NGƯỜI ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG VÀ NGƯỜI THỨC TỈNH

Người thế gian điên đảo mộng tưởng

Người mộng tưởng là người sống trong điên đảo mộng tưởng. Điên đảo 顛倒 không phải là khùng điên mà có nghĩa là ngược ngạo, lộn ngược (upside down). Điên là đỉnh cao, ví dụ sơn điên 山顛 là đỉnh núi, điên phong 顛峰 là ngọn núi cao nhất trong dãy núi. Đảo 倒 là đảo ngược. Người điên đảo mộng tưởng là người đang ngủ mê cho rằng mộng là thực. Mộng là chiêm bao, huyễn ảo không có thật, nhưng người nằm mơ thì cứ tưởng là thật. Người chiêm bao thấy chiếc xe quý giá của mình bị mất, vô cùng hoảng hốt, sợ hãi, chợt giật mình thức dậy thấy chiếc xe vẫn còn bên cạnh thì vô cùng mừng rỡ. Sự sợ hãi hay mừng rỡ đó đều là vu vơ vô căn cứ, không có gì là thật, gọi là điên đảo mộng tưởng.

Tuyệt đại đa số con người sống trong thế gian đều là những người điên đảo mộng tưởng bởi vì họ bị quay cuồng theo những gì diễn ra trong giấc mộng giữa ban ngày còn gọi là mở mắt chiêm bao. Nhắm mắt chiêm bao thì mọi người đều biết, khi tỉnh dậy thì mọi người đều biết là những gì diễn ra trong chiêm bao là mộng ảo không có thật. Nhưng không ai biết cuộc sống đời thường của thế gian cũng là một loại mở mắt chiêm bao, giấc mơ ban ngày. Nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao cơ bản là giống nhau, đều là ảo hóa không có thật nhưng khác nhau về cấp độ. Tôi thử phân tích một số chỗ khác nhau :

Chỗ khác nhauNhắm mắt chiêm baoMở mắt chiêm bao
Lúc chiêm baoThường là ban đêmSuốt cả ngày đêm
Thời gian chiêm baoNgắn ngủiDài vô tận
Cảnh giớiKhông vững chắc, đầu Ngô mình SởKhá vững chắc, có trật tự hợp lý, kết cấu có quy luật
Các thức tham dựChỉ có ý thức (độc đầu ý thức)Cả 8 thức đều tham dự
Thành phần tham dự trong ngũ uẩnChỉ có thọ, tưởng, hành, thức (phần tinh thần)  Có đủ sắc (vật chất), thọ, tưởng, hành, thức  
Khả năng chủ động điều khiểnKhó vận dụng điều khiển giác quan, khó chủ động nhưng có thể có động tác phi thường, chẳng hạn bay đượcĐiều khiển dễ dàng trơ tru hơn, có vẻ như chủ động nhưng phải tuân theo định luật vật lý
Khả năng tỉnh dậyDễ thức dậyKhông bao giờ tỉnh thức kể cả lúc chết
Cách nào để thức tỉnhNgủ đã thì thức dậyPhải giác ngộ mới thức dậy được
Lộ trình để tỉnh thứcKhông cần lộ trìnhPhải đi từ nghi tới ngộ, không nghi thì không ngộ

Tóm lại mở mắt chiêm bao là giấc mơ dài và khá vững chắc nên người nằm mơ tin tưởng 100% đó là cảnh thật, tất cả giác quan đều tham dự, cảnh giới vật chất đều rất rõ ràng và vững chắc nên hành giả không có một chút xíu nghi ngờ nào về cảnh giới này là giả.

Thế nên dù cho Phật và các vị Tổ Sư đều bảo rằng đó chỉ là cảnh giới hư giả, huyễn ảo nhưng có rất ít người tin. Kinh Kim Cang nói :

一切有為法,Nhất thiết hữu vi pháp        Tất cả pháp hữu vi

如夢幻泡影,Như mộng huyễn bào ảnh  Như mộng huyễn bọt bèo

如露亦如電,Như lộ diệc như điện          Như sương mai điện chớp

應作如是觀.  Ưng tác như thị quán          Nên thấy rõ như thế

 Pháp hữu vi là pháp do tưởng tượng, do tạo tác mà có. Mặc dù Phật tử rất tin vào Phật và Tổ nhưng nói cho cùng họ vẫn tin vào giác quan mắt thấy tai nghe của mình hơn. Bởi vì cái thói quen nhận thức đã in sâu vào tiềm thức của họ từ rất lâu rồi, nhiều đời nhiều kiếp, nên không dễ gì một bài kệ hay một lời nói của Phật, Tổ, có thể làm lung lay nhận thức đó.

Cái thói quen nhận thức lâu đời đó được kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 có nghĩa là tưởng tượng đã truyền qua nhiều đời thành thói quen phổ biến. Vì dụ tại sao con người thấy sông núi, cây cối, sinh vật ? Liệu các vật thể đó là sự thật khách quan hay chỉ cảm giác chủ quan có đông người cùng cảm nhận giống nhau ? Câu trả lời của Phật pháp, đó chỉ là chủ quan tập thể chứ không phải là sự thật khách quan, độc lập ngoài tâm thức. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc  trưng đặc điểm) nghĩa là các hạt cơ bản như photon, electron, quark…đều không có sẵn đặc trưng nên tất cả các pháp (vạn vật) cũng không có đặc trưng, không có thật. Vậy tại sao chúng ta thấy nhà cửa, sông núi, sinh vật, con người… rất là thật, có thể tiếp xúc, sờ mó, ăn uống, tiêu hóa, tăng trưởng ? Phật pháp trả lời là Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 (tất cả sự vật đều là do tâm tưởng tượng ra). Tâm tưởng tượng ra các hạt cơ bản (kinh điển gọi là hoa đốm trong hư không), tâm tưởng tượng ra số lượng rồi từ đó tưởng tượng ra không gian và thời gian. Có một thí nghiệm khoa học minh họa cho sự tưởng tượng này của tâm : thí nghiệm hai khe hở (Double slit experiment)  sau đây :

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau là màn hứng hiển thị kết quả. Sở dĩ phải bắn từng hạt electron chứ không phải bắn cùng lúc nhiều hạt để tránh trường hợp các hạt va chạm nhau bay tứ tung làm sai lạc kết quả. Sau khi bắn như vậy khoảng một tiếng đồng hồ, kết quả như sau :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng thể hiện thành nhiều vạch

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron và chỉ thể hiện 2 vạch tương ứng với 2 khe hở

Điều đó chứng tỏ tâm của người quan sát tạo ra hạt electron là một hạt cơ bản của vật chất, nếu không có người quan sát thì electron chỉ là sóng vô hình, vô thể, không có vị trí nhất định trong không gian hay thời gian. Tính không nhất định về không gian thể hiện ở chỗ ta đứng ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới cũng có thể đọc được bài viết này miễn có internet. Tính không nhất định về thời gian thể hiện ở chỗ ta có thể đọc bài viết này trên điện thoại hoặc laptop bất cứ lúc nào ta rảnh, không hạn chế thời gian giờ giấc. Tính không nhất định về không gian và thời gian chính là điều mà kinh điển gọi là vô sở trụ (non locality).

Tâm tưởng tượng ra số lượng, không gian và thời gian có thể được minh họa qua thí nghiệm khoa học gọi là hiện tượng chồng chập rối rắm liên kết lượng tử (quantum entanglement).

Liên kết lượng tử (quantum entanglement)  

Các nhà khoa học có thể làm cho một photon (hạt cơ bản ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau hoặc ở rất nhiều vị trí khác nhau. Hiện nay vệ tinh lượng tử Mặc Tử của TQ có thể làm cho một photon xuất hiện ở hai nơi cách xa nhau 4600 km. Hai hoặc nhiều photon xuất hiện đồng thời chứng tỏ số lượng hạt photon là không có thật, tâm tưởng tượng ra số lượng nhiều không giới hạn trong vũ trụ. Khoảng cách giữa hai photon được gọi là không gian cũng là do tâm tưởng tượng ra. Vì khoảng cách giữa hai photon chỉ là ảo không có thật nên thời gian cần thiết để di chuyển từ photon A tới photon B cũng là không có thật, không mất thời gian, cụ thể người ta không mất chút thời gian nào để truyền tín hiệu đi xa 4600km mà vệ tinh lượng tử tạo ra, và trong tương lai người ta có thể sẽ truyền tín hiệu đến Sao Hỏa ngay tức thời chứ không phải cần từ 5 tới 20 phút (tùy vị trí giữa Trái Đất và Sao Hỏa trên quỹ đạo chung quanh Mặt Trời) như hiện nay. Hơn nữa sẽ không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng giao hội (Mars-Earth solar conjunction) giữa Sao Hỏa Trái Đất và Mặt Trời. Đó là khi Mặt Trời nằm giữa Trái Đất và Sao Hỏa thì tín hiệu liên lạc giữa Trái Đất và Sao Hỏa bị gián đoạn. Nhưng khi con người ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử thì liên lạc sẽ tức thời và không bị gián đoạn, do tín hiệu thực tế là không có truyền đi xuyên qua mặt trời. Vì vậy bất cứ lúc nào Trái Đất cũng sẽ liên lạc được với Sao Hỏa và liền tức thời chứ không phải chờ từ 5-20 phút như hiện nay.

Nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20 là Einstein rất kinh ngạc và bối rối trước hiện tượng quantum entanglement, ông gọi hiện tượng này là Spooky action at a distance (tác động ma quái từ xa). Ông bối rối vì luôn cho rằng khoảng cách không gian là có thật.

Thí nghiệm liên kết lượng tử chứng tỏ rõ ràng rằng số lượng, không gian và thời gian chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Thế nhưng tất cả mọi người trên thế gian này đều thấy không gian, thời gian, số lượng, vũ trụ, mặt trời, hành tinh, sông núi, sinh vật, con người…đều là thật. Chính vì vậy kinh điển Phật giáo mới nói con người thế gian là điên đảo mộng tưởng, nằm mơ giữa ban ngày, mở mắt chiêm bao.

Tóm lại con người tưởng tượng ra hạt cơ bản của vật chất (material particles). Tiếp tục tưởng tượng rằng các hạt cơ bản cấu trúc thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thành vạn vật bao gồm cả sinh vật, con người, không gian, thời gian, số lượng.

Nhưng khi hạt cơ bản đã thành vạn vật thì hành xử của vạn vật lại khác hẳn với hạt cơ bản do có yếu tố không gian, thời gian, số lượng xen vào. Do đó nhận thức của con người ngược hẳn với bản chất của sự vật. Từ không biến thành có, từ không có thật biến thành có thật, từ phù du điện chớp biến thành kiên cố lâu dài…Cái đó gọi là điên đảo mộng tưởng.          

Người thức tỉnh           

Người thức tỉnh là người đang mở mắt chiêm bao hay nằm mơ giữa ban ngày bỗng chợt tỉnh thức dậy vì nhận ra thế gian chỉ là mộng ảo. Người điên đảo mộng tưởng chiếm tuyệt đại đa số trong nhân loại. Còn người thức tỉnh chỉ chiếm một tỷ lệ vô cùng nhỏ. Người thức tỉnh bao gồm Đức Phật, các vị Bồ Tát, các vị Tổ Sư Thiền và một số thiền sư hoặc hành giả tham thiền kiến tánh giác ngộ. Người thức tỉnh còn gọi là người giác ngộ hay kiến tánh, nói tắt là Phật, kiến tánh thành Phật 見性成佛 chỉ có nghĩa là giác ngộ. Họ ngộ được cái bản tánh bất nhị của tất cả các pháp mà kinh điển gọi là vô sinh pháp nhẫn.

Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)là một thuật ngữ Phật giáo xuất phát từ Kinh Đại Bát Nhã 大般若經 quyển 449 Phẩm Chuyển Bất Chuyển 轉不轉品. Vô sinh nghĩa là không có sinh khởi, không có bắt đầu, không do cái gì sinh ra cũng tức là không có thật mà cũng không phải là giả. Đó là một trạng thái tuyệt đối bất nhị, bất biến, không có chuyển động, không thay đổi. Trạng thái không thay đổi gọi là pháp nhẫn. Nhẫn tức là bất biến, không có chuyển động, không lay động, không thay đổi (constant). Thuật ngữ này để diễn tả Tâm bất nhị vô sinh vô diệt không thay đổi.

Người tu theo Phật giáo là muốn phát hiện cái tâm này, đó mới thực sự là ta cũng là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Trong lịch sử thiền tông, Ngài Động Sơn Lương Giới (807-869), khi kiến tánh có làm bài kệ :

切忌从他觅  Thiết kị tòng tha mích (mịch) Rất kị tìm cầu ở người khác

迢迢与我疏  Điều điều dữ ngã sơ           Như vậy là xa với chính mình

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng         Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ          Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã         Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ             Mà mình không phải là nó

应须恁么会  Ưng tu nhẫm ma hội           Phải ngộ được như thế

方得契如如  Phương  đắc khế như như   Mới khế hợp với chân như

Thầy Duy Lực đã giảng như sau (câu 1242)

1242 Xin Sư Phụ giải thích bài kệ của Ngài Động Sơn Lương Giới

Cái tâm này vô hình, vô thể, vô tướng nên không thể nắm bắt, không thể định nghĩa được, sự suy tư của bộ não con người không thể quan niệm, không thể hiểu được nó. Chính vì vậy Tổ Sư Thiền mới nêu ra tôn chỉ : Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự. Ngôn ngữ có giới hạn, nó diễn tả một khái niệm của ý thức, đó là tưởng tượng, suy tưởng, nghĩ ngợi trong khi tâm là một thực thể vô thể, thực tướng vô tướng không bị giới hạn.

Trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên 五燈會元 có kể câu chuyện : Duy Tín thiền sư 惟信禪師 ở Cát Châu 吉州 thượng đường, nói : “Lão tăng tam thập niên tiền, vị tham thiền thời, kiến sơn thị sơn, kiến thủy thị thủy. Cập chí hậu lai, thân kiến tri thức, hữu cá nhập xứ, kiến sơn bất thị sơn, kiến thủy bất thị thủy. Nhi kim đắc cá hưu hiết xứ, y tiền kiến sơn chi thị sơn, kiến thủy chi thị thủy” 『老僧三十年前未參禪時,見山是山,見水是水,及至後來,親見知識,有箇入處,見山不是山,見水不是水,而今得箇休歇處,依前見山祇是山,見水祇是水。』(Lão tăng 30 năm trước lúc chưa tham thiền, thấy núi là núi, thấy sông là sông. Về sau khi tự mình tiếp thu tri thức, vào cảnh giới thiền, thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông. Bây giờ được cảnh giới tự tại, thấy núi vẫn là núi, thấy sông vẫn là sông, như trước kia.)

Câu chuyện này nói lên cái gì ? Không phải cảnh biến đổi vì cảnh không có tự tính, mọi việc đều là do tâm phân biệt, tâm tưởng tượng, tâm tạo ra. Do đó tâm chuyển thì cảnh chuyển, tâm mới quyết định chứ không phải cảnh quyết định, cảnh tùy tâm hiện.

Có một bài kệ diễn tả cái thấy khác hẳn người thường

Tác giả của bài kệ này là Phó Đại Sĩ 傅大士 sống vào thế kỷ thứ năm Công nguyên, dưới thời Lương Võ Đế đời Nam và Bắc triều. Ông tên thật là Phó Hấp 傅翕, là một cư sĩ Phật giáo nổi tiếng, cùng với Bồ Đề Đạt Ma và Thiền sư Bảo Chí 寶誌, được xưng tụng là ba đại sĩ  thời nhà Lương.

Phó Hấp không được học hành nhiều, là một ngư dân nhưng có nhiều quái chiêu. Ví dụ: Mỗi khi bắt được cá, anh ta cho vào lồng tre, thả xuống nước sâu và niệm chú với cá: “Ai muốn đi thì đi, ai muốn dừng thì dừng ”. Người đời cho rằng anh ta ngu ngốc, nhưng anh ta đã không để ý, và sau đó anh ta đã bỏ nghề đánh cá và thay thế bằng nghề canh nông. Bài kệ như sau :

空手把鋤頭 Không thủ bả sừ đầu   Tay không cầm cái bừa

步行騎水牛 Bộ hành kỵ thủy ngưu Đi bộ cỡi lưng trâu

人從橋上過 Nhân tòng cầu thượng quá  Người người đi trên cầu

橋流水不流 Cầu lưu thủy bất lưu  Cầu chảy nước không chảy

Những ý trong bài kệ này đều ngược ngạo so với nhận thức của người đời. Tay cầm cái bừa nhưng vẫn là tay không. Đi bộ tức là đi trên mặt đường nhưng đồng thời lại là đang ngồi cỡi lưng trâu. Mọi người đang đi trên cầu, nhưng không phải nước chảy mà là cầu chảy. Người thế gian thì điên đảo mộng tưởng, muốn thoát khỏi điên đảo thì phải thấy ngược lại với người thế gian.

Vấn đề là cái thấy của Phó Hấp có cơ sở khoa học hay không ? Có đấy. Hiện tượng liên kết lượng tử cho thấy rõ như vậy. Không gian, thời gian, số lượng, vật chất, hình tướng, đều không có thật, đều chỉ là ảo hóa, bản chất đều là không như Bát Nhã Tâm Kinh đã chỉ ra : Sắc bất dị Không, Sắc tức thị Không.

Do đó cái thấy của người thế gian và cái thấy của người thức tỉnh tuy ngược nhau nhưng thật ra là không có khác. Đúng như Duy Tín thiền sư nói, lúc chưa hiểu đạo, thấy núi là núi, thấy sông là sông. Đến khi bắt đầu tham thiền, thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông. Nhưng khi ngộ đạo, thấy núi vẫn là núi, thấy sông vẫn là sông, giống như người thế gian, tuy nhiên trong thâm tâm không còn chấp thật nữa nên không còn bị hoàn cảnh sai sử. Đây chính là Trung Đạo, là vô sở trụ mà Long Thọ Bồ Tát đề cập trong Trung Quán Luận. Trung Quán Luận có 446 bài kệ với 1784 câu. Hành giả không cần phải đọc hết 446 bài kệ, chỉ cần hiểu cho rõ một bài thôi cũng đủ. Tôi chọn bài sau đây để đi sâu :  

Phẩm thứ tư : Phá Ngũ Ấm

Phần này nêu ra sự sai lầm trong nhận thức về thế giới. Chúng ta thường chấp thật tức là cho rằng thế gian là có thật, không biết rằng thế gian chỉ là ảo hóa do sự vận động của ngũ ấm. Bài kệ này nói về hạt nhân nguyên tử.  

Bán kính từ hạt nhân tới quỹ đạo của hạt electron là 5x 1011  m tức 0.05 nm (5% của 1 nm)

若離於色因 Nhược ly ư sắc nhân  Nếu lìa hạt nhân của vật chất

色則不可得 Sắc tắc bất khả đắc     Vật chất ắt không thể thành lập

若當離於色 Nhược đang ly ư sắc   Trong lúc lìa khỏi vật chất

色因不可得 Sắc nhân bất khả đắc  Hạt nhân của vật chất không thể thành lập

離色因有色 Ly sắc nhân hữu đắc   Lìa hạt nhân vật chất mà có vật

是色則無因 Thị sắc tắc vô nhân     Là vật chất không có hạt nhân

無因而有法 Vô nhân nhi hữu pháp  Không có hạt nhân mà có vật

是事則不然 Thị sự tắc bất nhiên     Không thể có việc như vậy

Ngũ ấm 五陰 Skandhas hay ngũ uẩn 五蘊 là năm tích hợp của tất cả các pháp. Ngũ uẩn bao gồm : sắc 色 là vật chất (material); thọ 受 là cảm nhận (perceptions); tưởng 想 là tưởng tượng (imagination); hành là vận động 行 (motion); thức 識 là nhận thức, phân biệt (consciousness). Ngũ uẩn tạo ra thế giới với muôn vàn sai biệt.

