KHOA HỌC VÀ THIỀN

Tết âm lịch năm Canh Tý sắp đến rồi. Tết năm nào tôi cũng viết một bài về xuân. Tết năm nay tuy không đi sâu vào đề tài xuân nhưng khi nói về khoa học và thiền, cũng đích thị là nói về mùa xuân vĩnh cửu bởi vì khoa học đem lại cơm no áo ấm, tiện nghi trong đời sống vật chất, còn thiền đem lại hạnh phúc tự do tự tại trong tâm hồn, đó chẳng phải xuân thì là gì ? Trước khi vào bài cũng xin tặng mọi người một bài thơ mừng xuân tuy xưa nhưng luôn có ý nghĩa.

Hoa Đào Năm Cũ- Thơ Đường Thôi Hộ

Khoa học và Thiền là một đề tài khá cũ kỹ bởi vì báo chí đã đề cập nhiều tới đề tài này. Ngay trên Duy Lực Thiền cũng đã có vài bài viết về đề tài này. Chẳng hạn bài “42 Chốt Lại Cuộc Đối Thoại Giữa Phật Giáo Và Khoa Học”. Tuy nhiên trong cuộc sống của con người hiện đại, Thiền và Khoa Học là có thể nói là hai trụ cột quan trọng nhất mà nếu thiếu một, cuộc sống sẽ bị què quặt bất hạnh. Thiếu khoa học, dân Ấn Độ trong hàng ngàn năm qua, sống trong nghèo đói cùng cực. Thiếu thiền, con người thời nay tuy no đủ về vật chất vẫn sống trong đau khổ bất hạnh. Do đó đề tài này vẫn còn những khía cạnh mới mẻ để phát hiện.

Khoa học là sự phát triển tư duy của bộ não. Tư duy này dùng lý trí suy luận kết hợp với thí nghiệm, thực nghiệm để tìm ra những quy luật, những định lý, những nguyên lý về sự vận động của vật chất, từ những vật thể to lớn như thiên thể, mặt trời, trái đất, mặt trăng, sông núi, nguyên tố, sinh vật…cho đến những vật vô cùng nhỏ bé như hạt cơ bản, lượng tử. Rồi khoa học cũng nghiên cứu về tâm lý, tìm ra những quy luật về kinh tế, về sự phát triển của ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, kinh tế…Khoa học nghiên cứu tất cả mọi hoạt động của thiên nhiên và con người. Từ kết quả nghiên cứu đó, khoa học nắm được rất nhiều tri kiến và ứng dụng vào sản xuất, đem lại những kết quả cực kỳ to lớn, cải tạo được rất đáng kể cuộc sống vật chất của con người. Một xứ mà khoa học và kinh tế phát triển thì dân giàu nước mạnh, cuộc sống của người dân có vẻ sáng sủa hạnh phúc hơn.

Tuy nhiên cũng có nhiều điều khoa học không thể làm được bởi vì khoa học dựa trên những nền tảng sai lầm từ cơ bản. Cơ bản đã sai lầm thì kết quả nếu không tệ hại thì cũng bị hạn chế. Vậy hạn chế và tệ hại của khoa học là gì ?

1/Khoa học có thể đem lại nhà cửa, cơm ăn, áo mặc, phương tiện di chuyển, vật dụng hàng ngày nhưng khoa học không thể đem lại sự chan hòa thu nhập và hòa bình. Bằng chứng là rất nhiều người trên thế giới đang sống trong nghèo đói cùng khổ trong khi một số khác thì thừa mứa, chiến tranh loạn lạc triền miên. Trên báo chí tiếng Anh mấy năm nay xuất hiện thường xuyên danh từ “caravan”, nó có nghĩa là một đoàn người đi xa cùng đi chung với nhau, họ bỏ xứ quê hương của họ ở Trung Mỹ như Honduras, Guatemala và El Salvador. Họ dắt díu nhau đi về hướng Bắc. Mục tiêu của rất nhiều người là đến biên giới Mexico-Mỹ để nộp đơn xin tị nạn chính trị ở Mỹ. Bởi vì họ không sống nổi vì nghèo đói và bạo lực ở quê nhà. Tình trạng này bắt nguồn từ cuộc nội chiến El Salvador và Guatamela trong thập niên 1980. Honduras không bị chiến tranh nhưng cũng bị ảnh hưởng nặng nề do là nước láng giềng. Hệ lụy của chiến tranh là rất nhiều người mất nhà cửa và bị thất nghiệp, và đất nước họ trở thành một kho súng đạn khổng lồ. Nạn buôn lậu ma túy tràn sang và dễ dàng phát triển, nhất là với sự toa rập của các quan chức tham nhũng. Hoàn toàn không có một thế lực nào bảo vệ cho những người dân bị kẹt ở giữa các lằn đạn.

