Ý THỨC VÀ MẠT-NA THỨC

Trong 8 thức của Duy Thức học Phật giáo, Ý thức là thức thứ 6, còn Mạt-na là thức thứ 7. Vậy hai thức này giống và khác nhau như thế nào ?

Ý thức (consciousness)  

Ý thức là một thức tổng hợp nhận biết và xử lý tiền ngũ thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc thân thể) để thành một một nhận thức tổng hợp, phân biệt rõ ràng từ đó phát sinh khái niệm về vật chất, cảnh giới tinh thần, tư tưởng, tập quán, văn hóa, triết học, tôn giáo, khoa học, tất cả những cái tạo ra nền văn minh nhân loại. Tóm lại ý thức dựng lên cảnh giới vật chất và tinh thần của con người.

Cơ sở của ý thức là lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ) và lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Lục căn tiếp xúc với lục trần phát sinh ra lục thức bao gồm tiền ngũ thức và ý thức như nói trên. Một điểm cực kỳ quan trọng là não bộ tiếp xúc với pháp phát sinh ra toàn bộ cuộc sống xã hội văn minh của con người. Theo Phật pháp thì cuộc sống xã hội đời thường của con người không phải là có thật mà chỉ là tưởng tượng phát sinh từ bộ máy cực kỳ tinh xảo của thân tứ đại của con người trong đó bộ phận quan trọng nhất là bộ não. Clip sau đây minh họa điều đó.

Vạn Pháp Duy Thức

Mạt-na thức (Manas)

Khi bộ não của một con người ngừng hoạt động thì cả vũ trụ tưởng tượng của người đó hoàn toàn sụp đổ, cái xác đốt thì thành tro, chôn thì thành đất. Một vấn đề được đặt ra là nghiệp và thần thức (神識vijñānanā) là gì, chứa ở đâu mà lại có sự luân hồi tái sinh? Câu trả lời là nó chứa ở thức thứ 7 tức là Mạt-na thức.

Mạt-na thức là thức chấp ngã, nó cho rằng toàn bộ lục căn, lục trần, lục thức đều là nó. Chẳng những thế toàn bộ các kiếp sống của vô lượng vô biên kiếp quá khứ, hiện tại và tương lai cũng đều là nó. Nghiệp của quá khứ, hiện tại sẽ dẫn tới kiếp lai sinh của nó, triền miên vô tận như thế, Phật giáo gọi là luân hồi tái sinh. Cơ thể vật chất tiêu vong nhưng thần thức  vẫn còn và nó đi đầu thai ở một cơ thể mới. Theo Phật pháp, Có 6 đường để cho thần thức đi đầu thai tùy theo nghiệp lực của nó gồm : người trời (thiên nhân天人deva), a-tu-la (阿修羅asura) người (nhân loại人类manussa), súc sinh (畜生tiracchānayoni), ngạ quỷ (餓鬼petta) và địa ngục (地獄niraya). Trong trường hợp thần thức đầu thai vào nhân đạo (đường làm người) và trong một số trường hợp đặc biệt, người tái sinh nhớ lại được tiền kiếp thì giới khoa học có thể xác nhận được tiền kiếp và kiếp lai sinh như hai trường hợp sau đây :

Câu chuyện tái sinh của Suresh Verma- BBC 1980

Câu chuyện tái sinh của Shanti Devi- India 1926-1987- Dr. Kirti Swaroop Rawat

Duy Thức Học Phật giáo giải thích rằng thức chấp ngã của một chúng sinh tức là Mạt-na thức bao gồm cả 7 thức, trong đó Ý thức là thức hiện hành của hiện tại chỉ chiếm một phần nhỏ, còn thông tin hay dữ liệu của vô lượng kiếp quá khứ thì ẩn tàng, nằm tiềm ẩn trong thức thứ 7. Ý thức không nhớ không biết về dữ liệu này cho đến khi bị kích thích vì một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn bị thôi miên hay có một sự gợi nhớ nào đó, như gặp một cảnh lạ nhưng nó lại cảm thấy rất quen, thì nó sẽ nhớ lại các tiền kiếp xa xưa. Để dễ hình dung, chúng ta hãy mượn tin học để giải thích cho dễ hiểu.