Sắc phải hiểu là vật chất, nhân là hạt nhân của vật chất, phải hiểu là hạt nhân của nguyên tử. Long Thọ Bồ Tát có huệ nhãn ắt thấy được cấu trúc của nguyên tử. Nếu không có hạt nhân thì ắt không có nguyên tử, không có vật chất. Không có nguyên tử thì cũng không có hạt nhân. Nếu không có hạt nhân mà có nguyên tử, như vậy vật chất không có hạt nhân. Không có hạt nhân mà có vật chất, không thể có việc đó.

Vậy những hạt cơ bản hay hạ hạt nguyên tử (subatomic particles) thì có hạt nhân là gì ? Chúng vốn là phi vật chất (dạng sóng) hay dạng tiềm thể (potentialities) của vật chất, nghĩa là không phải vật chất, chỉ khi chúng được quan sát hay cảm nhận hay đo đạc thì mới thành dạng hạt và có đặc tính của vật chất. Khi đã thành hạt vật chất hay hạt cơ bản, vậy hạt nhân hay nguyên nhân hiện hữu của chúng là sự quan sát, đo đạc hay cảm nhận, nếu không có quan sát, cảm nhận, thì hạt vật chất cũng bất thành, thí nghiệm hai khe hở ở trên đã xác nhận điều này :

Kết luận

Tóm lại Ngũ ấm 五陰 cũng tức là Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nên trong Tam giới, không một pháp nào có thật cả. Huệ Năng từng nói : Bản lai vô nhất vật  本 來 無 一 物 Xưa nay không có một vật gì là có thật cả, bởi vì hạt cơ bản của vật chất vốn là không có thật, chỉ là hoa đốm trong hư không, nên trong pháp giới không một pháp nào có thật cả, chúng ta không nên cố chấp, tất cả chỉ là tương đối, tất cả chỉ là trò chơi. Chúng ta cứ chơi nhưng đừng có chấp thì sẽ không có khổ.  

Vậy người điên đảo mộng tưởng và người thức tỉnh có thấy giống nhau không ? Có thấy giống nhau như Duy Tín thiền sư đã nói. Nhưng có chỗ nào khác nhau không ? Cũng có chỗ khác nhau. Người thức tỉnh không chấp thật nên tự do. Còn người điên đảo mộng tưởng chấp thật nên bị trói buộc và khổ. Vì khổ nên phải tu, nhưng tu cho tới cuối cùng giống như người đã trèo tới mút ngọn sào cao trăm mét rồi vẫn phải bước thêm bước nữa. Thiền sư Chiêu Hiền 招 賢 đời Tống diễn tả ý này trong bài kệ :

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân, Sào cao trăm thước người lặng thinh,

雖 然 得 入 未 為 真 Tuy nhiên đắc nhập vi vi chân.  Tuy là cao vút hết đường binh

百 尺 竿 頭須 進 步  Bách xích can đầu, tu tiến bộ, Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa

十 方 世 界全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Bước thêm bước nữa thì rơi xuống đất, chết đi sống lại như Lai Quả thiền sư nói trong Tham Thiền Phổ Thuyết 參禪普說 :

百尺竿頭懸崖撒手絕後再甦 Bách xích can đầu huyền nhai tát thủ tuyệt hậu tái tô (Đầu sào trăm thước, treo bên ven núi, buông tay (rớt xuống) chết đi sống lại.

Tuyệt hậu tái tô 絕後再甦 cùng đường chết đi sống lại là nói theo nghĩa bóng, ý nói người giác ngộ phá ngã chấp và pháp chấp, giống như cái tôi giả đã chết nhưng vẫn sống lại cuộc sống đời thường, không còn chấp thật nữa, hết điên đảo mộng tưởng.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 1 bình luận

LIỆU CÓ THỂ DỪNG LẠI ĐƯỢC KHÔNG ?

Tôi thấy trên mạng có một bài viết lấy từ pháp thoại của sư ông Thích Nhất Hạnh

Chết khát bên cạnh dòng sông

Nhan đề của bài viết có ý nói rằng đứng bên cạnh dòng sông, con người vẫn chết khát không thể uống được (vì có quá nhiều nước, trong thực tế có thể vì dòng sông bị ô nhiễm, độc hại do hoạt động công nghiệp nên không thể uống).  

Bài viết kêu gọi mọi người phải biết đủ, phải biết dừng lại, đừng mãi làm con ma đói (ngạ quỹ) đuổi theo ham muốn bất tận bởi vì dù có đạt được tất cả mọi mục đích vẫn không thỏa mãn, vẫn không hạnh phúc.

Tôi thấy hình như bài viết vẫn còn thiên lệch một bên (biên kiến) nên trong thực tế là không thể thực hiện được.

Bài viết vẫn còn một chỗ chưa nói rõ, một nguyên lý rất cơ bản của cuộc sống. Trong ngũ uẩn ngã thì đó là yếu tố hành (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là chuyển động, vận động. Đó là một nguyên lý của cuộc sống, nếu dừng lại thì có nghĩa là chết.

Đại Huệ Đại Sĩ có hỏi Phật về sinh, trụ, diệt. Đức Phật nói: “Tất cả tâm thức đều có hai loại tác dụng đối với sinh, trụ và diệt, và đều không thể hiểu rõ bằng suy lường. Hai loại tác dụng sinh của tâm thức là gì? Đó gọi là lưu chú sinh 流注生 (không phải lưu trú 流住, chú 注 nghĩa là chảy) và tướng sinh 相生. Chẳng hạn như dòng sông chảy không ngừng, chảy mãi không thôi, nó được gọi là lưu chú sinh (chú 注 là rót, chảy). Do đó, phát sinh các hiện tượng tiếp tục không ngừng, được gọi là tướng sinh.

Lời giảng của Phật có nghĩa là mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là lưu chú tướng 流注相 là hình thái chuyển động không thể dừng. Thí dụ hạt photon (ánh sáng) không thể dừng. Hạt electron (điện tử) cũng không thể dừng. Nếu những hạt này mà dừng thì không còn thế giới.

Chuyển qua đời sống xã hội, liệu con người có thể biết đủ dừng lại không ? Câu trả lời là không thể. Ví dụ hãng điện thoại Samsung hiện đã đạt được vị trí là hãng điện thoại lớn nhất thế giới, vậy nó có thể hài lòng thỏa mãn mà dừng lại không ? Tất nhiên là không, nó vẫn phải tiếp tục cho ra những model mới mặc dù những model đã ra đời cũng đã đáp ứng được tốt hầu hết mọi yêu cầu của của mọi người rồi. Model mới có thể có những mặt sút kém hơn cả model cũ, nhưng nó vẫn phải làm ra để tiếp tục bán, không thể dừng. Lời kêu gọi biết đủ nên dừng lại chỉ là một ảo tưởng. Nho gia từng kêu gọi như vậy. Họ nói : Chỉ vu chí thiện 止于至善 (dừng lại ở chỗ tốt nhất) Đó chỉ là ảo tưởng, làm gì có chỗ chí thiện để dừng lại. Người TQ đã phải trả giá cho tư tưởng đó bằng một thế kỷ ô nhục. Trong triều đại Càn Long, văn minh Trung Hoa đạt tới chỗ cực thịnh, triều đình nhà Thanh cho rằng trên thế giới chẳng có nước nào hơn TQ nên họ chẳng cần phải học hỏi ai cả để tiến bộ thêm nên họ dừng lại . Thế nhưng khi người phương tây tràn tới với tàu lớn, súng to, họ đã bị đánh bại. Ngay cả một tiểu quốc bên cạnh là Nhật Bản sau canh tân cũng đủ sức đè đầu cưỡi cổ họ.       

Một nhạc sĩ sáng tác như Phạm Duy chẳng hạn đã cho ra đời những bản nhạc rất tuyệt vời rồi, đáp ứng yêu cầu của rất đông người VN rồi, vậy ông có thể dừng sáng tác được không ? Câu trả lời là không, mặc dù những sáng tác của ông về cuối đời không còn hay như những sáng tác lúc đỉnh cao, nhưng ông vẫn phải tiếp tục sáng tác không thể dừng lại.

Có những người cố ý tự đánh lừa mình và người đời, khi họ đã đạt tới cực đỉnh trong sự nghiệp hay về nhan sắc, họ bỗng dừng lại, nghỉ ngang để người đời chỉ có thể nhìn thấy thời kỳ vinh quang rực rỡ của họ.

Mỹ nhân tự cổ như  danh tướng 美人自古如名將  Mỹ nhân xưa nay giống như tướng giỏi    Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu 不許人間見白頭 Không muốn người đời thấy cảnh già yếu của mình.

Một tỷ phú như Bill Gates đã giàu bậc nhứt thế giới rồi, ông không còn hứng thú lắm với hệ điều hành Windows nữa, chuyển sang làm từ thiện, nhưng vẫn tiếp tục kiếm tiền. Theo chỉ số Bloomberg Billionaires Index hôm 15/10/2021, Gates giàu thứ tư thế giới với khối tài sản trị giá 130 tỷ USD. Ông vẫn không thể ngừng kiếm tiền.

Tóm lại cuộc sống không thể dừng lại, khát vọng của con người không thể có chỗ dừng, bởi vì đó là quy luật của cuộc sống.

Về chính trị của các quốc gia càng không thể dừng. Ông Tập Cận Bình không thể dừng lại. Ông ấy tuy là người đứng đầu ĐCSTQ nhưng tư tưởng của ông ấy lại theo lý tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của Nho Gia, bằng chứng là trong đại hội đảng lần thứ 19 năm 2017, ông ta không hề nhắc tới Mác, Lê Nin, hay Mao Trạch Đông mà lại chú trọng nhắc nhiều tới Tôn Trung Sơn là người sáng lập Quốc Dân Đảng TQ.

Phát biểu của TCB về kế hoạch chấn hưng TQ của Tôn Trung Sơn

Ông ta không muốn bị hạn chế về nhiệm kỳ nên đã sửa đổi hiến pháp để mình có thể cầm quyền lâu hơn để thực hiện lý tưởng tu, tề, trị, bình của Nho gia. Ông ta muốn đưa TQ trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự, thống nhất với Đài Loan. Chẳng những muốn đưa người TQ thoát khỏi nghèo đói, có cuộc sống khá giả (đã tổng kết tuyên bố hoàn thành xóa đói giảm nghèo vào ngày  01/07/2021) mà ông còn muốn bình trị thế giới, đó chính là lý tưởng bình thiên hạ của Nho gia trên quy mô toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc TQ chính là chủ nghĩa Mác- Lê Nin kết hợp với lý tưởng tu tề trị bình của Nho gia mà Tôn Trung Sơn với chủ nghĩa Tam Dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) là người muốn thực hiện và ý tưởng của Tôn Trung Sơn rất phù hợp với ông Tập. Quốc Dân Dảng tại Đài Loan ngày xưa từng là kẻ thù của ĐCSTQ nhưng nay cũng gần đồng tình với ĐCS về chính sách Một TQ, nhưng mỗi bên giải thích khác nhau. Đối với Quốc Dân Đảng, Một TQ là Trung Hoa Dân Quốc bao gồm Đại lục, Hong Kong, Ma Cao và Đài Loan. Còn đối với ĐCS thì Một TQ là Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, lãnh thổ cũng y chang như vậy. Nên hai bên có thể thương lượng để thống nhất hòa bình, đó là điều ông Tập rất mong muốn. Điều đó hoàn toàn khác với tư tưởng của người cầm đầu chính quyền Đài Loan hiện nay là Bà Thái Anh Văn chủ tịch đảng Dân Tiến, đảng này chỉ muốn tách Đài Loan thành một quốc gia độc lập, không lệ thuộc TQ nữa.  Nên khi vừa rồi Chu Lập Luân 朱立倫 vừa đắc cử Chủ tịch Quốc Dân Đảng, ông Tập liền gởi thư nồng nhiệt chúc mừng. Bởi vì lập trường của Quốc Dân Đảng gần với chủ trương của ông Tập hơn.  

Để thực hiện thiên hạ thái bình, TQ phải giàu mạnh lên trước. Nay đời sống nhân dân TQ đã khá giả, ông Tập đang đề ra chính sách Thịnh vượng chung, yêu cầu người giàu phải đóng góp cho xã hội nhiều hơn để tái phân phối thu nhập quốc dân cho tương đối đồng đều khắp cả nước. Để tầm ảnh hưởng của TQ lan ra khắp thế giới, kể từ năm 2013, ông Tập đưa ra một kế hoạch vĩ đại là xây dựng cơ sở hạ tầng cho cả thế giới gọi tắt là BRI (Belt and Road Initiative= Sáng kiến Vành đai và Con đường). Kế hoạch này sẽ đầu tư hàng ngàn tỷ USD để xây dựng đường giao thông trên các lục địa Châu Á, Châu Âu và Châu Phi. Con đường này sẽ phục vụ đắc lực cho hàng hóa TQ bán khắp thế giới. TQ đã đầu tư xây dựng đường xe lửa chở hàng từ TQ đi Châu Âu. Tuyến đường sắt này hiện vận chuyển hàng hóa từ hơn 50 thành phố trên khắp Trung Quốc đến khoảng 150 thành phố trên 22 quốc gia châu Âu.    

Ngày 20-07-2021 một đoàn tàu hỏa chở hàng xuất phát từ VN gồm 23 container 40 feet vận chuyển các loại hàng hóa như: Dệt may, da giày, điện tử đã lên đường qua Châu Âu. Đoàn tàu  xuất phát từ Ga liên vận quốc tế Yên Viên (huyện Gia Lâm Hà Nội), vận chuyển đến Trịnh Châu (tỉnh Hà Nam TQ) sau đó được kết nối vào đoàn tàu Á – Âu để đến điểm đích tại Bỉ (Brussels).

Hiện nay, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam và đối tác châu Âu đang xây dựng kế hoạch để tổ chức vận chuyển 8 chuyến tàu/tháng xuất phát tại Việt Nam. Tổng thời gian vận chuyển dự kiến cho toàn bộ hành trình từ 25-27 ngày. Tổng Công ty đang cung cấp dịch vụ vận chuyển container bằng đường sắt giữa Việt Nam – Trung Quốc và quá cảnh đi Nga, châu Âu, các nước ASEAN và các nước Trung Á với dịch vụ logistics trọn gói cho các khách hàng.

Đó là một thí dụ về lợi ích của kế hoạch BRI đối với VN

Chuyến tàu hỏa container đầu tiên từ VN qua Bỉ

 Hệ thống đường sắt Á-Âu  

Con đường màu vàng là con đường tơ lụa hiện đại chính xây dựng theo kế hoạch BRI 

Con đường màu xanh là đường sắt xuyên Siberia phần lớn xây dựng thời Liên Xô  

Con đường màu đỏ là đường sắt của các quốc gia nối vào con đường tơ lụa chính

Nước láng giềng của VN là Lào cũng có bước phát triển nhờ vào kế hoạch BRI

Đoàn tàu cao tốc mang tên Lane Xang (Triệu Voi) đầu tiên đã được Trung Quốc bàn giao cho Lào trong buổi lễ trọng thể ngày 16-10-2021. Với tốc độ 160km/h, đoàn tàu sẽ rút ngắn thời gian đi từ Vientiane tới biên giới TQ (Boten) từ 48 tiếng xuống còn 3 tiếng.

Tàu cao tốc Lane Xang thuộc loại tàu điện có hệ thống động lực phân tán (EMU=Electric Multiple Unit)

Thân tàu được sơn 3 màu xanh, trắng và đỏ tương ứng với các màu trên quốc kỳ Lào, có 9 toa, trong đó có 1 toa hạng nhất và 6 toa hạng hai, sức chở tối đa là 720 người/chuyến.

Sơ đồ tuyến đường sắt cao tốc Vientiane- Côn Minh (Kunming)

Với tuyến đường sắt cao tốc này, hệ thống đường sắt Lào đã vượt lên trước VN, bởi vì VN chưa có đường sắt cao tốc.

Về văn hóa TQ đã cho ra đời hệ thống học viện Khổng Tử trên khắp thế giới để dạy tiếng Trung và phổ biến văn hóa TQ, lấy Khổng Tử làm nhân vật đại diện cho văn hóa TQ. Chương trình bắt đầu từ năm 2004 với học viện đầu tiên xuất hiện ở thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Đến nay, mạng lưới Viện Khổng Tử đã có mặt ở gần 160 quốc gia, với hơn 500 học viện trên toàn thế giới. Hệ thống do Văn phòng Hội đồng tiếng Hoa Quốc tế chịu trách nhiệm về tài chính (thường gọi là Hán Biện (汉办), là một tổ chức phi lợi nhuận liên kết với Bộ Giáo dục Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Gần đây có một làn sóng tẩy chay các Viện Khổng Tử, làn sóng này  đã lan đến Nhật Bản và Hàn Quốc. Tại hai quốc gia này, nhiều nhà hoạt động, chính trị gia đã kêu gọi chính quyền điều tra hoặc đóng cửa các học khu do Trung Quốc thành lập, báo South China Morning Post đưa tin.

Trước đó, hệ thống Viện Khổng Tử đã bị tẩy chay ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm ở Mỹ, châu Âu và Australia. Các nước cho rằng Viện Khổng Tử giúp Trung Quốc quảng bá hình ảnh và sức mạnh mềm, thậm chí còn can thiệp đến tự do ngôn luận hoặc hỗ trợ hoạt động gián điệp.

Tình hình cho thấy các nước dân chủ phương tây không muốn sức mạnh và ảnh hưởng của TQ lan tràn khắp thế giới nên họ liên kết lại, tìm cách ngăn chặn sự trỗi dậy của TQ vì nó đe dọa vị trí của họ nhất là Mỹ. Nước Mỹ từ lâu đã là cường quốc số một thế giới và họ muốn duy trì vị thế đó. Chắc chắn là phương tây không muốn thấy TQ thống trị thế giới nên họ chống đối ngày càng mãnh liệt, từ truyền thông đến kinh tế và quân sự. Chẳng hạn họ hô hào bảo vệ Đài Loan, khích lệ người dân Đài Loan chọn độc lập, không ủng hộ thống nhất với TQ. Trong hoàn cảnh đó TQ cũng quyết không nhượng bộ và đe dọa dùng vũ lực để thống nhất. Đây là vấn đề nóng nhất của chính trị thế giới hiện nay.

Phe dân chủ phương tây (Mỹ, EU, Úc, Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan)  và phe độc tài chuyên chế (TQ, Nga, Cuba, Triều Tiên) đang đấu với nhau kịch liệt, không có chỗ cho sự dừng lại, hoà hoãn, nghỉ ngơi. VN thì trung lập không ngã về bên nào, chỉ cốt bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.      

