LẠI NÓI VỀ KHOA HỌC VÀ PHẬT PHÁP

Trên Duy Lực Thiền đã có nhiều bài nói về Khoa học và Phật pháp, nhưng bây giờ lại nói thêm vì tôi nhận thấy có những khía cạnh còn chưa nói hết, chưa nói đầy đủ, nhiều người vẫn còn mơ hồ cảm thấy dường như Khoa học và Phật pháp là hai cái khác nhau. Thậm chí có người nói rằng : “Mọi người xin hãy mau tấn tu, khoa học kỹ thuật và vật chất không thể cứu nổi chúng ta trong khi thế cuộc suy đồi, ngày trả nghiệp của toàn nhân loại đã đến. Ai theo công giáo xin nguyện chúa, ai theo Phật giáo xin thiền định, niệm Phật. Ai thuộc tôn giáo nào xin hãy thành khẩn trì niệm thánh hiệu của các vị giáo chủ tôn giáo đó. Xin mọi người lưu tâm ạ”.

Khoa học và Phật pháp giống nhau hay khác nhau ?

Khi nói như lời trích dẫn là ngụ ý rằng Khoa học Kỹ thuật là có giới hạn và không thể cứu nổi nhân loại. Điều đó không sai, khoa học kỹ thuật hiện nay của nhân loại còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn công nghiệp hóa của thế giới phá rừng, xây đập thủy điện trên các con sông làm ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên, tạo ra nhiều khí thải, chất thải, làm ô nhiễm môi trường, gây ra hiệu ứng nhà kính, tăng nhiệt độ của địa cầu khiến băng sơn ở hai cực tan chảy, nước biển dâng lên có thể xóa sổ một số đồng bằng ven biển. Sự tàn phá môi trường còn có thể gây ra bệnh dịch nguy hiểm, chẳng hạn bệnh Covid-19 đang hoành hành thế giới hiện nay.

Nhưng cầu nguyện, niệm Phật, niệm danh hiệu của các bậc giáo chủ tôn giáo thì có cứu nổi thế giới hay không ? Niềm tin này cũng có cơ sở bởi vì nguyên lý của Phật pháp là Nhất thiết duy tâm tạo, nhưng để cứu thế giới thì niềm tin này không có hiệu lực quyết định, mà tác nhân quyết định là luật nhân quả. Cảnh khổ vì bệnh tật hiện nay là do cộng nghiệp của nhân loại. Mỗi năm con người đã tàn sát, đã ăn thịt hàng triệu tấn thủy hải sản, đã giết và ăn thịt hàng triệu con bò, hàng trăm triệu con heo, hàng tỷ con gà vịt và gia súc gia cầm khác. Đó là loài người vay sinh mạng của muôn loài để đáp ứng nhu cầu của con người. Có vay thì có trả, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh nhân họa, không ngừng giáng xuống đầu nhân loại, đó là sự hiện hành của ác nghiệp. Cầu nguyện hay niệm danh hiệu của Phật, Chúa cũng không thể cứu nổi con người. Nếu cầu nguyện mà cứu được, hóa ra luật nhân quả không có tác dụng sao ? Tâm hay Trời đã tạo ra con virus SARS-CoV-2 để tạo ra câu chuyện trả nghiệp cho nhân loại. Nghiệp báo này xảy ra một cách tự động theo quy tắc phản lực. Khi con người tạo ra một nghiệp lực ác thì cái nghiệp lực đó tác động ngược trở lại con người ngay tức thời. Nhưng con người có những tập quán (thói quen) sai lầm về không gian thời gian và số lượng. Chính cái thói quen vọng niệm sai lầm đó tạo ra hiệu ứng không gian, thời gian và số lượng. Nghĩa là sao ? Bản chất không có thật của không gian và thời gian, của các cảnh giới và diễn tiến được Kinh Kim Cang mô tả : quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc

Nghĩa là không gian và thời gian là vọng niệm của con người tạo ra chứ không phải có thật. Nghĩa là  con người tạo nghiệp ở một cảnh giới không gian và thời gian này nhưng nghiệp báo lại xảy ra ở một cảnh giới không gian và thời gian khác khiến con người không nhận ra được mối liên hệ giữa hai cảnh giới khiến cho có nhiều người không tin nhân quả bởi vì không thấy trực tiếp. Bởi vì họ không thấy rõ mối liên hệ giữa hai cảnh giới nên tưởng là không có nhân quả. Ngoài ra theo nguyên lý Bất nhị của Phật pháp, toàn thể Tam giới vũ trụ vạn vật chỉ là một Tâm thôi. Cái tâm bản nguyên đó biến hiện thành vô lượng cảnh giới và vô lượng chúng sinh. Có nghĩa là vô số chúng sinh khác nhau ở trong Tam giới trong thời gian vô thủy vô chung chỉ là một người, một tâm mà thôi (bất nhị). Tâm vốn không có số lượng nhưng biểu hiện của tâm là số lượng nhiều không kể xiết. Số lượng không có thật được thể hiện rõ ràng trong thí nghiệm khoa học do Maria Chekhova của đại học Moskva thực hiện năm 2012.