Đây là “caravan” hình ảnh những người tị nạn Trung Mỹ đi bộ hàng ngàn cây số về phía bắc

Một hình ảnh bất hạnh khác là đoàn người tị nạn bỏ nước ra đi vì chiến tranh loạn lạc tại Syria. Theo ước tính của Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), năm 2018, thế giới có khoảng 70,8 triệu người phải rời bỏ nhà cửa để đi lánh nạn.

Dòng người tị nạn từ Syria, Trung Đông và Châu Phi tràn vào Châu Âu       

2/ Khoa học không thể ngăn cản những cuộc chiến tranh, những tranh giành về thế lực, đất đai, tài nguyên, biển đảo, tranh chấp luôn xảy ra khiến cho con người luôn luôn sống trong thù hận, bất ổn.

Biển Đông mãi mãi là nơi tranh giành tài nguyên biển đảo giữa TQ và các nước Đông Nam Á như VN, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei.

Biển Hoàng Hải là nơi tranh giành nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa TQ và Nhật Bản, đảo dokdo/takeshima là đối tượng tranh giành giữa Hàn Quốc và Nhật Bản.

Biển Okhotsk là nơi tranh chấp quần đảo Kuril (Курильские острова- Kuril’skie ostrova) theo cách gọi của Nga hay Lãnh thổ phương bắc 北方領土 theo cách nói của Nhật. Sự tranh chấp này giữa Nga và Nhật kể từ Thế Chiến II đến nay vẫn bế tắc không thể giải quyết.

3/ Khoa học không thể giải quyết vấn đề sinh lão bệnh tử của con người. Nhiều người coi đây là phạm trù tự nhiên không có cách nào giải quyết được, chỉ có thể chấp nhận thôi.

Vậy sai lầm cơ bản của khoa học là gì ?

Ai là người có đủ tư cách và tri kiến để vạch ra sai lầm cơ bản của khoa học ?

Người có đủ tri kiến, trí tuệ bát nhã để vạch ra sai lầm cơ bản của khoa học là Phật (giác giả và môn học này là Thiền tiếng Phạn là dhyāna, tiếng Hán là Thiền禅 tiếng Anh là Zen). Đức Phật Thích Ca và các Tổ Sư Thiền về sau, đã dùng thiền định để thấu suốt bản thể của Tam giới và trình bày kiến giải đó trong các bộ Kinh Đại thừa như Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (摩訶般 若 波 羅 蜜 多 心 經 Maha Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Heart of Perfect Wisdom), Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經buddhāvataṃsaka-mahāvaipulyasūtra- Flower Garland Sutra), Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經 Śūraṃgama-samādhi-sūtra- tiếng Anh cũng gọi là Shurangama Sutra chứ không dịch nghĩa).

Điểm sai cơ bản nhất của khoa học là chấp thật, coi vật chất là có thật, các hạt cơ bản của vật chất (basic matter particles) là có thật . Người kiên trì nhất với lập trường chấp thật này chính là Albert Einstein, nhà khoa học được coi là vĩ đại nhất của nhân loại thế kỷ 20.