Giấc mộng của ông Tập quả thật là quá lớn, ông muốn đưa TQ trở thành quốc gia giàu có hạnh phúc nhất thế giới, đồng thời cũng muốn mang lại sự thịnh vượng chung cho toàn thế giới. Ngày xưa Karl Marx và Lenin cũng có mộng ước như vậy nhưng họ thất bại, đem lại không ít đau thương cho một số đông người. Ngày nay ông Tập cũng có mộng ước như vậy. Bước đầu giấc mộng của ông Tập có vẻ thành công hơn Lenin, đã đem lại sự ấm no cho người TQ, nhưng khi triển khai ra khắp thế giới thì không biết có thành công hay không, nhưng hiện có rất nhiều người chống đối nhất là phương tây, VN cũng đang chống đối, dân chúng VN chống đối do mâu thuẫn về tranh chấp biển đảo, đường lưỡi bò 9 vạch là trọng tâm tranh chấp. Chúng ta phải chờ thời gian trả lời và hy vọng tranh chấp biển Đông có thể giải quyết bằng COC (Code of Conduct for the South China Sea= Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông).   

Trở lại với pháp thoại của sư ông Thích Nhất Hạnh, lời kêu gọi của ông có khả thi không ? Nó cũng có phần có lý, nó thích hợp cho những người đã nghỉ hưu, lớn tuổi, họ muốn nghỉ ngơi hơn là theo đuổi những tham vọng to lớn, họ không còn khát vọng kể cả cho cá nhân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên nếu đa số mọi người đều sống theo lời kêu gọi đó thì xã hội sẽ như thế nào ?

Tôi nghĩ nó sẽ đạt tới chỗ Chỉ ư chí thiện của bộ lạc Kogi ở Nam Mỹ, dân số 20.500 người sống trên dãy núi Sierra Nevada, Colombia – dãy núi sát bờ biển cao nhất thế giới. Người của bộ lạc đó sống rất hạnh phúc, họ không có nhiều nhu cầu, họ sống rất khỏe mạnh và trường thọ, rất ít bệnh tật nên họ không cần có bệnh viện, họ cần rất ít tiện nghi cho đời sống. Tất cả người trong bộ tộc Kogi đều ăn chay, không ăn thịt, cá, hay bất cứ loài động vật nào, kể cả côn trùng. Thức ăn chính của họ là hoa quả, củ, và lá cây. Một số người trong bộ lạc có thần thông, họ thông hiểu những gì đang diễn ra ở thế giới văn minh bên ngoài mặc dù không có liên lạc trực tiếp.   

Năm 1993, ký giả Alan Ereira, phóng viên của đài BBC tại Colombia được bộ tộc Kogi mời đến để trao thông điệp của họ cho thế giới. Phái đoàn của ký giả Ereira gồm 6 người, 2 ký giả, một nhân viên y tế và 3 nhân viên thu hình, đã lên đường đến Colombia vào đầu năm 1993. Đại khái thông điệp của họ là :

“Vì chúng tôi có mặt trên địa cầu từ trước các dân tộc khác, chúng tôi tự coi mình là những người anh cả trong đại gia đình nhân loại, do đó chúng tôi là anh và các ông là em. Theo lệ thường trong gia đình, người anh thay mặt mẹ cha để giáo dục, dạy dỗ các em; nhưng chúng tôi biết rằng các em còn trẻ quá, còn hung hăng quá, chưa thể học hỏi được gì nên trải qua mấy ngàn năm nay, chúng tôi hy vọng theo thời gian, các em sẽ hiểu biết hơn, trưởng thành hơn và học hỏi được qua những lỗi lầm đã tạo.

Tiếc thay thời gian qua nhanh, trải qua bao thế hệ mà các em không những chẳng học hỏi được gì lại còn tiếp tục phá hoại gia tài của mẹ cha để lại, do đó những người anh lớn bắt buộc phải lên tiếng. Trước khi đi vào chi tiết, chúng tôi cho phép các ông được quan sát nếp sống của chúng tôi, một nếp sống truyền thống đã tiếp diễn mấy ngàn năm không thay đổi. Các ông được tự do nghiên cứu, ghi nhận, quay phim, chụp hình và làm tất cả những gì cần thiết và sau đó chúng tôi có một thông điệp muốn gửi cho thế giới bên ngoài”.   

GS.Võ Quý là một trong số những nhà sinh học hàng đầu Việt Nam, là người VN duy nhất có cơ hội tiếp xúc với bộ tộc Kogi. Cơ duyên đưa ông đến thăm người Kogi xuất phát từ chuyến công tác tại Venezuela. GS. Quý bồi hồi kể lại: “Tháng 2/1992, tôi được mời tham dự Hội nghị quốc tế lần thứ tư về Khu Bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia tại Caracas, Venezuela. Tiến sĩ Juan Mayer Maldonado một đại biểu của Colombia, là Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo vệ các loài có nguy cơ bị tiêu diệt hết sức hoan nghênh ý kiến của GS Quý và tỏ ý muốn mời ông tới thăm Colombia để biết được dân cư trong các khu bảo tồn ở Colombia sinh sống như thế nào. Ngay khi ấy, GS. Võ Quý đã vui vẻ nhận lời dù chưa biết địa điểm của chuyến đi là ở đâu. Thông tin duy nhất mà người bạn Colombia tiết lộ là ông sẽ phải đi bộ trong nhiều ngày liền. Điều ấy càng khiến GS. Võ Quý cảm thấy hào hứng. GS. Võ Quý cùng những người bạn ( ngoài TS. Juan còn có một người Mỹ, Tiến sĩ  Richard. Họ đến sân bay Bogota, thủ đô Colombia, phải leo núi suốt hai ngày liền mới đến được bộ tộc được cho là hậu duệ còn sót lại của nền văn minh cổ nhất Nam Mỹ.

Thông điệp của họ đại khái cũng giống như những pháp thoại của sư ông Thích Nhất Hạnh, bớt ham muốn để sống khỏe mạnh, không tàn phá môi trường, không giết hại sinh vật và đạt được hạnh phúc đích thực. Hơn nữa họ còn là mô hình mẫu để cho thế giới văn minh noi theo chứ không phải chỉ nói suông.

Thế nhưng tại sao nhân loại đã tiếp nhận thông điệp của bộ tộc Kogi từ năm 1993, đến nay đã gần 30 năm mà không hề có chuyển biến gì hết ?

Theo tôi nghĩ, thế giới hiện đại không thể lấy mô hình của bộ tộc Kogi làm mẫu để noi theo. Một bộ tộc chỉ có 20500 người, họ có thể sống tự cấp tự túc trong rừng sâu núi cao. Nhưng nhân loại với gần 8 tỷ người nếu sống như thế sẽ chết đói, không đủ lương thực thực phẩm để ăn. Nhân loại phải gia tăng năng suất lao động lên rất nhiều, ứng dụng khoa học kỹ thuật rất nhiều mới đủ lương thực thực phẩm để sống.

Người TQ từng theo mô hình tương tự của bộ tộc Kogi với tư tưởng của Lão Tử viết trong Đạo Đức Kinh :

Bất dục dĩ tĩnh, thiên hạ tương tự định 不欲以靜,天下將自定 Không ham muốn, sống  yên tĩnh, thiên hạ sẽ ổn định

Trị đại quốc, nhược phanh tiểu tiên 治大國,若烹小鮮 Cai trị một nước lớn giống như nấu những con cá nhỏ (nếu xốc trở nhiều chúng sẽ nát)

Kết quả là sau khi tiếp xúc với phương tây, bị 100 năm quốc sỉ, bây giờ ông Tập dốc toàn lực để đưa TQ giàu mạnh và kỳ vọng đưa cả thế giới vào thời kỳ đại thịnh trị với kế hoạch ban đầu là Một vành đai một con đường (BRI). 

Thế giới văn minh hiện đại của con người cũng có rất nhiều vấn đề bất ổn : tàn phá môi trường biến đổi khí hậu làm cho thiên tai, bão lụt ngày càng dữ dội, băng tan, nước biển dâng, đất lún do hút quá nhiều nước ngầm, biển sẽ xâm lấn vào lục địa. Ngoài ra con người tàn sát sinh linh để ăn thịt là gây nghiệp rất lớn, đó là vay nợ. Vay thì phải trả. Đại dịch Covid-19 chính là quả báo mà con người phải trả vì đã gây quá nhiều nghiệp xấu.     

Rốt cuộc thì mỗi người chúng phải chọn lựa mô hình nào thích hợp với mình. Có 3 mô hình để lựa chọn:

1/Mô hình của thế giới văn minh hiện đại. Mô hình này ngày càng bế tắc.

2/Mô hình của bộ lạc Kogi. Mô hình này là xã hội không có tiến bộ, không thể áp dụng cho toàn thể nhân loại.

3/Mô hình dung hòa giữa hai mô hình trên. Con người vẫn cần phải phát triển khoa học kỹ thuật, cải thiện đời sống vật chất cho tất cả mọi người dân trên thế giới, đồng thời cũng phải biết đạo lý vô sở trụ, trung đạo, bớt ham muốn cá nhân lại, sống tùy duyên, bớt tàn phá môi trường, bớt giết hại sinh vật, tốt nhất là nên ăn chay, theo đuổi những lợi ích chung cho toàn xã hội. Công nghiệp ngày càng phát triển, con người có thể chế tạo thực phẩm chay đầy đủ dinh dưỡng như thịt, cá để ăn mà không phải giết hại những loài vật khác, như vậy sẽ bớt gây nghiệp xấu.     

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

TRÔI CHẢY KHÔNG NGỪNG NGHĨA LÀ THẾ NÀO ?

Ý nghĩa quan trọng của trôi chảy không ngừng

Câu hỏi tưởng chừng đơn giản. Một dòng suối chảy, nó chảy hoài không ngừng, đâu có gì khó hiểu. Thời gian trôi, nó trôi mãi không thể ngừng. Trái đất chuyển động chung quanh Mặt trời, vừa tự xoay quanh trục của nó vừa di chuyển trên quỹ đạo; xoay một vòng mất 24 giờ, di chuyển giáp một vòng quỹ đạo mất 365 ngày không ngừng nghỉ. Những biểu hiện đó không có gì khó hiểu song ý nghĩa triết học của nó mới là điều quan trọng đáng cho chúng nắm bắt. Kinh điển Phật pháp cũng có đề cập vấn đề này.

Đại Huệ Đại Sĩ có hỏi Phật về sinh, trụ, diệt. Đức Phật nói: “Tất cả tâm thức đều có hai loại tác dụng đối với sinh, trụ và diệt, và đều không thể hiểu rõ bằng suy lường. Hai loại tác dụng sinh của tâm thức là gì? Đó gọi là lưu chú sinh 流注生 (không phải lưu trú 流住, chú 注 nghĩa là chảy) và tướng sinh 相生. Chẳng hạn như dòng sông chảy không ngừng, chảy mãi không thôi, nó được gọi là lưu chú sinh (chú 注 là rót, chảy). Do đó, phát sinh các hiện tượng tiếp tục không ngừng, được gọi là tướng sinh. Hai loại tâm thức trụ 住 là gì? Đó là lưu chú trụ 流注住 và tướng trụ 相住. Chẳng hạn như thác nước. Sự liên tục đổ xuống của dòng nước mới có sự tồn tại của hiện tượng thác nước, thác nước là tướng trụ. Hai loại tâm thức diệt 灭 là gì? Đó là lưu chú diệt 流注灭 và tướng diệt 相灭, tức là sự diệt vong cũng liên tục không ngừng, hiện tượng tồn tại và diệt vong cũng diễn ra liên tục không ngừng và đồng thời.” Tóm lại tướng lưu chú 流注相 là sự nối tiếp không ngừng của mọi hiện tượng theo ba chu kỳ sinh, trụ, diệt. Chính sự tiếp nối không ngừng tạo ra hiện tượng (tướng). Ví dụ quay một cây nhang có đóm lửa ở đầu thì thấy một vòng tròn lửa. Vòng tròn lửa đó là tướng lưu chú chứ nó không có thật. Tương tự như vậy, sinh, trụ, diệt đều không có thật, chỉ là tướng lưu chú mà thôi.   

Trên đây kinh Phật giải thích về tướng lưu chú với ba hình thái : sinh, trụ và diệt. Các hình thái này đều luôn luôn đi cùng với sự trôi chảy không ngừng, không thể ngừng. Nước ngừng chảy thì không còn thác nước, dòng nước ngừng trôi thì không còn dòng sông, Trái đất ngừng quay thì không còn thời gian và cuộc sống. Electron ngừng chuyển động thì không còn vật chất, tâm niệm ngừng tưởng tuợng thì không còn một sự vật gì cả (bản lai vô nhất vật 本來無一物 – Huệ Năng), vũ trụ vạn vật đều không còn, sự sống chết (sinh tử) không còn. Bởi vì tất cả đều là tướng lưu chú (sự vật là do chuyển động mà hiện hữu). Động lực của tất cả chuyển động đó là tâm. Tâm vô niệm, ngừng tưởng tượng thì không có gì cả, đó là tánh không. Bản thể của vũ trụ vạn vật đã được Phật pháp đúc kết trong 2 nguyên lý cơ bản.

1/Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc  trưng đặc điểm) nghĩa là các hạt cơ bản như photon, electron, quark…đều không có đặc trưng nên tất cả các pháp (vạn vật) cũng không có đặc trưng, không có thật.

2/Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 (tất cả sự vật đều là do tâm tưởng tượng ra). Cơ chế để tạo ra vạn vật là tướng lưu chú nghĩa là vận động, trôi chảy. Bản chất của vũ trụ vạn vật là thông tin. Thông tin là sóng vô hình vô cùng vi diệu mà Phật giáo gọi là Phật (Bhudda) hay Phật tánh, Tánh biết, còn gọi là Tâm. Vì nó vô hình vô thể, bất sinh, bất diệt nên không thể khẳng định là Có hay Không, Thiền tạm gọi là Tánh Không. Tuy nói tánh không nhưng không phải là Hư Vô vì nó có khả năng tạo ra vũ trụ vạn vật. Nó bao gồm cả Không và Có. Ở trạng thái Không, nó là Tâm. Ở trạng thái Có, nó là Thức, biểu hiện là 8 thức, 8 thức thật ra chỉ là A-lại-da thức nhưng nó thể biểu hiện thành Mạt-na thức (thức thứ 7), Ý thức (thức thứ 6), Tiền ngũ thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc thân thể). 8 thức là sự vận động tiếp xúc của 6 căn và 6 trần mà Duy Thức Học đã giải thích. Tướng lưu chú của sóng vô hình, sóng thông tin là rung động không ngừng nghỉ. Khi giao tiếp với các giác quan của con người hay thiết bị bắt sóng, thì sóng biến thành hạt cơ bản (quark, electron, photon…).

Do trùng trùng duyên khởi, hạt cơ bản là tướng lưu chú của sóng vô hình, thông tin vô hình. Nguyên tử, phân tử là tướng lưu chú của hạt cơ bản. Vật thể, sinh vật, con người, vạn vật, vạn pháp là tướng lưu chú của nguyên tử, phân tử. Cả một hệ thống vô cùng phức tạp như vậy đều là tướng lưu chú của Tâm. Do đó kinh điển mới nói Nhất thiết duy tâm tạo.     

Sai lầm của con người khi không nhận thức được trôi chảy không ngừng              

Người sai lầm đáng kể nhất phải nói chính là nhà khoa học lừng lẫy nhất của nhân loại : Albert Einstein

Giới khoa học khi liệt kê các sai lầm của Einstein chỉ thường kể những điểm sau :

1/ Hằng số vũ trụ : đây được coi là sai lầm lớn nhất của Einsteins, hằng số vũ trụ vẫn là sai số (fudge factor) thay đổi cách không thời gian (space-time) tương tác với năng lượng tối, dạng năng lượng khiến các thiên hà phát triển giãn nở nhanh hơn, làm tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ. Sai lầm này là cho rằng vũ trụ đứng yên không giãn nở.

2/Sóng hấp dẫn : hơn 100 năm trước, Einstein đã dự đoán sự hiện diện của sóng hấp dẫn. Song đã có khoảng thời gian, chính bản thân Einsteins cũng nghi ngờ về sự tồn tại của chúng. Năm 1930, hai thập kỷ sau khi công bố thuyết tương đối rộng, Einsteins từng có ý định bác bỏ sóng hấp dẫn. Năm 2016, các nhà khoa học tuyên bố đã trực tiếp phát hiện những làn sóng trong kết cấu không thời gian, gọi là sóng hấp dẫn. Phát hiện trên là bước đột phá trong ngành thiên văn, thay đổi cách ta nghiên cứu vũ trụ, vừa là sự xác nhận rất lớn cho những nỗ lực của Einsteins, một điều mà ông đã từ bỏ.

3/ Sai lầm về lượng tử : Einstein là người tiên phong trong lĩnh vực vật lý lượng tử, chính ông là người nhận định rằng ánh sáng vừa là sóng vừa là hạt và đã chứng minh được qua việc tạo ra được dòng điện từ hạt photon, đó là phát minh về hiệu ứng quang điện mà ngày nay được ứng dụng trong các tấm pin mặt trời. Tuy nhiên ông lại không tin hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) là có thật và nói rằng đó là tác động ma quái từ xa “spooky action at a distance” và giải thích rằng nó giống như tách đôi một cặp găng tay (gloves) cái bên phải và cái bên trái, bỏ mỗi cái vào một vali riêng và đem chúng đi xa, chẳng hạn một cái ở New York, một cái ở Nam Cực. Khi mở cái ở cái ở New York, ví dụ là găng tay trái thì người ta tức thời biết cái ở Nam Cực là găng tay phải, bất kể khoảng cách là bao xa. Lý luận của Einstein đã được Alain Aspect chứng minh là sai năm 1982 tại Paris, vì Aspect đã chứng tỏ được hiện tượng liên kết lượng tử là có xảy ra thật.  

Trên đây là nhận xét của giới khoa học, nhưng theo thiển ý của tôi, sai lầm lớn nhất của Einstein là ông chưa thấu triệt 2 nguyên lý mà tôi đã nêu ở trên, đó là nhất thiết pháp vô tự tính và nhất thiết duy tâm tạo. Einstein là người đánh giá rất cao Phật giáo. Ông nói :

“Nếu có một tôn giáo nào có thể đối diện với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó có lẽ là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because it embrances science as well as goes beyond science- trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein).  

Tuy nhiên ông vẫn chưa hiểu hết Phật giáo. Ông nói Phật giáo bao hàm khoa học và đi xa hơn khoa học (it embrances science as well as goes beyond science) nhưng ông chưa thể nghiệm điều đó.

Einstein vẫn còn tin tưởng rằng các hạt cơ bản của vật chất (material particles) là khách quan và luôn luôn có sẵn đặc trưng. Đây mới chính là sai lầm cơ bản và lớn nhất của Einstein. Ông tranh cãi với một nhà khoa học khác là Niels Bohr về vấn đề này. Quan điểm của Bohr nói rằng hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, chỉ khi có người quan sát thì đặc trưng mới xuất hiện. Cuối cùng thì đến năm 1982, Alain Aspect đã chứng tỏ Bohr đúng, Einstein sai.

Sai lầm của Einstein thể hiện rõ ràng trong phát biểu của ông : 

Einstein nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Einstein nghĩ rằng Mặt trăng là một thực thể khách quan, nó tồn tại bên ngoài tâm niệm, bên ngoài nhận thức của con người. Nhưng suy nghĩ đó của Einstein cũng giống như của hàng tỷ con người trên Trái đất, chỉ là điên đảo mộng tưởng, nằm mơ giữa ban ngày. Ông chưa hiểu Mặt trăng chỉ là tướng lưu chú của tâm niệm. Nếu tâm vô niệm thì không có Mặt trăng, tất cả chỉ là Tánh Không, không có một vật gì cả như bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng đã nói “Bản lai vô nhất vật” (Xưa nay không có một vật gì cả).

