VÔ TÌNH THUYẾT PHÁP HỮU TÌNH NGHE

Trước hết xin được giải thích ý nghĩa các thuật ngữ vô tình và hữu tình. Trong Phật pháp, vô tình chỉ những vật vô tri như gỗ, đá, sông, núi…chúng không có ý thức, không có tình cảm. Còn hữu tình là chỉ những sinh vật có ý thức, có tình cảm như súc vật, con người v.v…

Phật pháp cũng phân chia tất cả các pháp trong Tam giới thành 4 loại gọi là Tứ tướng 四相như sau :

1/Ngã tướng 我相 : đó là hình thức con người cho rằng cái tôi của mình bao gồm thể xác, tinh thần và những cái của mình (ngã sở) là có thật.

2/Nhân tướng 人相: là hình thức đối lập với ngã tướng, chỉ người khác và cho rằng đó không phải là ta

3/Chúng sinh tướng 眾生相: là chỉ chung sinh vật, loài hữu tình bao gồm loài người và tất cả các loài sinh vật khác.

4/Thọ giả tướng 壽者相:chỉ chung tất cả các pháp sinh diệt bao gồm cả con người, tất cả các loài sinh vật, tất cả những cái không phải sinh vật như gỗ, đá, nước, không khí, hành tinh, thiên thể…Bởi vì tất cả các pháp sinh diệt đều có tuổi thọ nhất định gọi là thọ giả tức cái có thọ mệnh, có thời gian sống tức tuổi thọ nhất định mặc dù rất lâu dài như mặt trời, hành tinh, thiên thể.

Thọ giả tướng là thuật ngữ bao hàm nhất, trừ 3 loại đầu là loài hữu tình, phần còn lại của thọ giả tướng là loài vô tình.

Về việc vô tình thuyết pháp, có một câu chuyện mà kinh điển có ghi chép như sau :

Động Sơn Lương Giới (洞山良价807-869)đến tham bái ngài Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐771-853)hỏi, “Mới đây con nghe nói Nam Dương Huệ Trung Quốc Sư (南陽慧忠675 ?-775) có cuộc pháp thoại về vô tình thuyết pháp, con không hiểu được ý nghĩa vi tế.” Quy Sơn nói: “Con có nhớ pháp thoại đó không?” – “Có nhớ.” Quy Sơn nói: “Hãy nói ra xem.” Động Sơn nói: “Một vị tăng hỏi: ‘Tâm của Cổ Phật là gì?’ Quốc sư trả lời: ‘Rào, tường, ngói, đá.’ Vị tăng hỏi: ‘Rào, tường, ngói đá có phải là loài vô tình không?’ Quốc sư nói: ‘Phải.’ Tăng hỏi: ‘Có biết thuyết pháp không?’ Quốc sư nói: ‘Thuyết pháp không dừng nghỉ.’ Vị tăng hỏi: ‘Sao con không nghe?’ Quốc sư nói: ‘Ông không nghe nhưng không thể cản trở người khác nghe.’ Tăng hỏi: ‘Ai nghe được?’ Quốc sư nói: ‘Các bậc Thánh nghe được.’ Vị tăng hỏi: ‘Hòa thượng có nghe không?’ Quốc sư nói: ‘Ta không nghe.’ Vị tăng hỏi: ‘Hòa thượng không nghe làm sao biết là vô tình có thể thuyết pháp?’ Quốc sư nói: ‘Nhờ ta không nghe, nếu ta nghe thì đồng với các bậc Thánh, ông sẽ không được nghe ta dạy.’ Vị tăng hỏi: ‘Như vậy chúng sanh không dự phần trong đó sao?’ Quốc sư nói: ‘Ta thuyết pháp vì lợi ích của chúng sanh, không phải cho các vị thánh.’ Vị tăng nói: ‘Sau khi chúng sanh nghe rồi thì thế nào?’ Quốc sư: ‘Tức không phải là chúng sanh.’ Vị tăng nói: ‘Kinh nào làm căn cứ cho việc thuyết pháp của loài vô tình?’ Quốc sư nói: ‘Những lời không hợp với kinh điển thì không phải là lời của người học đạo. Ông có đọc kinh Hoa Nghiêm chưa? Kinh nói rằng đất thuyết pháp, chúng sanh thuyết pháp, mọi vật trong ba thời quá khứ hiện tại tương lai thuyết pháp.”

Theo như ý nghĩa trong câu chuyện thì trong kinh Hoa Nghiêm nói cả loài hữu tình và vô tình đều đang thuyết pháp. Rào tường ngói đá hay chúng sinh đều là tâm Phật không có gì khác nhau cả. Sự khác nhau chỉ là do chúng sinh phân biệt thôi chứ không có thực chất.