Từ năm 1935 cho tới cuối đời 1955, Einstein tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr về việc hạt cơ bản của vật chất như photon hay electron có sẵn đặc trưng hay không. Đặc trưng của hạt cơ bản là những tính chất riêng biệt của nó như : vị trí (position), khối lượng (masse), điện tích (electric charge), số đo spin (spin measurements). Lập trường của Einstein là hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng, lập trường này gọi là duy vật khách quan (vật chất có thật nằm ngoài ý thức). Lập trường của Bohr thì khác, ông nói rằng các đặc trưng không có sẵn, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát, chính người quan sát tạo ra các đặc trưng đó.

Trước đó năm 1930, Einstein cũng tranh luận với nhà thơ Tagore của Ấn Độ về vấn đề bản chất của thực tại là gì và cũng với lập trường duy vật khách quan này.

Cuộc Gặp Gỡ Giữa Tagore Và Einstein – VD

Hai ông Bohr và Einstein tranh cãi bất phân thắng bại về vấn đề đặc trưng của hạt cơ bản có sẵn hay không, cho tới khi cả hai đều qua đời. Einstein qua đời năm 1955, Bohr qua đời năm 1962 mà cũng chưa biết được ai đúng ai sai. Câu nói nổi tiếng của Einstein là :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó dù cho tôi không đang nhìn nó”

Còn câu nói nổi tiếng của Bohr là :

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa bạn chưa hiểu gì về nó.”

Tại sao Bohr nói rằng nếu bạn hiểu cơ học lượng tử một cách sâu sắc thì bạn phải bị sốc nặng ? Bởi vì thái độ chấp thật như Einstein là sai lầm hết sức cơ bản. Cơ học lượng tử phát hiện rằng vật chất không có thật. Ông hiểu điều đó nhưng ông chưa chứng minh được cho Einstein và nhiều nhà khoa học khác hiểu rằng chấp thật là sai lầm.

Nhưng rồi đến năm 1982 thì cũng có người chứng minh được rằng cuộc tranh cãi giữa Bohr và Einstein đã ngã ngũ. Người đó là nhà khoa học Pháp Alain Aspect. Năm 1982 tại Paris Aspect đã dùng chiếc máy do John Clauser, người Mỹ  sáng chế. Chiếc máy này có thể làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau trong không gian, đó là một hiện tượng gọi là rối hay liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một hạt photon biến thành hai hạt ở hai vị trí khác nhau và luôn liên kết vướng víu với nhau. Rồi Aspect dùng bất đẳng thức của John Bell, là một nhà khoa học người Ireland nghĩ ra, để chứng minh bằng toán học kết hợp với thực nghiệm rằng hiện tượng vướng víu lượng tử là có thật chứ không phải là “tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance)” như Einstein nghĩ.

Từ thí nghiệm này nhân loại rút ra 3 kết luận cực kỳ quan trọng :

1/Vật (hạt photon, electron, và  xa hơn nữa là nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian không có thật (non locality)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Ba kết luận này đủ để khiến cho tất cả các môn học cơ bản nhất của nhân loại như toán học, vật lý học, sinh vật học, đều sụp đổ hoàn toàn. Chính vì lẽ đó nên Bohr mới nói rằng nếu ai mà hiểu được cơ học lượng tử ắt phải bị sốc nặng vì tất cả tri thức của nhân loại tích lũy qua hàng ngàn năm lịch sử bị sụp đổ hết. Các định luật khoa học chỉ có giá trị tương đối thôi, giá trị trong thói quen ngàn đời chấp thật chứ không còn là tuyệt đối khách quan nữa. Điều này cũng tương tự như ý nghĩa của ngôn ngữ là do thói quen gán ghép của con người. Con người gán ghép ý nghĩa cho từ ngữ chứ không phải tự từ ngữ có ý nghĩa sẵn.