Trong cuộc sống thực tế thì con người chúng ta đã bị trói buộc bởi tập khí từ lâu đời gọi là Thế lưu bố tưởng世流布想 đó là tưởng tượng bình thường được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân, bị trói buộc bởi không gian, thời gian và số lượng. Nên quan điểm của chúng ta luôn xem cảnh giới thế gian là có thật, Mặt trời, Mặt trăng, Địa Cầu, Sơn hà đại địa, vạn vật con người là có thật, không biết rằng tất cả chỉ là tướng lưu chú 流注相 của tâm. Nếu tâm ngừng niệm, dòng trôi chảy ngừng lại thì tất cả đều biến mất.

Nhưng con người không thể ngừng tâm niệm, kể cả khi chết nó cũng không ngừng, nó chỉ chuyển từ cảnh giới thế gian sang một cảnh giới khác, tùy theo nghiệp tốt xấu mà thần thức sẽ đầu thai ở một trong sáu đường, bốn loài, ba cõi.  Sáu đường là : [trời, thần (asura), người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục]; Bốn loài là : [thai sanh (người, thú…), thấp sanh (vi trùng vi khuẩn, côn trùng), noãn sanh (gà, vịt, chim…), hóa sanh (trời, tây phương cực lạc)]; Ba cõi là : Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

Hậu quả của nhận thức lầm lạc là đau khổ. Chẳng hạn hiện nay nhân loại đang đau khổ vì đại dịch Covid-19. Những chúng sinh sinh ra ở 3 đường trên thì còn có phần hạnh phúc, phước báu nhưng cũng có phiền não. Còn những chúng sinh sinh ra ở 3 đường dưới thì đau khổ triền miên. Ngay cả ở một đường lưng chừng như cõi người, đau khổ cũng không phải ít, đó là do mê muội chấp thật. Hiện nay con người trên khắp thế giới đang đau khổ vì con virus SARS-CoV-2.

Làm sao để hóa giải đau khổ ?                 

Phật giáo đã dạy con người Tứ Diệu Đế, Tứ Niệm Xứ [quán thân, quán thọ (cảm giác), quán tâm, quán pháp] Bát Chánh Đạo, tu tập dần dần để hóa giải đau khổ. Đây là giáo môn dạy cho những người còn chấp ngã, chấp pháp quá nặng. Họ cũng giống như Einstein, chưa nhận ra tướng lưu chú; ngã, pháp đều không phải có thật. Họ phải quán tưởng đủ thứ để khởi lòng nghi, từ nghi dẫn tới ngộ mới hết đau khổ.

Một pháp môn khác là Thiền cũng dành cho những người chưa khởi lòng nghi nhưng không nặng về dạy giáo lý mà dạy tham thiền hoặc tham thoại đầu. Có nhiều tông phái thiền. Có phái thiên về quán tưởng, hoặc tham công án. Có phái thiên về thiền định. Có hai phái thiền chính là Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền.

Tổ Sư Thiền là Thiền định dạy về chấm dứt suy nghĩ, tâm lặng yên không khởi niệm, dùng cái không biết để tu. Nhưng không khởi niệm là rất khó, là vô phương, nên các vị Tổ bày ra một phương tiện là tham thoại đầu.  

Thoại đầu là cái phần đầu trước khi có câu thoại. Câu thoại là một câu khó hiểu dùng để tham thiền, ví dụ như câu : “Trước khi có trời đất, ta là cái gì ?” Thoại đầu là cái trước khi có câu thoại, trước khi câu thoại khởi lên. Thoại đầu tức là cái bản thể trước khi có trời đất, trước khi có cái ta, trước khi có câu thoại. Thoại vĩ (đuôi câu thoại) chính là câu thoại, chính là tâm niệm của ta. Tham thoại đầu thì không được suy nghĩ tìm hiểu, chỉ đề khởi câu thoại và khán (nhìn), nhìn vào chỗ không có đối tượng để nhìn. Chỉ khởi và nhìn liên tục như vậy lâu ngày sẽ định tức là thật sự chấm dứt nghĩ tưởng, chấm dứt thế lưu bố tưởng, định sinh huệ tức là giác ngộ, kiến tánh thành Phật.

Đa số hành giả tham thoại đầu không có kết quả là vì rơi vào thoại vĩ chứ không tới được thoại đầu. Tới được thoại đầu là tới được vô thủy vô minh. Tới đó rồi còn phải bước thêm bước nữa mới kiến tánh.

Đời Tống, Chiêu Hiền đại sư 招賢大師trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục 景德傳燈錄 có sáng tác bài kệ để nói ý này:  

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân, Sào cao trăm thước người lặng thinh,

雖 然 得 入 未 為 真 Tuy nhiên đắc nhập vi vi chân.  Tuy là cao vút hết đường binh
百 尺 竿 頭須 進 步  Bách xích can đầu, tu tiến bộ, Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  

十 方 世 界全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Tại sao đã leo tới đầu sào cao trăm thước, không còn chỗ để leo nữa, vậy mà phải tiến thêm nữa mới giác ngộ ? Bởi vì phải tới vô phân biệt trí mới giác ngộ. Tức là phải tới chỗ vô sở trụ như kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Phải vô sở trụ thì tâm bản nguyên vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 mới xuất hiện. Đầu sào trăm trước tuy là chỗ cao nhất trên hành trình của hành giả rồi nhưng vẫn còn chỗ trụ.       

Còn Như Lai Thiền là dùng cái biết của ý thức để tu. Phần lớn kinh điển Đại Thừa đều là Như Lai Thiền.

Như Lai Thiền giảng về Vi diệu pháp tức là những pháp thật là tinh vi sâu kín mà người bình thường không thể nào hiểu nổi, chẳng hạn như Kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy về tánh biết, tánh thấy không phải do bộ não, không phải do con mắt; tâm không phải ở trong thân cũng không phải ở ngoài thân. Kinh Hoa Nghiêm giảng về pháp giới Hoa Nghiêm lý sự vô ngại, sự sự vô ngại.

Ngày nay với những phát minh mới về khoa học nhất là cơ học lượng tử, chúng ta có thêm phương tiện để hiểu sâu Như Lai Thiền. Do đó có thể nhận ra chỗ sai lầm của những nhà khoa học số một của thế giới dựa vào những điều mà kinh điển đã nói từ lâu. Phật pháp thật sự đã đi trước khoa học.

Chúng ta giác ngộ rằng thế giới chỉ là ảo tưởng, là mở mắt chiêm bao, là nằm mơ giữa ban ngày, chúng ta giảm bớt chấp thật, không còn tuyệt đối tin tưởng ở những cảnh giới “khách quan” nữa vì hiểu rằng khách quan chỉ là thế lưu bố tưởng, là chủ quan tập thể. Càng bớt chấp thật thì chúng ta càng giảm bớt rất nhiều đau khổ. Thí dụ một người thấy cha mẹ, con cái, người thân hay bạn bè của mình chết vì covid cũng chỉ đau buồn một chút mà thôi chứ không đến nỗi giống như trời long đất lở.

Phật giáo dạy bảo con người điều gì ?         

Kinh điển của Phật giáo có rất nhiều. Kinh điển cũng không thống nhất. Tùy theo căn cơ của con người mê muội nhiều hay mê muội ít mà kinh dạy rất khác nhau, khác nhau tới 180 độ, nghĩa là mâu thuẫn hẳn nhau. Tiêu biểu cho mức độ khác nhau này chúng ta có thể lấy bài kệ Tứ liệu giản của thiền sư Lâm Tế làm ví dụ.

四料簡 臨濟義玄 Tứ liệu giản Lâm Tế Nghĩa Huyền (không rõ năm sinh, tịch khoảng năm 866/867 đời Đường)

奪人不奪境 Đoạt nhân bất đoạt cảnh Bỏ người không bỏ cảnh

奪 境不奪人 Đoạt cảnh bất đoạt nhân Bỏ cảnh không bỏ người

人境俱奪 Nhân cảnh câu đoạt Người và cảnh đều bỏ

人境俱不奪 Nhân cảnh câu bất đoạt Người và cảnh đều không bỏ

Liệu 料 nghĩa đen là vật liệu chất liệu. Nghĩa bóng là cân nhắc liều lượng

Giản 簡 nghĩa đen là cái thẻ tre. Nghĩa bóng ở đây là chọn lựa

Vậy tứ liệu giản là 4 cách cân nhắc chọn lựa cho phù hợp với người học đạo từ thấp tới cao.

Đoạt nhân bất đoạt cảnh ý nói tu là sửa mình, phá ngã chấp, coi cảnh giới là thật còn ta là giả.

Đoạt cảnh bất đoạt nhân ý nói cảnh cũng là hư giả, ngũ uẩn ngã không phải là mình, bản tâm, Phật tánh mới là mình thật.

Nhân cảnh câu đoạt ý nói ngã và pháp đều là không, chứng vô sinh pháp nhẫn, thấu rõ tánh không của vạn pháp   

Nhân cảnh câu bất đoạt ý nói đó là cảnh giới giác ngộ, không còn phân biệt thật giả, đúng sai, thiện ác, sáng tối, dơ sạch, trí ngu, thánh phàm. Pháp giới bình đẳng, vô sở trụ, không có không gian, thời gian, số lượng; mà cũng không phải là không có, bởi vì Sắc bất dị Không. Đây chính thật là Trung Đạo nghĩa của Long Thọ Bồ Tát. Trung Đạo không phải ở ngay chính giữa mà là vô sở trụ.

Vậy hành giả phải ứng xử thế nào ? Hoàn toàn tự do mà không cần nhà nước phải ban bố những quyền tự do như thế nào, kể cả sinh tử cũng tự do, không có gì ràng buộc hết. Câu chuyện gia đình Bàng Uẩn là thể hiện cái tự do tự tại đó. Nó không có khuôn mẫu nào cả.

Nhiều người hiểu nhầm Phật giáo, cho rằng PG khuyên mọi người diệt dục, ăn chay niệm Phật, từ bỏ cuộc sống thế tục, từ bỏ cuộc sống vợ chồng, bỏ vợ bỏ chồng, bỏ con để đi tu. 

Thật ra không phải như vậy. PG dạy mọi người nhận thức được bản thể của vũ trụ vạn vật là tướng lưu chú (dòng trôi chảy không ngừng) của tâm, không phải là tuyệt đối chân thật, do đó giác ngộ, thoát khỏi tất cả mọi khổ nạn. Bởi vì tất cả mọi cảnh giới, mọi khổ nạn đều không phải có thật nên không việc gì phải đau khổ, chuyện sinh tử cũng chỉ là mở mắt chiêm bao.

Hành giả giác ngộ rồi thì cứ sống bình thường, hoàn toàn tự do, bình thường tâm thị đạo 平常心是道 . Hành giả là tu sĩ thì sống theo giới luật của tu sĩ vì họ tự nguyện chứ không phải ai bắt buộc. Đó là vì họ muốn làm gương mẫu cho người đời cho nên phải nghiêm túc giữ giới luật của tỳ kheo hay tỳ kheo ni. Hành giả là cư sĩ thì chỉ cần giữ 5 giới căn bản thôi. Ăn chay hay ăn mặn cũng là tự nguyện chứ không bắt buộc, sống độc thân hay có vợ, có chồng, có tình nhân, cũng là do nhân duyên của mỗi người chứ cũng không có gì phải bắt buộc. Cuộc sống thế gian là một trò chơi, một vở kịch của tạo hóa, của Tâm bản nguyên. Tâm phải tạo ra cuộc sống ảo hóa như vậy là vì tâm có năng lực rất lớn. Tâm là họa sĩ đại tài có khả năng vẽ vời ra tất cả mọi cảnh giới.

Kinh Hoa Nghiêm nói : Tâm như công họa sư, tạo chủng chủng ngũ ấm, nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo 心如工畫師,造種種五陰,一切世間中,無法而不造。[Tâm như vị họa sư tạo ra tất cả các loại ngũ ấm (cũng tức là ngũ uẩn五蘊) tất cả mọi thứ trong thế gian, không có pháp nào mà tâm không tạo ra được].  Mỗi hành giả, mỗi chúng sinh đều là diễn viên trong đại hí trường đó. Ta vừa là tâm, người tạo ra đại hí trường đó, vừa là diễn viên trong vở kịch đó luôn. Có chúng sinh đóng vai chính diện, có chúng sinh đóng vai phản diện. Vì không gian thời gian và số lượng đều không có thật, nên tâm có thể làm được như vậy. Tâm có thể tạo ra cả vũ trụ vạn vật, thiên hà, mặt trời, hành tinh, con người, không gì là không thể tạo ra được bởi vì tất cả chỉ là ảo hóa, là tưởng tượng.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

ĐỐI TRỊ ĐẠI DỊCH COVID-19

Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên thế giới

Chúng ta đang ở thời điểm thượng tuần tháng 9-2021 dương lịch. Tình hình đại dịch trên thế giới theo số liệu của Worldometers như sau :

Số liệu dịch bệnh Covid-19 cập nhật đến hôm nay

5 quốc gia đứng đầu sổ về số người nhiễm bệnh và tử vong lần lượt là Mỹ, Ấn Độ, Brazil, Vương Quốc Anh, Nga. Việt Nam đứng thứ 50. TQ quốc gia đầu tiên bùng phát đại dịch đứng thứ 109. Các quốc gia láng giềng gần gũi nhất với VN là Cambodia đứng thứ 107 còn Lào đứng thứ 151.    

Tuy nhân loại đã chế tạo được khá nhiều vaccine và đã bắt đầu tiêm ngừa cho người dân từ cuối năm 2020. Đến nay tình hình tiêm chủng đại khái như sau :

Tỷ lệ tiêm chủng tính trên 100 dân của các quốc gia trên thế giới ngày đến hôm nay

Theo bảng số liệu (đến ngày 07-09-2021) thì chỉ duy nhất một vùng lãnh thổ là Gibraltar thuộc Anh đã tiêm đủ hai liều cho 100% dân số và đang tiêm tiếp liều thứ ba. Đứng kế là UAE (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) trong 100 người dân thì tiêm được 185 liều nghĩa là nhiều người dân đã tiêm đủ hai liều. Quốc gia đông dân nhất là TQ tiêm được 2,113 tỷ liều, trong 100 người dân thì tiêm được 146 liều, nghĩa là bổ đồng thì toàn dân đã được tiêm ít nhất một liều, một số đáng kể khác đã được tiêm đủ hai liều. Riêng VN đã tiêm được hơn hơn 22 triệu liều, bình quân trong 100 người dân thì có 22 người được tiêm. Có những quốc gia hoặc vùng lãnh thổ được tiêm chủng rất thấp như Papua New Guinea, trong 100 người chỉ có 1 người được tiêm. Những nơi tiêm chủng thấp nhất là các quốc gia Châu Phi như Nam Sudan, Burkina Faso, Tanzania, trong 100 người dân không có tới một người được tiêm.    

Nói chung tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn còn trầm trọng. Tại VN tình hình vẫn nghiêm trọng tại TP HCM, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang và một số tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long.

Theo số liệu thống kê của trang mạng worldometers.info, cập nhật đến 6 giờ sáng 9/9 (giờ Việt Nam), tổng số ca mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp (COVID-19) trên toàn cầu là 223.258.459 ca, trong đó có 4.607.801 người tử vong. Tỷ lệ tử vong là 2,06%

Y học giải thích phần lớn những ca tử vong là do có bệnh nền. Nhưng cũng có một số người trẻ, không có bệnh nền nhưng vẫn có thể tử vong. Y học giải thích rằng phần nhiều những người đó không tiêm vaccine. Nhưng số liệu của CDC Mỹ cho thấy rõ ràng rằng :

Cơ quan CDC Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention = Trung tâm kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh) đã thống kê tình hình tiêm vaccine tại Mỹ như sau (ảnh) : Cho đến ngày 21-06-2021 đã có 150 triệu người ở Mỹ đã tiêm đủ 2 liều vaccine (tỷ lệ 45,4% dân số) trong đó vẫn có 4115 người đã tiêm vaccine rồi vẫn bị nhiễm covid nặng phải nhập viện trong đó có 750 người tử vong. Số liệu cho thấy rõ người đã tiêm đủ 2 liều vaccine tốt nhất vẫn có thể bị nhiễm và vẫn có thể tử vong.

Đến ngày 04-09-2021 số người tiêm đủ 2 liều là 176 triệu người chiếm 53% dân số. Như vậy chúng ta thấy sau 2 tháng rưỡi, số người tiêm đủ 2 liều ở Mỹ tăng lên rất chậm, chỉ tăng 26 triệu người, tỉ lệ từ 45,4 % tăng lên 53 % dân số.  

Các số liệu cho chúng ta thấy rằng có một số người dù tiêm đủ 2 liều vẫn bị nhiễm bệnh, con số này rất cao chứ không phải thấp nhưng người ta không thống kê bởi vì đa số họ chỉ bị nhẹ nên ở nhà tự điều trị, chỉ có một số ít bị nặng phải nhập viện điều trị, con số thống kê đến ngày 21-06-2021 là 4115 người và trong số đó có 750 người tử vong. Israel hôm 2/9/2021 báo cáo thêm 11.187 ca nhiễm nCoV mới, mức cao kỷ lục tại nước này. Theo dữ liệu của Bộ Y tế Israel, trong số ca nhiễm mới có hơn 6.000 trường hợp chưa tiêm chủng, nhưng cũng có tới hơn 4.000 người đã được tiêm đầy đủ. Như vậy có tới 40% số nhiễm mới là những người đã tiêm đủ hai liều.

Một số không nhỏ người dân Mỹ không muốn tiêm ngừa vì vậy số người tiêm đủ hai liều tăng lên rất chậm. Kế hoạch của chính quyền Mỹ muốn rằng đến ngày quốc khánh 04-07-2021 là có 70% người trưởng thành ở Mỹđược tiêm ít nhất một liều vắc-xin. Nhưng đến ngày quốc khánh chỉ có khoảng 67% người được tiêm một mũi và cho đến nay cũng chỉ có 53% dân số Mỹ được tiêm 2 mũi.

Và hiện nay số người nhiễm bệnh và số tử vong vì covid vẫn tăng lên. Cụ thể đến ngày 09-09-2021, những quốc gia có số người nhiễm bệnh cao nhất liệt kê như sau :

Còn sơ đồ về số người tử vong hàng ngày vì covid của thế giới như sau :

Theo số liệu của statista.com : On September 5, 2021, there were 368,309 new cases of coronavirus (COVID-19) worldwide. The total number of deaths from COVID-19 has reached nearly 4.6 million. (Vào ngày 5 tháng 9 năm 2021, có 368.309 trường hợp nhiễm coronavirus mới (COVID-19) trên toàn thế giới. Tổng số người chết vì COVID-19 đã lên tới gần 4,6 triệu người.)

Sơ đồ cho thấy số người chết vì covid mỗi ngày trên thế giới vào đầu tháng 9-2021 là khoảng 12.000 người.

Tóm tắt tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới vào khoảng đầu tháng 9-2021 như sau :  

Từ đầu dịch đến nay Thế giới có 223 triệu người nhiễm bệnh, hơn 4,6 triệu người đã tử vong. Hiện nay mỗi ngày thế giới có hơn 350.000 người nhiễm bệnh và khoảng 12.000 người tử vong.

