TÂM VÀ PHÁP

Trên blog này trước đây từng có bài Tâm Và Vật Trong Phật Pháp, bây giờ lại nói về Tâm Và Pháp thì có trùng lắp không ? Xin thưa là không, bài này sẽ nói một cách khái quát và mở rộng hơn.

Tâm là gì ?

Tâm trong Phật pháp có nghĩa là A-lại-da thức (Alaya). Alaya là thức thứ 8 trong bát thức đồng thời cũng bao trùm toàn bộ các thức. Thành phần cơ cấu của bát thức là 18 giới (lục căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ; lục trần tức đối tượng của lục căn : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; và lục thức : thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc thân thể hay thân thức, ý thức). Alaya là tổng hợp tất cả dữ liệu của tất cả chúng sinh. Để so sánh với tin học, chúng ta tạm xem Alaya là Internet.

Thức thứ bảy Mạt-na thức (Manas) cũng bao gồm 18 giới nhưng chỉ giới hạn của một chúng sinh, một cá thể, do đó dữ liệu của Manas rất nhỏ so với Alaya. Chúng ta so sánh Manas với ổ đĩa cứng (hard disk) trong computer.

Thức thứ sáu là Ý thức. Ý thức thống lĩnh và điều hành 18 giới nhưng dữ liệu của của 18 giới còn trung tính (Phật pháp gọi là vô ký). Chỉ sau khi qua bộ não đối chiếu, so sánh, nhận biết, dữ liệu đó mới được phân biệt và có đặc trưng, đặc điểm riêng. Dữ liệu sau khi được bộ não xử lý thì mang theo tập khí của Manas nghĩa là Manas đã gán thói quen nhận thức của mình vào dữ liệu. Manas chính là thức chấp ngã của mỗi chúng sinh, đôi khi còn được PG gọi là Ý. Như vậy Ý (thức thứ 7) là Mạt-na thức tức là thức chấp ngã. Còn Ý thức (thức thứ 6) chỉ là cơ chế hoạt động của bộ não từ đó mới phát sinh Ý hay Manas. Chúng ta thường hay lẫn lộn giữa Ý và Ý thức, tức lẫn lộn giữa thức thứ 7 và thức thứ 6. Ý căn là bộ não. Ý thức là cơ chế hoạt động của bộ não. Ý hay Manas mới chính là thức chấp ngã của mỗi chúng sinh. Chúng ta so sánh Ý thức với bộ nhớ RAM của computer.

Tiền ngũ thức là 5 thức công cụ, cơ bản, là thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc thân thể hay thân thức. Trong tiền ngũ thức, thức thứ 5 có liên quan tới sex, nó là kết quả ái dục của nam nữ và có chức năng lưu truyền nòi giống và cũng là một phần không nhỏ trong đời sống của con người.

Pháp là gì ?

Phần trên đã trình bày cấu trúc của tâm bao gồm tám thức, bản chất của tâm là thông tin, không phải là vật chất, tâm là một dạng sóng vô hình phi vật chất mặc dù trong cấu trúc của tâm, lục căn, lục trần có vẻ là vật chất nhưng thật ra tâm không phải là vật chất.

Biểu hiện của tâm là pháp. Pháp có hai loại hình tướng cơ bản. Loại thứ nhất là vật chất (kinh điển PG gọi là sắc). Loại hình tướng thứ hai là tinh thần, không phải là vật chất. Trong PG, pháp có ý nghĩa rất rộng, tất cả mọi biểu hiện dù là tinh thần vô hình, tưởng tượng, hay vật chất có hình tướng rõ ràng, cụ thể, đều gọi chung là pháp.

Kinh điển PG có đề cập đến ngũ uẩn 五蘊 hay còn gọi là ngũ ấm 五陰. Trong ngũ uẩn chỉ có sắc là vật chất, còn thọ (cảm giác) tưởng (tưởng tượng), hành (vận động, chuyển động, hoạt động), thức (phân biệt, nhận thức, tư duy) đều không phải là vật chất. Sắc tuy có một phần là vật chất nhưng không phải toàn bộ là vật chất, có những pháp có hình tướng, màu sắc rõ ràng nhưng cũng không phải là vật chất, chẳng hạn toàn bộ những thứ chúng ta thấy và nghe trên màn hình vi tính, đều có hình tướng rõ ràng như : chữ viết, hình ảnh, âm thanh, video, chúng cũng là sắc nhưng chỉ là ảo không phải là vật chất.

Vật chất có hai hình thái cơ bản :

-Hình thái vật chất có dạng hạt. Vật lý học hiện đại tổng kết Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) gồm có 18 hạt cơ bản : 6 leptons, 6 quarks, 1 higg và 5 forces (photon, gluon, Z boson, W boson, graviton).

standard-model

Trong sơ đồ trên chỉ mới liệt kê 17 hạt, thiếu hạt graviton (tương tác hấp dẫn) bởi vì hạt này mới được khám phá trong năm 2016 do khám phá được sóng hấp dẫn, nhưng chưa kịp đưa vào mô hình.

-Hình thái năng lượng có dạng sóng, phần tử nhỏ nhất của năng lượng gọi là lượng tử (quantum) là một đại lượng trừu tượng bởi vì không thể xác định hình tướng của nó ra sao, nó hiện hữu một cách vô hình. Thậm chí lượng tử có biểu hiện trái ngược với những cảm nhận thông thường. Ví dụ :

-Thông thường chúng ta có cảm nhận về không gian và thời gian. Thời-không (space-times) là một đại lượng nền tảng trong cấu trúc vũ trụ. Nhưng lượng tử thì không có thời-không, biểu hiện rõ ràng trong hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một hạt photon hoặc một hạt electron có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau trong không gian. Nó chứng tỏ rằng khoảng cách không gian là không có thật. Không gian là không có thật cũng có nghĩa là thời gian không có thật. Cũng tức là thời-không không có thật (unreal space-times).

-Thông thường chúng ta có cảm nhận về số lượng nhiều hay ít, một hay nhiều. Đó chỉ là cảm giác mà thôi. Nếu một hạt photon hoặc electron có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau. Điều đó chứng tỏ số lượng chỉ là ảo, không phải thật. Số lượng là không có thật (non quantity). Thí nghiệm của Maria Chekhova làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau là một minh chứng.

-Thông thường chúng ta có cảm nhận một vật, ví dụ cái bàn, cái nhà, chiếc xe…có vị trí nhất định. Đó cũng chỉ là cảm giác. Lượng tử, một hạt photon hoặc một hạt electron không có vị trí nhất định (non locality). Tính chất này trong kinh điển PG gọi là vô sở trụ, vật là vô sở trụ cũng có nghĩa là vật chỉ là ảo, vật không có thật (non realism). Như vậy cái bàn hay chiếc xe cũng không có vị trí nhất định. Hầu Hi Quý đã dùng ý niệm di chuyển cái bàn mạ vàng của tỷ phú Li Kashing từ nhà đến văn phòng làm việc của ông.

Sự kiện “Di chuyển vượt không gian từ Chascomus đến Mexico” (Teleportation from Chascomus to Mexico) của cặp vợ chồng Tiến sĩ Dahl Gaylard ở Argentina vào năm 1968 được đăng tải trên Wikimedia và các tờ báo của Argentina, cho thấy vật không có vị trí nhất định.

Vào tối ngày 1/6/1968, hai chiếc xe Limousine ở ngoại ô Buenos Aires, Argentina đang phi nước đại về phía trước, hai chiếc xe này được điều khiển bởi vợ chồng Tiến sĩ Luật ông Dahl Gaylard và hai người bạn thân trong chuyến đi thăm một người bạn khác. Họ đồng khởi hành từ phía Nam thành phố Buenos Aires. Khi sắp tiếp cận ngoại ô thành phố, chiếc xe của Tiến sĩ Gaylard đột nhiên biến mất. Hai người bạn đi trên chiếc xe Limousine phía trước nhìn qua gương chiếu hậu không thấy đã dừng và thậm chí quay trở lại tìm kiếm vợ chồng ông Gaylard nhưng vẫn không thấy. Đây là một con đường thẳng không có ngã rẽ, trên đường không có một chiếc xe hay mảnh vỡ nào.

Ngày hôm sau, họ gọi cho người thân và bạn bè trợ giúp tìm kiếm các khu vực xung quanh nhưng vẫn không thấy tăm hơi của hai vợ chồng Tiến sỹ Gaylard. Hai ngày sau (3/6/1968), họ nhận được cuộc gọi điện thoại từ lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Điện thoại cho biết: “Có một cặp đôi tự xưng là vợ chồng Tiến Sỹ Luật Gaylard đang ở chỗ chúng tôi. Bạn có biết họ không?”

Hóa ra cặp vợ chồng Tiến Sỹ Luật Gaylard đang ở thành phố Mexico. Họ đã biến mất khỏi ngoại ô thành phố Chascomus ở Argentina và xuất hiện ở nơi này, khoảng cách từ hai địa điểm lên tới 6.000 km. Kỳ lạ hơn nữa là ngay cả chiếc xe của cặp vợ chồng tiến sĩ cũng xuất hiện tại lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Trưởng lãnh sự quán ở đó xác nhận, vào ngày 3/6 vợ chồng tiến sĩ Gaylard quả thực đã ở đó.

Tiến sĩ Gaylard kể lại, khi họ lái xe rời khỏi thành phố Chascomus, vào khoảng 12h10 đêm, phía trước xe bất ngờ xuất hiện một màn sương trắng. Họ lập tức phanh gấp và nhanh chóng rơi vào trạng thái mất hết tri giác. Khi tỉnh giấc thì trời đã sáng, cảnh tượng bên ngoài cửa sổ xe không giống chút nào so với vùng đồng bằng ở Argentina. Sau khi xuống xe và tìm hiểu, họ thấy mình đang ở Mexico. Hai vợ chồng cảm thấy vô cùng kinh ngạc, liền hỏi đường tới lãnh sự quán Argentina để xin giúp đỡ. Vào thời điểm đó, họ phát hiện chiếc đồng hồ đeo tay đã dừng lại đúng vào thời khắc họ ở Argentina lúc 12: 10 ngày 3/6″.

Về hiện tượng này, các nhà khoa học như Stephen Hawking cứ giải thích một cách lầm lạc bằng lý thuyết lỗ sâu đục (wormhole theory) :

lo-sau-duc

Mà không chịu thừa nhận một thực tế đơn giản hơn nhiều là khoảng cách không gian không có thật. Đó chính là thái độ chấp thật mà cả Einstein và Hawking đều mắc phải.

Tóm lại pháp là biểu hiện của tâm, pháp có hai hình thái : vật chất và tinh thần, nhưng dù là hình thái nào, pháp chỉ là ảo, không có thật, pháp chỉ là tưởng tượng của tâm, nhưng không phải chỉ là tưởng tượng suông của ý thức mà là tưởng tượng đồng bộ của sáu thức. Cho nên con người rất khó nhận ra tính chất ảo hoá của mọi hiện tượng, nhất là vật chất như sơn hà đại địa, biển đảo, sinh vật, nhà cửa, xe cộ.

Dẫn chứng tính chất không thật của pháp    

Phần trên chúng ta đã định nghĩa tâm là gì, pháp là gì. Bây giờ chúng ta sẽ dẫn chứng cụ thể để người bình thường có thể hiểu được pháp là không, ngã cũng là không.

Các nhà khoa học Đức có bằng chứng vũ trụ này là giả lập

Đi sâu vào chi tiết, một vật cụ thể ví dụ như toà nhà hay chiếc xe hoặc con người chỉ là cấu trúc phân tử, nguyên tử, mà từ hạt nhân nguyên tử cho tới đám mây electron bao quanh hạt nhân đều có bản chất là sóng (tương ứng với tâm) và chỉ biến thành hạt, thành vật chất (tương ứng với pháp) khi bị nhìn, bị quan sát, bị đo đạc.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Các nhà khoa học đã nhận định rằng các cấu trúc cơ bản của vật chất như hạt cơ bản (ví dụ photon, electron, quark) hay các cấu trúc lớn hơn như hạt nhân nguyên tử, nguyên tử và phân tử, đều hành xử giống như hạt electron, nghĩa là chúng đều có lưỡng tính sóng và hạt. Sóng là thông tin, là năng lượng, là tinh thần, là ý thức (consciousness) không phải vật chất. Còn hạt là vật chất.

Nhận thức của khoa học ngày nay trùng khớp với Phật pháp. Bát Nhã Tâm Kinh từ xa xưa đã nói rằng “Sắc bất dị Không”. Sắc tức là vật chất. Còn Không tức là ảo, nghĩa là không có thật, không có gì hết (nothingness) nhưng biểu hiện là pháp, là vũ trụ, là thế giới. Thế giới chỉ là ảo, không có thật nhưng con người chúng ta lại thấy thế giới rất thật, rất rõ ràng, rất chi tiết.

Trong cuộc sống đời thường, có lẽ tuyệt đại đa số con người không thể tin nổi thế giới chỉ là ảo, là nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng tin học hiện đại đã chứng tỏ rõ ràng cho chúng ta thấy. Những gì chúng ta thấy trên màn hình : văn bản, hình ảnh, video; và nghe qua loa : tiếng nói, âm nhạc, âm thanh; đều là ảo, đều chỉ là tưởng tượng của mắt, của tai, của ý thức, theo nguyên lý thay thế. Còn thực chất của chúng chỉ là những bit thông tin 0 và 1 là biến tướng của hạt electron hoặc hạt photon mà thôi.

Nguyên lý thay thế là một nguyên lý cơ bản phổ biến nhất trong đời sống con người, thế mà đại đa số nhân loại chưa mấy ai ý thức được điều này, kể cả một bộ óc khoa học vĩ đại như Einstein. Trong cuộc sống đời thường hàng ngày, con người đã triệt để áp dụng nguyên lý này trong mọi hình thái hoạt động mà họ không hay biết, không ngờ tới.

Như trên đã nói, vật chất cơ bản là sóng, là vô hình, là không có thật, Phật pháp từ lâu đã dùng thuật ngữ Không để diễn tả. Do đó cửa Phật còn gọi là cửa Không.

一生幾許傷心事,Nhất sinh kỷ hứa thương tâm sự   Một đời lắm chuyện đau lòng

不向空門何處銷    Bất hướng không môn hà xứ tiêu  Không nương cửa Phật biết làm sao tiêu

Thế nhưng con người chỉ thấy vật chất mà không thấy tánh không hay bản thể không, bản thể ảo, do đó mà ôm bao nhiêu đau khổ : chiến tranh, loạn lạc, thiên tai nhân hoạ, tranh giành tài sản, tài nguyên, biển đảo, bệnh tật…Con người cũng không hiểu tại sao những cảnh tượng đau khổ đó xảy ra, chỉ giải thích nông cạn theo khoa học nửa vời nên không thể nào giải quyết được tận gốc vấn đề mà chủ yếu chỉ xoa dịu tạm thời.

Trong thế kỷ 20 đã xảy ra cuộc tranh luận quyết liệt giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein. Đến khi cả hai qua đời, nhân loại cũng chưa phân định được ai đúng ai sai. Nhưng ngày nay thì các nhà khoa học đã biết rằng phần thắng nghiêng về Bohr.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Nhưng nhiều người vẫn còn mơ hồ không hiểu sao chỉ khi có người quan sát đo đạc thì những đặc trưng của hạt photon hoặc hạt electron mới xuất hiện.

Đến khi chúng ta xem lại kinh điển Phật giáo thì vấn đề trở nên rõ ràng. Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng :

一切法無自性 Nhất thiết pháp vô tự tính Tất cả các pháp đều không có tự tính

一切唯心造   Nhất thiết duy tâm tạo         Tất cả đều là do tâm tạo

Hạt photon hoặc bất cứ hạt cơ bản nào, hoặc bất cứ pháp gì đều không có tự tính. Mọi đặc tính đặc trưng của vật đều do tâm tạo, nghĩa là tâm gán ghép cái nhận thức của mình cho vật tuỳ theo tập quán.

Như vậy có thể nói tập quán, tập khí hay thói quen tâm lý chính là nhân tố quyết định để pháp hiện lên là cái gì. Và cũng chính trong ý nghĩa sâu xa đó, tu hành trong Phật giáo chính là sửa cái thói quen mê muội nhiều đời nhiều kiếp mà kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng. Sửa như thế nào ?

Thật ra tu đích thực không phải sửa một thói quen này thành một thói quen khác. Tất cả mọi thói quen dù tốt hay xấu đều là vọng tưởng. Nên tu đích thực là phá bỏ thói quen chấp thật mà thôi. Chúng ta có thói quen cố chấp cho rằng thế gian là có thật, vật chất, núi sông, sinh vật, con người là có thật. Đó chính là thói quen chấp thật, nó sẽ dẫn tới đau khổ. Bởi vì thân thể tốt đẹp, xinh xắn, sẽ có lúc già, bệnh, chết. Nhà cửa đường sá sẽ có lúc sụp đổ vì thiên tai, bão lụt hoặc chiến tranh. Biển đảo, lãnh thổ sẽ có lúc bị nước khác, dân tộc khác xâm chiếm, nguyên do chính là do thói quen chấp ngã. Ai cũng tôn sùng cái tôi của mình và tôn sùng cái sở hữu của mình, lý lẽ ý thức hệ của mình, không ai chịu nhường ai. Cuối cùng sẽ dẫn nhau ra chiến trường. Chiến tranh Syria hiện nay, tình hình tranh giành biển đảo hiện nay, chính là biểu hiện mâu thuẫn xung đột giữa các cái ngã của các nhóm người, các quốc gia, các dân tộc khác nhau.   

Dưới sự thôi thúc của cái ngã thì công pháp quốc tế, những thỏa ước của Liên Hiệp Quốc cũng không có giá trị, những kẻ mạnh sẽ bóp méo luật pháp, diễn giải theo cách có lợi nhất cho mình, trong khi đó lý thì vô cùng, tranh luận mãi cũng không thể thống nhất được. Lý vô cùng biểu hiện như thế nào ?

Chẳng hạn người ta sống để ăn hay ăn để sống ? Kẻ cho rằng sống để ăn thì tôn thờ cái ăn, ăn phải ngon, ăn phải đem lại sự vui thú cho cuộc đời, phải ăn cá tôm, ăn thịt, ăn trên sinh mạng của các loài vật khác, thậm chí ăn tham nhũng, bóc lột tước đoạt của người khác để vinh thân phì gia cho mình. Còn kẻ cho rằng ăn để sống thì không cầu ngon, miễn sao cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể khỏe mạnh, hoạt động được tốt, những người tu hành thường theo quan điểm này. Hai quan điểm này tranh luận với nhau suốt đời cũng không thể thống nhất được bởi vì lý là vô cùng.

Một ví dụ khác là ngày nay người ta đã biết chủ nghĩa duy vật là sai lầm nhưng tuyệt đại đa số mọi người đều sống theo chủ nghĩa ấy. Những người không biết thì theo đã đành, những người biết cũng vẫn theo bởi vì vật chất gắn chặt trong cuộc sống hàng ngày của mọi người. Cho nên mọi lý luận cũng chỉ là hí luận, lý là vô cùng không thể khẳng định được.        

Những tính chất vô thường vô ngã của pháp, không gian, thời gian không có thực, có thể thấy rõ trong luân hồi, tái sinh, chuyển kiếp.

Huỳnh Đình Kiên đời Tống, kiếp trước là cô gái, kiếp sau là đàn ông, cho thấy sự vô ngã, vật hay pháp không có tự tính nhất định.

Cậu bé Titu 6 tuổi sống ở một ngôi làng miền bắc Ấn Độ, thật bẽn lẽn khi gặp lại vợ là Uma và hai đứa con kiếp trước. Hai đứa con lớn tuổi hơn cậu, còn người vợ đời trước là phụ nữ trung niên trong khi cậu mới 6 tuổi. Như vậy thời gian, tuổi tác, chẳng khác gì ảo tưởng.

Suresh Verma Titu Singh Reincarnation Case – Tái Sinh Chuyển Kiếp – VD

Trường hợp của Chiết Quốc Nga cũng tương tự.

Bé gái Chiết Quốc Nga 折国娥 kiếp trước là một người đàn ông ở thôn Mã Gia Than 马家滩  thuộc tỉnh Hà Bắc tên là Trương Phúc Đại 张福大 có vợ và sinh được 2 con trai, con trai cả tên là Trương Cát Lâm 张吉林.

Bây giờ cô là bé gái Chiết Quốc Nga 14 tuổi, trong khi con của cô đời trước cũng tức là con của ông Trương Phúc Đại là Trương Cát Lâm, đã 36 tuổi. Hình tướng đã biến đổi, thời gian, tuổi tác, chẳng còn chút gì thực chất cả, không ai tưởng tượng nổi cô chính là ông Trương Phúc Đại, đó là sự vô ngã, pháp không có tự tính.

Chiet Quoc Nga

Chiết Quốc Nga 14 tuổi và con trai đời trước Trương Cát Lâm 36 tuổi. Bên phải là hình đời trước Trương Phúc Đại, hình nhỏ là Chiết Quốc Nga đã thành thiếu nữ

Kết luận

Tâm là bản thể của vũ trụ vạn vật. Bản thể đó không có hình tướng, nghĩa là vô hình, không phải vật chất, không thể khẳng định là có thật cũng không thể phủ định là không có. Vì vậy Long Thọ Bồ Tát nói : Tâm như hư không vô sở hữu (tâm giống như hư không, không có thật).

Biểu hiện của Tâm là Pháp. Pháp có thể là tinh thần, tình cảm, tâm lý, thông tin, không có hình tướng nhưng cũng có thể là vật chất có hình tướng. Vật chất có thể là chất vô cơ không có sự sống như vô số thiên thể chung quanh quả địa cầu. Vật chất cũng có thể là chất hữu cơ có khả năng tạo ra sự sống, sinh vật và con người.

