THỜI-KHÔNG VÀ CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH MỚI

Trên Duy Lực Thiền đã nói nhiều về thời-không (space-time) rồi, nhưng vẫn chưa hết ý, nên hôm nay tôi lại nói thêm về thời-không. Ai đã có nghiên cứu nhiều về Phật pháp đều biết A-lại-da thức hay Tàng thức chứa tất cả mọi thông tin bao trùm cả quá khứ, hiện tại, vị lai. Bởi vì thông tin vốn cũng không có tự tính và cũng không có thật nên Kinh Kim Cang nói : Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Một lời nói ra hay một sự mô tả cũng là thông tin, nên Kinh Lăng Nghiêm nói : Phàm tất cả những lời nói ra đều không có nghĩa thật. Từ đó chúng ta có thể suy ra những ý nghĩa cụ thể trong cuộc sống đời thường hàng ngày của thế giới hiện đại, chúng mang những ý nghĩa khác với nhận thức thông thường của người đời. Chúng ta thử nhìn thế giới hiện đại qua lăng kính thời-không của Phật pháp xem thế nào.

Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc chiến tranh thương mại. Thật ra không phải chỉ là chiến tranh thương mại, nó là cuộc Chiến Tranh Lạnh xảy ra giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới và nó có tầm ảnh hưởng cực lớn, đụng chạm dính líu tới tất cả mọi người trên địa cầu. Và nó diễn ra trong không gian và thời gian cụ thể, bản chất thực tại của nó như thế nào, bản chất thời gian không gian là gì, đó là điều bài viết này sẽ phân tích. Trước hết là một ví dụ nhỏ :

Trong trận chung kết King’s Cup tức cúp Nhà Vua Thái Lan diễn ra tại tỉnh Buriram Thái Lan ngày 08-06-2019  giữa đội tuyển Việt Nam và đội Curaçao là đội tuyển của quốc gia Antille thuộc Hà Lan, cầu thủ Công Phượng đã đá hỏng quả penalty khiến đội Việt Nam vuột mất chiếc cúp vô địch, sau khi hai đội hòa nhau 1-1 trong 90 phút thi đấu chính thức và hai đội phải quyết định thắng thua bằng sút luân lưu. Kết quả 5-4 nghiêng về Curaçao. Người hâm mộ VN đã bực tức buông ra lời chỉ trích Công Phượng : “Đá giỏi lắm, đá văng cả Cup”. “Có ai thấy quả bóng của Phượng đá bay tới đâu không ạ”.

Người hâm mộ không hiểu rằng kết quả này không phải mới xảy ra lần đầu tiên trong lịch sử Pháp giới, nó vốn là một thông tin đã có sẵn trong Tàng thức. Vị lai không phải là chưa xảy đến mà chỉ là người xem chưa thấy, sự kiện diễn ra chưa tới. Giống như người ta quay lại video toàn bộ trận đấu. Ví dụ chúng ta không có xem trực tiếp và cũng chưa biết kết quả trận đấu ra sao, và xem  trận đấu qua video này. Chúng ta mới xem tới phút 82 khi cầu thủ Đức Huy ghi bàn gỡ hòa 1-1 cho VN, chúng ta chưa biết kết quả cuối cùng, thực tế thì kết quả đó đã có sẵn ở cuối video rồi.

Sau đây chúng ta đi vào trọng tâm phân tích tình hình cụ thể của thế giới hiện đại.

Cũng tương tự như vậy, nhân loại đang ở cuối thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, tình hình thế giới xảy ra nhiều biến động khôn lường, thế giới đang bị chia rẽ vì cuộc chiến tranh thương mại giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ và TQ. Cuộc cạnh tranh quyết liệt không phải chỉ diễn ra trên lĩnh vực thương mại mà nó thực sự diễn ra trên tất cả mọi phương diện : kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ, quân sự, văn hóa, triết học. Tôi xin nói tương đối cụ thể về cuộc cạnh tranh lớn nhất thế giới hiện nay trước khi đưa ra cái nhìn theo Phật pháp.

A/VỀ SẢN XUẤT VÀ CÔNG NGHỆ

Hai nước cạnh tranh về khả năng nghiên cứu các công nghệ mới và nhanh chóng áp dụng vào sản xuất để giành ưu thế, để tăng trưởng GDP. Các lĩnh vực mà họ cạnh tranh bao gồm :

Năng lượng hóa thạch : sản xuất dầu thô, khí thiên nhiên, trích xuất dầu từ đá phiến. Về mặt này thì Mỹ đang chiếm ưu thế. Mỹ có khả năng trở thành nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, còn TQ là nước tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới nghĩa là bị phụ thuộc nhiều về nguồn năng lượng dầu.

Năng lượng nguyên tử : Mỹ hiện có 99 tổ máy điện hạt nhân đang vận hành, đóng góp hơn 20% điện năng toàn quốc và đang xây dựng thêm 3 tổ máy. Năm 2017, Trung Quốc có 39 tổ máy điện hạt nhân đang vận hành, đóng góp gần 4% sản lượng điện toàn quốc. Trung Quốc đang phát triển điện hạt nhân rất mạnh mẽ. Dự kiến đến năm 2030 sẽ có 100 tổ máy, đến năm 2050 sẽ tăng gần gấp ba với 280 tổ máy. TQ đang tự phát triển công nghệ điện hạt nhân tiên tiến tên là Hoa Long 1.

Năng lượng sạch : bao gồm thủy điện, điện mặt trời, điện gió. Mỹ ít chú trọng về thủy điện, con đập lớn nhất nước Mỹ là  Grand Coulee hoạt động từ  năm 1942 công suất 6809MW. Còn TQ thì có chiếc đập lớn nhất thế giới Tam Hiệp hoạt động toàn công suất từ 2009 với công suất 22500MW. TQ cũng đang xây dựng thêm rất nhiều đập thủy điện.

Trạm điện mặt trời lớn nhất nước Mỹ là Topaz với sản lượng hàng năm ở mức 1,1 GWh, có thể cung cấp điện cho khoảng 160.000 hộ gia đình.

Nhà máy điện mặt trời Topaz Mỹ

Đến năm 2018 tổng công suất điện mặt trời của Mỹ là 10.6 GW đủ sức cung cấp điện cho 12 triệu hộ gia đình . Tổng công suất điện mặt trời của TQ đến cuối 2018 là 170 GW.

Công suất điện gió của Mỹ đến đầu năm 2017 là 82 GW. Công suất điện gió đến năm 2016 của TQ là 149GW. Trại điện gió lớn nhất TQ đặt tại tỉnh Cam Túc được khởi công vào năm 2009,  trang trại này có công suất ban đầu là 5.160MW và khi hoàn thành sẽ có công suất 20.000 MW  nghĩa là gần bằng công suất của đập thủy điện khổng lồ Tam Hiệp (22500MW)

Trại điện gió Cam Túc

Về công nghệ thì vấn đề sôi nổi nhất hiện nay là hai bên đang chạy đua về việc ứng dụng công nghệ 5G vào thực tế của đất nước, cả hai đều muốn dẫn đầu về công nghệ thông tin tiên tiến này.

Theo tờ Vox, mới chỉ có nhà mạng Verizon ở Mỹ triển khai thương mại mạng 5G ở hai thành phố là Chicago và Minneapolis. Chỉ một số khách hàng dùng điện thoại di động tại hai thành phố này có thể tiếp cận 5G. 19 thành phố nữa ở Mỹ cũng có 5G nhưng mới chỉ có khách hàng được lựa chọn mới có thể sử dụng thử nghiệm công nghệ này. Sẽ mất hàng năm nữa 5G mới được triển khai rộng rãi ở Mỹ nhưng tại sao mạng này lại trở thành một vấn đề “nóng” như hiện nay?

Vì Mỹ có lãnh thổ rộng dân cư ở vùng nông thôn thưa thớt chiếm khoảng 15% cả nước nên rất khó phổ cập 5G cho họ vì để đạt tốc độ cao công nghệ 5G đòi hỏi phải xây dựng nhiều trạm mạng gần nhau, do đó rất tốn kém. Vì vậy người Mỹ nghĩ đến giải pháp dùng vệ tinh để phủ sóng.

Dự tính dùng vệ tinh để truyền sóng internet của Elon Musk

Kế hoạch này dự định phóng 12000 vệ tinh nhỏ để phủ sóng internet khắp địa cầu với chi phí khoảng 10 tỷ USD. Ngày 26-05-2019 công ty SpaceX của Elon Musk đã phóng thử nghiệm thành công 60 vệ tinh để hiện thực hóa giấc mơ này.

Còn về phương pháp xây trạm phát 5G trên mặt đất thì Mỹ hiện nay không có công ty chủ lực nằm trong top 5 các công ty sản xuất thiết bị hạ tầng 5G lớn nhất thế giới mà phải dựa vào các công ty viễn thông Ericsson của Thụy Điển hoặc công ty Nokia của Phần Lan hay công ty Samsung của Hàn Quốc. Hai công ty còn lại trong top 5 là Huawei và ZTE đều của TQ.

