SAI LẦM LỚN NHẤT CỦA EINSTEIN LÀ GÌ ?

Chúng ta đều biết rằng Albert Einstein là nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Ông là tác giả của một phương trình thế kỷ tuy rất đơn giản nhưng vô cùng nổi tiếng :

Đây là phương trình thế kỷ  E=mc2 thể hiện mối tương quan giữa năng lượng và vật chất, là khởi đầu của bom nguyên tử cũng như của các nhà máy điện nguyên tử. Ông cũng từng đoạt giải Nobel về Vật Lý  năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện”. Công trình về hiệu ứng quang điện của ông mang tính bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử. Nó chứng minh rằng ánh sáng vừa là sóng vừa là hạt, khi ánh sáng là hạt nó tạo ra hiệu ứng quang điện, tức tạo ra sự chuyển động của hạt electron, tạo ra dòng điện. Các tấm pin mặt trời là ứng dụng của hiệu ứng này.  

Ngoài ra ông có những công trình khoa học rất nổi tiếng, đó là Thuyết Tương Đối Hẹp (Theory of Special Relativity 1905), Thuyết Tương Đối Rộng (The General Theory of Relativity 1916). Ông có những tiên đoán chính xác mà về sau khoa học xác nhận như : Tia sáng bị cong khi đi qua vùng có lực hấp dẫn mạnh, chẳng hạn tia sáng đi qua gần mặt trời thì bị cong.

Ông cũng dự đoán có sự hiện hữu của sóng hấp dẫn (gravitational waves) mà mãi 100 năm sau khoa học mới thực sự phát hiện ra sóng hấp dẫn vào năm 2016.

Trong Thuyết tương đối rộng năm 1916, ông nói những tác động hấp dẫn có được là do không-thời gian (thời gian và không gian được Einstein gộp chung lại thành không-thời gian trong thuyết Tương đối hẹp năm 1905) bị uốn cong thay vì nó là một lực.

Dự án của LIGO quy tụ 900 nhà khoa học đến từ 15 quốc gia trên thế giới. Các cơ sở thí nghiệm hiện đại nhất của nó được đặt tại Hoa Kỳ với sự đầu tư cả tỷ USD đến từ Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) tìm kiếm sóng hấp dẫn.

Tháng 2 năm 2015, hai trạm quan trắc của LIGO tại Louisiana và Washington được đưa vào chạy thử nghiệm trở lại sau quá trình nâng cấp. Họ thu nhận những dao động đến từ sự kiện hai hố đen sáp nhập trong khoảng thời gian 1,3 tỷ năm về trước.

Các dữ liệu không lâu sau đó được phân tích vào ngày 14 tháng 9 năm 2015 bởi Marco Drago, một nghiên cứu sinh người Ý đã khiến anh trở thành người đầu tiên phát hiện ra sóng hấp dẫn.

Marco Drago khi đó đã ngay lập tức thông báo tới các chuyên gia trong dự án LIGO. Cùng với đó là nhiều tin đồn rò rỉ trong giới nghiên cứu vật lý và thiên văn học rằng cuối cùng sóng hấp dẫn cũng được tìm ra.

Các nhà khoa học tại LIGO quyết định giữ bí mật thông tin để kiểm tra lại nhiều lần thí nghiệm của họ. Cuối cùng, dấu mốc lịch sử được chốt lại trong cuộc họp báo ngày 11 tháng 2 năm 2016 tại Hoa Kỳ.

Thưa quý vị, chúng tôi đã phát hiện trực tiếp sóng hấp dẫn. Chúng tôi thực sự đã làm được”, David Reitze, Giám đốc điều hành Phòng thí nghiệm LIGO tại Viện công nghệ California tuyên bố.

Sự phát hiện ra sóng hấp dẫn mà Einstein đã tiên đoán từ năm 1916 tức 100 năm trước khiến cho danh tiếng của ông càng nổi bật.

Tuy nhiên trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình Einstein cũng phạm phải khá nhiều sai lầm. Người ta có cả một danh sách liệt kê 23 sai lầm của Einstein. Nhưng ở đây tôi chỉ nêu ra vài sai lầm lớn nhất của ông mà thôi.

Sai lầm lớn thứ nhất là Einstein cho rằng không gian vũ trụ là tĩnh không thay đổi. Einstein đã đưa một hằng số vũ trụ vào các phương trình của mình, điều này làm “đóng băng” trạng thái của vũ trụ. Trực giác của Einstein khiến ông lạc lối.