Riêng VN từ đầu dịch đến nay có hơn 550.000 người nhiễm bệnh, hơn 14.000 người đã tử vong. Mỗi ngày VN có hơn 10.000 ca nhiễm bệnh và hơn 300 ca tử vong. (Cụ thể ngày 6/9: 311 ca, ngày 7/9: 316 ca, ngày 8/9 : 355 ca – số liệu của thuvienphapluat.vn, ngày 9/9 272 ca tử vong, số liệu suckhoedoisong.vn).

Hiểu rõ về đại dịch Covid-19 và cách đối trị  

Hiểu rõ về đại dịch không phải là tìm hiểu về nguyên nhân trực tiếp xuất hiện con virus SARS-CoV-2 mà hiểu về nguyên nhân sâu xa nhất của cơn đại dịch. Tại sao một cơn đại dịch xuất hiện ảnh hưởng lớn lao tới toàn thể nhân loại ? Điều đó không phải ngẫu nhiên do một nguyên nhân bất chợt nào đó ví dụ do động vật lây sang người hay rò rỉ từ phòng thí nghiệm. Đó là điều tất yếu phải xảy ra do cộng nghiệp của loài người. Đó là nghiệp chung của cả nhân loại. Nghiệp chung hay cộng nghiệp共業 (collective karma) là một sức mạnh vô hình nhưng có tác động rộng lớn đến một tập hợp đông đảo chúng sinh mà ở đây là loài người. 

Do đâu mà có cái nghiệp đó ?  

Loài người là một loại chúng sinh chủ thể của thế gian, thông minh nhất trong tất cả sinh vật của quả Địa Cầu. Loài người có ngôn ngữ phát triển, biết suy nghĩ, biết làm việc, biết lao động sản xuất, biết tích lũy của cải và tri thức để ngày càng gia tăng sức mạnh của mình, có khả năng thay đổi cảnh giới của Địa cầu.

Sức mạnh của con người chủ yếu nằm ở bộ não biết suy nghĩ, biết tính toán. Sức mạnh cơ bắp của con người trên bộ không bằng con cọp, sư tử, con voi, con trâu, con bò; dưới nước không bằng cá voi, cá mập…nhưng nhờ có bộ não phát triển nên con người có sức mạnh vượt trội so với tất cả các loài khác, làm chủ cả các lục địa và đại dương.

Con người luôn tìm cách xây dựng một cuộc sống vật chất đầy đủ và sướng khoái cho mình. Do đó con người khai thác thiên nhiên, làm ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên, ảnh hưởng tới sự sinh tồn của các loài sinh vật khác. Con người săn bắn, đánh bắt thủy hải sản khiến cho một số loài bị diệt chủng. Số lượng của các loài sinh vật khác ngày càng ít dần, không còn đủ cho con người săn bắn, đánh bắt. Thế là con người xoay qua chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản, cả động vật hoang dã như cọp, gấu, cá sấu, đà điểu…để phục vụ cho nhu cầu giết thịt, ăn uống của mình. Nói tóm lại là con người phá rừng, khai thác, đào bới quặng mỏ, than đá, kim loại, đất hiếm, xây dựng các đập thủy điện… khiến cho môi trường sinh thái bị rối loạn. Con người giết mổ, ăn thịt rất nhiều heo, bò, gà vịt, thủy hải sản. Con người gây ra đau khổ ngất trời đối với rất nhiều loài sinh vật khác để mưu cầu hạnh phúc, thỏa mãn cho mình. Ai không từng ăn cá, ăn thịt, ăn tôm tép, cua sò ốc hến, gà vịt, chim trời, cá nước ? Đó là vay nợ sinh mạng của các loài khác để phục vụ cho nhu cầu của mình. Đã vay thì có lúc phải trả.

Đạo Phật nói : Nhất thiết duy tâm tạo. Tâm là tánh giác, trí tuệ bát nhã thông minh tuyệt đỉnh hơn hẳn bộ óc của loài người. Chính tâm tạo ra vũ trụ vạn vật và con người, tạo ra mọi loại cảnh giới. Chính tâm tạo ra không gian, thời gian và số lượng. Nên tâm dư sức tạo ra con virus corona để thực hiện sự công bằng của luật nhân quả. Loài người có vay thì phải có trả, đã tạo nhiều nghiệp xấu nghiệp ác thì lẽ đương nhiên là có lúc phải trả nợ nghiệp vay của mình.

Con người dựa vào tài trí của mình chế tạo ra vaccine để chống lại con virus. Thì tâm cũng tạo ra nhiều biến thể virus ngày càng lợi hại để thực thi luật nhân quả không thể suy suyển.

Trong bài viết của  bác sĩ Lê Thị Anh Khoa, chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn đăng trên VN Express ngày 04-09-2021, có viết « Nhiều chuyên gia nhận định, đối với Covid, hiệu lực của thuốc chỉ là 30%, 70% còn lại là chăm sóc bệnh nền, dinh dưỡng, thể dục và đặc biệt là sức khỏe tâm lý. Không phải chỉ Covid-19, hầu hết các bệnh khác cũng cần sự điều trị toàn diện ». 

Đó là nhận định của chuyên gia, y bác sĩ. Nhận định của Tâm học Phật giáo còn nhìn thấy sâu hơn nữa. 30 % hiệu lực của thuốc là phần chi phối của các quy luật lý. 70% còn lại là phần siêu hình có liên quan tới tâm lý (của cá nhân) và của nghiệp lực. Y học thông thường chỉ biết tới vật lý và sinh lý cơ thể mà không biết tới tâm linh là phần sâu thẳm của vũ trụ vạn vật và nhân sinh.

Nên y học không thể giải thích rõ ràng tại sao cùng một con virus delta hay biến chủng khác mà 80% người bị nhiễm chỉ bị nhẹ không cần phải nhập viện. 20% nặng hơn phải nhập viện.

Tại sao : “hiệu lực của thuốc chỉ là 30%, 70% còn lại là chăm sóc bệnh nền, dinh dưỡng, thể dục và đặc biệt là sức khỏe tâm lý. Không phải chỉ Covid-19, hầu hết các bệnh khác cũng cần sự điều trị toàn diện » ?

Thật ra thì 70% còn lại là do biệt nghiệp 别業 (differentiated karma) của mỗi người mỗi khác. Nhiều người có lẽ không tin vào nghiệp bởi vì nó vô hình không thể thấy rõ. Nhưng cộng nghiệp và biệt nghiệp là những giáo huấn đã có từ lâu đời của bậc đại trí là Đức Phật, không phải do ai đó tùy tiện vẽ vời ra.

Những thí dụ về nhân quả luân hồi đã được thuyết trong kinh Pháp Cú《法句经》(Tiếng Phạn Dharmapada- tiếng Anh Dhamma Verses. Kinh Pháp cú do Phật giảng dạy ở nhiều thời điểm và nơi chốn khác nhau. Kinh này do tôn giả Pháp Cứu (Dharmatrāta) soạn (400 – 300 B.C. 尊者法救撰), sư Duy Kỳ Nan 维祇难 (Vighna) dịch sang chữ Hán lần đầu hồi thế kỷ thứ 3 (năm 224 Công nguyên) có 758 bài kệ gồm 39 phẩm. Sau đó không lâu Chi Khiêm 支谦 (gốc người Nguyệt Thị 月氏 ông nội của ông di cư sang TQ khoảng đời Hán Linh Đế- 156-189 CN ) biên soạn lại và xuất bản lần hai còn 500 bài kệ. Đây là bài kệ thứ nhất 偈 1 đối chiếu Pali và Hán

1. Yamakavagga〈 一、雙 品Song phẩm〉

1. Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;

Manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā.

Tato naṁ dukkhamanveti, cakkaṁva vahato padaṁ.

1諸法意先導,意主.意造作 Chư pháp ý tiên đạo, ý chủ, ý tạo tác 

若以染污意,或語.或行業  Nhược dĩ nhiễm ô ý, hoặc ngữ, hoặc hành nghiệp 

是則苦隨彼,如輪隨獸足  Thị tắc khổ tùy bỉ, như luân tùy thú túc 

Bài kệ 1 Song phẩm hay song đối 雙對 (double pair) là cặp phạm trù mâu thuẫn, ở đây chỉ nhân và quả đi đôi với nhau

Trong tất cả các pháp, ý (mạt-na thức bao gồm ý thức và tiền ngũ thức) là dẫn đầu, ý làm chủ, ý tạo ra mọi sự vật.

Nếu lấy ý  bị ô nhiễm ra hành xử bằng suy nghĩ, lời nói hoặc hành động là tạo nghiệp

Thì ắt khổ sẽ theo liền như bánh xe đi theo vết chân của muông thú (không sai chạy)

Tất cả mọi tác ý, suy nghĩ, lời nói hoặc hành động (thân, khẩu, ý) đều tạo nghiệp. Nghiệp xấu, quả xấu sẽ đi theo liền với nhân xấu, đó là lẽ đương nhiên và tức thời không thể sai chạy theo cơ chế lực và phản lực. Ta ném một quả banh vào tường, nó tức thì dội ra. Ta ném càng mạnh thì nó càng bật ra mạnh. Trong thế giới tương đối có sự ràng buộc của không gian, thời gian, ta tạo nhân mà không thấy quả tức thời. Ví dụ quả banh cách bức tường 1000 km, ta ném quả banh bay với tốc độ 200km/giờ thì nó mất 5 giờ để đến bức tường và 5 giờ nữa để trở về với mình, như vậy sau khi ném quả banh, 10 giờ sau mới thấy hậu quả. Chính vì vậy chúng ta gieo nhân có thể không thấy hậu quả ngay, do đó không tin nhân quả là có thật, nghiệp là có thật. Nhiều người cứ thoải mái giết heo bò, gà vịt, tôm cá, ăn thịt mà không thấy hậu quả gì, do nghiệp chưa đến ngay. Chưa đến chứ không phải là không đến. Và bây giờ thì nghiệp đến dưới hình dạng của con virus corona, ảnh hưởng nặng nề đến toàn bộ thế giới.  

Trong kinh Pháp Cú có nêu ra nhiều thí dụ để hiển bày luật nhân quả. Chẳng hạn trong phẩm 37 nói về sanh tử, có câu chuyện như sau :  

Xưa kia, lúc Phật ở tại Tinh xá Kỳ Hoàn, nước Xá-vệ, thuyết pháp cho người, trời, vua, quan nghe, thì cạnh đường cái có một ông Phạm Chí giàu có, tiền của không biết bao nhiêu mà nói. Ông có một cậu con trai hai mươi tuổi, vừa cưới vợ .
Tháng Ba, gặp tiết Xuân, vợ chồng nắm tay nhau đi dạo hoa viên. Đến một gốc cây Nại to lớn hoa nở tươi tốt. Cô vợ muốn hái ít đóa nhưng không có ai cậy mượn. Biết ý vợ và muốn làm đẹp lòng nàng, chàng tự thân leo lên và hái được một hoa. Thấy một hoa khác đẹp hơn ở một cành nhỏ, chàng cố chuyền sang, chẳng may nhánh gãy, chàng té xuống đất bị thương nặng. Người trong nhà bé lớn hay tin lật đật chạy ra chỗ tai nạn xảy ra, kêu trời kêu đất, xúm nhau cứu chữa, nhưng vô phương, chàng trai tắt thở. Bà con nội ngoại ai cũng động lòng rơi lệ mà chẳng biết làm thế nào ? Cha mẹ, vợ người xấu số không tiếc lời trách trời oán đất.

Tẩn liệm quan quách, đưa đám xong, trở về nhà tất cả đều than khóc không nguôi.
Xa biết tai nạn của nhà phú ông và thương cho sự si mê ngu muội của người trong cuộc, Thế Tôn bèn đến an ủi. Thấy Phật tới, chủ nhà và mọi người trong gia đình bi thảm làm lễ rồi bày tỏ nỗi đắng cay của mình, Phật nói với ông nhà giàu :
– Hãy nín đi để nghe pháp. Muôn vật vô thường, không thể giữ mãi; có sanh ắt có chết, tội phước đuổi nhau. Nay cậu con trai này phải gặp một lần ba cảnh áo não rơi lệ; đoạn tuyệt với ông hôm nay để rồi đi làm con kẻ khác.
Nói tới đây Phật đọc bài kệ :

Mạng như hoa trái chín
Thường sợ lúc chúng rơi
Đã sanh đều phải khổ
Ai là người chẳng chết ?
Tùng nguồn thích thương muốn
Nhân dâm nhập bào thai
Mang hình mạng như điện
Ngày đêm chảy không ngừng
Thân này là vật chết
Tinh thần không hình sắc
Nương chết để phục sanh
Tội phước không mất đâu
Chẳng phải chết là hết
Ham sống si mê dài
Tự làm chịu sướng khổ
Thân chết thần chẳng rã.
    

Trưởng giả nghe kệ xong lòng được cởi mở, không còn buồn phiền nữa, bèn quỳ xuống bạch Phật :
– Đời trước thằng bé này tạo tội gì để nay đang lúc xuân thời cuộc đời hạnh phúc, lại phải chết yểu như thế ? Cúi xin Phật chỉ dạy cho con biết. Phật đáp :
– Xa xưa, có một cậu con trai mang cung tên vào một khu làng lùng kiếm chim bắn chơi. Thấy trên cây có một con se sẻ, cậu giương cung muốn bắn. Ngay lúc ấy có ba người đang đi dạo, họ thấy thế mới khích:
– Cậu mà bắn trúng thì là tiểu anh hùng vậy. Cậu bé nghe khoái chí, giương cung buông tên, chim sẻ rớt xuống chết tốt. Ba người khách đồng reo mừng khen ngợi rồi đường ai nấy di.
Từ ấy biết bao kiếp đã trôi qua, nay cơ duyên đã đến cho cậu bé xưa thọ tội. Trong ba người kia, một người nhờ tạo nhiều phước nên nay được ở cõi trời, người thứ hai thì sanh xuống biển làm Long vương, người thứ ba chính là thân của Trưởng giả hiện nay vậy. Còn cậu trai vừa thọ nạn té cây, trước đời này đã được sanh về cõi trời làm con của người sinh ở cõi trời, mạng hết xuống thế làm con của ông Trưởng giả này, nay té cây chết sẽ sanh xuống biển làm con của ông Long vương, nhưng ngay trong ngày sanh sẽ bị chim kim súy đớp ăn. Vì lẽ này mà Ta nói ngày hôm nay là ngày hội đủ ba việc đáng đau lòng rơi lệ vì quả đến. Phần ông vì tiền kiếp tán trợ reo mừng trước một việc ác, nên nay phải chịu phần than khóc. Tới đây Phật nói thêm một bài kệ :

Thần thức tạo tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới)
Lành, chẳng lành, năm xứ (Ngũ thú : Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhơn, thiên)
Âm thầm lòng mơ tính
Mơ đâu sẽ về đó

Muốn vật chất hay tinh thần
Tất do mơ tưởng xưa
Hễ gieo giống thứ nào
Tự nhiên báo thế ấy.

Hiểu rõ như vậy thì chúng ta sẽ thấy rằng tìm nguyên nhân của đại dịch không phải là tìm hiểu xem con virus SARS-CoV-2 xuất hiện bằng cách nào để tìm cách ngăn chặn nó. Bởi vì nguyên nhân sâu xa của nó là nghiệp, chặn cách này thì nó sẽ xuất hiện cách khác, nhân đã tạo thì quả ắt đi theo không thể nào tránh khỏi. Tôi phải nói thật rằng đa số các nhà khoa học đều không hiểu điều đó, họ chỉ muốn tìm hiểu nguyên nhân trực tiếp khiến con virus corona xuất hiện và tìm cách ngăn chặn cái ngọn mà thôi trong khi cái gốc là nghiệp vẫn còn nguyên. TQ ngăn chặn dịch covid-19 tốt hả ? Thì năm 2020 có nạn lũ lụt kinh hoàng ở đồng bằng sông Dương Tử, và năm 2021 xảy ra trận đại hồng thủy khủng khiếp ở tỉnh Hà Nam hàng ngàn năm mới xảy ra một lần, lượng mưa trong ba ngày bằng một năm bình thường, và nơi bị thiệt hại nặng nề nhất là thành phố Trịnh Châu. Nghiệp không đến bằng hình thức này thì sẽ đến bằng hình thức khác, không tránh khỏi được đâu.

Xe hơi ngổn ngang do lũ lụt tại tỉnh Hà Nam

Có điều gì chứng tỏ sự sai lầm của các nhà khoa học ? Họ không hiểu nguyên nhân sâu xa của đại dịch. Cái gì giải thích sự biến thể nhanh và khủng khiếp của con virus. Từ con virus ban đầu xuất hiện đại dịch tại Vũ Hán, nó đã nhanh chóng biến thể thành virus alpha (xuất hiện tại Anh), beta (xuất hiện tại Nam Phi), gamma (xuất hiện tại Brazil), delta (xuất hiện tại Ấn Độ), lambda (xuất hiện tại Peru) và bây giờ là MU (xuất hiện ở Colombia).

Các biến thể chỉ là ngọn của đại dịch còn gốc của nó chính là nghiệp. Con người không biết nguồn gốc thật sự của đại dịch là gì mà chỉ tìm hiểu xem cái ngọn của nó tức là con virus xuất hiện cách nào thì sẽ không bao giờ giải quyết được đại dịch, chỉ có thể làm một số việc thuộc phạm trù hữu vi tức là trong phạm vi 30% liên quan với các định luật vật lý, còn 70% thuộc phạm vi siêu hình liên quan tới nghiệp thì đa số mọi người không hiểu biết, không tin và không hành động gì để hóa giải.

Đối trị đại dịch Covid-19 bằng cách giữ tâm an và không tạo nghiệp mới              

Sau khi đã tham khảo các khảo sát lâm sàng của các chuyên gia dịch tễ về dịch bệnh covid-19 để thấy rằng thuốc men và các cách điều trị hữu vi, hữu hình chỉ có tác dụng 30% . Còn 70% liên quan tới tâm lý, tâm linh, thuộc phạm trù siêu hình liên quan tới nghiệp. Chúng ta sẽ nghĩ đến cách đối trị dại dịch như sau :

Chúng ta vẫn nên tuân thủ các biện pháp do các chuyên gia y tế và chính quyền đưa ra như giãn cách xã hội, thực hiện 5K, chích vaccine, nếu bệnh nặng thì đến các cơ sở y tế để điều trị. Đó là 30% thuộc phạm vi liên quan tới các định luật vật lý.

Nhưng chúng ta cũng cần tiến hành những biện pháp giải nghiệp thuộc phạm vi 70% liên quan tới tâm lý, tâm linh, phạm trù siêu hình nằm ngoài tầm với của y học thông thường. Chúng ta phải hiểu những nguyên lý cực kỳ sâu xa, cực kỳ cơ bản của vũ trụ vạn vật mà ngay cả những nhà khoa học hàng đầu của thế giới cũng chưa hiểu hết. Những nguyên lý này do một bậc giác ngộ là Đức Phật đã nêu ra trong kinh điển từ xa xưa. Đó là những nguyên lý gì ?    

 1/Nhất thiết pháp vô tự tính. Tất cả các pháp từ những vật nhỏ nhất như các hạt cơ bản của vật chất (material particles) cho tới sơn hà đại địa, sinh vật, con người, cho tới những thiên thể cực lớn trong vũ trụ đều không có sẵn đặc trưng đặc điểm, nghĩa là nó không có thực thể như chúng ta thấy và tiếp xúc. Vậy do đâu mà các pháp đều có đặc trưng đặc điểm, đều có cái hình tướng như chúng ta thấy ?

