CON NGƯỜI NÊN XỬ THẾ RA SAO ?

Một vấn đề liên quan chặt chẽ đến cuộc sống hàng ngày của mỗi người kể cả người tại gia và xuất gia, đó là thái độ sống thế nào (xưa gọi là xử thế). Có rất nhiều quan điểm khác nhau :

Một vài mô hình xã hội qua lịch sử

Chẳng hạn nhà thơ đời Đường, Lý Bạch nói :

處世若大夢,Xử thế nhược đại mộng  Ở đời như giấc chiêm bao
胡為勞其生?Hồ vi lao kỳ sinh ?  Cái thân còn đó, lao đao làm gì?

Ý của Lý Bạch, cuộc sống giống như giấc mộng nên không cần phải quá nhọc sức lo kiếm sống, lo công danh sự nghiệp, lo cho đất nước, lo cho con cháu…quá nhiều thứ phải lo khiến cho cuộc sống không còn được thoải mái.

Một quan điểm khác là quan điểm của Thiền như phát biểu sau đây của thầy Duy Lực :

0036a Phật pháp dạy Xử Thế ra sao ?

Nếu áp dụng đúng theo quan điểm như trên ăn không cầu ngon, mặc không cầu đẹp, ở không cầu phải thật tiện nghi, đi lại không cầu phải thật tiện lợi nhanh chóng…thì xã hội sẽ tiến đến đâu ?

Có lẽ nó đi gần với mô hình trị quốc của Lão tử : Dân đa lợi khí quốc gia tư hôn. Nhân đa kỹ xảo kỳ vật tư khởi. Pháp lệnh tư chương đạo tặc đa hữu民多利器, 國家滋昏. 人多伎巧, 奇物滋起, 法令滋彰, 盜賊多有 (Dân có nhiều vật dụng tinh xảo quốc gia càng thêm đen tối. Con người có nhiều kỹ thuật tinh vi, vật dụng lạ xuất hiện càng nhiều. Pháp lệnh càng có nhiều điều khoản, đạo tặc càng nhiều). Mặc dù Lão tử sống cách nay khoảng 2500 năm nhưng ông nói đúng tình hình hiện nay của xã hội hiện đại. Chúng ta cảm thấy bất an vì tranh giành, trộm cướp quá nhiều, hàng hóa rất nhiều trong đó không ít hàng độc hại làm ô nhiễm môi trường, tình hình trong nước cũng như trên thế giới đều có nhiều mặt đen tối.

Mô hình trị quốc của Lão tử hướng đến một xã hội ít vật chất nhưng hạnh phúc, con người có sức khỏe tốt, sống lành mạnh an lạc. Có lẽ cuộc sống của bộ tộc  Kogi ở Colombia Nam Mỹ mà người ta quay phim năm 1993, gần với mô hình lý tưởng của Lão Tử. Họ sống cực kỳ đơn giản, không ăn thịt cá, chỉ ăn rau cải, trái cây, an tĩnh hướng nội, trí tuệ sáng suốt, rất ít bệnh tật, rất ít giao tiếp với bên ngoài, môi trường được bảo tồn hoàn hảo, suốt mấy ngàn năm không hề thay đổi. Họ đã sống hoà bình yên ổn, không tranh đua và có lẽ cảm thấy rất hạnh phúc trong rừng rậm.

0026 Bộ lạc Kogi ở Nam Mỹ

Mô hình xã hội của bộ tộc Kogi Nam Mỹ hạnh phúc thật. Nhưng thử nêu câu hỏi, có bao nhiêu người trong chúng ta bằng lòng sống theo mô hình đó ? Trong suốt mấy nghìn năm họ hầu như không có thay đổi, không có cái gọi là “tiến bộ” mà xã hội hiện đại của chúng ta rất trọng vọng. Người của xã hội đó không đi đâu xa nên không cần phương tiện vận chuyển. Họ cũng không có nhu cầu liên lạc với thế giới bên ngoài nên cũng không cần smartphone để làm gì. Một số người ưu tú dường như có thần thông, họ hiểu rõ thế giới bên ngoài có đời sống bất ổn như thế nào và họ cũng có gởi một thông điệp để cảnh tỉnh thế giới văn minh bên ngoài như sau :

Ðầu năm 1993, ký giả Alan Ereira của Đài BBC tháp tùng bởi 5 người gồm một ký giả, ba nhân viên thu hình và một nhân viên y tế lên đường.  Ðể có thể thu thập được nội dung của cuộc trao đổi phỏng vấn với người Kogi, phái đoàn này còn tìm được một người của bộ lạc kế cận có thể nói được tiếng Kogi làm thông dịch.

Sau một thời gian len lõi trong rừng sâu núi thẳm của vùng Nam Mỹ, họ lên được một đỉnh núi cao của miền Sierra sau khi hồi hộp đi qua chiếc cầu treo như lơ lửng trên những hố sâu và vực thẳm để vào nơi bộ tộc Kogi sinh sống.  Họ được một số người đại diện bộ tộc ra đón.  Ðó là những vị Trưởng lão – Những người này ăn mặc giống nhau: vải dệt từ những loại sợi dày màu trắng – đầu họ đội loại mũ có vành hơi rộng cũng màu trắng hoặc vàng- Tóc họ màu đen, dài, quăn, da ngăm…

Bộ tộc Kogi trên dãy núi Sierra Nevada ở Colombia
Trước tiên phái đoàn được cho biết là họ được phép ở lại đây 3 ngày.  Ðây là một trường hợp đặc biệt và sẽ không bao giờ còn có sự gặp gỡ này nữa.

Khi nhóm của ký giả Alan Ereira an toạ trên những cái ghế thấp bằng thân cây thì một vị cao tuổi trong bộ tộc mời họ uống nước và bắt đầu nói như giải thích:

– Có thể đây là một ngoại lệ, vì từ mấy nghìn năm qua chúng tôi theo điều luật của dòng họ, không bao giờ tiếp xúc với bất cứ ai ngoài người trong bộ tộc.  Có lẽ quý vị sẽ hiểu rõ nguyên do vì sao mà Hội đồng trưởng lão của bộ tộc chúng tôi đã quyết định có cuộc hội ngộ hôm nay.

Người đang đứng đầu phía xa để chỉ về điều mà vị này vừa nhắc tới về sức khoẻ thì nhân viên y tế trong phái đoàn ngỏ ý muốn “xem qua” sức khoẻ họ.  Người này lần lượt dùng các dụng cụ y khoa đo huyết áp, khám phổi, khám răng, thử máu vân vân. Ðiều kỳ diệu là không tìm thấy một dấu hiệu nào về tật bệnh hay sức khoẻ suy kém nơi những người mà họ đã cẩn thận kiểm tra sức khoẻ. Ðặc biệt nhất là hàm răng của họ rất khoẻ mà không có dấu vết hay tình trạng răng hư, răng sâu.  Tuy vậy vị trưởng lão cho biết là vẫn có trường hợp có người qua đời vì bệnh nhưng rất ít và thường xảy ra khi đứa bé mới lớn – Một khi vị trưởng lão khám nghiệm thấy không thể chữa khỏi thì cha mẹ đứa bé sẽ chấp nhận mất con vì họ cho đó là luật của tự nhiên.  Tuổi thọ của người Kogi rất cao thường là hơn 100 tuổi.