Năm 1919, nhà thiên văn học Mỹ Edwin Hubble (1889 – 1953) khi ấy đến làm việc tại Đài thiên văn Wilson ở California. Bằng quan sát tỉ mỉ của mình qua kính viễn vọng Hooker 100 inch – loại kính viễn vọng mạnh nhất thế giới vừa được chế tạo khi đó – Edwin Hubble đã khiến cả thế giới kinh ngạc với phát hiện: Vũ trụ đang giãn nở công bố vào năm 1929. Ông đã chụp những bức ảnh đẹp nhất có thể về tinh vân, cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng ít nhất một số trong số chúng vượt xa Dải Ngân Hà của chúng ta. Bằng cách khám phá các thiên hà khác, Edwin Hubble đã mở rộng vũ trụ 100 lần.    

Khám phá này khiến chính Einstein cũng ngạc nhiên tột cùng và buộc phải ‘tâm phục khẩu phục’ thừa nhận rằng ông đã phạm phải sai lầm lớn nhất của mình. Tên của Edwin Hubble về sau được NASA lấy để đặt cho Kính viễn vọng không gian Hubble.

Sai lầm lớn thứ hai của Einstein

Giới khoa học dường như không có mô tả rõ ràng về sai lầm lớn thứ hai của Einstein, đây mới đích thật là sai lầm lớn nhất của ông. Tại sao họ không có mô tả rõ ràng ? Bởi vì bản thân giới khoa học vẫn còn mơ hồ. Khởi đầu là vào năm 1927 Werner Karl Heisenberg nêu ra nguyên lý bất định (uncertainty principle). Nguyên lý này phát biểu rằng: “Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác”.

Phát biểu của Heisenberg rất cụ thể và rõ ràng tuy nhiên nó không nói lên được bản chất của vấn đề. Muốn hiểu được bản chất của vấn đề chúng ta cần tới ánh sáng của một bậc giác ngộ là Đức Phật, ngài đã nêu lên từ xa xưa trong kinh điển Phật giáo.

Trong Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Hạt electron không hề có sẵn các đặc trưng như vị trí (position), khối lượng (mass), điện tích (electric charge), số đo mức độ xoay (spin). Chính vì vậy ở dạng sóng thì electron là bất định, không có vị trí nhất định trong không gian. Vậy khi nào thì các đặc trưng mới xuất hiện ?

Kinh Hoa Nghiêm trả lời : Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造 Khi có người quan sát thì các đặc trưng mới xuất hiện, hạt electron mới có vị trí nhất định trong không gian. Do đó diễn tả một cách cơ bản hơn, chính xác hơn, rõ ràng hơn, thì phải nói rằng : Chính tâm của người quan sát tạo ra hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác và từ đó tạo ra nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, chất sống, sinh vật, con người, vũ trụ vạn vật. Điều đó cũng có nghĩa là tâm tạo ra không gian, thời gian và số lượng, tạo ra vật chất, vũ trụ vạn vật.

Vậy sai lầm lớn nhất của Einstein là gì ? Đó là ông tin rằng các hạt cơ bản như photon, electron là có thật, chúng luôn luôn có sẵn đặc trưng, có một thế giới vật chất khách quan nằm ngoài nhận thức suy nghĩ của con người. Einstein diễn tả niềm tin của mình bằng hai phát biểu sau :

1/ “Chúa Trời không chơi trò súc sắc với vũ trụ” ý ông nói rằng các hạt cơ bản là khách quan, có thật, luôn luôn có sẵn đặc trưng, luôn luôn xác định, chứ không phải là ngẫu nhiên, bất định như trò chơi súc sắc. Ý của Einstein hạt cơ bản là có thật, là xác định, thế giới là khách quan nằm ngoài tâm niệm, là xác định chứ không phải bất định.    

2/Ông đưa ra quan điểm về Mặt trăng :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Ý ông muốn nói rằng Mặt trăng là có thật, là khách quan, dù ông có nhìn hay không nhìn thì nó vẫn tồn tại. Và đây chính là sai lầm lớn nhất của Einstein cũng như của toàn thể nhân loại.

