VŨ TRỤ LÀ GÌ ?

Vũ trụ là tên gọi rất quen thuộc đối với các nhà thiên văn học. Đối với người bình thường có đi học có đọc báo thì vũ trụ cũng không xa lạ gì. Tuy vậy vũ trụ là cái vật vô cùng rộng lớn, vô cùng sâu thẳm, còn vô số bí mật mà con người chưa khám phá ra. Ngoài ra vũ trụ vật lý có liên quan gì đến tâm lý của con người lại là điều mà các nhà thiên văn hầu như chưa đề cập, vì vậy bài viết hôm nay chủ yếu nói về khía cạnh này.

Trước khi chúng ta đi vào vũ trụ tâm lý, xin nhắc lại sơ qua về vũ trụ vật lý trước.

Vũ trụ vật lý    

Alexander Friedmann mô tả năm 1924 một không gian vũ trụ đang mở rộng dựa vào phương trình trường trong thuyết tương đối rộng (general theory of relativity) của Albert Einstein mà không sử dụng hằng số vũ trụ của Einstein. Năm 1927 một linh mục người Bỉ là Georges Lemaître phát triển thêm phương trình của Friedmann thành một vũ trụ giãn nở. Trong năm 1929, Edwin Hubble đã cung cấp những dữ liệu quan sát thực tế trên bầu trời củng cố lý thuyết của Lemaître. Trong năm 1931, Lemaître, trong tác phẩm Hypothèse de l’atome primitif (giả thuyết về nguyên tử nguyên thủy) là người đầu tiên đưa ra thuyết Big Bang tức là vụ nổ lớn hình thành vũ trụ, từ thực tế vũ trụ đang giãn nở, suy luận ngược về lúc bắt đầu của quá trình giãn nở là Vụ Nổ Lớn (Big Bang) từ một điểm kỳ dị (gravitational singularity) cực kỳ cô đặc và cực nóng.

Thuyết Big Bang của Lemaître về sau được các nhà thiên văn bổ sung thêm.

Mô hình Big Bang (Vụ Nổ Lớn)

Trong giây đầu tiên sau khi vũ trụ hình thành, vũ trụ của chúng ta phình ra nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng. Sự dao động lượng tử (quantum fluctuations) trong khu vực lạm phát vi mô, được phóng đại lên kích thước vũ trụ, khiến điểm kỳ dị trở thành hạt giống cho sự phát triển của cấu trúc trong vũ trụ. Đó là lạm phát vũ trụ (cosmic inflation còn gọi là cosmology hay gọi tắt là inflation). NASA tính toán rằng nhiệt độ xung quanh lúc này khoảng 5.5 tỷ độ C. Vũ trụ chứa một mảng lớn các hạt cơ bản như neutron, electron và proton. Theo thời gian, các electron tự do sẽ gặp hạt nhân do proton và neutron hình thành và tạo ra các nguyên tử trung hòa. Điều này cho phép ánh sáng chiếu xuyên qua và lúc này đã là 375 hay nói tròn là 380 nghìn năm sau Vụ Nổ Lớn. Kế đó là một thời kỳ tối tăm (dark ages) kéo dài khoảng 400 triệu năm trước khi ngôi sao đầu tiên hình thành. Tiếp theo là thời kỳ dài hình thành các thiên hà, các ngôi sao và hành tinh. Sự giãn nở của vũ trụ nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng được cho là do ảnh hưởng của năng lượng tối (dark energy). Vũ trụ chỉ có 5% là vật chất và năng lượng thấy được còn 95 % là năng lượng tối và vật chất tối (năng lượng tối 68,3%, vật chất tối 26,8%). Vật chất tối cũng có vai trò quan trọng đối với sự tạo thành cấu trúc và sự tiến hóa thiên hà, và có ảnh hưởng đo được đến tính bất đẳng hướng (anisotropy) của bức xạ phông (tiếng Pháp fond=nền) vi sóng vũ trụ. Các hiện tượng này chỉ ra rằng vật chất quan sát thấy được trong các thiên hà, các cụm thiên hà, và cả vũ trụ mà có ảnh hưởng đến bức xạ điện từ chỉ là một phần nhỏ của tất cả vật chất: phần còn lại được gọi là “thành phần vật chất tối”. Bức xạ phông vi sóng vũ trụ (hay bức xạ tàn dư vũ trụ) là bức xạ điện từ được sinh ra từ thời kỳ sơ khai của vũ trụ (khoảng 380.000 năm sau Vụ Nổ Lớn).