Huawei và ZTE hiện đang chiếm tới hơn 40% thị phần cung cấp thiết bị mạng viễn thông tại EU. Reuters cho biết, chi phí ước tính để phát triển mạng 5G tại Châu Âu theo cơ quan nghiên cứu GSMA sẽ đội lên thêm khoảng 62 tỷ USD và thời gian hoãn phát triển mạng 5G sẽ kéo dài tới gần 18 tháng nếu họ ngừng hợp tác với Huawei. Bởi vì các hãng khác như Samsung, Ericsson hay Nokia đều không phải là các hãng cung cấp thiết bị viễn thông quy mô lớn, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của nhiều nước. Chưa kể nếu chọn các hãng này, chi phí lắp đặt và triển khai mạng 5G sẽ rất cao. Tính đến 6/6/2019, Huawei cho biết đã ký 46 hợp đồng thương mại hóa mạng 5G tại hơn 30 quốc gia và các trạm 5G đã xuất xưởng được hơn 100 ngàn chiếc. Huawei bị cấm cản tại Mỹ và một số đồng minh của Mỹ nhưng vẫn phát triển tại các thị trường khác như Nam Á (Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka) Phi Châu, Mỹ La Tinh. Đông Nam Á.

Tại TQ bốn nhà mạng China Telecom, China Mobile, China Unicom, China Broadcast Network đã được cấp phép cung cấp dịch vụ 5G  vào ngày 06-06-2019, như vậy TQ đã chính thức bước vào khai thác 5G về mặt thương mại trên diện rộng vì cơ sở hạ tầng trạm mạng đã được xây dựng nhanh chóng với 100.000 trạm mạng đã xuất xưởng.

Lĩnh vực công nghệ cao liên quan tới thông tin, tin học chính là chiến trường cạnh tranh ác liệt nhất mà trong lĩnh vực này Mỹ vẫn còn chiếm nhiều ưu thế :

Mỹ có những người khổng lồ về công nghệ phần cứng và phần mềm tin học.

Về sản phẩm phần cứng

Mỹ có những công ty lớn sản xuất bộ vi xử lý (processor) tức là chip tin học như :

Công ty Apple (Apple Inc) là một tập đoàn công nghệ máy tính của Mỹ có trụ sở chính đặt tại Cupertino California. Apple được thành lập  năm 1976 dưới tên Apple Computer, Inc., và sau đổi tên thành Apple Inc. Apple chuyên sản  xuất máy tính và smartphone. Năm 2018 xuất xưởng 208 triệu chiếc điện thoại. Tổng doanh thu của hãng năm 2018 là 265.6 tỷ USD trong đó riêng điện thoại Iphone là 218 tỷ USD.

Tập đoàn Intel (Integrated Electronics) thành lập năm 1968 tại Santa Clara, California, là nhà sản xuất các sản phẩm như chip vi xử lý cho máy tính, ví dụ như bo mạch chủ, ổ nhớ flash, card mạng và các thiết bị máy tính khác. Intel Corporation là công ty sản xuất thiết bị chất bán dẫn lớn nhất thế giới, và là nhà phát minh ra chuỗi vi mạch xử lý thế hệ x86 mà bộ xử lý này tìm thấy ở các máy tính cá nhân. Doanh thu năm 2018 của Intel là 71 tỷ USD.

Qualcomm Incorporated là một công ty bán dẫn toàn cầu của Mỹ chuyên thiết kế và tiếp thị các sản phẩm và dịch vụ viễn thông không dây, có trụ sở tại San Diego, California, Mỹ, với có 157 văn phòng trên toàn thế giới. Qualcomm chính là nhà cung cấp con chip điện thoại di động quan trọng của thế giới, chẳng hạn con chip mới nhất, mạnh nhất đầu năm 2019 là Snapdragon 855, đó là chip quy trình 7nm (nano mét). Chiếc smartphone đầu tiên được trang bị chip Snapdragon 855 là Lenovo Z5 Pro GT. Những smartphone khác trang bị Snapdragon 855  gồm có Vivo Apex 2019, Xiaomi Mi 9, Samsung Galaxy S10, S10+, S10e và S10 5G, Sony Xperia 1, Samsung Galaxy Fold, Huawei Mate X…Doanh thu năm 2018 của Qualcomm là 22.7 tỷ USD.  

Tập đoàn Hệ thống Cisco được thành lập năm 1984 bởi hai nhà khoa học về máy tính và bắt đầu trở nên nổi tiếng năm 1990, chuyên sản xuất thiết bị viễn thông. Doanh thu năm 2018 của Cisco là 49.3 tỷ USD.

Ngoài các tập đoàn của Mỹ bị ảnh hưởng bởi thuế quan và cấm vận, một tập đoàn lớn khác của nước Anh cũng bị ảnh hưởng nên chúng ta tìm hiểu luôn :

ARM Holdings  hay Advanced RISC Machines (ARM) Ltd là một hãng thiết kế bộ vi xử lý có trụ sở ở nước Anh. ARM Holdings được thành lập bởi Hermann Hauser vào năm 1990 và được niêm yết trên thị trường chứng khoán Luân Đôn. Hãng này nổi tiếng với họ vi xử lý kiến trúc ARM được dùng khá phổ biến trong các thiết bị nhúng và các ứng dụng cầm tay nhờ vào đặc tính ưu việt là ít tiêu thụ điện năng. Hầu hết máy điện thoại di động và máy PDA (Personal Digital Assistant= Hỗ trợ kỹ thuật số cho cá nhân) hiện nay đều có CPU theo kiến trúc ARM. ARM chỉ thiết kế và bán các bản thiết kế của họ mà không sản xuất các vi mạch CPU hoàn chỉnh. Do vậy, có khoảng vài chục hãng sản xuất các bộ xử lý dựa trên thiết kế có sẵn của ARM. ARM là một công ty tương đối nhỏ chỉ có 6250 nhân viên, doanh thu năm 2018 qua Softbank là 1.1 tỷ USD nhưng rất quan trọng vì nhiều hãng lớn sản xuất con chip cho điện thoại di động đều dựa vào bản thiết của ARM.

Về phía TQ cũng có những công ty phần cứng lớn như :

Tập đoàn Huawei là nhà sản xuất thiết bị viễn thông đứng đầu thế giới và nhà sản xuất điện thoại di động đứng thứ hai thế giới. Năm 2018 Huawei sản xuất 206 triệu chiếc điện thoại, còn hơi thấp hơn Apple một chút (208 triệu chiếc) nhưng qua quý I/2019 thì Huawei đã vượt qua Apple trở thành nhà sản xuất điện thoại lớn thứ hai toàn cầu. Năm 2018 Huawei đạt doanh thu 107 tỷ USD. Samsung vẫn chiếm ngôi đầu với 293 triệu chiếc. Sơ đồ sản lượng điện thoại của 6 hãng đứng đầu thế giới như sau :

6 hãng điện thoại lớn nhất thế giới trong đó TQ có 4 hãng (Huawei, Xiaomi, Oppo, Vivo)

Lenovo Group Ltd. là tập đoàn đa quốc gia về công nghệ máy tính có trụ sở chính ở Bắc Kinh và Morrisville, Bắc Carolina, Mỹ. Lenovo thiết kế, phát triển, sản xuất và bán các sản phẩm như máy tính cá nhân, máy tính bảng, smartphone, các trạm máy tính, server, thiết bị lưu trữ điện tử, phần mềm quản trị IT và ti vi thông minh. Tổng doanh thu của Lenovo năm 2017 là 45.3 tỷ USD.

Công ty Xiaomi (Xiaomi Inc -Tiểu mễ Khoa kỹ 小米科技) là một công ty tư nhân sản xuất hàng điện tử Trung Quốc có trụ sở tại Bắc Kinh. Xiaomi là nhà sản xuất điện thoại thông minh lớn thứ 4 thế giới. Doanh thu của Xiaomi năm 2018 là 17 tỷ USD.

ZTE Corporation là một tập đoàn sản xuất thiết bị viễn thông đa quốc gia của Trung Quốc có trụ sở ở Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông. Công ty cũng có sản xuất điện thoại di động thương hiệu ZTE. Doanh thu năm 2017 của công ty là 108.8 tỷ nhân dân tệ (= 16 tỷ USD)

Về sản phẩm phần mềm

Mỹ có những tập đoàn rất lớn :

Tập đoàn Amazon.com, Inc là một công ty thương mại điện tử đa quốc gia tập trung vào thương mại điện tử, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo. Trụ sở chính tại thành phố Seattle, bang Washington. Nó hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Doanh thu năm 2018 của Amazon là 241.5 tỷ USD.

Tập đoàn Alphabet Inc. là công ty mẹ của Google, một công ty công nghệ đa quốc gia của Mỹ, chuyên về các dịch vụ và sản phẩm liên quan đến Internet, nó sở hữu những dịch vụ như Gmail, Youtube, hệ điều hành điện thoại di động Android, cửa hàng ứng dụng Google Play. Nó cũng sản xuất điện thoại di động mang thương hiệu Pixel, chẳng hạn chiếc  Google Pixel 3XL giá 1000 USD. Doanh thu của Google năm 2018 là 136.2 tỷ USD.

Tập đoàn Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ đặt trụ sở chính tại Redmond, bang Washington; chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính (computer, laptop). Sản phẩm chủ yếu của nó là hệ điều hành máy vi tính Windows, phiên bản mới nhất là Windows 10, ngoài ra nó còn cung cấp dịch vụ mạng như Hotmail, OneDrive (bộ nhớ trên mạng). Trước đây Microsoft có mua lại bộ phận sản xuất điện thoại của Nokia và chế tạo điện thoại chạy hệ điều hành Windows phone, nhưng không thành công nên đã ngừng sản xuất. Doanh thu năm 2018 của Microsft là 110 tỷ USD.

