MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CỦA PHÁP GIỚI

Hồi năm 2016 tôi đã có bài viết “5 nguyên lý cơ bản của vũ trụ vạn vật” Bây giờ đối chiếu với tiêu chuẩn mới sau đây thì chỉ có 3 cái đáng gọi là nguyên lý bao gồm : nguyên lý vô minh, nguyên lý thay thế, nguyên lý bất toàn. Còn hai cái kia là thì chỉ nên gọi là định luật thôi gồm : định luật nhân quả, định luật nhân duyên.

Trước khi đi sâu vào nội dung, tôi xin phép đưa ra định nghĩa của mình về hai thuật ngữ nguyên lý và pháp giới.

Nguyên lý là gì ? : là quy luật nền tảng, quy luật cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật. Vũ trụ vạn vật hình thành trên nền tảng các nguyên lý đó và theo một số quy luật khác nữa mà tầm quan trọng của những quy luật này thấp hơn nguyên lý. Trong khoa học người ta có thể gọi tên những quy luật thứ cấp này là định luật, định lý, quy tắc v.v…Ví dụ :

Nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heisenberg nhà vật lý người Đức đưa ra lần đầu năm 1927. Tại sao gọi nó là nguyên lý mà không gọi là định lý ? Bởi vì mức độ cơ bản của nó, nó là một định lý sơ cấp cơ bản nhất vì liên quan tới các hạt cơ bản của vật chất như electron, photon. Nguyên lý này nêu lên tính bất định của các hạt cơ bản là những hạt hình thành nên thế giới vật chất. Nguyên lý bất định nói rằng không thể đồng thời xác định vị trí và động lượng của hạt electron.  

Những quy luật thứ cấp trong vật lý thường được gọi là định luật (laws of physics). Còn những quy luật trong toán học thường được gọi là định lý (theorems of mathematics). Ví dụ :

-Định luật Archimedes nói rằng: “Một vật nhúng vào chất lỏng bị chất lỏng đẩy thẳng đứng từ dưới lên với lực có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật chiếm chỗ”. Đây chỉ là một quy luật thứ cấp nên không gọi là nguyên lý.   

-Định lý Pythagore phát biểu rằng : bình phương cạnh huyền (cạnh đối diện với góc vuông) bằng tổng bình phương của hai cạnh còn lại.   

a2 + b2 = c2  

Tôi nêu ra tiêu chuẩn mới để phân biệt đâu là nguyên lý, đâu là định luật và định lý. Xin trình bày thêm như sau :

Những quy luật nào có tác dụng trước khi các hạt cơ bản của vật chất xuất hiện, trước khi vũ trụ vạn vật hình thành mới được gọi là nguyên lý, thí dụ : nguyên lý vô minh hay còn gọi là nhất thiết pháp vô tự tính hoặc là nguyên lý bất định, chưa có phân biệt nhị nguyên. Ví dụ những quy luật sau đây có thể gọi là nguyên lý : nguyên lý vô minh, nguyên lý thay thế, nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo, nguyên lý bất toàn.

Những quy luật nào chỉ có tác dụng sau khi đã xuất hiện các hạt cơ bản của vật chất thì được gọi là định luật hoặc định lý. Vì lẽ đó, lý thuyết về nhân duyên hay nhân quả chỉ nên gọi là định luật.      

Pháp giới là gì ? : pháp (dharma) là một thuật ngữ có ý nghĩa rộng nhất, phổ quát nhất trong Phật pháp. Tất cả mọi sự vật dù vô hình (ví dụ hư không) hay hữu hình (ví dụ mặt trời, trái đất, ngọn núi, con sông, con người) đều gọi chung là pháp. Thậm chí vật không hiện hữu trên đời, không có thật như lông rùa, sừng thỏ cũng là pháp. Thất tình (mừng, giận, thương, ghét, buồn, vui, muốn), lục dục (6 ham muốn là đối tượng của lục căn : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều gọi chung là pháp. Thế giới của tất cả các pháp gọi là pháp giới. Phật giáo chia pháp giới thành 3 loại cơ bản gọi là Tam giới (Triloka) bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Dục giới là cõi giới có khối lượng (mass) thể hiện bằng trọng lượng, thí dụ một con người nặng trung bình 60kg. Năm 2012 khoa học khám phá ra hạt Higgs (Higgs boson) là loại hạt tạo ra khối lượng vật chất.  

Sắc giới là cõi giới có hình tướng nhưng không có khối lượng, trọng lượng tuy nhiên vẫn có số lượng. Thí dụ thế giới tin học, thế giới thông tin, không có trọng lượng nhưng vẫn có số lượng. Số lượng thông tin được tính bằng bit, byte và các bội số của byte như kilobyte, megabyte, gigabyte, terabyte.

Vô sắc giới là cõi giới không có hình tướng, không có khối lượng, trọng lượng, chỉ có tâm niệm. Phật pháp có đề cập tới cõi giới tên là Phi tưởng phi phi tưởng xứ là một cõi trời vô sắc. Phật giáo có câu chuyện về Uất Đầu Lam Phất (Udraka Rāmaputra郁头蓝弗) là người tu thiền định từng đến được cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhưng vì một niệm xấu đã phải tái sinh thành loài chồn phi ly ở thế gian.  

