NHƯ LAI NGHĨA LÀ GÌ ?

Khái niệm về Như Lai qua kinh điển

Như Lai tiếng Phạn Tathāgata là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Kinh Kim Cang phẩm thứ 29 nói : Như Lai giả, vô sở tòng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai 如來者。無所從來。亦無所去。故名如來 (Như Lai là không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai). Như là chân như, Lai là đến. Như Lai có hai ý nghĩa : một là chỉ kết quả con đường tu đạo thành Phật tức là giác ngộ, hai là pháp thân như lai có nghĩa là như như bất động, không đi không đến, cũng tức là vô sở trụ 無所住 (non locality) kể cả về mặt không gian và thời gian. Vậy Như Lai cũng hàm nghĩa là Phật tánh hay tánh không. Tuy nói tánh không nhưng nó không phải là hư không. Như Lai giống như hư không nhưng không phải là hư không vì nó là trí bát nhã (vô phân biệt) và cũng là thức (có phân biệt thành cặp trù mâu thuẫn), nó có tánh hiểu biết, tánh giác ngộ. Chính vì vậy các tôn giáo đã hình tượng hóa nó thành Phật, Trời, Thượng Đế, Chúa, Đạo… Chẳng những vậy, nó còn xuất hiện dưới hình thức vật chất hữu hình, vũ trụ, vạn vật, con người, không gian, thời gian, số lượng, văn hóa, văn học, nghệ thuật, ca nhạc, các bộ môn triết học, khoa học, chính trị, kinh tế…       

Kinh Kim Cang đã diễn tả Như Lai bằng câu : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” 應無所住而生其心

Ưng 應 là diễn tả điều kiện cách (conditional mode, mode conditionnel), vô sở trụ là không có chỗ trụ, không có điểm tựa, không có vị trí cố định (non locality); nhi sinh kỳ tâm là xuất hiện cái tâm ấy. Cái tâm ấy là tâm gì ? Đó là tâm giác ngộ, là Như Lai. Câu trên có thể dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp như sau : if there would be the condition of non locality, this citta appears- s’il y aurait la condition de non localité, ce citta apparaît (citta là thuật ngữ tiếng Phạn để chỉ cái tâm theo ý nghĩa Phật giáo). Như Lai hay Phật có 3 thân (tam thân 三身 (s: tri-kāya):

Pháp thân Như Lai ( 法身, sa. dharmakāya) là tánh không, không có gì là thật cả nhưng nó là trí, là thức, là thông tin ở dạng sóng tiềm năng vô cùng vi tế, có tánh giác ngộ, nên nó mới có khả năng tạo ra vũ trụ vạn vật và con người. Pháp thân là Tâm như hư không vô sở hữu  cũng tức là trí tuệ Bát nhã, là vô sinh pháp nhẫn.   

Báo thân Như Lai ( 報身, sa. saṃbhogakāya) quy chiếu về Duy Thức Học báo thân là A-lại-da thức, là Cộng nghiệp của một cõi giới, một thế giới, nói chung là của cả Tam giới. Từ một pháp thân, phóng hiện ra thành vô số chúng sinh, đó là báo thân. Ví dụ từ pháp thân phóng hiện thành vũ trụ vạn vật với vô số chúng sinh trong đó.

Ứng thân Như Lai (應身, sa. nirmāṇakāya) là biệt nghiệp của một vị Phật, Bồ Tát hay chúng sinh, thị hiện thành một nhân vật cụ thể, chẳng hạn Tất Đạt Đa Cù Đàm 悉达多瞿曇 (Siddhārtha Gautama), Long Thọ Bồ Tát 龍樹菩薩 (Nagarjuna) hay một con người cụ thể nào đó trên thế gian. Quy chiếu về Duy Thức Học thì ứng thân là Mạt-na thức. Ứng thân có thể do một bậc giác ngộ chủ động thị hiện, hoặc bị động (đối với một chúng sinh mê muội) do nghiệp dắt dẫn.     

Chúng ta nên nhớ rằng trong điều kiện vô sở trụ (pháp thân Như Lai) thì không có thời gian, không có không gian, không có số lượng, pháp giới bình đẳng, phàm thánh không phân biệt. Đó là tánh không, còn báo thân và ứng thân Như Lai chỉ là thế lưu bố tưởng世流布想 là một thói quen tâm niệm, một tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian chứ không phải là sự thật tuyệt đối.

