LÃNH ĐẠO QUỐC GIA NHẤT LÀ CỦA CÁC NƯỚC LỚN NÊN LÀ NGƯỜI GIÁC NGỘ

Vài nét lịch sử

Khổng Tử

Sở dĩ đề cập tới Khổng Tử (551-479 TCN) vì ông từng có lúc nắm quyền chính trị. Khổng Tử 孔子 tên Khâu 丘 , tự Trọng Ni 仲尼 sinh năm 551 trước công nguyên (TCN), tại ấp Tưu 陬邑, làng Xương Bình 昌平, nước Lỗ 鲁 (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Cha ông là Thúc Lương Hột 叔 梁 纥, một quan võ nhỏ của ấp  Tưu, đến 70 tuổi cha ông mới lấy vợ lẻ là Bà Nhan thị sinh ra Khổng Khâu tức Khổng Tử. Ông Sống vào thời Đông Chu ở Trung Quốc, đó là một thời kỳ mà trên thế giới có nhiều vĩ nhân xuất hiện. Tại tiểu lục địa Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca sinh năm 643 TCN, trước Khổng Tử 92 năm. Tại Trung Quốc, Lão Tử, ông Tổ của Đạo giáo, theo truyền thuyết, sống cùng thời với Khổng Tử, nhưng không biết rõ năm sinh và năm mất, đại khái ra đời khoảng năm 570 TCN, sau khi viết xong bộ Đạo Đức Kinh, để lại cho người giữ ải Hàm Cốc, Lão Tử cỡi trâu ra khỏi ải đi mất nên không ai biết chung cuộc của ông ra sao, có thuyết nói rằng ông sống đến 160 tuổi. Tương truyền Khổng Tử có gặp Lão Tử. Tại Hy Lạp, Socrates (470-399 TCN) và học trò là Platon (427-347 TCN), Aristoteles (384-322 TCN) tiếng Anh là Aristotle, học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế, là những nhà triết học vĩ đại của phương Tây.

Đạo của Khổng Tử là Vương Đạo (trị quốc dựa trên đạo lý và nhân ái) nên đi ngược ý đồ Bá Đạo (dựa trên chinh phạt giành địa vị bá chủ 霸主) của các vua chư hầu và quyền lợi của các quan Đại phu nên các vua chư hầu đều không dám dùng ông. Ông từng cảm thán “Ai mà không phải đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà ? Vậy mà tại sao không có ai đi theo đạo này ?

Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định công, ông được 51 tuổi, được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của ông làm khuôn mẫu. Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 TCN), ông phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ở Quy Âm mà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước.

Qua năm sau, Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng thư) coi việc hình án. Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị. Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong ông lên làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng Quốc), coi việc Chính trị trong nước. Ông cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính. Ông chỉnh đốn kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chính trị mỗi ngày một tốt lên. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị.

Nước Tề thấy nước Lỗ mạnh lên, có ý lo ngại. Vua Tề theo kế, lập ra Bộ Nữ Nhạc gồm toàn mỹ nữ mà đem dâng vua Lỗ. Khổng Tử biết vua Tề có ý dùng chuyện hưởng lạc để làm suy bại chính sự nước Lỗ nên khuyên Lỗ Định công đừng nhận, nhưng Định công không nghe. Quả nhiên vua Lỗ sau khi nhận Bộ Nữ Nhạc sinh ra mê đắm, lười biếng chính sự và chán ghét Khổng Tử. Lỗ Định công không nghe lời can gián của Khổng Tử, bỏ bê việc triều chính, có khi luôn 3 ngày không ra coi triều, mọi việc đều giao cả cho quyền thần. Khổng Tử can gián vua Lỗ nhiều lần nhưng không được, chán nản xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các nước chư hầu. Cuối cùng Khổng Tử trở thành một nhà giáo dục, một ông thầy đầu tiên trong lịch sử.