TQ cũng có những tập đoàn phần mềm lớn :

Tencent Holdings Limited cung cấp dịch vụ truyền thông, giải trí, Internet và dịch vụ giá trị gia tăng điện thoại di động, và hoạt động các dịch vụ quảng cáo trực tuyến tại Trung Quốc. Tập đoàn này sở hữu mạng xã hội WeChat với hơn 1 tỷ người sử dụng. Trụ sở chính của công ty ở thành phố Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông. Doanh thu năm 2018 của Tencent là 312.7 tỷ nhân dân tệ (= 45.6 tỷ USD)

Alibaba là một tập đoàn thương mại điện tử cung cấp dịch vụ bán hàng giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng, giữa doanh nghiệp tới người tiêu dùng và doanh nghiệp với doanh nghiệp, dịch vụ bán hàng thông qua cổng thông tin điện tử (Taobao). Tập đoàn cũng cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử (Alipay) , công cụ tìm kiếm mua sắm và dịch vụ điện toán đám mây được Mã Vân (Jack Ma) thành lập vào năm 1999, có trụ sở đặt tại Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Doanh thu năm 2018 của Alibaba là 378 tỷ nhân dân tệ (= 55 tỷ USD).

Baidu (Công ty Bách độ) là công ty cung cấp dịch vụ tìm kiếm dữ liệu trên mạng lớn nhất Trung Quốc đại lục, do Lý Ngạn Hoành và Từ Dũng thành lập vào năm 2000 tại Trung Quan Thôn, Bắc Kinh. Chức năng hoạt động của công ty này tương tự như Google của Mỹ. Doanh thu năm 2018 của Baidu là 27.2 tỷ nhân dân tệ (= 4 tỷ USD).   

Một số công nghệ khác : như xây dựng đường sắt cao tốc và sản xuất xe hơi điện, sự canh tranh ít quyết liệt hơn.

Amtrak là hệ thống đường sắt cao tốc nội đô duy nhất ở Mỹ và kể từ khi đi vào hoạt động cho đến nay, hình thức giao thông này vẫn chưa mang lại lợi nhuận. Chính phủ Liên bang vẫn phải trợ giá cho hệ thống này 1 tỷ USD mỗi năm và năm ngoái có khoảng 31,3 triệu hành khách đã sử dụng tàu cao tốc, đó là một kỷ lục mới.

So với TQ thì ngành đường sắt cao tốc của Mỹ còn quá khiêm tốn.

Tàu cao tốc Amtrack của Mỹ, tốc độ từ 160-240 km/giờ

TQ đã xây dựng được đường sắt cao tốc tổng chiều dài đạt 29000 km chiếm 2/3 đường sắt cao tốc của toàn thế giới, với 1,44 tỷ hành khách mỗi năm.

Tàu Fuxing (Phục Hưng) của TQ tốc độ tối đa 350 km/giờ

Về việc xây dựng các công trình lớn, Mỹ có chiếc cầu qua biển nổi tiếng Golden Gate Bridge tại San Francisco hoàn thành năm 1937 với nhịp chính dài 4.200 feet (1.280 m) và tổng chiều cao 746 feet (227 m) Cầu qua biển dài nhất nước Mỹ là Verrazano được xây cất từ tháng 8 năm 1959 và thông xe vào tháng 11 năm 1964. Nó dài khoảng 1.298 m. Lúc xây cất xong nó được danh hiệu cầu treo dài nhất thế giới lúc bấy giờ, dài hơn cầu Golden Gate ở San Francisco khoảng 60 feet. Nhưng so với những chiếc cầu bắc qua biển của TQ ngày nay thì những chiếc cầu trên quá bé nhỏ. Cầu vượt biển Hồng Công – Châu Hải – Ma Cao gồm một đoạn đường ngoằn ngoèo như rắn và một đường hầm dưới mặt nước, nối liền đảo Lantau – Hồng Kông với thành phố Châu Hải, và thành phố sòng bạc Ma Cao, băng qua vùng cửa sông Châu Giang. Cầu dài 55km với tổng chi phí xây dựng lên đến 20 tỉ USD, sử dụng 420.000 tấn thép, đủ để xây dựng 60 tháp Eiffel của Pháp. Đây là cầu vượt biển dài nhất thế giới hiện nay.

Cầu vượt biển Hong Kong- Châu Hải- Ma Cao dài 55km  

Về sản xuất xe hơi và xe điện

Số liệu sản xuất xe hơi của 5 nước lớn nhất năm 2018 như sau (đơn vị ngàn chiếc) : TQ 27809, Mỹ 11314 , Nhật 9728 , Ấn Độ 5174 , Đức 5120.

Riêng xe hơi điện cũng năm 2018 như sau (đơn vị ngàn chiếc) : TQ 2244, Mỹ 1126, Na Uy 296, Nhật 257,  Anh 212,

Tổng kết về kinh tế dựa vào chỉ số GDP để đánh giá sức mạnh tổng quát của hai nền kinh tế đứng thứ nhất và thứ hai thế giới.

GDP của Mỹ tính theo phương pháp truyền thống (danh nghĩa = nominal) là 20494 tỷ USD, dân số 327 triệu người, bình quân đầu người 62.600 USD. GDP tính theo phương pháp mới, ngang giá sức mua (PPP= Purchasing Power Parity) 20494 tỷ USD (số liệu của IMF).

GDP của TQ, tính theo phương pháp truyền thống (danh nghĩa = nominal) là 12250 tỷ USD, dân số 1417 triệu người, bình quân đầu người 8836 USD. GDP tính theo phương pháp mới, ngang giá sức mua (PPP= Purchasing Power Parity) là 25270 tỷ USD (số liệu của IMF).

Như vậy GDP tính theo danh nghĩa (phương pháp truyền thống) Mỹ vẫn còn cao hơn TQ 1.67 lần hoặc GDP TQ chỉ bằng 60% của Mỹ.

Còn GDP tính theo ngang giá sức mua thì TQ đã vượt Mỹ 1.23 lần hay GDP Mỹ chỉ còn bằng 81% của TQ.

Như vậy hai phương pháp tính cho ra hai kết quả hoàn toàn khác nhau. Về mặt sản xuất TQ đã vượt Mỹ trong phần lớn chỉ tiêu như sản lượng ciment, sắt thép, sản lượng điện, tổng giá trị sản lượng xuất khẩu.

Các số liệu chi tiết của Hiệp hội Thép thế giới cho thấy, sản lượng thép năm 2013 của Trung Quốc là 779 triệu tấn, năm 2014 là 823 triệu tấn và năm 2015 là 804 triệu tấn. Tuy có giảm chút ít so với năm trước nhưng sản lượng thép của Trung Quốc năm 2015 vẫn nhiều gấp 5 lần sản lượng của toàn châu Âu, hơn 7 lần Nhật Bản và chiếm hơn một nửa tổng sản lượng thép toàn thế giới. Sản lượng thép của thế giới năm 2018 là 1700 triệu tấn riêng TQ là 923 triệu tấn chiếm 54% . Sản lượng thép của Mỹ năm 2018 chỉ là 95 triệu tấn, chỉ hơn 1/10 của TQ một chút.

Trong 3 năm (2012-2014) TQ đã sử dụng một lượng ciment nhiều gấp 1,4 lần nước Mỹ đã sử dụng trong suốt thế kỷ 20.

Sản lượng điện của TQ trong năm 2017 là 6259 TWh (TeraWatt giờ = 1 tỷ KWh)

Sản lượng điện của Mỹ  trong năm 2017 là 4251 TWh

Tham khảo sản lượng điện của một số nước khác

Electricity production of countries (Year: 2017  Unit: TWh = 1 tỷ Kwh)

China   6,529
United States  4,251
India  1,541
Japan  1,101
Russia   1,090
Canada  712
Germany  653
Brazil   585
South Korea  579
France    551
Saudi Arabia  345
United Kingdom  336

Trong sản xuất nông nghiệp TQ đã bắt đầu áp dụng những công nghệ tiên tiến như công nghệ vệ tinh.

Đánh giá chính xác mùa vụ bằng công nghệ vệ tinh

Mỹ chỉ còn duy trì ưu thế đối với TQ trong lĩnh vực sản xuất máy bay thương mại và công nghệ cao như sản xuất chip và phần mềm tin học.

Trong số 7.309 máy bay trong danh mục máy bay thương mại của Mỹ, 3.173 hoặc 43,4% được sản xuất bởi Boeing, 1.446 hoặc 19.8% bởi Airbus, 1.034 hoặc 14.1% bởi Bombardier (của Canada), 798 hoặc 10.9% bởi Embraer (của Brazil) và 472 hoặc 6.5% bởi McDonnell Douglas Boeing).

Máy bay phổ biến nhất trong Đội bay Hoa Kỳ năm 2016 là Boeing 737-800 với 729 chiếc, Boeing 737-700 (569 chiếc) và Airbus A320 (497 chiếc).

TQ hiện chỉ mới bắt đầu bay thử với máy bay cỡ lớn thân hẹp C919 do hãng COMAC (Commercial Aircraft Corporation of China= Tổng công ty máy bay thương mại của Trung Quốc) chế tạo, sức chở từ 156-168 người. TQ công bố đã có 815 đơn đặt hàng cho chiếc C919. Theo kế hoạch máy bay này sẽ đi vào khai thác thương mại trong năm 2022.

