạo, chẳng phải là chánh đạo, uổng phí công phu tu hành cả mười năm. Ở rừng sâu núi thẳm, ăn đọt tùng uống nước suối, thọ mạng được trăm ngàn năm, bất quá chỉ là một trong mười loại tiên nhân như trong kinh Lăng Nghiêm thôi, cách đạo rất xa. Tiến lên một bước nữa là chỉ chứng được sơ quả, tự giải thoát. Nếu có tâm Bồ Tát, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, tự độ cùng độ người, tu đạo xuất thế gian nhưng không rời pháp thế gian. Ông miễn cưỡng không ăn cơm, mặc quần không đáy, chưa nói là làm bộ khác thường kỳ dị; công phu quái dị như vầy mà năng thành phiến sao?”  Sau đó dạy ngài khán câu thoại đầu: ‘Ai là người đang mang thây chết này?’ Năm ngài 37 tuổi, trong một lần qua đò từ Ninh Ba đến Hàng Châu, ban đêm, mọi người ngủ, ngài cũng ngủ, bỗng cảm giác có ai sờ mó, giật mình mở mắt thì thấy một cô gái trần truồng nằm bên cạnh mời mọc ngài, tất nhiên là ngài không động tâm, cô gái bèn bỏ đi. Những người như Hư Vân mới nên làm tu sĩ, làm mẫu mực cho người đời. Năm Quang Tự thứ 20 (1895) lúc 56 tuổi, ngài kiến tánh, giác ngộ, có thần thông. Sau đó ngài đi du phương khắp nơi trùng tu các chùa chiền bị đổ nát. Trong những năm đầu Dân Quốc, lúc ngài trên dưới 80 tuổi, ngài hoạt động ở vùng núi Kê Túc tỉnh Vân Nam và có gặp một ông tăng chuyên đi sửa đường.

0105 Hư Vân hòa thượng và ông tăng đắp đường lộ

Ngày nay khoa học phát triển, mọi người đều có thể sắm smartphone để dùng. Smartphone cũng là một loại thần thông do khoa học mang tới giúp triệt tiêu khoảng cách không gian. Tánh không của không gian được ứng dụng hữu hiệu trên loại điện thoại thông minh này. Những cặp vợ chồng mà do hoàn cảnh phải xa nhau, có thể một người ở trong nước còn một người ở nước ngoài, họ vẫn hoàn toàn có thể nhìn thấy nhau và trao đổi với nhau những lời yêu thương tình tứ, thậm chí họ có thể chat sex với nhau. Các cảm giác của cơ thể được mô tả bằng tiếng nói hoặc bằng chữ viết. Khoa học hiện nay chưa đạt tới mức biến đổi được cảm giác của khứu giác, vị giác và xúc giác (thân thức) thành tín hiệu điện và khôi phục lại ở khoảng cách xa, giống như thị giác và thính giác. Do đó vợ chồng, nam nữ tiến hành sex qua mạng thì chỉ nhìn thấy thân thể và nghe tiếng của nhau chứ chưa có được cảm giác của mùi hương, lưỡi chạm, cơ thể tiếp xúc. Nhưng những mô tả bằng chữ hoặc tiếng nói cũng phần nào gợi ra cảm giác.

Triệt tiêu khoảng cách không gian đúng là một cuộc giải phóng, nhất là đối với phụ nữ. Vì họ có thể ở tại nhà, ở trong phòng riêng mà vẫn có thể gặp gỡ bạn bè, người yêu, ở những nơi rất xa xôi trên thế giới. Trên mạng internet thì không còn khái niệm không gian nữa. Có chăng là những biên giới vô hình do con người dựng lên để kiểm duyệt thông tin mà thôi.

Khoa học còn có thể tiến xa hơn nữa, chẳng hạn viễn tải lượng tử, gởi các vật thể đi xa, thậm chí gởi cả một con người đi xa một cách tức thời. Hiện nay điều này còn là viễn tưởng như clip sau đây, nhưng biết đâu trong tương lai sẽ thành hiện thực :