Đại đế Alexandros của Hy Lạp

Alexandros III của Macedonia còn được biết rộng rãi với cái tên Alexandros Đại Đế (356-323 Trước CN). Ông là vua đồng thời là triết gia. Trong khoảng thời gian từ năm 342 đến 340 TCN, Alexandros đã theo học Aristoteles, một triết gia danh tiếng của Hy Lạp thời đó. Chính Aristoteles đã huấn luyện Alexandros về mọi mặt như thuật hùng biện và văn học và gợi lên các sở thích của cậu ta trong khoa học, y khoa và triết học. Đồng thời, Alexandros cũng đã trải qua khóa huấn luyện quân sự và thể thao chuyên sâu. Alexandros tuyên bố rằng ông nợ cha mình sự sống, nhưng ông nợ người thầy cuộc sống tốt đẹp mà ông có. Aristoteles mong muốn một nền văn minh Hy Lạp vượt quá giới hạn hạn hẹp của các thành bang trong xứ. Ông rèn cho người học trò của mình niềm tin rằng toàn cõi Hy Lạp có thể được thống nhất dưới sự lãnh đạo của một vị vua chuyên chế Macedonia. Ông nhấn mạnh rằng vị vua này, tuy chuyên chế, nhưng không sở hữu bất cứ điều gì của một tên bạo chúa. Để nền văn minh Hy Lạp chiến thắng trên toàn thế giới, cần phải có một cá nhân với nhân phẩm vượt trội xuất hiện để hiện thực hóa nó. Đây là một vị vua mà Aristoteles đang tìm kiếm bên trong con người Alexandros. Ảnh hưởng quyết định của vị triết gia này được đo lường bằng cảm xúc, rằng Alexandros trong nhiều trường hợp, đã dành nhiều tâm huyết cho một sứ mệnh lịch sử để thống nhất phương Tây và phương Đông.

Alexandros, lên ngôi lúc 20 tuổi, là vua mới của Macedonia. Ông tiến hành chinh phục cả Hy Lạp, các thành bang Hy Lạp như Athena, Thebes, và cuối cùng là Sparta đều bị bắt buộc phải quy phục.

Sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp cổ đại, Alexandros chinh phục Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, Bactria và Lưỡng Hà và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận Punjab thuộc Ấn Độ ngày nay. Alexandros thực hiện một chính sách hòa hợp: ông đưa cả những người ngoại quốc (không phải người Hy Lạp hay người Macedonia) vào chính quyền và cả quân đội của mình, ông khuyến khích hôn nhân giữa các tướng sĩ của mình với người nước ngoài và chính ông cũng lấy vợ ngoại quốc. Sau mười hai năm liên tục thân hành cầm quân đánh đâu thắng đó, năm 323 TCN Alexandros Đại đế đinh vượt sông Indus nhưng thất bại ở Taxila, Gandhara (nay thuộc Pakistan) Alexandros rút quân về Babylon và chết ở đấy vì bệnh, có lẽ là do sốt rét, thương hàn, hay viêm não do virút. Sau khi Alexandros chết,  các tướng tùy tùng liền chia cắt đế quốc thành những vương quốc để tự mình cai trị. Seleukos I Nicator kế vị Alexandros năm 323 TCN đóng đô ở Babylon, lập nên triều đại Seleukos cai trị một đất nước rộng lớn bao gồm các nước ngày nay là Syria, Lebanon, Jordan, Mesopotamia, Persia, và Bactria. Phần đất ở Ai-cập thì hậu duệ của tướng Ptolemy Soter thay nhau trị vì;  và ở Hy-lạp thì do Antigonus Monopthalmos nắm giữ.

Di sản của Alexandros bao gồm sự khuếch tán văn hóa và sự kết hợp đa nguyên hình thành nên từ những tác động do các cuộc chinh phạt của ông đã gây ra, mà điển hình là Phật giáo Hy Lạp, tức là Phật giáo đã đến Hy Lạp từ rất sớm. Ông đã cho thành lập khoảng 70 thành phố mang tên mình, nổi bật nhất trong số đó là Alexandria ở Ai Cập.

Khi Alexandros  xâm chiếm Bactria vào khoảng 329-327 TCN, Gandhara với kinh đô Taxila, nay thuộc Pakistan, nơi phì nhiêu với 5 con sông chảy qua nên Hán văn còn gọi là vùng Ngũ Hà, chính là các phụ lưu của con sông Indus bắt nguồn từ Hy-mã-lạp-sơn, Gandhara là  vùng đất đã lưu truyền Phật giáo rất sớm. Năm 327 TCN, Đại đế trẻ tuổi của Hy-lạp Alexandros đã bành trướng đất đai, đem quân đánh bại quân Persia (Ba Tư) và thâu tóm luôn vùng Tiểu Á. Hai năm kế, ông ổn định vùng Hindu Kush và Bactria (Baluchistan – bắc Afghanistan), thiết lập lên nhiều thành phố như Samarkand, Leninabad (thuộc Nga ngày nay) và Chankar (phía bắc Kabul), tái dựng cố đô Kapisa và đổi tên là Alasandra gần Caucasus (còn gọi là Alexandria trên sông Oxus).