2/Nhất thiết duy tâm tạo. Tất cả đặc trưng đặc điểm của các pháp, các sự vật đều do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra. Như bài kệ số 1 của kinh Pháp Cú đã nói : tâm tạo nghiệp, cụ thể hơn, nghiệp do thân (ngũ uẩn), khẩu (lời nói ý nghĩ), ý (mạt-na thức chấp ngã) tạo ra. Thân muốn được hưởng các lạc thú như ăn uống ngon miệng, bồi bổ cho thân thể béo tốt, theo đuổi các thứ dục lạc, nên tạo ra nghiệp sát sinh, giết heo, bò, gà vịt, tôm cá…để ăn cho thỏa thích, tàn phá môi trường. Tìm cách hại người, chiếm đoạt của người khác, vật khác để phục vụ cho ham muốn của mình. Hại người (do đó cũng là tạo nghiệp, hại mình) bằng cả ý muốn, lời nói và hành động.

3/Định luật nhân quả. Có nhân thì có quả. Nhân quả đi đôi với nhau. Thậm chí nhân cũng tức là quả. Đã tạo nghiệp thì phải lãnh hậu quả. Con người đã gây ra bao nhiêu nghiệp xấu, nghiệp ác, vô lượng vô biên sinh linh đã bị con người tàn hại, há chẳng có hậu quả gì sao ? Con virus corona chính là sứ giả của Trời, xuất hiện để thực thi luật nhân quả một cách công bằng. Con virus nó biết phân biệt ai không nợ, ai có nợ nhiều hay ít, để mà tùy theo trường hợp mà xử lý. Ai không nợ thì không nhiễm bệnh. Ai ít nợ thì bị bệnh nhẹ có thể ở nhà tự điều trị không cần nhập viện. Ai nợ hơi nhiều thì phải nhập viện nhưng qua khỏi. Ai nợ quá nhiều thì phải tử vong.

Con người chúng ta nên bớt ham muốn, bớt sát sinh hại vật, nếu có thể thì nên ăn chay cho thanh tịnh, bớt tranh giành làm hại lẫn nhau. Đầu óc nên giữ chánh niệm. Chánh niệm là vô niệm, chấm dứt suy nghĩ về thị phi, hơn thua, ta người, như thế tâm sẽ an. Vô niệm thì không tạo nghiệp mới. Nghiệp cũ có đến thì ta chấp nhận, không nhất thiết phải lo âu, buồn rầu, đau khổ. Không tạo nghiệp mới thì khi đã trả hết nghiệp cũ thì con virus corona sẽ tự biến mất hoặc sẽ trở thành một loại virus cúm thông thường, thảm họa sẽ dần dần tiêu trừ. 

Truyền Bình 

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

LÀM SAO TRỊ DỨT BỆNH COVID ?

Dưới góc nhìn Phật pháp, đại dịch Covid-19 đang làm cả thế giới điêu đứng bản chất là gì ? muốn trị được nó phải hiểu bản chất của nó ra sao. Cách chống dịch hiện nay của tất cả các quốc gia chỉ là trị ngọn chứ không phải trị gốc nên chỉ có thể làm cho bệnh dịch tạm lắng dịu chứ không thể trị dứt. Hết bệnh dịch này sẽ tới bệnh dịch khác sẽ không bao giờ chấm dứt. Chúng ta cần phải hiểu thế giới về cả hai hình thái của nó :

Hai hình thái tồn tại  

Hình thái Thứ Nhất là dưới góc nhìn tương đối, triết học gọi là hậu thiên 後天 sau khi đã xuất hiện Trời Đất, vũ trụ vạn vật. Các hạt cơ bản do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra, đã cấu trúc thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thiên thể, sông núi, sinh vật, con người. Đó chính là thế giới đời thường của chúng ta. Thế giới đó bị chi phối bởi các quy luật. Quy luật vật lý thì gọi là định luật (laws), quy luật của toán học thường được gọi là định lý (theorems). Những định lý cơ bản làm nền tảng của các định lý và định luật gọi là nguyên lý (principles). Ví dụ chúng ta có nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heiseinbeg nêu ra lần đầu năm 1927. Định lý bất toàn (Incompleteness Theorem) do Kurt Gödel nêu ra lần đầu năm 1931. Định lý bất toàn có tính chất rất nền tảng nên tôi nghĩ nên gọi nó là nguyên lý. Còn định luật thì có rất nhiều, thí dụ định luật Archimede nói rằng: “Một vật nhúng vào chất lỏng bị chất lỏng đẩy thẳng đứng từ dưới lên với lực có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật chiếm chỗ”. Các tàu thủy được chế tạo có thể bằng sắt thép mà vẫn nổi được trên mặt nước là nhờ định luật này. Định luật bảo toàn năng lượng nói rằng tổng năng lượng của một hệ cô lập là không đổi; tức là nó được bảo toàn theo thời gian dù hình thức của nó có thay đổi, thí dụ từ điện năng biến thành động năng làm chạy cái motor. Thế giới vật chất và sinh vật đều bị chi phối bởi các định luật. Con người và con virus SARS-CoV-2 tất nhiên là cũng bị chi phối bởi các định luật.      

Nhưng không phải thế giới chỉ có một hình thái hậu thiên, cùng hiện hữu đồng thời với thế giới hậu thiên còn có thể nhìn thế giới dưới một góc nhìn khác như sau:

Hình thái Thứ Hai là hình thái tuyệt đối mà triết học gọi là tiên thiên 先天 tức chưa có Trời Đất, chưa có vũ trụ vạn vật, chưa có phân biệt. Phật giáo gọi là Bất Nhị. Người bình thường kể cả các nhà khoa học trong đó có cả Albert Einstein chưa hiểu nhiều về hình thái này. Phật giáo gọi đó là Tánh Không (emptiness), tuy không có gì nhưng ứng dụng của nó cực kỳ lớn lao và trí tuệ tuyệt vời nên còn gọi là Tánh Giác hay là Phật tánh. Chỉ có bậc giác ngộ như Đức Phật hay các vị Bồ Tát, các Tổ Sư mới chứng ngộ được tánh không và thấy đương thể tức không. 

Kinh Bát Nhã 般若心 nói Sắc Tức Thị Không 色即是空 (vật chất tức là trống rỗng không có gì) từ đó các giảng sư như thầy Tịnh Không 淨空 nói Nhất thiết pháp đương thể tức không 一切法當體即空 (tất cả các pháp đang hiện hữu đều trống rỗng tức là không có thật). Một câu mà ai có học Phật pháp đều biết : Nhất thiết duy tâm tạo 切唯心造 Tất cả đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Hạt cơ bản (basic particles) là do tâm tưởng tượng ra mà Phật pháp gọi là hoa đốm trong hư không. Sau khi các hạt cơ bản xuất hiện, chúng mới cấu trúc thành thế giới hậu thiên như phần trên đã nói. Do đó, ở hình thái tiên thiên thì không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, không có nguyên lý, định lý, định luật, không có gì cả, như Huệ Năng đã nói trong bài kệ : Bản lai vô nhất vật 本來無一物 (xưa nay không có vật gì cả). Cả hai hình thái đó đều đồng thời tồn tại.

Không phải chỉ có Phật pháp nói như thế, một nhà khoa học hàng đầu thế giới đồng thời với Einstein cũng nói như vậy. Đó là Niels Bohr. Ông nói (ảnh):

Niels Bohr đã nói rằng : “Tất cả những gì chúng ta gọi là thật được làm bằng những vật không thể được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử không làm cho bạn bị sốc nặng thì bạn đã chưa hiểu được nó.”

Vậy theo lời của Bohr thì cõi thế gian và con virus corona đều không phải là có thật. Thế giới và con virus corona đều là tưởng tượng, không phải tuyệt đối có thật. Nhưng vì tưởng tượng đó đã qua nhiều đời nhiều kiếp, đã phổ biến trên thế gian, Phật pháp gọi là thế lưu bố tưởng世流布想chúng ta bị cái tưởng tượng đó trói chặt trong thân ngũ uẩn không thoát ra được. Chính vì vậy chúng ta mới bị khổ, bị rơi vào bể khổ như Tứ Diệu Đế mô tả. Điều này rất khó hiểu nên một bậc thông minh thiên tài như Einstein cũng không hiểu dù ông rất hâm mộ Đạo Phật. Bởi vì tất cả mọi người chúng ta đều chấp thật.

Biết rằng mình đã bị trói buộc quá chặt, cục cựa không nổi, nhưng đã hiểu đương thể tức không dù chỉ là giải ngộ và có lòng tin thì không cần phải lo sợ. Chúng ta vẫn tuân theo lệnh giãn cách xã hội của nhà nước, vẫn cách ly tại nhà cho an toàn, vẫn chích ngừa vaccine khi nào có đủ, nhưng trong lòng bình an không lo sợ, sống chết là tùy nghiệp. Chúng ta không tạo ra nghiệp xấu, nghiệp ác, thì con virus corona vốn cũng là do tâm tạo, nó đều biết rõ ai có vay nợ thì phải trả, ai không vay nợ thì không phải trả. Nó cũng thông minh lắm bởi vì nó cũng là Phật tánh mà, con người tìm cách chống lại nó thì nó tạo ra nhiều biến thể mới để thoát khỏi sự khống chế của con người.

Tâm bình an, không tạo nghiệp xấu, là cách hiệu quả nhất, chắc chắn nhất, để trị bệnh Covid-19 cũng như tất cả mọi tai ương hoạn nạn khác, bởi vì hành giả không phải là đối tượng bị con virus hay nghiệp trừng phạt. Còn như chúng ta đã lỡ vay nợ thì phải chấp nhận trả, cũng không phải lo sợ, nghiệp tới thì cứ bằng lòng gánh chịu trả nợ, không oán than, có làm có chịu. Tạo nghiệp vay nợ hồi nào chúng ta có thể không nhớ không hay biết, nhưng con virus nó biết, nó trừng phạt những người nặng nợ và tha những người ít nợ hoặc không nợ. Đó là lý do tại sao có người bị nặng, có người bị nhẹ, có người không bị. Phật pháp và cả các khoa học trình độ cao đều đã hướng dẫn cho con người hiểu biết về bản chất của thế giới. Đó là thế giới do tâm tạo, không phải là thế giới do vật chất tự vận động mà thành như chủ nghĩa duy vật nói. Từ đó con người mới có thể xây dựng một thế giới an lành.

Hiểu bản chất của thế giới, bản chất của con virus corona là gì thì chúng ta biết cách đối phó hữu hiệu với nó.

 Mọi việc xảy ra trên đời đều có nhân duyên, không phải ngẫu nhiên, chúng ta nên hiểu như vậy. Luật nhân quả (the law of cause and effect) trong Khoa học và trong Phật pháp đều có đề cập. Chỉ khác là trong thế giới siêu hình chúng ta không theo dõi được, hoặc khó theo dõi xem luật ấy tác động thế nào tới mọi người. Nó do tâm tác động, nếu chúng ta bình tâm chiêm nghiệm thì cũng có thể cảm thấy tác động đó. Một số các bác sĩ có khả năng thôi miên bệnh nhân, làm cho họ thấy lại những việc xảy ra trong tiền kiếp khiến họ thấu hiểu hậu quả hiện nay đang gánh chịu đã có nguyên nhân từ tiền kiếp. Phật giáo đã nói nhiều về luân hồi tái sinh về luật nhân quả, cụ thể là trong Kinh Pháp Cú《法句经》(Tiếng Phạn Dharmapada- tiếng Anh Dhamma Verses. Kinh Pháp cú do Phật giảng dạy ở nhiều thời điểm và nơi chốn khác nhau. Kinh này do tôn giả Pháp Cứu soạn (400 – 300 B.C. 尊者法救撰), sư Duy Kỳ Nan 维祇难 (Vighna) dịch sang chữ Hán lần đầu hồi thế kỷ thứ 3 (năm 224 Công nguyên) có 758 bài kệ gồm 39 phẩm. Sau đó không lâu Chi Khiêm 支谦 (gốc người Nguyệt Thị 月氏 ông nội của ông di cư sang TQ khoảng đời Hán Linh Đế- 156-189 CN ) biên soạn lại và xuất bản lần hai còn 500 bài kệ.

Einstein là một tượng đài khoa học của nhân loại. Phê bình Einstein không phải nhằm hạ bệ uy tín của ông mà chỉ nhằm phá sự chấp thật của mọi người. Einstein vẫn là nhà khoa học số 1 của nhân loại nhưng niềm tin của ông thiếu cơ sở khoa học. Niềm tin đó là gì ? Ông tin rằng các hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng, ông cho rằng đó là sự thật khách quan. Ông phát biểu niềm tin đó bằng câu : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó” (ảnh).

Nhưng niềm tin đó đã bị chứng tỏ là sai khi Alain Aspect làm cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) năm 1982 tại Paris. Thí nghiệm này chứng tỏ rằng vật (hạt photon) là không có thật (non realism), hạt không có sẵn đặc trưng.

Nhất thiết duy tâm tạo và Phi tâm phi vật

Nhất thiết duy tâm tạo hàm ý tâm (citta) thì vô hình vô thể nhưng biểu hiện của nó là tam giới, vũ trụ vạn vật. Như vậy tâm là nền tảng của vũ trụ chứ không phải vật chất.

Vật là vật chất bao gồm cả năng lượng theo chủ thuyết duy vật là nền tảng của vũ trụ. Nhưng chủ thuyết duy vật đã bị chứng tỏ là sai vào năm 1982 khi Alain Aspect đã chứng minh rằng các hạt cơ bản như photon, electron, quark…không có sẵn đặc trưng. Các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, spin (độ xoay) chỉ xuất hiện khi có người quan sát hoặc có sensor (cảm biến) tức là chúng không độc lập tồn tại, chúng chỉ là hạt ảo.

Vậy nguồn gốc của vật là gì ? Thí dụ như nguồn gốc của hạt cơ bản (particles) của quả địa cầu, của sinh vật, của ngũ uẩn là gì ? Chính là tâm. Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) chứng tỏ điều đó Vậy tâm là gì ?

Theo Duy Thức Học Phật giáo Tâm là 8 thức. Khả năng Thấy, Nghe, Ngửi, Nếm, Tiếp Xúc thân thể, gọi chung là Tiền ngũ thức. Khả năng tổng hợp của Tiền ngũ thức là Ý thức (thức thứ 6). Ý thức là khả năng tổng hợp và vận dụng tiền ngũ thức để phát sinh ra ý thức, suy nghĩ, tưởng tượng. Cái thói quen của cá thể coi cả 6 thức đó chính là ta, đó là thói quen chấp ngã gọi là Mạt-na thức – Manas, thức thứ 7). Manas của tất cả chúng sinh trong trong tam giới gọi là A-lại-da (Alaya, Tàng thức, thức thứ 8)

Bản chất của 8 thức hay nói gọn là Tâm cũng là thông tin. Đó là một khả năng kỳ diệu gọi là tánh giác ngộ hay Phật tánh. Nó vừa là thông tin vừa là sự vận dụng thông tin gọi chung là Bất nhị. Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng hình dung khả năng này. Khi là thông tin, nó là text, là audio, là video. Còn khi vận dụng thông tin, nó là app. tức là ứng dụng (application).  Tâm tức là thông tin chứ không phải vật chất, không phải năng lượng. Vật chất, năng lượng thuộc cảnh giới hậu thiên. Còn Tâm thuộc cảnh giới tiên thiên. Cảnh giới tiên thiên thì đồng nhất (bất nhị), không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, kinh Kim Cang gọi là Vô Sở Trụ.

Hai cảnh giới tiên thiên và hậu thiên cũng là đồng thời nên người giác ngộ không thiên lệch. Bởi vì thiên lệch một bên là tà kiến. Thế nên Long Thọ Bồ Tát có Trung Quán Luận 中觀論 tên đầy đủ là CĂN BẢN TRUNG LUẬN TỤNG (mūlamadhyamakakārikā). Ý chỉ của bộ luận này nói rằng hành giả nên thực hành Trung Đạo. Trung Đạo cũng không phải là con đường ở ngay chính giữa hai biên, mà đúng ra nó là con đường vô sở trụ, không vướng mắc ở bất cứ chỗ nào. Vì vậy thực tế người giác ngộ hành động tùy duyên chứ không nhất định phải thế này hay thế kia.

Tâm là bất nhị vô phân biệt. Nói nhất thiết duy tâm tạo tức là ý thức, tư tưởng, tinh thần, tình cảm, vật chất, nhà cửa, sơn hà đại địa… cũng đều là tâm, không có sự phân biệt tuyệt đối.

Còn nói phi tâm phi vật là còn phân biệt, còn đứng trên lập trường nhị nguyên, có tâm và vật là hai hình thái đối lập nhau nhưng lại hướng về trung đạo không thiên lệch.

Tóm lại lời nói tuy khác nhưng ý nghĩa thì không khác đều là bất nhị pháp môn. Câu chuyện sau đây giữa Quế Sâm Thiền Sư và Pháp Nhãn Văn Ích tỏ rõ ý bất nhị.

Thiền sư Quế Sâm 桂琛 (867- 928), họ Lý, sinh ra tại Thường Sơn (nay là huyện Thường Sơn, tỉnh Chiết Giang), từ nhỏ theo học thiền sư Vô Tướng tại chùa Vạn Thọ núi Hoàng Cương. Sau đi du phương tìm thầy học đạo, trở thành Đại Đức, là vị thiền sư thứ 41 cũng là truyền nhân đời thứ 14 của Thiền tông, được người đời xưng tụng là Địa Tạng Quế Sâm hoặc La Hán Quế Sâm. Khi tịch, ông được ban danh hiệu “Chân Ứng Thiền Sư”

0127a Quế Sâm Khai Ngộ Cho Pháp Nhãn Văn Ích

Tâm là Vật, Vật là Tâm

Bởi vì tâm và vật là bất nhị, không phải là hai, cũng không phải là một, do đó mọi người rất dễ nhầm lẫn. Trong câu chuyện Quế Sâm khai thị cho Pháp Nhãn, thật ra lời nói không có nghĩa thật. Chỉ vì Pháp Nhãn còn chấp nên mới bị cười đế phá chấp, chứ không phải câu trả lời là đúng hay sai. Ví dụ hỏi :

-Tảng đá nằm trong tâm hay nằm bên ngoài của thượng tọa ? Pháp Nhãn trả lời :

-Nằm trong tâm

Dù trả lời nằm trong tâm hay nằm ngoài tâm đều bị cười (vì còn chấp).

Thực tế có hai hình thái : Hình thái 1: tâm là tảng đá, tảng đá là tâm. Hình thái 2: tâm không phải là tảng đá, tảng đá không phải là tâm.

Thói quen nhận thức của người bình thường điên đảo mộng tưởng là hình thái 2 (tà kiến chấp một bên). Người giác ngộ phá cái thói quen nhận thức đó nhưng thật ra cũng không phải bỏ, bởi vì trong cuộc sống đời thường thì hình thái 2 vẫn hữu dụng. Ví dụ tảng đá nặng 200kg thì phải cần 8 người lực lưỡng mới dời chỗ được, hoặc phải dùng một chiếc xe ủi đất mới bê nó đi được.