Không phải tới thời của Alain Aspect nhân loại mới biết vật chất không có thật. 26 thế kỷ trước, Đức Phật đã biết điều này và đã thuyết giảng cho các đệ tử nghe. Trong kinh điển nguyên thủy có phần Vi Diệu Pháp tức là Luận Tạng (Adbidamma Pitaka_A Tỳ Đàm hay A Tỳ Đạt Ma) một trong Tam Tạng kinh điển, gồm 7 bộ đề cập tới vấn đề này bao gồm :

1- Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận)

2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)

3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến.

4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 diệu đế…phân biệt các hạng người.

5- Kathāvatthu (Bộ Ngữ Tông 論事 Luận Sự) do Moggaliputta Tissa làm trong lần kết tập thứ ba mục đích là bài bác tà kiến của ngoại đạo xâm nhập vào tăng đoàn.

6-Yamaka (Bộ Song Ðối 雙論 Song Luận) Luận về chỗ đồng dị của từng cặp mệnh đề (triết học gọi là cặp phạm trù mâu thuẫn).

7- Paṭṭhāna (Bộ Vị Trí 發趣論 Phát Thú Luận). 6 bộ luận đầu chủ yếu luận về danh (tên gọi) và tướng (hình trạng) của các pháp. Còn bộ luận thứ bảy còn gọi là Đại Luận 大論 chủ yếu nói về 24 mối quan hệ của các pháp, hệ thống hoá chúng. Do đó bộ luận này rất lớn và phức tạp. Bản dịch tiếng Việt gồm 7 quyển, mỗi quyển dày khoảng 350 trang.

Về sau các vị Tổ Sư đã phát triển thêm Vi Diệu Pháp thành các kinh điển Đại Thừa như đã đề cập ở trên. Những điểm cốt yếu nhất của kinh điển có thể tóm tắt vào vài câu vô cùng ngắn gọn và cực kỳ sâu sắc :

– Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 Câu này rõ ràng hàm ý rằng các hạt cơ bản của vật chất không có sẵn đặc trưng. Vì vậy tất cả các pháp mà lục căn của con người tiếp xúc bao gồm lục căn lục trần và lúc thức, cộng chung 18 giới đều chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Chính vì vậy mới có câu tiếp theo :

– Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo. Tâm tạo ra hạt cơ bản và các cấu trúc từ hạt cơ bản như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cơ thể sinh vật. Khoa học ngày nay hoàn toàn lý giải được ngũ uẩn giai không.

– Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰 Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination). Tất cả 5 uẩn đều là cảm giác, là tưởng tượng, không có thật.

Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời ở thế gian.

Tâm là một dạng thông tin vô phân biệt, một dạng sóng tiềm năng vô hình (không có tự tính, không phân biệt thiện ác, tốt xấu). Trong tin học thì thông tin đó có dạng số (digital) và cũng chỉ là dữ liệu chưa có ý nghĩa, chưa có đặc điểm hay tính chất gì. Chỉ khi con người khởi niệm, phân biệt thì sóng tiềm năng đó mới biến thành hạt cơ bản của vật chất và có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin như trong thí nghiệm 2 khe hở đã cho thấy rõ :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron

Tương tự như vậy, trong tin học khi các dãy số trong dữ liệu được thay thế bằng những đặc điểm theo quy ước thì màn hình mới hiện ra chữ viết, hình ảnh, video và loa phát ra âm thanh.

Như vậy tâm trong thế giới đời thường và dữ liệu thông tin trong computer là hoàn toàn tương ứng.

Trên đây tôi đã dùng Như Lai Thiền của các vị Tổ Sư Thiền tông ghi chép trong kinh điển Đại Thừa, kết hợp với những phát hiện mới của cơ học lượng tử (quantum mechanics) để giải thích một cách hết sức rõ ràng tường tận những sai lầm cơ bản nhất của khoa học.

Nhưng nói như vậy có phải đánh giá khoa học là hoàn toàn vô giá trị chăng ? Không phải vậy. Các định luật khoa học vẫn có giá trị tương đối trong cuộc sống đời thường trên thế gian. Và trong cuộc sống thế gian tương đối, các vị giác giả cũng có những hạn chế nhất định. Đó là những hạn chế gì ?