Ngoài ra TQ cũng có một máy bay thương mại loại trung ARJ21 với sức chở 80-90 hành khách. Bắt đầu hoạt động từ tháng 6/2016, chiếc ARJ21 – viết tắt của cụm từ “Advanced Regional Jet for the 21st  century = Phản lực cơ Khu vực cho thế kỷ 21″ – là loại phi cơ tầm trung với 2 động cơ. Trung Quốc mất 13 năm để thiết kế, chế tạo và đưa ra thị trường loại máy bay hiện có giá bán khoảng 40 triệu USD này.

B/ VỀ TÀI CHÍNH VÀ THƯƠNG MẠI

Hiện nay đồng USD của Mỹ và đồng Yuan của TQ  đều đã được đưa vào rỗ tiền quyền rút vốn đặc biệt SDR (Special Drawing Rights) gồm 5 loại tiền tệ mạnh nhất thế giới với tỉ lệ như sơ đồ sau áp dụng từ tháng 10-2016

Rỗ tiền SDR trước và sau khi đồng nhân dân tệ RMB (Ren Min Bi人民币) của TQ gia nhập

Tỉ trọng của đồng đô la Mỹ có chút suy giảm phản ánh tình hình mới về tài chính tiền tệ trên thế giới. Đồng USD vẫn còn chiếm tỉ trọng rất lớn nhưng đang trên đà suy giảm bởi vì đồng RMB của TQ chen vào và ngày càng có nhiều giao dịch thương mại quốc tế không sử dụng đồng USD.

Từ tháng 3/2018, trong cuộc chiến thương mại với Mỹ, Trung Quốc đã mở giao dịch dầu mỏ trả trước bằng đồng NDT và thậm chí dự định tiến xa hơn qua việc chuyển sang thanh toán bằng đồng NDT cho các giao dịch dầu mỏ.

Hồi tháng 4/2018, Iran tuyên bố từ bỏ đồng tiền Mỹ và chuyển tất cả các thanh toán quốc tế sang đồng euro. Ấn Độ cũng thanh toán tiền “vàng đen” cho Iran bằng đồng euro và đề nghị cả phương án dùng đồng rupee.

Từ tháng 5/2018, Nga đã cắt giảm đầu tư trái phiếu Chính phủ Mỹ xuống mức tối thiểu. Bước đi tiếp theo hợp logic được cho là Nga sẽ từ bỏ đồng USD trong thương mại dầu mỏ.

Hiện tại Nga đã có thể loại đồng USD khỏi các giao dịch với Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Việc các nước xuất khẩu lớn từ bỏ đồng bạc xanh sẽ là nhân tố kích hoạt sự thay đổi hệ thống tài chính thế giới và đẩy mạnh xu thế phi đô la hóa.

Ngày 16/10/2018, Venezuela đã thông báo chấm dứt việc sử dụng đồng USD trong các giao dịch quốc tế để chuyển sang đồng Euro.

Các ngân hàng lớn nhất thế giới       

Nếu như giai đoạn 2009-2014, không có ngân hàng nào của Trung Quốc được xếp vào bảng xếp hạng 10 ngân hàng giá trị nhất thế giới thì đến năm 2019, đã có 4 ngân hàng của quốc gia này đứng đầu bảng danh sách.

4 ngân hàng TQ đứng đầu bảng : Ngân hàng Công thương TQ (ICBC), Ngân hàng Xây dựng TQ, Ngân hàng Nông nghiệp TQ, TQ Ngân hàng. Ngân hàng TQ đứng thứ 9 là Chiêu Thương ngân hàng招商银行.   

Qua bảng số liệu này chúng ta có thể thấy nước nào có nhiều tiền nhất, trong top 10 ngân hàng lớn nhất thế giới TQ chiếm hết 5, Mỹ có 4, cái cuối cùng là của Anh. Đó là lý do tại sao TQ có kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng khổng lồ nối liền 2 lục địa Á-Âu đặt tên Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI= Belt and Road Initiative). TQ có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, số liệu công bố cuối tháng 3-2019 là 3099 tỷ USD.

Để thực hiện kế hoạch này họ phải thành lập ngân hàng chuyên đầu tư cho Vành đai và Con đường, gọi là Ngân hàng đầu tư hạ tầng Châu Á (AIIB= Asian Infrastructure Investment Bank) sẽ đầu tư cả ngàn tỷ USD trải dài theo vành đai và con đường mà cũng chưa chắc gì đem lại hiệu quả, chẳng hạn họ đã đầu tư con đường xe lửa dài mười mấy ngàn cây số nối liền TQ với Tây Âu đã khánh thành vài năm nay nhưng hoạt động chỉ một chiều. Khi đoàn tàu hỏa chở hàng từ Trung Quốc bắt đầu đến thị trấn biên giới Malaszewicze của Ba Lan gần một thập niên trước, chúng được coi là một hiện tượng khi máy tính xách tay và xe hơi từ châu Á có thể chuyển đến châu Âu chỉ trong hai tuần. Nhưng chuyến tàu này không đến thường xuyên, thường chỉ một tháng một lần. Tuy nhiên, số chuyến tàu đã tăng mạnh trong năm qua (2017), khi Bắc Kinh thúc đẩy thương mại để làm sống lại Con đường Tơ lụa cổ xưa đến châu Âu. Việc đó khiến thị trấn Ba Lan phải chật vật để đáp ứng lên đến 200 chuyến tàu mỗi tháng, theo Reuters.

Năm 2011, chỉ có một dịch vụ đường sắt thường xuyên kết nối Trung Quốc với châu Âu là giữa Trùng Khánh và Duisburg ở Đức và cả năm chỉ có 17 chuyến tàu. Đến năm 2016 đã tăng lên 1702 chuyến và năm 2017 đã tăng lên 3673 chuyến. Các lô hàng bị ứ đọng hơn 10 ngày tại các cảng đất liền ở cả châu Âu và Trung Quốc, do cơ sở hạ tầng không đủ đáp ứng và trì trệ trong thủ tục giấy tờ.

Còn ở chiều ngược lại, hiện tượng ứ đọng hàng ít xảy ra ở các chuyến từ châu Âu về Trung Quốc, phản ánh thâm hụt thương mại lớn giữa hai đối tác. Châu Âu không có đủ hàng hóa để lấp đầy các chuyến tàu trở về TQ.

Sơ đồ BRI Sáng kiến Vành đai và Con đường

Ngày 08-03-2019 lần đầu tiên 1.686 TEU (đơn vị của container tính theo dung tích, 1 TEU = 39m3) hàng hóa được vận chuyển từ Hà Nội, qua ga đường sắt biên giới là Đồng Đăng, sau đó lần lượt đến Trung Quốc, Kazakhstan và Duisburg (Đức), trong đó có 2 ngày để vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang Trung Quốc. Còn từ Trung Quốc đến Duisburg mất 20 ngày. Trong tương lai, thời gian vận chuyển hàng hoá sẽ tiết kiệm thêm được 3 ngày, tức chỉ còn 19 ngày để đưa hàng hoá từ Việt Nam sang châu Âu. Trung Quốc còn muốn đạt mục tiêu 5.000 chuyến một năm vào năm 2020.

Tuy nhiên, mạng lưới đường sắt này vẫn chưa sinh lời vì khối lượng hàng hóa chưa đạt đến mức bền vững và chi phí cao hơn vận chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, nó đang thu hút các doanh nghiệp bán hàng như xe hơi và đồ điện tử vì có thể chuyển hàng nhanh hơn 20 ngày so với đường biển với chi phí thấp hơn đường hàng không.

Tình hình giao thương xuất nhập khẩu giữa TQ và EU năm 2018 thể hiện qua sơ đồ sau :

Năm 2018 EU xuất khẩu qua TQ 210 tỷ Euro và nhập khẩu từ TQ 395 tỷ Euro, nhập siêu 185 tỷ Euro.

Trong khi đó tổng khối lượng xuất nhập khẩu của TQ và của Mỹ thì như sau :

Số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của TQ trong năm 2018 là : xuất khẩu 2480 tỷ USD, nhập khẩu 2140 tỷ USD, tổng số 4620 tỷ USD (số liệu của Communist Party of China Central Committee and the State Council = Ủy Ban Trung ương Đảng CS TQ và Hội đồng Nhà nước)

Số liệu xuất nhập khẩu của Mỹ 2018 : xuất khẩu 1666 tỷ USD , nhập khẩu :  2541 tỷ USD, tổng số 4207 tỷ USD.

Riêng giao thương với TQ năm 2018, Mỹ xuất khẩu sang TQ chỉ có 120 tỷ USD trong khi đó nhập khẩu từ TQ 539 tỷ USD, nhập siêu tới 419 tỷ USD

Sơ đồ mất cân bằng thương mại Mỹ- Trung 2019

Trong dịch vụ thương mại giao hàng trong đời sống nhân dân, dịch vụ chuyển phát nhanh TQ đã áp dụng giao hàng bằng máy bay không người lái tại các vùng nông thôn xa xôi và đồi núi.