Tuy nhiên với một người có đặc dị công năng như Hầu Hi Quý, ông có thể ứng dụng hình thái 1 để dời một cái bàn bằng kim loại mạ vàng rất nặng từ nhà của tỷ phú Lý Gia Thành đến văn phòng của ông như câu chuyện sau đây : không dùng cơ bắp chỉ dùng tâm lực mà thôi vẫn có thể chuyển cái bàn đi xa hàng chục km.

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

Tuy Hầu Hi Quý thực hiện được điều thần kỳ nhưng thật ra công năng của ông còn rất hạn chế nên mới bị mệt. Chứ đối với bậc giác ngộ làm chủ được tâm như Đức Phật thì việc di chuyển một quả núi cũng dễ như trở bàn tay. Việc này đã được Ngô Thừa Ân diễn tả trong truyện Tây Du Ký. Phật đã biến ra quả núi đè Tôn Ngộ Không dưới núi Ngũ Hành Sơn.

Kết luận :

Con virus corona SARS-CoV-2 cũng là tâm chứ không phải cái gì khác. Nó cùng với tâm và con người là bất nhị (không phải hai cũng không phải một). Phải thấu triệt bản chất của nó là như thế mới trị được nó. Nó rất thông minh (cũng là Phật tánh mà !) nên biến hóa rất tài tình, từ dạng alpha, nó biến thể thành beta rồi delta để làm khổ loài người, nó lại còn biến thể thành lamda nữa. Thật ra nói nó làm khổ con người là nói theo chủ quan của con người, chứ nó là sứ giả của Trời xuất hiện để thi hành luật nhân quả. Những người có vay nợ thì nó sẽ đến đòi mạng, còn ai không thiếu nợ thì nó sẽ bỏ qua.

Con người sống trên đời ăn thịt cá, tôm cua, hải sản, mỗi ngày giết hại bao nhiêu heo bò gà vịt…Mọi người đều cho rằng đó là việc bình thường, lương thiện, không vi phạm luật pháp của nhân loại, của các chính quyền. Nhưng đối với luật nhân quả thì đó là vay nợ, vay mạng sống của chúng sinh để phục vụ cho nhu cầu của mình. Tâm hay Trời biết tất cả những việc đó nên sẽ tạo ra những cơ chế nhằm thi hành luật nhân quả một cách công bằng. Chẳng hạn Trời tạo ra thiên tai, lũ lụt, động đất, sóng thần, dịch bệnh để đòi nợ cho những chúng sinh đã bị giết hại.

Cách để phòng chống tại gốc là không tạo nghiệp, không vay nợ thì không phải trả. Hiểu thấu bản chất của con virus thì chúng ta cũng sẽ không còn lo sợ. Nếu mình đã lỡ vay nợ thì chấp nhận trả nợ, đó là lẽ công bằng. Còn nếu mình không có vay nợ thì mình sẽ nằm trong số người  hoặc là không nhiễm bệnh, hoặc có nhiễm nhưng nhẹ và qua khỏi, không bị tử vong.

Tóm lại đằng nào thì cũng không cần lo sợ. Chúng ta hãy tuân theo tất cả những biện pháp mà chính quyền đã ban hành nhưng về mặt tâm lý thì vẫn cứ bình an không cần thiết phải lo sợ. 

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

TA LÀ AI TỪ ĐÂU ĐẾN?

Ta thực sự là ai ?

Ta là ai ? Câu hỏi đề tài của tháng này được gợi ý từ một quyển sách của nhà báo Phan Đăng mới ra mắt rất gần đây thôi. Đó là quyển sách “39 câu hỏi cho người trẻ” nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt của quyển sách là Ta Đi Tìm Ta. Chữ Ta đầu là “cái tôi thực tế hiện tại của mình” còn chữ Ta sau là “cái tôi bản sắc thực sự của mình” Tìm đúng được bản sắc thực của chính mình mới hạnh phúc vững chắc lâu dài. Nền giáo dục của xã hội hiện nay cũng có tiêu chí là giúp học sinh tìm ra cái bản sắc đó của mỗi người và nuôi dưỡng nó trở thành một nhân tài độc đáo cho xã hội.

Chính vì vậy mà quyển sách của Phan Đăng rất hot và ngay lập tức được nhà xuất bản Kim Đồng xúc tiến in ấn và phát hành.

Buổi ra mắt giới thiệu quyển sách

Đối với xã hội thông thường thì như thế là tốt rồi. Nhưng đối với Thiền thì giải đáp đó chưa đạt tới độ sâu mà các hành giả tham thiền nhắm tới. Cái tôi bản sắc thực sự của mỗi người cũng chưa phải là cái ta cứu cánh. Vậy cái ta cứu cánh là gì ? Ta là ai từ đâu đến, đây là đề tài được bàn luận trong bài viết này.

Cái ta cứu cánh được thiền diễn tả qua Thập Mục Ngưu Đồ (Mười bức tranh chăn trâu).

Trong 10 bức tranh chăn trâu thì bức thứ 10 diễn tả cái ta cứu cánh đó, hành giả đã ngộ ngũ uẩn giai không, kiến tánh thành Phật, ta với Phật đồng nhất thể, tất cả chúng sinh cũng vậy, pháp giới bình đẳng, ai cũng là Phật đã thành, không còn phải tìm cầu cái gì nữa cả.

Trong mười bức tranh chăn trâu, Thập mục ngưu đồ  十牧牛圖 của Thiền, thì đây là bức tranh thứ 10 nhập triền thuỳ thủ 入廛垂手 (buông tay vào chợ)

露胸跣足入廛來 Lộ hung tiển túc nhập triền lai Chân trần lộ ngực bước vào thành

抹土涂灰笑滿腮 Mạt thổ đồ hôi tiếu mãn tai     Đất lấm than lem tiếu “khách khanh”

不用神仙真秘訣 Bất dụng thần tiên chân bí quyết  Bí quyết thần tiên đâu cần đến

直教枯木放花開 Trực giao khô mộc phóng hoa khai  Cây khô cũng khiến nở hoa lành

Bức tranh mô tả tâm trạng của một người giải thoát, tự tại, vào chốn hồng trần hỗn tạp, không còn vướng bận bởi bất cứ chân lý hay giáo điều nào, vì đã trực ngộ tánh không của vạn pháp.

Tánh không của vạn pháp cũng tức là Phật tánh, tánh giác ngộ, tâm bản nguyên của mỗi người, cái đó mới thật là mình, tất cả mọi chúng sinh đều cùng một Phật tánh đó cả.

Thiền sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价(807-869 Đời Đường) đã làm bài kệ mô tả :  

切忌从他觅  Thiết kị tòng tha mịch   Rất kị tìm cầu ở người khác

迢迢与我疏  Điều điều dữ ngã sơ       Như vậy là xa với chính mình

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng      Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ       Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã      Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ          Mà mình không phải là nó

应须恁么会  Ưng tu nhẫm ma hội       Phải ngộ được như thế

方得契如如  Phương  đắc khế như như   Mới khế hợp với chân như

Ý của bài kệ nói rằng cái ta thật sự của mình là Phật tánh, nó ở khắp mọi nơi (处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ). Nó cũng là chính mình chứ không phải ai khác (渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã) Nhưng cái ta thực tế đang là của mình, hay cái ta bản sắc của mình, đều không phải là nó (我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ ) Cái ta bản sắc của mình mà nhà báo Phan Đăng đề cập chỉ là cái bóng dáng ảo ảnh của nó. Còn cái ta thật thì vô hình, bất biến, không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng, mà thuật ngữ Phật giáo gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)được đề cập trong Kinh Đại Bát Nhã 大般若經 quyển 449 Phẩm Chuyển Bất Chuyển 轉不轉品 Vô sinh pháp nhẫn nghĩa là cái pháp bất biến (pháp nhẫn 法忍) không có sinh diệt (vô sinh 無生)

Vô sinh pháp nhẫn cũng tức là Tâm như hư không vô sở hữu mà Long Thọ Bồ Tát đã nói. Tâm là bất nhị, không phải Có, cũng không phải Không Có. Đó là câu trả lời cho câu hỏi Ta là ai từ đâu tới ? mà các hành giả tham thiền đều muốn trực tiếp tiếp xúc với nó không qua suy nghĩ tưởng tượng mà thuật ngữ Phật giáo gọi là giác ngộ hay kiến tánh thành Phật.   

Còn cái ta thực tế hay cái cái ta bản sắc của mỗi người thì thiên hình vạn trạng, tam giới có vô lượng chúng sinh thì có vô lượng cái ta đó, không ai giống ai nhưng nguồn gốc của vô lượng chúng sinh đó chỉ là cái Tâm bất nhị mà thôi. Chính vì lẽ đó Phật giáo mới nói pháp giới bình đẳng, ai cũng là Phật, không hề thua kém Thích Ca Mâu Ni chút xíu nào. Chính Thích Ca lúc giác ngộ, câu đầu tiên thốt ra chính là :

「奇哉,奇哉,一切众生皆有如来智慧德相,乃因妄想执着而不能证得」 

“Kỳ tai, kỳ tai, nhất thiết chúng sinh giai hữu Như Lai trí huệ đức tướng, nãi nhân vọng tưởng chấp trước nhi bất năng chứng đắc”  (Lạ thay, lạ thay, tất cả chúng sinh đều có đức tướng, trí huệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc).

Ta ngũ uẩn nên làm gì ? (ngũ uẩn ngã 五蘊我)

Cái ta thực tế kể cả cái ta bản sắc chính là ngũ uẩn ngã, đó cũng chính là cuộc sống đời thường hàng ngày của chúng ta. Cuộc sống đó bị ràng buộc bởi không gian, thời gian và số lượng, bởi các quy luật vật lý, định lý, nguyên lý mà khoa học đã phát hiện mấy ngàn năm qua. Cuộc sống đó có tính tương đối và tùy duyên. Nó phải tùy duyên sau khi thập nhị nhân duyên phát huy được tác dụng. Thập nhị nhân duyên phát huy được tác dụng khi niệm đã khởi lên, sóng tiềm năng vô hình đã biến thành hạt cơ bản và tạo ra các cấu trúc vật chất như nguyên tử, phân tử, chất sống, cố thể vật chất, và sinh vật, con người. Tôi thử mô tả cuộc sống đời thường của mình làm ví dụ.

Tuổi thất thập tôi sống thế nào ?   

Người phương Đông (TQ, VN) có cách tính tuổi khác với người phương Tây. Tuổi của người phương Đông được tính khi bào thai bắt đầu hình thành. Do đó khi đứa trẻ vừa sinh ra là đã được một tuổi. Khi bước qua năm mới âm lịch nó lại được thêm một tuổi nữa. Còn người phương Tây tính tuổi bắt đầu từ ngày sinh, phải đủ một năm sau nó mới được một tuổi. Do đó tuổi ta thường lớn hơn tuổi tây một tuổi. Tình theo tuổi ta thì tới tết sắp tới tôi đã bước vào tuổi thất thập.

Tuổi thất thập được coi là tuổi già, nghỉ hưu đã gần chục năm rồi, sức khỏe cũng đã suy giảm nhiều, nhiều người cũng đã ra đi trước khi đến tuổi này. Còn tôi thì sao ?

Thời xưa người già thường sống với con cái nhất là với con trai. Nhưng ngày nay tình hình đã khác xưa nhiều. Người thời nay không có nhiều con, hai ba đứa đã là nhiều. Tinh thần bình đẳng nam nữ được nhà nước và xã hội đề cao, do đó việc có con trai cũng không còn bức thiết, tôi đã có hai con gái thì cũng không cần kiếm thêm con trai nữa.      

Nhà tôi vốn có truyền thống coi trọng học thức nên tất cả chị em tôi 5 người đều tốt nghiệp đại học mặc dù cha mẹ tôi cũng không phải là khá giả, nhưng lo cho con cái đi học đến bậc đại học là ưu tiên, tiêu chí quan trọng bậc nhất của gia đình. Đến thế hệ tôi cũng vậy, con cái nên tốt nghiệp đại học xong hãy làm gì thì làm. Thời đại của các con tôi là đầu thế kỷ 21. Đứa lớn thì tốt nghiệp đại học và bắt đầu đi làm. Đứa nhỏ thì ra đời vào năm cuối của thế kỷ 20 và lớn lên trong thế kỷ 21. Các con có khuynh hướng ra nước ngoài làm việc và sinh sống. Các con có nguyện vọng thế nào thì cứ theo đuổi nguyện vọng của mình, tôi không phản đối. Có nhiều gia đình con cái ra nước ngoài kết hôn, hoặc học tập, hoặc làm việc, xong ở lại lập nghiệp luôn ở nước ngoài không muốn trở về. Do đó cha mẹ phải chuẩn bị cho cuộc sống cô đơn một mình. Trường hợp của tôi càng cô đơn hơn vì bà xã đã ly hôn để theo đuổi một ý nguyện từ thiện khác.

Trường hợp người già phải sống cô đơn không phải là hiếm vì con cái phải đi làm ăn xa hoặc kết hôn ở nơi xa không sống chung với cha mẹ.

Do đó vấn đề là người già nên sống như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh mà vẫn sống vui sống khỏe, sống trọn tuổi trời, bất chấp hoàn cảnh cô đơn như thế nào.

Tôi đã sống trong hoàn cảnh cô đơn đã được 4 năm khi con gái nhỏ của tôi bắt đầu đi du học. Còn chị của nó thì đã ra nước ngoài làm việc, rồi lập gia đình, định cư nước ngoài trước đó nhiều năm rồi. Tôi cũng có một cô em gái cũng rơi vào hoàn cảnh cô đơn vì không có gia đình, sống với mẹ già, khi mẹ qua đời thì cũng một mình trơ trọi. Tôi và cô em gái đều có nhà riêng ở cạnh nhau, ăn cơm chung cho tiện nhưng mỗi người đều có cuộc sống riêng, ở nhà riêng, hỗ trợ nhau khi cần thiết nhưng vẫn là nhà ai nấy ở, không ở chung nhà.

Vấn đề của người già nghỉ hưu là lấy tiền ở đâu để sống ? Thông thường những người lao động có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu. Nhưng gần đây nhất ILO (International Labour Organization= Tổ chức lao động quốc tế) cảnh báo sẽ có khoảng 16 triệu người Việt Nam có thể sẽ không có lương hưu vào năm 2030. Còn ngay bây giờ nhiều người cũng giống như tôi là không có lương hưu bởi vì đã không đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm và lúc nghỉ hưu chỉ lãnh BHXH một lần. Như vậy tôi phải tự kiếm việc làm thêm mới có thu nhập hàng tháng mà sống qua ngày. Công việc phù hợp nhất là dạy kèm ngoại ngữ hoặc dịch thuật khi có ai đặt hàng. Thu nhập kiểu này thật ra là rất bấp bênh và thường không đủ cho mức sống tối thiểu. Nhưng tôi còn may là không phải thuê nhà và các con đã trưởng thành không phải nuôi, ngược lại các con ở nước ngoài có thể hỗ trợ khi tôi bị thiếu hụt nhưng cũng trong điều kiện là tôi phải hết sức tiết kiệm để không trở thành gánh nặng cho chúng.          

Người già đã nghỉ hưu có nhiều thời giờ. Vậy nên sử dụng thời giờ như thế nào cho tốt ?   

Tôi có thiết lập hai blog để thỉnh thoảng nói lên những suy nghĩ của mình. Một blog chuyên bàn luận về Phật pháp hoạt động từ năm 2011 mang tên Duy Lực Thiền. Như vậy nó đã được 10 tuổi. Nó chuyên về Như Lai Thiền tức là đi vào Tâm bằng con đường tri thức, hiểu Phật pháp qua kiến giải kinh điển và dựa nhiều vào khoa học. Tìm hiểu Phật pháp thì bằng Như Lai Thiền còn thực hành tập luyện thì bằng Tố Sư Thiền, đó là tiêu chí của tôi cũng như của những người cùng ý nguyện. Ngoài ra tôi còn một blog khác mang tên Sơn Hải Quan để phát biểu những cảm tưởng đời thường, thiên về đời thường hơn, cũng bắt đầu hoạt động cùng thời gian với blog kia. Cuộc sống đời thường bao gồm âm nhạc, nhạc Việt, nhạc Hoa, nhạc Pháp, nhạc Anh và nhạc nước ngoài khác. Ngoài ra là những quan hệ xã hội, những mối giao lưu với người thân ở xa, bạn bè, bạn gái hoặc với cơ quan truyền thông, nhất là đài RTI (Radio Taiwan International). Ngoài ra tôi còn có hai tài khoản trên Facebook để giao lưu với bạn bè trong một phạm vi hẹp hơn.

Mỗi tháng tôi viết ít nhất là một bài dài cho Duy Lực Thiền (trung bình 5000 chữ). Thỉnh thoảng khi có hứng khởi thì viết những bài ngắn hơn cho Sơn Hải Quan. Còn trên facebook thì thỉnh thoảng tôi cũng viết những bài liên quan tới thời sự hoặc một sự kiện gì đó. Những bài viết của tôi hơi có tính chất học thuật nên thường có nhân danh, địa danh hoặc từ ngữ quan trọng, trích dẫn bằng nguyên ngữ của tiếng nước ngoài, do đó phải mất nhiều thời giờ tra cứu trên mạng hoặc từ điển. Nhưng nó tạo thuận lợi cho độc giả nào muốn khảo cứu kỹ hơn. Những hoạt động viết lách này cũng chiếm một số lượng thời gian không nhỏ. Nhất là khi phải xử lý những thông tin bằng video như làm phụ đề để phiên dịch hoặc lồng tiếng. Hoặc phải tìm hình ảnh thích hợp để minh họa. Chẳng hạn để tìm hình của một cặp đôi người cao tuổi phù hợp với ý mình, nhiều khi cũng mất thời giờ.

Uống nước, uống cà phê cũng là một hoạt động đáng kể của tuổi già. Tôi không có quá nhiều bạn nhưng cũng không ít bạn thân thiết nên thường vài ngày là có một cuộc hẹn uống cà phê, đa số là ngoài quán nhưng cũng có khi ở nhà bạn. Bạn nam đông hơn nhưng bạn nữ cũng có. Các bạn trạc tuổi thường gặp nhau nói chuyện về đạo lý, Phật pháp, thời sự, âm nhạc. Còn bạn vong niên (chênh lệch lớn về tuổi tác) thì thường tâm sự.

Tôi và bà xã đã ly hôn sau 30 năm chung sống và có hai đứa con gái. Chúng tôi ly hôn không phải do đổ vỡ tình cảm mà do bà ấy muốn kiếm tiền để làm từ thiện nhưng buôn bán thất bại gây nhiều nợ nần, tôi đã mấy lần bán nhà để trả nợ cho bả. Đến lần thứ ba thì bà ấy đề nghị ly hôn để chia tài sản và dùng tài sản được chia để trả nợ. Ban đầu thì đó chỉ là biện pháp pháp lý để tránh việc bà ấy gây thêm nợ nữa. Nhưng bà ấy vẫn không từ bỏ việc buôn bán và tiếp tục gây nợ lần thứ tư nhưng ít hơn vì người ta đã biết bả ly hôn nên không dám cho mượn nhiều. Tôi tiếp tục trả nợ lần thứ tư cho bả. Còn bà ấy thì rời xa nhà lên SG làm việc từ năm 2015 và không trở về nhà nữa. Thái độ của tôi là tùy duyên thôi, bà ấy cứ tự do theo đuổi cuộc sống mà mình mong muốn, tôi không thúc đẩy cũng không níu kéo, và cũng luôn mở rộng cửa để lúc nào bà ấy muốn trở về cũng được.    