Năm 1964, Arno Penzias và Robert Wilson đã phát hiện ra bức xạ phông vũ trụ khi họ tiến hành nghiên cứu một máy thu tín hiệu vi sóng ở phòng thí nghiệm Bell. Khám phá của họ đã khẳng định tiên đoán về bức xạ phông vũ trụ, một bức xạ đẳng hướng và đồng nhất phân bố giống như phổ phát xạ của vật đen có nhiệt độ khoảng 3 độ K.

Tốc độ giãn nở của vũ trụ nhanh hơn tốc độ ánh sáng thể hiện ở đường kính của vũ trụ hiện nay. Các nhà khoa học đã xác định được phần rìa vũ trụ đã di chuyển ra xa với khoảng cách  46,5 tỉ năm ánh sáng. Suy ra đường kính của vũ trụ hiện nay là 93 tỷ năm ánh trong khi thời gian từ lúc bắt đầu vụ nổ Big Bang đến nay chỉ là 13,8 tỷ năm. Như vậy tốc độ giãn nở của vũ trụ nhanh gấp 3,3 lần tốc độ ánh sáng.

Kết luận mới của khoa học về Big Bang

Kết luận rõ ràng là: Vụ nổ Big Bang chắc chắn đã xảy ra, nhưng không dãn nở để quay trở về trạng thái vô cùng đặc nóng ngẫu nhiên của điểm kỳ dị .

Theo thuyết Vụ Nổ Lớn, vũ trụ bắt nguồn từ một trạng thái vô cùng đặc và vô cùng nóng (điểm dưới cùng gọi là điểm kỳ dị vụ nổ lớn = Big bang singularity). Theo thuyết mới thì không có Big bang singularity.

Thay vào đó, Vũ trụ từ rất sớm trước đó đã trải qua một khoảng thời gian mà trước khi tất cả năng lượng tạo thành vật chất và bức xạ như hiện nay, thay vào đó là sự liên quan mật thiết giữa ý thức và vật chất trong chính lưới không gian của vũ trụ. Giai đoạn đó, được gọi là phình to vũ trụ, đã kết thúc và hình thành nên Big Bang, nhưng chưa bao giờ tạo ra một trạng thái đặc nóng ngẫu nhiên và cũng không tạo ra điểm kỳ dị. Điều gì đã xảy ra trước khi Vũ trụ phình to ra – hoặc liệu phình to vũ trụ có vĩnh cửu trong quá khứ hay không – vẫn là một câu hỏi mở, nhưng có một điều chắc chắn: Big Bang không phải là sự khởi đầu của vũ trụ!

Trong tác phẩm Lưới Trời Ai Dệt của tiến sĩ vật lý Nguyễn Tường Bách đã đề cập tới ý tưởng vũ trụ không có bắt đầu này tức là không có Big bang  singularity hay nói cách khác, có nhưng không phải thật. Tóm tắt như sau : Khi con người ngắm nhìn vũ trụ thì đó là sự kiện của một cái giả hợp (con người) ngắm nhìn một cái giả hợp khác (vũ trụ) và tưởng cả hai đều thực có. Đó chính là sự nhầm lẫn lớn nhất của cảm quan và ý thức. Đó là “vọng tâm”, là nguyên thủy của thế giới và con người, là cơ nguyên của mọi dạng tồn tại. Trong vọng tâm thì mọi sự đều có, nhưng chúng không thực có. Thế nên tất cả đều có và tất cả đều không.

Vũ trụ tâm lý

Lý thuyết khoa học mới nói rằng : Big Bang không phải là sự khởi đầu của vũ trụ! Kết luận này lại phù hợp với Phật pháp. Phật pháp từ xa xưa đã nói rằng : Nhất thiết duy tâm tạo. Nghĩa là vũ trụ vật lý mà chúng ta đang thấy và đang sống trong đó chỉ nằm mơ giữa ban ngày, chỉ là tưởng tượng của bộ não chứ không phải có thật, không có khởi đầu, không có kết thúc, không gian, thời gian, số lượng đều không có thật. Thuật ngữ Phật giáo gọi đó là thế lưu bố tưởng nghĩa là tưởng tượng đã lưu truyền nhiều đời nhiều kiếp và phổ biến ở thế gian, đó chỉ là thuần túy tưởng tượng chứ không có gì là thật.

