Ý NGHĨA CỦA CHỮ THỜI 時

Chữ Thời 時 thông thường có hai nghĩa cơ bản là: thời gian 時间 và thời cơ 時机 . Thời gian là một đại  lượng cơ bản của vũ trụ vạn vật mà theo nhà khoa học trứ danh Einstein, nó gắn liền với không gian không thể tách rời, gọi chung là thời không hay không-thời gian (space-time). Thời cơ là khoảng thời gian thuận lợi để làm một công việc gì đó. Chẳng hạn thời cơ đối với nước Việt Nam hiện nay là hội nhập với thế giới, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật để tiến lên một cường quốc hạng trung trên thế giới. Tại sao bây giờ là thời cơ thuận lợi đối với VN ? Bởi vì VN ổn định về chính trị, đất nước thanh bình không có chiến tranh. VN là một quốc gia chống đại dịch Covid-19 rất tốt nên nhiều nhà đầu tư đang hướng về đất nước này trong khi nhiều nước khác còn đang vật lộn chống dịch. Qui mô dân số của VN đã lên tới gần 100 triệu, lớn hơn dân số của các cường quốc Tây Âu như Đức, Anh, Pháp, Ý và đang ở thời kỳ vàng trong cơ cấu dân số. Tốc độ phát triển kinh tế của VN năm 2019 là 7,02% thuộc loại cao nhất trên thế giới. Chính vì có nhiều điều kiện thuận lợi như vậy nên mới gọi là có thời cơ.

VN trong bản đồ cường quốc, sách của Hamada Kazuyuki

Ý nghĩa thâm sâu của thời gian   

Ý nghĩa cơ bản của thời gian thì ai cũng hiểu. Một đứa trẻ sinh ra nuôi 6 năm được 6 tuổi thì vào học lớp một. Đi học 12 năm thì nó tốt nghiệp Phổ thông trung học. Học tiếp 4 năm nữa thì nó có thể tốt nghiệp đại học và ra trường đi làm việc. Thời gian tính bằng ngày, tháng, năm thì ai cũng hiểu nên không ai thắc mắc thời gian là gì. Tuy nhiên bản chất của thời gian là gì thì khó hiểu hơn rất nhiều. Chẳng hạn nhà khoa học trứ danh Einstein nói thời gian là tương đối. Chẳng hạn trong Thuyết tương đối hẹp (Special relativity) Einstein nói rằng thời gian không phải bất biến mà có thể kéo dài ra hoặc co rút lại.

Một thí nghiệm do nhà vật lý Joseph C. Hafele và phi hành gia Richard E. Keating thực hiện năm 1971 như sau :

“Tháng 10 năm 1971, 4 chiếc đồng hồ nguyên tử Cesium được đặt trên 2 chuyến bay vòng quanh thế giới, một chuyến đi về hướng Đông, một chuyến đi về hướng Tây, để thử nghiệm thuyết tương đối của Einstein với đồng hồ nguyên tử là loại đồng hồ cực kỳ chính xác. Theo giả thuyết, khi so sánh với đồng hồ đối chiếu đặt tại đài quan sát Hải quân, chiếc đồng hồ đi về hướng Đông sẽ có thời gian co rút là 40 ± 23 phần tỷ giây, và thời gian giãn nở ở chiếc đồng hồ đi về hướng Tây là 275 ± 21 phần tỷ giây. Kết quả thực tế, thời gian co rút là 59 ± 10 phần tỷ giây, còn thời gian giãn nở là 273 ± 7 phần tỷ giây, với sai số nằm trong khoảng chấp nhận được.”

Chiếc đồng hồ sử dụng trong thí nghiệm Hafele-Kieting

Đến nay, thí nghiệm Hafele-Keating đã được thực hiện lại bằng các phương tiện hiện đại và chính xác hơn. Các nhà vật lý học, từ năm 1970, cũng dần đi đến đồng thuận rằng, tác động của lực hấp dẫn, và của động lực học lên thời gian hoàn toàn có cơ sở, từ đó bác bỏ được những lời chỉ trích đối với thí nghiệm này trước đây.

Như vậy Einstein đã đưa ra khái niệm là thời gian không phải bất biến mà có thể thay đổi. Sự thay đổi đó tùy thuộc vào vận tốc. Vận tốc càng nhanh, càng gần với với vận tốc ánh sáng thì sự thay đổi càng lớn.