Chúng tôi là con cháu của một giống dân rất xưa cổ và có thể nói rằng tổ tiên chúng tôi đã có mặt trên quả đất này từ lâu đời lâu hơn cả tổ tiên quý vị nữa.  Ngày nay chúng tôi toàn thể người trong bộ tộc vẫn sống tiếp tục theo những gì mà tổ tiên chúng tôi đã sống, đã suy nghĩ và hoạt động.  Vì chúng tôi đại diện cho thế hệ con người có mặt trên trái đất này sớm hơn quý vị nên tự cho mình là những người anh cả trong gia đình rộng lớn của loài người.  Như thế quý vị được chúng tôi xem là em …

Thế giới có nhiều khác biệt về sắc dân, phong tục tập quán nhưng cũng vẫn có những điều tương hợp giống nhau – Ví như trong một gia đình thì người anh phải chỉ bảo cho người em nhiều điều mà người em chưa biết – Tuy nhiên phần lớn người em vì còn hăng hái, bướng bỉnh nên họ thường không nghe theo , và trải qua biết bao nghìn năm rồi họ vẫn không nghe vẫn chưa hiểu, chưa thấy, chưa giác ngộ trong cuộc sống – vì thế mà những đàn anh như chúng tôi đành phải im lặng đợi chờ vì biết đâu khi đàn em đi vào nếp sống gọi là văn minh khoa học kỹ thuật thì trí óc họ sẽ mở mang bừng sáng để thấy rõ là mình đã sai lầm lớn lao trong cách sống như thế nào? Nhưng mãi hoài những người này ngày càng lầm lạc mê mờ, tự huỷ hoại mình và cả môi trường đất đai nơi họ sinh sống nữa –  Sự sai lầm lớn lao ấy đã tới giai đoạn hiểm nguy báo động.

– Vì thế chúng tôi nghĩ và quyết định là đã tới lúc phải lên tiếng, phải nói rõ về những sai lầm mà những người em đã phạm phải.  Chính vì lẽ đó mà có buổi gặp gỡ hôm nay vì nếu chậm sẽ quá muộn ….

Khi quý vị bước chân vào đây và quan sát đời sống của những người dân chúng tôi quý vị chắc chắn sẽ thấy có sự trái ngược lạ lùng với đời sống của quý vị – Một bên văn minh tiến bộ, một bên đơn sơ mộc mạc – Tuy nhiên, đời sống càng văn minh tiến bộ bao nhiều thì sự xấu xa, nguy hiểm tàn tạ lại càng đến mau bấy nhiêu.  Trong khi đời sống đơn sơ mộc mạc bình thản thì lại làm cho con người được an cư lạc nghiệp bấy nhiêu. Ðiều mà chúng tôi muốn đề cao ở đây là sức khoẻ của mọi người trong các làng. Phần lớn ít có vấn đề hay không có vấn đề.

Hỏi: Thế nào là sống thuận theo thiên nhiên? Giúp cân bằng thiên nhiên?

Trả lời:  Chúng tôi xin nêu một thí dụ mà thí dụ này chính quý vị đã và đang thực hiện Ðó là việc gieo trồng canh tác của quý vị ngày càng phát triển, nhưng vì đuổi theo lợi nhuận, cạnh tranh nên quý vị đã không từ nan dùng những chất hoá học thúc đẩy tiến trình phát triển của cây trái, của lúa mì, lúa mạch.  Ngay cả những súc vật nuôi như heo gà, bò, cá, tôm… quý vị cũng không từ nan dùng hoá chất thúc đẩy cho chúng lớn.  Làm như vậy tức là quý vị đã làm trái tự nhiên, quý vị đã gây ra sự mất cân bằng hài hoà của mọi sinh vật của thiên nhiên – Dĩ nhiên là những rau trái, hoa quả, lúa gạo,cá tôm  sẽ tích chứa trong chúng vô số chất độc hại và khi quý vị ăn vào thì chuyện gì sẽ xảy ra? Tại sao người Âu Mỹ ngày nay bị ung thư quá nhiều và tình trạng tật bệnh này ngày càng lan tràn sang các nước Á châu, Úc châu? Tại sao tại các nước gọi là văn minh tiến bộ của quý vị ngày càng phát sinh ra những loại bệnh lạ, bệnh nan y khủng khiếp? Tất cả chính là do con người ngày càng mê mờ, u tối vì chỉ biết chạy theo vật chất, lợi nhuận mà thôi…vì thế họ luôn gây hại cho môi trường sống, họ luôn làm mất cân bằng thiên thiên, không sống hài hòa với thiên nhiên, đúng luật thiên nhiên…

Sự mất cân bằng trong thiên nhiên còn thấy rõ khi hàng ngày những chất độc hại từ các nhà máy, từ các lò luyện, từ tàu hỏa, xe hơi lan toả khắp không khí – Các chất độc từ các chất phế thải chôn vào lòng đất tạo ra điều mà quý vị gọi là Ô nhiễm môi trường khiến quả đất phải chịu hậu quả nguy hiểm – không những tai hoạ cho bầu khí quyển, đất đai, cây cối mà cả nước cũng bị ô nhiễm – Rồi sự đào sông, xẻ núi, đốn cây rừng, khai phá các hầm mỏ, rút hết các tinh túy của lòng đất v…v….Loài người đã tàn phá quả đất một cách nghiệt ngã, không nương tay, cơ hồ như làm cho quả đất rỗng đi trong khi trên mặt đất thì lại xây dựng các công trình to lớn nặng nề – Nếu quý vị có chút suy nghĩ phân tích một cách đơn giản thì rõ ràng loài người hiện nay đang làm cho quả đất mất cân bằng – Làm sao trong tình trạng ấy mà những đường nứt nơi lòng đất ngày càng không nở toạc ra và làm sao không xảy ra những trận sóng thần, động đất khủng khiếp???

Hỏi: Chúng tôi thấy quý vị canh tác trồng trọt rất đơn sơ – như vậy làm sao có đủ thực phẩm để dùng và tại sao không thấy quý vị tích trữ lương thực để phòng khi đói rét nguy hiểm??

Trả lời: Con người thường bị cái tham lam làm cho mù quáng, vì tham lam mà sinh ra chiến tranh, vì tham lam mà sinh ra thù hận.  Trong bộ tộc chúng tôi ai cũng ăn ngày 3 bữa và cũng không quan tâm tới vấn đề ăn uống.  Chim chóc bay nhởn nhơ không khổ nhọc vì cái ăn, chúng đâu cần gieo hạt, bón cây mà vẫn không bị chết đói – vì thiên nhiên đã lo liệu đủ cho chúng rồi – Chúng tôi nghĩ rằng “Thiên nhiên đã lo liệu đầy đủ cho mọi loài thì cứ yên tâm mà sinh sống”.  Chúng tôi biết cách tạo ra lắm hoa màu cây trái nhưng dễ làm lệch lạc sự cân bằng của tự nhiên.  Vì thế chúng tôi chỉ canh tác theo lối đơn giản và hái trái cây trong rừng như thuở xa xưa – tuy mộc mạc đơn sơ nhưng tâm hồn thanh thản – chúng tôi tạo thức ăn trong an bình – về câu hỏi:  Tại sao chúng tôi không lo để dành, tích trữ thực phẩm – Vì làm như thế tức là tạo ra sự tham lam mù quáng muốn chiếm đoạt – đó là khởi phát của chiến tranh, xâu xé, đó là mầm mống của trộm cắp giết người… Chúng ta hiếm khi thấy thú vật chim muông tàng trữ thức ăn cho chúng.  Sự dư thừa thường làm rối loạn trật tự thiên nhiên. Ðiều thấy rõ là khi mình chiếm hữu nhiều cho mình thì người khác và sinh vật khác sẽ bị thiếu hụt – Như vậy là không công bằng, là vi phạm luật tự nhiên và khiến thiên nhiên mất cân bằng… Do đó phương châm nuôi dưỡng từ tổ tiên chúng tôi đến nay vẫn luôn sống vừa đủ – không có sự dư thừa… là vậy.