Một bậc giác ngộ thời hiện đại là Lai Quả thiền sư 来果禅师 (1881-1953)Sư họ Lưu, quê ở huyện Hoàng-Cương 黄冈, tỉnh Hồ Bắc, đã nói trong tác phẩm Thiền thất khai thị lục :

“Mở mắt thì không chiêm bao, tâm chẳng khởi ý thì không đối đãi. Ý nghĩa hai câu này ta giảng sơ qua: Mắt mở cứ mở cho lớn thì không chiêm bao, mắt nhắm lại thì nằm chiêm bao, đại khái là như vậy. Nhưng ta nói: Mắt nhắm nằm chiêm bao, mắt mở to lại còn nằm chiêm bao hơn, các ông tin hay không? Các ông nghĩ rằng mắt nhắm thì ngủ nằm chiêm bao, tại sao mắt mở to cũng còn nằm chiêm bao? Tôi có chỗ không tin.

Đúng đấy! Nhưng ta nói các ông đứng ngay đây đang nằm chiêm bao, suốt ngày suốt đêm chiêm bao. Nhắm mắt lại nằm chiêm bao thì còn có thể mau chóng tỉnh lại được, các ông mở mắt mà chiêm bao thì chẳng có lúc nào tỉnh, còn biết cái chiêm bao này kéo dài tới khi nào mới có thể tỉnh được không? Tội nghiệp quá!

Người chưa liễu ngộ đều là mở mắt nằm chiêm bao mà không biết được đang nằm chiêm bao, muốn biết cái chiêm bao này lúc nào mới tỉnh lại được thì nhất thiết phải khai ngộ, khai ngộ rồi cũng như ngủ nằm chiêm bao thình lình tỉnh dậy. Ta hỏi các ông: cái chiêm bao này còn có kỳ hạn tỉnh dậy không?

Còn nói về cái tâm không khởi ý, ý tức là niệm, tâm có thể khởi thiện niệm, khởi ác niệm, nếu tất cả niệm đều không khởi ấy không có đối đãi, đại khái ý nghĩa là như vậy đó. Kỳ thật không phải thế, cần phải thánh bất khả đắc, phàm bất khả đắc, niệm bất khả đắc, tâm cũng bất khả đắc, nói không rơi vào hai (có đối đãi) thì đã rơi vào ba; luôn cả cái nhất cũng bất khả đắc, mới cho là có một tí tương ưng trong Thiền tông.”

Muốn hiểu được những điều của Lai Quả thiền sư nói, chúng ta bắt buộc phải nghiên cứu cuộc tranh luận trong thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein. Họ tranh luận về một vấn đề vô cùng cơ bản của vũ trụ. Đại khái vào thời của họ người ta đã biết vũ trụ vật chất được tạo thành từ những hạt cơ bản. Thời đó có thể hai ông chưa biết tới hạt quark nhưng khoa học đã khám phá ra các hạt sau :

Hạt ánh sáng photon : khám phá năm 1895

Hạt điện tử electron : 1897

Hạt proton (cấu tạo bởi 2 quark up +1 quark down) : 1919

Hạt neutron (cấu tạo bởi 1 quark up +2 quark down) : 1932

Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962 nên các ông chưa biết các hạt cơ bản sau đây :

Hạt quark up, quark down và strange quark : 1969

Hạt boson W và Z :  1983

Hạt Higgs boson tạo ra lực hấp dẫn : 2012

Hai ông đều đã ý thức rõ ràng rằng nguyên tử được cấu tạo bởi hạt nhân và electron quay chung quanh. Và hạt nhân thì được cấu tạo bởi proton và neutron. Hai ông chỉ chưa biết rằng proton và neutron đều được cấu tạo bằng 3 hạt quark như nói trên. Ví dụ đây là nguyên tử Oxigen :

Nguyen tu Oxygen

Nguyên tử Oxygen được cấu tạo bởi hạt nhân gồm có 8 proton và 8 neutron bên ngoài là 8 electron chia làm 3 tầng, hai tầng bên trong mỗi tầng có 2 electron, tầng ngoài cùng có 4 electron.