Đất thuyết pháp, biển thuyết pháp, gió thuyết pháp, núi sông thuyết pháp…đó đều là vô tình thuyết pháp, các bậc thánh và cả con người nghe thấy tiếng thuyết pháp đó, các sinh vật khác cũng nghe thấy tiếng thuyết pháp đó nên gọi là hữu tình nghe mặc dù đó không phải là ngôn ngữ của loài người. Con người cũng như các sinh vật khác sống trên mặt đất hoặc trong lòng biển hoặc trong sông núi đều nghe thấy tiếng thuyết pháp, nghe bằng tánh nghe, tánh thấy, tánh biết, không phải nghe bằng lỗ tai và ngôn ngữ loài người.

Nhưng ngày nay thì càng rõ ràng hơn, dễ thấy, dễ chấp nhận hơn, cái computer, cái laptop, cái điện thoại di động, video clips, files mp3…chúng đều là vật vô tình nhưng rõ ràng có thể thuyết pháp cho con người nghe bằng ngôn ngữ của loài người.

Từ đây chúng ta có thể nhận định tứ tướng đều là tâm. Đã là tâm thì không còn phân biệt vô tình hữu tình nữa. Hay nói cho rõ hơn, sự phân biệt chỉ là giả tạm không có thực chất. Một con người và một đồ vật khác nhau ở chỗ nào ?

Một đồ vật, một loài vô tình, chẳng hạn con robot, với trí tuệ nhân tạo AI (Artificial Intelligence) nó có thể làm những việc mà trước đây chỉ có con người làm được như đi đứng, nói năng, giao tiếp, thuyết pháp, thậm chí nó cũng có thể biểu hiện tình cảm. Có một số lĩnh vực con robot làm còn giỏi hơn con người, chẳng hạn về mặt dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, nó có thể dịch nhanh hơn con người hàng triệu lần, nó có thể thông thạo tất cả mọi ngôn ngữ của loài người, tuy rằng về mặt chính xác trong dịch thuật, hiện nay nó chưa bằng con người.

Tại sao về mặt bản chất vô tình và hữu tình là không khác nhau ?

Bởi vì vô tình và hữu tình đều là tâm. Vô tình là rào, tường, ngói, đá ; hữu tình là con người. Tại sao rào tường ngói đá và con người đều là tâm, có gì chứng tỏ ?

Bởi vì nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 nghĩa là Tất cả các pháp đều không có đặc điểm tính chất riêng, hiểu cho triệt để là tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều không có đặc điểm gì cả. Chúng vốn chỉ là sóng tiềm năng không có thật, và chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Hạt cơ bản chính là cái mà kinh Lăng nghiêm nói là hoa đốm trong hư không. Khoa học thế kỷ 20 và 21 đã chứng tỏ điều đó trong 2 thí nghiệm : liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 và thí nghiệm 2 khe hở (double slit experiment). Tại sao khi có người quan sát thì hạt electron mới xuất hiện và có các đặc điểm như các nhà khoa học đã đo đạc ? Bởi vì đặc điểm là do người quan sát tưởng tượng ra và gán ghép cho hạt chứ nó vốn là không có sẵn. Vô hình trung khoa học đã chứng tỏ một ý vô cùng quan trọng trong kinh điển : Nhất thiết duy tâm tạo 切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo. Tâm tạo ra hạt cơ bản và các cấu trúc như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cơ thể sinh vật. Khoa học hoàn toàn lý giải được ngũ uẩn giai không.

Tiến sĩ Masaru Emoto, chủ tịch Viện Hado Quốc tế (IHM= International Hado Membership) và là tác giả cuốn sách “Thông điệp của Nước”, đã tiến hành các thí nghiệm qua đó kết luận rằng các nhân tố như sự ô nhiễm, âm nhạc, và suy nghĩ của chúng ta có thể tác động đến hình dạng của tinh thể nước.

Khi hai từ “Tình thương” và “Cảm ơn” được đọc hướng vào những mẫu nước, các tinh thể tạo nên một hình dạng tuyệt đẹp. Khi mẫu nước được tiếp xúc với các từ ngữ mang tính chất tiêu cực như “Tôi ghét bạn”, các tinh thể sẽ tạo nên hình dạng hỗn loạn và vô trật tự. Các kết quả tương phản là rất đáng kinh ngạc và phản ánh trực tiếp ảnh hưởng của tâm trí con người lên vật chất. Đó cũng là biểu hiện Nhất thiết duy tâm tạo.