Muôn vạn các pháp biến hoá vô thường và vô ngã. Không gian, thời gian, số lượng cũng như tất cả các pháp đều chỉ là khái niệm, là vọng tưởng của con người chứ không có thực chất. Do đó bậc giác ngộ như Đức Phật khuyên rằng chúng ta có thể sống với thế lưu bố tưởng, tức là tưởng tượng đã trở nên phổ biến qua nhiều đời nhiều kiếp trên thế gian, nhưng không nên có chấp trước tưởng. Bởi vì hễ cố chấp vào một pháp nào đó thì sẽ dẫn đến phiền não, khổ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 phản hồi

TAM PHÁP ẤN CỦA PHẬT GIÁO

Pháp ấn là con dấu ấn chứng của đạo pháp, ở đây là Phật pháp. Đây là con dấu chứng thực đúng là Phật pháp, của Phật giáo chánh truyền từ Đức Phật.

Ba pháp ấn đó là : Vô thường, Khổ, Vô ngã.

Vô thường là sự biến đổi cảnh giới của thế gian hay bất cứ cảnh giới nào trong Tam giới, tất cả đều là vô thường, biến dịch. Dù cho có tương đối vững bền hàng ngàn năm, hàng tỉ năm, thì vẫn là vô thường, vì có sự biến đổi, dù chậm hay mau đều vẫn có biến đổi.

Và hậu quả của sự biến đổi là Khổ. Một đứa trẻ sinh ra thì nó phải lớn lên, trưởng thành, có vợ có chồng, sinh con đẻ cái, rồi già, bệnh, chết. Già, chết là khổ. Một mỹ nhân xinh đẹp, khi già đi, nhan sắc tàn phai còn đáng sợ hơn là chết. Già cả xấu xí, bệnh tật là khổ. Nhưng con người buộc lòng phải chấp nhận.

francoise-hardy-thoi-trefrancoise-hardy-ve-gia

Ca sĩ Pháp Françoise Hardy thời trẻ và lúc tuổi già

Vô thường còn là sự biến đổi đột ngột không theo quy luật, không thể lường trước. Ví dụ những tai nạn máy bay, tàu thủy, xe cộ. Chẳng hạn máy bay MH370 của hàng không Malaysia đi từ Kuala Lumpur đến Bắc Kinh ngày 08-03-2014, đột nhiên mất tích, trải qua hai năm rưỡi, chỉ tìm thấy một vài mảnh vụn của máy bay, toàn bộ 239 người đi trên đó, bao gồm phi hành đoàn 12 người và 227 hành khách, nghi là đã chết hết nhưng không tìm thấy xác. Cho đến nay vẫn còn là một bí ẩn lớn.

Sự biến đổi bất thường càng gây đau khổ nhiều hơn. Những người bị thiên tai hoặc tai nạn, hay chiến tranh, chết mất để lại sự thương tiếc cho người thân, hoặc bị thương tật, tàn phế, phải đau khổ gánh chịu trong suốt phần đời còn lại.

Phương thuốc để trị cái khổ do vô thường là phải ngộ ra cái bản chất của cuộc đời, của thế gian, đó là Vô ngã.

Vô ngã nghĩa là cái tôi không có thật. Ngã chỉ là một khái niệm hình thành do thói quen lâu đời, do tưởng tượng chứ không phải có thật. Thân thể và ý thức của tôi chỉ là sự hợp thành của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) mà mỗi thành tố trong ngũ uẩn đều không phải thuộc về tôi. Chẳng hạn những chất liệu cấu tạo nên cơ thể của tôi cũng giống như chất liệu tạo nên cơ thể của người khác, hoàn toàn giống nhau. Nếu phân tích sâu hơn nữa, cơ thể gồm nhiều tế bào (cells), tế bào gồm nhiều phân tử (molecules), phân tử gồm nhiều nguyên tử (atoms), nguyên tử gồm các hạt cơ bản (particles). Hạt cơ bản mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc nhất là photon (ánh sáng) và electron (điện tử). Chúng là thân tứ đại, nhà cửa, xe cộ, phố xá, vật dụng, thông tin. Tùy theo cấu trúc nguyên tử và phân tử mà chúng ta cảm thấy vật này cứng rắn, vật kia mềm dẽo, vật này là chất rắn, vật kia là chất lỏng, vật nọ là chất khí. Tất cả cảm giác chúng ta có được đều là biểu hiện của electron, photon và các hạt cơ bản khác. Số lượng và năng lực của electron do cấu trúc của hạt nhân nguyên tử quyết định. Cấu trúc phân tử khác nhau cũng đem lại cảm giác khác nhau. Những cảm giác cứng mềm trơn nhám, hay đắng cay ngọt mặn hoặc mùi thơm thúi v.v…là do cấu trúc phân tử, nhưng cấu trúc phân tử của vật chất cũng chỉ là một cấu trúc ảo, do các hạt ảo tạo thành, tưởng tượng của Tâm mới chính là nhân tố quyết định các loại thức hay cảm giác. Sự tưởng tượng này dựa trên tập quán lâu đời mà PG gọi là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến của thế gian). Ví dụ chúng ta nghe một bản nhạc Hoa, chúng ta chỉ có cảm giác thích thú khi đó là một giai điệu chúng ta từng nghe trong quá khứ, rồi chúng ta phải biết tiếng Hoa, nghĩa là đã có một thói quen học tập tiếng Hoa. Nếu không thì không thể cảm nhận nó có ý nghĩa, hương vị gì.

Tất cả những cảm giác này đều là sự tưởng tượng đồng bộ của 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thức) chứ không phải các nguyên tử, phân tử, hay hạt cơ bản có sẵn những tính chất đó. Điều này kinh điển PG nói là Tất cả các pháp đều không có tự tính 一切法無自性 (Nhất thiết pháp vô tự tính) Nghĩa là tất cả các pháp đều là sự tưởng tượng của Tâm gán ghép vào đối tượng chứ không phải vật tự có những đặc điểm riêng biệt. Đây là một điều có ý nghĩa rất quan trọng, rất cơ bản về thế giới. Chúng ta có thể liệt kê những gán ghép diễn ra như thế nào.

Tưởng tượng hình dung một vật thể với hình dáng màu sắc rất rõ ràng :

hardy-2

Đây là hình ảnh một phụ nữ

Hình ảnh này do Tâm tưởng tượng, nếu không có tâm (của người xem) thì hình ảnh chỉ là những pixels (điểm ảnh) kế tiếp nhau chứ không có đặc điểm gì là phụ nữ cả. Đặc điểm phụ nữ là do tâm tưởng tượng dựa vào ký ức.

Khi hình ảnh được làm cho chuyển động (animation) thì cô gái này có thể cử động, nói năng, ca hát. Chẳng hạn video sau :

11 Le temps de l’amour 1964- Françoise Hardy- Paroles

Khi được phóng hiện ra không gian 3 chiều, thì người phụ nữ này trở thành con người bằng xương bằng thịt và có cuộc sống, cá tính riêng biệt, có cái tên riêng biệt là Françoise Hardy và có một cuộc sống trên thế gian tại nước Pháp. Con người và cuộc sống trên thế gian chỉ là tưởng tượng của bản thân mỗi người và những người chung quanh. Cái bản ngã đó là sự tưởng tượng.

Chính bản thân Françoise Hardy và tất cả mọi người khác đều tưởng tượng đây là một con người có thật, có những đặc điểm riêng. Câu chuyện này bắt đầu từ lúc cái trứng của bà mẹ được thụ tinh thành bào thai, được sinh ra và lớn lên. Đó chính là cách mà tất cả con người xuất hiện trên thế gian. Nhưng ít có ai nghĩ rằng tất cả tế bào, phân tử, nguyên tử, hạt cơ bản, tạo ra con người đều chỉ là tưởng tượng chứ bản thân của tất cả phần tử cũng như bản thân của cả một con người đều không có đặc điểm gì cả (vô tự tính).

Sự luân hồi tái sinh chứng tỏ cái ngã không có đặc điểm gì chắc chắn trường tồn cả, đàn ông có thể biến thành phụ nữ và nhỏ tuổi hơn con cái kiếp trước.

Một trường hợp ở Trung Quốc, bé gái Chiết Quốc Nga 折国娥kiếp trước là một người đàn ông ở thôn Mã Gia Than 马家滩  thuộc tỉnh Hà Bắc tên là Trương Phúc Đại 张福大 có vợ và sinh được 2 con trai, con trai cả tên là Trương Cát Lâm 张吉林.

Chiet Quoc Nga

Chiết Quốc Nga 14 tuổi và con trai đời trước Trương Cát Lâm 36 tuổi. Bên phải là hình đời trước Trương Phúc Đại, hình nhỏ là Chiết Quốc Nga đã thành thiếu nữ 

Chúng ta dường như rất khó hình dung sự thật này. Thử cố gắng nghiên cứu một chút về sinh học.

Nhà nghiên cứu sinh học và hóa học Pháp vĩ đại Louis Pasteur đưa ra hai định luật về sự sống :

Một là sự sống có tính bất đối xứng. Dung dịch acid tartaric chiết xuất từ nho (chất sống) làm quay mặt phẳng của chùm ánh sáng phân cực đi qua nó.

Chẳng bao lâu sau, người ta tổng hợp được acid tartaric tại phòng thí nghiệm, với thành phần hóa học giống hệt acid tartaric chiết xuất từ sinh vật trong tự nhiên. Nhưng điều kỳ lạ và vô cùng khó hiểu là acid tartaric tổng hợp không hề tác động tới chùm ánh sáng phân cực đi qua nó.

dinh-luat-bat-doi-xung

Lý do là tinh thể acid tartaric tổng hợp chứa hai loại tinh thể thuận tay trái và thuận tay phải với số lượng bằng nhau do đó chúng triệt tiêu tác dụng của nhau. Còn acid tartaric chiết xuất từ chất sống tự nhiên chỉ chứa một loại tinh thể thuận tay trái, do đó chúng làm mặt phẳng ánh sáng quay sang trái.

hai-phan-tu-doi-xung-guong

Hai phân tử đối xứng gương kiểu bàn tay trái và bàn tay phải

Hai là chỉ có sự sống mới sinh ra sự sống.

thi-nghiem-binh-co-cong

Bằng thí nghiệm đơn giản nhưng kỳ diệu mang tên “Thí nghiệm bình cổ cong thiên nga”, Pasteur đã chứng minh rằng sự sống chỉ có thể ra đời từ sự sống, đập tan câu chuyện hoang đường về sự hình thành sự sống tự phát (spontaneous generation) – cơ sở của Tiến hóa luận Darwin (Darwinian Evolutionism). Từ đó ông rút ra định luật sự sống có tính bất đối xứng, có nghĩa chất sống có thể phân rã thành chất vô cơ nhưng chất vô cơ không thể tự phát tổng hợp thành chất sống. Và chỉ có chất sống sản sinh ra chất sống.

Chúng ta đã xem qua hai định luật về sự sống của Pasteur từ đó rút ra một nhận định liên quan tới Phật pháp. Hãy nêu câu hỏi : Tại sao sự sống có tính bất đối xứng ? Và tại sao chỉ có sự sống sản sinh ra sự sống ? Chúng ta hãy nêu tiếp một câu hỏi nữa : Tại sao thời gian chỉ có một chiều ? Thời gian một chiều cũng thể hiện tính bất đối xứng của sự sống. Chúng ta ném một cái ly bằng thủy tinh lên không, nó rớt xuống nền gạch vỡ tan. Chúng ta gom các mảnh vỡ và ném lên không, vẫn là các mảnh vỡ, không bao giờ trở thành cái ly nguyên vẹn. Đó cũng là tính bất đối xứng nghĩa là cái ly nguyên có thể vỡ nhưng không thể lành lại.

Hai định luật về sự sống của Pasteur dẫn chúng ta đi tới nhận thức rằng chủ nghĩa duy vật khách quan hay vật chất tự thân vận động để tự tạo thành vũ trụ vạn vật là không có cơ sở. Phải có một yếu tố gì đó tác động thì vật chất sống, sinh vật mới xuất hiện. Đi xa hơn nữa ngay cả vật chất vô cơ cũng không thành lập được nếu thiếu yếu tố đó. Thật vậy Thí nghiệm hai khe hở nổi tiếng chứng tỏ rằng phải có một yếu tố nào đó tác động vào thì hạt electron mới xuất hiện. Chúng ta có thể coi hạt electron là đại biểu cho vật chất. Hạt electron chỉ xuất hiện khi có người quan sát, nó tác động khiến cho màn hứng phía sau tấm chắn có hai khe hở chỉ hiện ra hai vạch, điều đó chứng tỏ rằng hạt vật chất electron đã xuất hiện. Hai vạch trên màn hứng tương ứng với hai khe hở của tấm chắn. Nếu không có người quan sát hay máy dò để theo dõi thì màn hứng hiện ra nhiều vạch chứng tỏ không phải hạt electron mà chỉ là sóng giao thoa, vật chất chưa xuất hiện. Phật giáo nói rằng chính Tâm là yếu tố tác động kỳ diệu đó. Chúng ta hãy xem lại thí nghiệm này :

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Tuy nhiên tính bất đối xứng cũng không phải là điều tuyệt đối. Một cái ly vỡ nát hay một bức tranh xé vụn thì không thể ngẫu nhiên trở lại nguyên vẹn. Tuy nhiên khi có sự can thiệp của Tâm thì lại có thể.

Một hôm, rất nhiều họa sĩ trứ danh tụ hội xem Trương Bảo Thắng biểu diễn thấu thị, di chuyển vật thể. Để tỏ lòng mến mộ anh, trong số họ có một họa sĩ xem biểu diễn xong, ngay tại hiện trường tặng anh một bức quốc họa do chính mình vẽ. Bảo Thắng tiếp nhận bức họa, xem sơ qua một cái, rồi xé nát bức họa. Lúc mọi người nghe tiếng giấy bị xé, nhìn lại thấy anh ung dung xé nhỏ từng mảnh, đều kinh ngạc đến ngây người. Mọi người biết tác phẩm của vị họa gia trung niên này có tiếng tăm tới nước ngoài, nhiều người muốn thu giữ tác phẩm của ông phải phí sức bôn ba tìm kiếm, thế mà Trương Bảo Thắng trước mặt đám đông xé hủy một tác phẩm lớn của ông, việc này khiến ông không thể bước xuống đài, ông không biết nên xử trí ra sao, nổi giận khiến mặt ông đỏ lên, không nói được tiếng nào.

Trương Bảo Thắng xé xong, dùng sức vo các mảnh vụn thành một cục tròn, ném vào chậu nước rửa mặt. “Bảo Thắng, anh làm sao vậy ?” một người bạn như ngủ mê sực tỉnh, cảnh báo anh. Chỉ thấy Bảo Thắng khom lưng vớt cục giấy từ trong chậu nước lên, dùng hai tay ép mạnh cho nước từ trong cục giấy chảy ra ngoài, sau đó để cục giấy giữa hai lòng bàn tay, xoa xoa, không lâu có tiếng sè sè phát ra, lúc anh thôi xoa, bức quốc họa khôi phục nguyên trạng như cũ. Chỉ thấy anh phất tay một cái, trải ra trên bàn, hoàn toàn đúng là bức họa đó, không chút hư hao, không sai tí nào. Lúc đó, mọi người tại hiện trường mới sôi động trở lại, nhiều người không dám tin ở mắt mình. Lúc đó có người vỗ tay, những người khác mới nhớ đến việc vỗ tay hoan hô. Vị họa sĩ đã tặng bức họa, thấy tác phẩm của mình đã bị phá hủy hoàn toàn lại phục hồi như cũ, vui mừng ra mặt, không còn giận nữa, ông mới hiểu ra là trách nhầm Trương Bảo Thắng.

Trương Bảo Thắng đã dùng Tâm của mình khôi phục lại hoàn toàn bức họa đã bị anh xé nát, vò cục, ngâm nước. Cũng giống như thế, vật chất vô cơ không thể ngẫu nhiên biến thành chất sống, nhưng khi có Tâm tác động thì lại có thể. Đó là lý do khiến cho thuyết Có Đấng Sáng Tạo vẫn đứng vững trong khi thuyết Sinh Vật Tiến Hóa của Darwin bị phản bác. Xác suất để cho chất vô cơ ngẫu nhiên kết hợp lại thành chất sống là bằng không, nghĩa là không thể có được. Nhưng khi có Tâm tác động thì lại thành công tạo ra được sinh vật, giống như Trương Bảo Thắng dùng Tâm khôi phục bức tranh.

Cuộc sống thế gian chỉ có thể xuất hiện khi có sự phân cực nhị nguyên. Tâm là bất nhị nhưng cuộc sống đòi hỏi phải có hai hình thái đối lập. Một là chủ thể tức cái tôi của chúng sinh, Hai là đối tượng tức là pháp hay vật ở bên ngoài. Về mặt vật lý, hai hình thái đối lập đó là sóng và hạt. Sóng là thông tin, là tinh thần không phải vật chất. Hạt là vật chất bao gồm chất vô cơ (không phải chất sống) và chất hữu cơ (chất sống). Về mặt sinh học, hoạt động của con người đòi hỏi phải có Thức (cảm giác, nhận biết, tinh thần) và đối tượng là cả vật chất và phi vật chất. Về vấn đề sự sống của chúng sinh, Duy Thức Học PG đã trình bày tỉ mỉ : chúng sinh mà tiêu biểu là con người có lục căn, lục trần và lục thức, gọi chung là 18 giới. Cả 18 giới nằm trong phạm trù của Mạt-na thức tức là cái Ngã của con người chúng ta.

Tính bất đối xứng của sự sống căn nguyên là do vật chất tự nó là không có thực thể. Vật chất chỉ có thể thành lập khi có Tâm tham dự. Chính Tâm tạo ra vật chất chứ không phải ngược lại. Và để hiển thị cuộc sống, Tâm phải phân cực thành chủ thể và đối tượng. Nó cần phải tạo ra và có sự phối hợp giữa căn và trần mới sinh ra thức. Một mình căn (subject) hay một mình trần (object) đều không thể sinh ra thức, Thức chính là cái ta gọi là sự sống. Hình ảnh của cô gái mà không có người nhìn thì không thể là cô gái mà chỉ là một tập hợp những điểm ảnh, thậm chí không thể biết là cái gì (theo thuyết bất khả tri của Kant, vật tự thể (Das Ding an sich) là bất khả tri.

Ngay cả cái mà ta tiếp xúc rất quen thuộc là hạt electron, chính electron xuất hiện đồng thời ở vô số vị trí trong không gian cho ta cảm giác vật chất có thật thông qua 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thức) của Mạt-na thức. Vật chất vốn là Tâm hay miền tần số (frequency domain) chỉ trở thành vật chất khi có người khảo sát (nhìn và tiếp xúc, đo đạc) và vật chất chỉ trở thành chất sống khi nó hàm chứa căn (lục căn). Căn chính là chủ thể (gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não). Đối tượng của căn là trần. Trần có thể cũng là chất sống, có thể không phải chất sống (vô cơ). Căn là phần chủ động tích cực của Tâm, trần là phần phụ tùy của Tâm. Tại sao chỉ có sự sống mới sinh ra sự sống (định luật 2 của Pasteur) ? Bởi vì phần chủ động, phần hoạt động của Tâm là căn, đó là nguồn gốc của sự sống.

Để hiểu rõ ràng hơn, chúng ta cần bước sang lĩnh vực tin học. Tin học là hệ thống thông tin, là thế giới ảo diệu kỳ mà con người ngày nay đang dành không ít thời giờ để sống với nó. Thông tin có nhiều dạng : text (văn bản), image, video (hình ảnh), sound (âm thanh), application (phần mềm ứng dụng, file chạy hay hoạt động). Chất sống trong sinh học, tương ứng với căn trong Duy Thức, tương ứng với phần mềm ứng dụng (application) trong tin học. Chỉ có phần mềm ứng dụng mới có thể sinh sản ra file mới, nhân bản hay tạo ra nhiều ứng dụng hoạt động khác. Chứ các loại file tĩnh như văn bản, hình ảnh, hay ngay cả video thì không thể.

Đến đây thì chúng ta hoàn toàn hiểu được ý nghĩa triết học của hai định luật của Pasteur. Tại sao có định luật bất đối xứng trong sinh học ? Tại sao có định luật chỉ có sự sống sinh ra sự sống ? Ý nghĩa của cả hai định luật là thống nhất, có nghĩa rằng chỉ có chất sống phân rã thành chất vô cơ chứ không có sự ngược lại, nghĩa là từ chất vô cơ tuy có thể tổng hợp thành chất hữu cơ nhưng không thể tổng hợp thành chất sống. Đây cũng chính là sự sai lầm của chủ nghĩa duy vật. Nó sai lầm ở chỗ vật không có tự tính, vật tự thể (Das ding an sich) không có bất cứ đặc điểm, đặc trưng gì cả nên nó không thể tạo thành chất sống. Chất sống phải có cái hồn, tức phần tinh thần ở trong đó. Vật chất chỉ có hồn tức có đặc điểm, đặc trưng khi được Tâm gán ghép tưởng tượng theo một thói quen nào đó (PG gọi là tập khí) và khi đó vật chất mới có thể trở thành chất sống.

Ở trên Mặt trăng không có chất sống, bởi vì vật chất ở đó chỉ là chất vô cơ, chưa có tập khí thích hợp của Tâm để thổi hồn cho nó trở thành chất sống. Trong tế bào chất sống có chứa thông tin di truyền, đây chính là phần mềm ứng dụng hướng dẫn cho chất sống hoạt động và sinh sản. Thông tin di truyền là một chương trình phức tạp không thể ngẫu nhiên hình thành do sự trộn lẫn các chất vô cơ. Điều này giống như chúng ta không thể trộn lẫn ngẫu nhiên các con số 0 và 1 để chúng tự hình thành ra một chương trình ứng dụng có thể hoạt động được. Cái xác suất cho sự trộn lẫn ngẫu nhiên các bit thông tin mà thành chương trình ứng dụng là bằng 0 nghĩa là không bao giờ thực hiện được. Một chương trình ứng dụng phải xuất phát từ trí tuệ của con người. Cũng giống như vậy, vật chất và chất sống phải xuất phát từ tuệ giác của Tâm mà PG gọi là Chánh biến tri tức là sự hiểu biết đích thực không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Còn các tôn giáo khác gọi là Thượng Đế, Chúa, hay Trời hoặc Đạo. Nói chung người ta mường tượng đó là một Đấng Sáng Tạo có trí tuệ không hạn chế.