Nhà khoa học Paul Langevin (1872-1946) đã đưa ra câu chuyện giả tưởng dựa trên khoa học về hai anh em song sinh. Một cặp song sinh có người anh là nhà du hành vũ trụ, còn người em sống và làm việc trên Trái Đất. Khi người anh du hành không gian với vận tốc gần vận tốc ánh sáng rồi trở về, nếu theo dõi từ góc nhìn của Trái Đất, chuyến đi sẽ mất tới hàng chục ngàn năm. Nhưng vì chuyển động của người anh có tính tương đối cao so với Trái Đất, người anh sẽ già đi với tốc độ chậm hơn người em song sinh bằng tuổi mình. Khi trở về sau chuyến hành trình, người anh chỉ già đi vài tuổi, nhưng người em đã qua đời từ rất lâu rồi vì hàng vạn năm đã trôi qua. Giả thuyết này làm chúng ta nhớ lại câu chuyện cổ về Lưu Thần và Nguyễn Triệu du thiên thai 劉晨阮肇遊天台.Truyện kể rằng : Đời nhà Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu, nhân ngày Đoan ngọ đi hái thuốc vào suối Đào Nguyên ở trong núi Thiên Thai, gặp hai nàng tiên, họ kết duyên với hai nàng ở lại Thiên Thai được nửa năm rồi về. Nhưng khi về đến nhà thì cháu bảy đời của họ đã chết hết cả rồi. Hai người tìm đường trở lại núi Thiên Thai, nhưng chỉ thấy mịt mù mây nước, mất hút nẻo quay về.

Nhưng không phải chỉ có ví dụ giả tưởng và câu chuyện xưa, ta có sự kiện thực tế: có một cá nhân đã thực sự rút ngắn được thời gian. Đó là nhà du hành vũ trụ Sergei Krikalev đã sống tổng cộng 803 ngày, 9 tiếng và 39 phút trên quỹ đạo. Trở về sau một chuyến đi dài 748 ngày trên Trạm vũ trụ Mir, Krikalev được nhận định rằng ông đã “trẻ ra” 0,02 (2%) giây so với chính Krikalev nếu như ông sống trên Trái đất. 0,02 giây là thời gian quá nhỏ dường như không có ý nghĩa thực tế, nhưng nó chứng tỏ rằng thời gian là tương đối.

Hiện tượng này đã được chứng minh bằng một vật thể du hành thời gian khác, đó là vệ tinh GPS, bay quanh Trái Đất với vận tốc 14.000km/h (3,8km/s). Mỗi ngày, đồng hồ của vệ tinh này lại nhanh hơn vài (trung bình là 3) micro giây so với đồng hồ trên Trái Đất. Đến nay GPS hoạt động được 25 năm bằng khoảng 10.000 ngày, vậy đồng hồ trên vệ tinh đã nhanh hơn đồng hồ trên Trái đất khoảng 30.000 micro giây = 3×10-2 giây  tức 3 phần trăm giây, một khoảng thời gian có ý nghĩa để một vận động viên điền kinh chạy 100m thắng đối thủ !

Tiến sĩ J. Richard Gott, nhà vật lý vũ trụ từ Đại học Princeton nói rằng có thể kết hợp vận tốc cao và trường lực hấp dẫn lớn để du hành thời gian một cách hiệu quả ngay trong Hệ Mặt Trời này. Phi hành gia chỉ cần lên sao Thủy, sống 30 năm ở đó là sẽ du hành được 22 giây, so với việc sống ở trên Trái Đất.

Theo như giáo sư Brian Greene – nhà vật lý lý thuyết tại ĐH Columbia: “Bạn có thể chế ra một con tàu, đi ra ngoài vũ trụ rồi di chuyển ở tốc độ ánh sáng, sau đó quay đầu và trở về Trái đất”.

“Tưởng tượng, bạn đi mất 6 tháng, rồi về trong  6 tháng”. Tức đi và về mất một năm.

Khi ấy, thời gian của bạn sẽ trôi nhanh hơn, trong khi những người ở Trái đất thì vẫn như cũ. Tức là bạn đã đi rất nhanh, trong khi thời gian thực vẫn chậm.

“Khi bước ra khỏi con tàu, bạn già thêm 1 tuổi, nhưng Trái đất đã đi qua rất rất nhiều năm rồi. Bạn có thể đã đi đến 10.000 năm, 100.000 năm, hoặc 1 triệu năm về phía tương lai, phụ thuộc vào tốc độ bạn di chuyển gần đạt tốc độ ánh sáng đến mức nào”. 