Bà cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau trong không gian và tất cả photon đều liên kết với nhau gọi là rối, vướng víu hay liên kết lượng tử (quantum entanglement). Sở dĩ chúng liên kết dính líu với nhau bởi vì tất cả chúng thực chất chỉ là một hạt photon.

Maria Chekhova của đại học Moskva (Moscow)

Khi tác động vào một photon thì cả 100.000 photon bị tác động đồng thời không mất chút thời gian nào. Điều đó chứng tỏ rằng không gian và thời gian là không có thật.

Thế nhưng trong tâm niệm của con người thì không gian thời gian, vô lượng chúng sinh là có thật, chúng hoàn toàn khác nhau, ta và chúng sinh khác không phải là một. Ta là người thì có trí thông minh, có sức mạnh, ta có quyền ăn thịt heo bò gà vịt, tôm cá và nhiều loài khác, đó là vay nợ sinh mạng và phải trả bằng sinh mạng. Nghiệp báo có thể đến nhanh hay chậm do ác nghiệp nhiều hay ít. Nếu ác nghiệp nhiều và liên tục thì nghiệp báo sẽ đến rất nhanh. Để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta có thể xem kinh điển, chẳng hạn Kinh Pháp Cú (Dhammapada hoặc Pháp Cú Thí Dụ Kinh法句譬喻经) . Còn muốn hiểu chính xác hơn chúng ta lại cần tới khoa học.

Đây là một loại khoa học ở trình độ cao nơi khái niệm phân biệt vật chất và tinh thần bị xóa nhòa. Bát Nhã Tâm Kinh nói Sắc Bất Dị Không, Ngũ Uẩn Giai Không. Nghĩa là vật chất cũng là không tức vật chất cũng là tinh thần, năm tập hợp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều là không, đều không hoàn toàn khác nhau. Vật chất và tinh thần (ý thức, tình cảm, cảm giác, tưởng tượng, chuyển động) không phải là hai thứ khác nhau (bất nhị).

Các bác sĩ có khả năng thôi miên tức tác động tới tinh thần, tâm lý của bệnh nhân khiến họ thấy lại nhiều tiền kiếp, thì sẽ thấy rõ mối liên hệ giữa nhân và quả.

Bác sĩ Brian Weiss có khả năng thôi miên để giúp bệnh nhân nhớ lại tiền kiếp, từ đó trị được những chứng bệnh khó hiểu do tác động tâm lý của quá khứ. Bác sĩ Brian Leslie Weiss sinh năm 1944, tốt nghiệp thạc sĩ Y Khoa tại đại học Yale. Ông đã từng là bác sĩ nội trú tại Trung Tâm Y Khoa Bellevue của New York University, sau đó trở thành trưởng khoa nội trú của khoa Tâm Thần tại đại học Y Khoa – Yale. Ông từng phụ trách chức vụ chủ tịch danh dự ngành Tâm Thần học tại Trung Tâm Y khoa Mount Sinai ở Miami. Ông đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng xuất bản. Ông thường tổ chức nhiều cuộc hội thảo và các chương trình đào tạo chuyên nghiệp khắp nơi trên thế giới.

Bác sĩ Brian Leslie Weiss

Kể chuyện cô Catherine thấy lại tiền kiếp qua thôi miên

Phật pháp cũng là Khoa học, Khoa học tức là Phật pháp (giống như Sắc bất dị Không) Khoa học kỹ thuật hiện nay còn hạn chế. Chẳng hạn hiện nay khoa học chưa đủ khả năng sử dụng ánh sáng mặt trời vừa làm năng lượng vừa làm nguyên liệu để in 3D ra lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người trên thế giới. Khoa học hiện nay chưa thực hiện được viễn tải lượng tử (teleportation) chuyển một người đi xa không giới hạn trong tức thời. Tuy nhiên khoa học đã thực hiện được một số việc khá thần kỳ, ví dụ gởi hình ảnh, âm thanh, video đi khắp thế giới trong tích tắc.

Chúng ta đừng nghĩ rằng những giáo lý của Đức Phật nêu ra từ hơn 2600 năm trước không phải là khoa học. Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm. Ví dụ : Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên. Đó không phải chỉ là Phật pháp mà còn là khoa học.

Ở một trình độ cao hơn nữa, trong kinh Viên Giác 圓覺經 Phật nói về vô minh của chúng sinh như sau :

Nầy Thiện-nam, tất cả chúng-sanh từ hồi nào đến giờ, bị nhiều món điên-đảo làm mê-mờ tánh “Viên-Giác”, như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Ðiên-đảo vọng-hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ-đại giả hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng-niệm sanh diệt duyên theo bóng-dáng của sáu trần cho là thật tâm mình. Như người nhặm con mắt, thấy trong hư-không có các hoa đốm, hoặc mặt trăng thứ hai. Thật ra trong hư-không chẳng có hoa đốm hay mặt trăng thứ hai, nhưng vì người nhặm con mắt thấy có hoa đốm rồi vọng-chấp có hoa đốm thật. Bởi vọng-chấp, nên chẳng những không biết được hư-không không có thật, mà lại thêm mê-lầm: Chấp thật có hoa đốm sanh. Vì mê-lầm mà có sanh-tử luân-hồi, nên gọi là “Vô-minh”.