Viễn Tải Và Máy Tính Lượng Tử – Quantum Teleportation And Computer

Sex không còn nhiều lắm cái vai trò là chức năng truyền giống, chức năng này ngày càng thu hẹp vì sự hạn chế sinh đẻ, mỗi cặp vợ chồng thường không có quá hai con, sex không phải để sinh con mà sex trở thành biểu hiện tình yêu của con người, tìm thấy lạc thú ái ân mà các kinh điển xưa mô tả, như Kāmasūtra là một cuốn sách Ấn Độ cổ, biên khảo về tính dục được viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit). Tác phẩm gồm 7 phần, với khoảng 1.250 khổ thơ được cho là do thiền sư Bà la môn Mallanaga Vatsyayana, sống ở Pataliputra (Hoa Thị Thành), phía bắc Ấn Độ, viết vào thế kỷ thứ III. Hoặc Sách Tố Nữ Kinh đã tập hợp các kinh nghiệm về phòng the ngàn đời của Trung Hoa, là tác phẩm có giá trị về y học, sức khỏe, rất tốt cho mọi gia đình, vì đó là niềm vui, hạnh phúc bình yên. Ngoài ra sách này còn đi kèm với bộ Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn皇帝内径素问, theo truyền thuyết nó xuất hiện từ thời Hoàng Đế sống cách đây khoảng 4.600 năm cung cấp những kiến thức cơ bản về phòng the.

Khi nào nam nữ yêu nhau thì họ tiến hành sex, họ không bị ràng buộc bởi khoảng cách không gian nữa, họ có thể thực hiện ở bất cứ phương trời xa xôi nào khó ai có thể kiểm soát được. Cá nhân có nhiều quyền tự do riêng tư hơn mà các thể chế xã hội không thể chi phối, không thể quản lý như ngày xưa nữa. Như vậy sự triệt tiêu khoảng cách trên không gian mạng tạo điều kiện cho chat sex. Cái này có thể có hậu quả tiêu cực và tích cực tùy mức độ hiểu biết tự chủ của người thực hiện.

Hậu quả tiêu cực là nó tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng cho những cuộc phiêu lưu tình cảm đến những chân trời xa lạ khó có thể ngờ tới, nó có thể gây bất ổn, mất sự êm ấm hạnh phúc trong gia đình. Đó là điều mà người có hiểu biết nên tránh. Ai đã có một gia đình êm ấm hạnh phúc thì không nên bước vào những vào những cuộc phiêu lưu như vậy.

Nhưng mặt khác, nó cũng có thể có hậu quả tích cực. Một cặp vợ chồng nếu họ cảm thấy đối phương có những điều không thể đáp ứng yêu cầu của mình một cách cơ bản, thông thường thì họ đi đến chia tay, ly dị, gây khổ sở cho con cái. Nhưng ở thời đại này không nhất thiết phải chia tay, không cần thiết phải gây đau khổ cho con cái vì họ có thể kín đáo tìm thấy những mối quan hệ khác bổ sung cho nhu cầu của mình. Vô hình trung quan hệ hôn nhân của họ trở nên vững vàng hơn, ổn định hơn, mặc cho người hôn phối của họ nhiều thiếu sót, bởi vì nhu cầu của họ đã được tình yêu tánh không đáp ứng. Khoảng cách không gian bị triệt tiêu giúp họ dễ dàng có một đối tác tình yêu (love partner) ngoài hôn phối chính thức. Đây là sự bổ sung tuyệt vời mà người hôn phối có khi biết nhưng cũng có thể chấp nhận bởi vì biết mình có nhiều thiếu sót không đáp ứng được bạn đời, không cách nào khắc phục nổi và cũng biết những người kia không hề gặp nhau, không hề tiếp xúc ngoài đời thật nên không nhất thiết phải chia tay gây khổ sở cho con cái. Tánh không tạo ra sự hài hòa tuyệt vời giữa các mối quan hệ mà thường các mối quan hệ đó độc lập với nhau, tách biệt hẳn nhau và không gây trở ngại cho nhau. Ví dụ một cặp đôi có con cái đang sống ở VN, một người trong cặp lại có một love partner ở nước ngoài, thì người hôn phối của họ khó có thể biết và không bao giờ gặp được người kia, mà ngay một cặp love partners có thể cũng không bao giờ gặp nhau ngoài đời thật. Cuộc sống gia đình họ vẫn diễn ra đầm ấm, đời sống tính dục của họ vẫn bình thường với người hôn phối chính thức, nhưng một người vẫn có love partner để đáp ứng nhu cầu riêng của mình, nhất là về tinh thần, mà người chồng hoặc vợ không thể đáp ứng, lẽ ra cuộc hôn nhân phải tan vỡ, nhưng tánh không giúp gia đình họ vẫn được bảo toàn mà nhu cầu riêng của mỗi người vẫn được đáp ứng.