Trong thực tế có những sự kiện kỳ bí xuyên thời gian. Chẳng hạn :

Sự việc xảy ra vào một buổi tối giữa tháng 6/1950. Vào lúc hơn 11 giờ đêm, các hành khách trên Quảng trường Thời đại ở New York để ý thấy một người đàn ông khoảng 30 tuổi, ăn mặc theo phong cách từ cuối thế kỷ 19. Không ai biết bằng cách nào ông xuất hiện tại đây. Bản thân ông cũng có vẻ bối rối khi đứng giữa đoạn giao lộ. Sau đó, ông bất ngờ bị một chiếc taxi đâm vào và tử vong tại chỗ.

Rudolph Fentz bỗng xuất hiện ở Quảng trường Thời đại hơn nửa thế kỷ sau

Khi các quan chức khám nghiệm tử thi, họ tìm thấy trong túi của ông có nhiều vật lạ không rõ nguồn gốc. Trong đó có một tấm thẻ đồng mang tên một quán rượu – không ai biết về cái tên này, ngay cả những người lớn tuổi trong thành phố; khoảng 70 đô la loại tiền cũ; tấm danh thiếp mang tên Rudolph Fentz có địa chỉ tại đại lộ số 5 (Fifth Avenue); một lá thư từ Philadelphia gửi tới địa chỉ này có đề ngày tháng từ 6/1876. Tất cả những vật dụng này đều không hề có dấu hiệu cũ nát theo thời gian.

Một cuộc điều tra đã được tiến hành, sau đó người ta tìm được cô con dâu của Rudolph Fentz sống tại Florida. Bà kể rằng cha chồng bà đã mất tích một cách bí ẩn từ năm 1876, khi đó mới 29 tuổi. Buổi tối hôm đó, ông ra ngoài đi dạo nhưng không bao giờ quay trở về nữa. Sau khi các nhà điều tra tìm kiếm hồ sơ về người đàn ông tên là Rudolph Fentz mất tích năm 1876, họ ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi mô tả, từ tuổi tác, ngoại hình, cho đến trang phục đều trùng với người đàn ông trên Quảng trường Thời đại năm 1950.

Như vậy ông Rudolph Fentz sống tại New York đã du hành xuyên thời gian, biến mất từ 1876 và xuất hiện lại vào năm 1950.

Nói về bản chất của thời gian thì trình bày như trên vẫn chưa đầy đủ. Ở trên mới nói về tính chất tương đối của thời gian. Bản chất của thời gian còn thâm sâu hơn nữa.

Không gian, thời gian, vật chất đều không có thật

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅密多心經 Prajnaparamitahridaya Sutra) bản dịch của Huyền Trang chỉ có 260 chữ nhưng đã gói gọn ý nghĩa cốt lõi của Đạo Phật. Trong đó hiển bày Tánh Không cực kỳ cô đọng qua 4 chữ Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空 Cốt lõi của Phật giáo thực sự nằm trong 4 chữ này. Các kinh điển Phật giáo nêu ra một số tri kiến mang tính chất nguyên lý bởi vì chúng hết sức cơ bản. Chẳng hạn Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 Muốn hiểu câu này bạn tuyệt đối cần thiết phải hiểu khoa học, nếu không thì chỉ là hiểu mơ hồ, chung chung, không rõ ràng. Cũng khó trách những người không hiểu Bát Nhã Tâm Kinh, bởi vì một nhà khoa học được cho là vĩ đại nhất của thế kỷ 20 là Einstein cũng vẫn còn chưa hiểu nguyên lý này.

Nhất thiết pháp vô tự tính có ý nghĩa cốt lõi là các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark… đều không có sẵn tự tính, chúng không có sẵn đặc trưng đặc điểm gì cả. Nghĩa là chúng không có sẵn những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Einstein không tin như vậy, ông cho rằng các hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng, góc nhìn đó gọi là quan điểm duy vật khách quan (objective materialistic point of view). Einstein tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr cũng là một nhà vật lý hàng đầu thế giới. Quan điểm của Niels Bohr là hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát và đo đạc các hạt cơ bản này. Đây là cuộc tranh luận khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 và chưa phân thắng bại cho tới khi cả hai qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962).

Để giải quyết cuộc tranh luận này, John Bell (1928-1990), một nhà vật lý người Bắc Ireland đã đưa ra một bất đẳng thức mang tên ông vào năm 1964. Ông muốn giải quyết tranh cãi bằng thực nghiệm. Muốn làm được cuộc thí nghiệm thì phải chế tạo được một cỗ máy. Cỗ máy này có khả năng làm cho một hạt photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau. Người ta sẽ đo đạc và tính toán để kết luận là hiện tượng rối (hay liên kết) lượng tử có thật sự xảy ra không. Hiện tượng này tiếng Anh gọi là quantum entanglement.