Lời dạy này của Phật cũng hoàn toàn có cơ sở khoa học chứ không phải chỉ là giáo lý vô căn cứ. Không phải là lợi dụng thần quyền để khiến mọi người tin bừa những việc không có thật. Vậy trong lời dạy trên, cơ sở khoa học ở chỗ nào ?

Cái mà kinh Viên Giác gọi là hoa đốm trong hư không, các nhà vật lý lượng tử hiện đại gọi là các hạt cơ bản của vật chất. Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) liệt kê 17 hạt cơ bản như thế :

Mô hình chuẩn Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics).

Bảng này chưa có hạt graviton (hạt hấp dẫn) Sóng hấp dẫn đã được tìm thấy năm 2016. Có sóng thì có hạt nhưng vì con người chưa trực tiếp nhìn thấy hạt nên chưa đưa vào.

Các hạt cơ bản này bản thể là sóng vô hình, không có hình dạng, không có thật. Nhưng khi có người quan sát thì các hạt cơ bản nói trên xuất hiện. Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) đã chứng tỏ điều này. Và từ các hạt như quark up, quark down hình thành hạt proton, neutron và hạt nhân nguyên tử. Các hạt electron chạy chung quanh hạt nhân tạo thành nguyên tử. Nhiều nguyên tử tạo thành phân tử. Các nguyên tử phân tử hóa hợp với nhau một cách hữu cơ tạo thành chất sống như acid amin, glucid, lipid, protein…rồi thành sinh vật, cuối cùng thành con người với thân tứ đại vô cùng phức tạp.

Vậy cái thân tứ đại của con người hình thành do vọng tưởng giống như hoa đốm trong hư không, vốn là không có thật nhưng vì vô minh, tưởng lầm là có thật, vọng chấp là thật từ đó phát sinh ra vui thích và phiền não, hạnh phúc và đau khổ, không biết rằng tất cả đều là không hoàn toàn có thật. Cái vọng tưởng không có thật đó, kinh điển gọi là Thế lưu bố tưởng世流布想Cái thế giới vật chất chỉ là vọng tưởng mê lầm của các giác quan, của ý thức, của mạt-na thức và cái tàng thức gọi là A Lại Da thức. Do đó Phật giáo mới có Duy Thức Học để mô tả 8 thức. Duy Thức Học là Phật giáo, còn Cơ Học Lượng Tử là Khoa học, về cơ bản Phật giáo và Khoa học không có khác nhau. Nhưng khoa học thì mô tả rõ ràng chi tiết hơn. Ngoài ra Khoa học có kỹ thuật hỗ trợ. Kỹ thuật là dựa trên các định lý khoa học để chế tạo vật chất, sản xuất thật nhiều lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường sá, xe cộ, máy bay, tàu thủy… là phục vụ đời sống vật chất. Bút mực, nhạc cụ, tranh ảnh, văn hóa phẩm, âm nhạc, nghệ thuật…là phục vụ đời sống tinh thần.

Phật giáo và một số tôn giáo khác cũng có một số kỹ thuật để hỗ trợ đời sống tâm linh. Chẳng hạn những kỹ thuật như tham thiền, yoga, niệm Phật, niệm chú, tụng kinh, khí công, nhân điện…Đó là những kỹ thuật điều phục thân tâm mà nếu làm tốt cũng có thể giữ được sức khỏe, thân tâm an lạc, đi đến giác ngộ. Hoặc nếu chuyên luyện một pháp thuật gì đó thì có thể  luyện được những đặc dị công năng, chẳng hạn như Hầu Hi Quý.

Tóm lại Khoa học và Phật đều dựa trên thực tế. Thực tế đó là gì thì Phật pháp và Khoa học trình độ thấp nhận thức khác nhau. Phật pháp nói thực tế đó là thế lưu bố tưởng tức là vọng tưởng của số đông chúng sinh qua nhiều đời nhiều kiếp. Khoa học trình độ thấp nhận thức chưa tới mức tối thượng thì cho đó là thực tại khách quan, cho rằng vũ trụ vạn vật, vật chất là có thật. Còn Khoa học trình độ cao như phát biểu của Niels Bohr thì tương đồng với Phật pháp, đã nhận ra vật chất cũng không có thật, chính người quan sát làm cho sóng tiềm năng vốn vô hình vô dạng, sụp đổ thành hạt cơ bản của vật chất.