Như Lai trong thực tế vũ trụ và khoa học  

Như Lai là không đến không đi, là vô sở trụ. Trong không gian vũ trụ hay trên quả Địa cầu cũng không hề có một điểm cố định nào bởi vì vũ trụ luôn giãn nở, Địa cầu luôn di chuyển. Tuy vậy trên quả Địa cầu chúng ta cảm nhận cái nhà của mình có một vị trí cố định, tất cả các thành phố hay lãnh thổ quốc gia cũng có vị trí cố định, có thể xác định bằng kinh độ, vĩ độ. Thậm chí ngày nay hệ thống GPS (Global Positioning System= hệ thống định vị toàn cầu) có thể xác định vị trí chính xác tôi đang đứng ở đâu vào bất cứ lúc nào bởi vì tôi luôn có mang theo chiếc smartphone bên mình. Chính vì thế khi chúng ta dùng Grab để gọi xe ôm, chúng ta chỉ cần báo mình muốn đi tới đâu, chứ không cần báo mình đang ở đâu bởi vì hệ thống định vị GPS đã xác định mình đang ở vị trí nào rồi. Tại sao có sự mâu thuẫn như thế, một mặt không có một vị trí cố định trong không gian, nhưng mặt khác vị trí chúng ta đang đứng có thể xác định chính xác ? Đó là do chuyển động tịnh tiến nên có sự tương đối. Quả địa cầu đang di chuyển quanh quỹ đạo Mặt trời, đồng thời Địa cầu cũng xoay chung quanh trục của nó. Cái trục này nằm nghiêng một góc 23 độ 27 phút so với mặt phẳng hoàng đạo, vì vậy mà tạo ra bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Rồi cả Thái dương hệ cũng di chuyển, cả dải Ngân hà cũng đang đi chuyển. Do đó không thể có một vị trí cố định trong không gian. Tuy nhiên do chuyển động tịnh tiến, nghĩa là tất cả mọi vị trí cùng di chuyển đồng thời đồng nhịp với nhau, do đó vẫn có thể xác định được vị trí tương đối của hai vật thể. Ví dụ chúng ta đang ngồi trên xe lửa, xe lửa đang chạy, vị trí của ta đang thay đổi, thế nhưng vị trí người bạn bên cạnh ta cũng đang thay đổi cùng hướng với ta (tịnh tiến) nên vị trí tương đối của ta và người bạn của ta không thay đổi và có thể xác định được, ví dụ cách nhau 1m chẳng hạn. Khoảng cách này không hề thay đổi mặc dù vị trí của cả hai đều đang thay đổi.

Vô sở trụ còn có nghĩa là ngay cả trong thời gian cũng không có một điểm cố định. Kinh Kim Cang đã diễn tả ý này bằng câu : 《金剛經》“過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得” (quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc). Câu này hàm ý là thời gian không có thật nên quá khứ hiện tại vị lai đều không có thật nên bất khả đắc, tất cả chỉ là tâm niệm mà thôi chứ không có thực thể. Ví dụ chúng ta dựa vào lịch sử, nền văn minh xuất hiện sớm nhất là ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) thuộc lưu vực của hai sông Tigris và Euphrate khu vực Trung Đông  vào khoảng 3500 năm trước công nguyên (TCN) tức cách nay hơn 5500 năm. Và lịch sử văn minh của nhân loại xét theo thuyết tiến hóa, không vượt quá xa khỏi phạm vi 10.000 năm trước. Thế nhưng tháng 6/1968, ông William J. Meister, một nhà sưu tầm hoá thạch không chuyên đã tìm thấy một phiến đá dày 5cm ở Antelope Springs, bang Utah, Mỹ. Với một nhát búa, ông đập phiến đá để lộ ra một dấu giày hoá thạch của con người. Nhưng dấu giày này có một điểm đặc biệt, có dính một con bọ ba thuỳ bị dẫm nát. Niên đại của hóa thạch này cách nay hàng trăm triệu năm. Không lâu sau khi tin tức này lan truyền trên khắp thế giới, một số nhà nghiên cứu đã đến Antelope Spring, và phát hiện thêm nhiều dấu tích do giày dép giống như thời hiện đại lưu lại trên một địa tầng tương thích với các niên đại vô cùng cổ xưa.