Trong lịch sử Thiền tông Ấn Độ đã có 28 vị giác ngộ, họ là Tổ Sư 28 đời của Thiền Ấn Độ, và vị tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma đã sang Trung Quốc để tiếp tục hoằng truyền Đạo Thiền. Vậy họ bị hạn chế gì ?

Họ phát hiện được bản tâm, họ làm chủ được sinh tử luân hồi, nhưng họ đã không thể giúp được đông đảo người dân Ấn Độ thoát khỏi nghèo đói bần cùng. Đó là vì khoa học chưa phát triển, con người chưa biết cách gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng và hàng hóa tiêu dùng. Đây là hạn chế chung của tất cả mọi tông giáo. Khoa học là mê muội, nhưng mê muội đó có giá trị tương đối và cần thiết trong cuộc sống đời thường của thế gian.

Ngày nay thì khoa học đang phát triển rất mạnh mẽ. Rõ ràng khoa học đã giúp được cho 850 triệu người dân TQ thoát khỏi đói nghèo, có đủ ăn, có đủ nhà ở và hàng hóa tiêu dùng, có một cuộc sống tương đối khá hơn trước. TQ không còn bị nạn đói đe dọa thường xuyên như trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm qua.

Nền giáo dục khoa học kỹ thuật đem lại những hiệu quả to lớn và rõ ràng như vậy, nhưng khoa học cơ bản vốn là sai lầm nên nó cũng đem lại nhiều điều bất hạnh cho nhân loại, ví dụ những điểm sau :

– Khoa học giúp sản xuất vũ khí, trong đó đáng sợ nhất là vũ khí nguyên tử, những hóa chất độc hại như chất độc màu da cam, đem lại bao nhiêu nỗi thống khổ cho nhân loại. Chẳng hạn vừa rồi, ngày 08-01-2020, vụ tai nạn với chuyến bay PS752 của Hãng hàng không Ukraine International Airlines khiến 176 đi trên máy bay thiệt mạng. Nguyên nhân là do tên lửa của Iran bắn nhầm máy bay dân dụng.

Máy bay dân dụng của Ukraine bị trúng tên lửa Iran vỡ tan tành khiến 176 người thiệt mạng

– Sai lầm cơ bản và lớn nhất của khoa học và giáo dục là dạy cho học sinh từ mẫu giáo cho tới sinh viên đại học sự chấp thật, chấp là thế giới vật chất có thật, chấp vật chất năng lượng là nền tảng của thế giới, của vũ trụ.

– Sự chấp thật dẫn đến chấp ngã và chấp pháp, dẫn đến tranh giành, chiến tranh. Người ta giành nhau về tài nguyên, lãnh thổ, nguồn năng lượng. Tranh giành biển đảo giữa các quốc gia là vô phương giải quyết. Người ta tranh giành nhau cả về niềm tin tôn giáo và vì niềm tin đó mà sẵn sàng giết hại lẫn nhau. Họ không biết rằng ngũ uẩn giai không, tất cả mọi niềm tin chỉ là phương tiện, là vọng tưởng. Tâm, Thượng Đế, Trời, đều là vô tự tính, không có nghĩa lý gì cả, mọi nghĩa lý đều chỉ là vọng tưởng gán ghép của bộ não, kể cả các định luật khoa học.

Chính vì những hạn chế của khoa học nên người ta vẫn cần tới Thiền để điều hòa cuộc sống, để giúp cho tâm luôn được an, để giảm bớt những tranh giành mê muội.

Tại sao tranh giành là mê muội ?

Bởi vì sau cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982, các nhà khoa học hàng đầu thế giới, cụ thể là các nhà khoa học sau đây, họ đã rút ra những kết luận cực kỳ quan trọng cho nhân loại  như đã nói ở trên, họ là đại biểu ưu tú của tinh thần khoa học mới, không còn quá chấp thật :

Giới Thiệu Các Nhà Vật Lý Lượng Tử Hiện Đại

Từ thí nghiệm liên kết lượng tử năm 1982 các nhà vật lý lượng tử đã rút ra 3 kết luận cực kỳ quan trọng cho nhân loại :

1/Vật (hạt photon, electron, và  xa hơn nữa là nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian không có thật (vô sở trụ, non locality, không thể xác định được vị trí, thời điểm)

3/Số lượng không có thật (non quantity).