Vậy rào, tường, ngói, đá vốn chỉ là những vật ảo do con người tưởng tượng ra theo 2 cơ chế Nhất thiết pháp vô tự tính và Nhất thiết duy tâm tạo như trên đã nói. Thân tứ đại của con người cũng như con robot cũng là do con người tưởng tượng và làm ra. Như vậy thì bản chất của chúng cả vô tình và hữu tình là do tâm tạo và không có gì khác nhau, bản chất của chúng là thức tức là thông tin. Thông tin đó có thể mã hóa bằng con số. Cả vũ trụ vạn vật đều có bản chất là thông tin và có thể mã hóa thành con số.  Khoa học hiện đại của thế kỷ 21 đã truy nguyên nguồn gốc của chúng và thấy rằng chúng là lượng tử (quantum). Tiếp tục truy nguyên nữa thì thấy rằng chúng là thông tin (information). Toàn bộ vũ trụ vật chất cũng chỉ là thông tin tương ứng với Duy Thức Học Phật giáo nói rằng Vạn Pháp Duy Thức.

Tinh thể nước cũng là tâm. Khi tâm nghĩ tới điều tốt đẹp thì tinh thể nước biểu hiện hình ảnh đẹp. Khi tâm nghĩ tới điều xấu thì tinh thể nước biểu hiện hình ảnh xấu.

Tâm là một dạng thông tin vô phân biệt, một dạng sóng tiềm năng vô hình (không có tự tính, không phân biệt thiện ác, tốt xấu). Trong tin học thì thông tin đó có dạng số (digital) và cũng chỉ là dữ liệu chưa có ý nghĩa, chưa có đặc điểm hay tính chất gì. Chỉ khi con người khởi niệm, phân biệt thì sóng tiềm năng đó mới biến thành hạt cơ bản của vật chất và có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin như trong thí nghiệm 2 khe hở đã cho thấy rõ :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron

Tương tự như vậy, trong tin học khi các dãy số trong dữ liệu được thay thế bằng những đặc điểm theo quy ước thì màn hình mới hiện ra chữ viết, hình ảnh, video và loa phát ra âm thanh.

Như vậy tâm trong thế giới đời thường và dữ liệu thông tin trong computer là hoàn toàn tương ứng.

Chính vì vậy Craig Hogan, giáo sư thiên văn học và vật lý tại Đại học Chicago và là giám đốc của Trung tâm vật lý thiên văn hạt Fermilab (Fermilab Center for Particle Astrophysics). Ông nói rằng vũ trụ có thể là Số

Do We Live in a Two-Dimensional Universe? An Interview with Physicist Craig Hogan :

The Holographic Principle describes the Universe as a finite set of data stored on the two-dimensional edge of the cosmos.  From that data, all the information that describes everything in existence is “projected”, in the same way a three-dimensional hologram is projected from a two-dimensional surface.

Có phải chúng ta sống trong một vũ trụ hai chiều không? Một cuộc phỏng vấn với nhà vật lý Craig Hogan:
Nguyên lý toàn ảnh mô tả Vũ trụ như một tập hợp dữ liệu hữu hạn được lưu trữ trên bề mặt hai chiều của vũ trụ. Từ dữ liệu đó, tất cả các thông tin mô tả mọi thứ tồn tại đều được “chiếu”, giống như cách hình ba chiều được chiếu từ bề mặt hai chiều.

When people hear hologram or projection, they think “illusion”.  As the Fermilab’s FAQ (Frequently Asked Question = Câu hỏi thường gặp)

page puts it succinctly, all three spatial dimensions and everything in them are real, it’s just that the Universe only needs two dimensions to store the data required to describe it all.  The spatial dimensions with which we are familiar, are considered “emergent”.  It emerges from the two-dimensional information.

Khi mọi người nghe hình ba chiều hoặc hình chiếu, họ nghĩ “ảo ảnh”. Vì trang FAQ (Frequently Asked Question =Câu hỏi thường gặp) của Fermilab đặt nó một cách ngắn gọn, cả ba chiều không gian và mọi thứ trong đó đều là thật, chỉ là Vũ trụ chỉ cần hai chiều để lưu trữ dữ liệu cần thiết để mô tả tất cả. Các kích thước không gian mà chúng ta quen thuộc, được coi là “xuất hiện”. Nó nổi lên từ thông tin hai chiều.

Professor Hogan and his team are looking for something called “holographic noise”. They are trying to determine if, at the finest level–“the Plank length”–the Universe is composed of discreet, individual values, like the 1’s and 0’s in the binary system of a computer code.