Đế quốc của Alexandros (WU-SUN là Ô Tôn 乌孙, HSIONG-NU là Hung Nô, YUEH-CHIHlà Nguyệt Chi, PATALIPUTRA nay Patna thủ phủ bang Bihar)

Vua A Dục (阿育Ashoka) và vua Milinda (Menander)

Trong khi đó ở Ấn vào năm 321 TCN. Chandragupta lật đổ Nanda và lập ra triều đại Maurya. Năm 304 TCN Seleukos I lại cố xâm lăng Ấn lần nữa, nhưng cũng bị đẩy lui bởi Chandragupta Maurya. Chandragupta trị vì được 23 năm thì băng, người con trai kế vị là Bindusara ở ngôi được 25 năm và mất năm 273 TCN, triều đình có biến loạn, Ashoka (nghĩa là không đau khổ) lên ngôi hòang đế năm 269 TCN, cai trị một lãnh thổ rộng lớn từ Bengal đến Afghanistan, oai hùng nhất trong lịch sử Ấn. Chỉ sau khi cuộc xâm lăng đẩm máu đất nước Kalinga vào năm 260 TCN (bang Orissa ngày nay) hơn 8 năm sau khi lên ngôi, vua Ashoka mới hối hận, ông suy ngẫm về trận chiến ở Kalinga, cuộc xâm lăng lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ được ghi lại cho đến lúc đó mà người ta cho rằng đã làm hơn 100.000 người chết, và ông thành tâm qui y Phật giáo, đã dốc lòng khuyếch trương đạo Phật ra khắp nơi. Ông cũng đã gởi nhiều đoàn truyền giáo ra hải ngọai, trong số đó có đại sư Dharmaraksita (về sau là sư phụ của tỳ kheo Nagasena) họat động rất tích cực ở vùng tiểu Á [theo Mahavamsa (Đại vương Thống sử), chương XII]. Ashoka có một mối quan hệ đặc biệt với vùng tây bắc Ấn, bởi ông đã từng làm phó vương ở đấy và đóng dinh tại Taxila (tiếng Sankrit là Takshasila, gần Rawalpindi thuộc Pakistan bây giờ). Taxila bấy giờ đã là một trung tâm danh tiếng về thương mại, triết học và thần học, đặc biệt là Ấn giáo và Phật giáo. Ngày nay người ta biết đến rất nhiều pháp dụ khắc bằng đá do ông sai dựng lên khắp đế quốc; trong số đó những bia ký ở thung lũng Kabul được ghi bằng tiếng Hy-lạp và Aramaic, và nội dung còn cho biết là ông đã cho truyền bá chánh pháp đến các nước Ai-cập, Syria, Macedonia, Greece, Cyprus, Bactria, Kashmir, Gandhara, Himalayas, Sindh (Gujarat), vv. Vua Ashoka trị vì xấp xỉ trong bốn mươi năm, và sau khi ông qua đời, triều đại Maurya chỉ tồn tại thêm được năm mươi năm nữa. Quốc huy của Ấn Độ hiện nay là bản sao của cột đá Ashoka.

Trụ đá Ashoka tại Sarnath (Lộc Uyển)     Quốc kỳ và Quốc huy Ấn Độ

Theo bộ kinh Milinda-panha (Milinda vấn đạo) thì Na Tiên tỳ kheo (Nagasena) sanh tại làng Casangala (Kajangala), dưới chân Hy Mã Lạp sơn, ở vùng Tây bắc Ấn Ðộ, trong một gia đình Bà La Môn mà thân phụ tên là Soñuttara. Nagasena học đạo với các sư phụ gồm đại sư Rohana và Assagutta của tăng viện Vattaniya, Dharmarakshita của tăng viện Ashoka Ārāma ở kinh đô Pātaliputta (nay là Patna thủ phủ bang Bihar). Chính đại sư Dharmarakshita đã từng được đại đế Ashoka phái đi truyền đạo ở Aparanta phía tây nước Ấn. Người ta tin rằng bộ kinh Milindapanha đã được khẩu tập không lâu sau khi vua Menander, tiếng Pali là Milinda  (183 – 110 TCN) băng. Menander sinh năm 183 TCN ở Alasandra (mà ngày nay được biết là Alexandria của vùng Caucasus hay Alexandria trên sông Oxus), vốn là kinh đô Kapisa của vùng Gandhara cổ (nay thuộc Afghanistan) đã bị Alexandros đổi tên thành Alasandra vào năm 329 TCN, cách 150 km về phía bắc Kabul ngày nay). Menander là vua trị vì xứ Bactria từ khoảng 150-110 TCN.

