LÀM SAO TRỊ DỨT BỆNH COVID ?

Dưới góc nhìn Phật pháp, đại dịch Covid-19 đang làm cả thế giới điêu đứng bản chất là gì ? muốn trị được nó phải hiểu bản chất của nó ra sao. Cách chống dịch hiện nay của tất cả các quốc gia chỉ là trị ngọn chứ không phải trị gốc nên chỉ có thể làm cho bệnh dịch tạm lắng dịu chứ không thể trị dứt. Hết bệnh dịch này sẽ tới bệnh dịch khác sẽ không bao giờ chấm dứt. Chúng ta cần phải hiểu thế giới về cả hai hình thái của nó :

Hai hình thái tồn tại  

Hình thái Thứ Nhất là dưới góc nhìn tương đối, triết học gọi là hậu thiên 後天 sau khi đã xuất hiện Trời Đất, vũ trụ vạn vật. Các hạt cơ bản do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra, đã cấu trúc thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thiên thể, sông núi, sinh vật, con người. Đó chính là thế giới đời thường của chúng ta. Thế giới đó bị chi phối bởi các quy luật. Quy luật vật lý thì gọi là định luật (laws), quy luật của toán học thường được gọi là định lý (theorems). Những định lý cơ bản làm nền tảng của các định lý và định luật gọi là nguyên lý (principles). Ví dụ chúng ta có nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heiseinbeg nêu ra lần đầu năm 1927. Định lý bất toàn (Incompleteness Theorem) do Kurt Gödel nêu ra lần đầu năm 1931. Định lý bất toàn có tính chất rất nền tảng nên tôi nghĩ nên gọi nó là nguyên lý. Còn định luật thì có rất nhiều, thí dụ định luật Archimede nói rằng: “Một vật nhúng vào chất lỏng bị chất lỏng đẩy thẳng đứng từ dưới lên với lực có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật chiếm chỗ”. Các tàu thủy được chế tạo có thể bằng sắt thép mà vẫn nổi được trên mặt nước là nhờ định luật này. Định luật bảo toàn năng lượng nói rằng tổng năng lượng của một hệ cô lập là không đổi; tức là nó được bảo toàn theo thời gian dù hình thức của nó có thay đổi, thí dụ từ điện năng biến thành động năng làm chạy cái motor. Thế giới vật chất và sinh vật đều bị chi phối bởi các định luật. Con người và con virus SARS-CoV-2 tất nhiên là cũng bị chi phối bởi các định luật.      

Nhưng không phải thế giới chỉ có một hình thái hậu thiên, cùng hiện hữu đồng thời với thế giới hậu thiên còn có thể nhìn thế giới dưới một góc nhìn khác như sau:

Hình thái Thứ Hai là hình thái tuyệt đối mà triết học gọi là tiên thiên 先天 tức chưa có Trời Đất, chưa có vũ trụ vạn vật, chưa có phân biệt. Phật giáo gọi là Bất Nhị. Người bình thường kể cả các nhà khoa học trong đó có cả Albert Einstein chưa hiểu nhiều về hình thái này. Phật giáo gọi đó là Tánh Không (emptiness), tuy không có gì nhưng ứng dụng của nó cực kỳ lớn lao và trí tuệ tuyệt vời nên còn gọi là Tánh Giác hay là Phật tánh. Chỉ có bậc giác ngộ như Đức Phật hay các vị Bồ Tát, các Tổ Sư mới chứng ngộ được tánh không và thấy đương thể tức không. 

Kinh Bát Nhã 般若心 nói Sắc Tức Thị Không 色即是空 (vật chất tức là trống rỗng không có gì) từ đó các giảng sư như thầy Tịnh Không 淨空 nói Nhất thiết pháp đương thể tức không 一切法當體即空 (tất cả các pháp đang hiện hữu đều trống rỗng tức là không có thật). Một câu mà ai có học Phật pháp đều biết : Nhất thiết duy tâm tạo 切唯心造 Tất cả đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Hạt cơ bản (basic particles) là do tâm tưởng tượng ra mà Phật pháp gọi là hoa đốm trong hư không. Sau khi các hạt cơ bản xuất hiện, chúng mới cấu trúc thành thế giới hậu thiên như phần trên đã nói. Do đó, ở hình thái tiên thiên thì không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, không có nguyên lý, định lý, định luật, không có gì cả, như Huệ Năng đã nói trong bài kệ : Bản lai vô nhất vật 本來無一物 (xưa nay không có vật gì cả). Cả hai hình thái đó đều đồng thời tồn tại.

