CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH

Thế nào là cuộc sống lành mạnh ?

Điều quan trọng là tâm thái, trạng thái tinh thần của con người phải lành mạnh, an lạc, không phiền não, không có sự giày vò về cả thể xác và tinh thần. Tâm trạng luôn duy trì ở trạng thái bình tĩnh, không thù oán, không bất bình về bất cứ phương diện gì.

Tâm yên lặng không xao động, không bất bình nổi sóng, là điều rất khó chứ không phải dễ đạt được. Làm sao mà không bất bình khi thấy xã hội đầy bất công, “Cường quyền dậm đạp mái đầu   

Văn chương tám vế say câu mơ màng” hay xã hội đầy bất công, tranh đoạt, cướp bóc, gian trá ? Phải có trí tuệ, hiểu biết sâu sắc về cuộc đời mới có thể giữ được tâm trạng luôn duy trì ở trạng thái bình tĩnh, không bất bình. Bởi vì bất bình chỉ là biểu hiện của ngã tướng, thói quen suy nghĩ của cái tôi. Cái tôi đó đã được hình thành trải qua nhiều đời nhiều kiếp, nó dựa trên thói quen, giáo dục, tư tưởng, văn hóa, nếp sống của xã hội, không phải dựa trên thực tại chân lý.

Chẳng hạn giáo dục của Nho gia đời Tống tại TQ dạy rằng đối với phụ nữ, trinh tiết là quan trọng, chết đói chỉ là việc nhỏ. Hậu quả là nó dẫn tới việc làm của nàng thiếu phụ Nam Xương, nàng nhảy xuống sông tự tử vì chồng hiểu lầm cho rằng nàng ngoại tình, đuổi nàng ra khỏi nhà. Nàng chọn cái chết để bảo toàn trinh tiết. Tâm thái đó không lành mạnh. Hoặc là mới đây anh Hoàng Chi Phong (Joshua Wong) bị kết án 10 tháng tù giam vì tham gia vào một buổi thắp nến tưởng niệm, đánh dấu cuộc đàn áp tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Anh Joshua Wong bất bình vì cho rằng Hong Kong không có dân chủ, nên anh tranh đấu kêu gọi dân chúng đi biều tình rầm rộ hồi năm 2019, kêu gọi các nước phương tây ủng hộ tự do dân chủ của Hong Kong, cuộc biểu tình hàng triệu người dẫn tới bạo loạn, đốt phá một số nơi, giơ cao cờ Mỹ, chà đạp bôi bẩn cờ TQ, khiến cho Hong Kong bị rối loạn, kinh tế bị ảnh hưởng.

Cờ TQ bị người biểu tình Hong Kong bôi bẩn ngày 23 tháng 9- 2019

Chính quyền Bắc Kinh không thể chấp nhận điều đó, nên họ đã làm ra luật an ninh Hong Kong ban hành cuối tháng 6-2020 loại bỏ những người tranh đấu cho dân chủ không được ứng cử quốc hội, cho phép bắt giam những người chủ chốt đã gây ra biểu tình bạo loạn năm 2019. Luật này khiến cho những người tranh đấu vì dân chủ Hong Kong bất bình, các nước dân chủ phương tây cũng bất bình, gây ra mâu thuẫn Mỹ-Trung không thể hòa giải.

Hoặc một việc cũng đang là thời sự nóng bỏng hiện nay. Dân chúng Myanmar bất bình vì họ thấy chính quyền dân cử của Bà Aung San Su Kyi bị phe quân nhân lật đổ, Bà và tổng thống Win Myint bị bắt giam. Họ biểu tình rầm rộ, bạo loạn, đốt phá một số cơ sở sản xuất của người nước ngoài chủ yếu của người TQ. Phe quân nhân đang cầm quyền phản ứng mạnh, bắn vào người biểu tình, khiến hơn 700 người chết.

Ở đây tôi muốn bàn rộng thêm một chút về vấn đề biết đủ và tùy duyên. Xưa nay cũng đã có nhiều triết thuyết bàn về vấn đề này.

Hoặc các chính quyền dân chủ phương tây như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Australia…bất bình đối với chính quyền TQ vì họ cho rằng TQ đang tiến hành diệt chủng đối với người Duy Ngô Nhĩ (维吾尔Uyghur) Tân Cương. Họ đưa ra một số biện pháp trừng phạt TQ. Nó khiến cho TQ phản ứng, TQ cũng lập tức trả đũa bằng cách trừng lại một số nhân vật và tổ chức của phương tây. Quan điểm của TQ cho rằng họ không diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ, trái lại còn cải thiện đời sống vật chất cho họ rất nhiều, họ lập ra nhiều trại tập trung là để dạy nghề và cải tạo tư tưởng cho họ nhằm chống lại khủng bố Hồi giáo do người Duy Ngô Nhĩ tiến hành, kết quả là từ 2015 đến nay không còn một vụ khủng bố Hồi giáo nào xảy ra tại TQ nữa. Về vấn đề Tân Cương và người Duy Ngô Nhĩ, theo tạp chí The Diplomat ấn bản năm 2020 nhan đề Những quốc gia nào ủng hộ hoặc chống chính sách về Tân Cương của TQ 2020 (2020 Edition: Which Countries Are For or Against China’s Xinjiang Policies?) liệt kê có 39 nước phản đối chính sách và 45 nước ủng hộ. Như vậy chúng ta thấy không hề có sự thống nhất lập trường giữa các quốc gia trên thế giới.