Giao hàng bằng thiết bị bay không người lái

 

C/ VỀ QUÂN SỰ

Mỹ vẫn là quốc gia có lực lượng quân sự hùng mạnh nhất trên thế giới với 11 hàng không mẫu hạm, tuy nhiên do TQ không ngừng bổ sung số tàu chiến mặt nước lên đến tổng số 317 chiếc so với 283 chiếc của Mỹ. Chuyên gia quân sự Kyle Maxey cho rằng quy mô hạm đội Mỹ ngày nay nhỏ hơn đối thủ, nhưng Washington vẫn chiếm ưu thế về số lượng tàu chiến cỡ lớn. Hải quân Mỹ hiện có 10 siêu tàu sân bay lớp Nimitz, trong khi số tàu sân bay trong biên chế Trung Quốc đến cuối 2019 dự kiến chỉ có 2 chiếc.

Không chỉ lớn hơn tàu sân bay Trung Quốc, hàng không mẫu hạm Mỹ còn được trang bị lò phản ứng hạt nhân và lượng lớn chiến đấu cơ hiện đại, bao gồm cả một số tiêm kích tàng hình F-35C đang thử nghiệm. Trong khi đó, tàu sân bay Trung Quốc chỉ mang được số lượng nhỏ tiêm kích J-15.

Hải quân Trung Quốc hiện có 73 tàu ngầm, nhiều hơn một chiếc so với Mỹ. Tuy nhiên, phần lớn tàu ngầm của Bắc Kinh có độ ồn cao do công nghệ còn tương đối lạc hậu, khiến chúng dễ bị tàu săn ngầm Mỹ phát hiện và tấn công từ xa.

Dù sở hữu số lượng chiến hạm nhiều hơn hải quân Mỹ, hải quân Trung Quốc khó lòng đạt khả năng độc lập tác chiến và hiệp đồng tác chiến ngang ngửa với đối phương do thiếu kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Để bù đắp yếu kém này, Bắc Kinh đang tận dụng tối đa chiến lược chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD= Anti Access/Area Denial). Một trong những thành phần quan trọng nhất của A2/AD là tên lửa đạn đạo diệt hạm. Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới biên chế loại vũ khí này với hai mẫu tên lửa “sát thủ tàu sân bay” là DF-21D và DF-26. DF-21D đạt tầm bắn 2.000 km, trong khi biến thể nâng cấp DF-26 có thể diệt mục tiêu từ khoảng cách 3.000-4.000 km. Các loại tên lửa này đe dọa khiến các hàng không mẫu hạm Mỹ không dám đến gần lãnh thổ TQ nếu hai nước xảy ra chiến tranh do đó không phát huy được sức mạnh của tàu sân bay.

Hải quân Mỹ phụ thuộc nhiều vào kết nối dữ liệu qua vệ tinh để thu thập và trao đổi thông tin nhận dạng mục tiêu, điều phối tấn công và tác chiến hiệp đồng. Trung Quốc có thể tập trung gây nhiễu mạng lưới vệ tinh liên lạc quân sự (SATCOM) và do thám, cũng như vô hiệu hóa, làm sai lệch hệ thống định vị toàn cầu (GPS) của đối phương.

Nếu giải pháp tác chiến điện tử thất bại, Trung Quốc có thể tính tới phương án bắn hạ khí tài không gian Mỹ. Một số vũ khí diệt vệ tinh đang được Bắc Kinh hoàn thiện, dự kiến đưa vào thử nghiệm và biên chế trong vài năm tới.

Về bộ binh Trung Quốc ước có 9.150 xe tăng đang hoạt động, còn Mỹ có khoảng 8.800 chiếc. Về không quân Mỹ hiện có 14.000 chiếc nhưng chỉ có 2.740 máy bay quân sự sẵn sàng hoạt động. Theo tạp chí quốc phòng Jane’s Defence, trong giai đoạn từ năm 1995-2012, tổng số máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã giảm từ 5.300 xuống còn 1.693 chiếc sẵn sàng hoạt động. Số lượng máy bay ném bom đã giảm từ 630 xuống còn 82 chiếc. Những thay đổi lớn về số lượng và chất lượng đã diễn ra trong không quân tiêm kích-bom và không quân cường kích. Về quân số lực lượng quân nhân hiện dịch và lực lượng dự bị ở Trung Quốc khoảng 4,6 triệu người, so với 2,5 triệu người ở Mỹ.

Dù có số lượng lớn hơn, hải quân Trung Quốc vẫn thua kém Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và năng lực tác chiến. Cuộc chiến Mỹ – Trung sẽ khiến hai bên chịu tổn thất nặng nề về quân sự và kinh tế, cũng như để lại hậu quả thảm khốc bởi cả hai đều có nguồn lực dồi dào, đủ sức tham chiến trong thời gian dài.

Còn về vũ khí nguyên tử, Mỹ hiện có 1550 đầu đạn hạt nhân và 800 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân trong khi TQ chỉ có 280 đầu đạn hạt nhân. Tuy nhiên con số 280 chỉ là con số được công bố chính thức còn con số thực không ai biết là bao nhiêu, chỉ nội Vạn Lý Trường Thành ngầm dưới lòng đất cũng có thể chứa cả ngàn đầu đạn hạt nhân mà không ai biết. Bởi vì chiến tranh hạt nhân giữa hai cường quốc có nghĩa là cả thế giới sẽ bị diệt vong nên không ai dám nghĩ tới việc tiến hành nó. Mà ngay cả chiến tranh quy ước tổng lực giữa hai cường quốc người ta cũng luôn tránh né không để nó xảy ra.

Xem qua sức mạnh quân sự của hai bên chúng ta có thể đoán chắc rằng không có bên nào giành được ưu thế tuyệt đối nếu xảy ra một cuộc chiến tranh quy ước, còn tổn thất thì sẽ là rất lớn có thể khiến cả nhân loại diệt vong, do đó chắc chắn là không bên nào dám liều lĩnh khai chiến, do đó hai nước chỉ có thể tiến hành cuộc chiến tranh lạnh.

D/ VỀ VĂN HÓA NGÔN NGỮ TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

Về văn hóa, đây là cuộc cạnh tranh giữa hai nên văn hóa Đông, Tây. Văn hóa tư tưởng phương đông có các nhà hiền triết và đạo gia Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử, Lão Tử. Phương tây có Pythagoras (570 TCN – 495 TCN)  Zeno (490 TCN – 430 TCN), Socrates (469 TCN – 399 TCN) Plato (427 TCN – 347 TCN) Aristotle (384 TCN – 322 TCN).

Pythagoras, ngoài định lý toán học Pythagore, về triết học ông  cho rằng thế giới là một sự hòa hợp hoàn hảo và hướng việc giảng dạy của mình vào mục đích làm thế nào để sống một cuộc sống hài hòa giữa tinh thần và vật chất. Zeno nổi tiếng về triết thuyết sự chuyển động không có thật thể hiện trong tuyên bố một mũi tên bắn ra không bao giờ tới đích. Chuyển động không có thật thì không gian, thời gian, cảnh giới thế gian cũng đều không có thật. Socrates có luận đề nổi tiếng: “Con người, hãy tự nhận thức chính mình” Triết học Socrates hướng tới con người với những suy tư, trăn trở đời thường của nó. Triết học của Platon là một hệ thống triết học duy tâm khách quan lớn và đầu tiên trong lịch sử triết học đã đạt đến sự hoàn chỉnh, nhất quán và triệt để. Về thế giới vật lý Platon suy tưởng theo hệ hình học của Pythagore, về tinh thần trong tác phẩm nổi tiếng nhất “The Republic”của mình, ông mô tả các khía cạnh khác nhau của đạo đức, triết học chính trị và siêu hình của những người khác, làm thành một triết lý có hệ thống, có ý nghĩa và có thể áp dụng.

Tư duy triết học của phương đông chú trọng đạo lý, tinh thần, lối sống, tập thể xã hội. Còn phương tây thì chú trọng cá nhân, đời sống vật chất và khoa học.

Năm trăm năm trước chuyến viễn du vòng quanh thế giới của Columbus, hạm đội của Trịnh Hòa, với các con tàu dài hàng trăm mét và hải đội gần 30.000 người, đã đi tới tận mũi Hảo Vọng tại Nam Phi. So với hạm đội kỳ vĩ đó, mấy con tàu bé tẹo của Columbus chỉ đáng làm trò cười! Con tàu chỉ huy của Trịnh Hòa dài đến 122m, so với 26m của con tàu lớn nhất Santa Maria trong hải đội Columbus.

Tau cua Trinh Hoa so voi tau cua Columbus

Tàu của Trịnh Hòa so với tàu của Columbus

Vậy tại sao chỉ sau vài thế kỷ, Tây Âu đã vượt lên phía trước? Đó là câu hỏi đã được đặt ra từ khá lâu, bởi nhìn từ bình diện nhân loại, không chỉ trong lịch sử mà tới hiện tại, sự khác nhau giữa phương Tây và phương Đông là một thực tế khó có thể bác bỏ. Chúng ta hãy lướt qua tóm tắt lịch sử khoa học phương tây và triết học phương đông.

Khoa học hiện đại phát triển mạnh về thiên văn và vật lý, nhất là vật lý học, đây là bộ môn chủ yếu đưa tới tiến bộ khoa học kỹ thuật, các môn khoa học khác đóng vai trò hỗ trợ.

Cách đây khoảng 2400 năm, Hy Lạp là một đất nước có may mắn là đã sản sinh vô số nhân tài về ngành vật lý, trong đó có hai dòng lớn: dòng thứ nhất là Socrate, Platon và Aristote; dòng thứ hai với Parmenides, Empedokles, Leucippus, Democritus.