Hỏi: Xin hỏi là khi không ăn thịt cá, nghĩa là bất cứ loài động vật lớn nhỏ nào có phải là quý vị bị ảnh hưởng bởi tôn giáo nào đó không? Theo quý vị thì chỉ ăn độc nhất rau trái có lợi như thế nào?

Trả lời:  Như đã trình bày từ trước, tổ tiên chúng tôi xuất hiện trên quả đất này rất xưa, xưa hơn tổ tiên quý vị rất nhiều.  Sự xuất hiện các tôn giáo mà quý vị thấy hiện nay trên thế giới, chỉ xuất hiện sau khi loài người đã quá dã man độc ác.  Còn tổ tiên chúng tôi thì đã sống theo sự an lành thiện tâm giúp đỡ mọi loài từ đó tới nay như chuyện tự nhiên của thiên nhiên – Chúng tôi không bị lệ thuộc vào tôn giáo nào cả.  Con người vốn đã có sẵn thiện tâm,  lòng tốt khi mới sinh ra.  Chính vì tham lam mê mờ, ganh đua ganh ghét mà sinh ra chống đối nhau, xâu xé, giành giựt nhau dẫn tới chiến tranh.  Loài người hiện nay đang đắm chìm trong các u tối đó.  Chúng tôi thì không. Chúng tôi không săn bắn, không đánh cá nên không giết hại sinh vật nào, chúng sống hòa đồng với chúng tôi như quý vị nuôi chó mèo vậy.  Quả đất là nơi sinh sống của mọi loài – Tại sao loài người lại bắt, giết, ăn thịt các loài khác.  Mọi loài sinh vật đều biết đau đớn.  Tại sao ta lại ăn “cái đang đau khổ”?  Ăn cái đau khổ thì cơ thể ta sẽ bị gì?  Còn vấn đề chỉ ăn rau trái, quý vị hỏi là có lợi như thế nào thì xin trả lời rằng:  Trong cây trái rau cỏ có nhiều thứ mang lại sức khoẻ tốt lành cho con người.  Nhiều chất quý trong cây khi vào cơ thể sẽ giúp cơ thể có khả năng chống lại các độc tố gây bệnh.  Nhiều khi gặp trở ngại trên đường đi hay lạc lối trong rừng sâu không có thức ăn chúng tôi có thể ngậm vài lá cây nào đó để bồi bổ cơ thể.  Một trong các môn học của mọi người trong bộ tộc chúng tôi là cây cỏ vì chúng tôi sống gần gũi với cây cỏ nhiều hơn cả.

Hỏi: Quý vị vừa cho biết về môn học cây cỏ, vậy nơi đây trường ốc ra sao, công việc giảng dạy tiến hành như thế nào?  Xin cho biết?

Trả lời: Chúng tôi giảng dạy cho con trẻ từ tấm bé về nhiều lãnh vực, như cách ăn uống cũng phải dạy – ví dụ khi ăn phải tập nhai kỹ, phải từ tốn, ngẫm nghĩ, chú tâm, phải đưa tư tưởng vào việc đang ăn. Tránh vừa ăn vừa nói, không được vừa ăn vừa nghĩ ngợi tới vấn  đề nào khác… Môn học dành riêng cho thanh  niên khi tới  tuổi hai mươi là quan trọng hơn cả và khó khăn hơn cả. Tới độ tuổi này, người thanh niên trong bộ tộc được gởi tới một túp lều tranh hay một hang đá.  Nơi đây vị trưởng lão sẽ chỉ dẫn phương cách học tập.  Phải nói đây là phương cách tu tập để trở thành một người Kogi hoàn  thiện có năng lực, biết sống và biết suy nghĩ thế nào cho hợp cách.  Người thanh niên sẽ ngồi xếp bằng quay mặt vào vách để từ đó họ ngẫm nghĩ suy tưởng về con người mình, về thế giới tự nhiên, nghĩa là sự liên kết, ràng buộc, giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và cây cỏ, thú vật, ngày đêm, đất đai, rừng núi, sự kiên trì là điều cốt lõi và thời gian sẽ đánh giá được sự kiên trì.  Do đó mà thời gian người thanh niên ngồi quay mặt vào trong nơi túp lều hay vách đá phải là 9 năm. Chín năm suy ngẫm nhiều vấn đề và cũng là thời gian để bản thân con người mình và thiên nhiên liên kết gần gũi nhau, biết rõ nhau, trở thành hợp nhất.  Khi an trú ở một nơi hiu quạnh vắng vẻ như thế để tự suy gẩm, khám phá bản thân mình và khám phá thiên nhiên, người thanh niên này sẽ ăn rất ít và khi tu tập, họ chỉ ngậm vài lá cây, uống chút nước để giữ cho cơ thể đựơc an bình mà thôi.  Thường thì vị trưởng lão sẽ đến giảng dạy theo một giờ nhất định nào đó. Vị này sẽ hướng dẫn người học trò về những điều gọi là bí mật của vũ trụ tự nhiên, về tâm  thức về ý thức và hành động của chính bản thân mình.   Sau 9 năm tu tập xét mình xét thiên nhiên như thế với thế ngồi “diện bích” (nhìn vô vách).

Khi người thanh niên bước vào tuổi 30, lúc đó họ đã trở thành một con người chững chạc có khả năng “giao cảm với vũ trụ thiên nhiên”.  Chính nhờ vậy mà dù sống nơi núi cao đầy sương và mây mù, dù trong rừng thẩm thâm u của rừng dày Nam Mỹ, họ vẫn biết được những gì đã và sẽ xảy ra trên thế giới.   Ðây chính là câu trả lời vì sao chúng tôi sống nơi tận cùng mù mịt của địa cầu mà lại có thể biết những gì xảy ra ở bên ngoài như đã từng trình bày trong những câu giải thích cho quý vị về tình trạng bất an, đen tối, đầy nguy hiểm mà loài người đang gây ra trên thế giới…

Hỏi: Quý vị quan niệm hay biết rõ về vũ trụ như thế nào? ….

Trả lời: Sống hòa hợp với vũ trụ, thấm nhập vũ trụ vào với tâm thức mình thì ta sẽ thấu triệt, hiểu rõ được nhiều thứ trong đời sống.  Lý do vũ trụ như là một tấm gương soi vĩ đại, từ đó phản ánh mọi sự mọi việc, nên khi ta hoà nhập vào với vũ trụ là ta biết rõ những điều đã và sẽ xảy ra.  Vì mình và vũ trụ là một nên khi biết rõ mình tức là biết rõ vũ trụ, tự nhiên.  Mà biết rõ vũ trụ tức là biết rõ các định luật của thế giới tự nhiên, trong đó có ta, các loài sinh vật, nghĩa là tất cả.  Và khi đã hiểu rõ các định luật ấy rồi thì ta sẽ không bao giờ dám làm điều gì, dám nghĩ điều gì vượt ra ngoài hay trái ngược với các định luật ấy.  Vì nếu làm trái với thiên nhiên là sẽ bị đào thải bị tận diệt.