Hóa thạch dấu giày dẫm lên con bọ 3 thùy 

Bọ ba thùy (Trilobites), một loài sinh vật có mặt từ 600 triệu đến 260 triệu năm trước đây    

Bọ 3 thùy đã bị diệt chủng cách nay 260 triệu năm, vậy tại sao thời kỳ đó lại có con người văn minh mang giày dép giống như con người hiện nay trong khi lịch sử văn minh của con người mới chỉ có không quá 10.000 năm ? Phải chăng hàng trăm triệu năm trước cũng đã có loài người văn minh sống trên Địa cầu ? Những khái niệm về thời gian quá khứ xa xôi và hiện tại đều chỉ là vọng tưởng, đúng như kinh Kim Cang nói, bất khả đắc (không có thật).    

Thời gian không có thật có nghĩa rằng pháp sư Huệ Trì (em ruột của pháp sư Huệ Viễn慧遠 334-416 CN thuộc đời Tấn 晋, người sáng lập Tịnh Độ Tông ở TQ) có thể ngồi nhập định 700 năm trong một bộng cây. Thời gian không có thật có nghĩa rằng Maha Ca Diếp, đại đệ tử của Đức Phật, hiện nay vẫn còn sống và đang ngồi nhập định trong một tảng đá lớn tại núi Kê Túc tỉnh Vân Nam TQ. Thỉnh thoảng ông xuất định và đi ra ngoài, người hữu duyên thì có thể thấy một ông già đi dạo gần tảng đá lớn đó.

Tại Ấn Độ cũng có núi Kê Túc (Kukkatapāda) thuộc huyện Gaya, bang Bihar, vùng Tây Bắc Ấn Độ. Núi Kê Túc không phải là một dãy núi mà chỉ là một ngọn núi nằm trơ trọi ở một vùng đất bằng phẳng thuộc bang Bihar, cách Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh-Gaya) khoảng 75 km về hướng Đông Nam. Tầm nhìn xa và rất đẹp.

Núi Kê Túc (Kukkatapāda) tại Ấn Độ

Trên đỉnh núi có một cái tháp đang được xây, theo kiến trúc của Phật giáo Tây Tạng, dưới tháp đó là một cái hang, được cho là nơi đức Ca Diếp ngồi nhập định. Chỗ đó giờ được xây thành một điện thờ nhỏ, trong có tôn tượng đức Ca Diếp, làm nơi hành lễ của các đoàn đến chiêm bái.

Cách đây không lâu, khoảng đầu thế kỷ 20, tiến sĩ triết học Bá Khắc Sâm, người Anh, đã được gặp tôn giả Đại Ca-Diếp tại Kê Túc Sơn, Ấn Độ, mà không biết. Sau đó theo hướng dẫn, đã quy y, trở thành tỳ kheo, đến Rangun, Myanmar thiền định và gặp lại, mới biết đó là Đại Ca Diếp. Như vậy Đại Ca Diếp đã nhập định được hơn 2500 năm và đến nay vẫn còn sống. Ông ẩn thân trong tảng đá lớn nên không ai có thể thấy, chỉ trừ những người có nhân duyên ông muốn cho gặp. Thời gian chẳng có nghĩa lý gì. Không gian cũng vậy, núi Kê Túc ở Ấn Độ và nó cũng ở TQ, hai nơi tuy thấy cách xa nhau hàng ngàn dặm nhưng cũng chỉ là một.           

Nếu chỉ đề cập khái niệm Như Lai qua kinh điển, nhất là nói về pháp thân Như Lai thì chúng ta cảm thấy nó xa rời với cuộc sống thực tế. Vô sở trụ là không có thời gian, không có không gian, không có số lượng. Những khái niệm đó có vẻ xa rời với cuộc sống thực tế hàng ngày của chúng ta, phải vậy chăng ? Thật ra thì không phải như vậy, vô sở trụ (non locality) không hề xa, nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của chúng ta hôm nay. Bằng chứng ư ? Chúng ta hiện nay có ai không sử dụng điện thoại hay smartphone không ? Một chị bán hàng rong ngoài đường, một anh lái xe ôm, một anh bảo vệ cho một cơ sở nào đó…và đại đa số chúng ta đều có sử dụng điện thoại di động, đúng không ? Vậy thì mọi người đang ứng dụng vô sở trụ mà khoa học đã cung cấp cho họ.

Vô sở trụ là không có khoảng cách không gian. Tôi đang ngồi trong nhà tại VN, tôi có thể nói chuyện dễ dàng ngoài ra còn nhìn thấy hình của một thân nhân ở bên nước Mỹ xa xôi. Trên mạng internet thì khoảng cách không gian đã bị triệt tiêu.