Tóm lại nếu chúng ta dấy lên ý nghĩ ủng hộ hay chống đối một vấn đề nào, đó đều không phải là thái độ lành mạnh mà cần phải bình tĩnh và tùy duyên. Tùy duyên là một pháp quan trọng của Phật giáo. Tùy duyên thể hiện rằng chính cái nhân duyên là quyết định chứ hành giả không có ý gì trong đó cả.

Tại sao tâm không nên bất bình nổi sóng ?   

Sóng gió trong tâm là gì ? Đó là thất tình 七情 (hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục), lục dục 六欲 (6 thứ ham muốn thuộc về đối tượng của lục căn, các đối tượng này là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Sắc là vật chất, những vật có hình tướng, màu sắc, kiểu dáng là đối tượng của mắt. Cảnh đẹp, phụ nữ đẹp, trai đẹp, nhà lầu, xe hơi bóng lộn đều là sắc tướng khêu gợi lòng ham muốn nhìn ngắm sở hữu. Thanh là âm thanh, âm nhạc, tiếng nói, là đối tượng của tai. Âm nhạc du dương, tiếng nói trong trẻo ngọt ngào, khêu gợi lòng ham muốn nghe đi nghe lại, thưởng thức bằng tai. Hương là mùi thơm là đối tượng của mũi. Mùi nước hoa, mùi thức ăn thơm ngon, mùi cà phê thơm lừng khêu gợi lòng ham muốn thưởng thức bằng mũi. Vị là cảm giác do tiếp xúc của lưỡi, nó nhận ra vị ngọt, mặn, chua, cay, đắng, chát của thức ăn, những cảm giác này là đối tượng của lưỡi. Các cảm giác này khêu gợi lòng ham muốn ăn ngon. Và để được ăn ngon con người sẵn sàng phạm tội sát sinh, giết heo, bò, gà, vịt, tôm cá, chim trời, thú rừng để ăn thịt cho thỏa mãn vị giác và sớm muộn gì cũng phải chịu quả báo. Xúc là cảm giác do tiếp xúc thân thể như trơn láng, nhám, xù xì, cảm giác đê mê do nam nữ ái ân. Chính những cảm giác này khêu gợi lòng ham muốn dâm dục, kết hợp với những đối tượng khác như sắc, thanh, hương, vị, khêu gợi lòng ham muốn tính dục khó cưỡng nổi của con người. Pháp là tổng hợp tất cả các loại lục căn, lục trần (đối tượng) và lục thức gọi chung một từ là pháp nên nghĩa của nó rất rộng. Tất cả tư tưởng, nhận thức, tôn giáo, triết học, khoa học, văn học, thi ca, mọi ngành hoạt động; tất cả vũ trụ vạn vật đều gọi chung là pháp. Pháp khêu gợi lòng ham muốn hiểu biết, tất cả tri thức, du hành, du lịch mọi vùng đất, mọi cảnh giới, mọi nơi trong vũ trụ mênh mông.       

Hành giả muốn có cuộc sống lành mạnh thì không được để cho sóng gió trong tâm nổi lên, nghĩa là không để cho thất tình lục dục chiếm quyền điều khiển bộ não. Vậy ai đang điều khiển bộ não ? Chúng ta nên biết rằng tâm có hai hình thái : chân tâm (真心true mind) và vọng tâm (妄心false mind). Bản chất của hai tâm này cũng chỉ là một nhưng biểu hiện thì khác nhau. Chân tâm thì vô sinh vô diệt, bất biến, bất nhị gọi là vô sinh pháp nhẫn  無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti). Còn biểu hiện của chân tâm nhưng do bộ não phát ra gọi là vọng tâm thì vô lượng vô biên, biến đổi không ngừng, sinh diệt không ngừng, đó chính là suy nghĩ, tưởng tượng, cảm giác, thất tình, lục dục. Vọng tâm này không thể làm thay đổi chân tâm nhưng nó có thể che mờ chân tâm, che lấp chân tâm. Nó khiến cho hành giả không nhận ra cảnh giới vô sở trụ mà chỉ thấy toàn cảnh giới sinh diệt đầy biến ảo và tưởng đó là thật. Cảnh giới sinh diệt đầy biến ảo đó chính là cảnh giới thế gian mà chúng ta đang sống. Ai ai cũng mê đắm nhà lầu xe hơi, tiện nghi vật chất, quần áo đẹp, cảnh đẹp, hoa đẹp, người đẹp, quốc gia thịnh vượng, cuộc sống sang giàu. Những mê đắm đó gọi chung là thất tình, lục dục. Nó có hai mặt, thuận duyên và nghịch duyên. Thuận duyên là hạnh phúc, nghịch duyên là đau khổ. Thí dụ vợ hay chồng đẹp đôi, nhà cửa xe cộ đầy đủ, khỏe mạnh, con ngoan, đó là thuận duyên. Còn vợ hay chồng xấu xí, tật nguyền, bệnh tật triền miên, nhà nghèo không có chút tiện nghi, con cái ngổ nghịch nghiện ma túy, nghèo khổ bệnh tật, thu nhập không đủ ăn, đó là nghịch duyên. Cảnh thuận duyên hay cảnh nghịch duyên đều là nhận thức của vọng tâm do duyên nghiệp quyết định. Vọng tâm là cái tâm sinh diệt, biến đổi, dởm, yếu, nó không có sức mạnh, không có quyền lực. Chỉ có chân tâm mới có sức mạnh, quyền lực, có đủ khả năng để tạo ra cả vũ trụ vạn vật, mọi thứ cảnh giới. Do đó sự tu tập của hành giả là bỏ vọng mà hướng về chân. Bỏ vọng cũng không phải dễ bởi vì toàn bộ thất tình lục dục đều là vọng. Mọi sinh hoạt, suy nghĩ hành động của con người đều dựa vào đó cả. Ví dụ đã sống trong thế gian ai cũng cần có một mái nhà để che mưa nắng, cần có xe cộ để đi lại, cần có lương thực thực phẩm để ăn, cần có smartphone để liên lạc trong và ngoài nước, làm sao mà bỏ được ? Chính vì vậy nên mới có khái niệm tùy duyên.