Giáo sư Hogan và nhóm của ông đang tìm kiếm một thứ gọi là “tiếng ồn toàn ảnh”. Họ đang cố gắng xác định xem, ở mức độ vi tế nhất – “độ dài Plank” – Vũ trụ bao gồm các giá trị bí ẩn, riêng biệt như 1 và 0 trong hệ thống nhị phân của mã máy tính. (Nghĩa là chúng có bản chất là số).

Tiếng ồn toàn ảnh đã được phát hiện vào ngày 17-01-2012

Tiếng Ồn Toàn Ảnh- Holographic Noise

Tiếng ồn toàn ảnh là một minh chứng rằng thuyết Vũ trụ là số có cơ sở thực tế.

Và Craig Hogan cũng đã nghĩ tới bit thông tin của vũ trụ, ông diễn tả như sau :

Bit thông tin vũ trụ theo lập luận của Craig Hogan

Độ dài Planck được định nghĩa như sau:

Trong đó : lp là độ dài Planck

ħ là hằng số Planck đơn giản

G là hằng số trọng trường

C là vận tốc ánh sáng trong chân không

Quy tròn độ dài Planck lp = 1,61624 x 10-35 m (metre)

Diện tích Planck AP = 2.61219415 × 10-70 m2

Như vậy bit thông tin vũ trụ chiếm một diện tích mặt phẳng bằng 4 lần diện tích Planck (AP)

Ngoài ra còn những lý thuyết gì của giới khoa học chứng tỏ rằng vũ trụ không phải là có thật ?

Vũ Trụ của chúng ta có phải là giả lập không ?

Vũ trụ giả lập tức vũ trụ 3D là vũ trụ mà Thái dương hệ và quả Địa cầu của chúng ta đang ở trong đó nhưng theo lý thuyết của một số nhà khoa học, đó chỉ là hình chiếu lập thể của những dữ liệu thông tin 2D chứa trong mặt phẳng 2 chiều. Chính dữ liệu 2D này mới là bản chất thật của vũ trụ. Còn vũ trụ 3D và cuộc sống trên thế gian chỉ là giả lập. Họ đưa ra lý thuyết rằng có một nền văn minh nào đó đã giả lập ra vũ trụ mà chúng ta đang thấy và đang sống trong đó. Và khi nền văn minh của con người đạt tới trình độ đủ cao, họ cũng có thể giả lập ra một vũ trụ khác. Và cứ thế mà tiếp tục. Như vậy nhiều vũ trụ cứ chồng chất lên nhau.

Các nhà khoa học tuy đã gần như chắc là vũ trụ của chúng ta là giả lập nhưng vẫn còn mơ hồ về một bản gốc của tất cả các vũ trụ giả lập chồng chất lên nhau đó. Và họ hoàn toàn không có khả năng phát giác ra bản gốc. Tại sao ? Bởi vì phương pháp của họ là tư duy, là lý luận, là lô-gích. Mà phương pháp này bị giới hạn bởi định lý bất toàn (Theorem of Incompleteness) do Kurt Gödel (1906-1978) nhà toán học người Áo đưa ra năm 1931 . Định lý này phát biểu thành 2 định lý :

Định lý 1Nếu một lý thuyết dựa trên một hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì trong lý thuyết ấy luôn luôn tồn tại những mệnh đề không thể chứng minh cũng không thể bác bỏ.

Định lý 2Không tồn tại bất cứ một quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính phi mâu thuẫn của một hệ tiên đề.

Áp dụng định lý bất toàn vào việc chứng minh vũ trụ mà chúng ta đang sống trong đó là giả lập bằng tư duy và lý luận thì sẽ dẫn tới kết quả là không thể chứng minh cũng không thể bác bỏ, bởi vì không có quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính phi mâu thuẫn của lý thuyết vũ trụ giả lập.

Ý nghĩa thực tế của nó là các nhà khoa học có thể tạo ra một vũ trụ giả lập bằng một siêu máy tính cực mạnh nhưng các nhà khoa học không thể làm chủ được bản thân mình, không thể sinh tử tự do, không thể muốn đi tới đâu cũng được tùy ý, cũng không thể phát hiện được bản gốc của vũ trụ mình đang sống.