Không phải chỉ có Phật pháp nói như thế, một nhà khoa học hàng đầu thế giới đồng thời với Einstein cũng nói như vậy. Đó là Niels Bohr. Ông nói (ảnh):

Niels Bohr đã nói rằng : “Tất cả những gì chúng ta gọi là thật được làm bằng những vật không thể được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử không làm cho bạn bị sốc nặng thì bạn đã chưa hiểu được nó.”

Vậy theo lời của Bohr thì cõi thế gian và con virus corona đều không phải là có thật. Thế giới và con virus corona đều là tưởng tượng, không phải tuyệt đối có thật. Nhưng vì tưởng tượng đó đã qua nhiều đời nhiều kiếp, đã phổ biến trên thế gian, Phật pháp gọi là thế lưu bố tưởng世流布想chúng ta bị cái tưởng tượng đó trói chặt trong thân ngũ uẩn không thoát ra được. Chính vì vậy chúng ta mới bị khổ, bị rơi vào bể khổ như Tứ Diệu Đế mô tả. Điều này rất khó hiểu nên một bậc thông minh thiên tài như Einstein cũng không hiểu dù ông rất hâm mộ Đạo Phật. Bởi vì tất cả mọi người chúng ta đều chấp thật.

Biết rằng mình đã bị trói buộc quá chặt, cục cựa không nổi, nhưng đã hiểu đương thể tức không dù chỉ là giải ngộ và có lòng tin thì không cần phải lo sợ. Chúng ta vẫn tuân theo lệnh giãn cách xã hội của nhà nước, vẫn cách ly tại nhà cho an toàn, vẫn chích ngừa vaccine khi nào có đủ, nhưng trong lòng bình an không lo sợ, sống chết là tùy nghiệp. Chúng ta không tạo ra nghiệp xấu, nghiệp ác, thì con virus corona vốn cũng là do tâm tạo, nó đều biết rõ ai có vay nợ thì phải trả, ai không vay nợ thì không phải trả. Nó cũng thông minh lắm bởi vì nó cũng là Phật tánh mà, con người tìm cách chống lại nó thì nó tạo ra nhiều biến thể mới để thoát khỏi sự khống chế của con người.

Tâm bình an, không tạo nghiệp xấu, là cách hiệu quả nhất, chắc chắn nhất, để trị bệnh Covid-19 cũng như tất cả mọi tai ương hoạn nạn khác, bởi vì hành giả không phải là đối tượng bị con virus hay nghiệp trừng phạt. Còn như chúng ta đã lỡ vay nợ thì phải chấp nhận trả, cũng không phải lo sợ, nghiệp tới thì cứ bằng lòng gánh chịu trả nợ, không oán than, có làm có chịu. Tạo nghiệp vay nợ hồi nào chúng ta có thể không nhớ không hay biết, nhưng con virus nó biết, nó trừng phạt những người nặng nợ và tha những người ít nợ hoặc không nợ. Đó là lý do tại sao có người bị nặng, có người bị nhẹ, có người không bị. Phật pháp và cả các khoa học trình độ cao đều đã hướng dẫn cho con người hiểu biết về bản chất của thế giới. Đó là thế giới do tâm tạo, không phải là thế giới do vật chất tự vận động mà thành như chủ nghĩa duy vật nói. Từ đó con người mới có thể xây dựng một thế giới an lành.

Hiểu bản chất của thế giới, bản chất của con virus corona là gì thì chúng ta biết cách đối phó hữu hiệu với nó.