Hai ông đều hiểu rõ cấu tạo của nguyên tử Oxygen. Nhưng hai ông tranh luận về vấn đề hạt photon hoặc hạt electron có sẵn đặc trưng hay không. Đặc trưng của hạt là những tính chất liên quan tới vị trí (position), khối lượng (masse), điện tích (electric charge), số đo độ xoay của hạt cơ bản (Spin measurements of elementary particles).

Bohr nói rằng hạt cơ bản cô lập thì trừu tượng “Isolated material particles are abstractions” chúng không có sẵn đặc trưng, chỉ khi có người quan sát thì đặc trưng mới xuất hiện. Lập trường của Bohr thể hiện trong câu nói :

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa bạn chưa hiểu gì về nó.”

Trái lại lập trường của Einstein thì cho rằng các đặc trưng của hạt cơ bản luôn luôn sẵn có, vật chất là có thật, là khách quan. Lập trường của Einstein thể hiện trong câu nói :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó dù cho tôi không đang nhìn nó”

Cho đến khi cả hai nhà khoa học hàng đầu thế giới này qua đời, chưa ai chứng tỏ được ai đúng ai sai . Năm 1960 nhà vật lý John Bell người Ireland đã đưa ra một bất đẳng thức có khả năng kiểm chứng được hiện tượng rối hay liên kết lượng tử có xảy ra hay không. Nếu nó có xảy ra tức là nó chứng tỏ việc nhìn và đo đạc thuộc tính đặc trưng của một hạt cơ bản đã sửa đổi thuộc tính của hạt liên kết với nó một cách bí ẩn. Bất đẳng thức của Bell đòi hỏi phải tiến hành hai công tác đo đạc riêng biệt với hai hạt rối lượng tử (quantum entanglement), để xem kết quả của chúng ra sao. Muốn có hai hạt rối xuất hiện đồng thời phải chế tạo cái máy để làm được việc đó. Và năm 1967 một nhà vật lý trẻ người Mỹ là John Clauser đã chế tạo được cái máy đó và tiến hành thử nghiệm. Ông ta là người ủng hộ lập trường của Einstein và mục đích chế tạo cái máy là để chứng tỏ Einstein đúng. Nhưng kết quả thực nghiệm thì ngược lại, nó chứng tỏ Einstein sai, lập trường của Bohn mới đúng.

Năm 1982 tại Paris, Alain Aspect dùng chiếc máy của John Clauser tiến hành một thí nghiệm thật sâu rộng để giải quyết cho dứt khoát vấn đề đúng sai của hai nhà khoa học hàng đầu thế giới nói trên. Và kết quả như chúng ta đã biết, thí nghiệm liên kết lượng tử đã tạo được hai photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau trong không gian. Ông tiến hành đo đạc hai hạt rối và áp dụng bất đẳng thức của John Bell để kiểm chứng. Elizabeth Gibney từ tạp chí uy tín Nature nói :

Bell đã chứng minh được rằng, theo các thông số thống kê, thì sự tương quan giữa các kết quả đã vượt qua ngưỡng giới hạn và không thể được giải thích bằng việc các hạt này có những thuộc tính ẩn được. Thay vào đó, kết quả cho thấy việc đo đạc một hạt đã sửa thuộc tính của hạt kia một cách bí ẩn

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Thí nghiệm đã chứng tỏ hiện tượng rối hay liên kết lượng tử là có thật. Thí nghiệm này đã bác bỏ lập trường duy vật khách quan (Objective Materialism) của Einstein, nó chứng tỏ lập trường của Niels Bohr là đúng, vô hình trung nó cũng chứng tỏ lời nói trong kinh điển Phật giáo là đúng : Nhất thiết duy tâm tạo. Những điều Lai Quả thiền sư nói trong Thiền thất khai thị lục là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Con người trong thế gian đang mở mắt chiêm bao. Cái vũ trụ vật lý mà chúng ta đang sống trong đó thuần túy chỉ là tưởng tượng của con người chứ không có gì là thật cả. Quyển sách Lưới Trời Ai Dệt của tiến sĩ vật lý  Nguyễn Tường Bách cốt yếu cũng nói lên ý tưởng đó.