Vô sở trụ là không có thời gian. Những thông tin ở trên mạng lúc nào cũng có sẵn trên đó, dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh, video. Bất cứ lúc nào tôi rảnh tôi có thể mở ra xem, không có tùy thuộc vào giờ giấc. Có khi 12 giờ khuya, nhớ tới cần phải trao đổi thông tin gì đó với con cái hoặc thân nhân ở nước ngoài, tôi có thể cầm điện thoại gọi ngay hoặc nhắn tin. Bởi vì do múi giờ chênh lệch, bên VN là 12g khuya nhưng bên Anh là 5g chiều (giờ mùa đông chênh lệch 7 tiếng), bên Mỹ là 9 giờ sáng ngày hôm trước (giờ của California).

Vô sở trụ là không có số lượng. Một bài viết tôi post lên mạng thì vô số người có thể xem được, không hạn chế về số lượng.

Như vậy vô sở trụ không hề là một khái niệm xa xôi mà thật ra rất gần gũi với con người hiện đại. Vô sở trụ còn có thể tiến xa hơn nữa. Không phải chỉ có tín hiệu thông tin mới có thể chuyển đi xa mà ngay cả cố thể vật chất một ngày nào đó trong tương lai có thể cũng được chuyển đi bằng viễn tải lượng tử. Tôi đã hình dung ý tưởng này bằng câu chuyện sau đây :

Chuyện tình ngày Thất tịch七夕

Không gian không có thật có nghĩa là Ngưu Lang và Chức Nữ, một người ở đầu sông Ngân, một người ở cuối sông Ngân, hai nơi cách xa nhau 100.000 năm ánh sáng, nhưng vẫn có thể gặp nhau mỗi năm vào đêm thất tịch (mồng 7 tháng 7 âm lịch). Nói theo Phật pháp chỉ cần một niệm là vượt qua được khoảng cách 100.000 năm ánh sáng. Còn nói theo khoa học là ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) biến thân ngũ uẩn của Ngưu Lang thành lượng tử và nhờ hiệu ứng liên kết lượng tử mà những lượng tử trong thân ngũ uẩn của Ngưu Lang được thay thế bằng những lượng tử giống hệt bên kia dải Ngân Hà và buồng hạt ở đó tổng hợp lại thành thân thể bằng xương bằng thịt của Ngưu Lang khiến chàng trong tích tắc đã ở bên cạnh Chức Nữ.  

Điều kiện để thực hiện viễn tải lượng tử là phải có loại máy tính lượng tử cực kỳ mạnh mới đủ khả năng biến một cố thể vật chất thành lượng tử và ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử để chuyển lượng tử đi xa không giới hạn. Máy tính lượng tử gần đây đã có những bước tiến đột phá.

Năm 2019 Mỹ có siêu máy tính mạnh nhất thế giới tên là Summit của IBM có tốc độ tính toán 187,66 petaflop (một giây làm được 187,6 triệu tỷ phép tính). Ngày 23-10-2019 Google tuyên bố đã chế tạo được máy tính lượng tử tên là Sycamore có ưu thế lượng tử (quantum supremacy or quantum advantage) so với máy tính điện tử, cụ thể là so với siêu máy tính Summit nó nhanh hơn cực kỳ. Một bài toán mà Summit phải mất 10.000 năm mới giải xong, Sycamore giải xong trong 200 giây.

Ngày 24-06-2020 Nhật Bản công bố siêu máy tính mạnh nhất thế giới của mình tên là Fugaku có tốc độ xử lý nhanh gấp 2,8 lần siêu máy tính Summit của Mỹ với tốc độ 415,5 petaflop (một giây làm được 415,5 triệu tỷ phép tính).

Ngày 04-12-2020 Hãng tin Bloomberg dẫn nguồn Tân Hoa xã cho biết các nhà khoa học Trung Quốc đã chế tạo thành công một máy tính lượng tử đặt tên là Jiuzhang (九章Cửu chương) có khả năng thực hiện một số lượng tính toán khổng lồ nhanh đến “không tưởng”. Trong 3 phút có thể giải xong bài toán mà siêu máy tính Thái Hồ Quang của TQ (hiện đứng thứ ba thế giới) phải mất 2 tỷ năm mới giải xong, còn siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay Fugaku của Nhật phải mất 600 triệu năm mới giải xong bài toán đó. Còn so với máy tính lượng tử Sycamore của Google thì máy tính lượng tử Jiuzhang của TQ nhanh hơn 10 tỷ lần.