Vương quốc Hy Lạp-Bactria, là một phần phía đông của thế giới Hy Lạp, bao gồm Đại Hạ (tức Bactria) và Sogdiana ở khu vực Trung Á từ năm 250 – 125 TCN. Bactria hay Bactriana là tên gọi cổ đại của một khu vực lịch sử tại Trung Á, nằm trong phạm vi của Hindu Kush và Amu Darya. Nó là một phần của vùng ngoại biên thế giới Iran và vùng lãnh thổ này ngày nay thuộc về Afghanistan, Tajikistan, Uzbekistan và một phần nhỏ của Turkmenistan.

Đặc điểm của bộ kinh là nó được xem như một cuộc giao thoa Âu-Á đầu tiên, một cuộc học đạo giữa một người tây phương (vua Menander người Hy Lạp) muốn học hỏi giáo pháp uyên áo của đạo Phật ở đông phương qua sự giải đáp của một vị tăng (Tỳ kheo Nàgasena) ở thung lũng sông Indus. Qua đó Phật pháp đã được trình bày một cách đầy thuyết phục và dễ nhớ.

Nāgasena đã học Vi Diệu Pháp với sư Rohana. Sau khi đã đạt được kiến thức toàn diện của bảy bộ trong tạng Vi Diệu Pháp bao gồm :

1-Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận)
2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)
3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến
4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 đế…phân biệt các hạng người.
5- Kathāvatthu (Bộ Ngữ Tông 論事 Luận Sự) do Moggaliputta Tissa làm trong lần kết tập thứ ba mục đích là bài bác tà kiến của ngoại đạo xâm nhập vào tăng đoàn.
6- Yamaka (Bộ Song Ðối 雙論 Song Luận) Luận về chỗ đồng dị của từng cặp mệnh đề.
7- Paṭṭhāna (Bộ Vị Trí 發趣論 Phát Thú Luận).

6 bộ luận đầu chủ yếu luận về danh (tên gọi) và tướng (hình trạng) của các pháp. Còn bộ luận thứ bảy còn gọi là Đại Luận 大論 chủ yếu nói về 24 mối quan hệ của các pháp, hệ thống hoá chúng. Do đó bộ luận này rất lớn và phức tạp. Bản dịch tiếng Việt gồm 7 quyển, mỗi quyển dày khoảng 350 trang.

Nāgasena thọ giới Tỳ Kheo và Rohana gởi Nāgasena đến tu viện Vattaniya để học với ngài Assagutta. Sau đó Assagutta gởi Nāgasena đến ngài Dhammarakkhita tại Vườn Ashoka ở Pātaliputta. Nāgasena đã chứng quả A-la-hán.

Vua Milinda đang ở trong thành Sāgala. Sāgala là tên xưa của một thành phố thuộc tỉnh Punjab ngày nay mà thủ phủ là Lahore, một khu vực địa lý trải rộng qua biên giới giữa Pakistan và Ấn Độ, bao gồm tỉnh Punjab (nghĩa là 5 dòng sông, phụ lưu của sông Indus: Jhelum, Chenab, Ravi, Sutlej, và Beas) của Pakistan, Sāgala ngày nay gọi là Sialkot nằm giữa các sông Chenab và Ravi gần biên giới Kashmir.

Nhà vua rất thông thái về mỹ thuật và khoa học, có đầu óc thích quan sát, tìm hiểu. Nhà vua có tài tranh luận và không ai từng có thể giải quyết những nghi ngờ của nhà vua về những vấn đề trong lãnh vực tôn giáo.

Hai người gặp nhau tại tu viện Samkheyya nơi Nāgasena đang trụ trì.

Bây giờ chúng ta xem qua một phần của chương 3 nói về khởi thủy của thời gian.

1/“Bạch ngài Nāgasena, cái gì là gốc của thời gian, quá khứ, hiện tại và tương lai?”

Trả lời : “Là vô minh. Vô minh là nhân duyên làm hành nghiệp sinh khởi; hành nghiệp là nhân duyên làm thức sinh khởi; thức làm sinh khởi danh sắc; danh sắc làm sinh khởi lục nhập; lục nhập làm sinh khởi xúc; xúc làm sinh khởi sanh; sanh làm sinh khởi lão, tử, thương tiếc, ân hận, đau khổ, buồn bã và thất vọng.”  (thập nhị nhân duyên).

2/ “Ngài nói rằng sự khởi sinh đầu tiên hết của sự vật thì không thể thấy được. Xin ngài cho một ví dụ.”