Trong pháp giới có những nguyên lý gì ?      

1/Nguyên lý bất định (Phật pháp gọi là vô minh hay nhất thiết pháp vô tự tính)

Bất định, vô minh hay vô tự tính đều mang ý nghĩa là không xác định, không rõ ràng, không có sẵn đặc trưng. Ý muốn nói trạng thái đó chưa xác định là tinh thần hay vật chất. Tinh thần là sóng là vô hình, còn vật chất là hạt là hữu hình. Người ta thường hay hiểu nhầm chữ vô minh trong Phật giáo. Vô minh không phải là suy nghĩ sai, nhận thức sai, không chánh niệm. Vô minh là trạng thái không rõ ràng, không xác định, không phải đúng cũng không phải sai, đó là trạng thái tuyệt đối (không có đối đãi), bất nhị.     

Nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heisenberg nêu ra năm 1927, thật ra buổi ban đầu khái niệm chưa đầy đủ do trình độ khoa học của nhân loại lúc đó còn hạn chế. Ông chỉ mới nêu ra tính bất định của hạt electron, khi thì nó là sóng không có vị trí (position) nhất định trong không gian, khi thì nó là hạt xác định được vị trí nhưng không xác định được động lượng (momentum).

Ý nghĩa đầy đủ của nguyên lý bất định chỉ đến sau khi cuộc tranh luận khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 giữa hai nhà vật lý hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein kết thúc vào năm 1982 sau thí nghiệm liên kết lượng tử do Alain Aspect tiến hành tại Paris. Cuộc thí nghiệm đó xác nhận rằng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) là có xảy ra, những hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark…đều không có sẵn những đặc trưng, đặc điểm (features) như vị trí (position), khối lượng (mass), điện tích (electronic charge), spin (chỉ số xoay)…Các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát hoặc có thiết bị đo đạc. Cuộc thí nghiệm đó xác nhận một tuyên bố của Niels Bohr từ lúc ông còn sống : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập nghĩa là đứng riêng một mình, tách rời khỏi người quan sát.    

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”   

Nguyên lý bất định thật ra đã xuất hiện trong kinh điển Phật giáo hàng ngàn năm trước với tên là Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性

Trong Trung Luận 中論 hay còn gọi là Trung Quán Luận 中觀論, tên đầy đủ theo tiếng Phạn là Căn bản trung luận tụng 根本中論頌 (sa. mūlamadhyamakakārikā) của Long Thọ Bồ Tát 龍樹菩薩 (Nagarjuna) có bài kệ :   

一切法從緣起 Nhất thiết pháp tòng duyên sinh Tất cả pháp đều do duyên mà sinh khởi

所以無自性     Sở dĩ vô tự tính                                Do đó không tự có đặc trưng

既然無自性     Ký nhiên vô tự tính                          Đã không có đặc trưng

就只有依緣而生滅  Tựu chỉ hữu y duyên nhi sinh diệt  Thì chỉ là dựa theo duyên mà sinh diệt        

Tất cả các pháp đều không có sẵn đặc trưng, chúng ta nên hiểu một cách cơ bản nhất là các hạt cơ bản của vật chất, cụ thể là 17 hạt trong Sơ đồ chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) trong bảng này chưa liệt kê hạt hấp dẫn (graviton) đều là trừu tượng không có sẵn đặc trưng.

Năm 2016 con người đã khám phá sóng hấp dẫn (gravitational waves) mà sóng luôn luôn đi liền với hạt, hễ có sóng tức là có hạt nhưng vì con người chưa trực tiếp nhìn thấy hạt hấp dẫn (graviton) nên người ta chưa đưa nó vào bảng sơ đồ chuẩn hạt cơ bản. Hệ thống 18 hạt cơ bản này của khoa học tương ứng với 18 giới 十八界 (Astādaśa dhātavah)của Duy Thức Học Phật giáo bao gồm lục căn, lục trần và lục thức.   

Tất cả các hạt cơ bản tạo nên vật chất đều không có sẵn đặc trưng. Trung luận nói Nhất thiết pháp tòng duyên sinh (Tất cả pháp đều do duyên mà sinh khởi) Vậy duyên gì đã tạo ra các hạt cơ bản ?

Thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) chỉ rõ cho chúng ta thấy các hạt cơ bản do duyên gì sinh ra. Người ta làm thí nghiệm như sau :

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau là màn hứng hiển thị kết quả. Sở dĩ phải bắn từng hạt electron chứ không phải bắn cùng lúc nhiều hạt để tránh trường hợp các hạt va chạm nhau bay tứ tung làm sai lạc kết quả. Sau khi bắn như vậy khoảng một tiếng đồng hồ, kết quả như sau :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng thể hiện thành nhiều vạch

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron và chỉ thể hiện 2 vạch tương ứng với 2 khe hở

Điều đó chứng tỏ tâm của người quan sát tạo ra hạt electron là một hạt cơ bản của vật chất, nếu không có người quan sát thì electron chỉ là sóng vô hình, vô thể, không có vị trí nhất định trong không gian hay thời gian. Tính không nhất định về không gian thể hiện ở chỗ ta đứng ở bất kỳ đâu trên thế giới cũng có thể đọc được bài viết này miễn có internet. Tính không nhất định về thời gian thể hiện ở chỗ ta có thể đọc bài viết này trên điện thoại hoặc laptop bất cứ lúc nào ta rảnh, không hạn chế thời gian.