Còn ý niệm về vũ trụ thì nhờ tĩnh tâm giao cảm với vũ trụ mà chúng tôi biết lúc vũ trụ chưa hình thành là một khoảng trống không – Cái trống không vô tận ấy chính là Mẹ Vũ trụ mà chúng tôi gọi là Kaluma.  Mẹ Vũ trụ là một trạng thái tuyệt đối của Tâm thức – Mẹ vũ trụ không phải là đấng tạo hóa như loài người nghĩ.  Chính nhờ cái tâm thức tan toả này mà phát sinh ra tư tưởng – Nhờ sự vận hành chuyển hoá của tư tưởng mà phát sinh ra tất cả mọi thứ như ta thấy ngày nay – Ðiều này mới nghe qua thì quá mơ hồ trừu tượng – Chỉ khi nào quý vị áp dụng phương thức suy gẫm như lối ngồi nhìn vào vách trong thời gian 9 năm thì khi đó tâm thức quý vị mới dễ hoà vào tâm thức vũ trụ – Lúc đó quý vị mới thấy rõ những gì tôi vừa trình bày.  Như vậy cái Tâm là rất quan trọng – Mọi thứ đều do tâm tạo.  Nhờ phương thức tĩnh tâm để giao cảm với vũ trụ mà chúng tôi biết trong vùng không gian của chúng ta thôi là đã có 9 thế giới phát sinh từ tâm thức – Mọi thứ nơi 9 thế giới ấy đều có cùng quy luật là sinh ra lớn lên, phát triển rồi chết.  Những quy luật ấy còn có những chi tiết mà nếu loài người tự cho là văn minh tiến bộ tìm cách phá vỡ các quy luật thì hậu quả lại rất tai hại.  Loài người hiện đang sinh sống nơi thế giới thứ 9.  Ðiều quan trọng cần nhớ là thế giới này không phải dành riêng cho loài người mà còn cho mọi sinh vật – Vì thế, đánh, bắt, giết hay ăn thịt các sinh vật tức là vi phạm quy luật tự nhiên.  Nói về sự vi  phạm quy luật tự nhiên thì thật ra loài người đã hành động trái với luật tự nhiên từ lâu rồi…

Hỏi:  Theo quý vị thì loài người hiện nay đã hành động trái với luật tự nhiên như thế nào??

Trả lời: Buổi gặp gỡ 3 ngày tại bộ tộc chúng tôi chính là mục đích để nói lên cái sai lầm của loài người hiện nay, cái nguy cơ tai hại mà loài người đã gây ra – Nói rõ hơn là loài người từ lâu đã làm trái với định luật thiên nhiên, gây tai họa không những cho trái đất mà còn cho cả chính họ.  Con người cứ mê mờ khi nghĩ rằng mình có khả năng cải tạo thiên nhiên, cải tạo cuộc sống – Con người ngày càng văn minh tiến bộ với những máy móc tuyệt hảo tinh vi – Nhưng quả thật ý tưởng đó quá sai lầm vì khả năng con người dù thông minh tài giỏi tới đâu vẫn không thể thay đổi quy luật của tự nhiên cũng như chế ngự được cơn thịnh nộ của thiên nhiên – Con người không thể ngăn cản sóng thần, bão tố, động đất, lũ lụt và nhất là dịch bệnh và sự chết.  Càng ngày con người càng có cảm tưởng rằng mình có khả năng chế ngự được thiên nhiên và thực hiện được những gì mà con người muốn như đẩy lùi bệnh tật, tạo sinh ra sinh vật mới ngay trong phòng thí nghiệm, kéo dài tuổi thọ, làm mưa nhân tạo – chế tạo những vũ khí giết người tinh vi siêu đẳng và nhất là vũ khí hóa học, vi trùng … Và những cuộc thí nghiệm nổ bom hạt nhân… Nhưng con người không biết rằng: khi đẩy lùi bệnh tật thì lại làm phát sinh ra những loại vi trùng hay độc tố mới và tạo ra thứ bệnh mới khác.  Khi chế tạo vũ khí sinh học, hóa học thì ngay lúc đang thí nghiệm cũng đã đưa vào không khí mầm bệnh độc hại rồi, từ đó mới có những bệnh lạ phát sinh ở người và loài vật.   Khi làm thay đổi thế giới tự nhiên là làm xáo trộn quy luật của sự sống… Thuốc ngừa thai, sự tạo sinh sinh vật mới, thuốc tăng cường sức khoẻ, chống ung thư, ngăn chận lão hoá đều trái luật tự nhiên… Hậu quả sẽ tàn phá đời sống tự nhiên của con người và mọi sinh vật.  Quả đất là nơi loài người sinh sống, mọi loài cư trú và phát triển nhưng hằng ngày con người vô ý thức tàn phá đất đai, cây cối, thú vật một cách mù quáng.  Thế giới văn minh của quý vị dùng thuốc khai quang, diệt cỏ dại, thuốc trừ sâu rầy, thuốc làm tăng sự phát triển của gia súc và hoa màu – Những thứ thuốc ấy đều là những chất độc hại, chúng ngấm vào đất đai, biển cả, sông ngòi đều chất chứa vô số chất phế thải độc hại, con người, các động vật và nhất là các loài thủy sản đã đưa vào cơ thể biết bao chất độc từ nước.   Riêng không khí thì rõ ràng ngày nay đang tràn ngập các độc chất gây ô nhiễm trầm trọng … Tất cả sẽ là nguyên nhân gây nên vô số thảm họa đến với loài người mà bệnh ung thư và bệnh lạ ngày càng phát triển lan tràn khắp thế giới đồng thời với những thay đổi lệch lạc về khí hậu, đất đai, môi trường cũng chính do loài người gây ra làm phát sinh những biến động từ thiên nhiên như sóng thần, lụt lội, đất khô cằn, hạn hán, động đất và sau cùng là quả đất sẽ bị hủy hoại và nạn diệt vong đến với mọi loài sinh vật dĩ nhiên là gồm cả loài người sẽ xảy ra không lâu.  Ðiều tệ hại hơn nữa là khi con người phát sinh phát triển tới nay có lúc nào là không có sự tranh giành tàn sát lẫn nhau, không lúc nào là không có hận thù.  Không những thế, nhiều quốc gia tân tiến muốn trở thành bá chủ đã không ngừng phát triển các loại máy móc, kỹ thuật tân kỳ, một mặt thì thăng tiến cuộc sống trong giả tạo nhưng đồng thời lại tận dụng những chất rất nguy hiểm mà về lâu về dài sẽ ảnh hưởng lên cơ thể gây ung thư.  Các quốc gia giàu có với kỹ nghệ phát triển hiện nay biết rõ sự tai hại của các chất kỹ nghệ độc hại nên đã lợi dụng danh nghĩa toàn cầu thương mãi đã nhắm vào các nước nghèo để tới đó mở mang phát triển kỹ nghệ, vừa được nhân công rẻ vừa có chỗ thải bỏ các chất độc.  Làm như vậy ngầm mục đích là nếu có xảy ra nguy cơ nào phát sinh từ các chất thải độc hại ấy thì chỉ đất nước ấy gánh chịu mà thôi chớ không ảnh hưởng tới đất nước của họ.  Quý vị hãy tưởng tượng rồi đây các quốc gia nghèo đói và yếu kém sẽ ra sao khi họ hoan hỉ để các công ty nước ngoài thuê đất đai và xây dựng lên những nhà máy đồ sộ.  Tại đó sẽ sản xuất vô số mặt hàng mà vật liệu, chất thải là những thứ mà hiếm ai biết được chôn vào đất đai hay trôi chảy vào sông rạch… Kết quả là quốc gia đó sẽ bị hậu quả tàn hại nặng nề vì không khí, sông ngòi, hồ ao và đất đai cây cối sẽ tràn ngập đủ các chất ô nhiễm mà chính quyền không biết.  Từ đó trong dân chúng sẽ phát sinh vô số chứng bệnh lạ và hậu quả lâu dài là ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền của cả dân tộc.