Trả lời : “Đức Thế Tôn có nói: ‘Do bởi có sáu căn và trần (cảnh) mà xúc sinh khởi; do bởi xúc mà thọ sinh khởi; do bởi thọ mà tham ái sinh khởi; do bởi tham ái mà hành nghiệp sinh khởi. Và từ hành nghiệp mà sáu căn lại một lần nữa sinh khởi.’ Bây giờ liệu sự sinh khởi dây chuyền này (trùng trùng duyên khởi) có thể chấm dứt được không?”
“Thưa không.”
“Như vậy, thưa Đức Vua, sự sinh khởi đầu tiên của sự vật là không thể thấu hiểu được.”

3/ “Phải chăng sự sinh khởi đầu tiên hết của mọi sự vật là không thể biết được?”

Trả lời : “Một phần là vậy, phần khác thì không.”
Hỏi : “Vậy thì phần nào biết được, phần nào không biết được?”
Trả lời : “Với bất cứ nhân duyên nào đi trước kiếp này mà đối với ta như là không có từ trước thì sự sinh khởi đầu tiên hết không thể biết được. Nhưng với cái gì trước không có mà nay hiện hữu và vừa mới sinh (sau một thời gian) lại diệt mất thì sự sinh khởi đầu tiên hết có thể biết được.”

4/ “Phải chăng có những pháp hữu vi được tạo tác nên?”

Trả lời : “Thưa Đức Vua, chắc chắn như vậy. Nơi nào mà có mắt và cũng có hình sắc thì có nhãn thức; nơi nào có nhãn thức thì có xúc; nơi nào có xúc thì có cảm thọ; nơi nào có cảm thọ thì có tham ái; nơi có tham ái thì có thủ; nơi có thủ thì có hữu; nơi có hũu thì có sanh, lão, tử, thương tiếc, đau đớn, buồn bã hay thất vọng. Nhưng nơi nào không có mắt và hình sắc (không có căn và trần) thì không có nhãn thức, không có xúc, không có cảm thọ, không có tham ái, không có thủ, không có hữu; và nơi nào không có hữu thì không có sanh, lão, tử, thương tiếc, đau đớn, buồn bã hay thất vọng.”

“Trong vô số kiếp ta lang thang trong sinh tử luân hồi,
Đi tìm kiếm mà chẳng tìm ra kẻ xây nên căn nhà này.
Ngươi chính là người xây nhà! Đừng bao giờ xây nhà nữa!
Tất cả mọi ô nhiễm phải được phá vỡ! Vô minh phải được dẹp tan!
Tâm ta đã đi đến Niết bàn. Sự chấm dứt tham ái đã được thành tựu.”

5/ “Có chăng những pháp hữu vi mà không được tạo tác nên?”

Trả lời : “Thưa Đức Vua, chẳng có pháp hữu vi nào như vậy, bởi vì các pháp hữu vi được tạo tác chỉ do tiến trình của hữu.”
Hỏi : “Xin cho một ví dụ.”
“Có phải ngôi nhà mà Bệ Hạ ngồi đây đã được tạo tác nên do một tiến trình của hữu?”
“Chẳng có một cái gì ở đây mà không có từ trước. Gỗ này là đã ở trong rừng, đất sét này là từ đất mà ra và do công sức của con người, đàn ông và đàn bà, ngôi nhà này mới hiện hữu.”
“Thưa Đức Vua, cũng giống như vậy, chẳng có pháp hữu vi nào mà không được tạo tác nên.”

(Pháp hữu vi được tạo tác thực chất là do vọng tưởng mà có, chẳng hạn các hạt cơ bản của vật chất cũng là do vọng tưởng mà hiện hữu)

Tóm lại qua 5 câu vấn đáp giữa vua Milinda và Nagasena, chúng ta đi tới kết luận :

Thời gian không có bắt đầu cũng không có kết thúc (vô thủy vô chung). Tất cả sự vật hữu vi đều là do tâm tạo tác. Thân thể tâm ý của chúng ta do chính chúng ta tạo ra (ta là nguyên nhân mà nguyên nhân đầu tiên thì không thể biết được, còn cái biết được như cha mẹ, ông bà, tổ tiên thì chỉ là duyên và cha mẹ đầu tiên thì không thể biết được).

Vua Trần Nhân Tông   

Vua Trần Nhân Tông 陳仁宗 (1258-1290)của VN tên thật là Trần Khâm 陳昑 là một nhà lãnh đạo giác ngộ. Người giác ngộ tất nhiên là không hề muốn tranh giành, không hề muốn chiến tranh, nhưng đã là một vị vua có trách nhiệm với toàn dân, có lúc cũng chẳng đặng đừng, phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh khốc liệt với quân Nguyên.