Quan điểm này trái với sự giác ngộ của Đức Phật, của các vị Tổ Sư Thiền và của cả các nhà khoa học lượng tử  hiện đại của nhân loại. Bởi vì Mặt trăng hay thế giới vật chất không nằm ở đâu khác ngoài nhận thức của bộ não con người. Khi bộ não ngừng hoạt động thì không có cái gì là thật cả. Cái thấy này được khoa học trình bày trong video clip sau :

Vạn Pháp Duy Thức

Chính vì vậy mà Thiền nói rằng ban ngày thì chúng ta “mở mắt chiêm bao” còn ban đêm thì chúng ta “nhắm mắt chiêm bao” Nghĩa là con người lúc nào cũng sống trong chiêm bao, không biết rằng Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm tập hợp sau đây đều không có thật. Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (nhận thức, phân biệt). Năm tập hợp đó chính là cái tôi và cái của tôi (ngã và pháp) đều không có thật, chỉ là tưởng tượng phổ biến trải qua nhiều đời nhiều kiếp, in sâu vào tiềm thức mà thôi, gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想             

Kết luận

Sai lầm của Einstein là đại biểu cho sai lầm của toàn thể nhân loại. Sai lầm đó phải chịu trách nhiệm cho tất cả nỗi đau khổ bất hạnh mà nhân loại hiện nay phải gánh chịu. Đó là sai lầm về chấp thật. Đó là sai lầm cho rằng không gian, thời gian và số lượng là có thật, vật chất là có thật, tất cả mọi cảnh giới vật chất và tinh thần là có thật. Những nỗi đau khổ mà con người đang phải gánh chịu bao gồm :

Đau khổ cơ bản : Sinh lão bệnh tử là 4 nỗi khổ cơ bản mà tất cả mọi người đều phải chịu. Mọi người đều cho rằng đau khổ cơ bản này là phải chấp nhận không thể thoát khỏi. Đau khổ này là nỗi khổ về chấp ngã và chấp pháp, tức là cho rằng ta là có thật, tất cả các pháp là có thật.

Kế đó là đau khổ vì hoàn cảnh không thuận lợi, chẳng hạn thiên tai bão lũ , núi lửa, động đất, sóng thần dẫn tới mất mùa đói kém, không đủ lương thực thực phẩm để ăn.  

Sự chấp ngã dẫn tới tranh giành làm hại lẫn nhau. Anh chị em trong nhà tranh giành tài sản. Người trong xã hội tranh giành tiền tài, danh vọng, địa vị. Các quốc gia tranh giành đất đai, tài nguyên, biển đảo, thế lực, dẫn tới chiến tranh. Chiến tranh Nga-Ukraina hiện nay là một thí dụ.   

Những đau khổ về tinh thần. Ngoài 4 nỗi khổ về sinh lão bệnh tử, con người còn có những nỗi khổ tâm mà Phật giáo đã tổng kết gồm :

5/Ái biệt ly khổ 爱别离苦 Nếu yêu thương ai đó mà không được ở gần phải sống xa nhau, chẳng hạn nam nữ yêu nhau mà không được lấy nhau thì cảm thấy đau khổ.

6/Oán tắng hội khổ 怨憎会苦 Ghét nhau mà phải sống gần nhau phải gặp nhau hoài, có chuyện với nhau hoài thì cũng khổ. Chẳng hạn người Nga và người Ukraina không ưa nhau mà phải ở bên cạnh nhau, bây giờ chiến tranh tàn khốc với nhau, thật là đau khổ.

7/Cầu bất đắc khổ 求不得苦 Mong cầu mà không được thì khổ. Chẳng hạn yêu ai đó mà không được yêu lại thì khổ. Mong thi đậu mà cứ bị thi rớt mãi thì khổ. Chẳng hạn Tú Xương đã từng than thở vì thi mãi không đậu.

Bụng buồn còn muốn nói năng chi,

Đệ nhất buồn là cái hỏng thi!      

Một việc văn chương thôi cũng nhảm,

Trăm năm thân thế có ra gì?      

Được gần trường ốc vùng Nam Định,

Thua mãi anh em cánh Bắc Kỳ.

Rõ thực nôm hay mà chữ dốt,

Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy.

8/Ngũ ấm xí thạnh khổ 五阴炽盛苦 Ngũ ấm 五阴 cũng tức là ngũ uẩn 五蘊 là 5 tập hợp bao gồm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, đã nói ở trên. Xí thạnh 炽盛 hình dung ngọn lửa bùng cháy (flaming) hoặc sự hưng vượng (flourishing). Nghĩa bóng chỉ sự ham muốn mãnh liệt không kềm chế nổi. Khi một con người trưởng thành, thân thể tâm sinh lý đều hoạt động mạnh mẽ thì đòi hỏi nhiều thứ, chẳng hạn : tiền tài, danh vọng, ham muốn đối với người khác giới, ham muốn được yêu đương, được làm tình v.v…Nếu đòi hỏi của tâm sinh lý đó không được đáp ứng thì phát sinh khổ : ví dụ nghèo, đói rách là khổ, thất nghiệp không kiếm được tiền là khổ, trai không tìm được vợ, gái không tìm được chồng là khổ. Tất cả mọi tệ nạn xã hội như tham nhũng, buôn bán làm ăn gian dối, xì ke, ma túy cho tới cướp bóc, chiến tranh đều từ đây mà ra.