Các hạt cơ bản của vật chất không nhất thiết là sóng cũng không nhất thiết là hạt, chúng bất định, cái cơ duyên để chúng xuất hiện dưới hình thức hạt là khi có người quan sát hoặc có thiết bị đo đạc, chính cảm biến (sensor) hoặc tâm của chúng sinh khởi lên làm sóng vô hình biến thành hạt cơ bản. Đó mới chính là ý nghĩa cốt lõi của nguyên lý bất định. Còn Phật giáo thì diễn tả nguyên lý bất định bằng câu Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc trưng). Thiền tông thì gọi là vô thủy vô minh. Bất định hay vô minh (không rõ ràng) hay vô tự tính (không có đặc trưng riêng) là thể hiện trạng thái bất nhị chưa phân cực. Trạng thái này Tổ Sư Thiền gọi là vô thủy vô minh (không có bắt đầu, mờ mờ ảo ảo không rõ ràng). Từ trạng thái này giống như đã đến đầu sào cao trăm thước, hết chỗ trèo lên rồi nhưng phải tiến thêm bước nữa mới kiến tánh. Đời Tống, thiền sư Chiêu Hiền có sáng tác bài kệ để nói ý này :

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân, Sào cao trăm thước người lặng thinh,
Tuy nhiên đắc nhập vị vi chân.  Tuy là cao vút hết đường binh
竿 頭須   Bách xích can đầu, tu tiến bộ, Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  
全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Trong khoa học, trạng thái này của thiền được diễn tả là sự sụp đổ của sóng tiềm năng thành hạt cơ bản và được gọi là sự sụp đổ chức năng sóng (wave function collapse). Tâm bản thể vốn là trạng thái tinh thần bỗng biến thành hạt cơ bản, thành vật chất, thành ngũ uẩn và thành vũ trụ vạn vật. Vậy tại sao lại có hiện tượng đó ?  Vậy đặc trưng của pháp hay của hạt cơ bản do đâu mà có ? Đó là do :

2/Nguyên lý thay thế

Đây là một nguyên lý hết sức cơ bản, vô cùng quan trọng mà nhân loại chưa hiểu hết, chưa đánh giá đúng mức. Nguyên lý này được sử dụng rất nhiều trong tin học. Chúng ta hầu hết đều biết, thông tin chính là dữ liệu Data được biểu diễn trong đơn vị nhỏ nhất là bit, bit là đơn vị thông tin nhỏ nhất được ký hiệu là số 0 hoặc số 1. Với hệ đếm nhị phân, số 0 và số 1 được tổ hợp thành con số, bất cứ con số nào dù lớn hay nhỏ cũng đều có thể diễn tả bằng hệ đếm nhị phân này. Rồi tất cả mọi tính chất, đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ đều được thay thế bằng các con số gọi là số hóa hay kỹ thuật số (digital). Mỗi con số đại biểu cho một đặc điểm. Vô lượng vô biên đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ được gán ghép cho vô lượng vô biên con số. Bộ vi xử lý (processor) trong computer hay điện thoại sẽ thay thế các đặc điểm này vào các con số để phóng hiện lên màn hình thành văn bản, bài báo, hình ảnh, video, âm thanh. Ví dụ cụ thể như sau :

Nhị phân      Thập phân Đồ hoạ
100 0000           64    @
100 0001           65    A
100 0010           66    B
100 0011           67    C
100 0100           68    D
110 0001           97    a
110 0010            98                       b

Chữ @ (a còng trong địa chỉ email) mã số là 64 (thập phân) hoặc 100 0000 (nhị phân)

Chữ A (viết hoa) có mã số là 65 (thập phân) hoặc 100 0001 (nhị phân)

Chữ a (viết thường) có mã số là 97 (thập phân) hoặc 110 0001 (nhị phân)

Chữ b (viết thường) có mã số là 98 (thập phân) hoặc 110 0000 (nhị phân)

Về sau người ta sử dụng từ 8 tới 10 bit để diễn tả một con số hay một ký tự cơ bản và đặt tên là byte. Bội số của byte là kilobyte (KB) = 1024 bytes, Megabyte (MB) = 1024 KB, Gigabyte = 1024 MB, Terabyte = 1000 GB.

Và khi chúng ta gõ chữ A trên màn hình thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số 100 0001 (nhị phân) tức 65 (thập phân) trong dữ liệu. Gõ chữ @ (a còng trong địa chỉ email) thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số  100 0000 (nhị phân) tức là 64 (thập phân). Dữ liệu chỉ là những con số được biểu diễn dưới dạng nhị phân với hai cơ số 0 và 1 nhưng khi hiển thị lên màn thì đã được thay thế bằng các đặc điểm tương ứng và biến thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh.  

Bộ vi xử lý có tốc độ cực kỳ nhanh, trong một giây có thể xử lý hàng tỷ bit  nên nó kịp thời hiển thị lên màn hình những biến hóa vô cùng đa dạng mà nguồn gốc chỉ là những con số được biểu diễn bằng 0 và 1 trong bộ nhớ mà thôi.