Năm 1967 một nhà vật lý người Mỹ là John Clauser đã chế tạo được một cỗ máy như vậy. Cỗ máy này ngày càng hoàn thiện. Clauser vốn là người ủng hộ lập trường của Einstein nhưng kết quả làm ông thất vọng vì nó trái với quan điểm của Einstein.

Đến năm 1982 một nhà vật lý người Pháp là Alain Aspect quyết định sẽ giải quyết dứt khoát cuộc tranh luận dang dở giữa Bohr và Einstein. Ông tiến hành cuộc thí nghiệm tại Paris, dùng cỗ máy của John Clauser và áp dụng bất đẳng thức của John Bell, có sự giám sát của nhiều nhà khoa học. Những điểm chính của cuộc thí nghiệm như sau :

Cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, ví dụ vị trí A và B. Khi tác động vào A, chẳng hạn xoay hạt về phía phải thì tức thời B xoay về phía trái không mất chút thời gian nào. Sau này vào năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva có làm lại thí nghiệm, cho A và B cách xa nhau 18km, kết quả vẫn như vậy. Và gần đây năm 2017 khi TQ phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên của thế giới lên không gian, họ làm lại thí nghiệm với A và B cách xa nhau 1200km, kết quả vẫn như vậy, sự liên kết giữa hai vị trí không mất chút thời gian nào.

Năm 2012 Bà Maria Chekhova của đại học Moskva làm thí nghiệm cho một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau, tất cả các vị trí đều liên kết với nhau.

Sau thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982, người ta mới hiểu rõ quan điểm của Bohr là đúng đắn, quan điểm của Einstein là sai. Hiện tượng quantum entanglement là có thật, hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Trước đó, Bohr đã nói :  “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật) Cô lập (isolated) có nghĩa là đứng một mình không có ai quan sát, thì nó chỉ là sóng vô hình, sóng tiềm năng, khi đó hạt (particle) là trừu tượng, không có thật. Hạt cơ bản chỉ là tánh không, là sóng vô hình. Sau này tiến sĩ vật lý Amit Goswami có làm một clip ngắn nói về sự kỳ lạ của hạt electron.

Tiến sĩ Vật Lý Amit Goswami Nói Về Hạt Electron

Điều kỳ lạ của hạt electron là khi không có ai nhìn nó thì nó hiện diện ở khắp mọi nơi. Nhưng nếu có người nhìn thì nó chỉ xuất hiện ở một máy kiểm hạt Geiger duy nhất. Khoa học đã lợi dụng tính chất này của photon và electron để tạo ra sóng wifi, sóng 3G, 4G, 5G và smartphone. Thông tin khi ở dạng sóng thì nó ở khắp mọi nơi nhưng khi được chiếc smartphone thu sóng thì hạt electron sẽ xuất hiện trên màn hình của chiếc điện thoại đó. Chiếc smartphone đóng vai trò giống như người quan sát.

Hạt cơ bản chỉ xuất hiện khi có người quan sát, lúc đó sóng tiềm năng mới biến thành hạt như hạt photon, hạt electron. Khi đó, hàm sóng của hạt sẽ “sụp đổ” để cho ra các đặc trưng và mỗi đặc trưng chỉ có một giá trị duy nhất gọi là đặc trưng của hạt, ví dụ khối lượng, điện tích. Sự sụp đổ từ sóng thành hạt tiếng Anh gọi là wave function collapse (sự sụp đổ chức năng sóng). Giới khoa học không thể hiểu hiện tượng này, họ gọi đó là một bí ẩn của vật lý lượng tử. Nhưng Đức Phật từ thời xa xưa đã chứng ngộ và gọi đó là Nhất thiết duy tâm tạo一切唯心造 Tất cả mọi hiện tượng trong Tam giới đều là do tâm tạo, người quan sát chính là tâm, là bộ não người, hạt là vọng tưởng của tâm, thuật ngữ Phật giáo gọi là Thế lưu bố tưởng世流布想 Chiếc smartphone đóng vai trò giống như bộ não. Computer và smartphone chính là sự mô phỏng hoạt động của bộ não.     