Sau thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris, các nhà khoa học tiên tiến nhất của nhân loại đã rút ra ba kết luận quan trọng có giá trị phổ quát cả trong triết học và khoa học :     

1/Vật (hạt photon, electron, và  xa hơn nữa là nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian không có thật (non locality)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Các kết luận này được rút ra từ thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hay nhiều vị trí khác nhau trong không gian chứng tỏ rằng hạt chỉ là ảo không có thật (non realism). Sự kiện vướng víu hay liên kết giữa các cặp hạt hay các nhóm hạt không tùy thuộc vào khoảng cách bao xa từ vài mét tới hàng ngàn km hay hàng năm ánh sáng chứng tỏ khoảng cách không gian và thời gian là không có thật (non locality). Sự kiện này trong kinh Kim Cang gọi là vô sở trụ 无所住 。 Mặt khác thí nghiệm cũng chứng tỏ số lượng là không có thật (non quantity). Chúng ta hãy nghe lại lời giảng của thầy Duy Lực cũng nêu ra khái niệm đó :

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

Đến đây thì chúng ta có thể hoàn toàn hiểu rõ lời nói của ngài Lai Quả, con người trên thế gian đang mở mắt chiêm bao. (People in the world are opening their eyes while they are in dreams).

Vũ trụ là do tâm tạo còn được khoa học chứng tỏ qua thí nghiệm 2 khe hở như sau :

Tâm là một dạng thông tin vô phân biệt, một dạng sóng tiềm năng vô hình (không có tự tính, không phân biệt thiện ác, tốt xấu). Trong tin học thì thông tin đó có dạng số (digital) và cũng chỉ là dữ liệu chưa có ý nghĩa, chưa có đặc điểm hay tính chất gì. Chỉ khi con người khởi niệm, phân biệt thì sóng tiềm năng đó mới biến thành hạt cơ bản của vật chất và có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin như trong thí nghiệm 2 khe hở dưới đây cho thấy rõ :

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau là màn hứng hiển thị kết quả. Sở dĩ phải bắn từng hạt electron chứ không phải bắn cùng lúc nhiều hạt để tránh trường hợp các hạt va chạm nhau bay tứ tung làm sai lạc kết quả. Sau khi bắn như vậy khoảng một tiếng đồng hồ, kết quả như sau :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng thể hiện thành nhiều vạch

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron và chỉ thể hiện 2 vạch tương ứng với 2 khe hở

Tương tự như vậy, trong tin học khi các dãy số trong dữ liệu được thay thế bằng những đặc điểm theo quy ước thì màn hình mới hiện ra chữ viết, hình ảnh, video và loa phát ra âm thanh.

Như vậy tâm trong thế giới đời thường và dữ liệu thông tin trong computer là hoàn toàn tương ứng, nghĩa là có hiệu ứng giống như nhau.

Con người nên ứng xử thế nào ?

Sau khi đã tìm hiểu kỹ lưỡng về vũ trụ vật lý và vũ trụ tâm lý, thực tế thì hai vũ trụ đó chỉ là một. Vũ trụ vật lý cũng là do tâm tưởng tượng ra, vũ trụ tâm lý thì khỏi phải nói, tình yêu, tình thương, tình cảm, ngôn ngữ, tiểu thuyết, âm nhạc, phim ảnh, sản phẩm văn hóa phi vật thể…toàn bộ đều là do con người tạo ra, tưởng tượng ra, hoàn toàn là chủ quan, không có gì là khách quan cả. Ngay cả mặt trăng hay địa cầu cũng không phải là vật có thật khách quan mà chỉ là vật chủ quan tập thể (thế lưu bố tưởng).

Như vậy khoa học và nền văn minh nhân loại sẽ tiến đến đâu ?

Hiện nay chúng ta thấy tin học đang phát triển mạnh mẽ, smartphone, internet, 5G đang trở nên ngày càng phổ biến. Trên không gian mạng internet, khoảng cách không gian gần như đã bị triệt tiêu. Chúng ta có thể gởi hình ảnh, văn bản, video, email đến bất cứ nơi đâu trên địa cầu chỉ trong tích tắc.