Đây không phải là lý thuyết suông mà thực tế đang diễn ra trong thế giới hiện đại. Qua các mạng xã hội như facebook, twitter, weibo, wechat…người ta có thể tìm thấy tương đối dễ dàng các mối quan hệ có thể đáp ứng các nhu cầu thầm kín của một cá nhân ở những nơi có thể rất xa xôi mà có thể suốt đời họ cũng chẳng bao giờ tìm đến gặp nhau, thế nhưng hàng ngày vẫn có thể gặp nhau trên mạng để đi đến tình yêu và tiến hành chat sex. Tất cả chỉ tùy thuộc tình cảm trong lòng mình chứ không còn tùy thuộc định chế xã hội khắt khe như ngày xưa. Phụ nữ không còn sợ bị hình phạt tàn bạo bỏ vào tẩm trư lung ném xuống sông cho chết đuối như ngày xưa. Các smartphone hiện đại giúp họ bảo mật rất tốt bằng vân tay, ngoài người chủ ra không ai khác mở được màn hình. Ngoài ra các hình ảnh hay tư liệu mật còn được tủ an toàn trong máy bảo quản thật kín đáo khiến cho những bí mật riêng tư của họ rất khó bị phát hiện. Và điều đó cũng giúp cho gia đình họ lẽ ra là tan vỡ nhưng vẫn có thể duy trì lâu dài một cách hài hòa tốt đẹp.

Kết luận    

Bài viết này nhắm vào đối tượng là những cặp vợ chồng đã có một, hai con, nhưng gia đình họ có nguy cơ tan vỡ vì vợ chồng họ có những bất đồng, một hoặc cả hai có nhiều thiếu sót quan trọng không đáp ứng được nhu cầu của nhau, đến mức họ nghĩ đến việc chia tay bất chấp là việc đó gây đau buồn cho con cái. Những đối tượng này nên nghĩ lại vì Đức Phật có dạy vi diệu pháp về tánh không có thể hóa giải được vấn đề trong gia đình họ. Cụ thể trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu :

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.   

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vật chất không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là không, không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.   

Cảnh giới vật chất, không gian, thời gian, số lượng, cũng như tình cảm, cảm giác, tư tưởng, ngã và ngã sở, đều không có thực chất, chỉ là vọng niệm của tâm, do đó không nên quá cố chấp vào những vọng niệm không phải là chân lý. Khoa học hiện đại đã phần nào hiểu rõ lời dạy của Đức Phật, người ta còn chế tạo được những công cụ như máy vi tính, laptop, smartphone, mạng internet, mạng 4G, 5G v.v…phần nào thực hiện được tánh không, như làm triệt tiêu được khoảng cách không gian, thời gian, số lượng trên không gian ảo của mạng internet.

Hiểu được tính chất giả tạm không có bản thể, không có thực chất của các pháp, lại có phương tiện để thực hiện bổ sung những thiếu sót mà người hôn phối không thể mang lại. Họ hoàn toàn có thể duy trì được sự êm ấm của gia đình, không nhất thiết phải chia tay gây khổ cho con cái, đồng thời vẫn đáp ứng được những nhu cầu riêng của mình.

Truyền Bình

 

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

9 Responses to TÁNH KHÔNG VÀ TÍNH DỤC (姓欲)

  1. vjukixgh nói:

    wifi có phải là ảo ko bác, tôi có xem clip dị nhân tự tạo ra mạng mà ko cần nhà mạng, ông nói mọi thứ là ảo nên tôi có thể tạo ra mọi thứ

  2. lại gì nữa nữa nói:

    [Dạo này ít có ai vào comment trao đổi nhỉ]
    Chúng ta biết trong các thánh quả, ví dụ như sơ quả tu đà hoàn vẫn còn nhiều nhất 7 kiếp tái sanh. Có thể ngài Hư Vân là thánh nhân tái sanh, nên mới không còn tham dục giới tính. Còn ở phàm phu thì nhu cầu sex ít, hay nhiều thì còn tùy vào ở dưới mới lên, hay ở trên mới xuống. Đó cũng chỉ là tập khí thôi, nếu ta cố gắng chiều theo tập khí, cứ suy nghĩ về nó, cư huân tập nó, thì tập khí ngày càng dày cộm thêm. Cho nên Phật mới dạy giữ giới. Giao hoan với người không phải chồng, hay là vợ của mình là tà dâm, ắt chiêu cảm ác quả. Cho nên tránh ủng hộ cho việc này thì hơn. Chúng ta cứ tự do làm điều gì mà mình thích, và đương nhiên là phải chịu trách nhiệm cho những hành vi mà mình đã tạo tác(luật nhân quả).
    Hơn nữa trong kinh lăng nghiêm đức Phật có nói về Tình và Tưởng có thể quyết định cảnh giới tái sinh. Tình(kinh lăng nghiêm) để chỉ các sự ham muốn nói chung – và tình dục nam nữ là một phần trong đó. Chúng ta huân tập cho nó dày cộm thêm, thì ắt không có kết quả tốt đẹp.
    Đòi hỏi người xuất gia – chư tăng ni ai ai cũng như ngài Hư Vân không còn tham dục thì là điều rất khó. Miễn sao chịu chân thật tu hành, có giữ giới luật, thì xứng đáng để chúng ta kính trọng, cúng dường(trừ mấy ông tu hành giả dối, đi cạo đầu với mục đích abc).

  3. Tôi rất cám ơn bạn đã phản hồi

  4. gh nói:

    theo bác nhà sinh học đúng hay triết học đúng
    http://zeally.net/doi-thoai-giua-nha-sinh-hoc-va-nha-triet-hoc/

    • Tôi không có thì giờ để đọc hết bài của bạn dẫn, chỉ xin đưa ra vài nhận thức cơ bản để bạn tự đánh giá. Nhận thức 1 : Nhất thiết pháp vô tự tính (nền tảng là các hạt cơ bản của vật chất không có sẵn đặc trưng, đặc trưng của hạt là do người quan sát tưởng tượng gán ghép cho hạt). Từ đó dẫn tới nhận thức 2 : Nhất thiết duy tâm tạo (tất cả các pháp kể cả vật chất đều là do tâm tạo. Như vậy cả vũ trụ vạn vật, ngã hay vô ngã đều là vọng niệm, không có gì là thật cả.

  5. chánh niệm nói:

    Cháu chào Bác!
    Bác có thể dùng hiểu biết của mình để giúp mọi người hiểu rõ sự thật của bài viết bên dưới được không ạ!
    Một người có thần thông thì trong nhà Phật đã quá rõ. Nhưng trong trường hợp này có đúng là ông ta đã đạt được thần thông không? hay chỉ là một loại tà định gây cho ông ta ảo tưởng về bản thân?

    http://cafebiz.vn/ong-dang-le-nguyen-vu-noi-ve-su-phi-thuong-cua-ban-than-mat-nhin-duoc-song-dien-thoai-thay-dom-lua-xa-50-kilomet-hieu-moi-khoa-hoc-tren-the-gian-ke-ca-truong-sinh-bat-tu-20190304155731623.chn

    • Phát biểu của ông ĐLNV mang đầy ngã tướng. Có thể ông ta có một chút trải nghiệm về thần thông, có thể thấy đốm lứa cách xa 50 km, nhưng nếu yêu cầu ông ta lấy một gói thuốc lá cách xa 1600 km như Hầu Hi Quý, ông ta có làm được không ? Phát biểu của ông ta cũng hồ đồ chứng tỏ chưa rành kinh điển. Chẳng hạn ông ta nói một giây chia làm 84000 sát-na, đó là hồ đồ. Kinh điển chỉ nói một giây, theo khảo sát chặt chẽ của tôi chỉ có 75 sát na. Một ngày đêm có 86400 giây. Đại Tỳ Bà Sa Luận định nghĩa sát na 刹那 (Sa.ksana) như sau : Một ngày đêm có 30 mâu hô lật đa 牟呼栗多(muhurta), một mâu hô lật đa bằng 30 lạp phược 臘縛 (lava), một lạp phược bằng 60 đát sát na 怛剎那(tatksana), một đát sát na bằng 120 sát na 刹那 (ksana). Suy ra một ngày đêm 24 giờ bằng 30 x 30 x 60 x 120 = 6.480.000 sát na. Vậy một giây của chúng ta (second) bằng 6.480.000 /86.400 = 75 sát na. Nói tóm lại ông ta nói bừa cũng không ít. Thần thông cũng chẳng có bao nhiêu.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s