Thế nào là tùy duyên

Tùy duyên có nghĩa là hành giả sẽ theo điều kiện thực tế trong hoàn cảnh của mình. Nhưng chỉ theo ở mức tối thiểu thôi, không ham muốn nhiều quá. Ví dụ chỉ cần một cái nhà vừa đủ để cả gia đình mình ở, không đòi hỏi nhà cao cửa rộng. Chỉ cần một chiếc xe vừa đủ tốt để đi lại không cần quá sang trọng. Tiện nghi trong nhà cũng chỉ cần vừa đủ dùng thôi, tivi, tủ lạnh, máy giặt, quạt máy, smartphone; ai đều có thì mình cũng có, nhưng không đòi hỏi quá đắt tiền. Chẳng hạn smartphone thì không cần sắm iPhone đời mới nhất chi cho quá đắt tiền, chỉ cần sắm một cái tầm trung có giá chỉ bằng ¼ của iPhone cũng đủ hiện đại và có cả 5G và có thể đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu của mình.

Trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ có câu :

Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc 知足便足, 待足何时足

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn 知闲便闲 待闲何时闲                                                       

Biết đủ là đủ, đợi đủ, đến bao giờ mới đủ

Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn, đến bao giờ mới nhàn

Hai câu trên tác giả lấy ý từ sách Cổ Kim Dược Thạch 古今药石 của Tống Tích đời Minh 明宋绩 chỉ sửa vài chữ ở câu sau. Nguyên tác là :

Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc 知足便足, 待足何时足

Thâu nhàn tiện nhàn, cầu nhàn hà nhật nhàn 偷闲便闲, 求闲何日闲?

Chữ có đổi chút xíu nhưng ý thì vẫn thế

Giữa biết đủ và tùy duyên cũng có liên quan. Tùy duyên là đáp ứng hoàn cảnh ở mức vừa đủ, đó cũng tức là tri túc. Trên đây là nói về phạm vi cá nhân. Trên phạm vi tập thể, Lão Tử trong Đạo Đức Kinh khuyên nhà cầm quyền đừng can thiệp quá nhiều vào cuộc sống của người dân :

Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên 治大國若烹小鮮 Cai trị nước lớn giống như nấu những con cá nhỏ (nếu xào tới xào lui quá nhiều cá sẽ nát)

Dĩ đạo lị thiên hạ 以道蒞天下  Lấy đạo để quản lý, cai trị thiên hạ

Mô hình trị nước kiểu này, hiện nay có một bô lạc tại Nam Mỹ đang áp dụng, đó là bộ lạc Kogi

0026 Bộ lạc Kogi ở Nam Mỹ

Mô hình xã hội của bộ tộc Kogi Nam Mỹ hạnh phúc thật. Nhưng thử nêu câu hỏi, có bao nhiêu người trong chúng ta bằng lòng sống theo mô hình đó ? Trong suốt mấy nghìn năm họ hầu như không có thay đổi, không có cái gọi là “tiến bộ” mà xã hội hiện đại của chúng ta rất trọng vọng. Người của xã hội đó không đi đâu xa nên không cần phương tiện vận chuyển. Họ cũng không có nhu cầu liên lạc với thế giới bên ngoài nên cũng không cần smartphone để làm gì. Một số người ưu tú dường như có thần thông, họ hiểu rõ thế giới bên ngoài có đời sống bất ổn như thế nào và họ cũng có gởi một thông điệp để cảnh tỉnh thế giới văn minh bên ngoài như sau :