Công tác xử lý của con chip chính là ứng dụng nguyên lý thay thế, nghĩa là mỗi tính chất, mỗi đặc điểm của sự vật được thay bằng một con số. Vô số con số của dữ liệu sẽ được hiển thị trở lại màn hình bằng cách giải mã khiến cho chúng ta chỉ thấy văn bản, hình ảnh, âm thanh, video chứ không phải chỉ là những con số vô hồn nữa.

Trở lại với thế giới đời thường của con người, nguyên lý thay thế cũng được ứng dụng vô cùng nhiều mà chúng ta không hay biết. Đức Phật hay các vị Tổ Sư Thiền tu hành là đi tìm cái gì ? Họ đi tìm cái sóng vô hình, sóng tiềm năng của vũ trụ vạn vật, của thân tứ đại. Họ đã tìm thấy, đã chứng ngộ và đã diễn tả trong kinh điển, gọi đó là Phật (tánh giác ngộ) hay Tâm (không khác tâm ý của chúng ta nhưng là cái tâm bản nguyên sẵn có trước khi cha mẹ chưa sinh ra chúng ta, trước khi xuất hiện vũ trụ vạn vật, trước khi loài người xuất hiện, trước khi sinh vật xuất hiện.

Dùng từ ngữ “trước” thật ra là không đúng, mắc kẹt trong thời không (space-time) Phật pháp nói rằng thời không cũng không có thật, tất cả các pháp đều không có thật, chỉ là tưởng tượng do tâm tạo ra nên kinh điển nói Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, không có pháp nào tuyệt đối là chân thật, tất cả các pháp đều không có thực thể. Vậy cái Tâm có thật hay không ? Long Thọ Bồ Tát trả lời rằng Tâm như hư không vô sở hữu 【心如虚空无所有 (Tâm như hư không nhất thiết pháp giai vô sở hữu  心如虚空一切法皆无所有)Tâm giống như hư không không có thật, nhưng cũng không phải giả, Tâm là tuyệt đối bất nhị không rơi vào cặp phạm trù nhị nguyên mâu thuẫn】 

Nhưng chính cái tâm đó đã tưởng tượng ra các hạt cơ bản, rồi các hạt cơ bản lại cấu trúc thành nguyên tử, thành phân tử, thành cố thể vật chất, thành thân thể ngũ uẩn của chúng ta. Bấy giờ thì luật nhân duyên, luật nhân quả và tất cả các định luật vật lý khác cũng như các định lý toán học mới có tác dụng. 

Nguyên lý thay thế cũng được ứng dụng trên cái thân ngũ uẩn của con người. Thân ngũ uẩn (sắc thọ tưởng hành thức) cũng như thế giới chung quanh nó hiện ra dựa trên nhân duyên gì ? Phật giáo giải thích rằng ở mỗi con người cũng như ở mỗi chúng sinh, cảnh giới (thân thể và hoàn cảnh- body and environment) xuất hiện dựa trên thói quen tâm niệm gọi là nghiệp業 (karma). Nghiệp hay nghiệp thức là một thói quen lâu đời nó quy định Tâm sẽ xuất hiện như thế nào. Nghiệp thiện thì thân thể sẽ xuất hiện mạnh khỏe, lành lặn, đẹp đẽ, hoàn cảnh thuận lợi tốt đẹp, chẳng hạn sinh vào nhà tử tế có của ăn của để. Nghiệp ác thì thân thể sẽ xuất hiện bệnh tật, xấu xí, tật nguyền, sinh vào nhà bất hảo, nghèo khó…Như thế có nghĩa là thói quen tâm niệm sẽ biến thành thân thể ngũ uẩn và hoàn cảnh sinh hoạt của chúng sinh theo nguyên lý thay thế.

3/Nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo

Chính sự sụp đổ chức năng sóng (wave function collapse) là một màn ảo thuật cực kỳ cơ bản và phổ biến, nó biến tâm vốn là một trạng thái tinh thần không có hình tướng, không có đặc trưng, không có chỗ trụ (vô sở trụ 無所住 non locality) cả về không gian và thời gian, thành hạt cơ bản, thành vật chất có hình tướng, có đặc trưng, có chỗ trụ, có điểm xác định trong không gian và thời gian.     

Sự thay thế nghiệp (thói quen tâm niệm) của tâm thành cảnh dựa trên nguyên lý thay thế và nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo, và kết quả tốt hay xấu do nghiệp quy định. Nghiệp thiện thì sinh vào 3 đường lành (thiên, atula, nhân – trời, thần, người). Nghiệp ác thì sinh vào 3 đường xấu (súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Kinh điển Phật giáo nêu ra lý thuyết về sáu đường, bốn loài, ba cõi (đã nói ở trên). Sáu đường là : 

Cõi trời  (deva)

Cõi thần (a-tu-la  asura)

Cõi người (manussa)

Cõi súc sinh (tiracchānayoni)

Cõi ngạ quỷ (petta)

Cõi địa ngục (niraya)    

Bốn loài là : thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh.

Thai sinh 胎生, Skt. jarāyujā yoniḥ điển hình là con người, người mẹ sinh ra con

Noãn sinh 卵生, Skt. aṇḍa-jā yoniḥ điển hình là gà, vịt, gà mẹ sinh ra trứng

Thấp sinh 濕生, Skt. saṃsveda-jā yoniḥ điển hình là vi trùng vi khuẩn, sinh từ nơi ẩm thấp dơ bẩn.