Hạt cơ bản đã là hạt ảo, chỉ là tưởng tượng, kinh điển gọi là hoa đốm trong hư không, thì những cấu trúc của hạt cơ bản như nguyên tử, phân tử, vật thể, thiên thể, sinh vật, con người cũng đều là ảo, không có thực thể. Vì vậy Kinh Bát Nhã mới nói Ngũ Uẩn Giai Không (五蘊皆空All five aggregates are empty) tức Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination). Tất cả đều là không, không có thật.      

Từ thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) giới khoa học đã rút ra được 3 kết luận quan trọng cực kỳ cơ bản về thế giới :

1/Hạt cơ bản hay vật không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian (space-time) không có thật (non locality= vô sở trụ 無所住)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Như vậy các nhà khoa học lượng tử ngày nay đã hiểu rằng thời gian chẳng những khả biến mà còn là không có thật.

Từ nhận thức này cơ học lượng tử đã phát triển những công cụ tin học làm triệt tiêu khoảng cách không gian và thời gian trên địa cầu. Ví dụ hiện nay qua chiếc điện thoại thông minh chúng ta đã có thể nhìn thấy và nghe tiếng nói của người thân, bạn bè từ những nơi xa xôi trên thế giới.

Thí nghiệm liên kết lượng tử là bằng chứng về việc không có số lượng trong phạm trù hạt cơ bản. Sự nhân bản vô tính con cừu Dolly là bằng chứng về không có số lượng trong đời sống thực tế, một con người như anh A nếu nhân bản vô tính thì sẽ có vô số anh A giống hệt nhau.  

Tất cả thế giới vật chất và tinh thần đều là ảo hóa, không có gì là thật cả (Ngũ uẩn giai không)

Kinh Kim Cang nói :

一 切 有 爲 法 Nhất thiết hữu vi pháp,      Tất cả pháp hữu vi

如 夢 幻 泡 影 Như mộng huyễn bào ảnh  Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

如 露 亦 如 電 Như lộ diệc như điện,         Như sương, như điện chớp,

應 作 如 是 觀 Ưng tác như thị quán.         Hãy quán chiếu như thế.

Phần trên chúng ta đã nói vật chất chỉ là ảo, là tánh không, không có thực thể mà Phật giáo đã nhận thức từ xa xưa và khoa học đã chứng tỏ. Còn về phương diện thực nghiệm người thật việc thật thì có ai làm được không ? Xin thưa là có. Gần như đồng thời với cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris, thì ở tại Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh, đây là một nơi trang nghiêm bậc nhất của quốc gia, một nơi TQ dùng để họp Quốc Hội.

Trước sự chứng kiến của lãnh đạo TQ và nhiều nhà khoa học, Trương Bảo Thắng, một người có đặc dị công năng bẩm sinh, sẽ làm một cuộc thí nghiệm hiếm có.

Trương Bảo Thắng (trái) Cơ Bằng Phi 姬鵬飛 (giữa) Tổng thư ký Quốc Vụ Viện và Lika Shing tỷ phú Hong Kong

Người ta đặt hai quả táo (apple) vào trong một thùng sắt và hàn kín nắp. Trương Bảo Thắng sẽ dùng ý niệm để lấy một quả táo ra khỏi thùng sắt. Và ông đã thực hiện được việc đó, cho quả táo đi ra ngoài và nằm ở một góc của khán đài.

Biểu diễn của Trương Bảo Thắng là một thực nghiệm chứng tỏ rằng cái thùng sắt cũng như quả táo chỉ là những vật ảo, ông có thể dùng ý niệm để điều khiển chúng.

Hành vi của Trương Bảo Thắng cũng là việc mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là Sự Sự Vô Ngại. Thùng sắt là một sự vật, quả táo là một sự vật. Quả táo có thể đi xuyên qua thùng sắt không hề trở ngại.

TQ là một quốc gia cộng sản chỉ tin vào chủ nghĩa duy vật. Trước việc làm “duy tâm” của Trương Bảo Thắng họ không khỏi phản đối. Nhưng sau một quá trình đấu tranh lâu dài, cuối cùng các nhà lãnh đạo và các nhà khoa học đã thừa nhận đặc dị công năng là người thật việc thật không phải mê tín, nên họ đã cho phép xuất bản chính thức quyển sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng.

Qua sự kết hợp nghiên cứu giữa Phật pháp và Khoa học chúng ta đi đến nhận thức sâu xa hơn về Thuyết tương đối của Einstein. Thời không (space-time) và cả vũ trụ vạn vật chẳng những là những sự vật khả biến mà còn là không có thật, do tâm tạo.