Ðầu năm 1993, ký giả Alan Ereira của Đài BBC tháp tùng bởi 5 người gồm một ký giả, ba nhân viên thu hình và một nhân viên y tế lên đường.  Ðể có thể thu thập được nội dung của cuộc trao đổi phỏng vấn với người Kogi, phái đoàn này còn tìm được một người của bộ lạc kế cận có thể nói được tiếng Kogi và biết tiếng Anh để làm thông dịch. Sau một thời gian len lõi trong rừng sâu núi thẳm của vùng Nam Mỹ, họ lên được một đỉnh núi cao của miền Sierra sau khi hồi hộp đi qua chiếc cầu treo như lơ lửng trên những hố sâu và vực thẳm để vào nơi bộ tộc Kogi sinh sống.  Họ được một số người đại diện bộ tộc ra đón.  Ðó là những vị Trưởng lão – Những người này ăn mặc giống nhau: vải dệt từ những loại sợi dày màu trắng – đầu họ đội loại mũ có vành hơi rộng cũng màu trắng hoặc vàng- Tóc họ màu đen, dài, quăn, da ngăm…

Bộ tộc Kogi trên dãy núi Sierra Nevada ở Colombia
Trước tiên phái đoàn được cho biết là họ được phép ở lại đây 3 ngày.  Ðây là một trường hợp đặc biệt và sẽ không bao giờ còn có sự gặp gỡ này nữa.

Khi nhóm của ký giả Alan Ereira an toạ trên những cái ghế thấp làm bằng thân cây thì một vị cao tuổi trong bộ tộc mời họ uống nước và bắt đầu nói như giải thích:

– Có thể đây là một ngoại lệ, vì từ mấy nghìn năm qua chúng tôi theo điều luật của dòng họ, không bao giờ tiếp xúc với bất cứ ai ngoài người trong bộ tộc.  Có lẽ quý vị sẽ hiểu rõ nguyên do vì sao mà Hội đồng trưởng lão của bộ tộc chúng tôi đã quyết định có cuộc hội ngộ hôm nay.

Đại ý vị trưởng lão này nói cuộc sống văn minh của người bên ngoài không phải là hoàn hảo. Nó chất chứa nhiều nguy hiểm rất lớn mà nếu không tỉnh giác cứ tiếp tục thì kết quả sẽ rất tồi tệ, đó có thể là sự diệt vong của toàn bộ loài người văn minh đó. Chính vì vậy mà các trưởng lão của bộ lạc này quyết định cho phép đại diện của loài người văn minh đó tới đây để nhận thông điệp của họ là hãy mau mau cảnh tỉnh để tránh nguy cơ diệt vong.  

Người đang đứng đầu phía xa để chỉ về điều mà vị này vừa nhắc tới về sức khoẻ thì nhân viên y tế trong phái đoàn ngỏ ý muốn “xem qua” sức khoẻ họ.  Người này lần lượt dùng các dụng cụ y khoa đo huyết áp, khám phổi, khám răng, thử máu vân vân. Ðiều kỳ diệu là họ không tìm thấy một dấu hiệu nào về tật bệnh hay sức khoẻ suy kém nơi những người mà họ đã cẩn thận kiểm tra sức khoẻ. Ðặc biệt nhất là hàm răng của họ rất khoẻ mà không có dấu vết hay tình trạng răng hư, răng sâu.  Tuy vậy vị trưởng lão cho biết là vẫn có những trường hợp có người qua đời vì bệnh nhưng rất ít và thường xảy ra khi đứa bé mới lớn – Một khi vị trưởng lão khám nghiệm thấy không thể chữa khỏi thì cha mẹ đứa bé sẽ chấp nhận mất con vì họ cho đó là luật của tự nhiên.  Tuổi thọ của người Kogi rất cao thường là hơn 100 tuổi.

Tại sao Bồ Đề Đạt Ma đông độ ?

Chúng ta đã biết qua lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Trước khi Phật tịch diệt, ngài đã truyền pháp và y bát cho đại đệ tử là Maha Ca Diếp qua câu chuyện niêm hoa vi tiếu 拈花微笑 (đưa cành hoa mỉm cười). Ca Diếp làm tổ thứ nhất của Thiền Ấn Độ và sự truyền thừa tiếp tục khoảng 500 năm trải qua 28 vị Tổ liệt kê như sau :