Ý thức giống như bộ nhớ RAM (Random Access Memory= Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên), đây là bộ nhớ hoạt động, dữ liệu từ ổ đĩa cứng (thí dụ cho Mạt-na) phải được đưa vào RAM (thí dụ cho Ý thức) thì dữ liệu đó mới hoạt động, mới hiện ra màn hình hoặc ra loa phát âm.

Thức chấp ngã của một chúng sinh chứa dữ liệu thông tin vô lượng kiếp của một chúng sinh là rất lớn, nó giống như một ổ đĩa cứng khổng lồ dung lượng không giới hạn.

Tàng thức hay A-lại-da thức (Alaya)

Khi nói tới vấn đề số lượng không giới hạn, chúng ta phải đi tới khái niệm không có số lượng (non quantity). Phật pháp dùng thuật ngữ bất nhị để mô tả khái niệm này. Bất nhị không phải là hai hay số nhiều mà cũng không phải là một, bất nhị chính là không có số lượng.

Để dễ hiểu về khái niệm này, chúng ta nên mượn một thí nghiệm khoa học về liên kết lượng tử (quantum entanglement) để mô tả, cụ thể là thí nghiệm do bà Maria Chekhova của đại học Moscow tiến hành năm 2012. Bà làm thí nghiệm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau.

Maria Chekhova

Như vậy 100.000 hạt photon đó không phải là một vì rõ ràng có tới 100.000 hạt, con số còn có thể lên tới vô tận. Nhưng đó cũng không phải là nhiều vì nguồn gốc chỉ là một hạt. 100.000 hạt đó không phải hoàn toàn giống nhau vì vị trí của mỗi hạt trong không gian là khác nhau, những đặc điểm khác của mỗi hạt cũng có thể khác nhau chút ít, chẳng hạn nếu spin của hạt gốc xoay sang phải thì spin của các hạt khác xoay sang trái.

Mỗi hạt photon có thể đại biểu cho một chúng sinh, tất cả các hạt đều có chung một nguồn gốc.

Đưa ra thí nghiệm này để chúng ta có hiểu được tất cả chúng sinh đều có chung một nguồn gốc là Phật tánh, hay nói cách khác, một Phật tánh có thể biểu hiện thành vô lượng chúng sinh, tuy bề ngoài chúng có vẻ rất khác nhau nhưng bản thể là không khác.

Nguyên lý bất nhị hay không có số lượng dẫn chúng ta đến thức thứ 8 gọi là A-lại-da thức hay còn gọi là Tàng thức. Thức này chứa dữ liệu thông tin của tất cả chúng sinh. Như vậy đứng về mặt hạn chế, hữu vi, có số lượng, thì Mạt-na chứa dữ liệu của một chúng sinh riêng biệt, giống như một ổ đĩa cứng. Còn đứng về mặt vô hạn, không có số lượng thì Mạt-na cũng là A-lại-da, chứa dữ liệu của vô lượng chúng sinh. Điều đó có nghĩa là một chúng sinh trải qua vô lượng kiếp cũng tương đương với vô lượng chúng sinh trong vô lượng kiếp bởi vì thời gian không có thật, không gian không có thật, số lượng cũng không có thật. Một hạt photon cũng là vô lượng hạt photon.  Giống như tất cả ổ đĩa cứng đều liên thông với nhau thành mạng khổng lồ Internet. Hình ảnh IoT (Internet of Things= Internet kết nối vạn vật) cho chúng ta khái niệm tương đối cụ thể về A-lại-da thức hay Tâm vô lượng, hàng tỷ con người và hàng tỷ đồ vật đều kết nối với nhau, tương tác với nhau qua mạng 5G chẳng hạn, giống như vô lượng chúng sinh trong Tam giới có sự liên kết dính líu với nhau (quantum entanglement) qua một làn sóng vô hình mà thí nghiệm liên kết lượng tử đã cho chúng ta một khái niệm rõ ràng.

Tuy phân biệt chia ra thành 8 thức cho tiện mô tả nhưng 8 thức vẫn là đồng nhất thể và có thể gọi chung là Tâm (Citta). Tâm bao gồm cả 8 thức đó. Vô lượng vô biên chúng sinh vẫn chỉ là một tâm. Tâm là bản thể còn Tam giới và vô lượng chúng sinh là dụng. Thể và Dụng tuy rất khác nhau nhưng không phải là hai nên Phật giáo gọi là Bất nhị.