Kinh Kim Cang đã đưa ra một nhận thức rốt ráo về thời không chỉ là ảo tưởng :

《金剛經》“過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得”

Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc. Vì các tâm sở là không có thật nên bất khả đắc.

Ý của kinh nói rằng quá khứ, hiện tại, vị lai, đều không có thật, đều là do tâm tưởng tượng ra. Vậy bạn muốn điểm cái tâm nào ? Câu hỏi bạn muốn điểm cái tâm nào cũng có ý nói thời cơ của bạn là thế nào.

Thời cơ của bạn, người đang sống trong thế gian        

Tuy là vũ trụ vạn vật không có thật, cảnh giới thế gian chỉ là ảo hóa, chúng ta không nên chấp thật. Nhưng Phật giáo cũng không phủ nhận thế giới tương đối. Chấp Có hay chấp Không đều là biên kiến. Biên kiến đều là tà kiến không phải chánh pháp của Phật giáo. Vì vậy Long Thọ Bồ Tát mới có Trung Quán Luận để phá chấp.

Trong câu chuyện về bà già bán bánh rán liên quan đến câu: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc 過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得 thì thời cơ của sư Đức Sơn Tuyên Giám là đến tham vấn Thiền sư Long Đàm Sùng Tín để giác ngộ.

Chúng ta đang sống trên quả Địa Cầu, thời đại của con người hiện giờ là đã bước qua thập niên thứ ba của thiên niên kỷ thứ ba với đầy biến động : đại dịch Covid-19 đã làm cho cả thế giới điêu đứng, suy giảm kinh tế trầm trọng. Đến ngày cuối ngày 10-09-2020 số người nhiễm bệnh lên tới 28.312.986, số người chết là 913.077.  5 quốc gia có số ca nhiễm nhiều nhất theo thứ tự là Mỹ, Ấn Độ, Brazil, Nga, Peru.

Vậy thời cơ đối với mỗi người chúng ta là gì ? Chúng ta có thể làm gì tốt nhất trong hoàn cảnh này ?

Theo ý kiến riêng của tôi thì đây là dịp để mọi người xem xét lại tâm niệm và hành vi của mình xem có gì mê muội sai lầm không, cụ thể là hãy trả lời những câu hỏi sau :

-Mình có thật sự thấu hiểu bản chất của thế giới hay không ? Thế giới này là thật hay ảo ? Thời không (space-time) là gì, từ đâu mà có ? Đây là câu hỏi rất cơ bản thuộc phạm trù tư duy triết học hoặc thiền định, cần kết hợp với khoa học để hiểu.

-Việc cắm đầu cắm cổ theo đuổi tiền tài danh vọng hưởng thụ vật chất có tuyệt đối cần thiết hay không ? Nếu cần thiết thì bao nhiêu là đủ ? Việc ăn uống, mặc quần áo, tậu nhà ở, mua sắm vật dụng của mình có vượt quá nhu cầu cần thiết, có trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới môi trường sinh thái địa cầu hay không ? Nó có gây nghiệp sát sinh hại vật hay không ?

-Tâm niệm ưa ghét của mình có ảnh hưởng thế nào ? Ưa người này ghét người kia, thích nước này thù nước nọ ảnh hưởng thế nào tới mình và người khác tới quốc gia của mình và quốc gia khác. Có phải đó chính là mầm mống của ganh ghét, tranh giành và chiến tranh hay không ? Có phải đó là chia phe để kình chống lẫn nhau không ? Việc đó sẽ đưa tới hậu quả gì ?

Về mặt nhận thức Phật giáo giảng dạy về bất nhị, những cặp phạm trù mâu thuẫn không phải tuyệt đối khác nhau. Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc. Ta không khác Người, Người không khác Ta. Ta hại người hại vật cũng tức là hại Mình. Con virus corona SARS-CoV-2 không phải do ai khác tạo ra mà do chính Tâm của Ta tạo ra vì mê muội, vì gây nhiều nghiệp xấu, con virus xuất hiện như một nghiệp báo để trừng phạt loài người. Những người nhiễm bệnh, những người chết đi phải chăng là đang trả nghiệp của chính mình ?