Chúng ta có thể nói rằng bản chất của vật chất, của các hạt cơ bản, là không có thật. Tâm mới là nguồn gốc, động lực cho mọi cảnh giới. Điều này đã được thí nghiệm hai khe hở chứng minh một cách rõ ràng. Chính là Tâm của người khảo sát làm cho hạt electron vốn là sóng bất định không phải vật chất, trở thành hạt vật chất có đặc điểm của hạt electron. Và tiếp theo chính là Tâm làm cho nguyên tử, phân tử trở thành chất sống. Chứ vật tự thể nó vốn chỉ là một cấu trúc ảo, tánh không, giống như hư không, thì không thể tạo thành vật chất vô cơ chứ chưa nói đến chất sống.

Kết luận

Cuộc sống thế gian là vô thường, nghĩa là nó luôn luôn thay đổi biến dịch. Sự biến đổi này có khi xảy ra đột ngột không thể lường trước. Ví dụ :

Chiếc máy bay loại trực thăng EC130 của công ty bay miền Trung mất liên lạc chỉ sau 15 phút cất cánh trong buổi diễn tập sáng 18/10 tại khu vực tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.. Trên máy bay có 3 thành viên của tổ lái, tất cả đều thiệt mạng.

may-bay-ec130

Sự biến đổi đó gây ra đau khổ, chẳng hạn thân nhân của những người thiệt mạng nói trên sẽ đau khổ.

Để hóa giải sự đau khổ của cuộc đời, con người cần phải hiểu sự Vô ngã mà Phật pháp đã nêu ra từ lâu trong kinh điển. Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng : 無老死、亦無老­死盡 Không có Già Chết, cũng không có hết Già Chết. Sinh Lão Bệnh Tử trên thế gian chỉ là ảo hóa, tưởng tượng mà thôi, không phải là thật. Hiểu Vô ngã thì biết rằng cuộc sống, đau khổ cũng chỉ là tưởng tượng.

Tam pháp ấn của Phật giáo là ba dấu ấn thâm sâu, rõ ràng, đủ để diễn tả thực tế cuộc đời là vô thường, ảo hoá. Nếu chúng ta chấp chặt vào vô thường thì ắt sẽ khổ. Hiểu rõ bản chất vô ngã của mọi hiện tượng là cách hoá giải đau khổ, là giác ngộ.

Truyền Bình

 

Đăng tải tại Bài viết | 7 phản hồi

QUY LUẬT CƠ BẢN NHẤT CỦA VŨ TRỤ VẠN VẬT : NGUYÊN LÝ THAY THẾ

Trong vũ trụ có một nguyên lý rất cơ bản, rất phổ biến nhưng đại đa số mọi người ít nghe nói tới và cũng chưa hiểu hết tầm quan trọng của nó. Đó là nguyên lý thay thế (principle of replacement).

Nguyên lý thay thế thể hiện như thế nào trong cuộc sống ?

Trươc hết là ngôn ngữ.

Ngôn ngữ của một dân tộc bao gồm âm thanh và chữ viết. Có những dân tộc chưa phát triển, trong thời kỳ cổ xưa có thể có tiếng nói mà chưa có chữ viết. Có những bộ lạc sống trong rừng sâu, núi cao, ngay thời hiện đại cũng chỉ có tiếng nói mà không có chữ viết.

Tiếng nói có thể là đơn âm hay đa âm dùng để diễn tả một sự vật, một khái niệm. Ví dụ quả núi, con sông, con trâu, con cọp, mặt trời, mặt trăng, ngày, tháng, năm. Tiếng nói đó có thể được ghi chép bằng văn tự ban đầu là văn tự tượng hình về sau phát triển thành văn tự phát âm.

Tiếng nói và chữ viết dùng để thay thế cho một khái niệm mà con người muốn diễn tả cho người khác biết. Ví dụ :

Diễn tả quả núi : phát âm /shan/ sơn/    vẽ hình Son copygiản lược thành ký hiệu 山

Diễn tả đứa con trai : phát âm /zi/ tử/    vẽ hình Tu-con copygiản lược thành ký hiệu 子

Để diễn tả những khái niệm trừu tượng thì cần cả một quá trình.

Diễn tả năm (thời gian) ban đầu là cây lúa trĩu hạt phát âm /nian/niệm, niên/ Giản lược hóa thành nien-copycuối cùng giản lược thành ký hiệu 年 Chữ này xưa có nghĩa được mùa âm /niệm/ nay nghĩa là năm âm /niên/

Lai Lich Chu Nien

Lich Su Chu Nien

Ban đầu là vẽ hình cây lúa chín trĩu hạt, rồi giản lược hóa thành chữ niên ngày nay. Ngày xưa mỗi năm chỉ làm một vụ lúa mùa, mỗi mùa lúa là một năm. Từ đó hình thành khái niệm thời gian một năm.

Như vậy tiếng nói và chữ viết là để thay thế cho những khái niệm mà con người muốn diễn tả. Âm thanh /niên/ và chữ viết年 vốn không có ý nghĩa gì cả, bây giờ được thay thế bằng khái niệm có ý nghĩa. Như thế là con người đã gán ghép ý nghĩa cho từ ngữ.

Cùng một khái niệm là niên, mỗi dân tộc dùng âm thanh và chữ viết khác nhau để diễn tả. Ví dụ người Anh dùng chữ  /year/, người Pháp dùng chữ /année/

Kế tiếp là tin học

Nguyên lý thay thế được ứng dụng một cách toàn diện trong tin học. Tin học chỉ sử dụng hai con số cơ bản nhất là 0 và 1 gọi là hệ nhị phân (binary system) để đếm số. Số 0 thay thế cho mạch điện hở (không có dòng điện), số 1 thay thế cho mạch điện kín (có dòng điện). 0 và 1 có thể tạo ra vô lượng vô biên con số khác nhau. Mỗi con số được thay thế bằng một khái niệm. Có đủ loại khái niệm : Chữ viết La tinh, chữ viết tượng hình (ví dụ Hán ngữ), chữ viết Ả rập, Miên, Lào, Thái, Hàn, Nhật…Chữ số Ả rập. Màu sắc với hàng triệu màu khác nhau. Ánh sáng đủ loại cường độ. Âm thanh đủ mọi cung bậc. Hình thể : vuông, tròn, cong, gãy, méo…đủ loại, đủ kích cỡ. Tất cả mọi khái niệm đều có thể dùng một con số để biểu diễn, để thay thế.

Tuy nhiên tin học hiện nay chưa diễn tả được các khái niệm về cảm giác của mũi, lưỡi, thân thể tiếp xúc. Thế nghĩa là trong 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tin học chỉ mới diễn tả được các khái niệm của 3 giác quan (mắt, tai, ý) mà chưa diễn tả được cảm giác của 3 giác quan còn lại (mũi, lưỡi, thân).

Ví dụ khi chúng ta ăn một món ngon, cảm giác của lưỡi nếm thế nào thì chưa có cách diễn tả chính xác. Hay khi nam nữ tiếp xúc giao cấu, cảm giác sướng khoái như thế nào thì tin học chưa diễn tả được.

Còn các khái niệm của mắt, tai, ý thì tin học có đủ khả năng diễn tả. Khi lưu trữ dữ liệu thì dùng dạng số (digital). Còn khi hiển thị thì mỗi con số được thay thế chính xác bằng các khái niệm tương ứng khiến cho chúng ta nhìn thấy trên màn hình chữ viết, hình ảnh, video; và nghe từ loa tất cả mọi thứ âm thanh, âm nhạc.

Tóm lại toàn bộ những gì ta thấy trên màn hình máy tính và nghe từ hệ thống loa đều dựa vào nguyên lý thay thế. Những con số sẽ được thay thế bằng khái niệm tương ứng. Ví dụ :

Kí tự ASCII in được

Hệ 2
(Nhị phân)
Hệ 10
(Thập phân)
Hệ 16
(Thập lục phân)
Đồ hoạ
(Hiển thị ra được)
010 0000 32 20 Khoảng trống (␠)
010 0001 33 21 !
010 0010 34 22
010 0011 35 23 #
010 0100 36 24 $
010 0101 37 25 %
010 0110 38 26 &
010 0111 39 27
010 1000 40 28 (
010 1001 41 29 )
010 1010 42 2A *
010 1011 43 2B +
010 1100 44 2C ,
010 1101 45 2D
010 1110 46 2E .
010 1111 47 2F /
011 0000 48 30 0
011 0001 49 31 1
011 0010 50 32 2
011 0011 51 33 3
011 0100 52 34 4
011 0101 53 35 5
011 0110 54 36 6
011 0111 55 37 7
011 1000 56 38 8
011 1001 57 39 9
011 1010 58 3A :
011 1011 59 3B ;
011 1100 60 3C <
011 1101 61 3D =
011 1110 62 3E >
011 1111 63 3F ?
100 0000 64 40 @
100 0001 65 41 A
100 0010 66 42 B
100 0011 67 43 C
100 0100 68 44 D
100 0101 69 45 E
100 0110 70 46 F
100 0111 71 47 G
100 1000 72 48 H
100 1001 73 49 I
100 1010 74 4A J
100 1011 75 4B K
100 1100 76 4C L
100 1101 77 4D M
100 1110 78 4E N
100 1111 79 4F O
101 0000 80 50 P
101 0001 81 51 Q
101 0010 82 52 R
101 0011 83 53 S
101 0100 84 54 T
101 0101 85 55 U
101 0110 86 56 V
101 0111 87 57 W
101 1000 88 58 X
101 1001 89 59 Y
101 1010 90 5A Z
101 1011 91 5B [
101 1100 92 5C \
101 1101 93 5D ]
101 1110 94 5E ^
101 1111 95 5F _
110 0000 96 60 `
110 0001 97 61 a
110 0010 98 62 b
110 0011 99 63 c
110 0100 100 64 d
110 0101 101 65 e
110 0110 102 66 f
110 0111 103 67 g
110 1000 104 68 h
110 1001 105 69 i
110 1010 106 6A j
110 1011 107 6B k
110 1100 108 6C l
110 1101 109 6D m
110 1110 110 6E n
110 1111 111 6F o
111 0000 112 70 p
111 0001 113 71 q
111 0010 114 72 r
111 0011 115 73 s
111 0100 116 74 t
111 0101 117 75 u
111 0110 118 76 v
111 0111 119 77 w
111 1000 120 78 x
111 1001 121 79 y
111 1010 122 7A z
111 1011 123 7B {
111 1100 124 7C |
111 1101 125 7D }
111 1110 126 7E ~

Các ký tự ta nhìn thấy ở cột cuối cùng là hình ảnh thay thế cho những con số nhị phân trong dữ liệu nằm trong bộ nhớ, các con số nhị phân lại tương ứng với vô số mạch điện đóng (số 1) hay ngắt (số 0) nằm trong máy.

Khi máy vi tính hoạt động, dữ liệu có thể được tạo ra từ bàn phím, từ micro, hay từ camera và nằm trong bộ nhớ hoạt động (RAM), khi được lưu (save) chúng sẽ được lưu lâu dài trong các loại bộ nhớ lưu trữ như đĩa cứng, USB, thẻ nhớ, dưới dạng các loại files : văn bản (document  *.doc hay *.docx, *txt); hình ảnh (pictures  *.jpg, *.png); âm thanh (sound, music *mp3, *.wav, *.wma); video (*mp4, *wmv, *.flv) v.v…

Trong máy, dữ liệu (data) là sự bố trí các mạch điện theo kiểu đóng, ngắt mạch. Khi lưu trữ, dữ liệu là hệ thống số nhị phân. Còn trên màn hình thì dữ liệu được hiển thị thành kí tự, thành hình ảnh, âm thanh hay video theo nguyên lý thay thế. Việc gán ghép con số nào sẽ hiển thị thành kí tự gì hay khái niệm nào về màu sắc, âm thanh, ánh sáng gì là do qui ước tùy tiện, người ta thống nhất với nhau như vậy chứ không phải là một sự ràng buộc tự nhiên nào cả.

Con chip vi xử lý (processor) mỗi giây có thể thay đổi hàng tỉ lần để thay đổi mạch điện tùy theo người điều khiển là chúng ta muốn hiển thị cái gì. Ví dụ một trang văn bản của chúng ta thể hiện bằng Word trên màn hình có 300 chữ tương ứng với 1500 kí tự con và 3000 khoảng trống. Thì trong máy các mạch điện sẽ được bố trí thành một ma trận có 4500 con số nhị phân tương ứng. Ngược lại, chúng ta thay đổi nội dung trên màn hình thì trong máy các mạch điện cũng thay đổi tương ứng. Ngoài ra còn có những ứng dụng (application) tạo sự thuận lợi cho việc đánh văn bản (ví dụ Word). Do đó một văn bản dạng word như bài viết này có 3601 chữ cần tới một dung lượng thực tế vào khoảng 214.5KB tức khoảng 219.600 (1KB = 1024 byte) con số nhị phân để biểu diễn, và cái chúng ta thấy là chữ viết và hình ảnh (chưa kể video). Chữ viết và hình ảnh đã thay thế cho 219.600  con số nhị phân theo các bảng qui ước về kỹ thuật.

Sự việc càng phức tạp hơn và cần nhiều dung lượng hơn đối với một video clip có hình ảnh chuyển động và âm thanh. Chẳng hạn bài hát sau đây :

Thiên Thai – Văn Cao – Hoàng Oanh

Bài hát trên dạng mp4 với hình ảnh có độ phân giải là 480×360 pixels có dung lượng là hơn 30MB tức là cần hơn 30 triệu con số nhị phân để biểu diễn.

Để xử lý một dung lượng lớn như vậy, con chip xử lý phải có tốc độ rất nhanh. Computer bình thường hiện nay có con chip cũng là 2 nhân (lõi) mỗi lõi có tốc độ từng lõi cỡ 3GHz tức là thay đổi 3 tỉ lần mỗi giây đồng hồ.

30 triệu con số nhị phân chẳng có ý nghĩa gì được thay thế bằng 30 triệu chi tiết khái niệm quen thuộc và kết quả là chúng ta thấy trên màn hình, hình ảnh xứ sở thần tiên và nghe giọng hát của nữ ca sĩ Hoàng Oanh hát bài Thiên Thai của Văn Cao.

Sự thay thế có tính chất tùy tiện, nghĩa là chúng ta có thể thay thế cái file video đó bằng bất cứ nhóm chữ nào cũng được. Ví dụ :

Thay thế một cách tùy tiện

Bấm vào đường dẫn trên vẫn mở ra bài Thiên Thai do Hoàng Oanh hát.

Như vậy trong cuộc sống đời thường, tập quán, thói quen sẽ quyết định những gì mà chúng ta cảm nhận. Cấu trúc vật chất vốn là ảo và không có đặc tính gì cả, tập quán, tập khí sẽ quyết định chúng ta sẽ cảm nhận được cái gì. Ví dụ, hãy xem hình dưới đây :

Co Gai hay Mu Phu Thuy

Nếu đầu óc chúng ta quen với hình ảnh cô gái trẻ thì sẽ thấy đó là cô gái. Còn nếu chúng ta từng thấy hình ảnh mụ phù thủy thì có thể thấy đó là mụ phù thủy. Còn nếu trong đầu có dữ liệu của cả hai thì sẽ thấy cả hai.

Cho đến cuộc sống đời thường trên thế gian     

Trong cuộc sống đời thường của nhân loại, nguyên lý thay thế cũng đóng một vai trò hết sức to lớn. Kinh Hoa Nghiêm nói : “Tâm như họa công sư, họa chủng chủng ngũ ấm. Nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo…Nhất thiết pháp vô tự tính心如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính)

Tất cả các pháp đều không có tự tính có nghĩa là các hạt cơ bản của mô hình chuẩn Vật lý hạt (hiện nay bao gồm 18 hạt gồm 6 quarks, 6 leptons, 5 forces trong đó có hạt graviton mới khám phá năm 2016 và 1 hạt higgs tạo ra khối lượng) cũng đều không có tự tính, nghĩa là không có đặc tính, đặc trưng gì cả.

Cuộc tranh cãi về khoa học lớn nhất thế kỷ 20 giữa Niels Bohr và Albert Einstein từ năm 1935 cuối cùng đã đi đến kết thúc vào năm 1982 sau khi cả hai ông đều đã qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962).

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Năm 1982, tại Paris, Alain Aspect đã làm cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement), cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, bằng chiếc máy do John Clauser, người Mỹ sáng chế. Ông đã áp dụng bất đẳng thức của John Bell, chứng minh được rằng liên kết lượng tử là có thật, các đặc trưng của hạt photon như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, không có sẵn. Chúng chỉ xuất hiện khi có người quan sát, khảo sát, đo đạc. Điều đó cũng có nghĩa là chính người khảo sát đã gán ghép khái niệm của mình cho hạt photon hoặc hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác của vật chất, kể cả nguyên tử và phân tử. Đó là ý nghĩa triết học và khoa học vô cùng cơ bản, vô cùng quan trọng, vô cùng phổ biến của nguyên lý thay thế (principle of replacement) mà con người không hề hay biết. Cuộc thí nghiệm cũng chứng tỏ sự sai lầm hết sức cơ bản của Einstein và chủ nghĩa duy vật. Bởi vì thực ra vật chất không có thật, vật chất chỉ là cảm giác, khái niệm, tưởng tượng của Tâm mà thôi. Tâm tưởng tượng ra các đặc tính đặc trưng rồi gán ghép cho vật theo nguyên lý thay thế.

Vật do tâm phóng hiện rồi tâm lại tương tác với vật theo mối quan hệ chủ thể – đối tượng. Sự thật chỉ có dòng điện tín hiệu chạy trong bộ não thông qua tiền ngũ thức, tức 5 giác quan đầu của lục căn bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể. Video sau mô tả rõ.

Vạn Pháp Duy Thức

Vật từ trong tâm hay nói cụ thể hơn từ trong bộ não phóng hiện ra không gian 3 chiều như thế nào ? Cơ chế phóng hiện này giống như sự xuất hiện của toàn ảnh. Video sau đây mô tả về sự xuất hiện của toàn ảnh tức là một ảnh ảo, xuất hiện ở nơi nó không hiện hữu.

Universe 3 – Nguyên Lý Toàn Ảnh – Ảo Ảnh Xuất Hiện Cách Nào

Chúng ta ở bên ngoài nhìn vào thì biết rằng đó là ảo ảnh không có thật. Chẳng hạn chúng ta là khán giả xem truyền hình chương trình món ngon mỗi ngày. Chúng ta thấy thức ăn rất ngon nhưng chúng ta không thể ăn được, cũng không thể sờ mó hay ngửi thấy mùi thơm của thức ăn.

Bì cuốn chay – Thanh Vũ – Minh Châu

Nhưng người trong cuộc (Thanh Vũ và Minh Châu) thì hoàn toàn có thể sờ mó ngửi nếm món ăn.

Đó là một quy tắc mà chúng ta cần nắm. Đối với toàn ảnh, người ở ngoài nhìn vào thì biết đó là giả, là ảo, nhưng người trong cuộc thì thấy hoàn toàn là thật.

Kết luận

Tương tự như trong tin học, cuộc sống thế gian cũng giống như vậy, hoàn toàn do nguyên lý thay thế thống trị. Chúng ta đang sống trong cảnh giới đó thì thấy mọi thứ trong đó hoàn toàn là thật. Nhưng đối với các bậc giác ngộ đã tỉnh giấc chiêm bao mới biết không có gì là thật. Tất cả chỉ là do Tâm tưởng tượng ra theo nguyên lý thay thế mà thôi. Nhân loại cần phải hiểu rõ ý nghĩa khoa học và triết học của cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Albert Einstein. Phải biết lúc nào có thể tạm theo Einstein và lúc nào phải theo Bohr để tránh những cuộc chiến tranh ngu xuẩn, giảm bớt lòng tham lam tiền bạc, vật chất, danh vọng phù du và sống một cuộc sống an lành, không có quá nhiều thiên tai, nhân họa.

Năm 1996, thầy Duy Lực đã đầu tư thiết lập tại Bình Thủy một phòng máy vi tính đầu tiên của địa phương này và tiến hành giảng dạy cho một số em học sinh của trường Tiểu học Bình Thủy thuộc quận Bình Thủy, TP Cần Thơ, để các em có khái niệm về tin học. Tại sao một nhà tu hành, một tu sĩ Phật giáo lại muốn các em nhỏ làm quen với khái niệm tin học ? Bởi vì giữa tin học và cuộc sống đời thường là rất giống nhau ở cơ chế hoạt động cũng như ở nguyên lý thay thế này.

Tin học đã mô phỏng theo hoạt động của bộ não người để chế tạo ra chiếc máy vi tính kỳ diệu. Thế giới đời thường hay thế gian cũng rất giống thế giới ảo của máy vi tính, chỉ cao cấp hơn mà thôi, còn sự hoạt động và nguyên lý thay thế thì chỉ là một mà thôi.

Chúng tôi đã dạy cho các em cách thay thế một nhóm các ký tự này bằng những ký tự khác quen thuộc hơn. Ví dụ thay số nhị phân bằng số thập phân, thay những nhóm ký tự vô nghĩa bằng những chữ quen thuộc.  Chẳng hạn :

1000001   thay bằng 65 và thay bằng chữ  A  (theo bảng qui ước ký tự Ascii)

https://www.youtube.com/watch?v=g3dhy6-_mpM   thay bằng

Chấp trước là pháp thế gian : Thọ, Tưởng, Hành, Thức

Nhưng thực tế lúc đó chúng tôi cũng chưa hiểu hết ý nghĩa triết học vô cùng quan trọng của nguyên lý thay thế và các em nhỏ cũng không thể nào hiểu nổi nguyên lý này hoạt động trong đời thường như thế nào.