Năng lực khác nhau của Ý thức và Mạt-na thức

Khi nói Nhất thiết duy tâm tạo hay tâm tạo ra vật chất, chúng ta rất khó tin, tin không nổi bởi vì làm thế nào ý thức tạo ra vật chất được ? Đó là vấn năng lực của ý thức có giới hạn.

Năng lực của Ý thức giới hạn hơn Mạt-na thức vì nó chỉ có sức mạnh hiện hành của bộ não. Bộ não con người trung bình có 86 tỷ tế bào, nhưng không phải toàn bộ tế bào não đều đồng thời hoạt động. Một số nhà đặc dị công năng nói rằng chỉ có từ 5-10% tế bào não thực sự hoạt động tạo ra ý thức hiện hành trong cuộc sống hàng ngày, còn phần lớn tế bào ở trong trạng thái ngủ yên hoặc chỉ hoạt động cầm chừng giống như chiếc điện thoại di động của chúng ta, nó thường không hoạt động hết công suất. Phần không hoạt động này tương ứng với tiềm thức và tiềm năng.

Tiềm năng và tiềm thức này thuộc về sức mạnh của Mạt-na thức, nó bao gồm những tập khí (thói quen) của nhiều kiếp trước, những nghiệp lực của quá khứ, nó có sức mạnh điều khiển chúng ta lớn hơn và sâu xa hơn ý thức. Tiềm thức này quyết định bản sắc của mỗi con người. Một con người thông minh hay ngu tối, sở thích như thế nào là do tiềm thức quyết định, nó ảnh hưởng tới ý thức và dẫn dắt con người đi theo một lộ trình rất nhiều trường hợp là không theo mong muốn của ý thức.

Khi một người bị thôi miên hay có một cơ duyên nào gợi nhớ thì phần tiềm thức này bị đánh thức và người đó nhớ lại những tiền kiếp trong quá khứ mà bình thường người đó không hề ý thức, không hề biết. Như video sau :

Câu chuyện tái sanh của Swarnlata Mishra sinh năm 1948 tại India

Những nhận thức của con người chúng ta về thế giới chung quanh cũng là do tập quán, tập khí nhiều đời quy định mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian, nhiều người có cùng một nhận thức như nhau (cộng nghiệp) nên cho rằng đó là khách quan, thật ra đó chỉ là chủ quan tập thể, chủ quan giống nhau của một số đông người. Chẳng hạn, kết quả cuộc tranh luận khoa học trong thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Albert Einstein và Niels Bohr cho chúng ta thấy rằng hạt cơ bản như photon hay electron không hề có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Chỉ khi có người quan sát các đặc trưng đó mới xuất hiện. Như vậy hạt electron với các đặc trưng mà các nhà khoa học đo đạc được chỉ là tưởng tượng, là chủ quan tập thể của con người chứ không phải có thật. Và các cấu trúc nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thân thể của chúng ta, cũng chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Tưởng tượng đó không phải của ý thức mà là của Mạt-na thức, nó sâu xa hơn, mạnh hơn, tác động quyết định hơn.

Vậy có gì chứng tỏ vật chất chỉ là tưởng tượng chứ không phải hoàn toàn có thật ? Không phải hiện giờ vật chất như cái nhà, cái xe là có thật. Không phải chỉ khi nhà và xe hoàn toàn tan rã thì vật chất mới mất đi. Mà ngay bây giờ nhà và xe cũng không có thật, PG nói là đương thể tức không当体即空 (cái đang hiện hữu cũng là không). Tánh không là bản thể của vật chất. Vật chất không có thực thể.

Các nhà đặc dị công năng chứng tỏ điều đó bằng thực nghiệm.

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

Người có công năng đặc dị như Trương Bảo Thắng vận dụng được nhiều hơn tiềm năng của bộ não nên làm được những điều người bình thường không làm được. Chỉ với ý thức, chúng ta không thể đi xuyên qua tường dù chúng ta có hiểu rõ đến đâu về tánh không, hiểu rõ thân thể không có thật, bức tường không có thật, nhưng chúng ta vẫn không thể đi xuyên qua tường được, bởi vì tập khí của Mạt-na thức vẫn luôn cho rằng thân thể và bức tường là có thật. Sức mạnh của Mạt-na lớn hơn ý thức rất nhiều. Thế nhưng Trương Bảo Thắng có thể đi xuyên qua bức tường.