Đột phá về máy tính lượng tử của TQ  

Nguyên mẫu máy tính lượng tử TQ   

Chính những máy tính lượng tử có tốc độ nhanh khủng khiếp như vậy là tiền đề để thực hiện viễn tải lượng tử. Và cũng là tiền đề để tạo ra máy in 3D vạn năng có thể in ra bất cứ thứ gì cũng được, số lượng không hạn chế. 

Kết luận

Như Lai là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật bao gồm :

Như Lai  (如來, sa., pi. tathāgata) không từ đâu đến, không đi về đâu tức vô sở trụ.

Ứng Cúng (應供 Bhagavant-arhat) xứng đáng được cúng dường, từ bậc  A La Hán 阿羅漢arahant trở lên đến Bồ Tát và Phật đều được xưng là ứng cúng.

Chánh Biến Tri (正遍知, sa. samyaksaṃbuddha dịch âm là Tam miệu tam bồ đề), Biết cùng khắp Tam giới, không chỗ nào không biết.

Minh Hạnh Túc (明行足, sa. vidyācaraṇasaṃpanna), Có đủ trí huệ và đức hạnh

Thiện Thệ (善逝, sa. sugata) Có đầy đủ khả năng đi qua được bờ bên kia (giác ngộ)

Thế Gian Giải (世間解, sa. lokavid) Thấu suốt tam giới

Vô Thượng Sĩ (無上士, sa. anuttarapuruṣa) Bậc tối thượng không có ai cao hơn

Điều Ngự Trượng Phu (調御丈夫, sa. puruṣadamyasārathi) Người làm chủ được ngã và pháp 

Thiên Nhân Sư (天人師), sa. devamanuṣyānāṃ śāstṛ Bậc thầy của trời và người

Phật Thế Tôn (佛世尊, sa. Buddhalokanātha) Người giác ngộ được thế gian tôn kính       

Trong 10 danh hiệu này thì có 3 danh hiệu thường được sử dụng hơn là Như Lai, Chánh Biến Tri và Phật Thế Tôn.

Như Lai là hàm ý vô sở trụ, không có một điểm cố định nào trong không gian và thời gian, cũng không có số lượng (bất nhị). Như Lai cũng là diễn tả Phật tánh, tánh giác ngộ, pháp thân Phật. Còn có một thuật ngữ khác là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 Tóm lại là có rất nhiều danh từ mà người tu hành Phật giáo mong muốn đạt tới, muốn thấy muốn chứng thực (kiến tánh) cái thực tướng vô tướng của nó.

Con người ngày nay không còn bằng lòng với việc chỉ giới hạn ở sự giáo hóa. Tức là người kiến tánh (giác giả) không chỉ truyền đạo để nhiều người khác giác ngộ tìm thấy sự an tâm hạnh phúc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Như thế vẫn chưa được, chưa đủ, tại sao ? Bởi vì trong thời đại khoa học phát triển, giác giả không thể chỉ đàm huyền luận diệu suông trong khi khoa học đã làm được nhiều điều hiện thực hóa những ý tưởng mà kinh điển Phật giáo nêu ra.

Chẳng hạn Như Lai là không có thời không (no space-time, non locality) khoa học đã sáng tạo ra chiếc smartphone để thực hiện ý tưởng đó ít nhất là trên phạm vi Địa cầu, ít nhất là trong phạm vi truyền thông tin trong thế giới ngày nay. Khoa học cũng đang nghiên cứu vấn đề đi ngược về quá khứ hoặc đi tới tương lai bởi vì vô sở trụ là không hạn chế ở một điểm dừng cụ thể nào về mặt thời gian. Còn về mặt không gian, khoa học đang mò mẩm tìm cách đi xa khỏi quả Địa cầu, đi ra khỏi Thái dương hệ. Như vậy vẫn chưa đủ, khoa học đang tìm cách ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) để đi xa hơn bằng phương pháp viễn tải lượng tử. Viễn tải lượng tử (quantum teleportation) là chuyển vật thể đi xa không giới hạn tức thời không mất thời gian dựa trên nguyên lý thời-không đều không có thật. Vì khoảng cách không gian không có thật nên nói là di chuyển chứ thực tế là không có di chuyển, đó tức là vô sở trụ. Người có đặc dị công năng như Hầu Hi Quý có thể thực hiện việc này.