  1. Ma-ha-ca-diếp (zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa)
  2. A-nan-đà (zh. 阿難陀, sa. ānanda)
  3. Thương-na-hòa-tu (zh. 商那和修, sa. śānavāsin)
  4. Ưu-bà-cúc-đa (zh. 優婆掬多, sa. upagupta)
  5. Đề-đa-ca (zh. 提多迦, sa. dhītika)
  6. Di-già-ca (zh. 彌遮迦, sa. miśaka)
  7. Bà-tu-mật (zh. 婆須密, sa. vasumitra, cũng gọi là Thế Hữu)
  8. Phù-đà-nan-đề (zh. 浮陀難提, sa. buddhanandi, hoặc Phật-đà-nan-đề 佛陀難提)
  9. Phù-đà-mật-đa (zh. 浮陀密多, sa. buddhamitra, hoặc Phật-đà-mật-đa 佛陀密多)
  10. Bà-lật-thấp-bà (zh. 婆栗濕婆, sa. pārśva, cũng gọi là Hiếp tôn giả 脅尊者)
  11. Phú-na-dạ-xa (zh. 富那夜奢, sa. puṇayaśa)
  12. A-na-bồ-đề (zh. 阿那菩提, sa. ānabodhi, hoặc Mã Minh 馬鳴, sa. aśvaghoṣa)
  13. Ca-tì-ma-la (zh. 迦毘摩羅, sa. kapimala)
  14. Long Thụ (zh. 龍樹, sa. nāgārjuna, cũng gọi Na-già-hạt-thụ-na 那伽閼樹那)
  15. Ka-na-đề-bà (zh. 迦那提婆, sa. kāṇadeva, hoặc ngắn là Đề-bà 提婆, hoặc Thánh Thiên, sa. āryadeva)
  16. La-hầu-la-đa (zh. 羅睺羅多, sa. rāhulabhadra)
  17. Tăng-già-nan-đề (zh. 僧伽難提, sa. saṃghanandi)
  18. Tăng-già-xá-đa (zh. 僧伽舍多, sa. saṃghayathata)
  19. Cưu-ma-la-đa (zh. 鳩摩羅多, sa. kumāralāta)
  20. Xà-dạ-đa (zh. 闍夜多, sa. śayata)
  21. Thế Thân (zh. 世親, sa. vasubandhu, hoặc Thiên Thân 天親, Bà-tu-bàn-đầu 婆:|)
  22. Ma-noa-la (zh. 摩拏羅, sa. manorata)
  23. Cưu-lặc-na (zh. 鳩勒那, sa. haklenayaśa, hoặc Hạc-lặc-na 鶴勒那)
  24. Sư Tử Bồ-đề (zh. 師子菩提, sa. siṃhabodhi)
  25. Bà-xá-tư-đa (zh. 婆舍斯多, sa. baśaṣita)
  26. Bất-như-mật-đa (zh. 不如密多, sa. puṇyamitra)
  27. Bát-nhã-đa-la (zh. 般若多羅, sa. prajñādhāra)
  28. Bồ-đề-đạt-ma (zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma)  

Đến vị tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma (470-543 CN) ông rời bỏ Ấn Độ và đi về phía đông (tiếng Trung gọi là Đông độ 东渡) Tại sao ông rời bỏ Ấn Độ đi về phía TQ ? Đó là một hành động tùy duyên. Ông đến TQ vào triều đại nhà Lương (502-557). Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Có truyền thuyết cho rằng sư phụ của Bồ-đề-đạt-ma là Bát-nhã-đa-la (prajñādhāra) từng dặn sư hãy đợi sau khi mình tịch thì hãy đi Trung Quốc và Bồ-đề-đạt-ma đã thực hiện lời dặn lúc ông đã ngoài 50 tuổi. Sử sách không nêu rõ lý do nhưng chúng ta có thể đoán rằng dân Ấn Độ sắp hết duyên với Thiền tông sau thời kỳ hoạt động của Đức Phật và 27 vị Tổ Sư. Vào thời của Bồ Đề Đạt Ma có một tu viện Phật giáo lớn nằm ở vương quốc cổ Magadha (Ma Kiệt Đà 摩揭陀) , ngày nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Địa điểm này nằm cách Patna chừng 95 kilômét (59 dặm) về phía đông nam, gần thành phố Bihar Sharif và là một trung tâm học thuật quan trọng từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 12, phát triển rực rỡ trong giai đoạn từ thời vua Śakrāditya (danh tánh của người này chưa được chắc chắn, có thể là triều vua Kumara Gupta I hoặc Kumara Gupta II) đến năm 1197 thì bị người Hồi giáo tàn phá và Phật giáo cũng bị xóa sổ gần như hoàn toàn tại Ấn Độ.

Chúng ta cần nêu ra câu hỏi : Tại sao Ấn Độ vốn là cái nôi của Phật giáo, đã có nhiều bậc thánh trí khai sáng Đạo Phật, vậy mà đã dễ dàng bị xóa sổ sau gần 1800 năm (từ lúc Phật thành đạo lúc 30 tuổi năm 594 TCN đến năm 1197CN). Theo thiển nghĩ của tôi, đó là do tập khí, tập quán, thói quen suy nghĩ của tuyệt đại đa số người dân Ấn Độ. Họ tin tưởng thần linh, mê hoặc thần quyền, cuộc sống của người Ấn Độ gắn chặt với các vị thần linh mà họ cho là những vị thần có thể ban phúc giáng họa cho họ. Thói quen đó rất trái với tinh thần khoa học và thực tiễn của Phật pháp. Thói quen đó dường như cũng chẳng giúp ích gì mấy cho họ. Nên đến ngày nay ở Ấn Độ vẫn còn rất nhiều người nghèo khổ cùng cực. Lễ hội Kumbh Mela tắm trên sông Hằng diễn ra trong tháng 4-2021 để rửa sạch tội lỗi sai lầm trong quá khứ theo niềm tin của người Ấn Độ, hàng triệu người ngâm mình trong nước sông Hằng.