Trương Bảo Thắng

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

Qua sự chứng tỏ của đặc dị công năng, chúng ta thấy rõ khả năng khác nhau của Ý thức và Mạt-na thức. PG dạy phá ngã chấp tức là phá những tập khí sâu dày của Mạt-na thức không phải chỉ bằng ý thức mà bằng sự tu tập công phu. Tổ Sư Thiền dạy cách phát khởi nghi tình để đến được thoại đầu, tiếp xúc được, làm chủ được sức mạnh của tâm, từ đó thoát khỏi luân hồi, sinh tử tự do, muốn đi đâu chỉ một niệm là đến. Hầu Hi Quý là người thực nghiệm được viễn tải lượng tử bằng năng lực của ý niệm xuất phát từ Mạt-na thức.

Hầu Hi Quý

75 Thực Nghiệm Viễn Tải Lượng Tử

Trên đây chúng ta chúng ta đã bàn đến 8 thức, những thức sau đều bao gồm những thức đầu, nghĩa là A-lại-da thức bao gồm hết 8 thức và được hình dung là Tâm hay Tâm linh, toàn bộ vũ trụ vạn vật, kể luôn cả Tam giới đều là Tâm. Những khoảng cách về không gian và thời gian, cũng như số lượng nhiều ít đều chỉ là mô tả chứ không có thực chất. Bây giờ chúng ta xem tiếp Tâm có những tác dụng gì vượt quá những cái thấy biết thông thường của người đời.

Vấn đề người ngoài hành tinh

Vấn đề tiếp xúc với người ngoài hành tinh, có một câu chuyện cũng rất nổi bật. Đó là từ chòm sao Thất Nữ Pleiades. Cụm sao Pleiades – được biết đến với cái tên cụm sao Thất Nữ hoặc M45 – là thiên thể có thể quan sát được ở hầu hết những nơi có sự hiện diện của con người. Thất Nữ có hình dạng như một nhóm sao màu xanh sáng mờ. Với khoảng cách 541 năm ánh sáng từ Trái Đất chúng ta, Pleiades là một trong những cụm sao gần nhất và sáng nhất có thể quan sát bằng mắt thường.

Cách tìm Pleiades trên bầu trời. Bạn hãy tìm ra cho mình chòm sao Orion (Thợ săn), chòm sao này đặc trưng bởi ba ngôi sao thẳng hàng và cách đều nhau. Từ ba ngôi sao đó bạn hãy nhìn qua bên phải và bạn sẽ thấy những ngôi sao xếp thành hình chữ V với một ngôi sao sáng ở giữa. Chữ V đó chính là khuôn mặt con bò vàng của chòm sao Taurus. Ngôi sao sáng trong hình chữ V đó là Aldebaran – tượng trưng cho mắt của con bò vàng này. Qua khỏi Aldebaran một chút, bạn sẽ thấy cụm sao Thất Nữ tức Pleiades – cụm sao này được tưởng tượng như là là vai của con bò vàng.

Trên mạng có nhiều tài liệu nói rằng ở chòm sao đó có người sinh sống, họ là người Pleiadian. Tiếng kêu của họ là thông điệp họ truyền đến Địa cầu qua sự tiếp điển của bà Barbara Marciniak ở bang North Carolina, Mỹ. Những đạo lý của người Pleiadian được bộ não của bà Barbara Marciniak tiếp nhận theo kiểu mặc khải và được viết ra bằng tiếng Anh và in thành sách từ năm 1988.

Bà Barbara Marciniak, sinh năm 1948, sống tại bang North Carolina, Mỹ

Chẳng hạn quyển sách :

Những người mang đến ánh bình minh

Người Pleiadians là những sinh vật ngoài hành tinh từ các cụm sao trong chòm sao Taurus được gọi là Pleiades. Barbara Marciniak tuyên bố rằng người Pleiadians chọn bà làm sứ giả của họ. Bà tiết lộ điều này trong cuốn sách của mình tiếp điển, “Những người mang đến ánh bình minh”. Theo bà Marciniak, thông điệp là: “Nếu bạn có thể giải thoát mọi người khỏi nghiệp cá nhân (sở tri chướng) của họ, họ có thể du hành trong vũ trụ.”