Aristote quan niệm thực tại bên ngoài là có thật. Thế nào là có thật? “Có thật” là dù có con người chúng ta hay không có con người chúng ta, thực tại vẫn có. Thực tại đó tự nó tồn tại độc lập, không cần đến con người chúng ta. Song song thì có các vị Parmenides, Leucippus đi sâu thêm bước nữa, khoảng 400 năm trước TL, cho rằng thực tại đó tồn tại độc lập, nó có một chất liệu bất hoại, một chất gì đó mà chúng ta gọi là vật chất cấu tạo thành thiên nhiên này. Họ quan niệm có lẽ các chất đó gồm những hạt  nhỏ xíu xếp lại với nhau. Đó là quan niệm đầu tiên của loài người về nguyên tử. Các hạt đó trao đi đổi lại với nhau, lúc thì theo cấu trúc này, lúc thì xếp đặt theo kiểu khác để tạo dựng nên vũ trụ như chúng ta thấy, nhưng nó tồn tại độc lập và có một chất liệu bất hoại. Nói cho cùng, không phải chỉ có họ nghĩ vậy, mà chúng ta, con người thời hôm nay ai cũng nghĩ như vậy, vì điều đó rất dễ tin. Tại sao? Vì như người ta thấy một ngôi nhà được xây từ hàng ngàn, hàng triệu viên gạch, họ liên tưởng đến vũ trụ và hình dung cũng như vậy. Lòng tin đó từ xa xưa, kéo dài đến hôm nay và sẽ kéo dài mãi mãi mai sau. Lòng tin đó quyết định tất cả tư tưởng của phương Tây và của ngành vật lý. Nếu không có lòng tin đó thì không có ngành vật lý. Trong khái niệm ấy, Aristote đã đề ra hai khái niệm lớn là không gian và thời gian, hai khái niệm mà chúng ta sẽ gặp thường xuyên, mặc dù chúng khó hiểu và hầu như hiển nhiên nhưng lại cực kỳ quan trọng.

Dân tộc Hy Lạp đã sản sinh những con người tài ba như vậy, nhưng đến thế kỷ thứ V sau TL, dân tộc Hy Lạp cạn kiệt, không có thêm một thiên tài nào nữa. Và cũng kể từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XIV, gần một ngàn năm, cả loài người hầu như không có tiến bộ gì trong ngành vật lý. Chỉ có ngành vật lý tương đối thô sơ do Aristote đặt nền tảng, tức là mô tả sự vật vận động, không nói đến lực. Lúc này chưa hề có khái niệm về động lực học. Tuy nhiên thời đó, con người đã biết đường đi của tinh tú, mặt trời, mặt trăng và có thể tính trước các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực rất chính xác. Đó là một thành tựu rất lớn.

Đầu thế kỷ thứ XVI, có một nhân vật xuất hiện tại châu Âu, đó là ông Copernicus, người Ba Lan, đã khám phá rằng mặt trời không quay chung quanh trái đất như quan niệm từ đó về trước, mà là trái đất quay chung quanh mặt trời.

Sau khi Copernicus chết khoảng 20 năm, một nhân vật khác ra đời, đó là Galileo, một người Ý. Nhà khoa học này đã đặt nền tảng cho khoa học thực nghiệm. Nếu Aristote là người đưa ra một định đề về vật chất rồi tìm cách chứng minh nó, thì Galileo đi con đường ngược lại, ông chủ trương xem trong thực nghiệm có điều gì rồi mới đưa ra giả thiết nào đó, nếu thực nghiệm chứng minh được giả thiết đó thì giả thiết đó là đúng. Đó là nền tảng khoa học thực nghiệm mà Galileo là người đã tạo nên phương pháp luận. Điều này mở hướng cho một người kế tiếp, sau Galileo chết một năm, đó là Newton , một con người khổng lồ trong ngành vật lý. Newton là người đã đưa “lực” vào trong phép tính toán của ngành vật lý. Ông xem không gian và thời gian là hai yếu tố tuyệt đối, vật chất thì vận động trong không gian và thời gian. Vật chất đối với ông là vật chất có khối lượng.

Thế giới quan của Newton hết sức đơn giản và dễ hiểu, được gọi là thế giới quan cơ giới. Newton là một thiên tài lỗi lạc trong ngành vật lý. Trong thế kỷ thứ XVIII, XIX, những ngành học khác, như ánh sáng, nhiệt, thủy động học đều được quy vào mô hình đó: vật chất là những hạt nhỏ có khối lượng, có năng lượng, vận động trong không gian và thời gian. Người ta có thể tính toán sự vận động của vật thể mà không cần tới một thế lực siêu nhiên nào cả. Từ nhận thức này đã hình thành nên quyết định luận, tất cả vạn vật xuất hiện như nó phải là chứ không hề có một sự ngẫu nhiên gì trong đó.

Người bảo vệ quyết định luận nổi bật nhất là nhà toán học Laplace. Ông đã từng nói: chúng ta không cần đến những giả định về Thượng đế, chúng ta chỉ cần không gian, thời gian, vận tốc đầu…, chúng ta sẽ tính được tất cả. Nền vật lý cơ giới của Newton đứng vững đến ba trăm năm. Đến thế kỷ thứ XIX, người ta bắt đầu phát hiện những hiện tượng về điện trường, từ trường, điện từ trường, phát hiện một sự vận động mới trong ngành vật lý. Ở đây ta thấy có một dạng vận động khác, không có vật có khối lượng di chuyển. Khi chúng ta thả một viên đá xuống mặt hồ, sau đó thấy những gợn sóng lăn tăn đi vào bờ hồ. Cái đi vào bờ hồ đó không phải là nước, mà nước chỉ nhích lên hạ xuống, cái chạy từ nơi thả viên đá đi vào bờ hồ là “sự quấy nhiễu”, là năng lượng quấy nhiễu. Tức là chủ thể đi vào bờ hồ không phải là nước mà là cái một cái vô hình vô ảnh, không có khối lượng. Đó là sự vận động theo dạng sóng, hoàn toàn khác với loại vận động theo dạng hạt của Newton .

Cuối thế kỷ thứ XIX, lý thuyết vận động của Newton không còn là dạng vận động duy nhất, bởi ngoài vận động hạt còn có một loại vận động khác, đó là vận động sóng. Nhưng cả hai mô hình về vận động này vẫn tồn tại song song, bổ sung nhau để giải thích các hiện tượng trong thế giới tự nhiên. Cùng lúc đó, khái niệm trường điện từ, một đơn vị độc lập, tự nó có sự ảnh hưởng chung quanh nó, khác với trọng trường của Newton . Đến lúc đó, người ta thấy vật chất không chỉ có dạng “hạt” mà còn có dạng “trường”. Trường và hạt là hai mô hình song hành, được thừa nhận trong ngành vật lý. Đó là những nét chính của vật lý cổ điển.

Đến đầu thế kỷ XX, có sự phát triển kỳ lạ trong vật lý với hai phát hiện lớn, đó là thuyết Tương đối và thuyết Lượng tử. Với thuyết Tương đối, Einstein xuất phát từ kết quả thực nghiệm là ánh sáng mặt trời di chuyển với vận tốc bất biến. Không gian và thời gian đối với Newton là tuyệt đối, nhưng đối với Einstein thì không còn tuyệt đối nữa, nó là tương đối. Công thức nổi tiếng nhất của thuyết tương đối là mối liên hệ E=mc2, giữa khối lượng và năng lượng có một mối liên hệ hết sức bất ngờ.

Chỉ sau Einstein khoảng hơn hai mươi năm thôi, người ta lại khám phá ra những điều mà ngày nay người ta vẫn còn thảo luận hết sức căng thẳng, đó là thuyết lượng tử. Khoảng năm 1901, Max Planck khám phá ra nhiệt lượng tỏa ra từ một vật không liên tục.  Mới nghe, điều này không có gì đặc biệt cả, nhưng với mô hình đó, người ta đi sâu nghiên cứu cấu trúc của nguyên tử, nhân nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử (hạt cấu thành nguyên tử), lúc đó người ta thấy nơi mà người ta cho là cơ cấu cuối cùng của vật chất đó rất kỳ dị. Đối với người quan sát, nó xuất hiện một cách rất ngẫu nhiên, khi có khi không, khi chỗ này khi chỗ khác. Lấy ví dụ, cái bàn này là một hạt hạ nguyên tử, nó không nằm yên. Khi nào chúng ta nhìn nó thì nó mới xuất hiện, nếu chúng ta nhìn nơi khác thì nó không có mặt. Nó xuất hiện có vẻ ngẫu nhiên, không tuân thủ theo quyết định luận của Newton.

Đến đây thì chúng ta thấy khoa học phương tây nhất là vật lý học đã có những bước tiến dài và cụ thể, họ hiểu thế giới vật chất một cách đầy đủ rõ ràng hơn.

Nhưng thật ngạc nhiên thay, những điều khoa học hiện đại mới khám phá thì các đạo gia phương đông nhất là Đức Phật đã biết từ lâu lắm rồi và đều có ghi trong kinh điển.