Công năng tác dụng của Phật pháp và Khoa học

Nếu chúng ta xem xét một cách công tâm thì những kỹ thuật của các tôn giáo thuộc về công phu tập luyện của cá nhân hành giả, ai thực hành cái gì thì kết quả chỉ đến cho riêng mình người đó chứ nó không có tác dụng phổ biến cho số đông. Một người tu hành giác ngộ thì chỉ một mình người đó đạt được sinh tử tự do, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứ cũng chẳng có cách nào làm cho người khác giác ngộ. Ai muốn giác ngộ thì phải tự mình tu tập. Vì thế kết quả của sự tu tập đó thì không thể so sánh được với các kỹ thuật của khoa học. Thực tế xã hội thể hiện rất rõ ràng. Ví dụ :

-Kỹ thuật máy hơi nước của James Watt đã đưa đến cách mạng công nghiệp của xã hội, cách mạng giao thông vận tải với xe hơi, tàu thủy, xe lửa. Nhờ có động cơ hơi nước nên năm 1785, mục sư Edmund Cartwright đã phát minh ra máy dệt vải chạy bằng hơi nước. Năm 1791, Cartwright xây dựng một nhà máy dệt đầu tiên của nước Anh và ngành dệt của Anh đã có bước nhảy vọt từ phương thức thủ công sang sản xuất đại công nghiệp. Từ đó có thể cung cấp vải vóc may quần áo cho cả thế giới, điều mà các nhà yoga hay thiền định không thể làm được.

-Kỹ thuật dây chuyền sản xuất của Henry Ford đã đưa đến sự phát triển của xe hơi. Nó làm thay đổi cách thức di chuyển của con người.

-Kỹ thuật máy bay của hai anh em người Mỹ gồm Orville Wright ( 1871-1948) và Wilbur Wright (1867 – 1912), là những người đầu tiên chế tạo thành công chiếc máy bay từ đó nâng khả năng đi xa nhanh chóng của con người. Ngày xưa con người chỉ có thể đi bộ, đi xe ngựa hay đi thuyền buồm. Sau khi khoa học kỹ thuật phát triển, con người có thể đi xa bằng xe máy, xe hơi, xe lửa, máy bay, nhanh chóng  hơn rất nhiều.

-Sau đó là sự phát minh vĩ đại về cơ học lượng tử : Khoa học ứng dụng được tánh không của vũ trụ vạn vật. Không gian thời gian không có thật, số lượng không có thật đã được ứng dụng trong tin học hiện đại. Computer, laptop, điện thoại thông minh (smartphone) đã giúp cho tất cả mọi người trên thế giới có thể nhìn thấy nhau, nghe thấy nhau không còn tùy thuộc vào vị trí của họ đang ở đâu, vào bất cứ lúc nào, chỉ cần họ kết nối với nhau. Chính là họ đã ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) để thực hiện hiệu ứng đó. Một bậc kiến tánh giác ngộ có thần thông cũng có thể làm được điều đó mà không cần thiết bị, nhưng cả thế giới chỉ vài người làm được. Còn với kỹ thuật của chiếc smartphone thì bất cứ ai cũng có thể làm được. Cơ học lượng tử còn có thể tiến xa hơn nữa, phần sau tôi sẽ đề cập.

Nhân dịp nhận giải thưởng Nobel ngày 11 tháng 12 năm 1933, Werner Heisenberg (1901-1976) đã đọc một bài giảng, tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của cơ học lượng tử. Năm 1900, khi Planck phát hiện ra hiện tượng gián đoạn trong các quá trình quang học, điều chưa từng được biết đến trong vật lý cổ điển. Chỉ một vài năm sau, Einstein đã diễn tả chính xác hiện tượng này trong giả thuyết của ông về các lượng tử ánh sáng, sau đó ông có một phát minh về quang điện. Lý thuyết lượng tử tiếp tục tiến thêm một bước nữa khi được diễn tả một cách hệ thống trong các định đề cơ bản của Niels Bohr. Nhận thức của Bohr là một cuộc cách mạng triệt để nhất về mặt nhận thức khoa học, đưa khoa học đến rất gần với Phật giáo khi ông nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật).

Nếu các hạt cơ bản của vật chất không phải là vật thật, không có thật, vậy thì nó tương đồng với hoa đốm trong hư không của kinh Viên Giác, vô hình trung Bohr đã xác nhận tánh không của Phật pháp.

Rồi đến cuộc tranh luận thế kỷ giữa Bohr và Einstein. Heisenberg đã qua đời năm 1976 không còn sống đến năm 1982 để chứng kiến sự ngã ngũ kết thúc của cuộc tranh luận của hai nhà khoa học hàng đầu thế giới với phần thắng nghiêng về Bohr.