 Đó là một sự kiện siêu lây nhiễm Covid-19, nó dẫn đến tình hình thảm họa hiện nay cho người dân Ấn Độ. Hiện nay mỗi ngày có hơn 400.000 người Ấn bị nhiễm virus SARS-COV-2 và mỗi ngày có hơn 4000 người chết. Tất cả bệnh viện đều quá tải, người chết không thể hỏa thiêu kịp, mọi khu đất trống đều được tận dụng để đốt xác người chết, thậm chí không có đủ củi để đốt.

Có những xác chết chỉ bị đốt cháy phần nào, sau đó được ném xuống sông.

Báo Times of India hôm 12.5 công bố đoạn video clip quay cảnh các nhân viên xe cứu thương vứt xác những nạn nhân tử vong vì Covid-19 xuống sông. Vài ngày qua, hơn 100 xác chết bị nghi nhiễm Covid-19 đã dạt vào hai bờ sông Hằng, và nghị sĩ Janardhan Singh Sigriwal của đảng cầm quyền BJP cáo buộc một số thi thể đã bị chính nhân viên xe cứu thương vứt xuống sông ở bang Bihar.             

Tóm lại Bồ Đề Đạt Ma vị Tổ thứ 28 của Thiền Ấn Độ đã rời bỏ nước này để đi về phía đông vì người Ấn Độ đã hết duyên với Phật giáo, Thiền Phật giáo cũng không thể giúp gì được cho họ.

Bồ Đề Đạt Ma đông độ để truyền bá Tổ Sư Thiền tại TQ. Và Thiền đã phát huy đại hưng thịnh tại TQ từ đời Đường trở về sau, nhất là sau thời của Lục Tổ Huệ Năng.

Tinh thần của người TQ thực tế hơn người Ấn Độ, họ chú trọng thực tế chứ không quá sùng bái thần linh. Tuy vậy trong thời gian dài họ cũng quá thiên về lịch sử, văn chương, thi ca, tư tưởng hơn là khoa học. Vì vậy họ cũng bị tây phương vượt mặt và phải trải qua 100 năm ô nhục vì bị tây phương chèn ép xâm lược. Ngay cả một quốc gia láng giềng nhỏ bé là Nhật Bản cũng đè đầu cỡi cổ họ sau khi tiến hành canh tân sớm hơn và trở nên hùng mạnh.

Nhưng sau 40 năm cải cách và mở cửa kể từ 1979, TQ đã bước vào hàng ngũ những quốc gia có khoa học kỹ thuật phát triển nhất trên thế giới, kinh tế hùng mạnh, dân chúng thoát khỏi đói nghèo.

Ngày 25-02-2021, TQ đã tổng kết hoạt động xóa đói giảm nghèo của toàn quốc. Từ năm 1979, tức là năm TQ bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, cả nước có 850 triệu người nghèo đói.    

Đến năm 2012, TQ chỉ còn 100 triệu người nghèo đói. Và đến năm 2021 cả nước không còn ai nghèo đói cùng cực nữa. TQ là nước đông dân nhất thế giới nhưng là nước duy nhất xóa được nạn nghèo đói cùng cực. Cả nước có 800 quận huyện, vốn có mức thu nhập trung bình của người dân dưới 4.000 nhân dân tệ (619 USD) một năm, nay đã chính thức được đưa ra khỏi danh sách nghèo đói.

Thành tích của TQ cho thấy rõ ràng tác động của khoa học kỹ thuật. Kiến tánh giác ngộ là giải thoát về mặt tinh thần. Còn thoát khỏi đói nghèo là giải thoát về mặt thực tế vật chất. Tôi mong rằng TQ sẽ thật tâm giúp cho toàn thể nhân loại thoát khỏi đói nghèo. Nhà cầm quyền TQ cũng nói là họ muốn hợp tác xây dựng để mọi người, mọi bên cùng thắng. Đó cũng là trách nhiệm của một nước lớn đối với thế giới.  

TQ và Ấn Độ đều là những nước lớn, quốc gia khổng lồ với dân số xấp xỉ nhau đều trên một tỷ người. TQ theo điều tra dân số năm 2020 có 1,410 tỷ dân (1410 triệu dân) còn Ấn Độ theo con số tính toán đến cuối năm 2020 là 1,387 tỷ dân (1387 triệu dân). TQ đã hoàn thành kế hoạch xóa đói giảm nghèo, không còn người nghèo đói cùng cực nữa. Ấn Độ thì còn xa lắm mới đạt tới mục tiêu này và hiện nay đang chìm trong thảm họa Covid-19.

Kết luận      

Ấn Độ và TQ có nhiều điểm tương đồng :

1/cùng là những quốc gia có nền văn minh rất cổ xưa. Từ hơn 3000 năm trước, xã hội của hai nước này đã có chữ viết. Để so sánh chúng ta nên biết rằng những quốc gia văn minh hiện đại như Anh, Pháp, chỉ mới có chữ viết khoảng 1000 năm thôi. Mỹ thì mới chính thức tuyên bố lập quốc từ 1776, đến nay được 245 năm. Còn những quốc gia văn minh cổ khác có chữ viết sớm tương đương với TQ và Ấn Độ, như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, thì ngày nay chỉ còn là vang bóng một thời, hậu duệ của họ chỉ còn duy trì một vùng đất nhỏ hẹp, sức ảnh hưởng đối với thế giới không có bao nhiêu.                