Nếu người Pleiadians truyền tín hiệu qua không gian vũ trụ bằng vô tuyến điện, phải mất 541 năm thì các tín hiệu đầu tiên mới đến được Địa cầu. Đó không phải là phương thức di chuyển hoặc truyền thông hữu hiệu trong vũ trụ. Phương thức hữu hiệu chính là viễn tải lượng tử, đây cũng chính là phương thức tâm linh mà Hầu Hi Quý đã sử dụng. Điều đó cũng có nghĩa là khoa học và tâm linh hợp nhất, nhận thức rằng vũ trụ chỉ là ảo hóa, không gian, thời gian, số lượng, không phải không có, nhưng chỉ là ảo không phải thật. Nhân loại hiện nay đang khai thác rất mạnh thế giới ảo của tin học, tuy nhiên sự khai thác đó cũng chỉ mới bắt đầu, vẫn còn đang ở thời kỳ sơ khai. Con người cần phải đi tới chỗ thống nhất nhận thức rằng vũ trụ cũng chỉ là ảo, cũng tức là số (digital), vật chất, lương thực thực phẩm, vật dụng, nhà cửa xe cộ, sơn hà biển đảo cũng đều là số, đó là một vũ trụ duy thức. Và người ta có thể dùng máy in 3D chạy bằng năng lượng ánh sáng, nguyên vật liệu cũng lấy từ ánh sáng, để in ra tất cả mọi thứ cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Nhưng đó là chuyện tương lai của nhân loại, bây giờ chúng ta đang nói về viễn tải lượng tử liên hành tinh.

Người Pleiadians ở chòm sao Thất Nữ (Pleiades) dùng phương pháp tâm linh mà dân gian gọi là tiếp điển để truyền thông điệp của họ tới người Địa cầu qua vị sứ giả mà họ chọn là Bà Barbara Marciniak. Khoảng cách 541 năm ánh sáng giữa sao Thất Nữ và Địa cầu, coi như không có “vì tác động ma quái từ xa” theo cách nói của Einstein, còn hiểu cho rốt ráo là khoảng cách không gian chỉ là ảo không phải có thật. Nội dung thông điệp của họ thật ra không có gì mới lạ nếu chúng ta hiểu Phật pháp một cách đúng mức, hiểu Phật pháp cũng tức là hiểu thông điệp của họ.

Bác sĩ tiến sĩ Brian Weiss, sinh năm 1944, tốt nghiệp Đại học Y khoa Yale (Yale University School of Medicine) năm 1970, sống tại thành phố Miami bang Florida, Mỹ, là người chuyên nghiên cứu về tái sinh, luân hồi chuyển kiếp. Ông là nhà nghiên cứu hàng đầu có thẩm quyền về liệu pháp hồi quy nhớ lại tiền kiếp, tác giả của những quyển sách bán rất chạy : Many Lives, Many Masters (nhiều kiếp sống, nhiều bậc thầy); Through Time into Healing (Chữa bệnh bằng cách đi xuyên qua thời gian); Only Love Is Real (Chỉ có Tình yêu thương là thật). Quyển sách Many Lives, Many Masters đã bán được hơn 2 triệu bản và đã được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ từ lúc nó được tung ra lần đầu năm 1988.

Bác sĩ Brian Weiss

Bác sĩ Weiss nói rằng : “Có một năng lực chữa bệnh trong thế giới này, một năng lực tỏ ra có hiệu quả hơn nhiều so với những phương thuốc quy ước hiện đại”. Bác sĩ Weiss phục vụ với tư cách Trưởng khoa thường trực của phân khoa Tâm thần học của đại học Y khoa Yale, và là Chủ nhiệm khoa Tâm thần học tại Trung tâm Y khoa Mount Sinai tại Miami, bang Frorida (Mỹ) nơi ông có duy trì một phòng khám tư.

Trong quyển sách Same Soul, Many Bodies (cùng linh hồn, nhiều thể xác) Bác sĩ Brian Weiss có kể về một bệnh nhân ông thôi miên để phát hiện tiền kiếp, người này tên là Patrick, một trong các tiền kiếp của anh ta xảy ra cách nay 60.000 năm, anh ta sống trên một hành tinh khác. Một bộ phận trong giống nòi của anh ta đã di cư tới địa cầu và khi họ đến, họ gặp những cư dân khác đến từ những hệ mặt trời khác.