Hóa sinh 化生, Skt. aupapādukā yoniḥ điển hình theo kinh Vô lượng thọ nói ở cõi Tây phương cực lạc, chúng sinh ở cõi đó xuất hiện từ hoa sen biến hóa ra.     

Cơ chế để hình thành nguyên lý này dựa trên mô tả ngũ uẩn của Phật pháp. Vậy ngũ uẩn là gì ?

Ngũ uẩn 五蘊 là 5 tập hợp. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰 Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination).
Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời ở thế gian. Nguyên lý của vấn đề này nằm ở chỗ kinh điển gọi là tất cả các pháp đều không có tự tính, tất cả mọi tính chất của pháp là do tưởng tượng gán ghép của con người. Dễ thấy nhất là ngôn ngữ, từ ngữ của của bất cứ ngôn ngữ nào đều không có ý nghĩa, mọi ý nghĩa đều là do con người gán ghép cho từ ngữ. Tương tự như vậy, tất cả mọi vật trong vũ trụ đều không có thực chất, mọi tính chất đều do chúng sinh gán ghép cho vật, cho là như vậy, chứ vật từ hạt cơ bản cho tới nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cơ thể sinh vật, con người…đều chỉ là thông tin (duy thức) chứ không có thực thể nên Phật giáo nói là Ngũ uẩn giai không五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật.

Do nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo nên toàn thể pháp giới từ hữu hình cho tới vô hình đều là do tâm tưởng tượng ra nên Phật pháp mới nói tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Và người tu hành theo Phật giáo là phải tự mình chứng thực cái bản tâm này của toàn pháp giới, cái đó mới đích thực là mình. Sư Động Sơn Lương Giới洞山良價(807-869) khi kiến tánh có làm bài kệ trong đó có câu :

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng         Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ          Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã         Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ             Mà mình không phải là nó

Trong bài kệ này cừ 渠 là chỉ tâm bản nguyên, khắp nơi đều gặp nó, thân ngũ uẩn của mình cũng là nó bởi vì nó chính là nguồn gốc của mình, nhưng cái ta giả của mình lại không phải là nó, dù cái ta giả này có trầm luân vĩnh kiếp, khổ sướng như thế nào cũng chẳng ảnh hưởng gì tới nó cả.

4/Nguyên lý bất toàn              

Đây vốn là một định lý toán học gọi là Định lý bất toàn (Incompleteness theorem) doKurt Gödel nêu ra năm 1931 làm sụp đổ tất cả các lâu đài khoa học và triết học mà con người đã xây dựng từ hàng ngàn năm nay. Vì tính chất nền tảng phổ biến của định lý này nên tôi thấy nên nâng cấp nó lên thành nguyên lý. Từ nguyên lý bất toàn có thể suy ra các hệ quả như :

Computer sẽ không bao giờ thông minh như con người, và bạn sẽ chẳng bao giờ hiểu đầy đủ về chính bạn. Không tồn tại Lý thuyết về mọi thứ. Siêu-toán-học là một giấc mơ không tưởng. Không thể giải thích nguyên nhân đầu tiên. Không thể có lý thuyết cuối cùng. Bộ não là một chiếc máy tính được kết nối với một thần thức. Thế giới thực tại rộng hơn nhận thức của con người. Nhận thức của con người rộng hơn tư duy lý lẽ. Tư duy lý lẽ rộng hơn tư duy duy vật… Muốn đến gần thực tại hơn, con người phải tự giải thoát khỏi cái khung chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, của tư duy lý lẽ, bay lên những tầng cao hơn của thế giới bằng đôi cánh của trực giác và cảm nhận bằng trí bát nhã …

Mọi nhận định ở trên đều là hệ quả triết học trực tiếp hoặc gián tiếp của Định lý Bất toàn của Gödel – một định lý đóng vai trò nền tảng trong khoa học nhận thức hiện đại. Không thể có một cái nhìn đúng đắn về thế giới nếu không hiểu Định lý Gödel.

Phát biểu của định lý bất toàn : “Bất kỳ lý thuyết nào được tạo ra một cách hiệu quả đủ khả năng biểu diễn số học sơ cấp đều không thể vừa nhất quán vừa đầy đủ. Đặc biệt, đối với bất kỳ lý thuyết hình thức nào nhất quán, được tạo ra một cách hiệu quả cho phép chứng minh một số chân lý số học căn bản, sẽ có một mệnh đề số học đúng nhưng không thể chứng minh trong lý thuyết ấy.”