Giữa tin học và Duy Thức Học Phật giáo là rất giống nhau, có thể tóm tắt trong bảng sau :

Số TT Duy Thức học Phật giáo Tin học Hiệu ứng (thức) Đối tượng  (objects)
1 Mắt Video card Thấy Sắc (vật chất)
2 Tai Sound card Nghe Âm thanh(sóng)
3 Mũi Chưa có Ngửi Mùi hương
4 Lưỡi Chưa có Nếm Cảm giác ngọt mặn, chua, cay…
5 Thân thể Chưa có Cảm giác tiếp xúc Cảm giác êm, đau, trơn, nhám, nóng, lạnh…
6 Não Ram và CPU Ý thức Tư tưởng, tình cảm, ưa, ghét…
7 Mạt-na (Manas) Đĩa cứng Chấp ngã, khu biệt Cái tôi, cái của tôi
8 A-lại-da (Alaya) Internet Bao gồm cả chủ thể và đối tượng. Bản thể của thế giới Bất nhị, vũ trụ, vạn vật trong đó có sinh vật, con người

Hiểu được cơ chế hoạt động của nguyên lý thay thế trong tin học và trong đời thường là điều mà tất cả mọi người chúng ta cần biết để không còn bị mê hoặc, lầm lẫn đáng tiếc. Chẳng hạn nhà văn Lỗ Tấn phê phán Nho giáo là “học thuyết ăn thịt người”. Người trí ắt hiểu ngay chính Lỗ Tấn là người gán ghép đặc tính “ăn thịt người” cho Nho giáo chứ không phải Nho giáo tự có đặc tính đó. Như vậy không cần phải nhọc sức tranh luận vô ích. Điều đó cũng giống như chúng ta gán ghép mọi đặc tính tưởng tượng của vũ trụ vạn vật vào cái Vật tự thể (Das ding an sich = The thing in itself) hay tánh Không của vạn pháp mà thôi.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG TRÊN THẾ GIAN

Cuộc sống đời thường của con người trên thế gian, chúng ta thường nghĩ là quá quen thuộc, chúng ta đã biết quá rõ bởi vì đã trải qua rất nhiều năm tháng với nó. Thật ra đó là một ý nghĩ rất sai lầm, bởi vì thực ra chúng ta không hiểu mấy về cuộc sống của chính mình. Tại sao ? Dưới đây là một số câu trả lời cho câu hỏi tại sao chúng ta chưa hiểu mấy về cuộc sống của chính mình.

Không biết thế gian và cuộc sống con người từ đâu mà có

Tuyệt đại đa số người trên thế gian dù hữu thần hay vô thần đều cho rằng thế giới vật chất là tự nhiên có, hoặc là do một Đấng Sáng Tạo làm ra, nó có sẵn trước khi con người sinh ra. Thế giới là độc lập, khách quan, đối với ý thức của con người. Triết thuyết này đã có từ thời xa xưa và tới thời cận và hiện đại, những nhà triết học và nhà khoa học đã phát biểu lập trường rõ ràng về quan niệm này có thể kể là Karl Marx và Einstein. Cái triết thuyết mà họ đưa   ra dù có đặt tên chính thức hay không chính thức, được gọi là chủ nghĩa duy vật (materialism). Họ cho rằng vũ trụ, thế giới là có thật, đó là thế giới có nền tảng là vật chất. Ý thức của con người chẳng qua là sản phẩm của bộ não. Bộ não người là một cấu trúc tinh vi phức tạp, được hình thành qua quá trình hàng tỉ năm tiến hóa của vật chất, từ vô cơ tới hữu cơ, từ sinh vật đơn giản chỉ có một tế bào cho tới sinh vật vô cùng phức tạp cao cấp nhất là con người.

Giữa Karl Marx và Einstein cũng có chỗ khác nhau. Einstein tin có Chúa là Đấng Sáng Tạo nhưng đó không phải là nhân vật hữu ngã mà là một sức mạnh vô ngã có trí tuệ, có khả năng hướng dẫn vật chất tạo ra sinh vật và con người. Marx thì không tin có Chúa, cho rằng chỉ có vật chất tự thân vận động theo quy luật tự nhiên, theo thuyết tiến hóa của Darwin để hình thành thế giới mà chúng ta thấy ngày nay. Nhưng cả hai đều có sai lầm rất cơ bản, nó chứng tỏ họ không thật sự biết thế gian và cuộc sống con người từ đâu mà có.

Thuyết sinh vật tiến hóa của Darwin qua thế kỷ 21 đã bị phản bác rất nhiều, tỏ ra không còn đáng tin cậy nữa. Có thể xem chi tiết tại website này :

Bất đồng quan điểm về khoa học với học thuyết Darwin

Nhận thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật cũng đã bị khoa học phản bác. “Vật chất tồn tại độc lập, khách quan đối với ý thức” là một quan điểm sai lầm mà cả Karl Marx và Einstein đều phạm phải.

Thí nghiệm hai khe hở chứng tỏ vật chất (cụ thể là hạt electron) không độc lập đối với ý thức.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Cuộc tranh cãi lớn giữa Niels Bohr và Einstein đã kết thúc vào năm 1982. Quan điểm của Einstein cho rằng thế giới là khách quan, hạt photon lúc nào cũng có sẵn đặc trưng như : vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin, đã bị chứng minh là sai lầm. Nguyên lý bất định của Werner Heisenberg công bố năm 1927 có ý nghĩa khoa học và triết học vô cùng cơ bản. Thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris về liên kết lượng tử (quantum entanglement) chứng minh rằng hạt photon không có sẵn những đặc trưng kể trên. Những đặc trưng đó chỉ xuất hiện khi con người tiến hành quan sát và đo đạc. Nó chứng tỏ rằng những đặc trưng đó là do con người gán ghép cho vật. Hay nói một cách rõ ràng hơn như kinh điển Phật giáo từ lâu đã nói : Tất cả các pháp đều không có tự tính (Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性). Mọi tính chất của các pháp đều do con người tưởng tượng ra, mà kinh điển dùng thuật ngữ “thế lưu bố tưởng” (tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian). Ví dụ :

duong-quy-phi-pham-bang-bang

Dương Quý Phi do Phạm Băng Băng sắm vai

Hình ảnh Dương Quý Phi chỉ là tưởng tượng của con người. Chứ bản thân tấm ảnh chỉ là những điểm ảnh (pixels) vô nghĩa. Chỉ có con người mới tưởng tượng đó là ảnh của Dương Quý Phi, một trong tứ đại mỹ nhân Trung Quốc, chứ đối với con mối, ảnh của Dương Quý Phi không hề tồn tại, nó chỉ cảm thấy đó là giấy có thể ăn được. Rồi khi ảnh đó được dựng lên trong không gian ba chiều, chỉ có con người là tưởng tượng đó là Dương Quý Phi trong cơ thể bằng xương bằng thịt của Phạm Băng Băng. Nhưng đối với những con vi trùng thì Phạm Băng Băng không tồn tại, chúng chỉ cảm nhận có máu, thịt, tế bào…Nhưng máu, thịt, tế bào vẫn còn là tưởng tượng của chúng, đi sâu hơn nữa vào cấu trúc phân tử và nguyên tử, chỉ còn là proton, neutron, electron. Mà theo kết quả khảo sát của Alain Aspect năm 1982, các hạt cơ bản như photon, electron cũng chỉ là tưởng tượng của con người chứ không có thật. Sự thật là cái gì thì không ai biết. Triết gia Immanuel Kant từ thế kỷ 18 đã gọi đó là điều bất khả tri. Vật tự thân, hay vật tự thể (Das Ding an sich) nó là cái gì thì không ai biết, không ai có thể biết, người ta chỉ có thể gán ghép tưởng tượng của mình cho nó mà thôi.

Mỗi khi con người nhìn nó thì nó liền biến thành hạt vật chất electron với những đặc trưng do con người tưởng tượng và các nguyên tử, phân tử và sự nhân rộng của các cấu trúc ảo của vật chất để cuối cùng thành thân thể của sinh vật, nhà cửa, xe cộ, vật dụng, sơn hà, đại địa, biển đảo, hành tinh, ngôi sao và vô số thiên thể trong vũ trụ.

Như vậy thế giới vật chất hay cõi thế gian là một sự tưởng tượng đồng bộ của sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, ý thức). Sáu giác quan hội tụ lại trong một cái “ngã”, cái tôi mà Duy Thức Học gọi là Mạt-na thức. Và tất cả chúng sinh trong Tam giới đều nằm trong một kho chứa khổng lồ vô cùng lớn gọi là A-lại-da thức.

Vật chất chỉ là cảm giác và tưởng tượng. Vật chất không thật sự có những đặc tính như : cứng, đặc, hình dáng, màu sắc, mùi thơm, thúi, vị ngọt, mặn, chua, chát, cảm giác trơn, nhám, êm ấm hay nóng rát…Tất cả mọi cảm giác đó đều là tưởng tượng của sáu giác quan. Mạt-na thức dựa vào tập khí, thói quen của nó, đối chiếu với cấu trúc ảo cũng do nó phóng hiện ra và tưởng tượng đồng bộ thành vật. Sự kiện này khoa học gọi là sự sụp đổ chức năng sóng và xuất hiện hạt vật chất như photon, electron và các hạt cơ bản khác, từ đó xuất hiện nguyên tử, phân tử rồi cố thể vật chất. Quá trình này được mô tả trong video sau :

Vạn Pháp Duy Thức

A-lại-da thức của Duy Thức Học được kinh điển Phật giáo gọi chung là Tâm. Tâm là bao gồm tất cả không phân biệt chơn vọng. Một thuật ngữ khác gọi là Bất nhị. Bất nhị không phải là Một cũng không phải là Nhiều, mà là không có số lượng (non quantity). Khi khoa học nghiên cứu về lượng tử thì khám phá ra 3 tính cơ bản của lượng tử là không có thật (non realism), không có vị trí nhất định (non locality) và không có số lượng (non quantity).

Như vậy Phật giáo nói Tâm là nguồn gốc của thế gian và con người. Người đời có biết hay không ? Thế gian là do tưởng tượng chứ không phải có thật. Chính vì vậy Bát Nhã Tâm Kinh mới nói : Không có vô minh, không có hết vô minh; Không có già chết, cũng không có hết già chết  (無無明、亦無無明盡、乃至無老死、亦無老­死盡VÔ VÔ MINH, DIỆC VÔ VÔ MINH TẬN, NÃI CHÍ VÔ LÃO TỬ, DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN )

Sở dĩ Kinh nói không có, bởi vì tất cả mọi cảnh giới đều chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Tưởng tượng đó không phải chỉ có ý thức mà cả 6 thức đều tưởng tượng đồng bộ, bởi vậy con người không thể hình dung nổi là thế gian không có thật. Sở dĩ kinh nói không có hết Già Chết, không có hết sinh tử Sinh Tử, không có hết Vô Minh, bởi vì đó là biểu hiện của Tâm. Tâm là không có gì cả, nhưng biểu hiện của nó là Vật chất, là Sinh Tử. Điều kiện cần thiết để có biểu hiện thành cuộc sống thế gian là phải có Vô Minh. Trong nhất niệm vô minh của Tâm thì hạt photon, electron, các hạt cơ bản xuất hiện, cố thể vật chất xuất hiện, thế gian xuất hiện, sinh tử xuất hiện.

Những lầm tưởng cơ bản của con người      

Từ chỗ tưởng tượng vật chất là có thật, là vững chắc, cái ta là có thật, con người phát sinh rất nhiều thứ mê lầm. Những mê lầm này khiến cuộc sống con người trên thế gian trở nên bất hạnh.

Một trong những bất hạnh đó là ham muốn, tranh giành, bạo lực, chiến tranh. Chiến tranh xảy ra khi con người tranh giành tài nguyên, lãnh thổ. Như cuộc chiến tranh tại Syria hiện nay là một thí dụ. Sau 5 năm chiến tranh, đã có 250.000 người chết, 1,6 triệu người bị thương, 11 triệu người (một nửa dân số) bỏ nước ra đi chủ yếu sang Châu Âu, hàng ngàn người bỏ mạng trên biển trong đó có trẻ em, là những ảnh gây xúc động.

Chiến tranh vũ trang giữa các quốc gia là hình thái dữ dội nhất của mê lầm chấp ngã và chấp pháp. Còn trong cuộc sống đời thường, trong gia đình thì anh chị em tranh giành tài sản, ngoài xã hội thì cướp bóc, giựt dọc, giết người cướp của. Ngày nay còn có những hình thái tệ hại khác như đánh bom tự sát, xả súng bừa bãi nơi công cộng, trường học…

Lỗ Tấn (1936 –2012)  trong Nhật Ký Người Điên, ông nói :

“Mình là một kẻ có truyền thống ăn thịt người trên bốn nghìn năm”…”Mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”…
Lỗ Tấn là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng, bậc thầy thể loại truyện ngắn, người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc. Chủ đề “truyền thống ăn thịt người của dân tộc Trung Hoa” ám ảnh suốt những trang văn của ông như một lời cảnh báo nước Trung Hoa đã, đang và sẽ bị chủ nghĩa DUY ÁC thống trị. Ông kể ra một số câu chuyện :

Tuyệt tác “ Tây Du ký” của Ngô Thừa Ân mô tả sư phụ Trần Huyền Trang và đệ tử Trư Bát Giới đi thỉnh Kinh Thiên Trúc đã mấy lần bị yêu quái, bị bọn đầu lĩnh lục lâm thảo khấu toan làm thịt ăn nếu không có đệ tử Tôn Ngộ Không kịp đến cứu thoát…Ngay cả một số nữ yêu quái xinh đẹp cũng thèm ăn thịt nhà sư điển trai này…

“Đông Chu liệt quốc” từng kể nhiều chuyện ăn thịt người như là một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Chỉ xin nêu ra mấy thí dụ :

Tề Hoàn công được coi là minh quân thời Xuân Thu, từng làm chủ soái chư hầu trong 35 năm, được sử phong là vua tốt có văn hóa “Hoàn văn”, lại chỉ thèm món thịt trẻ con, nghe nói ngon lắm mà mình chưa được ăn. Dịch Nha là bề tôi nịnh thần chiều ý nhà vua, bèn về đè con trai thừa tự của mình ra giết thịt, làm ra các món ngon tuyệt dâng Tề Hoàn công. Tề Hoàn công khen món thịt trẻ con ngon nhất trần đời, bèn ngỏ ý tháng nào cũng ăn cho đỡ nhớ…

Một thuở Nước Sở vây thành nước Tống. Người Tống hết lương thực, bèn đổi con cho nhau mà giết ăn, còn xương trẻ con thì dùng thay củi nhóm lửa để nhà này xào nấu thịt trẻ con nhà khác và ngược lại…
Tấn Châu Xước bắt được hai tướng nước Tề là Thực Xước và Quách Tối bèn giết thịt ăn, da hai ông này dùng làm nệm trải gường vừa êm vừa ấm…

Đến các thủy thần trên hàng nghìn con sông lớn bé Trung Hoa mỗi năm cũng ăn thịt đến hàng trăm ( có thể hàng nghìn) gái trinh vô tội. Mỗi lần thủy thần dâng vỡ đê lụt lội, dân làng lại phải ném một cô gái trinh còn sống xuống sông cho Thủy thần ăn tươi nuốt sống…

Sau khi kể một số câu chuyện về ăn thịt người, nhà văn Lỗ Tấn đi đến kết luận rằng Nho Giáo của Khổng Tử phải chịu trách nhiệm về truyền thống ăn thịt người đó.

“Học thuyết ăn thịt người” là lời lên án không thể nặng hơn của Lỗ Tấn hồi đầu thế kỷ XX khi ông đánh thức văn hóa Trung Hoa về bộ mặt của Nho giáo. Lúc đó, dưới ảnh hưởng của phong trào “Ngũ Tứ”, khắp Đông Á, Nho giáo được nhìn nhận bằng con mắt phê phán nghiêm khắc nhất trong so sánh với văn hóa Phương Tây. Những níu kéo, cản trở của Nho giáo trong xã hội hiện đại được phân tích, phải nói là, khó có thể sâu sắc hơn.

Ở Trung Quốc đại lục, ngay trong cơ chế mệnh lệnh – hành chính, Khổng tử vẫn tồn tại như một thực thể chính trị đến mức bị đem ra phê phán cùng với Lâm Bưu cuối những năm 60 (thế kỷ XX) trong thời “Cách mạng văn hóa”. Với sự kiện này, một lần nữa các di sản văn tự Nho giáo lại bị mất mát. Mộ Khổng tử ở Khúc Phụ cũng suýt bị quật lên. Những tưởng Nho giáo sẽ vĩnh viễn đi vào lịch sử, nhưng không.

Ở các xã hội Nho giáo khác – Đài Loan và Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore, Nho giáo chẳng những không mất đi vị thế của mình trong những thập niên công nghiệp hóa, mà ngược lại còn được đánh giá là nhân tố văn hóa tích cực, góp phần làm nên những con hổ mới (NICs/NIEs) ở Đông Á. Các giá trị cần cù, hiếu học, cộng đồng, trách nhiệm, gia đình… đã được nhiều học giả Đông và Tây coi là những phẩm chất tốt đẹp mà các nước NICs biết kế thừa và duy trì từ truyền thống văn hóa Nho giáo.

Ngày nay, xu hướng đánh giá tích cực, thậm chí đề cao Nho giáo lại được hồi phục bắt đầu từ cuối những năm 80 (thế kỷ XX) ngay tại Trung Quốc Đại lục. Theo tuyên bố của Văn phòng Tiểu tổ lãnh đạo công tác dạy Hán ngữ đối ngoại nhà nước (viết tắt Hanban tức Hán Biện漢辦) Học viện Khổng Tử (孔子学院) là một cơ quan trao đổi giáo dục và văn hóa do Hanban thành lập trên phạm vi toàn cầu nhằm phổ cập Hán ngữ, truyền bá văn hóa và Quốc học Trung Hoa. Học viện Khổng Tử đầu tiên trên thế giới được Hanban thành lập tại Seoul thủ đô Hàn Quốc ngày 21/11/2004. Tính đến tháng 10/2014 đã có 471 Học viện Khổng Tử (孔子学院Confucius Institute, thông thường đặt tại các trường đại học nước sở tại) và 730 Lớp học Khổng Tử (Confucius Classroom, 孔子课堂, tại các trường trung học và tiểu học) được lập ra tại 125 quốc gia và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu.

Những chuyện của Lỗ Tấn kể không phải không có, nhưng ngày nay chúng ta hoàn toàn thấy rõ, hiểu rõ, chính ông là người gán ghép cho Nho Giáo cái đặc tính “ăn thịt người” chứ không phải nó vốn có. Việc đó cũng giống như Einstein và tất cả chúng ta, là những người gán ghép cho hạt photon hoặc hạt electron các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, chứ không phải chúng vốn có.

Lầm tưởng cơ bản là cho rằng ta khác với người. Ta và người trở thành thù địch và tàn hại lẫn nhau. Không biết rằng ta và người đều xuất phát từ một Tâm bất nhị. Lầm tưởng cơ bản nữa là cho rằng các pháp nhất là vật chất là có thật, là hữu hạn, nên mọi người xúm lại tranh giành.

Ngoài chuyện tranh giành dẫn đến chiến tranh xung đột. Con người còn có nhiều mê lầm khác về các cảnh giới trên thế gian. Ngay cả các nhà khoa học cũng không hoàn hiểu rõ về thế giới vật chất nên lý giải của họ mang tính chất thiển cận. Ví dụ về vấn đề thiên tai.

Ví dụ đối với một trận động đất. Khoa học cho rằng do cấu tạo địa tầng có những vết nứt gãy, các khối địa chất đè ép nhau, trượt lên nhau gây ra động đất. Giải thích của họ rất có lý. Nhưng nó thiển cận ở chỗ nào ? Nó không hiểu được tại sao lại có cấu tạo địa tầng, tại sao có những vết nứt gãy. Khoa học không thể hiểu được tại sao vỏ Trái đất mong manh, trôi nổi trên một đại dương dung nham nóng chảy. Với cấu tạo địa chất như vậy không thể không có động đất. Nhưng tại sao lại có cấu tạo địa chất như vậy ? Khoa học không thể có câu trả lời rõ ràng, họ cho rằng thế giới tự nhiên là như vậy.

Đức Phật là bậc thánh trí giác ngộ, thấu hiểu rằng chính cái tâm điên đảo, cộng nghiệp dữ dằn, mê muội, luôn chao đảo của chúng sinh là nguồn gốc của cấu tạo mong manh dễ sụp đổ như vậy. Còn những chúng sinh có đức hạnh, tâm có nguyện lực thanh tịnh vững chắc thì tạo thành cõi giới cực lạc do Phật A Di Đà giáo hóa. Cảnh giới đó như sau : (trích trong các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và Phật Thuyết A Di Đà Kinh).

1 – Bảo Ðịa

Toàn cõi Cực Lạc, đất lưu ly trong suốt. Phía dưới có tràng kim cương nâng đỡ. Tràng kim cương ấy tám góc đều đặn, mỗi mặt có trăm thứ bảo châu. Mỗi bảo châu phóng nghìn tia sáng. Mỗi tia sáng có 84.000 màu, chói đất lưu ly sáng như nghìn ức mặt trời. Mặt lưu ly bằng phẳng, có dây vàng ròng cùng thất bảo giăng phân khu vực và đường xá. Mỗi dây báu phóng ra tia sáng trăm màu. Tia sáng ấy hình như hoa, như sao, như trăng, chiếu lên kết thành đài sáng chói ở giữa chừng không. Bên những đài sáng ấy có trăm ức tràng hoa, cùng vô số nhạc khí. Từ trong đài sáng thổi ra tám thứ gió nhẹ mát, làm rung động những nhạc khí ấy reo lên tiếng diễn nói pháp “Khổ, Không, Vô Thường, Vô ngã, Từ bi, Hỷ Xả, các pháp Ba La Mật”.