Năm 1285, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt 忽必烈 Xubilaĭ Khaan huy động  một lực lượng lớn (theo Đại Việt sử ký toàn thư là 50 vạn quân) tấn công Đại Việt. Quân dân Đại Việt ban đầu gặp nhiều tổn thất phải bỏ kinh thành lui xuống hạ lưu sông Hồng rồi theo eo cửa Giao Thủy đi ra biển vòng lên Tháp Sơn (Đồ Sơn); nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, Thượng hoàng Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, quân dân Việt đã dần dần xoay chuyển tình thế và đánh bật quân Nguyên ra khỏi đất nước. Sau đó, 2 vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược kế tiếp của Mông – Nguyên vào năm 1287. Sau đó Trần Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm Đại sĩ 竹林大士 và Điều Ngự Giác Hoàng 調御覺皇; nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính sự. Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.

Sau hai cuộc kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã bắt tay vào việc tái thiết kinh tế, xã hội Đại Việt. Khoảng tháng 5 năm 1288, ông xuống chiếu đại xá thiên hạ và cắt giảm thuế má, sưu dịch cho dân chúng. Đặc biệt, các vùng bị chiến tranh tàn phá đều được miễn thuế và sưu dịch hoàn toàn. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, trong thời gian này Trần Nhân Tông đã hòa giải thành công sự bất hòa của một số quan viên trong triều.

Tháng 10 (âm lịch) năm 1299, Nhân Tông rời kinh thành đến núi Yên Tử (Quảng Ninh) mở tịnh xá thuyết pháp độ tăng. Vào thế kỷ XI – XIII, Phật giáo Đại Việt tồn tại chủ yếu dựa trên 3 dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi (毘尼多流支Vinitaruci là một Thiền sư người Ấn Độ, từng sang Trung Quốc tham học và là môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán, về già sang VN ở tại chùa Pháp Vân- Chùa Dâu Bắc Ninh), Thảo Đường 草堂(vị sư người TQ bị bắt từ Chiêm Thành đưa về Đại Việt thời Lý Thánh Tông) và Vô Ngôn Thông 無言通 (người TQ đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải qua VN năm 820, ở tại chùa Kiến Sơ). Điều ngự giác hoàng đã hợp nhất các tông phái này vào dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.  Đây được xem là tông phái thống nhất đầu tiên của Thiền tại Việt Nam.

Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước.

Cũng chính trong lần này, Điều ngự đã hứa gả con là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân;  Chế Mân xin nhượng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt làm sính lễ. Hôn lễ giữa Huyền Trân với vua Chiêm được cử hành vào năm 1306. Vua Anh Tông sáp nhập hai châu Ô, châu Lý vào Đại Việt và đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa, về sau trở thành phủ Thuận Hóa thời Minh thuộc, đến thời Lê trở thành thừa tuyên Thuận Hóa bao gồm luôn phủ Tân Bình và đô thành của nó tới thời Nguyễn gọi là Huế.  

Năm 1304, khi đang hoằng hóa tại huyện Nam Sách (Hải Dương), Điều ngự đã gặp và thu nhận Pháp Loa (thế danh Đồng Kiên Cương 1284 – 1330) làm đệ tử xuất gia. Sau đó ông đào tạo cho Pháp Loa trở thành người kế thừa thiền phái của mình, chính thức truyền thừa năm 1308 làm Tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm.

Tháng 11 âm lịch (tháng 12 dương lịch) năm 1308, Điều ngự Trần Nhân Tông viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân (Yên Tử). Thánh đăng ngữ lục đã tường thuật về cuộc đối thoại cuối cùng giữa Điều ngự với thị giả Bảo Sát:

Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý.

Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: Chính là giờ ta đi! Bảo Sát hỏi: Tôn Đức đi đâu? Điều Ngự đáp:

Tất cả pháp chẳng sanh,

Tất cả pháp chẳng diệt,

Nếu hay hiểu như thế,

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi gì?

Bảo Sát thưa:

– Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?

Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo:

– Chớ nói mớ!

Nói xong, Ngài nằm theo tư thế sư tử lặng lẽ mà tịch.

Đạt Lại Lạt Ma 達賴喇嘛 Tenzin Gyatso

Khi Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 viên tịch vào năm 1935, chính phủ Tây Tạng có nhiệm vụ tìm kiếm một người thừa kế là hậu thân của ngài. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền thống của Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc ở tương lai từ hồ linh thiêng này. Lúc bấy giờ vị nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, KaMa hiện lên giữa mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu tự này là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ.