Loài người vẫn tự hào là mình văn minh mà không biết cái văn minh của mình là con dao hai lưỡi tàn hại toàn thể nhân loại.  Ðã đến lúc loài người nên thức tỉnh. Ðó chính là lời kêu gọi thiết tha của chúng tôi nhắn gởi nhờ quý vị trao lại cho loài người hiện nay.  Mong quý vị gởi ngay thông điệp này đến thế giới càng sớm càng tốt nếu không thì quá muộn.

Hỏi: Qua cuộc gặp gỡ đặc biệt này, quý vị có điều gì cần cho chúng tôi biết thêm không?

Trả Lời:  Chúng tôi xin nhắc lại là sở dĩ có sự đồng ý tiếp xúc với quý ông trong ba ngày là vì muốn chuyển một thông điệp cho những người mà chúng tôi nghĩ là những người em trong gia đình nhân loại.

Như trên chúng tôi đã trình bày.  Ngày nay loài người đang tự đào hố chôn mình – Càng văn minh, con người càng lầm lạc, mê mờ.  Càng văn minh, con người càng làm trái với luật của thế giới tự nhiên.  Càng ngày con người càng tham lam.  Mà càng tham lam thì càng chia rẽ, hận thù, nên bạo lực, chiến tranh khủng bố luôn diễn ra mà kết quả không tránh được là thế giới chiến tranh lần thứ ba sẽ phải xảy ra – Nhưng chiến tranh lần này quả là khốc liệt và bi thảm – Lý do là cả kẻ mang hận thù và người đối tượng hận thù đều bị tiêu diệt, thế giới lại đi vào giai đoạn của hỗn mang, một giai đoạn xuất hiện trong vũ trụ cách đây hằng tỉ năm…

Một lần nữa, chúng tôi tha thiết yêu cầu quý vị hãy mang thông điệp này đến cho thế giới bên ngoài để loài người văn minh tiến bộ hiện nay thức tỉnh… nếu không thì sẽ quá muộn…

GHI CHÚ: Trong tập tài liệu ghi chú của phái đoàn báo chí có ghi thêm về câu hỏi của một nhà báo rằng tại sao sống ở một nơi có thể nói là biệt lập với thế giới văn minh sôi động bên ngoài mà những người Kogi lại có thể biết được quá nhiều những gì mà ngay những người sống hiện nay ở những thành phố lờn cũng chưa chắc biết hết được thì được vị đại diện bộ tộc trả lời rằng:  mọi sinh vật kể cả cây cối, động vật và con người đều có sự liên hệ ràng buộc mật thiết với nhau qua nhiều hình thức như cái mà quý vị thường gọi là từ trường, là hào quang, là tâm linh, năng lực tinh thần vân…vân…. Tuy nhiên không ai nghĩ và biết điều đó… vì con người sống ở những vùng đất gọi là văn minh tiến bộ bị chi phối bởi vô số công việc phải làm mới mong đáp ứng nổi những nhu cầu “vật chất” mà họ ham muốn được có.  Khi vật chất lấn áp đè nén bao trùm toàn bộ cuộc sống, tâm linh gần như bị lu mờ, che lấp… Chỉ ngoại trừ những nhà tu hành, thiền quán hay tĩnh tâm…mới có khả năng nhận biết.  Con người có thể nhận biết những gì xảy ra ở khoảng cách xa qua thần giao cách cảm hay qua tập trung tư tưởng… Mọi người trong bộ tộc chúng tôi tới tuổi trưởng thành đã biết tập trung rèn luyện phát triển mặt tâm linh trong 9 năm tĩnh tâm suy ngẫm đã giúp họ:  “Giao cảm với thiên nhiên, vũ trụ” từ đó mà biết được những gì xảy ra chung quanh, ở những nơi mà họ chưa hề đặt chân tới…

Ở TQ cũng có một xã hội tương tự như vậy mà nhà văn nông dân Đào Tiềm đã đề cập trong tác phẩm Đào Hoa Nguyên Ký (Bài viết về nguồn suối hoa đào). Bài viết đó như sau :

Vào khoảng niên hiệu Thái Nguyên đời Tấn, có một người ở Vũ Lăng làm nghề đánh cá, theo dòng khe mà đi, quên mất đường xa gần, bỗng gặp một rừng hoa đào mọc sát bờ mấy trăm bước, không xen loại cây nào khác, cỏ thơm tươi đẹp, hoa rụng rực rỡ. Người đánh cá lấy làm lạ, tiến thêm vô, muốn đến cuối khu rừng. Rừng hết thì suối hiện và thấy một ngọn núi. Núi có hang nhỏ, mờ mờ như có ánh sáng, bèn rời thuyền, theo cửa hang mà vô. Mới đầu hang rất hẹp, chỉ vừa lọt một người. Vô vài chục bước, hang mở rộng ra, sáng sủa; đất bằng phẳng trống trải, nhà cửa tề chỉnh, có ruộng tốt, ao đẹp, có loại dâu loại trúc, đường bờ thông nhau, tiếng gà tiếng chó tiếp nhau. Trong đó những người đi lại trồng trọt làm lụng, đàn ông đàn bà ăn bận đều giống người bên ngoài, từ những người già tóc bạc tới những trẻ để trái đào, đều hớn hở vui vẻ.

Họ thấy người đánh cá, rất lấy làm kinh dị, hỏi ở đâu tới. Người đánh cá kể lể đầu đuôi. Họ bèn mời người này về nhà, bày rượu, mổ gà để đãi. Người trong xóm nghe tin, đều lại hỏi thăm. Họ bảo tổ tiên trốn loạn đời Tần, dắt vợ con và người trong ấp lại chỗ hiểm trở xa xôi này rồi không trở ra nữa; từ đó cách biệt hẳn với người bên ngoài. Họ lại hỏi bấy giờ là đời nào, vì họ không không biết có đời Hán nữa, nói chi đến đời Nguỵ và Tấn. Người đánh cá nhất thiết kể lại đủ cả sự tình, họ nghe rồi đều đau xót, than thở. Những người đứng bên đều mời về nhà mình chơi, đều thết đãi ăn uống. Ở lại chơi vài ngày rồi người đánh cá từ biệt ra về. Trong bọn họ có người dặn: “Ðừng kể cho người ngoài hay làm gì nhé!”.

Ra khỏi hang rồi, tìm lại được chiếc thuyền, bèn theo đường cũ mà về, tới đâu đánh dấu chỗ đó. Ðến quận, vào yết kiến quan Thái thú kể lại sự tình. Viên Thái thú sai ngay người đánh cá đưa người trở lại, tìm những chỗ trước đã đánh dấu, nhưng mơ hồ, không kiếm được con đường cũ nữa.