Điều mà các nhà khoa học không thể làm được thì các thiền sư chân chánh lại làm được. Các thiền sư của Tổ Sư Thiền không dùng tư duy lý luận, cũng không quán tưởng, chỉ bằng cách phát khởi nghi tình và không tìm cách lý giải nhưng họ lại tiếp xúc được với bản gốc của vũ trụ mà thuật ngữ Phật giáo gọi là Phật, Phật tánh (tánh giác ngộ, tánh biết), Chánh biến tri, Như Lai v.v…có rất nhiều tên gọi.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên 五灯会元 quyển 7 kể về Ngộ An thiền sư 遇安禅师 ở chùa Thụy Lộc 瑞鹿寺 chuyện xảy ra vào đời Bắc Tống năm 995 Công nguyên.
Ngộ An thiền sư trước khi lâm chung tự mình tắm rửa thật sạch sẽ, thay quần áo sạch. Sau khi tĩnh tọa một hồi bèn tự mình vào nằm trong quan tài, đậy nắp lại. Qua ba ngày, các đệ tử muốn tưởng niệm sư phụ bèn mở nắp áo quan, thấy sư phụ đã chết rồi, mọi người đau buồn khóc lên thống thiết. Lúc đó bỗng nhiên sư phụ ngồi dậy rồi thăng đường nói với đại chúng : “ Nếu lần sau mà có người nào còn lén mở nắp áo quan thì không phải là đệ tử của ta” Nói xong lại tự vào trong áo quan nằm và lần này thì viên tịch thật. Sư Ngộ An không chỉ đạt được sinh tử tự tại, tức muốn đi lúc nào thì đi, mà còn có khả năng sau khi nhập quan ba ngày, vẫn có thể tùy ý sống lại, điều đó chứng tỏ sống chết chỉ là hiện tượng giả tạo không phải có thật.

Chẳng những thiền sư ngộ đạo sinh tử tự do mà hàng cư sĩ cũng có thể kiến tánh và sinh tử tự do :

Trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc có một câu chuyện người thật việc thật được ghi lại trong sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục 景德傳燈錄 Đó là câu chuyện một gia đình bốn người đều kiến tánh giác ngộ, đạt được sinh tử tự do.