2 – Bảo Thọ

Trên bảo địa có vô số cây Chiên-đàn hương, vô số cây Kiết Tường quả, ngay hàng thẳng lối, nhánh, lá, bông, trái đều đặn chỉnh tề. Mỗi cây cao 8.000 do tuần. Thân, lá, bông, trái đều là chất thất bảo. Hoặc thứ cây thuần vàng, thuần bạc, thuần lưu ly, thuần pha lê, thuần xa cừ, thuần mã não, thuần chơn châu. Hoặc thứ cây gốc vàng thân bạc, nhánh, lá, thân, trái cũng phân vàng bạc, đây là cây hai chất báu. Có thứ cây gốc vàng, thân bạc, nhánh lưu ly, lá, bông, trái cũng phân vàng, bạc, lưu ly, đây là cây ba chất báu. Hoặc thứ cây thời bốn chất báu, thứ thời năm chất báu, thứ thời sáu chất báu, thứ thời bảy chất báu, cùng xen lẫn nhau hiệp thành.

Tất cả Phật sự trong cõi Cực Lạc đều hiện rõ bóng trong cây, và cả thập phương thế giới cũng hiện bóng rõ trong cây, như trong gương sáng.

Mỗi lá rộng 25 do tuần, một nghìn màu, đồng phát ánh sáng đẹp, làm gân lá như chuỗi ngọc.

Những bông xinh đẹp sắc vàng diêm phù đàn xen trong kẽ lá, sáng rỡ như những vòng lửa. Trên bông tự nhiên có trái thất bảo hình như chiếc bình quý của Thiên Ðế. Nơi trái phóng ra ánh sáng lớn tụ thành vô lượng tràng phan cùng bảo cái. Trong bảo cái ấy chói hiện tất cả Phật sự trong nước Cực Lạc cùng cả thập phương thế giới.

Bảy lớp lưới kết bằng diệu chơn châu giăng trên mỗi bảo thọ. Mỗi khoảng lưới có cung điện xinh đẹp như cung trời Phạm Vương. Trong cung điện tự nhiên có các Thiên đồng. Mỗi Thiên đồng đeo chuỗi năm trăm hột ngọc ma ni. Mỗi hột ma ni chiếu sáng trăm do tuần, làm cho trên cây chiếu sáng như trăm ức mặt trời mặt trăng hiệp lại.

3 – Bảo Trì

Cực Lạc thế giới nơi nơi đều có ao tắm. Thành ao bằng thất bảo. Ðáy ao trải cát Kim Cương nhiều màu. Ao rộng trăm nghìn do tuần xem như biển cả.

Mỗi ao có sáu mươi ức hoa sen thất bảo. Mỗi bông tròn lớn 12 do tuần, đủ các màu đẹp, màu nào chiếu ánh sáng màu nấy. Trong ao, nước bát công đức từ Như Ý Châu Vương sanh, màu thất bảo, lên xuống theo cọng sen chảy lòn vào cánh bông. Tiếng nước chảy thanh tao diễn nói pháp mầu: Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã, các môn Ba La Mật.

Nơi Như Ý Châu Vương phóng ánh sáng sắc vàng ròng. Trong ánh sáng hóa thành các thứ chim đẹp đủ màu, bay lượn, kêu hót hòa nhã diễn nói pháp: ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ Ðề, bát chánh đạo, cùng ca ngợi niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng.

Mặt nước, làn sóng gợn lăn tăn, nổi lên nhiều tiếng dịu dàng: tiếng Phật, Pháp, Tăng; tiếng không, vô ngã, đại từ bi; tiếng ba la mật; tiếng thập lực, vô úy, bất cộng; tiếng thần thông, trí tuệ; tiếng vô tạo tác, bất sanh diệt, vô sanh nhẫn; nhẫn đến tiếng cam lồ quán đảnh, cùng vô biên diệu pháp. Người nghe đến những tiếng nầy, tâm liền thanh tịnh, thiện căn thành thục, hẳn không thối chuyển nơi đạo vô thượng Bồ Ðề.

Các thượng thiện nhơn, người Cực Lạc, lúc vào ao để tắm, nếu ý muốn ngập chơn, thời nước chỉ ngập chơn, nếu ý muốn nước đến bụng thời nước liền ngang bụng, cho đến ý muốn nước đến cổ thời mặt nước liền lên cao đến cổ. Nước ao tùy theo ý muốn của mỗi người mà sâu cạn, ấm mát điều hòa rất thuận thích. Người tắm, thân thể nhẹ nhàng khoan khoái, tâm thần vui vẻ, tịch tịnh, sáng suốt.

4 – Bảo Lâu

Bốn phía ao báu, những thềm bực đường sá do vàng, bạc, lưu ly, pha lê v.v… hiệp thành. Trên có vô số cung điện nhiều từng.

Những tòa lâu đài nầy đều bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê v.v… nhẫn đến vô lượng chất báu xây thành.

Giảng đường, tịnh xá, lầu các cung điện của A Di Ðà Phật, của chúng Bồ Tát, Nhân dân, trăm nghìn muôn lần quý hơn cung điện của Tự Tại Thiên Vương nơi cõi Ta Bà nầy.

Những đền đài ấy, có thứ nổi lên ở giữa chừng không như mây, cao lớn tùy theo ý muốn của người ở. Có hạng không theo ý muốn mà trụ trên bảo địa. Ðó là do công hạnh tu hành sâu dày hay kém ít nên chỗ ở khác nhau như thế. Nhưng những sự hưởng dụng như ăn mặc v.v… đều bình đẳng.

Bốn phía đền đài đều trang nghiêm với những hoa tràng cùng vô lượng nhạc khí. Gió mát nhẹ rung những nhạc khí ấy hòa reo thành tiếng pháp: Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã, Từ Bi, Hỷ Xả, các môn ba la mật.

5 – Bảo Tọa

Cực Lạc thế giới, đức Phật, chư Bồ Tát, cùng nhân dân đều ngồi trên tòa sen báu. Những tòa sen ấy, từ một chất báu, hai chất báu, nhẫn đến vô lượng chất báu hiệp thành, màu sắc đẹp lạ, quang minh sáng chói, lớn nhỏ xứng theo thân người ngồi.

Dưới đây là tòa sen báu của đức Phật ngự.

Tòa sen nầy có 84.000 cánh. Mỗi cánh rộng 250 do tuần, 100 màu. Trên mỗi cánh sen có 84.000 lằn gân phóng ra 84.000 tia sáng. Xen vào mỗi cánh sen có trăm ức hột châu ma ni. Mỗi hột châu ma ni phóng nghìn tia sáng. Các tia sáng nầy kết tụ nhau lại như hình cây lọng.

Đài sen bằng chất Thích-ca-tỳ-lăng-già bảo. Trang nghiêm với tám muôn thứ ngọc kim cương, ngọc ma ni, cùng mành lưới kết bằng chơn châu.

Trên đài sen, tự nhiên có bốn trụ báu. Mỗi trụ báu cao đẹp như trăm nghìn muôn ức núi Tu Di. Trên đầu bốn trụ báu, mành lưới trùm giăng rộng lớn như cõi trời Dạ Ma. Mành lưới báu ấy có năm trăm ức hột bảo châu. Mỗi bảo châu chiếu ra 84.000 tia sáng. Mỗi tia sáng ấy có 84.000 thứ kim sắc. Các sắc vàng sáng ấy chói khắp mặt bảo địa, nơi nơi biến hóa thành những tướng trạng khác nhau: hoặc hóa ra đài kim cương, hoặc hóa ra lưới chơn châu, hoặc hóa làm những lùm cây hoa đẹp sáng v.v… hiện thành Phật sự ở khắp các nơi trong cõi Cực Lạc…

Khi giảng xong sự lớn đẹp vi diệu của tòa sen báu, đức Bổn Sư kết luận rằng: Tòa sen báu ấy có hiện ra đó, là do nguyện lực thuở tiền thân của Phật A Di Ðà, ngài Pháp Tạng Bồ Tát.

Cõi Cực Lạc có thật hay không ? Cõi đó có thật một cách tương đối, cũng tương tự như cảnh thế gian nhưng tốt đẹp hơn và trên đời cũng có người đến được cõi đó, về kể lại :

57 Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

Chúng ta có thể nêu câu hỏi. Tại sao cảnh giới Tây phương cực lạc lại an lành tốt đẹp như vậy ? Đó có phải là tưởng tượng không ? Đúng là tưởng tượng, nhưng cõi trần gian cũng vậy. Thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris chứng tỏ rằng hạt photon hoặc electron đều là do tưởng tượng mà có. Kể cả hạt nhân nguyên tử, nguyên tử và phân tử cũng đều là tưởng tượng. Muôn vàn cảnh giới của thế gian cũng là tưởng tượng. Video sau đây thuyết minh rõ điều đó.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Cõi giới Tây phương Cực lạc cũng thế, đó là một cõi giới do Tâm tạo. Nhưng Tâm thanh tịnh thì tạo ra cảnh giới an lành vững chắc, không bao giờ có thiên tai như dông bão, lũ lụt, động đất. Không có cảnh khổ do nghèo đói bệnh tật. Chúng sinh cõi đó khi cần ăn uống thì thức ăn sẽ tự hiện ra.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Kinh điển từ lâu đã nói rằng Tam giới Duy Tâm, tất cả mọi cảnh giới đều là do Tâm tạo. Nhưng Tâm bất nhị mới có đủ sức mạnh to lớn để tạo ra Tam giới. Còn tâm điên đảo mộng tưởng nhỏ bé của một cá nhân thì phải khó khăn lắm, gian nan lắm, mới tạo được một cơ ngơi, nhà cửa xe cộ. Nhưng cũng phải có phước đức lớn mới tạo được cơ ngơi bề thế, nhưng cũng không chắc là vững bền. Tục ngữ có câu “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” ý muốn nói sự biến đổi bể dâu của thế gian, không có gì vững chắc cả.

Tóm lại trong phần này chúng ta có những chứng cứ để nghĩ rằng thiên tai, nhân họa không phải là ngẫu nhiên, không phải là trời giáng tai họa, mà đó là cộng nghiệp của một tập thể chúng sinh. Động đất, lũ lụt, cuồng phong bão tố…là cộng nghiệp của chúng. Những người biết giữ tâm thanh tịnh, làm nhiều thiện nghiệp, cũng có khả năng tránh được thiên tai, nhân họa, ngay trên cõi thế gian này, hoặc họ có thể hướng đến một cõi giới khác thanh tịnh hơn.

Sai lầm của chủ nghĩa duy vật     

Karl Marx (1818-1883) là người đưa ra chủ nghĩa duy vật biện chứng (dialectical materialism) nhưng chúng ta không cần phải trách ông ấy, bởi vì hiểu biết của ông bị hạn chế bởi thời đại. Thời đó khoa học cổ điển của Newton, sinh vật tiến hóa luận của Darwin, tất định luận của La Place, đang toàn thắng. Thuyết tương đối của Einstein, cơ học lượng tử của Max Planck, nguyên lý bất định của Werner Heisenberg, định lý bất toàn (incompleteness theorems) của Kurt Friedrich Gödel  đều chưa ra đời, có nghĩa là nền khoa học thời kỳ đó chưa trưởng thành.

Cho đến ngày nay, chúng ta đang ở cuối thập niên thứ hai của thế kỷ 21, khoa học đã tiến bộ nhiều. Những phát hiện mới của khoa học đều đi tới chỗ nhận định rằng chủ nghĩa duy vật là sai lầm. Chính Kurt Gödel đã phát biểu ngắn gọn : Materialism is false (chủ nghĩa duy vật là sai lầm)

Chủ nghĩa Duy vật là tư tưởng và học thuyết cho rằng toàn bộ thế giới hiện thực là vật chất và chỉ có vật chất mà thôi – không tồn tại bất cứ cái gì là phi vật chất hoặc siêu tự nhiên, không có Chúa, không có phép mầu,… Với chủ nghĩa duy vật, các khái niệm tưởng là phi vật chất như tư tưởng, tinh thần, xét cho cùng cũng chỉ là sự biểu lộ của hoạt động vật chất (bộ não).

Thế nhưng chủ nghĩa duy vật là sai lầm vì xét cho cùng vật chất không có thực thể. Các hạt cơ bản tạo thành vật chất (elementary particles) như 18 loại hạt mà con người đã biết (6 quarks, 6 leptons, 5 forces trong đó có graviton mới phát hiện, và higgs boson) đều là hạt ảo, chúng có thể xuất hiện là hạt vật chất khi bị khảo sát, nhưng chúng cũng có thể đồng thời là sóng phi vật chất trong tư thế vật tự thể (Das ding an sich = The thing in itself) khi không có người hay thiết bị khảo sát. Và cả những cấu trúc của chúng như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cũng đều như vậy. Điều quan trọng cơ bản là chúng không độc lập, không tồn tại khách quan đối với ý thức.

Khoa học ngày nay đã đi tới chỗ nhất trí với Phật giáo, hiểu rằng vật chất là do Tâm hoặc Thức tạo ra.

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Sai lầm mà hầu như toàn bộ nhân loại đều mắc phải, đó là cho rằng vật chất là có thật, vật chất đặc cứng, vững bền. Ngày nay khoa học đã biết rõ rằng những tính chất cứng chắc, vững bền cũng như mọi tính chất khác của vật chất đều là do tưởng tượng, là kinh nghiệm của Thức, chứ thực tế không phải như vậy. Thực tế là vật chất không hề có đặc tính, đặc trưng gì cả, như Kinh Hoa Nghiêm đã nói :

一切法無自性 Nhất thiết pháp vô tự tính  Tất cả các pháp đều không có tự tính

Hoặc :

一切唯心造 Nhất thiết duy tâm tạo         Tất cả đều là do Tâm tạo

Kết luận

Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Vũ trụ vạn vật, thiên hà, thái dương hệ, ngôi sao, hành tinh, sơn hà đại địa đều là do Tâm tạo. Thiên tai, nhân họa, hạnh phúc, đau khổ là do nghiệp lực, cộng nghiệp của tập thể chúng sinh, chứ không phải tự nhiên có, không phải do Trời tùy tiện ban phúc, giáng họa.

Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử nói :

天地不仁 以萬物為芻狗 Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu

(Trời đất không nhân từ, coi vạn vật là con chó rơm)

Sự thật không phải như vậy, vạn vật ở dưới trần thế sung sướng hay đau khổ là do nghiệp lực của chúng, do tâm thức của chúng, không phải là do trời đất bày đặt ra để làm khổ chúng.

Con người sống trên cõi thế gian mang theo thói quen (tập khí 習氣) vô minh mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã trở thành phổ biến trên đời). Bởi vì không biết đó là mê lầm, cho là thật, nên cứ theo cái tập khí đó mà hành động mê muội dẫn đến bao nhiêu cảnh đời bất hạnh cho chính bản thân mình và cho người chung quanh. Ngay cả những điều tưởng chừng như là thiên nhiên, do trời đất làm ra như thiên tai, động đất, sóng thần, mưa gió, lũ lụt…cũng không phải tự nhiên có. Đó là cộng nghiệp của một tập thể chúng sinh nên một cá nhân nhỏ bé khó tránh khỏi. Tuy nhiên nếu con người giác ngộ Tam giới duy tâm, phá bỏ dần các chấp trước, tập khí thì có thế giải trừ tất cả mọi khổ nạn như Bát Nhã Tâm Kinh đã nói. Ví dầu chưa giải trừ được hết các khổ nạn nhưng hiểu bản chất ảo của thế gian cũng giúp con người vơi đi nhiều đau khổ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 phản hồi

Ý NGHĨA TRIẾT HỌC CỦA NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH HEISENBERG VÀ CÁI NHÌN PHẬT PHÁP

Sự ra đời của nguyên lý bất định

Werner Heisenberg (1901-1976) nhà vật lý người Đức, đã công bố nguyên lý bất định (uncertainty principle) năm 1927. Nguyên lý này được phát biểu như sau :

It is impossible to determine both position and momentum of an electron simultaneously.
If one quantity is known then the determination of the other quantity will become impossible.

Không thể xác định được cả vị trí và động lượng (hoặc xung lượng) của một hạt electron vào cùng một lúc. Nếu biết được một đại lượng thì không thể xác định được đại lượng kia. 

Đó là phát biểu cơ bản về mặt khoa học cụ thể của một hạt electron. Phát biểu này bao hàm những ý nghĩa vô cùng quan trọng, vô cùng cơ bản về vật chất trong vũ trụ.

Ban đầu người ta chưa hiểu rõ ý nghĩa vô cùng sâu xa của nó, bởi vì nó có khả năng lật đổ thế giới quan của con người đã được xây dựng qua hàng ngàn năm lịch sử. Người đầu tiên phản bác nó chính là nhà vật lý thiên tài vĩ đại Albert Einstein. Einstein cùng với hai nhà khoa học khác là Boris Podolsky và Nathan Rosen, ba người vào năm 1935 đã nêu ra một giả thuyết mà sau này thường được biết với tên tắt là EPR Paradox. EPR chính là tên viết tắt của Einstein, Podolsky, Rosen.

Họ nghi ngờ nguyên lý bất định hay cơ học lượng tử nói chung là không đầy đủ hoặc có thể là sai lầm. Họ đề cập tới một hiện tượng đang là thời sự nóng hổi lúc đó là hiên tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một hạt photon hoặc một hạt electron có thể xuất hiện đồng thời tại hai vị trí khác nhau, chúng luôn luôn liên kết hay dính líu với nhau bất kể khoảng cách là bao xa. Nếu người ta xác định được hạt ở ví trí này thì tức khắc có thể xác định được hạt ở vị trí kia dù chúng có thể cách xa nhau một năm ánh sáng hay bất kể bao xa.

Einstein nêu giả định rằng chúng thật ra không có liên kết, mà chỉ giống như một đôi găng tay, cặp bao tay có chiếc bên tay trái và chiếc bên tay phải. Nếu người ta bỏ mỗi chiếc vào một vali và đem đi cách nhau rất xa, chẳng hạn một cái ở New York còn cái kia ở Nam Cực. Chỉ cần nhìn thấy chiếc bao tay ở New York, ví dụ là bao tay trái, thì tức khắc biết được cái ở Nam Cực là bao tay phải.

Ông cho rằng hạt luôn luôn có sẵn đặc trưng, đó là tồn tại độc lập, khách quan, giống như bao tay luôn luôn có sẵn đặc tính là thuộc bàn tay trái  hay bàn tay phải.

Einstein tranh cãi với Niels Bohr từ năm 1935 cho đến khi cả hai qua đời (Einstein mất năm 1955 còn Bohr mất năm 1962) cũng chưa ngã ngũ, chưa xác định được ai đúng ai sai. Mãi đến năm 1982, tại Paris, Alain Aspect sử dụng chiếc máy do John Clauser sáng chế, nó có thể làm cho một hạt photon xuất hiện đồng  thời ở hai vị trí khác nhau. Rồi ông áp dụng bất đẳng thức của John Bell, bất đẳng thức này có khả năng dùng toán học để xác định hiện tượng liên kết lượng tử có xảy ra hay không. Kết quả hiện tượng liên kết lượng tử là có thật, không phải giống như giả định của Einstein. Nếu thay cái bao tay trong vali tại New York thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cái bao tay tại Nam Cực vì giữa hai cái không có sự liên kết. Trái lại giữa hai hạt photon thì có sự liên kết. Nếu thay hạt ở New York có spin xoay sang phải thay vì xoay sang trái thì tức khắc hạt photon tại Nam Cực sẽ có spin xoay sang trái thay vì xoay sang phải. Đó là điều mà Einstein dù có sống lại cũng không thể chối cãi.

Ngày nay thì sự liên kết lượng tử đã được công nhận. Và nguyên lý bất định của Heisenberg bao hàm những ý nghĩa quan trọng sau đây :

Vị trí của hạt photon hoặc electron là bất định (non locality). Nó có thể đồng thời tồn tại ở chẳng những hai mà vô số vị trí khác nhau.

Hạt electron phải là một vật ảo tức không có thật (non realism) bởi vì chỉ có vật ảo mới có thể đồng thời xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau.

Hạt electron không có số lượng nhất định (non quantity) bởi vì số vị trí mà nó có thể đồng thời xuất hiện là vô số lượng.

Thật vậy năm 2012, Maria Chekhova có thể cho một hạt photon xuất hiện ở 100.000 vị trí khác nhau, tất cả vị trí đều liên kết với nhau.

Đây là những tính chất lượng tử của vật chất. Nếu các hạt cơ bản của vật chất quả thật có những tính chất lượng tử như vậy thì người ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng Không gian, Thời gian và Số lượng là không có thật. Toàn thể vũ trụ chỉ là ảo hóa mà thôi. Đó chính là ý nghĩa triết học và ý nghĩa Phật pháp của nguyên lý bất định Heisenberg.

Ngày nay khoa học đã ứng dụng nguyên lý bất định để tạo ra những sản phẩm thần kỳ là mạng internet và smartphone. Hình ảnh và tiếng nói của chúng ta có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều nơi trên thế giới giống như tính chất lượng tử của hạt electron. Điều đó giúp cho chúng ta có thể làm cuộc hội thoại với vài người bạn cùng lúc, mỗi người ở một nơi khác nhau trên thế giới. Cuộc hội thoại như vậy thường được thực hiện trên Skype. Mọi người đều nhìn thấy nhau và nghe được tiếng nói của nhau.