Chúng ta cảm thấy tin học (informatics) đã tiến được một bước dài. Nhưng thật ra tin học vẫn còn đang ở trong thời kỳ sơ khai, trình độ vẫn còn thấp. Tại sao vẫn đánh giá là còn thấp ? Bởi vì đối với những vật ảo như text, hình ảnh, video, âm thanh, con người đã xử lý khá tốt rồi. Nhưng còn một số cảm giác ảo tưởng khác như vị giác, khứu giác, xúc giác, tin học của con người hiện nay chưa xử lý được bao nhiêu. Con người vẫn chưa đạt tới khả năng kỹ thuật là biến những vật ảo cao cấp hơn như ly cà phê, cốc bia, hay vật dụng khác hoặc chính thân thể con người thành lượng tử và gởi đi qua mạng internet.

Nếu làm được điều đó con người sẽ tiến tới thời đại viễn tải lượng tử (quantum teleportation), sự di chuyển sẽ không nhất thiết phải sử dụng xe cộ, máy bay, tàu thủy nữa, mà biến vật chất thành lượng tử và gởi đi qua mạng internet, khi đến nơi, phòng hạt sẽ tổng hợp lại thành vật chất như cũ.

Và sự nghiệp sản xuất vật chất của con người sẽ thay đổi hoàn toàn. Những máy in 3D vạn năng sẽ in ra những gì cần thiết cho đời sống con người, lấy năng lượng và nguyên liệu từ ánh sáng. Từ lương thực, thực phẩm cho tới nhà cửa, quần áo, vật dụng . Tất cả mọi thứ đều có thể in ra được với số lượng tùy theo nhu cầu, cần bao nhiêu thì in ra bấy nhiêu, số lượng không bị hạn chế.

Như vậy con người không cần thiết phải tranh giành, chiến tranh vì nguồn nước, nguồn năng lượng như dầu mỏ hay tài nguyên biển đảo khác. Khi con người hiểu và thực hiện được ba nguyên lý căn bản : vật chất không có thật (non realism), không gian và thời gian không có thật (non locality), số lượng không có thật (non quantity) thì có khả năng biến thế gian thành một cõi bình an và hạnh phúc. Con người không cần phải sát sinh hại vật, không cần phải giết người cướp của, tranh đoạt nguồn tài nguyên, không cần phải làm lụng quá cực nhọc, mà vẫn có đầy đủ những thứ mà mình cần.

Vậy trong Tam giới, có nơi nào được như vậy không ? Xin thưa là có. Kinh Vô Lượng Thọ có đề cập đến thế giới Tây phương cực lạc. Ở cõi đó chúng sinh được hóa sinh từ hoa sen chứ không phải thai sinh từ trong bụng mẹ. Chúng sinh ở cõi đó đều xinh đẹp, không có ai bệnh hoạn, tàn tật. Khi cần ăn uống hay cần quần áo để mặc, nhà cửa để ở, chỉ cần khởi niệm thì mọi thứ đều hiện ra. Khi không cần nữa thì mọi vật biến mất. Đây là video mô tả cõi giới đó dựa vào Kinh Vô Lượng Thọ :

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Kết luận     

Vũ trụ vật lý mà chúng ta đang sống trong đó thực chất cũng chỉ là tưởng tượng. Thế giới Tây phương cực lạc cũng là tưởng tượng. Vậy thì có thế giới nào không phải là tưởng tượng ? Không có. Kinh điển Phật giáo từ lâu đã tổng kết : Nhất thiết duy tâm tạo, tất cả đều là do tâm tưởng tượng ra. Thượng Đế toàn năng, Trời, Phật, tất cả cũng chỉ là tưởng tượng.

Một số nhà khoa học tiên tiến đã làm một video để diễn tả khái niệm này :

Vạn Pháp Duy Thức

Vậy con người chúng ta không nên quá chấp thật. Nên có lòng bao dung đừng quá tranh giành, chửi rủa, xung đột, chiến tranh, là những điều tồi tệ nên tránh, bởi vì những điều đó không đem lại cảm giác hạnh phúc cho con người, mặc dù vẫn biết rằng tất cả mọi cảm giác cũng chỉ là ảo tưởng. Mỗi người thực tế là vẫn đang sống trong vũ trụ riêng của mình.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