Gia đình của Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường) người huyện Hành Dương 衡陽 tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc, tự là Ðạo Huyền 道玄. Ông sống tại chân núi Lộc Môn 鹿門 với vợ và hai con: một gái tên Linh Chiếu 靈照, một trai tên Canh Hoạch 耕获, tên chữ là Bàng Đại Chính 龐大正. Tất cả gia đình tu theo Thiền tông, và đều đã ngộ đạo hết. Sau khi đốn ngộ, ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông Tương 湘江, căn nhà thì cúng dường để xây chùa. Ông cất một thất nhỏ để ở tu. Cô Linh Chiếu thường theo cha hầu hạ, chuyên việc chẻ tre đan rổ, bện sáo, đem ra chợ bán để nuôi cha. Họ đã từ bỏ tất cả tài sản giàu có để sống bằng việc làm lụng cực nhọc và ăn uống kham khổ, mà vẫn vui sống. Người con trai thì lo việc trồng trọt để nuôi mẹ. Ông Bàng Uẩn thường đi nhiều nơi để tham vấn các vị thiền sư nổi danh thời đó. Theo Thiền tông thì việc đi tham vấn là phương pháp cần thiết để học hỏi và trao đổi những kinh nghiệm tu tập, các thầy còn khuyến khích đệ tử của mình phải đi tham vấn, chứ không có ngăn cản. Bàng Uẩn đã gặp nhiều Thiền Sư nổi tiếng như Thạch Ðầu Hi Thiên 石頭希遷, Mã Tổ Đạo Nhất 馬祖道一, Ðơn Hà Thiên Nhiên 丹霞天然 và đều được các vị ấy chứng nhận kiến tánh. Khi gặp Thạch Ðầu, Ông được coi như đã giải ngộ, nhưng sau đó được gặp Mã Tổ thì ông mới thiệt triệt ngộ và ở lại với Mã Tổ hơn một năm. Ông có làm chừng ba trăm bài kệ và được truyền rộng rãi.
Nét tiêu biểu trong cuộc sống gia đình của ông là :
有男不婚,有女不嫁 Hữu nam bất hôn, hữu nữ bất giá (Có con trai không cưới vợ, có con gái không gả chồng)
大家團樂頭,共說無生話 Đại gia đoàn lạc đầu, cộng thuyết vô sinh thoại. (Cả nhà vui vẻ đoàn tụ, cùng nói chuyện vô sinh)
Lúc sắp tịch, ông bảo Linh Chiếu ra ngoài xem, khi nào mặt trời đúng ngọ vào cho ông hay. Linh Chiếu ra xem rồi vào thưa: “Mặt trời đã đúng ngọ, nhưng lại bị sao thiên cẩu ăn mất (nhật thực)” Tưởng thật, ông rời chỗ ngồi bước ra xem thì Linh Chiếu đã ngồi vào bồ đoàn của ông, tịch trước. Ông vào thấy vậy, cười nói: “Con gái ta lanh lợi quá !” rồi phải dời việc nhập diệt lại bảy ngày sau, vì còn phải lo hậu sự cho Linh Chiếu.
Lúc đó có quan Châu Mục của Tương Châu là Vu Khẩu đến thăm và vị này có yêu cầu ông để lại một lời di huấn. Sách Truyền Đăng Lục chép :
當襄州州牧于□來探病時,他說:“但願空諸所有,慎勿實諸所無” 說完,便枕著于□的 膝,怡然入寂 (Lúc quan Tương Châu Mục là Vu Khẩu đến thăm bệnh, ông nói “Chỉ nguyện buông bỏ hết tất cả những cái mình có, cẩn thận đừng có ôm vào thực hiện tất cả những cái mình không có” nói xong bèn nằm lên đầu gối của Vu Khẩu mà an nhiên tịch diệt).
Vợ ông thấy tình hình như vậy, nói: 這痴女和無知老漢竟然不告而別,何其忍心啊 “Con gái ngu si với ông già vô tri, thật là không báo tin mà đi, sao nhẫn tâm vậy!” Bà đi ra ngoài đồng báo tin cho con trai, em của Linh Chiếu. Người con trai đang cuốc đất, nghe tin xong bèn đứng ôm cán cuốc mà tịch. Bàng phu nhân thấy thế bèn nói: 你這小子更愚蠢了(thằng nhỏ này lại càng ngu xuẩn !) rồi lo việc hỏa táng cho con trai xong, bèn nói :
“坐臥立化未為奇,不及龐婆撒手歸。雙手撥開無縫石,不留蹤跡與人知”
[Ngồi, nằm, đứng mà hóa cũng chẳng phải việc lạ, không bằng Bàng Bà này buông tay mà về. Hai tay ta vạch khối đá không có kẽ nứt (ý nói giống như Ma Ha Ca Diếp vạch tảng đá ra để ẩn thân), không để lại tung tích cho người đời biết]. Rồi bà đi vào rừng sâu núi cao mà biệt tăm.
Sau đó Vu Khẩu đã ghi chép những mẩu chuyện, những bài thơ và viết cuốn “Bàng Uẩn ngữ lục” Sách này đã được R.F. Sasaki, Y. Iriya và D.R. Fraser dịch ra Anh văn tựa đề ” A Man of Zen – The Recorded Sayings of Layman P’ang”. (Một Thiền nhân- Ngữ lục của Bàng Cư sĩ).
Qua nghiên cứu thư tịch cổ, tôi có nhận xét rằng Bàng Uẩn, Linh Chiếu và Canh Hoạch đã chứng quả A La Hán, riêng Bàng phu nhân chứng quả Bồ Tát, ngang tầm với Ma Ha Ca Diếp. Nói cách khác, trong vở kịch gia đình Bàng Uẩn, các vị La Hán đóng vai Bàng Uẩn, Linh Chiếu và Canh Hoạch, còn Quán Thế Âm Bồ Tát đóng vai Bàng phu nhân.
Đối với người đời, nếu lâm vào hoàn cảnh của Bàng phu nhân thì thật là khủng khiếp, trong vòng một tuần mà con gái, chồng và con trai đều qua đời, thật là họa vô đơn chí, thảm họa đời người. Nhưng đó là gia đình giác ngộ, mọi người đều sinh tử tự do, họ đều giác ngộ thế gian chỉ là huyễn ảo, không có thật, không có gì phải sợ hay phải khổ cả. Cuộc sống thế gian chỉ là vở kịch. Người xưa và chúng ta hiện nay đều đang chơi trò chơi Nhân Loại trên thế gian.

Kết luận

Phật pháp đã phân loại tất cả các pháp trong vũ trụ thành 4 loại gọi là tứ tướng như đã nói trên. Trong 4 loại này chúng ta có thể gom lại nữa chỉ còn 2 loại thôi, đó là vô tình và hữu tình.

Môn Vật lý học, Hóa học, Thiên văn học hay nói chung là khoa học tự nhiên (natural sciences) của nhân loại là nghiên cứu về loài vô tình. Môn Toán học, Sinh vật học, Tôn giáo, Triết học, Lịch sử, Địa lý, Văn học, Kinh tế, Chính trị, Tâm lý học, Xã hội học…nói chung là khoa sinh học và xã hội nhân văn (biological human and social sciences) nghiên cứu về loài hữu tình.