Ý nói là không có bất kỳ hệ thống lý luận nào đầy đủ trọn vẹn mà không có mâu thuẫn. Nhà toán học Bertrand Russell (1872-1970) đã minh họa cho ý tưởng bất toàn này bằng câu chuyện Người thợ cạo thành Seville :

Chuyện kể rằng trong 1 thị trấn nhỏ chỉ có 1 người đàn ông duy nhất làm nghề thợ cắt tóc, cạo râu. Tất cả những người đàn ông trong thị trấn chia thành 2 nhóm : nhóm A tự cắt tóc cạo râu cho mình, nhóm B nhờ ông thợ cạo này cắt tóc cạo râu cho họ. Bác thợ cạo này đã tuyên bố “Tôi chỉ cắt tóc cạo râu cho tất cả những ai ở thành Seville này không tự cắt tóc cạo râu được.” Mâu thuẫn phát sinh là không biết phải xếp bác thợ cạo này vào nhóm nào? Nếu ông tự cắt tóc cạo râu cho mình thì phải xếp ông vào nhóm A nhưng điều đó mâu thuẫn với tuyên bố “ tôi chỉ cắt tóc cạo râu cho những ai không tự mình cắt tóc cạo râu được” nếu ông tự cắt cạo được thì ông cũng không thể làm cho mình vì trái với tuyên bố. Như vậy phải xếp ông vào nhóm B. Nhưng cũng không được, vì nhóm B phải nhờ ông cắt cạo cho, mà khi ông cắt cạo cho mình thì cũng là tự cắt tóc cạo râu, vậy phải xếp ông vào nhóm A. Rốt cuộc đó là mâu thuẫn vô phương giải quyết, xếp ông vào nhóm nào cũng mâu thuẫn với tuyên bố.

Khi khoa học đã bế tắc về việc giải thích nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc con người, tức là chủ nghĩa duy vật, coi vật chất là nền tảng của thế giới đã thất bại, một số người đã trở lại với các tôn giáo, chẳng hạn Phật giáo, để lắng nghe xem bên phía Tâm học giải thích thế nào. Phật giáo giải thích như trên đã trình bày.

Nguyên lý bất toàn nêu lên rằng tất cả mọi hệ thống lý luận lô gích đều có mâu thuẫn. Lý do là bất cứ hệ thống lý luận của bất cứ khoa học nào từ toán học, vật lý học, sinh vật học, thiên văn học, triết học, lịch sử, địa lý, kinh tế, chính trị, xã hội…đều phải dựa trên một số tiên đề và những tiên đề này không thể chứng minh. Thí dụ tiên đề về điểm và đường thẳng của hình học Euclid : “Qua một điểm nằm ngoài một đường thẳng ta vẽ được một và chỉ một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho”. Vì tiên đề này không thể chứng minh là đúng, chỉ có thể cảm nhận bằng kinh nghiệm trực giác. Vì vậy Lobachevsky giả thiết rằng từ một điểm ngoài đường thẳng ta có thể vẽ được hơn một đường thẳng khác, nằm trên cùng mặt phẳng với đường thẳng gốc, mà không giao nhau với đường thẳng gốc (đường thẳng song song). Từ đó, ông lập luận tiếp rằng từ điểm đó, có thể xác định được vô số đường thẳng khác cũng song song với đường thẳng gốc. Lobachevsky lập nên môn hình học phi Euclid hay hình học không gian với lập luận rằng mặt phẳng thực tế trong không gian vũ trụ là một mặt cong. Và tổng số các góc của một hình tam giác trên mặt phẳng (thực tế là cong) này lớn hơn 180 độ, trong khi hình học Euclid nói rằng tổng số các góc của một hình tam giác trên mặt phẳng bằng 180 độ.      

Giáo sư Phạm Việt Hưng là người nghiên cứu chuyên sâu về định lý bất toàn, ông đã rút ra kết luận như sau :

“Không có bất cứ hệ thống lý luận logic nào có thể chứng minh tiên đề của chính nó. Vậy lý thuyết về nguồn gốc sự sống không thể giải thích nguồn gốc của sự sống”

Tại sao có sự bất toàn ? bởi vì lý và phi lý không phải là hai, lý chính là phi lý. Cái này thì Bát Nhã Tâm Kinh đã nói rõ từ lâu : Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Đúng cũng tức là Sai, Đúng và Sai đã là tương đối thì không thể toàn vẹn được. Đúng cũng là do con người tưởng tượng vẽ vời ra, Sai cũng thế. Vì vậy không thể bám chấp vào Đúng hay vào Sai. Chính vì vậy mà Long Thọ Bồ Tát có Trung Luận 中論 còn gọi là Trung Quán Luận 中觀論 nói rằng chúng ta không nên lệch về một bên, cũng không phải ở ngay chính giữa, mà là vô sở trụ (không có chỗ trụ) tùy duyên mà hành pháp không nhất thiết phải như thế nào mới đúng. Lục Tổ Huệ Năng cũng có bài kệ :

無念念即正  Vô niệm niệm tức chánh    Cái niệm vô niệm thì chánh

有念念成邪  Hữu niệm niệm thành tà    Cái niệm có niệm thành tà

有無俱不計  Hữu vô câu bất kế                Không chấp có hay không có

 長御白牛車 Trường ngự bạch ngưu xa  Luôn ngồi trên xe trâu trắng  

Trường ngự bạch ngưu xa ý nói luôn xử sự theo Đại thừa liễu nghĩa.