12 Responses to VŨ TRỤ LÀ GÌ ?

  1. Phamvansinh nói:

    Cảm ơn Bác Truyền Bình đã có bài viết tổng hợp lại những tư tưởng Phật pháp mà Bác đã diễn giải qua nhiều bài viết trước đây. Mỗi bài viết trước đây, tuy chủ đề có khác nhau nhưng độc giả đều có thể nhận thấy vẫn một kết luận như Kinh, Luận từng khẳng định: Nhất thiết duy Tâm tạo; rằng: Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thức. Có điều hay mà ít người làm được đó là chứng minh điều đó từ những thành tựu nghiên cứu của khoa học hiện đại nhờ đó làm tăng trưởng niềm tin vào Chân lý trong Kinh điển vì thời nay là thời người ta tin vào khoa học hơn là Phật pháp.
    Nói rằng Thượng đế, Trời, Phật…. cũng “chỉ là tưởng tượng”. Ai chưa chứng ngộ hay ít ra là chưa giải ngộ mà đọc hay nghe thấy câu này nếu không hoảng hốt mới là lạ. Nhưng Chân lý vốn là “như thị”. Phật mà còn thấy mình là là Phật, muôn loài thật là chúng sinh thì thật chẳng phải Như Lai. Đến “cứu cánh Niết bàn” mà còn thấy chẳng thật, cần phải viễn ly mới có cơ xa lìa mộng tưởng điên đảo thì còn gì là thật đây!
    (Tuy nhiên, Bác có nói là Tây phương cực lạc thuộc Tam giới thì có phù hợp với Kinh điển không ạ?)

  2. Tam giới duy tâm. Trời, Phật cũng là do tâm tạo ra thì chẳng lẽ Tây phương cực lạc không phải do tâm tạo ? Mà đã do tâm tạo thì không nằm ngoài Tam giới. Chỉ khác là do niệm lực được duy trì liên tục nên nó kéo dài đến mức vô lượng quang vô lượng thọ thôi. Nguyên lý bình đẳng cũng nói rằng tất cả cõi giới đều bình đẳng, chỉ có vọng tâm của con người phân biệt thôi. Mà thật ra các cõi khác cũng được niệm lực duy trì không bao giờ hết nên Bát Nhã Tâm Kinh nói : Vô lão tử diệc vô lão tử tận = không có sinh lão bệnh tử cũng không có hết già chết.

    • Phamvansinh nói:

      A di đà Phật!
      Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Phật Pháp mà nói gọn lại thì hình như chỉ có một chữ: xả bỏ chấp thật. Pháp còn bỏ nữa là phi pháp.
      Nhưng mà phép tham thoại đầu khó quá Bác ơi! Em tham thoại câu “Trước khi ta sinh ra ta là ai” mà chẳng ra thoại đầu, toàn thoại vĩ thôi! Xem ra kiếp này mới chỉ có duyên tìm hiểu Pháp tu. Vậy nên Em tiếp tục niệm Phật cho chắc.

      • Bạn đừng mất tự tin (tin tự tâm) như vậy. Thầy Duy Lực dạy 9 chữ : Vô Sở Cầu, Vô Sở Đắc, Vô Sở Sợ. Muốn thực hiện 9 chữ đó bạn phải buông bỏ cái ngã. Ngã đã buông thì bạn còn vấn đề gì nữa ?

  3. HoaDan nói:

    Con kính xin được bác Truyền Bình chỉ dẫn với đôi câu hỏi cho kẻ đang còn lần mò trong bến mê:
    – Con không phải phật tử nhưng rất ham đọc về sách và tài liệu liên quan đến Phật pháp hay Thiền. Hiện nay có quá nhiều tài liệu, sách báo trên mạng nên vô hình chung hình thành một ma trận mà kẻ mới không biết nên bắt đầu từ đâu, và hướng về đâu.
    – Nếu là mục tiêu gần gũi nhất là Thiền thì nên bắt đầu từ đâu hoặc cụ thể là tài liệu (lộ trình mang tính định hướng) nào?
    * Phải chăng muốn tập trung tu tập thì ta nên “rời bỏ” gia đình nhỏ bé (nhưng vô cùng thân thương) của mình để tìm đến những nơi tĩnh lặng như cửa chùa?

    Con xin tạ ơn bác!