Ông Lưu Tử Ký ở đất Nam Dương là bậc cao sĩ, nghe kể chuyện, hân hoan tự đi tìm lấy nơi đó, nhưng chưa tìm ra thì bị bệnh mà mất. Từ đó không ai hỏi thăm đường đi nữa.

Bài này khá phổ biến trên thế giới, kể cả người phương tây cũng biết.

Đào Hoa Nguyên Ký- Đào Tiềm- Bản Pháp dịch và Việt dịch 

Những người trong xã hội này đi trốn sự bạo ngược của nhà Tần (221-207 Trước CN) đến khi có người phát hiện ra họ là vào đời Đông Tấn (317-420 CN) cũng là thời đại của Đào Tiềm (365-427). Như vậy họ đã sống tách biệt khỏi thế giới bên ngoài khoảng 600 năm. Vì họ chỉ là một cộng đồng nhỏ nên sự tiến bộ xã hội diễn ra rất chậm, trải qua 600 năm cũng chẳng có bao nhiêu thay đổi, họ sống có vẻ cũng rất an lạc hạnh phúc, vô hình trung cũng theo mô hình xã hội của Lão tử.

Còn cái mô hình chung của cộng đồng nhân loại thì phát triển càng lúc càng nhanh. Như chúng ta thấy qua mô tả của Đào Hoa Nguyên Ký, cái dễ thấy nhất là cách ăn mặc thì xã hội tách biệt và xã hội bên ngoài sau 600 năm cũng tương tự như nhau, chứng tỏ xã hội bên ngoài lúc đó cũng phát triển rất chậm.

Cho tới thời nhà Nguyên thì xã hội TQ có vẻ phát triển đi trước phương tây. Marco Polo khi lần đầu tiên đến thăm triều đình nhà Nguyên của Hốt Tất Liệt. Ông viết trong cuốn sách Il Milione (tiếng Ý dịch ra tiếng Anh là The Million, thật ra đó là tên tự của ông Emilione có nghĩa là Oriente Poliano có nghĩa là Poliano ở phương Đông và được dịch là The Travels of Marco Polo).

Năm 1266, cha và chú của Marco Polo (Niccolò và Maffeo) nằm trong số những người Âu Châu đầu tiên tới TQ (ngoài ra còn có Giovanni da Pian del Carpine có thể đã đến TQ trước họ),  họ tới triều đình của Hốt Tất Liệt Khả Hãn (忽必烈可汗Xubilaĭ KhaanQubilai qaγan) tại Đại Đô (Khanbaliq), tức là Bắc Kinh ngày nay. Vị Đại Hãn đã đón tiếp hai anh em với lòng mến khách và hỏi họ nhiều câu về hệ thống pháp lý và chính trị châu Âu. Nhà vua đã yêu cầu họ mang một bức thư gửi cho Giáo Hoàng, yêu cầu phái đến triều đình Mông Cổ 100 tu sĩ học giả. Đại Hãn cũng chân thành mời anh em nhà Polo trở lại Trung Hoa đồng thời cấp cho họ một giấy phép có đóng mộc vàng, để bảo đảm an toàn lúc đi đường. Năm 1271, Niccolò, Maffeo đến TQ lần thứ hai cùng với Marco Polo. Họ đến gặp Đại Hãn tại cung điện mùa hè ở Shangdu (商都 Thương đô gần Trương Gia Khẩu ngày nay) có mang theo bức thư của Giáo hoàng. Marco biết bốn ngôn ngữ, và gia đình ông đã có được nhiều hiểu biết và kinh nghiệm có ích lợi cho vị Đại Hãn. Đại Hãn Hốt Tất Liệt tuy bản chất là người Mông Cổ nhưng đã chấp nhận nhiều lối sống văn minh của người Hán. Nhà vua có 4 hoàng hậu với cả ngàn người hầu cận. Trong các buổi thiết triều, một trong các hoàng hậu cũng được ngồi vào ghế danh dự, ngang hàng với nhà vua. Đại Hãn còn có hàng trăm cung tần. Đại Hãn là một con người nhân từ, thường ra lệnh cấp ngũ cốc và gia súc cho những miền đất bị thiên tai, hạn hán. Có lẽ Marco Polo  đã trở thành một vị quan trong triều, ông đã viết về nhiều chuyến đi thăm với tư cách đại diện triều đình tới các tỉnh miền nam và miền đông Trung Quốc, vùng phía nam xa xôi và cả Miến Điện. Trong 17 năm trường phục vụ cho Đại Hãn, Marco Polo đã đặt chân tới từ miền bắc xứ Mông Cổ và tới tận miền nam là Vân Nam, từ các tỉnh bờ biển phía đông tới xứ Tây Tạng về phía tây và còn được bổ nhiệm làm quan tại Hàng Châu. Marco Polo đã mô tả thành phố này giống như Venice của xứ Ý, được xây dựng trên các giòng sông với chu vi vào khoảng 100 dậm. Nơi này có hai ngàn cây cầu bắc qua sông và con đường lớn của thành phố rộng tới 40 bộ (15m) theo chiều ngang. Trên đại lộ chính này, có tới 10 trung tâm thương mại với các cửa tiệm bán thực phẩm, rượu, gia  vị, và cả các nữ trang như ngọc trai. Mỗi tuần, người dân tại nơi đây họp chợ 2 hay 3 kỳ và Marco Polo đã mô tả cảnh phồn thịnh của sinh hoạt tại Hàng Châu. Nơi chợ có đủ mặt hàng, từ các thú vật như hươu, nai, công, trĩ, tới bò, heo, gà, vịt, các loại lá cây và trái cây, mùa nào thức nấy không thiếu chi. Trong khi cha Nicolo và chú Maffeo mải lo buôn bán nữ trang thì Marco Polo đã đi công tác qua nhiều địa phương, biết rõ về đất nước Trung Hoa hơn phần lớn các người Mông Cổ và người Hán.

Hàng Châu theo mô tả của Marco Polo phồn hoa hơn cả Venise của Ý

Marco Polo trong trang phục Mông Cổ

Đế quốc Mông Cổ vào thời kỳ này rất rộng lớn, gồm 34 tỉnh do 12 vương hầu cai trị và chịu trách nhiệm trước Đại Hãn. Tuy là một miền đất bao la nhưng người Mông Cổ đã tổ chức được một mạng lưới thông tin hữu hiệu với khoảng cách 25 dặm có một trạm liên lạc, với ngựa khỏe và thông tín viên sẵn sàng mang các văn thư, hiệu lệnh của Đại Hãn tới các nơi xa xôi trong một thời gian kỷ lục. Marco Polo đã kể lại rằng một kỵ mã thông tin có thể vượt 250 dặm trong một ngày nhờ đó vào mùa hè, trái cây được hái buổi sáng tại Yên Kinh, đã được đưa đến Thương Đô vào buổi chiều ngày hôm sau, trên một hành trình mà bình thường cần tới 10 ngày đi đường. Marco Polo còn mô tả về tiền giấy, một thứ tiền được chấp nhận tại mọi nơi trong đế quốc Mông Cổ, nhờ đó các lái buôn, các kẻ lữ hành đã không gặp khó khăn khi phải mang tiền đi xa.

Như vậy Marco Polo đã mô tả Hàng Châu là một đô thị phát triển và văn minh, phồn thịnh, có lẽ là tiên tiến hơn Âu châu lúc đó.

Tiến bộ xã hội của nhân loại

Khoa học kỹ thuật phát triển đã giúp cho Âu châu vượt lên và qua mặt TQ nhờ vào các cuộc cách mạng công nghiệp.