 Mọi việc xảy ra trên đời đều có nhân duyên, không phải ngẫu nhiên, chúng ta nên hiểu như vậy. Luật nhân quả (the law of cause and effect) trong Khoa học và trong Phật pháp đều có đề cập. Chỉ khác là trong thế giới siêu hình chúng ta không theo dõi được, hoặc khó theo dõi xem luật ấy tác động thế nào tới mọi người. Nó do tâm tác động, nếu chúng ta bình tâm chiêm nghiệm thì cũng có thể cảm thấy tác động đó. Một số các bác sĩ có khả năng thôi miên bệnh nhân, làm cho họ thấy lại những việc xảy ra trong tiền kiếp khiến họ thấu hiểu hậu quả hiện nay đang gánh chịu đã có nguyên nhân từ tiền kiếp. Phật giáo đã nói nhiều về luân hồi tái sinh về luật nhân quả, cụ thể là trong Kinh Pháp Cú《法句经》(Tiếng Phạn Dharmapada- tiếng Anh Dhamma Verses. Kinh Pháp cú do Phật giảng dạy ở nhiều thời điểm và nơi chốn khác nhau. Kinh này do tôn giả Pháp Cứu soạn (400 – 300 B.C. 尊者法救撰), sư Duy Kỳ Nan 维祇难 (Vighna) dịch sang chữ Hán lần đầu hồi thế kỷ thứ 3 (năm 224 Công nguyên) có 758 bài kệ gồm 39 phẩm. Sau đó không lâu Chi Khiêm 支谦 (gốc người Nguyệt Thị 月氏 ông nội của ông di cư sang TQ khoảng đời Hán Linh Đế- 156-189 CN ) biên soạn lại và xuất bản lần hai còn 500 bài kệ.

Einstein là một tượng đài khoa học của nhân loại. Phê bình Einstein không phải nhằm hạ bệ uy tín của ông mà chỉ nhằm phá sự chấp thật của mọi người. Einstein vẫn là nhà khoa học số 1 của nhân loại nhưng niềm tin của ông thiếu cơ sở khoa học. Niềm tin đó là gì ? Ông tin rằng các hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng, ông cho rằng đó là sự thật khách quan. Ông phát biểu niềm tin đó bằng câu : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó” (ảnh).

Nhưng niềm tin đó đã bị chứng tỏ là sai khi Alain Aspect làm cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) năm 1982 tại Paris. Thí nghiệm này chứng tỏ rằng vật (hạt photon) là không có thật (non realism), hạt không có sẵn đặc trưng.

Nhất thiết duy tâm tạo và Phi tâm phi vật

Nhất thiết duy tâm tạo hàm ý tâm (citta) thì vô hình vô thể nhưng biểu hiện của nó là tam giới, vũ trụ vạn vật. Như vậy tâm là nền tảng của vũ trụ chứ không phải vật chất.

Vật là vật chất bao gồm cả năng lượng theo chủ thuyết duy vật là nền tảng của vũ trụ. Nhưng chủ thuyết duy vật đã bị chứng tỏ là sai vào năm 1982 khi Alain Aspect đã chứng minh rằng các hạt cơ bản như photon, electron, quark…không có sẵn đặc trưng. Các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, spin (độ xoay) chỉ xuất hiện khi có người quan sát hoặc có sensor (cảm biến) tức là chúng không độc lập tồn tại, chúng chỉ là hạt ảo.

Vậy nguồn gốc của vật là gì ? Thí dụ như nguồn gốc của hạt cơ bản (particles) của quả địa cầu, của sinh vật, của ngũ uẩn là gì ? Chính là tâm. Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) chứng tỏ điều đó Vậy tâm là gì ?

Theo Duy Thức Học Phật giáo Tâm là 8 thức. Khả năng Thấy, Nghe, Ngửi, Nếm, Tiếp Xúc thân thể, gọi chung là Tiền ngũ thức. Khả năng tổng hợp của Tiền ngũ thức là Ý thức (thức thứ 6). Ý thức là khả năng tổng hợp và vận dụng tiền ngũ thức để phát sinh ra ý thức, suy nghĩ, tưởng tượng. Cái thói quen của cá thể coi cả 6 thức đó chính là ta, đó là thói quen chấp ngã gọi là Mạt-na thức – Manas, thức thứ 7). Manas của tất cả chúng sinh trong trong tam giới gọi là A-lại-da (Alaya, Tàng thức, thức thứ 8)