Nhưng sự phân biệt vô tình, hữu tình chỉ là vọng tưởng của người thế gian. Đối với người giác ngộ thì sự phân biệt này chỉ là giả tạm, không có thực chất, vì lẽ Nhất thiết duy tâm tạo. Tất cả các pháp đã là do tâm tạo thì vô tình hay hữu tình bản chất chẳng có khác gì nhau, tất cả đều là tâm. Hơn nữa tâm đó là trí vô phân biệt, là Tánh Không chẳng có nghĩa lý gì cả, nhưng lại bao hàm tất cả mọi nghĩa lý, tất cả tứ tướng đều gồm đủ trong đó. Tâm chẳng có quá khứ, chẳng có hiện tại, chẳng có vị lai, tóm lại chẳng có thời gian, chẳng có không gian, chẳng có số lượng, nhưng cái gì cũng có, cái gì tâm cũng có thể tạo ra. Những cái tâm tạo ra thì không phải là có thật cũng không phải là không có. Tóm lại tâm là gì thì không thể khẳng định cũng không thể phủ định. Kinh Kim Cang gọi đó là Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm này).

Cơ học lượng tử thế kỷ 21 có một thí nghiệm biểu diễn đầy đủ cái tâm này, đó là thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Khoa học (Science) năm 2017 mô tả các nhà khoa học đã có thể tạo ra các photon vướng víu lượng tử trên vệ tinh Mặc Tử có quỹ đạo cách trái đất gần 500 km và truyền các photon này đến 2 phòng thí nghiệm trên mặt đất cách nhau 1.200km mà vẫn duy trì được sự vướng víu giữa các hạt.

Khoảng cách giữa hai phòng thí nghiệm tại Delingha (德令哈 Đức Linh Cáp)và Lijiang (丽江 Lệ Giang) là 1200 km. Khi tác động vào một photon ở Delingha thì tức thời photon ở Lijiang bị tác động theo không mất chút thời gian nào, suy ra rằng khoảng cách 1200km là không có thật, thời gian để tín hiệu đi 1200 km đó cũng không có thật. Từ một photon người ta đã tạo ra vô số photon xuất hiện đồng thời giữa hai nơi đó, điều đó chứng tỏ rằng số lượng photon cũng không có thật.

Thí nghiệm này đủ để kết luận rằng không gian, thời gian, số lượng chỉ là do tâm tưởng tượng ra chứ không có thật. Giả thuyết vũ trụ nổ Big Bang của khoa học cũng nói rằng ban sơ vũ trụ chỉ là một hạt cực vi, vụ nổ khiến cho hạt đó xuất hiện thành vô số hạt và thành cái vũ trụ mà chúng ta đang thấy.

Tóm lại sự phân biệt vô tình và hữu tình không có thực chất. Vô tình thuyết pháp hữu tình nghe chẳng có gì lạ. Tổ Sư Thiền dạy rằng : Vô sở cầu, Vô sở đắc, Vô sở úy (sợ). Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng : Vô lão tử, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Tất cả chỉ là ảo hóa của tâm.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

4 Responses to VÔ TÌNH THUYẾT PHÁP HỮU TÌNH NGHE

  1. DIỆN MỤC TRÍ DŨNG nói:

    Chào anh TB, những bài anh đăng lên rất tuyệt, thật tán thán công đức của anh với trang này.
    Tôi tìm hiểu tổ sư thiền qua pháp tham thoại đầu của thầy THÍCH DUY LỰC, đọc sách thầy hay quá, thích quá. Nhưng vào mạng để hỏi đáp và tương giao với mọi người để tìm hiểu thêm cách thực hành thì không biết hỏi đâu.
    Nhiều lần có lân la tới thiền đường của tông môn hỏi thăm, nhưng đa phần nhận câu trả lời chưa thấy người nào KIẾN TÁNH, các thiền đường mạnh ai nấy tham, không thấy vấn thiền để biết vị nào thực hành sai mà điều chỉnh, nếu cố hỏi các vị ấy nói về tham đi, đường lối thực hành và sách tấn tin tự tâm thì đã có sách của thầy DL. Vậy là hụt hẫng, chẳng tương giao, quan hệ với đồng môn nào cả, thấy trơ trọi quá, pháp môn mình theo đuổi sao thấy thiếu sức sống mạnh mẽ của thời đại và áp dụng vào trong cuộc sống hiện tại.
    Đôi dòng tâm tư cùng anh, mong anh có đôi lời về tông môn.
    Kính trọng./.