Một phái đoàn tìm kiếm hậu thân được thành lập và đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, vị trưởng phái đoàn là Lạt-ma Kewtsang Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera. Khi phái đoàn đến làng Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã thấy dưới hồ thiêng.

Thị giả Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng đoàn, Lạt-ma Kewtsang Rinpoche cải trang thành người thị giả và họ vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt-ma Kewtsang có mang  một xâu tràng hạt (rosary) của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt-ma Kewtsang hứa sẽ cho nếu chú đoán được ngài là ai. Và chú bé liền trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa phương là “Sera aga”, nghĩa là “Lạt-ma ở tu viện Sera”. Tiếp đó, sư hỏi chú bé vị trưởng đoàn là ai và chú bé đã trả lời đúng, và chú cũng cho biết tên chính xác của người thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm khác để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và nói: “của tôi, của tôi”. Chú bé ấy chính là Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 hiện nay.

Đạt-lại Lạt-ma bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật giáo (Doctorate of Buddhist Philosophy) ở tuổi 25 vào năm 1959. Năm 24 tuổi, Sư đã tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại học Phật giáo Drepung, Sera và Ganden. Kỳ thi cuối cùng được tổ chức tại Jokhang, thủ đô Lhasa trong thời gian lễ hội Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng.

Vào ngày 17 tháng 11 năm 1950, Đạt-lại Lạt-ma 14 đảm nhận trọng trách là người lãnh đạo cả Giáo quyền và Thế quyền của người dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng 80.000 quân lính của Trung Quốc đến chiếm đóng Tây Tạng. Năm 1954, Ngài đã đến Bắc Kinh để thương thuyết hòa bình với chủ tịch Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo Trung Hoa khác, gồm Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi này không mang lại kết quả.

Cuối thập niên 50, tại miền Đông Tây Tạng, dân chúng đã đứng lên kháng cự mạnh mẽ phản đối chính quyền TQ. Sự kháng cự này đã lan ra trên nhiều tỉnh thành của Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của Tây Tạng diễn ra tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính  TQ phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng là một quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình này đã bị quân đội Trung Quốc trấn áp quyết liệt. Cũng năm 1959, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đạt-lại Lạt-ma 14 đã âm thầm đào thoát vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ.

Ngày nay, với hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú tại vùng đất Dharamsala, Ấn Độ, được biết như là một “Lhasa nhỏ”, lập thành một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội đồng Dân cử Tây Tạng từ năm 1960. Năm 1963, Đạt-lại Lạt-ma đã ban hành một hiến pháp dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của nhà Phật và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc để biên soạn và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai.

Ngài được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989, đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc hiện nay trên thế giới. Các tác phẩm Sư viết trình bày Phật giáo Tây Tạng và Phật pháp bằng tiếng Anh nói chung được rất nhiều người đọc kể cả người trong các nước Tây phương. Cuốn sách nổi tiếng nhất của Ngài là Quốc Thổ và Quốc Dân Tôi (My Land and my People).

Tác phẩm của Đức Đạt Lại Lạt Ma

Kết luận

Qua thực tế lịch sử từ đông sang tây như trên đã trình bày, chúng ta thấy rằng từ thời cổ đại đã có những người muốn dùng triết học, đạo học của mình để trị nước, giúp cho đất nước và xã hội loài người sống có đạo lý, trật tự và hạnh phúc.

Khổng Tử là người đầu tiên muốn đem đạo học của mình trị nước theo vương đạo nhưng chỉ thành công bước đầu rồi sau đó cũng không thực hiện được.

Nhưng đạo lý của họ có khi chưa đạt tới tối thượng, vẫn còn thiếu sót, còn nhiều phân biệt nên có những chủ trương sai, gây hại cho xã hội. Chẳng hạn Aristotles nhà triết học Hy Lạp cổ đại, ông cho rằng nền văn minh Hy Lạp lúc đó là tốt đẹp vĩ đại nhất, ông muốn cho cả thế giới phương Tây và phương Đông đều được hưởng ánh sáng văn minh đó, nên ông đã đào tạo cho Alexandros trở thành một nhà chinh phục khai sáng văn minh cho thế giới. Thế nên cuộc chinh phạt của Alexandros đã gây ra biết bao đau thương tang tóc cho con người lúc đó.

Một điều tốt trong cuộc chinh phạt của Alexandros là Phật giáo từ phương Đông đã sớm đến được Hy Lạp. Manh nha từ thế kỷ thứ 4 TCN, có chứng cứ để thấy Phật giáo đã truyền sang phương Tây cụ thể là Hy Lạp từ thời vua Menander (183 – 110 TCN) của Bactria qua bộ kinh Milinda vấn đạo. Nghệ thuật làm tượng Phật theo phong cách Hy Lạp cũng được tìm thấy.