Vũ trụ vạn vật, thế giới cơ bản chỉ là một toàn ảnh (hologram) vậy tại sao lại chỉ vì những ảo ảnh đó mà mọi người tranh giành, chém giết lẫn nhau, chẳng phải là quá mê muội ư ?

Chẳng những lý thuyết và thí nghiệm khoa học đã chứng tỏ vũ trụ chỉ là một toàn ảnh, một sự giả lập bằng thông tin, mà cả thực nghiệm đặc dị công năng cũng chứng tỏ như vậy. Xin mời xem bài này :

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

Kết luận

Khoa học đem lại tri thức về thế giới vật chất thực tế chung quanh chúng ta, cụ thể là các định luật khoa học, các nguyên lý của vũ trụ và thế giới. Nghững nghiên cứu chi tiết cụ thể của con người còn đem lại rất nhiều phát minh sáng chế. Những phát minh sáng chế này được ứng dụng trong sản xuất và đời sống đem lại sự cải thiện rất lớn cho cuộc sống đời thường của con người. Chẳng hạn :

-Sự phát minh ra dòng điện đem lại tiện nghi rất lớn cho đời sống hàng ngày của chúng ta.

-Sự phát minh ra máy hơi nước, động cơ xăng, động cơ diesel giúp cho năng lực sản xuất tăng lên rất nhiều và cũng giúp chế tạo những phương tiện di chuyển nhanh chóng và tiện lợi như xe máy, xe hơi, tàu thủy, phi cơ, tên lửa và vệ tinh nhân tạo, phi thuyền không gian.

– Sự phát minh cơ học lượng tử giúp con người ứng dụng hạt photon và electron một cách thần tình bằng công nghệ bán dẫn, chế tạo những con chip cực nhỏ nhưng có sức mạnh lớn, ngày càng thu hẹp khoảng cách giữa các transitors (phần tử bán dẫn), hiện nay là 7 nano mét (1 nano mét= 1 phần tỷ mét) như con chip Snapdragon 865.

Qualcomm trình diễn khả năng xử lý của Snapdragon 865 bằng việc chuyển giọng nói thành chữ viết đồng thời dịch sang các ngôn ngữ khác trong thời gian thực. Trong ảnh là lời nói bằng tiếng Anh, thể hiện thành chữ viết và dịch sang Hán ngữ.  

Nhưng trong vài năm tới khoảng cách giữa các transitors sẽ giảm xuống còn 3 nano mét giúp cho con chip còn mạnh hơn và tiêu thụ ít điện năng hơn. Hãng Samsung và Huawei đều đã có kế hoạch sản xuất con chip 3 nano mét.

Những con chip này được sử dụng trong điện thoại thông minh, đem lại tiện ích liên lạc và sử dụng cực lớn cho con người trên phạm vi toàn cầu. Một điều mà chỉ 30 năm trước thôi chúng ta không thể hình dung nổi.

Khoa học đã cải thiện đời sống vật chất cho hàng tỷ người trên thế giới, đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên các định luật, các tri thức khoa học chỉ có giá trị tương đối, thực tế là chúng sai lầm ngay từ cơ bản mà người đại diện nổi tiếng nhất chính là Albert Einstein đã bị chứng minh là sai lầm. Toàn bộ nền giáo dục của nhân loại về mọi mặt đều dựa trên nền tảng sai lầm đó. Nó không phải sai 100% nhưng thật ra nó chỉ đúng 50% còn 50% là sai lầm. Nền giáo dục đó dạy cho con người từ lúc còn là trẻ thơ đến khi trưởng thành luôn luôn chấp thật. Từ sự chấp thật này mà dẫn đến chấp ngã và chấp pháp (from the acceptance that material is real leads to the ego and the acceptance that the world is real). Từ đó khiến cho không ít người sống trong đau khổ khi gặp nghịch cảnh, khiến cho con người tranh giành và chiến tranh tàn hại lẫn nhau. Nó cũng khiến cho con người lo âu và bệnh tật.