Hầu Hi Quý dùng tâm niệm di chuyển khoảng cách 3 tầng lầu

Trên thế giới, số người có thể thực hiện công năng như Hầu Hi Quý cực kỳ ít. Nhưng nếu khoa học thực hiện viễn tải lượng tử thành công thì tất cả mọi người đều có thể làm được.

Một vấn đề khác nữa là cuộc sống đời thường của xã hội, của nhân loại, nghèo đói, thiếu ăn, bệnh tật…giác giả giải quyết như thế nào ? Nước Ấn Độ xưa gọi là Thiên Trúc 天竺 vốn là nơi khai sáng ra Đạo Phật nhưng bây giờ ra sao ? Đạo Phật gần như đã bị quét sạch khỏi Ấn Độ, một bộ phận không nhỏ người dân Ấn Độ vẫn còn sống trong nghèo khổ cùng cực. GDP bình quân đầu người theo danh nghĩa (nominal) của Ấn Độ năm 2019 chỉ là là 2.170 USD còn theo PPP (purchasing power parity= tương đương sức mua) là 7034 USD đứng thứ 126 trên thế giới, thua cả VN 8374 USD đứng thứ 120 thế giới.

Tại sao Ấn Độ một xứ sở khai sinh ra Đạo Phật, Đạo Giác Ngộ mà lại nghèo nàn lạc hậu đến thế ? Bởi vì văn hóa của người dân Ấn Độ ưa thích thần quyền, tâm trí của đa số mọi người chỉ nghĩ tới thần linh. Nếu chúng ta xem phim Ấn Độ thì bất kỳ phim nào cũng nói tới thần linh, đầu óc của họ thiếu thực tế.

Giác giả không nên chỉ nói suông mà phải nghĩ tới ứng dụng Phật pháp trong cuộc sống đời thường thế nào. Dù cho có tu luyện được thần thông như Trương Bảo Thắng và Hầu Hi Quý cũng không thể làm được gì nhiều cho đời. Muốn ứng dụng Phật pháp phải dựa vào khoa học. Phật pháp hướng dẫn con người phá ngã chấp, phá pháp chấp để có cuộc sống giải thoát. Phật pháp có thể hướng dẫn cho khoa học. Nhưng Phật pháp cũng phá không chấp và cũng không phủ nhận cái dụng trong cuộc sống đời thường. Vậy giác giả sẽ ứng dụng thế nào để có được cái dụng hài hòa giữa cá nhân (bản thân mỗi người) và xã hội ?  

Phật pháp nói số lượng không có thật (non quantity) và nhất thiết pháp vô tự tính. Vậy các nguyên lý này nên được ứng dụng ra sao ?

Thay vì tranh giành tiền bạc, của cải, danh vọng, tài nguyên đất đai, sông núi, biển đảo. Giác giả tại sao không ứng dụng nguồn tài nguyên vô tận là ánh sáng mặt trời ? Đó là một nguồn tài nguyên sạch không gây ô nhiễm môi trường. Tại sao không chế tạo ra cái máy in 3D sử dụng ánh sáng mặt trời như một nguồn năng lượng vô tận có thể biến thành điện năng; ánh sáng cũng là một nguồn nguyên liệu có thể biến thành bất cứ thứ vật chất gì (bởi vì hạt photon, hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác đều không có tự tính, duy tâm tạo, có thể biến thành cái gì cũng được). Như vậy nhân loại có thể dùng máy in 3D siểu đẳng in ra lương thực thực phẩm, tất cả mọi thứ hàng tiêu dùng cần thiết cho đời sống con người, từ nhà cửa cho tới xe cộ, vật dụng. Đó là những điều mà khoa học có thể dựa vào những nguyên lý do Phật giáo chỉ ra để nghiên cứu và ứng dụng đem lại đời sống an lạc hạnh phúc cho toàn thể nhân loại, không bỏ sót một ai.      Giác giả là những người hiểu Phật pháp và thực hành Phật pháp đem lại sự bình an tâm trí cho chính mình và cho xã hội, ngoài ra cũng góp phần cải thiện đời sống vật chất của tất cả mọi người trong xã hội. Đó mới đúng là cái Từ Bi của Phật chỉ dạy. Thực hiện Từ Bi trong thực tế tánh không. Không có người năng làm, không có đối tượng sở nhận, cũng không có cái vật trung gian giữa năng và sở. Bởi vì tất cả đều là tánh không, không có thật, nhưng xã hội hài hòa, bình an, nhân dân hạnh phúc.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s