Về mặt thái độ ứng xử, Phật giáo dạy từ bi. Quán vô lượng thọ kinh chép: “Tâm của chư Phật là tâm đại từ bi” (Chư Phật tâm giả, đại từ bi thị 诸佛心者大慈悲是). Từ bi của Phật pháp là Vô duyên từ, Đồng thể bi 无缘慈同体悲 Vô duyên từ là tình thương không phân biệt, không có nguyên nhân. Vì nền tảng cốt lõi của Phật giáo là Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空 nên không phân biệt, phi nhân duyên, không có nguyên nhân không có điều kiện. Ngũ uẩn chỉ là vọng tưởng không phải chân thật. Đồng thể bi là lòng thương xót bằng trí chứ không phải bằng tình. Trí nhận biết Thiên Địa Vạn Vật đồng nhất thể nên lòng thương xót cũng không phân biệt, không phân biệt Ta Người, Bạn Thù, xem tất cả đều như nhau.

Tuy nhiên trong thực tế thế gian thì tâm thức của con người là có phân biệt. Đó là một tập quán lâu đời ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức, tới mức làm sụp đổ sóng tiềm năng đồng nhất vô phân biệt thành các lượng tử cụ thể như hạt quark, hạt photon, hạt electron và các loại hạt cơ bản khác. Và các hạt này bắt đầu có đặc trưng đặc điểm của tâm niệm. Cuối cùng các hạt cơ bản mới hình thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thân tứ đại của con người. Những đặc trưng đó do tập khí (習氣 Vāsanā) tức thói quen lâu đời tạo ra. Tập khí tạo ra các quy luật vật lý tự nhiên. Cái mà con người thường mô tả bằng khái niệm khách quan chính là chủ quan tập thể của một số đông người. Cái chủ quan tập thể này thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 (Kinh Đại Bát Niết Bàn : Nhất thiết thánh nhân duy hữu thế lưu bố tưởng vô hữu trước tưởng一切聖人唯有世流布想無有著想 tất cả các bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng không có chấp trước tưởng). Kinh điển giải thích rằng thế lưu bố tưởng nghĩa là thấy trâu là trâu, thấy ngựa là ngựa. Ngày nay chúng ta có thể giải thích rõ ràng hơn : Thánh nhân cũng như tất cả mọi người đều thấy nguyên tử helium (He) có các đặc trưng như sau : Nó có 2 hạt proton mang điện tích dương, 2 hạt neutron không mang điện tích, 4 hạt này nằm trong hạt nhân của nguyên tử He. Bên ngoài có 2 hạt electron mang điện tích âm.

Thánh nhân mặc dù thấy giống như người phàm nhưng bậc thánh không chấp thật nghĩa là không cho rằng nguyên tử He là có thật, cũng như không cho rằng thân tứ đại của mình là có thật, vì vậy thánh nhân không chấp ngã, không chấp pháp. Vì vậy việc sinh tử không làm cho bậc thánh phiền não. Nhưng việc sinh tử làm cho người phàm phiền não vì họ chấp thật, sự chấp thật đó gọi là chấp trước tưởng. Có điều gì chứng tỏ cái thấy của thánh nhân là chính xác ? Một số nhà đặc dị công hiện đại như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý có thể chứng tỏ điều đó. Như phần trên đã nói. Trương Bảo Thắng có thể dùng tâm niệm để lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà nắp đã bị hàn kín. Hầu Hi Quý có thể lấy một gói thuốc lá ở cách xa chỗ ông ta đứng hàng ngàn dặm. Những hành động này chứng tỏ thùng sắt, quả táo, gói thuốc lá, khoảng cách không gian đều không phải tuyệt đối là có thật.

Thế nên Tổ Đạt Ma có hướng dẫn hành giả cách hành động phù hợp trong Đạt Ma Nhị Nhập Tứ Hành Quán「達磨入四行觀」đó là tùy duyên, chia làm 4 trường hợp.

一 報冤行 1/Báo Oan Hành (hành động khi gặp oan trái) 經曰: 逢苦不憂,何以故,識達故 Kinh nói : Phùng khổ bất ưu, hà dĩ cố, thức đạt cố. (Gặp khổ không lo, tại sao thế ? Vì hiểu rõ ngọn nguồn)

  隨緣行  2/Tùy Duyên Hành (hành động tùy duyên) 眾生無我,並緣業所轉,苦樂齊受,皆從緣生
Chúng sinh vô ngã, tịnh duyên nghiệp sở chuyển, khổ lạc tề thọ, giai tòng duyên sinh (Chúng sinh vô ngã đều do duyên nghiệp mà hình thành, khổ vui đều xem như nhau, đều là do duyên mà sinh khởi).