Họ đến Địa cầu bằng cách nào ? Chắc chắn không phải bằng cách ngồi phi thuyền bay đến Địa cầu, cách đó không khả thi. Cách phổ biến và hữu hiệu nhất là thần thức của họ (dân gian gọi là linh hồn) tái sinh trên Trái đất. Đối với thần thức thì khoảng cách không gian không có thật. Dù cho họ từ một hành tinh cách xa Địa cầu 1000 năm ánh sáng, hoặc từ một vùng khác trên Địa cầu cách xa 1000 km thì chẳng có gì khác nhau cả. Hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) chứng tỏ rõ ràng như vậy.

Kết luận

Trong bài này chúng ta nói về Ý thức và Mạt-na thức. Đây là thức thứ 6 và thức thứ 7 trong hệ thống 8 thức của Duy Thức Học Phật giáo. Phân tích ra như vậy nhưng thực tế 7 thức đầu đều được bao gồm trong thức thứ 8 là A-lại-da hay Tàng thức, đó cũng chính là Tâm bất nhị không thể phân chia. Chúng ta phân tích để thấy rõ tác dụng của từng thức chuyên biệt nhưng cuối cùng thì tất cả đều là tâm.

Duy Thức học nói rằng đối với người giác ngộ hay giác giả thì 8 thức sẽ chuyển thành 4 trí.

Tiền ngũ thức chuyển thành Thành Sở Tác Trí. Hễ nói tới trí thì chúng ta phải hiểu rằng đã đạt tới bản thể vô phân biệt. Năm thức biến thành một trí. Tiền ngũ căn hợp nhất, tiền ngũ trần cũng hợp nhất thành một khả năng nhận biết chung, không còn cần phải chuyên biệt hóa nữa. Chẳng hạn chị Hoàng Thị Thiêm, trú tại thôn Bùi Trám, xã Hòa Lương, Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, VN có khả năng đó. Dù mắt có bị bịt kín, chị vẫn có thể đọc báo được bình thường. Trương Bảo Thắng có thể dùng mũi ngửi đọc được chữ thay cho con mắt. Ông Lý Tự Sầm, nguyên hiệu trưởng trường đại học Đài Loan, đã có 18 năm nghiên cứu về công năng đặc dị. Năm 1996, khoa điện cơ của trường bắt đầu tuyển sinh cho lớp đọc chữ bằng tay, nghĩa là dùng xúc giác của cơ thể cũng có thể nhận ra chữ viết. Những năm đầu của thập niên 80, báo chí từng đưa tin: Tứ Xuyên có cậu bé tên Đường Vũ, được phát hiện có thể dùng tai đọc chữ. Theo đó, nếu viết một chữ lên giấy, che nó lại (không cho cậu nhìn thấy), rồi kề vào tai của Đường Vũ, thì cậu có thể nghe ra nhận biết được chữ.

Ý thức chuyển thành Diệu Quan Sát Trí. Đối với mọi cảnh giới vật chất và tinh thần trong Tam giới, Diệu Quan Sát Trí đều thấy hết, biết hết nhưng không phân biệt vì bản chất của Tam giới là không có tự tánh. Khi hoạt dụng, nó trở thành thức thì mới phân biệt, khi đó Thành Sở Tác Trí trở thành 5 thức có 5 chức năng chuyên biệt.

Mạt-na thức chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí, tức không còn phân biệt ta người, không còn ngã chấp, Bình Đẳng Tánh Trí thấy tất cả các pháp đều bình đẳng như nhau.

A-lại-da thức chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí. Đó giống như tấm gương lớn phản chiếu tất cả mọi hiện tượng xảy ra trong Tam giới nhưng không lưu lại bất cứ vết tích gì. Bởi vì tất cả mọi thông tin đều có sẵn trong Tâm không thể thêm bớt.

Thức và Trí cũng không phải là hai, chỉ là hai mặt khác nhau của cùng một Tâm như hư không vô sở hữu mà thôi. Thức là dụng, Trí là thể, đều là Tâm vô sở trụ hoạt bát vạn năng có năng lực vô biên vô tận, có thể tạo ra Tam giới hay tất cả mọi cảnh giới không bị hạn chế.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s