Cơ học lượng tử đã toàn thắng với 3 kết luận hết sức quan trọng :

1/Hạt cơ bản hay vật không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian (space-time) không có thật (non locality= vô sở trụ 無所住)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Đa số các nhà khoa học hiện nay vẫn còn mơ hồ không hiểu rõ 3 kết luận quan trọng này vì họ vẫn tin tưởng vào Einstein, tin rằng vật chất là sự thật khách quan. Vì vậy họ không thật sự hiểu cơ học lượng tử. Chính vì lẽ đó mà Niels Bohr đã phát biểu :

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Chính vì thế giới hiện nay vẫn còn rất nhiều các nhà khoa học mê muội không biết mình đang sống trong điên đảo mộng tưởng và đang tàn phá môi sinh, môi trường Trái đất, chạy theo các kỹ thuật công nghiệp hóa đầy ô nhiễm nên mới có người nói “Mọi người xin hãy mau tấn tu, khoa học kỹ thuật và vật chất không thể cứu nổi chúng ta trong khi thế cuộc suy đồi, ngày trả nghiệp của toàn nhân loại đã đến”

Thực tế là trong thế kỷ 21 này, giữa khoa học trình độ cao (cơ học lượng tử) và Phật pháp đã có tiếng nói chung, đừng vì một số đông nhà khoa học trình độ thấp, mê muội, sai lầm mà cho rằng khoa học kỹ thuật không thể cứu nổi nhân loại. Các nhà khoa học tỉnh táo của thế kỷ 21, chẳng hạn các nhà khoa học được nêu tên dưới đây :

Giới thiệu một số nhà vật lý lượng tử hiện đại

Những khoa học gia này đã phần nào hiểu được tánh không của vũ trụ vạn vật. Khoa học và Phật pháp bây giờ đi chung một con đường chứ không phải đường ai nấy đi. Các nhà khoa học ngày càng hiểu rõ Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)cái không sinh không diệt, ngã và pháp đều là không mà họ gọi tên khác là Trường thống nhất.

Điều mà mọi người cần làm hiện nay là giới khoa học và giới tu hành nên hiểu biết lẫn nhau. Các nhà khoa học cũng nên hiểu biết về Phật pháp, chẳng hạn Vô sinh pháp nhẫn, Nhất thiết pháp vô tự tính, Nhất thiết duy tâm tạo, Ngũ uẩn giai không.

Các nhà tu hành cũng cần hiểu một cách rõ ràng cơ bản về những phát kiến và phát minh khoa học ít nhất là từ đầu thế kỷ 20 đến nay, ví dụ nguyên tử, phân tử, các hạt cơ bản của vật chất, các thí nghiệm khoa học cực kỳ quan trọng như thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment), thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement), sinh sản vô tính (thí nghiệm về con cừu Dolly (1996-2003) được nhân bản vô tính lần đầu tiên năm 1996 và sống được 7 năm). Một số nguyên lý, định lý khoa học quan trọng : nguyên lý bất định (uncertainty principle) của Heisenberg, nguyên lý thay thế trong tin học, định lý bất toàn (theorem of Incompleteness) của Gödel…

Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) là bằng chứng về việc không có số lượng trong phạm trù hạt cơ bản. Sự nhân bản vô tính con cừu Dolly là bằng chứng về không có số lượng trong đời sống thực tế, một con người như anh A nếu nhân bản vô tính thì sẽ có vô số anh A giống hệt nhau.  

Sự khác nhau giữa Phật pháp và Khoa học chỉ là sự thực hành khác nhau, kỹ thuật và phương tiện khác nhau chứ về nhận thức thì ngày càng thống nhất, ngày càng có tiếng nói chung.

Cơ học lượng tử đã phát triển đưa đến những ứng dụng vô cùng tinh vi và kỳ diệu hiện nay. Tánh không (không có không gian và thời gian, không có số lượng) đã được ứng dụng trong đời sống hàng ngày bằng những phương tiện như máy vi tính (computer) laptop, smartphone, mạng Internet, mạng điện thoại viễn thông, mạng 3G, 4G, 5G…

Bây giờ ai cũng có thể thấy xa ngàn dặm, nghe xa ngàn dặm. Hai người ở bất cứ góc bể chân trời nào trên thế giới cũng có thể nhìn thấy nhau, nghe thấy tiếng nói của nhau, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Một tấm ảnh thì không có số lượng vì nó có thể được copy ra muốn bao nhiêu cũng có. Một con người cũng có thể nhân bản vô tính thành vô số bản sao.

Liệu khoa học còn có thể tiến xa hơn không ? Chẳng hạn viễn tải lượng tử (teleportation) gởi một cố thể vật chất chẳng hạn một cái bánh, một hộp cơm, một ly bia, thậm chí là một con người, đi xa qua mạng internet ?

Về lý thuyết thì chẳng có lý do gì là không được. Bởi vì các nhà khoa học hiện đại đã nhận ra rằng vũ trụ cũng là thông tin, là con số (digital). Vật chất cũng là thông tin, chẳng qua là số bit thông tin của nó cực lớn. Kỹ thuật hiện nay chỉ mới gởi được một hạt cơ bản như photon, electron đi xa. Ví dụ vệ tinh lượng tử Mặc Tử của TQ có thể gởi những hạt photon hoặc electron đi xa 1200 km (thí nghiệm năm 2017). Nhưng từ cơ bản này người ta sẽ tiến tới gởi một nguyên tử rồi một phân tử, một cố thể vật chất rồi một con người. Qua nghiên cứu lâu dài con người có khả năng làm được.