Nếu những hạt cơ bản của vật chất đều có tính chất lượng tử nghĩa là không có thật (non realism), không có vị trí nhất định (non locality) và không có số lượng (non quantity). Vậy những cố thể vật chất lớn chẳng hạn cái nhà, cái xe, bàn ghế giường tủ, sơn hà đại địa, biển đảo, hành tinh, mặt trời mặt trăng, các ngôi sao…vốn là do các hạt cơ bản hợp thành, có tính chất lượng tử hay không ?

Quan điểm của Phật giáo

Phật pháp từ ngàn xưa đã trả lời rằng cũng giống như vậy, thế gian chỉ là huyễn ảo mà thôi. Kinh Kim Cang nói rằng :

一切有为法   Nhất thiết hữu vi pháp,           Tất cả pháp hữu vi
如梦幻泡影   Như mộng, huyễn, bào, ảnh,  Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
如露亦如电   Như lộ, diệc như điện,              Như sương, như chớp loé,
应作如是观   Ưng tác như thị quán.              Hãy xem xét như thế.

Sở dĩ vật chất là huyễn ảo, là tưởng tượng, nhưng con người thấy rất thật vì một lý do hết sức cơ bản là tất cả các pháp đều không có tự tính. Kinh Hoa Nghiêm nói :  一切法無自性 Nhất thiết pháp vô tự tính. Điều này có nghĩa là các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron hay ngay cả các cấu trúc nguyên tử, phân tử không hề có đặc trưng. Chúng chỉ có đặc trưng khi có người, sinh vật hay thiết bị, quan sát hoặc đo đạc. Chính vì chúng có mối quan hệ nội tại giữa một bên là chủ thể (người quan sát) và một bên là đối tượng (hạt electron hay nguyên tử). Chủ thể gán ghép tưởng tượng của mình cho đối tượng khiến cho đối tượng có đặc trưng và trở thành hạt vật chất. Mối quan hệ nội tại đã được chứng tỏ trong hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Và sự gán ghép đặc trưng đã được Niels Bohr nêu ra và Alain Aspect đã chứng minh trong thí nghiệm tiến hành năm 1982 tại Paris.

Vì vậy nên PG nói rằng tất cả đều là do tâm tạo. Kinh Hoa Nghiêm 華嚴經 nói :

若人欲了知 Nhược nhân dục liễu tri        Nếu mọi người muốn biết rõ

三世一切佛 Tam giới nhất thiết Phật       Tất cả Phật trong Tam giới

应观法界性 Ưng quán pháp giới tính       Hãy xem xét bản chất của pháp giới

一切唯心造 Nhất thiết duy tâm tạo         Tất cả đều là do Tâm tạo

Chính vì vật chất có một mức độ tương đối bền vững nên con người thường tưởng rằng vật chất có thật. Mức độ tương đối bền vững của vật chất do tính bền vững của hạt proton và neutron, chúng tạo thành hạt nhân nguyên tử. Sự bền vững là do hiện tượng giam hãm (confinement) của các hạt quart cấu thành các hạt này. Nguồn gốc của hiện tượng giam hãm là do tâm cố chấp kiên cố. Đối với một số nhà đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, họ đã phá được tâm cố chấp nên có thể làm được những điều thần kỳ như đi xuyên qua tường, lấy được những vật ở rất xa chỉ bằng tâm niệm, hoặc lấy được những vật được khóa kiên cố trong tủ sắt, chẳng hạn tiền ở trong tủ sắt ngân hàng.

Nhưng rồi người đời thất vọng và đau khổ khi thấy những trận động đất, hoặc chiến tranh, chỉ trong vài chục giây phù du đã phá hủy hàng trăm công trình văn hóa đã tồn tại hàng ngàn năm. Ví dụ như trận động đất mới xảy ra tại Myanmar  và Italy

Động đất ở Myanmar 68 ngôi chùa bị phá hủy

Động đất ở Italy làm 247 người chết phá hủy nhiều nhà cửa

Nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân giữa các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Quốc, cả nhân loại có thể bị tiêu diệt, quả địa cầu sẽ trở thành nơi hoang tàn không một bóng sinh vật.

Nếu một thiên thể lớn cỡ bằng Mặt trăng va chạm vào Địa cầu thì Trái đất cũng sẽ tan tành thành các mảnh vụn.

Điều đó cho thấy sự bền vững tương đối của vật chất không có gì đảm bảo chắc chắn cả. Sinh mệnh của một con người thì lại càng mong manh hơn nữa. Các loại tai nạn và chiến tranh hàng năm cướp đi sinh mạng hàng triệu người.

Quan điểm Khoa học

Khoa học của nhân loại thế kỷ 21 cũng đã có những hiểu biết tương đối sâu xa về vật chất.

Nhà vật lý David Bohm mô tả thế giới chỉ là một toàn ảnh ba chiều được triển khai từ thông tin chứa trong mặt phẳng hai chiều. Theo Bohm, vũ trụ, thế giới vật chất mà ta đang thấy xung quanh mình là dạng hình được khai triển (unfolded) từ một thực tại sâu kín hơn. Thực tại sâu kín này là một cái toàn thể bất khả phân, không thể định nghĩa, không thể đo lường. Trong thực tại này, mọi sự đều liên kết chặt chẽ với nhau. Thực tại này không nằm yên mà luôn luôn vận động nên được mệnh danh là “sự vận động toàn thể” (holomovement) và nó là nguồn gốc, là cơ sở của mọi dạng xuất hiện của vật chất và tâm thức.

Thực tại sâu kín là một cái toàn thể bất khả phân, không thể định nghĩa, không thể đo lường mà Bohm đề cập là một miền tần số (frequency domain) phi vật chất ở dạng cuốn lại (enfold) của thế giới. Con người không thể nhìn thấy, không thể nhận biết trực tiếp cái thực tại sâu kín đó, nó thuộc về cái bất khả tri của Immanuel Kant. Tuy không thể chứng minh được cái thực tại đó hiện hữu, nhưng qua cảnh giới nhìn thấy tiếp xúc được, chúng ta biết chính cái thực tại đó là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật.

Một nhà khoa học khác là Craig Hogan mô tả vũ trụ có bản chất là số (digital). Theo quan điểm này thì vũ trụ là thông tin. Vật chất chỉ là thông tin. Nếu tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều là hạt ảo, thì toàn thể vũ trụ cũng là một vũ trụ ảo được cấu thành từ các bit thông tin. Craig Hogan có trình bày cụ thể loại bit thông tin vũ trụ mà ông quan niệm :

Một bit thông tin vũ trụ chiếm 4 đơn vị diện tích Planck. Planck là kích thước nhỏ nhất mà bộ não con người còn có thể phân biệt được. Dưới kích thước đó thì không còn khoảng cách không gian, không gian không còn ý nghĩa.

Kích thước Planck = 10-33 cm (mười lũy thừa âm 33 centimét)

vutrulaso-1

Craig Hogan còn nói rằng thông tin từ dạng hình ảnh nằm trong mặt phẳng hai chiều, được dựng lên thành vật thể trong không gian 3 chiều, kích thước tăng lên rất lớn tạo thành một độ nhòe, giống như một cái ảnh phóng to quá mức thì hình không còn mịn mà bị bể. Trong thực tế độ nhòe đó tạo ra tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise).

Năm 2012 một nhóm các nhà vật lý Đức và Anh làm việc tại một hệ thống thiết bị phát hiện sóng hấp dẫn (gravitational wave detector) đặt tại phía nam Hanover, Đức Quốc gọi tắt là GEO600, đã phát hiện ra tiếng ồn toàn ảnh. Đó là cơ sở thực nghiệm chứng tỏ thuyết Vũ trụ là số có cơ sở thực tế.

Tóm tắt ý nghĩa triết học của nguyên lý bất định

Từ những nhận định của Phật pháp và khoa học như đã nêu trên, chúng ta thử tóm tắt ý nghĩa triết học của nguyên lý bất định Heisenberg như sau :

Nguyên lý bất định có nghĩa rằng vật chất vốn là không có thật (non realism), không có vị trí nhất định (non locality) và không có số lượng (non quantity). Nhưng hình thái biểu hiện của vật chất thì lại có vẻ như có thật, nhất là cố thể vật chất. Đó chính là ý nghĩa cốt lõi của danh từ bất định (uncertainty).

Có gì chứng tỏ cố thể vật chất cũng bất định ?

Nhà khoa học Trương Văn Tân trong bài báo đăng trên Vietsciences ngày 11/03/2006 nhan đề “Cảm tưởng về quyển The Quantum and The Lotus” (The Quantum and The Lotus là một bản dịch tiếng Anh có sửa đổi của quyển L’Infini dans la paume de la main – du Big Bang à l’éveil, tên đầy đủ của bản dịch là  A Journey To The Frontiers Where Science and Buddhism Meet: The Quantum and the Lotus, xuất bản tại Mỹ năm 2001), có đưa ra nhận xét như sau :

“Trong thế giới vĩ mô (macrocosm), nguyên lý bất định Heisenberg mất ý nghĩa. Khác với những vật cực nhỏ mà vị trí của nó dựa vào tính xác suất ở nhiều nơi A, B, C…. khác nhau, một vật to như cái bàn không thể lúc thì ở trong phòng học lúc thì tự động nhảy vào nhà bếp hoặc “rong chơi” ngoài sân. Cái bàn trong phòng học sẽ mãi mãi ở đúng vị trí của nó trừ khi ta phải xê dịch. Như vậy, trong thế giới vật lý vĩ mô khác vi mô.”

Điều mà ông Trương Văn Tân không ngờ là cái bàn cũng hành xử giống như photon. Nhưng chỉ vì ít thấy nên tưởng rằng không thể xảy ra. Mùa xuân năm 1991 tại Hong Kong, Hầu Hi Quý đã biểu diễn cho nhà tỷ phú Lý Gia Thành (Li Kashing) thấy ông có thể dùng tâm lực di chuyển cái bàn bọc vàng của ông Lý từ phòng ăn nhà ông, đến phòng làm việc của ông. Quá phục, ông Lý đã tặng Hầu Hi Quý một triệu nhân dân tệ và chụp hình kỷ niệm.

HHQ-LyGiaThanh copy

Tỷ phú Li Kashing và Hầu Hi Quý

Năm 1989 Hầu Hi Quý cũng từng biểu diễn dùng tâm lực di chuyển nguyên một cái bàn ăn với đầy đủ muỗng nĩa ly tách cho Phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương Chấn xem.

LanhdaoTQ copy

Ngày 14-12-1989. Từ trái sang phải : Hầu Hi Quý, Thị trưởng Châu Hải Lương Quảng Đại, Chủ tịch nước Vương Chấn, nguyên Phó Thủ tướng Dư Thu Lý. 

Không phải chỉ có các hạt cơ bản như photon, electron là bất định mà tất cả các hạt cơ bản và các cấu trúc khá bền vững của chúng như proton, neutron, hạt nhân nguyên tử, nguyên tử và cả phân tử đều bất định.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Bất định nghĩa là chúng có thể vừa là hạt vật chất xác định, cũng  vừa là sóng phi vật chất, bất định. Vật chất và phi vật chất là hai hình thái đối lập, rất khác nhau. Đó là sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Nhưng thực tại là cái bất định, không thể khăng khăng cho rằng nó là vật chất (chủ nghĩa duy vật) hay nhất quyết cho nó là tinh thần (chủ nghĩa duy tâm). Mà phải thấy rằng vật tức là tâm, tâm tức là vật. Hai hình thái đối lập vật chất và tinh thần, vừa khác nhau mà lại vừa giống nhau và có thể chuyển hóa cho nhau. Chúng ta chỉ có thể ăn cơm, uống nước chứ không thể ăn uống thông tin. Thế nhưng cơm và nước thực chất cũng chỉ là thông tin và ngược lại thông tin hay sóng có thể biến thành cơm nước, thực phẩm và có thể ăn được. Chính vì vậy mà xưa chúa Giê Su có thể chia 5 ổ bánh mì và 2 con cá chiên cho 10 ngàn người ăn no nê mà vẫn còn dư.

Gần đây nhà đặc dị công năng Hầu Hi Quý, năm 1987, có thể biến hai con cua giấy do Tề Phật [cháu đích tôn của nhà danh họa Tề Bạch Thạch 齊白石 (1854-1957)] vẽ nhân cuộc triển lãm họa phẩm của ông nội tại Thâm Quyến, thành hai con cua thật và cho Thẩm Tích Chính, giám đốc của Phòng Trưng bày Nghệ thuật Hội họa tại tòa lầu Trung tâm Thương mại Thâm Quyến, mang về nhà luộc ăn.

Sở dĩ Hầu Hi Quý có thể làm được điều đó bởi vì vật chất chỉ là ảo hóa, là thông tin, là dòng điện tín hiệu. Một video khoa học trình bày tóm tắt vấn đề này như sau :

Vạn Pháp Duy Thức

Nguyên lý bất định ngoài ý nghĩa sâu xa về mặt bản chất của vật chất, còn có ý nghĩa về mặt không gian, thời gian và số lượng.

Hiện tượng liên kết lượng tử chứng tỏ rõ ràng là khoảng cách không gian không có thật. Hai photon liên kết tác động tức thời không tùy thuộc vào khoảng cách giữa chúng là bao xa, 1 mét, 1000 km hay một quang niên cũng như nhau.

Không gian không có thật thì thời gian cũng không có thật. Thời gian thành lập vũ trụ 14 tỉ quang niên chỉ là tưởng tượng của con người. Có một số hiện tượng chứng tỏ thời gian không có thật. Một sự kiện hi hữu được ghi trong Thiền sử là Huệ Trì, em ruột của đại sư Tịnh Độ Tông Huệ Viễn, đã ngồi nhập định trong bộng cây hơn 700 năm. Huệ Viễn (慧遠  334-416), là một Cao tăng Trung Quốc đời nhà Tấn 晋 Em trai của ông, Huệ Trì đến Tứ Xuyên ngồi nhập định trong bộng cây cho tới đời Tống Huy Tông 宋徽宗 (1082-1135)mới được phát hiện và vẫn còn sống. Sự kiện này gây chấn động nên Tống Huy Tông đã làm ba bài thơ để mô tả.

Ngoài ra, một sự kiện khác được kinh điển Phật giáo ghi chép, đó là Maha Ca Diếp, một đại đệ tử của Đức Phật, đến nay vẫn còn sống, đang ngồi nhập định tại núi Kê Túc. Thiền sử ghi :

在佛陀時代,摩訶迦葉、君屠缽歎、賓頭盧、羅睺羅皆受佛囑託,不入涅槃。《增一阿含經》卷四十四、《彌勒下生經》卷一云:「大迦葉亦不應般涅槃。」 而《付 法藏因緣傳》、《大唐西域記》亦記大迦葉在雞足山入定,發願身至彌勒成佛,令不朽壞,所以他至今仍在定中,是娑婆世界入定最久的記錄保持者。

Trong thời đại của Đức Phật, Ma Ha Ca Diếp, Quân Đồ Bát Thán, Tân Đầu Lô, La Hầu La, đều nhận lãnh lời Phật phó thác, là không nhập Niết Bàn. “Tăng Nhất A Hàm Kinh” quyển 44, “Di Lặc Hạ Sinh Kinh” quyển 1, nói : “Đại Ca Diếp cũng không về cõi Niết Bàn” mà các quyển “Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện”, “Đại Đường Tây Vực Ký” đều ghi Đại Ca Diếp nhập định tại núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri hay còn gọi là Tôn túc sơn Gradhakuta, nay thuộc bang Bihar, Ấn Độ, gần thành Vương Xá –Rājagaha-  của nước Ma Kiệt Đà- Magadha- xưa) phát nguyện giữ thân cho đến khi Di Lặc thành Phật, khiến thân không bị hư hoại, vì vậy cho đến ngày nay, ông vẫn còn nhập định tại núi Kê Túc, là người bảo trì được thân thể lâu kỷ lục trong cõi ta bà thế giới này. 

MahaCaDiep

Maha Ca Diếp

Vì không gian là không có thật, nên núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri) ở Ấn Độ cũng đồng thời là núi Kê Túc ở tỉnh Vân Nam TQ. Tại núi Kê Túc tỉnh Vân Nam có một ngôi chùa vô hình nằm trong một tảng đá lớn, Maha Ca Diếp ngồi nhập định trong ngôi chùa đó. Hư Vân hòa thượng khi đến núi Kê Túc có nghe văng vẳng tiếng chuông chùa phát ra từ trong tảng đá đó. Người quanh vùng đó đôi khi thấy có một ông lão xuất hiện gần tảng đá, ông lão đó chính là Maha Ca Diếp. Trong quyển sách Đường Về Phương Đông cũng có nói, tại Ấn Độ trên vùng núi cao, có những vị sư sống đến hơn 2000 tuổi, chỉ những người hữu duyên mới có thể gặp được họ. Có một câu chuyện kể rằng khoảng đầu thế kỷ 20, một tiến sĩ triết học người Anh đến Ấn Độ có duyên may gặp được Maha Ca Diếp.

Vật chất đã là ảo thì số lượng cũng không có thật. Chúng ta ngày nay đã biết rõ vật ảo thì không có số lượng. Ví dụ chúng ta đưa một tấm ảnh scandal của một nhân vật nổi tiếng lên mạng thì lập tức nó sẽ sinh sôi ra vô lượng vô biên tấm ảnh ở khắp mọi nơi mà con người có thể vào được mạng internet. Hoặc như trò chơi Pokemon Go hiện nay. Vô số người trên thế giới đi tìm bắt Pokemon tại khắp các đường phố, khắp các công viên trên khắp thế giới.

Nhưng vấn đề là vật chất cũng không có số lượng. Ánh sáng mặt trời có thể biến thành năng lượng và thành vật chất. Thực tại vốn là một miền tần số không phải vật chất nhưng có thể biến thành vật chất. Đó cũng là cái mà PG gọi là Nhất thiết duy tâm tạo. Tâm giống như hư không, không có thật, theo cách nói của Long Thọ Bồ Tát, nhưng Tâm có thể tạo ra vũ trụ vạn vật, tạo ra thế giới mà chúng ta đang sống.

Đối với khoa học, về mặt lý thuyết và cả mặt thực nghiệm, ngành nông nghiệp đã tạo ra lương thực thực phẩm cho toàn thể nhân loại bằng ánh sáng mặt trời và một số chất liệu lấy từ đất, nước, không khí. Về bản chất, ánh sáng, đất, nước, không khí đều có thể quy về năng lượng, đều có thể biến thành lượng tử. Liệu máy tính lượng tử có thể biến lượng tử từ mọi nguồn năng lượng thành lương thực, thực phẩm, thành đủ loại vật chất mà con người cần dùng hay không ?

Hiện nay các loại máy in 3D đã bắt đầu phát triển, chúng có thể in ra vật thể 3 chiều như nhà cửa, dụng cụ, chân tay giả…Đó chỉ là bước đầu, trong tương lai, các máy in 3D có thể sẽ in ra đủ loại vật chất kể cả lương thực thực phẩm mà con người cần dùng, một cách vô cùng nhanh chóng và dễ dàng hơn là cách thức sản xuất công nông nghiệp như hiện nay.

Trước kia con người muốn thông tin cho nhau, chỉ có cách viết thư, rồi gởi đi bằng chạy ngựa hoặc chim bồ câu, sau này thì qua bưu điện, rất khó khăn lâu lắc, nhất là khi muốn thông tin cho người ở nước ngoài. Ngày nay thì quá dễ, với internet và smartphone, việc thông tin vô cùng nhanh chóng và tiện lợi.

Nhưng con người không thể chi bằng lòng với việc gởi thông tin đi xa. Con người còn nghĩ đến việc gởi cố thể vật chất đi xa, bởi vì nói cho cùng, cố thể vật chất cũng chỉ là thông tin, nhưng là một dạng thông tin rất đậm đặc có dung lượng cực lớn. Hiện tượng liên kết lượng tử còn gợi ý cho con người cách gởi vật chất đi rất xa không giới hạn khoảng cách mà lại không mất thời gian. Khoa học hiện nay chưa thực hiện được việc gởi cố thể vật chất đi xa, nhưng một số nhà đặc dị công năng đã làm được.

Năm 1979 Hầu Hi Quý đã biểu diễn lấy một gói thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa từ một nơi cách xa chỗ ông đứng 1600 km chỉ trong tích tắc. Hầu Hi Quý thực hiện được việc này bởi vì thực ra vật chất chỉ là ảo, khoảng cách không gian và thời gian cũng đều không có thật. Hiện tượng liên kết lượng tử đã chỉ ra tất cả những tính chất này. Và tất cả những đặc tính thần kỳ của cơ học lượng tử đều có thể rút ra từ nguyên lý bất định mà Heisenberg đã công bố năm 1927.

Càng ngày người ta càng hiểu rõ những hệ quả to lớn gây choáng váng cho người hiểu được chúng mà nguyên lý bất định của Heisenberg là phát súng khai mào. Niels Bohr không hề quá đáng khi ông nói rằng :

Niels Bohr

“Bất kỳ ai nói rằng anh ta có thể nghĩ về vật lý lượng tử mà không bị choáng váng thì điều đó chỉ chứng tỏ rằng anh ta chẳng hiểu gì về ý nghĩa căn bản của vật lý lượng tử”

Người thực sự hiểu vật lý lượng tử ắt sẽ bị choáng váng vì ý nghĩa triết học của nó. Ý nghĩa này làm đảo lộn hết mọi niềm tin, mọi thói quen nhận thức của con người về một thế giới vật chất tồn tại độc lập khách quan, đã bị vật lý lượng tử chứng minh đó chỉ là sai lầm ảo tưởng. Và người bị sốc nhất lẽ ra chính là Einstein, nhưng đáng tiếc là ông đã qua đời (năm 1955) trước khi khoa học chứng minh hiện tượng liên kết lượng tử là có thật (năm 1982), và nguyên lý bất định là đúng đắn.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 phản hồi

TÂM LÀ ĐỘNG LỰC, NGUỒN GỐC CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG TRÊN THẾ GIAN

Vào những thập niên giữa và cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, qua sách báo và truyền thông, nhiều chuyện lạ có thật trên khắp năm châu, bốn biển, cả ở Việt Nam đã được chúng ta biết đến. Chuyện lạ có thật là những chuyện diễn ra hiện hữu trên nhiều lĩnh vực mà khoa học hiện đại ngày nay dù đã và đang tiến như vũ bão cũng chưa thể giải thích, phân tích, làm sáng tỏ được.