5/Nguyên lý pháp giới bình đẳng

Tại sao một người ngu với một người trí bình đẳng được ? Tại sao một phụ nữ xinh đẹp và một phụ nữ xấu xí bình đẳng được ? Tại sao một con trâu với một con người bình đẳng được ? Chúng ta thấy không thể bình đẳng bởi vì chấp vào tướng, chấp vào hình thức. Tất cả mọi sắc tướng đều chỉ là ảo hóa không phải chân thật. Nguồn gốc bản thể của tất cả mọi sắc tướng đó đều là do tâm tạo, đều cùng một Phật tánh nên đều bình đẳng. Tâm biến ra con trâu đồng thời tâm biến ra con người. Về hình tướng thì con trâu và con người không bình đẳng, nhưng đối với chúa tể của mọi biến hóa là tâm thì tất cả các pháp đều bình đẳng, đó là nguyên lý pháp giới bình đẳng.

Ý tưởng vạn vật bình đẳng cũng được Trang Tử đề cập trong thiên Tề Vật Luận. Ông nói rằng con chim sẻ và chim Bằng 鵬 (loại lớn nhất trong loài chim) đều bình đẳng. Chim sẻ bay vụt lên cây du cây phượng cũng giống như chim Bằng bay xuống biển nam. Vật lớn thì ở chỗ lớn, vật nhỏ thì ở chỗ nhỏ, đâu vừa với đó. Ông cho rằng không cần phải so sánh mình với người khác vật khác, cứ vui vẻ bằng lòng với cái hiện có của mình, vì vạn vật là bình đẳng, đó là triết lý ông nói trong thiên Tiêu Dao Du, mỗi người chỉ cần phát huy sở trường của mình, sống cho hết cái trời ban cho mình chứ không nên bắt chước người khác.

Tuy nhiên Tề Vật Luận của Trang Tử chỉ nói tới sự bình đẳng tương đối, bình đẳng với nghĩa bóng, nghĩa là vật lớn thì ở chỗ lớn, vật nhỏ thì ở chỗ nhỏ, đâu vừa với đó, chứ chưa đạt tới bình đẳng tuyệt đối, tức vật lớn và vật nhỏ thật sự bằng nhau, cũng tức là không có vật gì thật sự lớn cũng không có vật gì thật sự nhỏ. Ý niệm này chỉ trong Phật giáo mới thấy rõ. Trong Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, Phẩm Bất Tư Nghị, Xá Lợi Phất tỏ ý nghi ngờ căn phòng nhỏ bé của Duy Ma Cật làm sao chứa được pháp hội đông tới hàng vạn người, Duy Ma Cật nói : “Thưa ngài Xá-lợi-phất, chư Phật và Bồ tát có pháp môn giải thoát được gọi là bất khả tư nghị. Bồ tát ở nơi giải thoát này có thể đặt ngọn núi Tu-Di hùng vĩ trong một hạt cải mà không hề thay đổi kích thước của hạt cải. Tướng trạng nguyên thuỷ của núi chúa Tu-di vẫn như cũ. Bốn vị Thiên vương cùng với chư thiên Đao-lị cũng không biết mình đã được đặt trong một hạt cải. Chỉ những ai cần được độ mới thấy Tu-Di lọt vào trong hạt cải. Đó là pháp môn giải thoát bất khả tư nghị” Núi Tu Di là núi lớn nhất, trung tâm của thế giới được đề cập trong kinh điển, thực tế đó chính là ngọn núi Everest cao nhất thế giới nằm trong dãy Hy Mã Lạp Sơn tại Nepal.

Núi Tu Di có thể bỏ vừa trong hạt cải. Đó chính là nghĩa cốt lõi của pháp giới bình đẳng. Ý nghĩa này cũng được các khoa học gia sử dụng để xây dựng lý thuyết vũ trụ xuất phát từ vụ nổ Big Bang. Khởi nguyên của không gian vũ trụ chỉ là một chất điểm cực kỳ nhỏ có kích thước là 10-33 (mười lũy thừa trừ 33) cm, tức là lấy 1cm chia cho con số cực lớn gồm 10 và 33 con số không theo sau. Còn vũ trụ ngày nay là một khối cầu có bán kính 13,7 tỉ quang niên và không ngừng trương nở thêm. Chất điểm và vũ trụ là bình đẳng hay bằng nhau, vì chúng vốn là một nhưng chúng ta thấy khác nhau vô cùng. Chính vì sự khác nhau cực kỳ nhưng lại bằng nhau nên trí óc duy lý của con người không thể lý giải được, cũng như ngôn ngữ không thể diễn tả được, Phật giáo miễn cưỡng gọi là bất nhị, không phải hai nhưng cũng không phải là một. Các nhà khoa học thì mô tả vũ trụ là chất điểm trải rộng ra mười phương sau vụ nổ lớn và họ cộng thêm vào một yếu tố giả danh khác là thời gian và mô tả thành lý thuyết vũ trụ song song có 11 chiều trong đó 7 chiều không nhìn thấy được vì bị cuốn lại, chỉ còn nhìn thấy và cảm nhận được không-thời gian hay thời-không bốn chiều (gồm dài, rộng, cao và chiều thứ tư là thời gian).

Kết luận

Các nguyên lý của pháp giới là những quy luật nền tảng có một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành vũ trụ vạn vật và con người. Có thể rất nhiều người trong nhân loại còn chưa biết hoặc bất ngờ với những nguyên lý như thế. Có thể họ còn không tin rằng những nguyên lý này có tồn tại. Các nhà khoa học, các nhà đạo học, các nhà tu hành của các tôn giáo có thể nghe nói tới các nguyên lý này, nhưng có thể chưa hiểu hết tầm mức rộng lớn, bao phủ của chúng.