    • Chào anh Trí Dũng, chào mừng anh đã đọc các bài viết của tôi. Về lý thuyết thì anh cứ đọc các bài viết trên Duy Lực Thiền, còn thực hành thì anh cứ theo hướng dẫn sau đây của thầy Duy Lực : câu 0050 Duy Lực Mp3 Moi https://drive.google.com/file/d/0B8CajDffWDQDcnNwbi16QW11QjA/view

      • DIỆN MỤC TRÍ DŨNG nói:

        Cảm ơn anh TB, những lời khuyên của anh sao cũng thấy giống những vị ở các thiền đường, chung qui thì cũng là tham khảo những bài đăng, sách thầy DL và hướng dẫn tham. Tôi tin anh là hành giả lâu năm, hiểu biết sâu rộng về tông môn, những trực nghiệm của anh về quá trình công phu tu tập, anh chia sẽ và sách tấn chúng tôi đã và đang thực hành pháp kiến tánh.
        Anh cho ý kiến về các ý sau:
        1> Anh kiến tánh chưa và anh biết có hành giả nào kiến tánh kể từ lúc thầy DL hoằng dương tham thoại đầu? anh đừng hiểu lầm tội nghiệp, vì điều này rất quan trọng cho lòng tin các hành giả chúng tôi (vì phật dạy: Pháp của ta đến để mà thấy).
        2> Sao pháp môn mình tu tập là công phu có đến khi kiến tánh thành phật (có thể còn tùy qua cửa sơ quan, trùng quan và mạc hậu lao quan), đại thể là việc cần làm đã xong, chỉ cần nhập thất để giải trừ tập khí (lậu hoặc). Vì vậy mà khó có người kiến tánh, phải vậy không anh? (thầy DL có dạy 1 tỷ người tu có 1 người kiến tánh là lấy lại vốn rồi).
        3> Tôi nghe pháp thoại của rất nhiều vị bên giáo môn hoặc các vị bên Trúc Lâm nói rằng KIẾN TÁNH KHỞI TU, nghĩa rằng thấy tánh rồi mới tu (nghe có lẽ các vị ấy thấy tánh thì phải, mà hình như nhiều). Vậy cái thấy tánh của các vị bên ấy có khác cái KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT ở bên tông môn mình không hả anh?
        4> Nếu có thể anh có bài viết về lịch sử của pháp tham thoại đầu (dùng cái KHÔNG BIẾT để tu), vì cách này khác với kinh điển phật dạy (dùng cái BIẾT để tu). Tôi tham khảo các tổ nổi tiếng từ thời lục tổ về sau ngũ gia thất tông, tất cả điều đâu trái kinh phật? VẬY CÓ LẦM Ý TỔ ĐỜI SAU KHÔNG???
        Mong chờ anh, chỉ có anh may ra tỏ rõ.
        Kính trọng./.

  2. Tôi xin trả lời từng câu hỏi của anh như sau :
    1/Tôi chưa kiến tánh mà cũng không cầu kiến tánh. Thực hành 9 chữ Vô sở cầu Vô sở đắc Vô sở sợ của thầy Duy Lực. Điều quan trọng đối với anh là phải phá ngã chấp, phá pháp chấp. Anh còn vướng mắc nhiều lắm.
    2/Câu này cũng tương tự như câu trên. Long Thọ nói : Tâm như hư không vô sở hữu (tâm giống như hư không không có thật). Anh thật là mê muội khi cứ thắc mắc mãi về việc kiến tánh, cứ chấp pháp và chấp ngã như thế tu một tỷ kiếp cũng không thể giác ngộ. Anh cứ tham thoại đầu phát khởi nghi tình duy trì cái không hiểu không biết là được rồi.
    3/Kiến tánh khởi tu thì cũng giống như trường hợp Huệ Năng. Kiến tánh rồi còn trải qua 15 năm bảo nhậm mới ra hoằng pháp. Kiến tánh bên giáo môn chỉ là giải ngộ. Còn kiến tánh bên thiền môn là đầu sào trăm thước bước thêm bước nữa, đó là tuyệt hậu tái tô 絶後再甦 (chết đi sống lại). Không phải chết đi sống lại cái thân xác, mà là cái tâm phân biệt chết đi sống lại.
    4/Pháp tham thoại đầu là tiếp nối của pháp tham công án, anh cứ xem lịch sử thiền tông từ Bồ Đề Đạt Ma về sau, đó cũng là lịch sử của Tổ Sư Thiền. Còn muốn rộng hơn nữa thì xem từ sơ tổ Maha Ca Diếp. Nhưng anh biết nhiều thì càng thêm sở tri chướng. Anh cần phải hiểu tất cả lời nói đều không có nghĩa thật, kể cả lời của Phật, của Tổ. Anh cứ loay hoay mãi dùng cái tri kiến phân biệt vọng tưởng mà đánh giá đúng sai, cứ mãi tìm hiểu, thật là mê muội. Lời nói của Phật của Tổ chỉ đế phá chấp, không phải chân lý. Phật không có kiến lập chân lý.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s