無所求行  3/Vô Sở Cầu Hành (hành động không có lòng mong cầu) 智者悟真,理將俗反,安心無為,形隨運轉  Trí giả ngộ chân, lý tương tục phản, an tâm vô vi, hình tùy vận chuyển (Người trí ngộ được thực tế, lý lẽ trái với thế tục, an tâm không làm theo tư dục, hình tướng tùy duyên nghiệp mà chuyển biến).

四  稱法行 4/Xứng Pháp Hành (hành động tương xứng với pháp) 性淨之理,目之為法  Tính tịnh chi lý, mục chi vô pháp (tính lý của vạn pháp là thuần nhất, vô phân biệt nên mắt (người trí) xem như không có pháp, không có vật gì cả.

Thấu suốt như vậy thì tất cả mọi người đều thoát khỏi tất cả phiền não như Bát Nhã Tâm Kinh mô tả :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Kết luận :

Chữ thời 時 mà tôi muốn đề cập trong bài viết này trích trong câu HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI 行深般若波羅蜜多時 Lúc thực hành tận cùng với trí bát nhã (thì thấy rõ ngũ uẩn giai không).

Thời cơ của mỗi người chúng ta hiện nay là gì ? Trong lúc đại dịch Covid-19 hoành hành, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, vui chơi giải trí, thể thao, du lịch, đều bị ngưng trệ, chúng ta sống giãn cách xã hội ở tại nhà, có nhiều thời giờ rảnh, hãy tham thiền quán chiếu, thấu suốt hoàn cảnh thực tế hiện nay trên thế gian để tự mình giác ngộ, thoát khỏi mọi khổ nạn. Độ nhất thiết khổ ách không phải chỉ là tìm cách thoát khỏi những khổ nạn đang hiện hành (đó là hoạt động tùy duyên, tuy duyên hành như Bồ Đề Đạt Ma đã chỉ dạy) mà quan trọng hơn là thấu hiểu tất cả khổ nạn đều chỉ là vọng tưởng, không phải có thật, nên hành giả không sợ hãi, không phiền não.

Còn hoạt động tùy duyên như đeo khẩu trang khi tới chỗ đông người, thường rửa tay bằng nước sát khuẩn…thì cứ theo hướng dẫn của nhà nước. Ai có nhiệm vụ chế tạo vaccine, thử nghiệm và sản xuất ra thật nhiều vaccine để phòng dịch cho nhân loại thì cứ làm nhiệm vụ của mình. Ai có thể làm được gì cho xã hội đỡ khổ hơn, bình an hơn, tốt đẹp hơn thì cứ tiếp tục.

Điều quan trọng mà hành giả luôn tâm niệm và thực hiện là : từ thế lưu bố tưởng không sinh ra chấp trước tưởng. Đó là trí tuệ và cái hạnh行 của thánh nhân mà các hành giả tu tập theo Phật giáo nên noi theo.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Ý NGHĨA CỦA CHỮ THỜI 時

  1. nghi thanh nói:

    Chú Truyền Bình nói rất đúng về khái niệm từ bi.
    Tâm phân biệt sanh ra thức tình(cảm xúc) nó là nhiễm ô. Tình thương mang hơi hớm của cảm xúc cho là tâm từ bi thì không có chổ đúng. Học phật đứng ở mức độ “tâm lý” thì không có gì đáng ngại. Để muốn đi sâu vào “tâm linh” (tu thiền) chẳng hạn, người nặng về mặt cảm xúc rất khó được định(không khéo còn bị tẩu hoả nhập ma).

    Sắc ấm (vọng tưởng kiên cố) — kiến trược
    Thọ ấm (vọng tưởng hư mình) — kiến trược
    Tưởng ấm (vọng tưởng dùng thông) — PHIỀN NÃO TRƯỢC
    Hành ấm (u ẩn vọng tưởng) —- chúng sanh trược
    Thức ấm (điên đảo vọng tưởng) —- MẠNG TRƯỢC
    => Ngũ ấm đều là vọng tưởng. Trong một khoảnh khắc khảy móng tay có khoảng 300 triệu niệm(từ bất động địa bồ tát trở lên) mới biết rõ được. Phàm phu chánh niệm trên niệm thô để bớt tạo nghiệp còn chưa xong 😀. Thân người khó được [như con rùa mù dưới đáy biển …]. Chẳng phải rảnh rỗi hù doạ nhau mà là sự thật, để chúng ta biết được mà thường xuyên tự cảnh giác.
    *** Vọng tưởng này chẳng bao giờ diệt trừ được nếu lục căn chưa được hỗ dụng tự tại (kinh lăng nghiêm)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s