Einstein là người đưa ra thuyết tương đối hẹp (the special relativity) vào năm 1905 và thuyết tương đối mở rộng (the general relativity) vào năm 1916. Nhưng ông chưa hiểu hết thuyết tương đối của chính mình, ông chỉ mới hiểu không gian, thời gian là những đại lượng khả biến nhưng chưa hiểu không gian, thời gian là không có thật. Thí nghiệm sau đây sẽ chỉ rõ.

Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) có thể hiển bày tốt nhất về vấn đề này, bởi vì nó hiển thị rõ ràng tính không thật của cả không gian, thời gian và số lượng. Khi một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau trong không gian. Cụ thể trong thí nghiệm của Nicolas Gisin năm 2008, khoảng cách hai vị trí  đó là 18km. Hai vị trí đó vướng víu hay liên kết với nhau, nghĩa là nếu xoay photon A sang trái thì tức khắc photon B xoay sang phải không mất chút thời gian nào. Einstein bối rối không hiểu tại sao có hiện tượng tức thời như vậy. Nên ông nói là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance) và không tin rằng tác động đó là có thật. Theo Phật pháp thì không có gì khó hiểu, bởi vì khoảng cách 18km là không có thật nên tác động liên kết không mất thời gian, số lượng 2 photon cũng không có thật bởi vì chỉ có một photon nhưng xuất hiện đồng thời ở hai vị trí thành ra 2 photon. Năm 2012 Maria Chekhova cho một photon xuất hiện ở 100 000 vị trí khác nhau thì thành 100 000 photon. Nên số lượng cũng không có thật.

Nguyên lý bất định (Uncertainty principle) do Werner Heisenbeg (1901-1976) là nhà vật lý người Đức, đưa ra vào năm 1927 là một bước tiến mới rất quan trọng về mặt nhận thức. Nguyên lý này được phát biểu như sau :

It is impossible to determine both position and momentum of an electron simultaneously.
If one quantity is known then the determination of the other quantity will become impossible.

Không thể xác định được cả vị trí và động lượng (hoặc xung lượng) của một hạt electron vào cùng một lúc. Nếu biết được một đại lượng thì không thể xác định được đại lượng kia. 

Đó là phát biểu cơ bản về mặt khoa học cụ thể của một hạt electron. Phát biểu này bao hàm những ý nghĩa vô cùng quan trọng, vô cùng cơ bản về vật chất trong vũ trụ.

Ban đầu người ta chưa hiểu rõ ý nghĩa vô cùng sâu xa của nó, bởi vì nó có khả năng lật đổ thế giới quan duy vật của con người đã được xây dựng qua hàng ngàn năm lịch sử. Người đầu tiên phản bác nó chính là nhà vật lý thiên tài vĩ đại Albert Einstein. Einstein cùng với hai nhà khoa học khác là Boris Podolsky và Nathan Rosen, ba người vào năm 1935 đã nêu ra một giả thuyết mà sau này thường được biết với tên tắt là EPR Paradox (Nghịch lý EPR). EPR chính là tên viết tắt của Einstein, Podolsky, Rosen. Họ nghi ngờ nguyên lý bất định hay cơ học lượng tử nói chung là không đầy đủ hoặc có thể là sai lầm.

EPR Paradox cũng dựa vào thí nghiệm liên kết lượng tử nói trên để phản bác, họ cho rằng hiện tượng liên kết lượng tử là không có thật. Einstein nêu giả định rằng chúng thật ra không có liên kết, mà chỉ giống như một đôi găng tay, cặp bao tay có chiếc bên tay trái và chiếc bên tay phải. Nếu người ta bỏ mỗi chiếc vào một vali và đem đi cách nhau rất xa, chẳng hạn một cái ở New York còn cái kia ở Nam Cực. Chỉ cần nhìn thấy chiếc bao tay ở New York, ví dụ là bao tay trái, thì tức khắc biết được cái ở Nam Cực là bao tay phải.

Ông cho rằng hạt luôn luôn có sẵn đặc trưng, đó là tồn tại độc lập, khách quan, giống như bao tay luôn luôn có sẵn đặc tính là thuộc bàn tay trái  hay bàn tay phải. Còn Niels Bohr thì nói rằng đặc trưng của hạt cơ bản không có sẵn, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát.

Einstein tranh cãi quyết liệt với Niels Bohr từ năm 1935 cho đến khi cả hai qua đời (Einstein mất năm 1955 còn Bohr mất năm 1962) cũng chưa ngã ngũ, chưa xác định được ai đúng ai sai. Mãi đến năm 1982, tại Paris, Alain Aspect sử dụng chiếc máy do John Clauser sáng chế, nó có thể làm cho một hạt photon xuất hiện đồng  thời ở hai vị trí khác nhau. Rồi ông áp dụng bất đẳng thức của John Bell, bất đẳng thức này có khả năng dùng toán học để xác định hiện tượng liên kết lượng tử có xảy ra hay không. Kết quả của thí nghiệm cho thấy hiện tượng liên kết lượng tử là có thật, không phải giống như giả định của Einstein. Nếu thay cái bao tay trong vali tại New York thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cái bao tay tại Nam Cực vì giữa hai cái không có sự liên kết. Trái lại giữa hai hạt photon thì có sự liên kết. Nếu thay hạt ở New York có spin xoay sang phải thay vì xoay sang trái thì tức khắc hạt photon tại Nam Cực sẽ có spin xoay sang trái thay vì xoay sang phải.

Thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 còn phát hiện ra một điều cực kỳ quan trọng nữa, đó là hạt cơ bản như photon hay electron không hề có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Những đặc trưng đó chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Điều đó chứng tỏ Bohr đúng, Einstein sai. Kinh Hoa Nghiêm từ xa xưa đã nói : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính. Thế giới vật chất và tinh thần đều là do tâm tạo. (一切唯心造  Nhất thiết duy tâm tạo, Kinh Hoa Nghiêm). Bát Nhã Tâm Kinh cũng nói Ngũ uẩn giai không五蘊皆空 (5 uẩn tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều là không) là cũng cùng ý đó. Rõ ràng nếu Einstein hiểu Phật pháp hơn, tin Phật pháp hơn thì đã không mắc sai lầm. Phật pháp hoàn toàn có thể hướng dẫn cho khoa học những điều hết sức quan trọng, hết sức cơ bản.

Nếu mãi đến năm 1982, sau khi Alain Aspect tiến hành cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) một số nhà khoa học ưu tú nhất của nhân loại mới hiểu ra rằng vật chất không có thật (non realism), không gian và thời gian không có thật (non locality- vô sở trụ), số lượng không có thật (non quantity); thì trong kinh Kim Cang từ xa xưa hàng ngàn năm trước đã nói : Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Ý nói tất cả mọi cảnh giới đều là do tâm tạo và đều không có thật.

Như vậy cho đến ngày nay thì có thể nói rằng khoa học phương tây và đạo học phương đông cuối cùng đã thống nhất. Tuy trong cuộc sống thực tế đời thường, khoa học là chủ đạo, khoa học tạo ra những biến đổi vô cùng lớn ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả mọi người trên thế gian, nhưng đạo học phương đông nhất là Phật giáo đã nêu ra những nguyên lý chuẩn mực quyết định cuộc sống tinh thần hạnh phúc của nhân loại. Những nguyên lý đó là gì :

Nhất thiết pháp vô tự tính diễn tả rằng tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều không có sẵn đặc trưng đặc điểm gì cả. Cuộc tranh luận khoa học lớn nhất thế kỷ 20 giữa Niels Bohr và Albert Einstein là về vấn đề này. Cuối cùng năm 1982 Alain Aspect đã xác định Bohr đúng, Einstein sai. Chủ nghĩa duy vật khách quan là không đúng. Nếu không có người nhận thức thì mặt trăng không tồn tại.

Nguyên lý thay thế diễn tả cách thức tâm tạo ra thế giới vật chất bằng cách thay thế tâm niệm của mình vào cấu trúc ảo của các hạt cơ bản từ đó tạo thành nguyên tử, phân tử và thế giới vật chất. Và từ vật chất tạo ra cảnh giới tinh thần, tâm lý. Nguyên lý này thể hiện rõ trong thí nghiệm 2 khe hở (double slit experiment). Hạt electron chỉ xuất hiện khi có người nhìn hay thiết bị quan sát.

Nhất thiết duy tâm tạo diễn tả toàn bộ vũ trụ vạn vật đều có nguồn gốc là tâm (Citta, tâm là chánh biến tri tạo ra mọi cảnh giới cả vật chất và tinh thần, các cảnh giới rất rõ ràng cụ thể nhưng không phải có thật). Đây là kết luận rút ra từ 2 nguyên lý trên. Thiền nói nhất niệm vô minh tạo ra mọi cảnh giới.

Thập nhị nhân duyên diễn tả cảnh giới của con người có nguồn gốc là vô minh, vô minh là không nhận ra cấu trúc của vật chất chỉ là ảo do cái thấy biết của bộ não bị che lấp, cứ cho là thật và tưởng tượng ra cả trăm nguyên tố, rồi sông ngòi đất đai, sinh vật con người, trải qua 12 mắt xích cuối cùng đến lão tử rồi lại bắt đầu một vòng tuần hoàn mới.

Nguyên lý nhân quả báo ứng diễn tả phước lành hay nghiệp dữ của con người là do cái nhân nó đã gieo trong quá khứ thành cái quả trong hiện tại, nhân lành thì quả tốt, nhân xấu thì quả khổ. Nếu tương lai không muốn nhận quả khổ thì hiện tại đừng có gieo nhân ác.