Chính vì vậy nhân loại cần tới Thiền. Thiền là sự thực hành trong cuộc sống đời thường phá bỏ chấp thật. Thiền ứng dụng những lời dạy của Đức Phật và các Tổ Sư với những nguyên lý hết sức đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc, chỉ vài nguyên lý thôi :

-Nhất thiết pháp vô tự tính

-Nhất thiết duy tâm tạo

-Ngũ uẩn giai không

– Tất cả những lời nói ra đều không có nghĩa thật

Tổ Sư Thiền dạy tham thoại đầu, mỗi người chọn một câu để tham, đại khái như :

1-Khi chưa có trời đất, ta là cái gì?
2-Muôn pháp về một, một về chỗ nào?
3-Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao?
4-Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?
5-Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?

Hỏi không phải để suy nghĩ tìm câu trả lời mà chỉ để cảm thấy không thể hiểu, phá bỏ thói quen chấp thật, phát sinh một sự nghi ngờ trong lòng gọi là nghi tình và cứ duy trì nghi tình đó càng lâu càng tốt. Lúc tham cũng không cần ngồi. Đi đứng nằm ngồi cũng đều tham được. Lục tổ Huệ Năng nói : “Đạo do tâm ngộ, khởi tại tọa dã 道由心悟,豈在坐也?”(Đạo là do tâm ngộ chứ có phải tại ngồi đâu). Phẩm Tọa thiền trong Pháp Bảo Đàn Kinh nói đến Tọa thiền là tâm tọa (chứ không phải thân tọa) nghĩa là: bên ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác, tâm niệm chẳng khởi gọi là tọa, bên trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền.

Đó là kiến tánh, giải nghiệp, thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngã pháp đều không gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 Đó là sự an tâm hạnh phúc vững chắc cho tất cả mọi người.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

6 Responses to KHOA HỌC VÀ THIỀN

  1. baloy9 nói:

    hoa học không thể đem lại sự chan hòa thu nhập nhưng khoa học lượng tử thì có thể, dù cùng là khoa học nhưng vè bản chất khao học lượng tử nguwocj lại với khoa học dòng chính

    • Vâng, khi khoa học đã nhận thức và ứng dụng được nguyên lý không có số lượng (non quantity) thì có thể chan hòa thu nhập, nhu cầu của tất cả mọi người đều có thể được đáp ứng. Vì dụ nếu có một mạng 5G miễn phí toàn cầu thì ai cũng có thể sử dụng không hạn chế.

  2. nghi thanh nói:

    Con không có ý kiến gì về bài viết, con chỉ chia sẻ một vài thứ để cùng trao đổi với những người hữu duyên.
    Pháp (những điều con người đã biết hoặc chưa biết về vũ trụ – nó bao trùm tất cả) gọi là Pháp. Vậy Pháp có hay không? Vâng nó có đối với phàm phu, nhưng thưc chất là nó ảo. Ảo khác với Có. Chúng ta hay nhầm lẫn vào khái niệm CÓ và KHÔNG tức hiện hữu và đoạn diệt. Vậy tại sao Pháp là ảo? Vì cuộc tranh luận giữa Einstein và Bohr đã kết thúc, Alain Aspect đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng Einstein đã sai lầm, hoặc thêm bằng chứng về thí nghiệm 2 khe hở đã chứng tỏ rằng vọng tâm tạo ra vật chất (nhiều người không hiểu ngộ nhận rằng vũ trụ tự có ý thức). Tại sao tâm lại tạo ra vật chất được? Trả lời: Chữ tâm ở đây là VỌNG TÂM chớ không phải chân tâm. Một niệm nổi lên tức là VỌNG TÂM. Trong kinh điển bồ tát DI LẶC có đối đáp với đức Phật rằng trong một khảy móng tay(khoảng 0.02s) có hơn một ức trăm ngàn niệm(vọng tâm) trong mỗi niệm đều có đầy đủ ngũ uẩn(sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Cho nên mỗi một niệm sanh và diệt cực kỳ nhanh(khoảng vài triệu vọng tâm trrên 1s). Nếu không tin lời kinh điển thì hãy thử ngồi xuống tham thiền đi, khi tâm càng lặng chúng ta sẽ soi thấy càng nhiều vọng niệm xuất hiện một cách ngẫu nhiên(nếu nói sâu hơn thì chẳng phải là ngẫu nhiên mà là NGHIỆP tức các chủng tử trồi lên) đến nổi không thể kiểm soát được(nó vốn là như thế – lúc bình thường không thiền cũng như thế, nguyên do là vọng niệm sanh ra và mất đi(sanh-diệt) quá nhanh) nên không quán biết và kiểm soát được. Nhưng không may là dù ngồi tĩnh lặng mà quán thì cũng chỉ có thể biết được vọng tưởng thô, còn vọng niệm vi tế thì vô số không thể quán biết được. Điều gì sẽ xảy ra nếu như chúng ta làm ngưng hẳn các VỌNG TÂM này? thì chẳng có gì cả Tâm(vọng tâm) không và Pháp đều là không. Trong nhà thiền gọi là Ngã và Pháp đều không, hay “trong không thấy có thân tâm, ngoài không hay có thế giới”. Đây là cảnh giới tịch tĩnh vô cùng an lạc, nhiều người cho là Niết Bàn hoặc cảnh giới vô cực đắc đạo của nho và đạo giáo. Mặc dù đây là cảnh giới cực cao, tu hành gian khổ mới đến được đây. Nhưng thật không may, trong nhà thiền đây là cảnh giới của vô thủy vô minh, nó là nguồn gốc khởi lên vô minh(tức là cha mẹ của vọng niệm) chớ không phải là Phật Tánh. Cảnh giới này còn được gọi là “đầu sào trăm thước” hoặc “vô ký không” hoặc cảnh giới “không chấp” trong nhà thiền, chứ chưa phải minh tâm kiến tánh. Cho nên trong Thiền Tông để phá cảnh giới vô thủy vô minh này thì không nên diệt niệm hoàn toàn mà phải dùng một niệm duy nhất(niệm nghi bơm cho thật to) đến khi nghi tình bùng nổ tức phá được vô thủy vô minh thì là được minh tâm kiến tánh và có thể tường tận được ý vị của KINH HOA NGHIÊM là như thế nào. Nghe việc minh tâm kiến tánh sao dễ vậy? Tui nghe bảo làm lành lánh dữ đoạn trừ tham dục và sân, si cơ mà, ấy mới là tu chứ? Trả lời: Ấy là tiệm tu để bổ trợ cho việc đốn ngộ(minh tâm kiến tánh không dễ nên mới cần tiệm tu để phù hợp với từng căn cơ của chúng sanh). Nếu như tham dục, sân, si hoặc ác niệm quá nhiều thì VỌNG NIỆM sẽ khởi lên cũng nhiều hơn, chưa kể đến việc bị nhân xấu đọa vào ba đường ác(địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Tuy Pháp là ảo, nhưng chưa chứng ngộ thì tam giới(dục giới, sắc giới và vô sắc giới), 6 cõi luân hồi là thật đối với phàm phu, tức trong cái ảo đó nó có cái quy luật gọi là luật nhân quả.
    (Ghi chú: Đây là tri kiến của một phàm phu nhằm chia sẻ và trao đổi vơi người hữu duyên – nhằm tránh việc hủy báng Phật Pháp).

  3. Cám ơn bạn. Xin chúc bạn và gia quyến trong năm mới Canh Tý 2020 được bình an, hạnh phúc, tinh tấn.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s