Có thể đơn cử một số ví dụ điển hình về những chuyện lạ có thật trên thế giới.

Ở Mỹ có Barbara Ann Brennan vừa là nhà vật lý, vừa là nhà tâm linh đã dùng tri giác cao cấp kết hợp với trường năng lực vũ trụ, thao tác bằng bàn tay, cộng với ý niệm, chữa cho hàng ngàn người khỏi bệnh. Bà đã viết cuốn “Bàn tay ánh sáng” phổ biến phương pháp chữa bệnh độc đáo này cho cả thế giới.

Barbara Brennan

Barbara Brennan

Ở Liên Xô – nay là Cộng hòa liên bang Nga – có Djuna Davitasvili đã dùng trường sinh học để chữa bệnh. Bà được nhân dân Nga và nhân dân các nước Cộng hòa SNG tôn trọng, ngưỡng mộ. Bà đã viết cuốn sách “Tôi nghe đôi tay mình”. Theo bà, chữa bệnh bằng trường sinh học là một phương pháp chữa bệnh kỳ diệu, dễ phổ cập, hiệu quả cao, có thể khắc phục những thiếu sót bất lực của những phương pháp khác, làm giàu cho kho tàng các biện pháp trị liệu của nền y học hiện đại. Các nhà bác học ở Nga dùng thuật ngữ “Hiện tượng Djuna” đặt cho phương pháp chữa bệnh của bà.

Eugenia Davitasvili

Eugenia Davitasvili (Djuna)

Hoặc như Ở Tnmg Quốc,  trong một vài thập kỷ gần đây đã xuất hiện nhiều nhân vật có công năng đặc biệt kỳ lạ đến mức ủy ban Khoa học Nhà nước nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã chính thức phê chuẩn thành lập “Hội nhân thể học” (tháng 5-1987), nhằm tập trung nghiên cứu những công năng đặc biệt khác thường của con người, kết hợp với lý luận và thực hành của trung y và khí công một cách có hệ thống. Ngành khoa học mới mẻ, đầy sức hấp dẫn này chính là một ngành khoa học nghiên cứu các loại trạng thái công năng xuất hiện trong cơ thể người. Nhân thể học có nhiệm vụ bảo vệ những công năng đó, tạo điều kiện cho nó phát triển, nhằm phát huy tiềm lực của con người, phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc và nhân loại trên nhiều mặt. Nhà nước Trung Hoa đã đặt Nhân thể học ngang tầm với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học quân sự, văn hóa, nghệ thuật, v.v. . .

Hiện tượng công năng đặc biệt hay chuyện lạ có thật ở Trung Quốc xuất hiện khá nhiều, ở đây xin dẫn chứng vài trường hợp.

Trước hết nói về chuyện lạ có thật của Nghiêm Tân. Nghiêm Tân vừa là nhà khí công, là bác sĩ, là lương y đồng thời là một cao thủ võ lâm thành thạo “thập bát ban võ nghệ”, đã đạt tới đỉnh cao của các loại công năng. Nghiêm Tân theo thầy học Đạo từ lúc 4 tuổi. Năm 2004 ông vừa tròn 54 tuổi. Qua 50 năm theo học khí công, võ thuật, trung y, y học hiện đại… ông đã đạt tới đỉnh cao của một loại công năng có thể nói là siêu phàm trên nhiều phương diện. Chỉ nói riêng việc chữa bệnh ông đã lập được những kỳ tích mà con người khó có thế tưởng tượng nổi.

Nghiem Tan

Nghiêm Tân

Một công nhân bị đau bụng dữ dội, rên la, giẫy giụa, nằm quằn quại trên mặt đất. Nghiêm Tân tình cờ đi qua, thấy vậy liền lấy một cốc nước, vận công vào và đưa cho người công nhân uống. Như một chuyện thần kỳ, sau khi uống hết cốc nước, người công nhân dứt hẳn cơn đau. Đối với Nghiêm Tân, dùng nước (nước năng lượng – nước tín tức) chữa khỏi bệnh là chuyện bình thường, ngay với một nhánh cỏ xanh ven đường ông cũng có thể cứu sống một mạng người. Công lực của Nghiêm Tân còn có thể làm cho xương cốt bị gãy vụn trở lại lành lặn như nguyên (sách, báo ở Việt Nam đã nhiều lần giới thiệu về những khả năng thần kỳ của Nghiêm Tân). Với tài nghệ chữa bệnh, Nghiêm Tân được nhân dân Trung Quốc tôn xưng là “Thiên phủ Thần y”, “Hoa Đà tái thế”. Một công năng khác của ông là khí công.

Buổi tối ngày 17-11-1986, tại khách sạn Đại Tân Cốc Tokyo, giới đồng nghiệp Nhật mở tiệc chiêu đãi các bạn Trung Quốc. Giữa tiệc, ông Kusudu, Chủ tịch Hội nghiên cứu khoa học khí công của Nhật Bản than thở với trưởng đoàn Trung Quốc Trương Chấn Hoàn về căn bệnh đau khớp khuỷu tay đã nhiều năm chữa trị nhưng vô hiệu và ngỏ ý muốn nhờ một nhà khí công nào trong đoàn Trung Quốc chữa trị giúp. Trương Chấn Hoàn giao nhiệm vụ này cho Nghiêm Tân và đề nghị Nghiêm Tân sẽ dâng năm ly rượu lên Kusudu, khi dâng rượu sẽ phát công chữa bệnh. Phương án trị liệu giàu kịch tính này làm cho người bạn Nhật Bản rất khoái. Kusudu vốn là bậc lão thành trong giới khí công Nhật, công lực không phải loại thường. Hơn nữa, ông ta tửu lượng hơn người, từng uống liền mười tám chai rượu mạnh mà không say, có biệt hiệu “Hũ rượu đại”. Nhận nhiệm vu, Nghiêm Tân ngầm phát công lực thăm dò và biết rằng dây chằng khớp của Kusudu bị tổn thương ở dạng mãn tính (trần cựu). Ông rót một ly nhỏ rượu Mao Đài, dùng hai tay dâng cho Kusudu, Kusudu đứng lên nhận lấy, rồi uống một hơi cạn sạch. Lúc Nghiêm Tân định dâng tiếp ly thứ hai thì đâu ngờ “hũ rượu đại” đã có vẻ chếnh choáng, nói: “Thôi, uống bia”, rồi lại đòi hai cốc bia có nồng độ thấp hơn hẳn rượu chia này thành 4 lần uống, gọi là cho đủ năm ly. Sau khi Kusudu nhăn nhó uống hết chỗ bia cuối cùng thì chuyện lạ lập tức xuất hiện: với bộ mặt đỏ gay, Kusudu giơ cao cánh tay đau của mình, co duỗi một lúc rồi vui sướng nói: “Hết đau rồi, không còn chút đau nào nữa! Công phu của Nghiêm tiên sinh quả thật cao siêu!”. Kusudu là người trong nghề, ông hiểu rằng chỗ rượu ấy đã được Nghiêm Tân xử lý bằng công lực, chỗ đau nơi khuỷu tay mình cũng đã được Nghiêm Tân phát khí chữa tri..

Trong giới khí công của Nhật Bản cũng không thiếu những người không tin phục. Một hôm, các đồng nghiệp hai nước Trung-Nhật đang toạ đàm, thì một nhà khí công Nhật Bản tên là Sukitari, thông qua phiên dịch, đề nghị được đấu “khí lực” để phân thắng bại với Nghiêm Tân. Không hiểu là do không nghe rõ ý của Sukitari hay do không hiểu sâu tính cách võ sĩ đạo của một số cao thủ trong giới khí công Ngật Bản, mà người phiên dịch sợ khi chuyển ngữ quá thẳng thì sẽ làm tổn thương đến tình hữu hảo giữa đôi bên, nên đã dịch cho Nghiêm Tân là ”học hỏi lẫn nhau“.

Nghiêm Tân vui vẻ nhận lời, nhưng khi nhìn sang Sukitari, ông biết đó là một người đã luyện công, tập võ nhiều năm, lại có trong người những công năng đặc dị thần kỳ. Nghiêm Tân nhận ra ngay “học hỏi lẫn nhau” ở đây bao hàm ý nghĩa gì. Sang Nhật lần này là một cuộc viếng thăm hữu nghị, Nghiêm Tân không hề chuẩn bị thi thố, đọ sức với bạn, nay họ ra chiến thư, mà xem ra không phải do ngẫu hứng nhất thời. Vừa rồi, mình đã nhận lời, nếu làm thật Nghiêm Tân tự hiểu công lực của mình có thể làm thương tổn đến đối phương, thậm chí có thể hủy cả lục phủ ngũ tạng, như vậy không phù hợp với đạo đức trong võ lâm, bất lợi cho tình hữu nghị giữa hai nước. Nhìn lại đối phương, rõ ràng không phải cỡ tầm thường, nếu có sơ suất, hậu quả sẽ khôn lường. Nghiên Tân có vẻ trấn tĩnh khác thường, nhưng trong đầu đã suy tính nhanh chóng, Sukitari không chút nể nang, lấy thể vận khí, phát công lực mạnh nhằm thẳng vào mặt Nghiêm Tân. Mọi người đều biết đó là một nhà khí công có hạng của nước Nhật, châm cứu, điểm huyệt đều vào loại thượng thặng. Khi Sukitari vận đủ đan điền cho khí phát mạnh vào Nghiêm Tân, thần lực đó hết sức lợi hại, nhưng Nghiêm Tân không hề nao núng chút nào, vẫn nói cười bình thường với mọi người, thản nhiên như không. Sau khi để cho đối phương phát công trước, Nghiêm Tân vận công và đáp lễ, chỉ một cú phát công thôi từ khoảng cách 4m, đối phương đã ngã nhào.

Nghiêm Tân dùng khí công đánh ngã đối phương

Một nhân vật khác có một công năng đặc biệt, một chuyện lạ có thật không thể tưởng tượng nổi là Trương Bảo Thắng. Hoàn toàn khác với Nghiêm Tân, trong khi Nghiêm Tân theo thầy tu học, rèn luyện từ nhỏ suốt mấy chục năm mới thành tài, còn Trương Bảo Thẳng không theo học thầy nào mà công năng đặc biệt kỳ diệu của anh xuất phát tự bẩm sinh. Từ buổi đầu, khi những công năng đặc biệt ấy xuất hiện ngoài ý thức, anh cũng không biết mình có những tài năng đặc biệt ấy. Từng bước, từng bước một, qua thời gian nhiều năm tháng, anh mới khám phá được mình không phải con người bình thường. Anh làm được nhiều điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của mọi người mà bản thân anh không hiểu vì sao mình làm được. Ớ đây chi đơn cử vài công năng đặc biệt của anh. Khi vận công định thần anh có thề nhìn thấy từng lớp, từng lớp lục phủ ngũ tạng, xương cốt từ ngoài vào trong của cơ thể người như một máy chụp cắt lớp hiện đại. Công năng thấu thị của anh kỳ diệu đến mức có thể nhìn thấy những động mạch, tĩnh mạch, cả những mạch máu nhỏ li ti, từng sợi dây thần kinh, đặc biệt nhất là anh nhìn thấy cả hệ thống kinh lạc đang vận hành trong cơ thể gồm 1 2 mạch kinh và 8 mạch kỳ kinh, điều mà máy móc của nền y học hiện đại ngày nay đang bất lực, chưa có cách gì nhìn thấy, đo, đếm được.

Anh còn nhiều khả năng đặc biệt khác như dùng mũi (khứu giác) đọc thư, đọc tài liệu dán kín trong phong bì, dùng ý niệm di chuyển đồ vật, lấy cả 23 viên thuốc đắng trong lọ được gắn xi, niêm phong cẩn thận ra mặt bàn, mà dấu niêm phong vẫn còn nguyên hoặc lấy những xấp giấy bạc trong tủ sắt khóa kín của ngân hàng rồi lại đặt vào chỗ cũ chỉ trong chốc lát.

Đặc biệt nhất là khả năng đi xuyên tường. Đưa anh vào trong một phòng khóa kỹ cửa ra vào, anh có thể đi xuyên tường ra ngoài bất cứ lúc nào. Có lần trắc nghiệm, anh không chỉ ra một mình mà còn dùng tâm lực đưa một bao đường trắng 50 kg cùng xuyên tường ra ngoài. Giống như Nghiêm Tân, khả năng chữa bệnh của anh cũng thật thần kỳ.

Cuối năm 1983, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đang trong tình trạng ốm nặng thập tử nhất sinh. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã mời Trương Bảo Thẳng đến cứu chữa cho ông. Anh đã nhiều lần dùng công năng đặc biệt qua hai bàn tay hút đờm từ phổi và phế quản ra ngoài tạo cho Nguyên soái thở dược, cứu sống ông. Nhờ Trương Bảo Thắng, Diệp nguyên soái đã sống thêm được mấy năm.

Anh cũng từng biểu diễn cho Vương Chấn xem kiểm tra, ông là Ủy viên Bộ Chính trị có lúc làm Phó chủ tịch Nước Trung Quốc.

Trương Bảo Thắng Biểu Diễn Trước Phó Chủ Tịch Nước Vương Chấn – VD

Đến năm 1994, tại Bổn Khê anh đã biểu diễn công năng đặc dị cho các ký giả truyền hình xem

Trương Bảo Thắng Biểu Diễn Làm Xoắn 2 muỗng Inox- Việt dịch

Một nhà đặc dị công khác là Lý Liên Duyên có khả năng chỉ dùng ánh mắt nhìn cũng đủ làm gãy cái muỗng bằng inox hoặc dùng khí công từ xa làm gãy đôi những viên gạch cứng chắc.

Đông Phương Kỳ Nhân Lý Liên Duyên- Việt dịch

Trên thế giới đã xuất hiện biết bao chuyện lạ rất khó tin nhưng đều là chuyện có thật, như chuyện nhớ lại kiếp trước của bé gái Santi Devi 9 tuổi ở New Delhi, Ấn Độ. Bé gái Santi Devi kiếp trước tên là Ludgi có chồng là Kedarnath Chaube  ở tỉnh Mathura, có 3 con. Khi sinh bé Dadri, con út thì Ludgi qua đời.

Santi Devi

Santi Devi

Câu Chuyện Luân Hồi Tái Sinh Của Shanti Devi – Việt dịch

Câu chuyện luân hồi tái sinh của Suresh Verma cũng đã được kiểm chứng là hoàn toàn có thật. Titu được sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở ngôi làng phía bắc Ấn Độ. Ngay từ khi hơn 2 tuổi, cậu đã có thể nhớ lại toàn bộ những gì xảy ra trong tiền kiếp của mình từ tên tuổi, ngôi nhà, nghề nghiệp cũng như lý do chết và những gì diễn ra sau khi chết. Theo Titu, 6 tuổi, kiếp trước cậu có tên là Suresh Verma, làm nghề sửa chữa đồ điện tử và bán ti vi, cát xét và đầu đĩa tại ngôi thị trấn Agra, gần với ngôi làng hiện tại Titu đang sinh sống.

Titu-Singh tai sinh- 6 tuoi

Suresh Verma Titu Singh Reincarnation Case – Tái Sinh Chuyển Kiếp – VD

Một trường hợp khác ở Trung Quốc, bé gái Chiết Quốc Nga 折国娥kiếp trước là một người đàn ông ở thôn Mã Gia Than 马家滩  thuộc tỉnh Hà Bắc tên là Trương Phúc Đại 张福大 có vợ và sinh được 2 con trai, con trai cả tên là Trương Cát Lâm 张吉林.

Chiet Quoc Nga

Chiết Quốc Nga 14 tuổi và con trai đời trước Trương Cát Lâm 36 tuổi. Bên phải là hình đời trước Trương Phúc Đại, hình nhỏ là Chiết Quốc Nga đã thành thiếu nữ

Ngày 29-11-1977 ông Đại qua đời vào lúc 57 tuổi. Cả hai bé gái, Santi Devi và Chiết Quốc Nga  đã cùng bố mẹ về quê cũ của kiếp trước gặp chồng, vợ, con và họ hàng. Biết bao chuyện cảm động đầy nước mắt đã diễn ra trong những ngày ấy. Mà như vậy là con người khi chết đi, thần thức (dân gian gọi là linh hồn) vẫn tồn tại và tái sinh vào kiếp sau ư! Chuyện khó tin nhưng là chuyện thật trăm phần trăm. Hai sự kiện trên, báo chí ở Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam đều đã đưa tin.

Từ thời xa xưa chuyện luân hồi tái sinh đã được ghi chép trong thư tịch.

Nhà văn nhà thơ Hoàng Đình Kiên (1045-1105) người đời Tống, kiếp trước là người nữ, chuyên tâm ăn chay, niệm Phật, không lấy chồng, muốn thoát khỏi thân nữ nhi, sau đó quả thật đầu thai thành người nam, thi đậu tiến sĩ năm 1067, ra làm quan.

Hoang Dinh Kien

Hoàng Đình Kiên hiệu Sơn Cốc đạo nhân

104 Giai Thoại Hoàng Đình Kiên – Bài Từ Chá Cô Thiên – VD

Trong bài từ Chá Cô Thiên, ông đã xác định rõ ràng

醉裡簪花倒著冠 Túy lý trâm hoa đảo trước quan. (Say sưa mộng ảo, nữ hóa thành nam)

Câu này có nghĩa là trong cõi thế gian mộng ảo này, con người giống như kẻ say, không biết rằng vật không có tự tính, trâm hoa là dụng cụ cài đầu của phụ nữ, còn nón (quan ) là biểu trưng của nam, khi con trai 20 tuổi thì làm lễ đội nón (gia quan) biểu thị đã trưởng thành. Nghĩa là nữ có thể biến thành nam, ám chỉ trường hợp của chính mình.

Ngay thời hiện đại của thế kỷ 21, cũng có dấu hiệu cho thấy có hiện tượng tái sinh chuyển kiếp.

Ca sĩ Đặng Lệ Quân sinh năm 1955 tại huyện Vân Lâm, Đài Loan trong một gia đình quê gốc ở tỉnh Hà Bắc. Cô là con thứ tư trong gia đình có 5 anh em. Cô là ca sĩ nổi tiếng chẳng những của Trung Hoa mà cả trên thế giới.

Năm 1986, tạp chí Time của Hoa Kỳ xếp cô vào top 10 ca sĩ nổi tiếng nhất thế giới và top 7 ca sĩ của năm, là người châu Á duy nhất được hai lần trao thưởng. Ngày 23 tháng 9 năm 2008, ca khúc “Đãn nguyện nhân trường cửu”  但願人長久 của Đặng Lệ Quân được phát khi TQ phóng tàu vũ trụ Thần Châu VII lên không gian.

Năm 2009, Đặng Lệ Quân nhận được số phiếu áp đảo cho “Hình tượng ảnh hưởng lớn nhất của văn hóa Trung Quốc mới”. Năm 2011, ca khúc “Ánh trăng nói hộ lòng tôi”月亮代表我的心 được chọn làm ca khúc kỷ niệm 100 năm Trung Hoa dân quốc.

Năm 1995, Đặng Lệ Quân cùng bạn trai đến thành phố Chiang Mai tại Thái Lan du lịch, bất ngờ lên cơn suyễn qua đời tại đó.  Ngày 30/04/1999 có một cô bé Thái Lan ra đời tên là Vanatsaya Viseskul, nhưng khi cô lớn lên, cô tự lấy tên tiếng Hoa là  Langgalamu 朗嘎拉姆 (Lãng Cát Lạt Mỗ). Thiếu nữ  chia sẻ, năm lên 7, lần đầu tiên được nghe một ca khúc thu âm của Đặng Lê Quân, ngay lập tức em đã say mê giọng ca huyền thoại. Dù không biết tiếng Trung nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Langgalamu đã thuộc làu và hát lại ca khúc kinh điển Điềm mật mật甜蜜蜜(Ngọt ngào) cùng 20 ca khúc khác trong CD tuyển chọn các ca khúc nổi tiếng nhất của Đặng Lệ Quân giống hệt như cố ca sĩ.

Langgalamu - Dang Le Quan

Langkalamu và Đặng Lệ Quân

Năm 2014 Langgalamu đến Trung Quốc thi hát do BTV tổ chức lấy nghệ danh là Đặng Lệ Anh邓丽英, đặc biệt cô rất thuộc những bài hát của Đặng Lệ Quân và có thể hát với phong cách giống hệt cô Đặng. Thử xem hai người cùng hát bài Ánh Trăng Nói Hộ Lòng Tôi.

Langalamu và Đặng Lệ Quân- Ánh Trăng Nói Hộ Lòng Tôi

Ca sĩ Mai Mi (Mei Mei) sống tại San Francisco từng có danh xưng là “Tiểu Đặng Lệ Quân Malaysia”. Cô nói với phóng viên: “Trước đây tôi từng hát những ca khúc của Đặng Lệ Quân ở Malaysia, miệt mài nghiên cứu phát âm cùng vận luật của Lệ Quân; đối với những người hiện nay cũng đang chăm chú nghiên cứu bắt chước, phát hiện bất quá chỉ là tuyến âm thanh sao cho tiếp cận được hoặc những kỹ xảo sao cho thành thạo, nhưng hễ nghe là biết bắt chước. Còn Langgalamu mới chỉ vừa mở miệng, thì tóc tai của tôi đều dựng cả lên. Là bà ấy! Thật chính là bà ấy! Thần thái đó, khí chất đó, âm phù và khí chất nội tại đằng sau không cách nào bắt chước được”

Bây giờ người ta xem Langgalamu như là hậu thân tái sinh của Đặng Lệ Quân.