2/Cả hai đều có dân số khổng lồ như đã đề cập ở trên, mỗi nước đều có dân số trên dưới 1,4 tỷ dân.  

3/Cả hai đều có quan hệ mật thiết với Phật giáo. Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo, là nơi phát sinh ra Phật giáo và duy trì được gần 1800 năm. TQ là nơi tiếp nhận Phật giáo từ đầu Công nguyên. Lúc đó dưới sự bảo trợ của vua Kanishka thuộc bộ tộc Kushan (貴霜 Quý Sương, tộc mạnh nhất trong 5 bộ tộc của Đại Nguyệt Chi大月支, hoặc 大月氏), Phật giáo nhanh chóng lớn mạnh ngoài Ấn Độ và bắt đầu xâm nhập vào một nền văn minh cổ xưa khác, Trung Quốc. Sách Hậu Hán thư chép rằng niên hiệu Vĩnh Bình thứ tám (65 CN), vua Minh Đế ra chiếu chỉ người phạm tội lẫn trốn phải dâng một số tơ lụa tốt để chuộc tội. Sở Vương Anh, huynh đệ của Minh Đế, đóng đô ở Bành Thành, tự xét rằng trong nhà có người phạm tội nên dâng ba mươi bốn xấp lụa để chuộc tội cho người thân. Minh Đế xem trường hợp này không đáng xử tội với lý do Sở Vương Anh biết “tụng độc lời vi diệu của Hoàng Lão và đề cao đức nhân từ của Phù Đồ (Phật)” (楚王誦黃老之微言尚浮屠之仁祠 Sở vương tụng Hoàng Lão chi vi ngôn thượng Phù Đồ chi nhân từ) nên hẳn nhiên là người tốt, không phải phạm tội, cho nên vua đem tơ lụa hoàn trả lại cho Sở Vương. Sau đó, Vương làm lễ sám hối, ăn chay ba tháng và tổ chức thịnh soạn cúng dường Tăng sĩ (桑門 tang môn) và cư sĩ (伊蒲塞 y bồ tắc). Chiếu văn của Minh Đế hiện nay vẫn còn. Văn kiện lịch sử này là một chứng cứ xác thực chứng minh sự có mặt của Phật giáo vào thời Hậu Hán.   

Buddha (Phật) thời xa xưa được phiên ra Hán tự là Phù Đồ 浮屠 về sau mới phiên lại là Phật Đà 佛佗

Người xuất gia hay tăng sĩ tiếng Phạn là śramaṇa lúc đầu được phiên Hán tự là tang môn 桑門 về sau mới phiên thành sa môn 沙門

Upāsaka (Cận sự nam 优婆塞 ưu bà tắc) lúc đầu phiên Hán tự là y bồ tắc 伊蒲塞 sau mới phiên là ưu bà tắc

Sách Cao Tăng Truyện chép rằng Hán Minh đế nằm mộng thấy người vàng, mới sai hơn 10 quan viên sang Thiên Trúc thỉnh Phật. Trên đường đi, sứ đoàn gặp 2 nhà sư là Kāśyapa Mātaṇga (Ca Diếp Ma Đằng 迦叶摩腾) và Dharmaratna (Trúc Pháp Lan 竺法蘭) đang tải kinh đi vào đất Hán, bèn hộ tống họ  vào đất Hán. Khi đến Lạc Dương hai người cùng ở chung, chỉ một thời gian ngắn sau đó là thông thạo tiếng Hán. Hán Minh đế bèn xây dựng một ngôi tự viện vào năm 68 CN (niên hiệu Vĩnh Bình) đặt tên là chùa Bạch Mã 白馬寺cho 2 vị sư làm nơi trú ngụ, dịch kinh và truyền pháp. Về sau, Trúc Pháp Lan mất ở Lạc Dương, thọ trên 60 tuổi.

4/Cả hai nước đều thường xuyên xảy ra nạn nghèo đói, khổ sở đối với đa số người dân mỗi khi xảy ra mất mùa, lũ lụt.

Nhưng giữa Ấn Độ và TQ cũng có sự khác biệt về tập quán của nhân dân :

1/ Người Ấn Độ đặc biệt sùng bái thần linh. Người TQ thực tiễn hơn tuy cũng có tôn thờ thần linh nhưng không quá nặng như người Ấn Độ.

2/ Người Ấn Độ phân biệt giai cấp nặng nề. Người TQ ít phân biệt giai cấp hơn, những người nghèo nhất trong xã hội nếu có học vấn, thi đậu tiến sĩ, trạng nguyên, vẫn có thể trở thành quan lớn triều đình. Câu chuyện Trần Minh khố chuối là một ví dụ.