Nguyên lý quán tính diễn tả nhân quả nghiệp báo hay luân hồi sinh tử đều là quán tính (thói quen) của tâm niệm. Chính quán tính này tạo ra cảnh giới mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã trở thành quen thuộc phổ biến qua nhiều đời nhiều kiếp của thế gian, vì phổ biến nên nó mang tính khách quan, chẳng hạn mọi người đều thấy con trâu con ngựa hay nam nữ giống y như nhau, thật ra tính khách quan chỉ là chủ quan tập thể.

Nguyên lý một là tất cả diễn tả một hạt cơ bản có thể xuất hiện đồng thời ở vô số vị trí trong không gian, tương tự như vậy một Phật tánh biểu hiện thành vô lượng chúng sinh. Đây cũng chính là nguyên lý bất nhị của Phập pháp. Kiến tánh theo Phật giáo là khám phá cái Phật tánh bất nhị đó, từ đó Tối thượng thừa hay Tổ Sư Thiền có danh xưng Bất nhị pháp môn.

Chỉ cần hiểu được một số nguyên lý rất ít chưa đếm hết trên mười đầu ngón tay, người ta có thể hiểu khái quát về vũ trụ vạn vật và nhân sinh một cách thâm sâu. Và toàn bộ lời dạy của Đức Phật có thể tóm tắt trong 4 chữ Ngũ Uẩn Giai Không五蘊皆空 [5 uẩn 蘊(tập hợp) : Sắc色 (vật chất), Thọ受 (cảm giác) Tưởng想 (tưởng tượng), Hành行 (chuyển động), Thức識 (phân biệt) đều là không nghĩa là không có thật].

Đề mục cuối cùng của cuộc chiến tranh lạnh có lẽ là :

Cuộc thi đua giữa hai ngôn ngữ Anh, Hoa    

Tiếng Anh cho đến nay vẫn là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới Số người sử dụng tiếng Anh là 508 triệu người. Nhiều quốc gia lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức của mình như Anh, Mỹ, Úc, New Zealand, Zimbabwe, vùng Caribean, Hồng Kong, Nam Phi và Canada. Do đó, người biết và sử dụng thông thạo loại ngoại ngữ này có lợi thế trong giao tiếp và học hỏi nền văn hóa của nhiều nước bạn trên thế giới. Mặt khác tiếng Anh là một ngôn ngữ tương đối dễ học, sự biến đổi ngữ pháp của nó không quá nhiều, không quá phức tạp. Tiếng Anh chỉ có khoảng 1000 năm lịch sử.

Tiếng Hoa là một ngôn ngữ cổ xưa có hơn 3000 năm lịch sử, là  ngôn ngữ được nhiều người nói nhất toàn cầu hiện nay với khoảng 1,5 tỷ người sử dụng. Văn tự chữ Hán là chữ viết tượng hình nên nó đã thực hiện được một việc cực kỳ quan trọng mà không có trường hợp thứ hai trong lịch sử nhân loại, đó là việc thống nhất văn tự dưới đời Tần vào năm 213 trước Công nguyên (TCN) cách nay (2019) 2232 năm. Thống nhất văn tự khiến cho đất nước TQ rộng lớn với rất nhiều dân tộc nhưng sử dụng thống nhất cùng một thứ chữ viết, từ đó mà thống nhất quốc gia, có nghĩa là 1,4 tỷ người TQ cùng sử dụng một thứ chữ Hán như nhau mặc dù họ nói rất nhiều phương ngữ khác nhau. Sau này có chia ra hai loại văn tự : giản thể sử dụng ở TQ lục địa và phồn thể sử dụng ở Đài Loan và Hong Kong nhưng sự khác biệt giữa hai loại văn tự này không quá lớn, nên người bình thường vẫn có thể đọc thông cả hai loại.

Tiếng Anh là ngôn ngữ làm việc nên trong các hội nghị quốc tế người ta đều sử dụng tiếng Anh, mức độ phổ biến của nó hơn hẳn tiếng Hoa mặc dù tổng số người sử dụng tiếng Anh trên thế giới thì ít hơn. Nhưng tiếng Hoa ngày nay cũng dần dần phổ biến cùng với đà tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế TQ. Nhiều người phương tây đã học thông thạo tiếng Hoa và nói chuẩn như người Hoa bởi vì tiếng Hoa khó đọc khó viết nhưng dễ nói. Chúng ta hãy thử xem một người Australia nói tiếng Hoa thế nào.

Cô gái người Australia Belanti Clarissa nói và hát tiếng Hoa

Về ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trên mạng internet cũng vẫn là sự cạnh tranh giữa tiếng Anh và tiếng Hoa phản ánh số lượng người sử dụng hai thứ ngôn ngữ này.

Top 10 ngôn ngữ sử dụng nhiều nhất trên internet

Trong đó tiếng Anh chiếm 25.3 %, tiếng Hoa chiếm 19.8 %

Trong tương lai lâu dài tiếng Anh có lẽ vẫn duy trì là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới, người ta vẫn thích dùng tiếng Anh trong các hội nghị quốc tế. Trong khi đó thì tiếng Hoa cũng ngày càng phổ biến. Trong các bộ môn nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh, văn học, thi ca, khoa học kỹ thuật…hai thứ ngôn ngữ này vẫn được sử dụng nhiều nhất do chúng có số lượng người sử dụng đông nhất.

Kết luận              

Thời-không theo Đại thừa liễu nghĩa Phật giáo (PG) và theo Cơ học lượng tử hiện đại có thể nói là thống nhất. Hai bên đi theo những con đường khác nhau, sử dụng phương pháp khác nhau nhưng đến ngày nay thì cơ bản đã thống nhất, chỉ khác nhau về danh từ thôi. Cái mà khoa học gọi là Trường (field) hay Vũ trụ toàn ảnh (Holographic Universe) thì PG gọi là Tâm hay Phật tánh hoặc Chánh biến tri và bản chất của nó là thông tin. Vật chất hay năng lượng cũng đều là thông tin. PG nói Tâm tạo ra Tam giới. Khoa học thì nói thông tin được thể hiện thành vô số vũ trụ song song. PG nói người kiến tánh giác ngộ làm chủ được mình nên có khả năng sinh tử tự do. Khoa học nói thông tin được tập hợp lại thành các ứng dụng (applications) thì giả lập và điều khiển được vũ trụ, cũng tương tự như cách thức các apps cùng với hệ điều hành điều khiển được điện thoại di động. Cách thức thông tin hoạt động và hiển thị trên không gian computer hay điện thoại di động cũng tương tự như tâm và vật trong vũ trụ, chỉ khác về qui mô và độ phức tạp chứ không khác về bản chất.

PG và Khoa học thống nhất với nhau rằng Vật chất là không có thật (non realism), Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality) và số lượng cũng không có thật (non quantity).

Nói cho cùng thì cuộc chiến tranh lạnh mới giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới Mỹ và TQ cũng chẳng có gì đáng lo. Đó chỉ là sự biểu hiện của cuộc sống nhân loại, thể hiện sức mạnh của những quốc gia dẫn đầu thế giới, ai thắng ai thua cũng chẳng có gì quan trọng bởi vì như nguyên lý “Một là tất cả” chỉ ra, một Phật tánh biểu hiện thành vô lượng chúng sinh, tất cả mọi người chỉ là một mà thôi. Quốc tịch hay dân tộc chỉ là vọng tưởng không có nghĩa thật. Cho nên cuộc chiến tranh lạnh hay có lỡ biến thành chiến tranh nóng giữa hai anh chàng khổng lồ thì cũng chỉ là giấc mộng giữa ban ngày, một vở kịch của đại hí trường, không phải là sự thật tuyệt đối nên cũng chẳng có gì khiến chúng ta phải lo âu.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

7 Responses to THỜI-KHÔNG VÀ CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH MỚI

  1. hường nói:

    Đã chọn là con của phật
    Sao còn ở ngoài kia chật vật?
    bác thấy tâm cháu sao rồi ạ?

    • Tất cả pháp đều là Phật pháp. Điều quan trọng là không khởi chấp trước tưởng. Chúng ta có thể đi dạo qua tất cả mọi cảnh giới mà không bị vướng mắc. Phát biểu của cháu cũng còn bị vướng đó.

  2. Hiệp nói:

    Cảm ơn bác Truyền Bình vì một bài viết sâu sắc.

  3. Châu nói:

    Cám ơn bác Truyền Bình. Kiến thức về khoa học công nghệ thật đáng ngưỡng mộ. Là tài liệu quý cần đọc đi đọc lại để suy ngẫm. Chúc bác nhiều sức khỏe!

    • Cám ơn bạn có phản hồi tích cực. Thật ra ngày nay kiến thức có sẵn trên mạng, khi cần mình chỉ lấy sử dụng thôi, ai cũng đều có khả năng ấy cả. Chúc bạn vui khỏe.

  4. Trung nói:

    Cảm ơn tác giả vì một bài viết công phu và sâu sắc. Rất nhiều kiến thức và nhiều sự kiện cũng như tư tương quan trọng định hình thế giơi hiện đại được nhắc đến và lồng ghép thú vị.
    Tôi nghĩ Phật giáo cũng là Khoa học và ngược lại, đều là con đường có thể dẫn đến giác ngộ, có điều Phật giáo đi trước Khoa học đã rất xa….

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s