Phật pháp đã đề ra những con đường (Đạo) để giải quyết vấn đề đau khổ của con người như :

Tứ Diệu Đế (khổ, tập, diệt, đạo); Tứ Niệm Xứ (thân, thọ, tâm, pháp); Bát Chánh Đạo; Thập Nhị Nhân Duyên…rồi tới các pháp môn khác như Luật tông (hành trì giới luật), Tịnh Độ tông (niệm Phật), Mật tông (trì chú), Thiền tông (Như Lai Thiền dùng cái biết để tu, Tổ Sư Thiền dùng cái không biết để tu).

Tất cả các pháp môn của Phật giáo đều là phương tiện để phá chấp thật, hướng dẫn mọi người nhận ra bản tâm vô sinh pháp nhẫn của mình, thức tỉnh, giác ngộ, không còn chấp thật nữa. Giác ngộ tức là kiến tánh thành Phật (Phật chỉ là giác giả, là người giác ngộ chứ không phải một đấng thần linh).

Bát Nhã Tâm Kinh nêu ra cứu cánh giác ngộ là : CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỔ ÁCH  (Soi thấy 5 uẩn đều là không, thoát khỏi tất cả mọi khổ nạn)

Tất cả mọi khổ nạn đều là do chấp thật, là tưởng tượng cái ta là có thật, các pháp, vũ trụ vạn vật là có thật, đó chính là nguồn gốc của mọi đau khổ. Thấu suốt tất cả chỉ là tánh không huyễn ảo, chẳng có gì là thật, thì chẳng còn lý do gì để mà khổ nữa. Chính vì vậy Kinh Bát Nhã nói : Soi thấy 5 uẩn đều là không, Thoát khỏi tất cả mọi khổ nạn.  

Vậy chúng ta phải làm gì ? Chúng ta vẫn cứ sống bình thường trong cõi thế gian tạm bợ nhưng không quá chấp thật nữa. Nhà cửa, tài sản, vợ con, người yêu, đều là tùy duyên. Khi duyên đến thì tạm có, khi hết duyên thì tạm không, chẳng có gì là tuyệt đối chân thật, sống chết cũng không thành vấn đề nữa.

Sư Huệ Năng có một bài kệ nổi tiếng và sau khi làm bài kệ này ông đã được Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát để làm Tổ Thứ Sáu của Thiền tông TQ.

Bài này gần như mọi hành giả Thiền tông đều biết nên chỉ cần phiên âm :

Bồ đề bổn vô thọ

Minh kính diệc phi đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai

Ý bài kệ nói rằng Tam giới chẳng có cái gì là tuyệt đối chân thật, kể cả sinh lão bệnh tử, kể cả vũ trụ vạn vật, kể cả thánh phàm phật và chúng sinh. Hành giả chẳng phải làm gì cả, mọi việc làm đều là hữu vi sinh diệt, tất cả đã sẵn sàng, chỉ trực há thừa đương 直下承當 nhìn xuống là thấy, nhận ra bản tâm vô sinh pháp nhẫn. Giác ngộ chỉ đơn giản như vậy thôi. Rắc rối chính là tập khí của con người, cái thói quen cho rằng phải thế này mới đúng, phải thế kia mới được, tất cả tập khí đó chỉ là vọng tưởng mà thôi.

Tuy vậy con người bị trói buộc rất nặng nề vào tập khí không thoát ra được nên bị tập khí chi phối. Cho nên bậc giác ngộ như Huệ Năng cũng cần một thời gian hữu hạn là 15 năm để buông bỏ tập khí mà kinh điển gọi là bảo nhậm 保任 Bảo nghĩa là giữ cho tâm không còn bị tập khí trói buộc nữa, chẳng hạn ưng vô sở trụ là nhận ra không gian, thời gian, số lượng, vật chất, cảm thọ, suy tư, chuyển động, phân biệt, đều là không có thật. Thế nên hành giả có khả năng sinh tử tự do giống như gia đình Bàng Uẩn đã thể hiện. Nhậm là nhận một nhiệm vụ chẳng hạn Huệ Năng nhận nhiệm vụ làm Lục Tổ của Thiền tông để truyền dạy cho nhiều người khác giác ngộ.    Còn một hành giả thông thường thì bảo nhậm là buông bỏ tập khí để sống bình thường tâm thị đạo.

Truyền Bình

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to SAI LẦM LỚN NHẤT CỦA EINSTEIN LÀ GÌ ?

  1. quocle nói:

    chú truyền bình có facebook không ạ, đọc các bài viết của chú hay quá

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s