Vậy còn trong lĩnh vực sản xuất và đời sống, khoa học lượng tử còn có thể tiến tới đâu ?

Khi con người đã nhận thức và chuyển đổi qua lại được giữa vật chất và thông tin thì người ta sẽ kết thúc thời đại công nghiệp hóa đầy ô nhiễm để chuyển qua thời đại tin học hóa sạch sẽ hơn và không còn chất thải. Người ta sẽ không còn khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, quặng mỏ sắt đồng chì kẽm, than đá. Không cần xây đập thủy điện, không còn cần tới nhà máy điện nguyên tử, không cần trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt hải sản, không cần phải giết hại sinh vật để ăn thịt chúng tạo nhiều ác nghiệp . Đơn giản là người ta chỉ cần khai thác nguồn ánh sáng mặt trời vô tận, sử dụng nó như là nguồn năng lượng và nguồn nguyên liệu để sản xuất ra lương thực thực phẩm, tất cả mọi thứ hàng tiêu dùng. Cần bao nhiêu đều có thể sản xuất bấy nhiêu, đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người trên Trái đất. Từ đó con người mới thôi tranh giành tài nguyên biển đảo với nhau nữa.

Hiện nay công nghệ in 3D đã bắt đầu phát triển. Công  nghệ in 3D hiện nay còn khá thô sơ, nhiều hạn chế, bởi vì ngay cả ý niệm tương quan giữa vật chất và thông tin trong đầu các nhà sáng chế vẫn còn mơ hồ, chưa rõ ràng. Cần phải có một nhà thiên tài khoa học nào đó nêu ra được một công thức biến đổi giữa vật chất và thông tin, tương tự như công thức biến đổi giữa vật chất và năng lượng do Einstein nêu ra vào năm 1905 : E = mc2  Từ đó sẽ dẫn tới cuộc cách mạng tin học. Đó sẽ là cuộc cách mạng vĩ đại nhất mà nhân loại từ xưa tới nay chưa hề biết tới.

Kết luận

Phật giáo và Khoa học xuất phát từ hai phạm trù khác nhau. Phật giáo là phạm trù tâm linh triết học được lập ra nhằm mục đích giải quyết vấn đề đau khổ của con người. Như Tam pháp ấn 三法印 (Sanskrit, sa: trilakṣaṇa) của Phật pháp đề cập. Tam pháp ấn bao gồm  Vô thường (anicca), Khổ (dukkha), Vô ngã (anātman). Ý nghĩa cơ bản của tam pháp ấn là vì các pháp là vô thường nên chúng sinh khổ (ví dụ đang hạnh phúc ngồi máy đi du lịch, bỗng nhiên máy bay rớt, chết, khổ) muốn giải thoát đau khổ phải chứng ngộ vô ngã. Ví dụ đời người thì vô thường, sinh lão bệnh tử là khổ. Chứng ngộ vô ngã, ta không có thật thì không có ai là người phải chịu đau khổ cả. Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)còn đưa nhận thức lên cao hơn một bậc, pháp cũng không có thật, ngã cũng không có thật nên khổ chỉ là vọng tưởng mê muội. Thế nên Bát Nhã Tâm Kinh nói : Vô Khổ Tập Diệt Đạo. Vô Lão Tử Diệc Vô Lão Tử Tận (Tứ diệu đế : Khổ Tập Diệt Đạo đều không có thật. Không có Sinh Lão Bệnh Tử, già chết là không có thật mà cũng sẽ không bao giờ hết Sinh Lão Bệnh Tử, hết già chết).

Ở đây xin nói thêm một chút về việc Tái Sinh Luân Hồi Nhân Quả. Nhiều người vẫn còn lầm tưởng là có linh hồn (tức có ngã) và chính cái linh hồn này tái sinh (luân hồi) qua vô số kiếp, tùy theo nhân thiện hay ác trong quá khứ mà quả tốt hay xấu. Phật giáo hay Tổ Sư Thiền không dùng từ ngữ linh hồn, chỉ có dân gian dùng từ ngữ này, Phật giáo dùng từ thần thức (神識thần thức thì vô ngã). Chính cái thức này, đó là một tập hợp các thông tin mà Duy Thức Học gọi là Mạt-na thức, nó bao gồm cả Ý thức và tiền ngũ thức. Trải qua vô lượng kiếp vô lượng cảnh giới, nó trở thành Tàng thức tức là A Lại Da thức. Mạt-na thức giống như một ổ đĩa cứng chứa thông tin. Vô lượng chúng sinh giống như vô số ổ đĩa cứng không có cái gì là ngã cả, chỉ có thông tin là thức mà thôi. Và vô số thức hay thông tin đó họp lại thành cái gọi là Internet cũng giống như vô số Mạt-na thức họp lại thành A Lại Da thức.