Bản chất của 8 thức hay nói gọn là Tâm cũng là thông tin. Đó là một khả năng kỳ diệu gọi là tánh giác ngộ hay Phật tánh. Nó vừa là thông tin vừa là sự vận dụng thông tin gọi chung là Bất nhị. Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng hình dung khả năng này. Khi là thông tin, nó là text, là audio, là video. Còn khi vận dụng thông tin, nó là app. tức là ứng dụng (application).  Tâm tức là thông tin chứ không phải vật chất, không phải năng lượng. Vật chất, năng lượng thuộc cảnh giới hậu thiên. Còn Tâm thuộc cảnh giới tiên thiên. Cảnh giới tiên thiên thì đồng nhất (bất nhị), không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, kinh Kim Cang gọi là Vô Sở Trụ.

Hai cảnh giới tiên thiên và hậu thiên cũng là đồng thời nên người giác ngộ không thiên lệch. Bởi vì thiên lệch một bên là tà kiến. Thế nên Long Thọ Bồ Tát có Trung Quán Luận 中觀論 tên đầy đủ là CĂN BẢN TRUNG LUẬN TỤNG (mūlamadhyamakakārikā). Ý chỉ của bộ luận này nói rằng hành giả nên thực hành Trung Đạo. Trung Đạo cũng không phải là con đường ở ngay chính giữa hai biên, mà đúng ra nó là con đường vô sở trụ, không vướng mắc ở bất cứ chỗ nào. Vì vậy thực tế người giác ngộ hành động tùy duyên chứ không nhất định phải thế này hay thế kia.

Tâm là bất nhị vô phân biệt. Nói nhất thiết duy tâm tạo tức là ý thức, tư tưởng, tinh thần, tình cảm, vật chất, nhà cửa, sơn hà đại địa… cũng đều là tâm, không có sự phân biệt tuyệt đối.

Còn nói phi tâm phi vật là còn phân biệt, còn đứng trên lập trường nhị nguyên, có tâm và vật là hai hình thái đối lập nhau nhưng lại hướng về trung đạo không thiên lệch.

Tóm lại lời nói tuy khác nhưng ý nghĩa thì không khác đều là bất nhị pháp môn. Câu chuyện sau đây giữa Quế Sâm Thiền Sư và Pháp Nhãn Văn Ích tỏ rõ ý bất nhị.

Thiền sư Quế Sâm 桂琛 (867- 928), họ Lý, sinh ra tại Thường Sơn (nay là huyện Thường Sơn, tỉnh Chiết Giang), từ nhỏ theo học thiền sư Vô Tướng tại chùa Vạn Thọ núi Hoàng Cương. Sau đi du phương tìm thầy học đạo, trở thành Đại Đức, là vị thiền sư thứ 41 cũng là truyền nhân đời thứ 14 của Thiền tông, được người đời xưng tụng là Địa Tạng Quế Sâm hoặc La Hán Quế Sâm. Khi tịch, ông được ban danh hiệu “Chân Ứng Thiền Sư”

0127a Quế Sâm Khai Ngộ Cho Pháp Nhãn Văn Ích

Tâm là Vật, Vật là Tâm

Bởi vì tâm và vật là bất nhị, không phải là hai, cũng không phải là một, do đó mọi người rất dễ nhầm lẫn. Trong câu chuyện Quế Sâm khai thị cho Pháp Nhãn, thật ra lời nói không có nghĩa thật. Chỉ vì Pháp Nhãn còn chấp nên mới bị cười đế phá chấp, chứ không phải câu trả lời là đúng hay sai. Ví dụ hỏi :

-Tảng đá nằm trong tâm hay nằm bên ngoài của thượng tọa ? Pháp Nhãn trả lời :

-Nằm trong tâm

Dù trả lời nằm trong tâm hay nằm ngoài tâm đều bị cười (vì còn chấp).

Thực tế có hai hình thái : Hình thái 1: tâm là tảng đá, tảng đá là tâm. Hình thái 2: tâm không phải là tảng đá, tảng đá không phải là tâm.