Kết luận

Những câu chuyện về đặc dị công năng cho thấy sức mạnh của tâm linh. Tâm có thể thắng được vật chất, làm cho vật chất biến đổi. Bởi vì bản chất của vật chất vốn là ảo nên có thể tùy tâm biến hiện.

Những câu chuyện về luân hồi tái sinh cho thấy rõ tính chất vô ngã. Hoàng Đình Kiên kiếp trước là nữ, kiếp sau trở thành nam, cho thấy đặc trưng nam hay nữ là không có thật. Trường hợp của Chiết Quốc Nga cũng vậy. Kiếp trước là đàn ông, kiếp sau trở thành cô gái. Cô gái Chiết Quốc Nga 14 tuổi trong khi con trai của cô kiếp trước là Trương Cát Lâm đã 36 tuổi. Trường hợp của cậu bé Titu Singh cũng tương tự, cậu mới 6 tuổi trong khi vợ cậu kiếp trước là thiếu phụ Uma đã đứng tuổi và hai đứa con kiếp trước cũng lớn tuổi hơn cậu. Điều đó cho thấy thời gian, tuổi tác chỉ là ảo hóa, không có thực chất.

Tóm lại Phật giáo nói rằng Tâm chính là động lực, nguồn gốc cho tất cả mọi hiện tượng ảo hóa trên thế gian. Con người không nên quá mê muội, tranh giành chém giết lẫn nhau một cách ngu muội, điên rồ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Nhà sau | 2 phản hồi

TẤT CẢ ĐỀU LÀ TÂM

Tại sao có vũ trụ ?

Rất nhiều người, kể cả một số đông các nhà khoa học, đều cho rằng vũ trụ là khách quan, là tự nhiên có sẵn. Đó là một vũ trụ vật chất có sẵn và nó biến hóa, thay đổi, để rồi hình thành nên thế giới của con người chúng ta ngày nay. Đó là lý thuyết của những người theo chủ nghĩa duy vật khách quan mà tiêu biểu là Karl Marx. Luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật là “vật chất tồn tại độc lập và nằm ngoài ý thức”. Marx nói : “It is not the consciousness of men that determines their existence, but, on the contrary, their social existence that determines their consciousness.” (Marx, in the Preface to A Contribution to the Critique of Political Economy.) “Không phải ý thức của con người xác định sự tồn tại của họ, mà trái lại, sự tồn tại xã hội của họ xác định ý thức của họ”

Ý của câu này muốn nói là : Ý thức của con người là sản phẩm xã hội. Nhưng ông hoàn toàn không ngờ rằng cái thân tứ đại của ông, cái nhà ông ở, cái xe ông đi, tất cả ngoại cảnh mà ông trông thấy, cũng là sản phẩm xã hội mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian). Tại sao cả vật chất và ý thức đều là thế lưu bố tưởng, nghĩa là tập quán, tập khí, thói quen của xã hội. Đây là một vấn đề rất sâu kín khó hiểu mà ngay cả nhà khoa học lừng danh là Einstein cũng không hiểu nổi, không tin nổi, chúng ta sẽ đề cập đến ở đoạn dưới.

Ở chỗ khác Marx nói “At a certain stage we get the development of a central nervous system and a brain”. (Đến một giai đoạn, chúng ta có sự phát triển của hệ thống thần kinh và bộ não). Ý muốn nói bộ não của con người là sự tiến hóa dần dần của vật chất theo lý thuyết của Darwin. Thuyết sinh vật tiến hóa của Darwin đã thống trị tư tưởng khoa học của nhân loại từ lúc nó ra đời cho đến 5 thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Nhưng sau đó thuyết này đã bắt đầu bị phản bác. Sang đến thế kỷ 21 thì những nhà khoa học chân chính, có hiểu biết sâu sắc, hầu như chẳng còn mấy ai tin tưởng ở thuyết tiến hóa, bởi vì có quá nhiều chứng cứ, từ khảo cổ học, sinh trắc học (DNA) cho đến toán học đều phản bác thuyết tiến hóa. Người ta nghiên cứu thấy xác suất để các chất vô cơ ngẫu nhiên biến thành chất sống, gần như bằng 0. Do đó thuyết tiến hóa của Darwin chỉ là một giả thuyết không được kiểm chứng.

Và cũng từ đầu thế kỷ 20, khi cơ học lượng tử phát triển, chủ nghĩa duy vật đã bị lung lay tận gốc rễ mặc dù nó được sự bảo vệ của một nhà khoa học vĩ đại hàng đầu thế giới, đó là Albert Einstein. Mặc dù Einstein rất có cảm tình với Phật giáo, ông từng nói : “If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism” (Nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng được nhu cầu của khoa học hiện đại, đó có lẽ là Phật giáo). Nhưng Einstein chưa hoàn toàn hiểu được Phật giáo, ông vẫn còn tin tưởng ở một thế giới khách quan nằm ngoài ý thức. Bằng chứng là ông từng nói rằng “Tôi không tin rằng Mặt trăng chỉ tồn tại bởi vì một con chuột nhìn nó ?” (“I cannot believe that the Moon exists only because a mouse looks at it ?”)  hoặc “Chẳng lẽ mặt trăng không tồn tại khi không có ai nhìn nó   (“the Moon does not exist when nobody looks at it ?”)

Chính với lập trường duy vật khách quan như thế, Einstein tranh cãi quyết liệt với Niels Bohr về việc liệu các đặc trưng của hạt photon hoặc hạt electron luôn luôn tồn tại bất cứ lúc nào (vật tự có đặc trưng) hay các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát đo đạc (vật không tự có đặc trưng mà đặc trưng chỉ là do con người gán ghép cho vật lúc quan sát và đo đạc).

Einstein có thể chưa biết, hoặc có biết cũng không tin câu nói trong kinh Hoa Nghiêm : “Tâm như họa công sư, họa chủng chủng ngũ ấm. Nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo…Nhất thiết pháp vô tự tính心 如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính). Tất cả các pháp đều không có tự tính, suy ra các hạt cơ bản như photon, electron không tự có đặc trưng, mà các đặc trưng của chúng đều do Tâm của chúng ta gán ghép hay nói cách khác, chúng ta tưởng tượng ra một thế giới ngoại cảnh chứ không phải có sẵn một thế giới khách quan bên ngoài Tâm. Thí nghiệm hai khe hở là một thí nghiệm lừng danh đã bắt đầu được tiến hành từ thế kỷ 19, qua thế kỷ 20 và ngay trong thế kỷ 21, con người vẫn còn tiếp tục tiến hành với các điều kiện thí nghiệm ngày càng tinh vi, chuẩn xác hơn.

Từ thời của Thomas Young (1773-1829) thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) đã được biết đến. Tuy nhiên ông chỉ phát hiện được sự giao thoa ánh sáng, nó chứng tỏ ánh sáng là sóng mà thôi. Cho đến năm 1924, Louis de Broglie phát hiện thêm một tính chất quan trọng của photon (ánh sáng) qua thí nghiệm hai khe hở, đó là ánh sáng vừa là sóng mà cũng có thể vừa là hạt, phát hiện này đem đến cho ông giải Nobel Vật lý năm 1929. Đến năm 1961, Claus Jonsson của đại học Tubingen (Đức) lần đầu tiên tiến hành thí nghiệm hai khe hở với electron, ông có phát hiện quan trọng, chùm tia electron tạo ra giao thoa sóng, nó chứng tỏ rằng hạt electron cũng có thể là sóng. Đây là phát hiện mới mẻ vì từ trước đến nay chưa ai nghĩ rằng electron lại có thể là sóng, mặc dù từ năm 1927 Heisenberg đã đưa ra nguyên lý bất định (principle of uncertainty) nói rằng không thể đồng thời xác định vị trí và động lượng của electron. Sự giao thoa sóng của electron càng được chứng tỏ rõ ràng hơn khi người ta bắn từng hạt electron đơn độc qua hai khe hở năm 1974, thực hiện bởi Giulio Pozzi và các đồng sự tại đại học Bologna nước Italy. Việc bắn từng hạt electron nhằm tránh việc các electron chạm nhau gây nhiễu xạ. Họ đã cho các electron đơn độc đi qua một lưỡng lăng kính – một dụng cụ có chức năng giống như một khe đôi – và quan sát thấy sự hình thành của một hệ vân giao thoa sóng. Một thí nghiệm tương tự cũng được thực hiện vào năm 1989 bởi Akira Tonomura và các đồng sự tại phòng nghiên cứu của hãng Hitachi ở Nhật Bản. Thí nghiệm electron đơn độc đầu tiên sử dụng một khe đôi thực sự được báo cáo vào năm 2008 bởi Pozzi và các đồng sự. Đội khoa học gia Italy còn tiến hành thí nghiệm với một khe bị che đi, và đúng như trông đợi, nó không dẫn tới sự hình thành của hệ vân giao thoa hai khe. Đội còn tiến hành một thí nghiệm khác vào năm 2012, trong đó sự tới đích của từng electron đến từ hai khe được ghi lại tuần tự từng hạt một. Năm 2014, Herman Batelaan thuộc trường Đại học Nebraska-Lincoln, cùng với các đồng nghiệp ở đó và tại Viện Vật lý Lý thuyết Perimeter ở Waterloo, Canada, cũng báo cáo cho biết họ vừa tạo ra một thí nghiệm hai khe tuân theo phương pháp luận chính xác của thí nghiệm tưởng tượng Feynman. Video sau đây tổng kết thí nghiệm hai khe hở.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Kết quả thí nghiệm cho thấy vật chất (hạt electron) bị Tâm của người quan sát làm cho thay đổi. Hạt electron không độc lập đối với ý thức như luận thuyết của Marx.

Ý thức (consciousness) hiểu theo Karl Marx, chỉ là thức thứ sáu của Tâm chứ không phải toàn bộ Tâm. Toàn bộ Tâm bao gồm 8 thức mà Duy Thức Học Phật giáo đã trình bày rất cụ thể. Chính là Tâm quyết định tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, cảm nhận, suy nghĩ, theo một tập quán lâu đời, phổ biến mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng.

Năm 1930, sau khi Werner Heisenberg công bố nguyên lý bất định (1927) nhà thơ nổi tiếng người Ấn, Tagore có đến nhà của Einstein ở Đức viếng thăm ông, cũng nhân dịp này, hai người có tranh luận về thực tại.

Cuộc Gặp Gỡ Giữa Tagore Và Einstein – VD

Einstein vẫn luôn tin tưởng rằng có một thực tại khách quan, độc lập đối với tâm trí con người nên những phát biểu của Tagore không thuyết phục được ông. Cũng chính vì vậy ông không tin tưởng ở cơ học lượng tử, cho rằng nó thiếu sót, thậm chí là sai lầm. Năm 1935 ông và hai nhà vật lý khác là Podolsky và Rosen đưa ra nghịch lý EPR nhằm phản bác thuyết lượng tử. Sau đó là cuộc tranh luận giữa Einstein và Niels Bohr. Kết quả là giả thuyết EPR và niềm tin về thực tại độc lập khách quan của Einstein đều bị hậu thế, sau khi ông đã qua đời, chứng tỏ là sai lầm.

Mãi tới năm 1982, lúc đó thì cả Einstein và Niels Bohr đều đã qua đời, tại Paris, Alain Aspect mới áp dụng bất đẳng thức của John Bell, chứng tỏ trong một thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) cho cả thế giới thấy rằng quả thật hạt photon hay electron hoặc các hạt cơ bản nói chung đều không tự có đặc trưng, đúng như kinh Hoa Nghiêm nói.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Niels Bohr

Niels Bhor từng nói : “Bất kỳ ai nói rằng anh ta có thể nghĩ về vật lý lượng tử mà không bị choáng váng thì điều đó chỉ chứng tỏ rằng anh ta chẳng hiểu gì về ý nghĩa căn bản của vật lý lượng tử”

Khi nghĩ tới vật lý lượng tử thì người ta choáng váng về điều gì ? Đó là vật, chẳng hạn hạt photon hay hạt electron, không hề có sẵn đặc trưng mà những đặc trưng đó chỉ là tưởng tượng do người quan sát, đo đạc, gán ghép cho hạt. Einstein (1879-1955) tranh cãi quyết liệt về điều này, nhưng rất tiếc là ông đã qua đời trước năm 1982, nếu ông sống được tới đó, ắt là ông phải choáng váng vì niềm tin về một thế giới vật chất độc lập khách quan của ông đã bị sụp đổ.

Sau cuộc thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982, giới khoa học rút ra được những kết luận rất quan trọng :

Một là vật không có thật (non realism) chỉ là tưởng tượng của Tâm gán ghép cho một cấu trúc ảo của các hạt cơ bản.

Hai là vật không có vị trí nhất định (non locality) mà có thể hiện diện ở khắp nơi.

Ba là vật không có số lượng (non quantity) không phải là một, cũng không phải là nhiều.

Vũ trụ xuất hiện cách nào ?

Ba kết luận này chúng ta thấy rất nhiều trong tin học hiện đại. Một bài báo, một hình ảnh, một bản nhạc, một video, chúng đều là ảo, có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu trên thế giới, và không hạn chế số lượng. Cái thế giới đời thường mà chúng ta đang sống, đang cả tin là sự thật 100% cũng chỉ là vật ảo giống như một video nhưng cao cấp hơn. Cái thế giới ấy xuất hiện trong thời-không (space-time) 4 chiều theo nguyên lý toàn ảnh mà nhà vật lý David Bohm đã chỉ ra. Một toàn ảnh ở dạng ẩn chứa, thông tin nằm trong mặt phẳng hai chiều. Khi được phóng hiện, nó trở thành một toàn ảnh ở dạng triển khai, và đó chính là cuộc sống đời thường trong thời-không 4 chiều của chúng ta.

Universe 3 – Nguyên Lý Toàn Ảnh – Ảo Ảnh Xuất Hiện Cách Nào

Tóm lại toàn ảnh là một dạng thông tin và chính dạng thông tin này hình thành cuộc sống đời thường của chúng ta được tóm tắt qua video sau :

Vạn Pháp Duy Thức

Theo Bohm, vũ trụ, thế giới vật chất mà ta đang thấy xung quanh mình là dạng hình được khai triển (unfolded) từ một thực tại sâu kín hơn. Thực tại sâu kín này là một cái toàn thể bất khả phân, không thể định nghĩa, không thể đo lường. Trong thực tại này, mọi sự đều liên kết chặt chẽ với nhau. Thực tại này không nằm yên mà luôn luôn vận động nên được mệnh danh là “sự vận động toàn thể” (holomovement) và nó là nguồn gốc, là cơ sở của mọi dạng xuất hiện của vật chất và tâm thức.

Muốn hiểu quan niệm thực tại của Bohm, ta cần từ bỏ phép giải tích, từ bỏ cách nhìn vũ trụ hiện nay như ta đang nhìn, xem nó gồm nhiều phần tử đang dàn ra trong không gian thời gian, điều mà Bohm gọi là “thứ bậc dàn trải” (explicate order). Sự thay đổi thứ bậc này trong cách cảm nhận vũ trụ là khó khăn hơn cả sự chuyển đổi tư duy từ vật lý cơ giới qua thuyết tương đối hay qua cơ học lượng tử. Thứ bậc nội tại đòi ta biết cách nhìn “một trong tất cả, tất cả trong một”, một điều rất xa lạ với con người bình thường.

Hãy nêu lên vài ẩn dụ để tới với cách nhìn này: Xem hệ phát sóng truyền thanh truyền hình. Nội dung phong phú của chương trình đã được chứa “ẩn tàng” trong mỗi đơn vị của sóng, lan tỏa trong không gian với vận tốc ánh sáng. Khi gặp máy thu hình thì thứ bậc ẩn tàng đó đã được “bung” ra để thành hình ảnh hay lời nói. Hoặc khi ngắm nhìn vũ trụ, ta thấy vô số vật thể trong không gian vô tận, chúng đại biểu cho sự vận động trong thời gian vô tận. Vô số những quá trình đó được chứa ẩn tàng trong sự vận động của ánh sáng thông qua một khoảng không gian tí hon của con mắt. Và sau đó nó “bung” ra trong óc ta để ta thấy vũ trụ. Trong cơ thể sinh vật, mỗi một tế bào nhỏ nhất cũng chứa DNA, thông tin của toàn bộ cơ thể đó. DNA cũng là một hình ảnh dễ hiểu của quan niệm “một trong tất cả, tất cả trong một”. Thí dụ giản đơn và có tính cơ giới nhất là một thanh nam châm với hai cực nam bắc. Nếu ta cắt thanh nam châm đó làm hai thì lập tức chỗ cắt sẽ sinh ra hai cực nam bắc. Nếu tiếp tục cắt thì ta sẽ có tiếp những thanh nam châm nhỏ hơn nữa. Do đó ta có thể nói mỗi điểm trong thanh nam châm đã chứa “ẩn tàng” hai cực nam bắc. Có cắt thì hai cực đó mới hiện ra, không cắt thì chúng nằm trong dạng “nội tại”.

Như vậy suy ra rằng thế giới ngoại cảnh chỉ là tưởng tượng của con người chứ không có thực. Các Phật tử đã hiểu được rõ ràng tại sao kinh điển Phật giáo và các bậc giác ngộ luôn nói rằng thế gian là huyễn ảo. Kinh Kim Cang nói :

一切有为法  Nhất thiết hữu vi pháp,          Tất cả pháp hữu vi
如梦幻泡影Như mộng, huyễn, bào, ảnh,  Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
如露亦如电Như lộ, diệc như điện,              Như sương, như chớp loé,
应作如是观Ưng tác như thị quán.              Hãy xem xét như thế.

Pháp hữu vi là gì ? Là sản phẩm do chúng sinh làm ra. Cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái xe, cái máy vi tính…là do con người làm ra, chúng là sản phẩm được tạo tác nên được gọi là hữu vi. Thế còn vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, sơn hà đại địa, hạt photon, hạt electron, các hạt cơ bản… chẳng lẽ cũng là do chúng sinh làm ra ? Đúng vậy, cũng do chúng sinh, do con người tưởng tượng ra, nên vẫn là pháp hữu vi. Kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng, tức là tưởng tượng đã được lưu truyền phổ biến trên thế gian. Rõ ràng trong cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Einstein, hạt photon hoặc hạt electron là không có thật, chúng không hề có đặc trưng gì cả, chỉ là do người quan sát đo đạc gán ghép tưởng tượng của mình vào cấu trúc ảo của lượng tử.

Einstein không thể hiểu cũng không thể nào chấp nhận được, tại sao thân thể tứ đại của chúng ta, cái nhà chúng ta ở, cái xe chúng ta đi, cái thế giới chúng ta sinh sống, mặt trăng mặt trời, hành tinh, các vì sao,… lại là không có thật, chỉ là tưởng tượng của Tâm. Nhưng đó là một thực tế mà cơ học lượng tử đã chứng minh một cách hoàn toàn khoa học chứ không phải chỉ là lời nói bí hiểm trong kinh sách. Đó cũng chính là lý do để Niels Bohr nói rằng, nếu chúng ta hiểu được cơ học lượng tử thì phải cảm thấy choáng váng bởi vì niềm tin vững chắc từ xưa tới giờ của mình bị sụp đổ tan tành.

Chính vì vật chất chỉ là ảo, không có vị trí nhất định và không có số lượng nên chúng ta mới có những câu chuyện rất khó tin nhưng hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Đó là việc trong Kinh Thánh kể chuyện Chúa Giê Su chỉ với hai con cá và năm ổ bánh mì mà vẫn có thể chia cho 5 ngàn đàn ông và một số lượng cũng cỡ đó bao gồm đàn bà và trẻ con, cộng chung khoảng 10 ngàn người, ăn no rồi mà vẫn còn dư 12 giỏ bánh.

Đó là việc một nhà đặc dị công năng hiện đại có thể dùng tâm lực làm gãy cái muỗng bằng inox cứng chắc hoặc phát ra khí công vô hình nhưng đủ sức làm gãy đôi viên gạch nung cứng chắc.

Đông Phương Kỳ Nhân Lý Liên Duyên- Việt dịch

Đó là việc nhà đặc dị công năng Hầu Hi Quý có thể dùng tâm lực lấy một gói thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa ở khoảng cách xa 1600 km trong tích tắc.

Kết luận trong bài này là, vũ trụ xuất hiện là do Tâm, đó là động lực và nguồn gốc của tất cả mọi pháp hữu vi trong tam giới. Tâm còn có rất nhiều tên gọi khác như : Phật, Chúa, Thượng Đế, Trời, Đạo…

Các nhà khoa học ngày nay nói Vũ trụ là một toàn ảnh khổng lồ (The Universe is a Giant Hologram) hoặc  nói Vũ trụ là số (The Universe is Digital) đều cùng một ý tưởng : Vũ trụ, Thế giới chỉ là tưởng tượng của Tâm, Thế giới là Duy Thức, một sự tưởng tượng rất rõ ràng, rất hiện thực, nhưng thực chất chỉ là huyễn ảo, là cảm giác, là tâm niệm chứ không phải là sự thật tuyệt đối. Thầy Duy Lực cũng đã nói rất rõ ràng :

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay

Phật tử chúng ta nên hiểu Bất nhị của Phật giáo nghĩa là gì. Tôi (ngã, chủ thể) cũng là tâm. Vật (đối tượng, khách thể) cũng là tâm. Không gian cũng là tâm. Thời gian cũng là tâm. Như vậy Bất nhị cũng rất rõ ràng, dễ hiểu, không có gì bí hiểm cả. Bất nhị không phải là một, cũng không phải là nhiều.

Nhân loại cần phải thấu hiểu ý nghĩa câu này trong kinh Hoa Nghiêm thì khi gặp nghịch cảnh họ mới bớt cảm giác đau khổ :

Tâm như họa công sư, họa chủng chủng ngũ ấm. Nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo…Nhất thiết pháp vô tự tính心 如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính).

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 4 phản hồi