    • Cám ơn bạn đã tin tưởng mà hỏi. Cái pháp môn mà thầy Duy Lực và tôi đang truyền bá là Tổ Sư Thiền tức là dòng Thiền bắt đầu từ Maha Ca Diếp là sơ tổ tại Ấn Độ, truyền đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma thì chuyển sang TQ làm sơ tổ tại TQ. Tổ Sư Thiền truyền đến tổ thứ 6 tại TQ là Lục tổ Huệ Năng thì đại phát huy, rất nhiều người kiến tánh giác ngộ. Sau Huệ Năng thì không còn truyền y bát, không định danh là tổ thứ mấy nữa, nhưng vẫn tiếp tục và chia ra nhiều tông phái như Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn…
      Tông chỉ của Tổ Sư Thiền là : Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật. Nói tóm tắt Thiền là đốn ngộ (giác ngộ tức thời, triệt để) phát hiện bản tâm trên nền tảng thực tế của vũ trụ vạn vật là không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, nhất thiết duy tâm tạo.
      Lý thuyết như trên Duy Lực Thiền thuyết giảng chỉ là nhằm củng cố lòng tin cho hành giả.
      Không cần thiết phải đến chùa tu. Không nhất thiết phải rời bỏ gia đình nhỏ của mình. Cũng không nhất thiết phải ngồi thiền. Lục Tổ nói: “Đạo do tâm ngộ bất tại tọa”
      Phương pháp của Tổ Sư Thiền là tham công án hay tham thoại đầu. Thực hành tham thoại đầu như sau :
      https://onedrive.live.com/?authkey=%21AJyr9npTiJwdpyQ&cid=3A697DD6BE1AB73E&id=3A697DD6BE1AB73E%2166453&parId=3A697DD6BE1AB73E%212950&o=OneUp

  4. Huấn nói:

    Kính chào quý vi, nếu biết rằng Bản Tâm bao trùm vủ tru vạn vật thì có cái gì khách quan ở ngoài tâm đâu. Vậy thì Phật giới, Tây phương cực lạc, 33 cỏi Trời hay Thiên đàng Địa ngục chỉ là phương tiện ẩn dụ cho người vào Đạo. Thế giới chung quanh ta hiện giờ do tâm phóng chiếu ra, Khi MÊ thì thấy tuồng như THẬT nhưng khi NGỘ rồi thì tất cả đều KHÔNG, đúng với hai câu : “Tất cả các pháp đều không có Tự Tính và đều do Tâm tạo …”. Nhân mùa đại dịch Corona, chúng ta bị ép buộc phải Nhập thất, không phải là cơ hội quý báu để tự mình cảnh tỉnh và suy tư quán xét sâu sắc để thấy Chân lý mà dức Thế tôn muốn trao truyền từ 2600 năm trước …!

    • Phamvansinh nói:

      Nghe băng “Duy Lực ngữ lục” ắt có niềm tin Tổ là bậc đã kiến tánh. Còn như chúng ta hầu như nhiều lắm cũng chỉ là có chút giải ngộ cũng là may mắn lắm. Nhưng Tổ bảo giải ngộ dễ nguy hiểm vì lại chấp vào chỗ giải ngộ ấy mà quên mất rằng cái cần phải là chứng ngộ. Có điều người chưa ngộ thì trước hết cũng cần nghe đọc kinh sách hay tham vấn để tìm được con đường tu phù hợp. Riêng tôi, từ khi đọc các bài viết của Bác Truyền Bình và gần đây nghe đọc các khai thị của Tổ Duy Lực mới vỡ lẽ ra nhiều điều về Phật pháp mà mấy mươi năm nay cứ tù mù cả. Ví như, thế gian vạn pháp đâu có mầu sắc hay âm thanh gì nhưng mà ta vẫn thấy đầy âm thanh mầu sắc, đó cũng là một loại vọng tưởng, cũng là do tâm thức biến hiện cả…. vậy mà chúng ta vẫn vui buồn với chúng. Thật là mở mắt vẫn mơ. Biết vậy nhưng mà thấy thì vẫn cứ thấy chúng có mầu sắc âm thanh. Nay nhờ Tổ mới biết đó cũng là thế lưu bố tưởng. Có điều chưa ngộ nhưng hiểu vậy thì cũng bớt chấp trước….
      Con xin đỉnh lễ tạ ân Tổ!
      Xin cám ơn Bác Truyền Bình.

    • nghi thanh nói:

      Tư duy của thuyết duy ngã chấp TÂM bỏ VẬT. Hướng tư duy theo thuyết ĐOẠN DIỆT sẽ bài bác nhân quả => Thật nguy hiểm. Tâm bình thường là đạo.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s