Tượng Phật theo phong cách Hy Lạp tìm thấy tại Gandhara

Ngay tại Ấn Độ, Phật giáo cũng chỉ trở nên hưng thịnh sau những cuộc chiến tàn khốc của vua Ashoka đi chinh phục mở rộng đế quốc. Sau đó nhà vua hối hận vì hành động chiến tranh của mình, dốc tâm phát huy Phật pháp, gởi sứ giả đi khắp nơi để truyền đạo trong đó có một phái đoàn đến nước Văn Lang trong thời đại Hùng Vương vào khoảng năm 240 TCN.

Tại VN một vị vua kiến tánh giác ngộ là Trần Nhân Tông vẫn phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh khốc liệt vào năm 1285 và 1288 CN chống lại đế quốc Nguyên Mông để bảo vệ đất nước và người dân.

Và thời hiện đại lãnh tụ Phật giáo Tây Tạng, Đức Đạt Lại Lạt Ma thứ 14 cũng phải dẫn 80.000 dân đào thoát sang Ấn Độ sống lưu vong để có thể tiếp tục công cuộc hoằng pháp độ sinh cho thần dân của mình và hướng dẫn tinh thần cho một bộ phận của dân chúng thế giới.

Tóm lại muốn làm được bất cứ việc gì, bất cứ thành tựu nào, con người cũng phải trả giá, không có việc gì là dễ dàng hoàn toàn thuận lợi.

Bây giờ chúng ta nói về tình hình hiện nay của thế giới.

Nếu những nhà lãnh đạo đang nắm quyền lực của thế giới hiện nay như Tổng thống Mỹ, Chủ tịch TQ, Tổng thống Nga, Thủ tướng Ấn Độ…, là những người giác ngộ hay ít nhất là những người điều hành đất nước với hàng tỷ, hàng trăm triệu dân, theo một đạo lý công bình nhân ái thì nhân dân thế giới cũng sẽ được lợi lạc.

Chúng ta cũng đừng có thành kiến cho rằng họ là những con người độc tài, tham lam, tàn bạo. Những tuyên truyền đó chưa chắc phản ánh đúng thực tế và có hại hơn là có lợi. Họ là lãnh đạo của những nước lớn, họ bị áp lực rất lớn từ bên trong và bên ngoài nước. Họ giống như những nghệ sĩ xiếc đi trên dây, lỡ chân một chút là té nhào rất nguy hiểm. Họ cũng không thể hành động hoàn toàn theo nhận thức riêng của mình bởi vì có những áp lực rất lớn từ mọi phía đang đè ép họ. Nhưng nếu họ là những người có đạo lý có chừng mực và nếu giác ngộ Phật pháp thì càng tốt, càng có nhiều hy vọng đưa thế giới vào một quỹ đạo hòa bình, no ấm.

Người giác ngộ ngày nay sẽ không giống như ngày xưa, không chỉ thuyết giảng về đạo lý giác ngộ. Bởi vì trong tình hình khoa học kỹ thuật rất phát triển. Người lãnh đạo không thể chỉ cung cấp cho dân chúng của mình những điều kiện sống đơn giản tối thiểu và an lạc theo mô hình của bộ lạc Kogi Nam Mỹ, hay một đất nước thanh bình kiểu Nepal hay Bhutan. Sự nghèo nàn cơ cực của người dân Ấn Độ hiện nay cũng không phải là mô hình tốt cho sự lãnh đạo của bậc giác ngộ.

Một nhà lãnh đạo giác ngộ ngày nay cũng phải cung cấp được cho người dân cuộc sống no đủ, an lạc cả tinh thần và vật chất.

Truyền Bình

 

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to LÃNH ĐẠO QUỐC GIA NHẤT LÀ CỦA CÁC NƯỚC LỚN NÊN LÀ NGƯỜI GIÁC NGỘ

  1. baloy9 nói:

    Học tập trực tuyến sẽ thay thế cho học truyền thống phải ko bác

  2. Học qua mạng có thể phần nào thay thế học trực tiếp tại lớp học nhưng cũng không hoàn toàn thay thế. Lý do là vì người có khả năng học qua mạng thường có khả năng tự học mà người có khả năng tự học chỉ chiếm một phần nhỏ. Còn người ít khả năng tự học chỉ khi bị hoàn cảnh bắt buộc chẳng hạn khi xảy ra đại dịch thì họ mới đành phải học qua mạng.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s