Thông tin trong A Lại Da thức là vô phân biệt, tức là không có phân biệt tốt xấu, thiện ác, chưa phân biệt nhị nguyên (vô tự tính). Tùy theo nghiệp hay thói quen, tập khí của Mạt-na mà thông tin đó hiện hành thành tốt hay xấu, thiện hay ác, thành các cảnh giới, thành các loại pháp đủ thứ. Thần thức chỉ là tập hợp thông tin hoàn toàn giống như thông tin chứa trên internet và trong các ổ đĩa cứng chỉ là những con số dưới dạng nhị phân, hoàn toàn không có đặc điểm đặc tính gì cả. Những gì ta thấy và nghe trên máy vi tính hay trên điện thoại di động như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video là do sự thay thế. Con chip vi xử lý (processor) nó sẽ thay thế cực kỳ nhanh những con số vô nghĩa đó bằng những đặc điểm đặc tính do người ta qui ước. Qua quá trình thay thế đó thì thông tin chúng ta nhận thấy trên màn hình hay nghe qua loa mới có sự phân biệt thành văn bản, hình ảnh, âm thanh, video.

Khoa học là phạm trù nhận thức thế giới chung quanh con người. Ban đầu nó mang tính triết học gần giống như bên tôn giáo, chẳng hạn từ đâu mà có Trời Đất và con người và các sinh vật khác, từ đâu mà có vũ trụ vạn vật, thiên hà, tinh tú, mặt trời, mặt trăng.

Nhưng rồi Khoa học và Phật pháp đi theo hai con đường khác nhau, phương pháp khác nhau. Phật giáo dùng phương pháp tư duy, thiền định, chứng ngộ bằng trực giác. Còn Khoa học dùng phương pháp phân tích thực nghiệm, lý luận. Tri kiến khoa học chi tiết, tỉ mỉ hơn Phật pháp rất nhiều, phát minh kỹ thuật thì nhiều hơn hẳn. Chính vì vậy Khoa học có sức mạnh thực tế trong xã hội lớn hơn Phật pháp mặc dù về mặt tri kiến tổng quát Khoa học không bằng Phật pháp. Tại sao nói về mặt tổng quát Khoa học không bằng Phật pháp ? Phật pháp đã nhận thức tánh không, vô thường, vô ngã, không gian thời gian, số lượng không có thật, nhất thiết pháp vô tự tính, nhất thiết duy tâm tạo, từ thời Đức Phật cách nay 2600 năm. Thế mà cho tới tận bây giờ Khoa học vẫn còn mơ hồ về những vấn đề này. Do đó Phật giáo có khả năng hướng dẫn cho khoa học.

Tuy vậy Khoa học cũng có cái hay mà Phật giáo không làm được, đó là cải thiện đời sống vật chất của con người trong xã hội.

Bằng chứng là nước Thiên Trúc (tức Ấn Độ ngày nay) qua 28 đời Tổ Sư giác ngộ giáo hóa, xã hội vẫn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân vẫn cùng khổ, phân biệt giai cấp vẫn hết sức nặng nề cho tới tận ngày nay. Cho tới tận bây giờ xã hội Ấn Độ vẫn còn rất nghèo nàn, cùng khổ, tệ nạn xã hội vẫn đầy dẫy. Dân Ấn Độ là những người có niềm tin tôn giáo, tin tưởng thần linh, cầu khấn bậc nhất trên thế giới. Vậy tại sao xã hội chậm tiến đời sống nhân dân chậm cải thiện ? Chính vì khoa học kỹ thuật chậm phát triển, dân chúng tin tưởng thần linh một cách mê muội. Từ chỗ không hiểu khoa học, niềm tin tôn giáo của người dân Ấn Độ mang tính cách thần quyền. Sự tệ hại gấp bội so với những quốc gia khoa học phát triển như Mỹ, Tây Âu. Tại sao ? Bởi vì dân chúng vừa không hiểu khoa học vừa không hiểu tôn giáo. Dân Ấn Độ đã từ bỏ Phật giáo vì không hiểu Phật pháp. Họ cũng không hiểu khoa học nên cứ mãi chìm đắm trong niềm tin thần quyền đầy sai lầm. Chính vì dân Ấn Độ đã hết duyên với Phật giáo, mà vị Tổ thứ 28 của Thiền Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma đã phải rời bỏ quê hương Ấn Độ để sang TQ truyền đạo.

Nhưng ngày nay Phật giáo và Khoa học đã tìm thấy tiếng nói chung, thống nhất nhận thức, tuy nhiên số lượng nhà khoa học hiểu Phật pháp vẫn còn quá ít, đó chính là điều mà người ta cho rằng khoa học còn nhiều hạn chế. Còn về mặt thực hành, những phương pháp tư duy, thiền định, chứng ngộ trực giác của Phật giáo vẫn có tác dụng tốt đưa tới giác ngộ, thấu hiểu thực tại. Còn phương pháp lý luận phân tích tỉ mỉ của khoa học kỹ thuật thì có ứng dụng rộng lớn trong đời thường, cải thiện được đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần của đại đa số quần chúng.