Tiến bộ xã hội phần lớn là do cách mạng công nghiệp mang lại, đó là sự thay đổi lớn lao trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, và xã hội. Nhìn lại lịch sử, con người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn. Mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ.

Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Năm 1784, James Watt đã phát minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này, nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Phát minh này được coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hoá. Năm 1785, linh mục Edmund Cartwright cho ra đời một phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải. Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.

Trong thời gian này, ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn. Năm 1784, Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt “puddling” tức là rèn sắt cho thành thép bằng cách nung nóng rồi nhúng nước. Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của máy móc. Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép, khắc phục được những nhược điểm của chiếc máy trước đó.

Bước tiến của ngành giao thông vận tải đánh dấu bằng sự ra đời của chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước vào năm 1804. Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở Châu Âu và Mỹ. Hiện nay ở Anh vẫn còn duy trì xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước phục vụ khách du lịch.

Xe lửa chạy bằng hơi nước tại Anh 2017

Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm.

Cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai lại được khởi xướng từ cuối thế kỷ 19, kéo dài đến đầu thế kỷ 20. Một trong những đặc điểm đáng lưu ý trong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt – áp dụng nguyên lý quản trị của F.W.Taylor , đề xuất năm 1909, ứng dụng vào thực tiễn năm 1913 do hãng Ford đi tiên phong áp dụng trong việc sản xuất xe hơi.

Các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ sản xuất mới: máy tính, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động. Các nhà sáng chế thời kỳ này cũng nghiên cứu, tạo ra những vật liệu mới như chất polymer với độ bền và sức chịu nhiệt cao, được sử dụng rộng rãi trong đời sống, và trong các ngành công nghiệp.

Trong thời gian này, những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú và vô tận như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều… cũng được tìm ra để có thể thay thế dần cho nguồn năng lượng cũ. Những tiến bộ thần kì trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc như máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo, những thành tựu kỳ diệu trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ như phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, bay vào vũ trụ và đặt chân lên Mặt trăng là những thành tựu đi vào lịch sử của cuộc cách mạng công nghiệp lần hai này.

Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp với những tiến bộ nhảy vọt trong cơ khí hóa, thủy lợi hóa, phương pháp lai tạo giống, chống sâu bệnh… giúp nhiều nước có thể khắc phục nạn thiếu lương thực, nạn đói ăn kéo dài trong những thời kỳ trước.

Cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và Internet, tạo nên một thế giới kết nối.

Cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Qua thế kỷ 21 liên lạc viễn thông trở nên phổ biến và rẻ tiền qua mạng internet và các phần mềm gọi chung là OTT (Over The Top) cụ thể là Viber, Zalo, Whatsapp, Facebook Messenger…mà tất cả mọi người đều có thể sử dụng được. Điện thoại thông minh (smartphone) trở nên vô cùng phổ biến, bất cứ ai cũng đều có khả năng mua sắm vì sản phẩm này ngày càng rẻ. Trong công nghiệp thì robot ngày càng phổ biến có thể thay thế cho lao động bình thường ở những công đoạn phức tạp cần độ chính xác cao hoặc nguy hiểm đối với con người.

Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Năm 2013, một từ khóa mới là “Công nghiệp 4.0” bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Đây được gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT=Internet of Things), trí tuệ nhân tạo (AI=Artificial Intelligence), thực tế ảo (VR=Virtual Reality), thực tại ảo tăng cường (AR= Augmented Reality), mạng xã hội,  di động, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây (SMAC= Social, Mobile, Analytics & Cloud)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, với sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều ứng dụng trong xã hội. Nhờ công nghệ AI, người máy làm việc càng thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô biên, trong khi khả năng đó ở con người khi càng già càng yếu đi.

Trong lĩnh vực Giao thông, thế hệ xe không người lái sẽ phát triển nhờ đảm bảo an toàn cao gấp nhiều lần vì không có tình trạng say rượu, vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt ẩu.

Các cuộc cách mạng công nghiệp đã làm cho cuộc sống của con người biến đổi rất lớn, đời sống tiện nghi hơn rất nhiều. Chẳng hạn ngày xưa khi một người muốn đi xa chừng vài km cho tới vài chục hay vài trăm  km thì chỉ có cách đi bộ hoặc đi ngựa, hoặc nơi nào có sông nước hay biển thì đi thuyền. Chẳng hạn Đời Đường, cách nay 1300 năm, công chúa Văn Thành kết hôn với Songtsän Gampo vua nước Thổ Phồn tức Tây Tạng ngày nay, phải đi bộ từ Trường An tới Lhassa mất 3 năm  vì không có đường đi, phải qua đèo vượt suối rất vất vả. Điển hình nhất là nhà sư Huyền Trang đi từ Trường An qua Thiên Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh phải đi bộ qua rừng núi, sa mạc vô cùng vất vả. Khởi hành từ Trường An năm 627 mục đích là tới Nalanda trung tâm Phật giáo thời đó. Đến mùa thu năm 631 ông mới đến được Nalanda, tức mất hơn 4 năm nơi đó còn 10.000 tu sĩ theo học, vẫn còn duy trì một chút hào quang cổ xưa của Phật pháp trong khi nhiều nơi khác tại Thiên Trúc Phật pháp đã suy tàn.

Toàn bộ lộ trình của Huyền Trang

Người ta ước tính toàn bộ lộ trình của Huyền Trang (đường màu đỏ) là khoảng 40.000 km (25.000 miles) riêng đoạn đường từ Trường An tới Nalanda chiếm khoảng một nửa (20.000 km) ông đi bộ trong hơn 4 năm.

Còn ngày nay với phương tiện là máy bay chỉ mất vài tiếng đồng hồ, tiện lợi và dễ dàng hơn nhiều.

Về mặt liên lạc thông tin, ngày xưa Đại Hãn Hốt Tất Liệt gởi một bức thư cho Giáo hoàng La Mã từ năm 1266, mãi đến năm 1271 tức 5 năm sau mới nhận được hồi âm khi cha và chú của Marco Polo trở lại TQ mang theo thư của Giáo hoàng. Ngày nay thì chỉ mất vài giây đã có thể nhận được hồi âm qua mạng internet.

Ngày xưa khả năng sản xuất nông nghiệp yếu kém, người TQ hay bị nạn đói đe dọa, con người thường xuyên bị đói. Nên khi những người quen lâu lâu gặp nhau một lần, câu đầu tiên họ thường hỏi nhau là « Anh ăn cơm chưa ? » Ngày nay thì nhờ khoa học kỹ thuật phát triển nên nạn đói đã lùi xa. Ngày nay nạn đói chỉ còn xảy ra ở những đất nước loạn lạc chiến tranh như Syria hoặc lâm vào khủng hoảng như Venezuela hay một đất nước không đầu tư để nâng cao đời sống nhân dân mà chỉ lo sản xuất tên lửa và vũ khí hạt nhân như Triều Tiên.

Kết luận con người nên xử thế ra sao ?  

Trở lại câu hỏi con người nên có thái độ ứng xử thế nào, sống an lạc hạnh phúc nhàn tĩnh, thuận theo tự nhiên theo mô hình của bộ lạc Kogi giữa rừng già, không có tranh giành, không trộm cướp, không có chuyện người bóc lột người, nhưng không có tiến bộ, ngàn năm vẫn như vậy.