Thói quen nhận thức của người bình thường điên đảo mộng tưởng là hình thái 2 (tà kiến chấp một bên). Người giác ngộ phá cái thói quen nhận thức đó nhưng thật ra cũng không phải bỏ, bởi vì trong cuộc sống đời thường thì hình thái 2 vẫn hữu dụng. Ví dụ tảng đá nặng 200kg thì phải cần 8 người lực lưỡng mới dời chỗ được, hoặc phải dùng một chiếc xe ủi đất mới bê nó đi được.

Tuy nhiên với một người có đặc dị công năng như Hầu Hi Quý, ông có thể ứng dụng hình thái 1 để dời một cái bàn bằng kim loại mạ vàng rất nặng từ nhà của tỷ phú Lý Gia Thành đến văn phòng của ông như câu chuyện sau đây : không dùng cơ bắp chỉ dùng tâm lực mà thôi vẫn có thể chuyển cái bàn đi xa hàng chục km.

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

Tuy Hầu Hi Quý thực hiện được điều thần kỳ nhưng thật ra công năng của ông còn rất hạn chế nên mới bị mệt. Chứ đối với bậc giác ngộ làm chủ được tâm như Đức Phật thì việc di chuyển một quả núi cũng dễ như trở bàn tay. Việc này đã được Ngô Thừa Ân diễn tả trong truyện Tây Du Ký. Phật đã biến ra quả núi đè Tôn Ngộ Không dưới núi Ngũ Hành Sơn.

Kết luận :

Con virus corona SARS-CoV-2 cũng là tâm chứ không phải cái gì khác. Nó cùng với tâm và con người là bất nhị (không phải hai cũng không phải một). Phải thấu triệt bản chất của nó là như thế mới trị được nó. Nó rất thông minh (cũng là Phật tánh mà !) nên biến hóa rất tài tình, từ dạng alpha, nó biến thể thành beta rồi delta để làm khổ loài người, nó lại còn biến thể thành lamda nữa. Thật ra nói nó làm khổ con người là nói theo chủ quan của con người, chứ nó là sứ giả của Trời xuất hiện để thi hành luật nhân quả. Những người có vay nợ thì nó sẽ đến đòi mạng, còn ai không thiếu nợ thì nó sẽ bỏ qua.

Con người sống trên đời ăn thịt cá, tôm cua, hải sản, mỗi ngày giết hại bao nhiêu heo bò gà vịt…Mọi người đều cho rằng đó là việc bình thường, lương thiện, không vi phạm luật pháp của nhân loại, của các chính quyền. Nhưng đối với luật nhân quả thì đó là vay nợ, vay mạng sống của chúng sinh để phục vụ cho nhu cầu của mình. Tâm hay Trời biết tất cả những việc đó nên sẽ tạo ra những cơ chế nhằm thi hành luật nhân quả một cách công bằng. Chẳng hạn Trời tạo ra thiên tai, lũ lụt, động đất, sóng thần, dịch bệnh để đòi nợ cho những chúng sinh đã bị giết hại.

Cách để phòng chống tại gốc là không tạo nghiệp, không vay nợ thì không phải trả. Hiểu thấu bản chất của con virus thì chúng ta cũng sẽ không còn lo sợ. Nếu mình đã lỡ vay nợ thì chấp nhận trả nợ, đó là lẽ công bằng. Còn nếu mình không có vay nợ thì mình sẽ nằm trong số người  hoặc là không nhiễm bệnh, hoặc có nhiễm nhưng nhẹ và qua khỏi, không bị tử vong.

Tóm lại đằng nào thì cũng không cần lo sợ. Chúng ta hãy tuân theo tất cả những biện pháp mà chính quyền đã ban hành nhưng về mặt tâm lý thì vẫn cứ bình an không cần thiết phải lo sợ. 

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to LÀM SAO TRỊ DỨT BỆNH COVID ?

  1. hoavuchannhan nói:

    Đồng ý với quan điểm của tác giả. Ai làm nấy chịu, ân đền oán trả, thiếu nợ trả tiền. Đã có gan vay mượn mạng sống của các loài động thực vật để tồn tại thì đến ngày trả nợ cũng nên đàng hoàng đứng đắn mà chịu số phận, sợ sệt oán than trách móc cũng chẳng giải quyết được gì.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s