Quần chúng tuy họ không hiểu gì về tánh không nhưng họ vẫn có thể sử dụng smartphone để đạt hiệu ứng của tánh không là thấy xa ngàn dặm, nghe xa ngàn dặm và trong tương lai còn có thể đi xa ngàn dặm chỉ trong tích tắc.

Từ những ứng dụng này, liệu có thể giáo dục cho họ hiểu rõ, có cơ sở để tin vô sinh pháp nhẫn (ngã và pháp đều là không) từ đó mà phá ngã chấp, phá pháp chấp, giải trừ lòng tham lam ích kỷ, sống hài hòa hơn, tốt đẹp hơn, không còn đặt nặng vấn đề tranh đoạt giữa ta và người khác, từ đó thế giới mới có hy vọng hòa bình và no ấm cho tất cả mọi người. Đó phải chăng là giáo dục cho người dân đi theo con đường khoa học nhưng cuối cùng cũng đạt được mục đích của tôn giáo là giác ngộ giải thoát.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to LẠI NÓI VỀ KHOA HỌC VÀ PHẬT PHÁP

  1. Phạm Kiên nói:

    Con cám ơn thầy! Năm nay con đã ngoài 42t rồi mới có duyên được đọc những bài viết này khai sáng thêm nhiều điểm, nhiều điều mới mẻ để nhìn nhận chân thực hơn cs của bản thân, của thế giới xung quanh mình… con Kính chúc các thầy luôn mạnh khoẻ, an lạc! Nam mô A Di Đà Phật!

  2. nghi thanh nói:

    + Mạt na thức(thức thứ 7) giống với RAM máy tính hơn, còn A lại da thức giống với cơ sở dữ liệu của ứng dụng hoặc ổ cứng của máy tính. Dù sao thì mấy cái so sánh này cũng khập khiễn, như mèo 3 chân.
    + Toàn thể Chân Như do động mà biến thành A lại da thức. Cái niệm vọng động không ngừng nghỉ như dòng thác nước từ thời vô thủy đến nay, gượng ép cho nó một cái tên là mạt na thức. Mạt na thức là tư lương, năng biến nương nơi thức A lại da(sở biến) để chấp giữ tướng phần của A lại da thức, tức chấp vào trần cảnh. Thức thứ 6 nương nơi thức thứ 7 mà khởi lên phân biệt trần cảnh(tướng phần của A lại da thức). 5 thức trước chỉ có công năng chiếu soi, duyên lự với trần cảnh.
    + Tướng phần của A lại da, tức là trần cảnh bao gồm sông, núi, đất đai, mặt trăng, mặt trời, thân thể của chúng ta… nói tóm lại là thế giới vật chất là do thức biến hiện(phần sở biến của A lại da thức).
    + Các nhà vật lý học khi tìm hiểu sâu về vật chất từ phân tử, nguyên tử, proton, electron… nhỏ hơn nữa là các hạt quark, nhỏ hơn nữa là các dây rung động mang năng lượng(lý thuyết dây), và sâu hơn nữa thì chẳng có gì cả(nó chỉ là một thứ sóng của tinhh thần, sóng tư tưởng) – ở dạng ẩn và có tiềm năng hiện hữu. Cho nên vũ trụ này theo họ chẳng có gì là vật chất cả( vũ trụ tư duy). Và cái thứ không hình, không tướng thuộc thể của tinh thần ấy, thì làm sao có thể là đối tượng để nghiên cứu, mò mẫm tiếp được nên họ rơi cùng đường, bế tắc.
    + Nói khoa học chơi cho vui thôi, dùng khoa học để được giác ngộ như nấu cát mà muốn thành cơm. Nếu dùng tâm sanh diệt để suy tư nghiên cứu mà được thì mấy ông nhà khoa học thành Phật luôn rồi.😀
    + Cảnh giới vật chất là tướng phần( sở biến của A lại da) cái này phụ thuộc vào nhiều thứ(Đức Thế Tôn có nói chi tiết trong kinh Lăng Già). Chúng ta thường chỉ biết là do nghiệp lực chi phối thôi. Ví dụ như vì do nghiệp mà con người thấy là sông, ngạ quỷ thấy là máu.
    + Còn nói về nghiệp không đơn giản như chúng ta nghĩ đâu 😀 có khởi tâm động niệm là có tạo tác, có tạo tác tức đã gieo nghiệp rồi. Chớ không phải đợi đánh, mắng… ra hình, ra dáng mới cho là tạo nghiệp. Mỗi ngày chúng ta khởi tâm, động niệm hàng triệu, hàng tỷ lần mà không hề hay biết. Đức Hùynh Giáo chủ Phật Giáo Hoà Hảo nói rất hay: ” thật tu thì được thảnh thơi, tu giả dối thì lao, thì lý”. Hoặc trong kinh Địa Tạng: “Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm đều là tạo tác, khởi tâm động niệm đều là Tam Ác Đạo”.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s