Hay là sống theo nhịp độ phát triển của khoa học kỹ thuật ? Dù là tu sĩ nhưng tu sĩ ngày nay vẫn ở trong một tự viện rộng lớn đầy đủ tiện nghi. Đi lại thì dùng xe máy hoặc xe hơi chứ không còn đi bộ như ngày xưa nữa. Đi xa hơn khoảng 1000km trở lên thì dùng máy bay hoặc xe lửa cao tốc chứ không phải gồng gánh một túi lương khô và một bộ Thanh Long sớ sao chú giải kinh Kim Cang như sư Đức Sơn Tuyên Giám 德山宣鑒 đi bộ xuống phương nam ngày xưa. Giặt quần áo thì dùng máy giặt tự động chứ không dùng chày đập áo như xưa nữa. Và ăn uống dù cho có ăn đạm bạc gạo lứt muối mè thì cũng dùng nồi cơm điện để nấu cơm và bếp gas để rang mè. Còn để liên lạc thì chắc chắn phải dùng smartphone cho nhanh chóng tiện lợi chứ không phải dùng bồ câu đưa thư, ngay cả viết thư trên giấy và gởi thư qua bưu điện hiện ở VN cũng chẳng mấy ai xài, một số người hoài cổ vẫn còn xài nhưng thư gởi không đi hoặc thường hay thất lạc vì quá ít người gởi, bưu điện không có bố trí người đi phát. Tuyệt đại đa số mọi người khi cần liên lạc thì cứ cầm điện thoại lên a lô là xong chứ chẳng ai còn viết thư tay gởi bưu điện. Trong trường hợp cần thiết phải gởi bưu điện, chẳng hạn gởi thiệp cưới cho người ở xa, thì phải gởi chuyển phát nhanh (EMS) chứ nếu gởi thư thường thì chắc chắn nó sẽ không tới.

Thông điệp của bộ lạc Kogi gởi cho thế giới văn minh nói rất đúng, không hề sai, mà con người ở thế giới văn minh cũng không phải không biết. Nhưng con người ở các đô thị văn minh không thể làm theo được. Một phần là vì con người vốn ham hiểu biết, họ không thể dừng phát sinh sáng chế, không thể dừng sáng tác ca nhạc nghệ thuật, không thể dừng xây dựng đường sá cầu cống, nhà cửa văn minh hiện đại. Họ không thể suốt ngày ngồi quay mặt vào vách tĩnh tâm quán tưởng. Ngoài ra dân số ngày càng đông, áp lực phải giải quyết cái ăn, cái mặc, nhà ở cho xã hội là vô cùng lớn. Do đó một quốc gia đông dân như TQ hay Ấn Độ, họ không thể dựa vào sự trồng trọt đơn giản mộc mạc như khuyến cáo của bộ lạc Kogi. Ngày xưa đã từng có nhà triết học Lão tử chủ trương như vậy, những lời dạy đó còn ghi trong quyển sách Đạo Đức Kinh và xã hội cũng có phần nào làm theo. Nhưng dân TQ cứ bị khổ vì nạn đói liên miên mỗi khi có thiên tai mất mùa. Và tới thế kỷ 19 thì họ còn bị các nước phương tây lấn át làm nhục vì phương tây có một nền khoa học kỹ thuật tiên tiến hơn. Mãi đến năm 1979 khi chính quyền quyết tâm cải cách mở cửa, phát triển khoa học kỹ thuật và hiện đại hóa đất nước thì họ mới thoát khỏi nạn đói lâu năm. Cho nên khó mà thuyết phục họ nghe theo cách sống của bộ lạc Kogi. Nếu họ chỉ canh tác đơn giản như bộ lạc Kogi, liệu có nuôi nổi dân số khổng lồ không, ngoài ra nếu họ không phát triển khoa học, kỹ thuật, quân sự, cứ để cho lạc hậu, họ lại sẽ bị những dân tộc nhỏ bé hơn rất nhiều áp bức, chẳng hạn họ đã từng bị dân tộc Mãn thống trị trong 276 năm (1636-1912). Trong thế kỷ 20 họ đã bị người Nhật xâu xé trong mười mấy năm (1931-1945). Vì vậy họ phải đầu tư cho khoa học kỹ thuật, không thể làm khác được.

Tóm lại, sống thiên về tâm linh, yên tĩnh, thanh bạch, khỏe mạnh, an lạc như bộ tộc Kogi là rất đáng quý và con người ngày nay vẫn cần phải thực hành theo lối sống đó.

Nhưng mặt khác sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng không thể dừng lại, dù muốn dù không con người ngày nay vẫn phải hưởng thụ những tiện nghi do khoa học kỹ thuật đem lại, chẳng hạn nước sạch, điện năng, phương tiện đi lại, phương tiện liên lạc, chăm sóc y tế, nhà ở, vật dụng hàng ngày… nhưng con người cũng không nên quá lệ thuộc vào nhu cầu vật chất, cần phải biết đủ, dư thừa quá cũng không tốt và có thể sinh ra bệnh tật cả về thể xác và tinh thần.

Tóm lại một thái độ xử thế khả dĩ nhất là cân bằng hài hòa giữa vật chất và tinh thần. Con người không nên quá chú trọng vật chất đến nỗi trở thành người theo chủ nghĩa trục vật 逐物 (đuổi theo vật chất) gây ra sự tàn hại cho xã hội và môi trường mà thông điệp của bộ lạc Kogi đã phê phán. Nhưng con người cũng không thể hoàn toàn sống theo mô hình của bộ lạc Kogi. Giải quyết vấn đề cơm ăn, áo mặc, nhà ở cho toàn thể nhân loại là một trách nhiệm to lớn, nặng nề, mà mỗi con người đều phải góp phần không thể phó mặc cho người khác hay phó mặc cho chính quyền. Khoa học kỹ thuật là một lợi khí để giải quyết vấn đề này, nhưng đó cũng là con dao hai lưỡi, có lợi mà cũng có hại, do đó phải biết cách vận dụng. Nền giáo dục phổ thông của loài người là hoàn toàn biên kiến, biên kiến cũng tức là tà kiến nên không đủ để đem lại sự cân bằng bền vững. Do đó con người nhất thiết phải cần đến nền giáo dục của các tôn giáo nhất là của Phật giáo, phá ngã chấp và phá pháp chấp, đó là đạo lý liễu nghĩa có thể đem lại sự cân bằng bền vững, cũng là ý nghĩa trung đạo, nó không lệch một bên (biên kiến) mà hai mô hình, bộ lạc Kogi và thế giới văn minh có thể là đại diện.

Truyền Bình

 

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

4 Responses to CON NGƯỜI NÊN XỬ THẾ RA SAO ?

  1. dinh nói:

    Tuyệt vời! Xin hỏi ngài có phải là hóa thân của Phật, nếu phải xin báo mộng cho con biết. Cho con hỏi, khảo cổ học có tìm thấy hóa thạch của người thời Đức Phật Ca-diếp không ạ?
    Con cám ơn!

    • Ca Diếp là một vị cổ Phật ra đời trước Đức Phật Thích Ca. Ghi chép về vị Phật này chỉ là truyền thuyết mơ hồ không có gì là xác thực cả nên cũng không nghe nói ai tìm thấy hóa thạch của người thời đó.

  2. Chúc chú và gia đình luôn mạnh khỏe ạ. Cháu vẫn theo dõi bài của chú đều đều 🙂

  3. Cám ơn bạn đã phản hồi tích cực.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s