3/ Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ nhưng lại không được đa số người Ấn coi trọng vì PG bác bỏ thần quyền. Vì vậy vào đầu Công nguyên khi PG đến TQ đã được người TQ tiếp đón trân trọng. Vào thế kỷ thứ sáu CN (năm 520) khi Bồ Đề Đạt Ma sang TQ thì Thiền tông phát huy cực thịnh kéo dài đến ngày nay. TQ đã trở thành môi trường thích hợp với PG, đã phát triển được 2000 năm và vẫn còn kéo dài. PG và tiếng Phạn hoặc Pali đã in sâu trong văn hóa và ngôn ngữ TQ, có đến 35.000 từ gốc tiếng Phạn hoặc Pali trong tiếng Trung hiện nay, quen thuộc đến mức nhiều người còn không biết đó là tiếng gốc Ấn. Ví dụ Phật (佛佗, 浮屠 buddha); Hòa thượng  (和尚  upādhyāya); Tăng-già (僧伽 saṅgha= tăng đoàn); Cà sa (袈裟 Kasāya); Kiết hạ (結夏 varṣa = mưa); Bồđề (菩提bodhi= giác ngộ); Giàlam (伽藍Sanghārāma= nơi thờ Phật); Xá lợi (舍利 sarira); Trà tỳ  (茶昆 Japita = hỏa táng).   

4/ Tập quán khác nhau đã đưa đến kết quả khác nhau. Vào khoảng thập niên 1950 hai nước có xuất phát điểm giống nhau là nhân dân đều nghèo đói cùng cực. Nhưng năm 2021 TQ đã giải quyết xong cơ bản vấn đề nghèo đói của xã hội, không còn ai nghèo đói cùng cực. Trong khi đó dân Ấn Độ vẫn còn rất nhiều người nghèo đói, hiện nay lại lâm vào thảm họa dịch bệnh Covid-19 rất thương tâm. 

Từ sự đối chiếu này, tôi rút ra một kết luận là : cuộc sống lành mạnh của con người là phải thực tế, dựa trên khoa học chứ không thể dựa vào niềm tin tôn giáo, không thể dựa vào thần quyền. Tâm lý của người dân Ấn Độ tin tưởng vào thần linh khiến họ gạt bỏ một đạo lý thực tế rất đáng giá là Phật giáo, mà tiền nhân của họ đã khai sáng, đó là điều rất đáng tiếc. Chính vì thế mà Bồ Đề Đạt Ma phải đem đạo lý đó truyền sang phía đông (gọi là đông độ东渡) phát huy ở một xứ sở khác. Sự tin tưởng thần quyền của người dân Ấn phản ánh rõ trong clip sau đây. Trong lúc đất nước đang bị thảm họa vì đại dịch Covid-19, người dân vẫn trông chờ thần linh giải quyết vấn đề cho họ.

Phụ nữ Ấn dâng nước cho thần linh cầu thoát dịch bệnh Covid-19                  

Tóm lại cuộc sống lành mạnh là gì ? Đối với cá nhân, đó là cuộc sống không có lo âu phiền não. Không lo âu phiền não vì nhận ra cuộc sống thế gian chỉ là thế lưu bố tưởng世流布想 là tưởng tượng theo tập khí, theo thói quen, chứ không phải là tuyệt đối chân thật, vì vậy không cần thiết phải lo âu phiền não. Tuy vậy do tính tương đối của thế gian, cá nhân cũng phải điều chỉnh để những điều xảy ra trong hoàn cảnh của mình không quá chướng ngại, bi thương, ví dụ không quá nghèo khổ, đói khát, bệnh tật, mặc dù biết những chuyện đó cũng không phải tuyệt đối chân thật.

Ở phạm vi quốc gia, xã hội, cũng vậy; nhà cầm quyền cũng nên là bậc giác ngộ, không nên để cho cả một khối đông đảo dân chúng tin tưởng quá đáng, mù quáng, vào thần linh, xa rời thực tế đến mức tổ chức những cuộc tụ tập siêu lây nhiễm để tôn vinh thần linh, thực hiện những phép mầu không có thật trong lúc cả nước có dịch bệnh, khiến cho cả nước Ấn Độ phải trả giá bằng thảm họa dịch bệnh khủng khiếp như hiện nay. Ngoài ra nhà nước phải chăm lo cho cuộc sống vật chất của người dân, phát triển khoa học kỹ thuật để cho gần 1,4 tỷ dân Ấn Độ ít ra cũng có được đời sống tương đối như người dân TQ hiện nay.

Truyền Bình        

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH

  1. 12 nói:

    kien tanh co khoi covid ko a?

  2. Tùy theo duyên nghiệp, người kiến tánh có thể mắc covid hoặc không. Nhưng điều chắc chắn là người giác ngộ không sợ covid bởi vì nó cũng như chuyện sinh tử chỉ là nằm mơ giữa ban ngày. Người khéo tu có thể không mắc covid vì không tạo nghiệp xấu thì không bị quả báo. Ngoài ra người kiến tánh tâm thường bình an, thân thể thường khỏe mạnh nên đủ khả năng chống SARS-CoV-2, nếu có lỡ mắc thì cũng nhẹ mà thôi.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s