Chẳng hạn người ta có thể biết quy tắc thay thế trong tin học. Nhưng rất nhiều người có thể không ngờ rằng quy tắc này xứng đáng được nâng lên thành nguyên lý, bởi vì trong thực tế cuộc sống đời thường, nó cũng có ứng dụng cực kỳ lớn. Lớn tới mức người ta không ngờ, không hiểu, không tin rằng nghiệp (karma) là một thói quen tâm lý (Phật pháp gọi là tập khí), nó là một dạng sóng tinh thần nhưng có thể sụp đổ thành vật chất theo định luật sụp đổ chức năng sóng (wave function collapse) thành thân thể và hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Con người phải hiểu rằng ý kiến của người này người nọ về một vấn đề hay một nhân vật nào đó đều là sự thay thế, gán ghép chủ quan tâm niệm của nọ vào vấn đề hay nhân vật chứ hoàn toàn không phải là thực tế. Do đó ngôi sao Hàn Quốc, nữ ca sĩ Sulli Choi không việc gì phải tự tử chỉ vì công chúng có những ý kiến phê phán bất lợi cho cô. Nếu cô Sulli hiểu nguyên lý thay thế thì sẽ không hành động dại dột như thế.

Ngày 14-10-2019 nữ ca sĩ Sulli Choi đã treo cổ tự tử chết

Hoặc người ta không hiểu rằng nguyên lý bất định (Thiền gọi là vô thủy vô minh), đó là một nền tảng vô cùng quan trọng của thế giới, đó là một trạng thái không xác định dẫn tới hệ quả vô cùng lớn mà ngay cả những nhà khoa học tầm cỡ như Einstein cũng không ngờ tới. Hệ quả gì ? Khi các hạt cơ bản ở trạng thái sóng thì vật không có thật, không hiện hữu, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng (Kinh Kim Cang gọi là vô sở trụ). Phật pháp gọi là tánh không (ngũ uẩn giai không). Hạt photon (ánh sáng) và hạt electron (điện tử) là những hạt con người tiếp xúc gần gũi quen thuộc nhất. Ngày nay các hạt này đã được con người ứng dụng một cách kỳ diệu trong computer, laptop, smartphone, mạng internet, mạng wifi, mạng 3G, 4G, 5G đem lại những hiệu ứng cực kỳ quan trọng mà chỉ mới cách nay 25 năm chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Sự tiện lợi mà những công cụ này mang lại là lớn lao không thể phủ nhận. Chẳng hạn chúng ta ngồi ở nhà mà biết hết tình hình khắp thế giới. Chúng ta có thể gặp gỡ nói chuyện với bạn bè, người thân ở bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới vào bất cứ lúc nào miễn là hai bên chấp nhận. Tôi từng có kinh nghiệm như vậy. Năm 2017 tôi có qua bên Anh ở trong 5 tháng. Dù là 3 giờ khuya đang ngủ, bỗng nhiên thức giấc khi nghe có tiếng tin nhắn viber phát ra từ chiếc điện thoại, thế là liền có thể trao đổi bằng tin nhắn với bà xã từ VN. Đó quả thực là một kinh nghiệm kỳ diệu.

Hiểu sâu và ứng dụng các nguyên lý này, nền văn minh nhân loại còn có thể tiến xa tới mức hiện nay không tưởng tượng nổi. Chẳng hạn viễn tải lượng tử (quantum teleportation). Hoặc vượt qua thời đại công nghiệp hóa đầy ô nhiễm để bước vào thời đại tin học hóa, sản xuất vật chất bằng tin học, thế giới sẽ không còn ô nhiễm do bụi bẩn hoặc môi trường sống bị tàn phá, khả năng sản xuất là vô tận, nhanh chóng, dễ dàng, nên có thể đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, không ai bị bỏ lại phía sau. Nhân loại sẽ không còn cần thiết phải tranh giành tài nguyên biển đảo như hiện nay nữa. Tôi đã từng đề cập cụ thể tới những viễn cảnh như thế này trong một số bài viết trước đây.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

6 Responses to MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CỦA PHÁP GIỚI

  1. Tâm Huỳnh nói:

    Mong tác giả kiểm chứng lại thông tin dữ liệu tin học không có khối lượng.
    Theo thông tin chưa được kiểm chứng trên một trang tin tức thì “Giám đốc điều hành Eric Schmidt của Google đoán rằng có khoảng 5 triệu TB thông tin trên Internet, do đó tổng khối lượng của số dữ liệu đó vào khoảng 0,02 phần triệu của 1 ounce (30 gram)”

  2. Hường nói:

    Chào bác con đã quay lại. Hường

    • Bác mừng Ngọc Hường đã trở lại. Tình hình công việc làm và gia quyến của cháu lúc này ra sao ? Bác mong cháu vẫn luôn an tâm bất chấp hoàn cảnh thực tế ra sao. Chúc cháu và gia quyến an lạc.

      • Hường nói:

        Chào bác con đã quay lại. Hường
        Cảm ơn bác. Cháu vẫn khoẻ. Đã có nữ chính đóng tiếp

  3. Chào Ngọc Hường ! Bác mừng cháu đã trở lại. Chúc cháu vui và khỏe mạnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s