Nhân duyên đưa đẩy khiến tôi có hai bạn nữ vong niên, một ở xa, tận đầu kia của đất nước, trao đổi qua tin nhắn, chưa bao giờ gặp nhau ngoài đời. Một ở cùng thành phố nên thỉnh thoảng gặp nhau tại quán cà phê hoặc tại nơi cô ấy làm việc. Hàng ngày cũng có trao đổi qua tin nhắn nhưng cũng ít thôi vì cô ấy bận làm việc. Cô này là một mỹ nhân xinh đẹp và có mối quan hệ cũng khá thân thiết, đem lại rất nhiều cảm hứng nên thường được tôi và một người bạn của tôi mô tả trong một số bài viết. Những bài viết ấy được gởi cho tiết mục Nhịp Cầu Giao Lưu của đài RTI (Radio Taiwan International), những người phụ trách tiết mục này cũng rất quan tâm nên họ trích đọc khá nhiều trong khi trả lời thư của chúng tôi.

Tại sao họ quan tâm tới thư từ và bài viết của tôi ? Bởi vì sự đồng điệu, tôi thích uống cà phê, các cô phụ trách tiết mục cũng thích uống cà phê nên đồng điệu. Lý do thứ hai là câu chuyện khá hi hữu, đó là một câu chuyện tình vong niên, tôi sắp bước vào tuổi thất thập còn cô bạn ấy chỉ bằng tuổi con gái tôi thôi. Lý do thứ ba tạo ra sự hấp dẫn vì cô ấy là một mỹ nhân xinh đẹp. Bóng dáng mỹ nhân làm cho câu chuyện trở nên hứng thú hấp dẫn hơn. Lý do thứ tư là tôi có khá nhiều tri thức mà các cô ấy có thể học hỏi, chẳng hạn vô sở trụ 無所住 là một khái niệm rất đáng để tìm hiểu, các cô rất muốn biết. Ngoài ra tôi còn đưa ra khái niệm về tình yêu tánh không khiến các cô rất tò mò. Mặt khác về mặt khoa học tôi đề cập tới viễn tải lượng tử (quantum teleportation) là cách để vượt qua khoảng cách không gian khổng lồ thể hiện trong câu chuyện tình ngày thất tịch giữa Ngưu Lang và Chức Nữ. Đó đều là những khái niệm rất mới mẻ.   Do nhân duyên đưa đẩy, tôi có bạn gái vong niên. Tuy nhiên đây cũng chỉ là quan hệ giao lưu có hơi thân mật nhưng cũng sẽ không tiến xa, bởi vì tôi vẫn còn dành chỗ cho bà xã trở về, mà dù bà ấy có không trở về thì tôi cũng sẽ chỉ sống một mình tới cuối đời thôi, không tạo thêm sự ràng buộc.

Cô bạn gái vong niên

Tôi thường xuyên viết thư cho đài RTI, do đó các cô biên tập viên của tiết mục Nhịp Cầu Giao Lưu đã dành khá nhiều thời giờ để trả lời thư của tôi, họ coi tôi là một trong các thính giả ruột của đài và tỏ ý khi đại dịch Covid-19 qua đi, họ sẽ về VN thăm thân nhân và sẽ xuống Cần Thơ để đi uống cà phê với chúng tôi. Ngoài ra một anh bạn của tôi từ hồi còn học trung học đến nay đã hơn nửa thế kỷ, cũng tham gia vào những cuộc hẹn hò uống nước với cô bạn và cũng có viết thư cho đài, đây là một đoạn trích mà các cô phụ trách tiết mục trả lời thư của anh bạn tôi :

Đài RTI trả lời anh bạn về một danh từ đồng nghĩa với “làm bóng đèn”

Các cô có khen cô bạn của chúng tôi xinh nên cô ấy cũng có nhắn tin trả lời :

 “Em cảm ơn 2 cô rất nhiều rất nhiều. Nếu có duyên gặp lại 2 cô, mời uống café. Chúc 2 cô càng ngày càng xinh đẹp, trẻ mãi không già. Chúc 2 cô luôn luôn khỏe và hạnh phúc.”

Tóm lại ngày nay ai cũng có thể tham gia vào truyền thông qua các mạng xã hội, nổi nhất là Facebook, hoặc giao tiếp cá nhân qua các OTT (Over The Top) như Viber, Zalo, Whatsapp, qua các blog miễn phí mà ai cũng có thể thiết lập cho mình, nổi nhất là WordPress.com mà tôi đã thiết lập 2 blogs. Hoặc một hoạt động phổ biến nhất của mọi người là đi uống cà phê.

Uống cà phê hoặc uống nước chỉ là cái cớ thôi, điều quan trọng là bạn bè gặp nhau chuyện vãn. Nếu gặp nhau tại nhà thì khá mất công phiền toái, phải chuẩn bị, xong còn phải dọn dẹp. Tốt nhất là vài ba người kéo nhau ra quán nước, không có sự phân biệt chủ khách, có nhân viên của quán phục vụ, ở một vài quán còn có tiếp viên xinh đẹp chào mời rất vui vẻ, nên thoải mái hơn ở nhà. Tiền nước cũng rẻ, trung bình chỉ khoảng hơn 10 nghìn một ly nước, vài ba người cũng chỉ khoảng 50 ngàn trở lại.

Ngoài giao tiếp xã hội, người già cũng phải chăm nom nhà cửa, quét nhà lau nhà, quét sân, nhổ cỏ, chăm sóc hoa kiểng, cắt hàng rào, thu hoạch chút ít trái cây trồng quanh nhà như chuối, mít, xoài, mận. Người ở chợ không có đất trồng cây thì có thể trồng hoa kiểng trong chậu.

Một vấn đề quan trọng nhất của người già, đó là sức khỏe. Làm thế nào ở tuổi thất thập chúng ta vẫn duy trì được sức khỏe tốt, đủ sức để đi xe máy. Xe máy là phương tiện giao thông phổ biến ở VN, chúng ta đi hội họp với bạn bè tất nhiên phải đi xe máy. Mắt phải đủ sáng để thấy rõ đường đi, thể lực phải đủ khỏe để dắt xe và lái xe, phản ứng phải đủ nhanh nhạy để không xảy ra tai nạn. Điều này thật ra không có gì khó, ai đã quen đi xe máy từ lúc trẻ thì tới tuổi thất thập vẫn đi xe máy được là điều bình thường. Những người vẫn còn có người hôn phối thì phải đủ sức khỏe để sinh hoạt vợ chồng. Người sống cô đơn một mình nhưng có bạn tình thì cũng phải đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của bạn.

Làm sao để có đủ sức khỏe đảm bảo tất cả những yêu cầu của cuộc sống như trên ? Theo kinh nghiệm của tôi thì điều quan trọng nhất là tâm phải an. Tâm của bạn phải hoàn toàn an tĩnh không có bất cứ lo âu gì. Làm thế nào mà tâm an được khi đất nước của tôi bị ngoại bang đe dọa ? khi người thân của tôi bị tai nạn hay bị bệnh tật, kinh tế của tôi èo ọt thiếu hụt, đại dịch đang hoành hành cả thế giới ? Bạn phải hiểu rằng lo âu của bạn dựa trên những khái niệm cơ bản đã là sai lầm. Sai lầm cơ bản nhất là cái tôi (ngã), nó có thật hay không hay chỉ là một vọng tưởng ? Cái tôi chẳng khác gì cái smartphone, người ta sản xuất ra hàng tỷ cái điện thoại, mỗi điện thoại đều có đặc điểm riêng nghĩa là đều có “cái tôi” của nó. Sai lầm kế tiếp là “cái của tôi” (ngã sở). Cái gì là của tôi, nó có thật hay không ? từ vật chất cho tới tinh thần ? Cả một nền giáo dục từ gia đình cho tới xã hội đều dạy cho bạn những khái niệm sai lầm đó. Kết quả là tranh giành tài nguyên, biển đảo, thù hận, chiến tranh, nước lớn, nước nhỏ đều cùng theo đuổi những khái niệm sai lầm đó, nên kết quả là thế giới không có hòa bình, thế giới chia phe để chống đối lẫn nhau, đó có thể coi là một trò chơi, một game. Một phe phương Tây bao gồm các nước dân chủ do Mỹ dẫn đầu có lực lượng quân sự là NATO bảo vệ, bao gồm 30 quốc gia với dân số khoảng 800 triệu người. Phe phương Tây còn có bộ tứ kim cương (Quadrilateral Security Dialogue= Đối thoại An ninh bốn bên gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật, Úc) ủng hộ. Một phe là phương Đông có hai quốc gia khổng lồ là Nga và TQ bắt tay nhau để chống lại phương Tây. Nga có lãnh thổ khổng lồ với 17 triệu km2 tài nguyên rất dồi dào. TQ có dân số khổng lồ với 1,4 tỷ người.           

Hai phe kình chống nhau thì chẳng có kết quả gì tốt đẹp cả, mà nó có nguy cơ dẫn tới thế chiến thứ ba sẽ tiêu diệt cả nhân loại, nhất là hai phe đều có rất nhiều vũ khí hạt nhân. Đó là một trò chơi nguy hiểm.

Phật pháp dạy rằng Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là 5 tập hợp bao gồm Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (nhận thức, phân biệt) đều là không, không có thực chất, chỉ là ảo mà thôi. Ngã tức là cái ngũ uẩn không có thực chất đó. Còn ngã sở (cái của tôi) là đối tượng của cái ngã ảo tưởng đó bao gồm Sắc (vật chất), Thanh (âm thanh, tiếng động), Hương (mùi thơm, thúi), Vị (cảm giác của lưỡi : ngọt, mặn, chua, cay, đắng…) Xúc (cảm giác của thân thể : trơn, nhám, êm, sốc, nóng, lạnh…) Pháp (chỉ chung tất cả sự vật, cả vật chất và tinh thần). Lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não). Lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác của thân thể, hiểu biết). Cộng chung 18 loại cảnh giới Phật pháp gọi tắt là 18 giới, đều chỉ là tưởng tượng không có thật, Phật pháp gọi là Thế lưu bố tưởng 世流布想 tức là tưởng tượng đã thành thói quen phổ biến qua nhiều đời nhiều kiếp trên thế gian, không có gì là thật cả.

Không phải chỉ có Phật pháp nói như vậy, mà nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr cũng nói giống như vậy. Bohr nói rằng hạt cơ bản của vật chất không có thật, hạt chỉ xuất hiện khi có người quan sát (Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập (Isolated) nghĩa là sao ? Cô lập nghĩa là tách rời khỏi con người hoặc cảm biến (sensor có tác dụng cũng giống như giác quan của con người). Khi bị cô lập như thế thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng. Điều đó có nghĩa là hạt cơ bản (particles) chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Nếu không có người quan sát thì hạt chỉ là sóng tiềm năng, vô hình, không có thật). Bohr diễn tả lập trường của mình khi nói về cơ học lượng tử (quantum mechanics) như sau :  

Ông nói : “Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Khi chúng ta thấu hiểu tánh không của vũ trụ vạn vật thì chúng ta sẽ không còn quá cố chấp vào “cái tôi” và “cái của tôi” nữa. Mọi việc đều tùy duyên, không nhất thiết phải tranh giành, bởi vì tất cả mọi sự vật đều không tuyệt đối có thật. Thế thì tâm sẽ an.

Tâm an là một nhân tố quyết định ảnh hưởng tới sức khỏe bởi vì cơ thể sẽ không tạo ra các hormone có hại cho cơ thể. Ví dụ khi buồn rầu đau khổ thì người ta sẽ biếng ăn, nuốt thức ăn không trôi. Cơ thể không tiết ra hormone tiêu hóa. Khi sân hận thì cơ thể tiết ra chất độc, huyết áp có thể tăng đột biến đến mức gây đột quỵ. Tâm lúc nào cũng bình thản, an vui thì sức khỏe sẽ ổn định. Ngoài ra chúng ta nên tập thể dục dưỡng sinh hàng ngày để máu huyết lưu thông điều hòa, hoạt động cơ thể cân bằng, cũng giúp duy trì sức khỏe tốt.

Kết luận            

Người già phải sống cô đơn một mình ngày càng phổ biến do tỉ lệ sinh ngày càng thấp, tuổi thọ bình quân của con người ngày càng kéo dài ra, tâm lý của giới trẻ không thích sống chung với cha mẹ. Thơ của Đỗ Phủ nói : (trích Thơ Khúc Giang bài 2 曲江其二)

Nhân sinh thất thập cổ lai hy 人生七十古來稀 Đời người bảy mươi xưa nay hiếm       

Ngày nay ý này không còn đúng nữa bởi vì người 70 tuổi rất nhiều chứ không còn hiếm nữa. Tuổi thọ trung bình của người VN hiện nay là 74 tuổi chứ không phải 40 như hồi xưa nữa.

Do đó người già sống một mình phải thích ứng với hoàn cảnh, không coi đó là bi kịch, phải chấp nhận hoàn cảnh đó và vẫn duy trì các hoạt động thể xác và tinh thần một cách hài hòa và vui vẻ cho tới khi sức sống cạn kiệt và ra đi thanh thản không có gì phải vướng bận. Tôi phấn đấu theo chiều hướng đó, sống khỏe mạnh không bệnh, ít ra là không bệnh nặng, không bao giờ phải nằm bệnh viện.

Trong đời sống hàng ngày, dù không còn đi làm việc ở cơ quan nhưng tôi vẫn duy trì các hoạt động giao tiếp xã hội qua mạng đối với người ở xa, vẫn có những bài viết để nói lên rằng mình vẫn còn hiện hữu, vẫn có thể có một chút hữu ích nào đó cho người khác với tri thức và kinh nghiệm sống của mình, ít nhất là cũng giúp người khác giải trí, giải khuây tí chút nào đó như thơ của Nguyễn Du :       

Lời quê chắp nhặt dông dài

Mua vui cũng được một vài trống canh   

Trong đời sống con người, tuổi già cũng không nhất thiết phải suốt ngày gõ mõ tụng kinh, niệm Phật, tu hành khổ hạnh, tham thiền không ngơi. Mục đích của Phật giáo cũng không phải như thế. Phật giáo hướng dẫn chúng sinh giác ngộ, không còn quá chấp ngã, chấp pháp, nhưng cũng không phải là muốn tiêu diệt cuộc sống thế gian. Chỉ là thoát khỏi sự trói buộc vô minh của cái tôi (ngã) nhận ra tâm bản nguyên mới thật là mình. Giác ngộ là để tự do tự tại không còn bị cái gì trói buộc nữa. Thế nhưng cuộc sống của chúng ta trên thế gian này cũng phải tùy duyên. Nếu nhân duyên đưa đẩy tôi gặp một cô bạn vong niên xinh đẹp trong hoàn cảnh cô đơn, cả hai đều không còn ràng buộc với người hôn phối, thì tại sao phải từ chối, không được mở ra một cuộc tình lãng mạn ? Phật giáo khuyên phải từ bỏ ái dục. Nhưng liệu trên đời có một loại quan hệ gọi là tình yêu tánh không (TYTK = empty love) không ? Một loại tình yêu giác ngộ mà cả hai đều đạt tới cảnh giới vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở úy (sợ), không có bóng dáng của sân si, hờn giận, đau khổ. Đó là điều tôi muốn trải nghiệm và cũng khá thành công sau hai năm trải nghiệm thực tế và vẫn còn tiếp tục.    

TB

Đăng tải tại Bài viết | 6 bình luận

HIỂU PHẬT PHÁP LÀ NHƯ THẾ NÀO ?

Phật pháp (PP) không dễ hiểu, đó là điều mà nhiều người cảm nhận. Tại sao ? Bởi vì PP có rất nhiều pháp môn và các pháp môn này dành cho các hành giả khác nhau với mức độ nhận thức khác nhau. Sự khác nhau này có thể trái ngược nhau khiến nhiều người hoang mang. Vì vậy PP thật sự là khó hiểu.

Giáo lý cơ bản của PP là Tứ Diệu Đế 四妙諦 (catvāry āryasatyāni) Bát Chánh Đạo 八正道(āryāṣṭāṅgamārga), cao hơn chút nữa là Thập Nhị Nhân Duyên 十二因縁 (dvādaśanidāna)   

Con đường cao thượng hàng đầu
Là “Bát Chánh Đạo” nhiệm mầu biết bao,
Bốn điều chân lý tối cao
Là “Tứ Diệu Đế” dễ nào sánh ngang,     

Vậy những hành giả tu theo Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo có kiến tánh thành Phật được không ? Câu trả lời là không. Tại sao ? Đó là giáo môn. Giáo môn là những pháp môn dựa trên lời dạy của Đức Phật, ví dụ như Tứ Diệu Đế. Phần lớn kinh điển nguyên thủy đều là giáo môn, dạy cho những người sơ cơ. Nó tương ứng với Nhân Thiên Thừa của Phật giáo. Hành giả có thể gặt hái nhiều phước báu nếu đầu thai cõi người, hoặc cao hơn một chút là sanh ở cõi trời sống lâu dài hơn cõi thế gian nhưng vẫn chưa giác ngộ. Hết phước vẫn có thể đọa vào cõi súc sinh. Một ví dụ điển hình là Uất Đầu Lam Phất.

Có một hành giả  tên là Uất Đầu Lam Phất 郁头蓝弗 (Udraka Rāmaputra )nguyện được sinh cõi trời, ông ta ở trên núi tập thiền định, trong lúc thiền, trên núi có tiếng chim kêu inh ỏi ảnh hưởng tới tâm lý ông ta, ông bèn nổi sân hận, nói, “ta sẽ biến thành loài chồn bay (phi ly 飞狸) ăn thịt hết chúng bây”. Đó là một niệm sân hận, nhưng ông ta tu có thành quả được sinh ở cõi trời. Ông ta được sinh ở cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng (cõi trời cao nhất thuộc vô sắc giới), thời gian ở đó rất lâu dài. Nhưng vì lúc ông ta tu thiền định có khởi niệm sân hận, nên khi tuổi thọ ở cõi trời hết, trở lại thế gian, ông ta biến thành con chồn bay, chuyên bắt chim ăn thịt. Đó là Phật kể câu chuyện về một ác niệm. 

Vậy tại sao người tu theo Tứ Diệu Đế không thể giác ngộ ? Bởi vì còn chấp ngã (chấp có ta là người đang đau khổ) và chấp có pháp môn là thật. Đã chấp thật như vậy thì tu hoài, tu mãi cũng không thể giác ngộ. Sau một thời gian dài đi lòng vòng mà không thể giác ngộ thì hành giả mới ngộ ra là phải bỏ đường vòng đi đường thẳng mới đến nơi được. Đi đường vòng giống như đi trong mê cung (maze) đi mãi mà không thoát ra được.  

Trong lịch sử Phật giáo có sư Vĩnh Gia Huyền Giác 永嘉玄覺 ban đầu tham học Đại tạng kinh (kinh điển của giáo môn) nhưng sau một thời gian dài nhờ có tham chiếu những kinh điển thuộc Đại Thừa như của Thiên Thai tông và Hoa Nghiêm tông mới giác ngộ.

Trong Phật giáo nguyên thủy cũng có một phần kinh điển dạy ở mức độ cao hơn gọi là Vi Diệu Pháp 微妙法hay dịch âm là A Tỳ Đạt Ma 阿鼻達磨 (Abhidhamma) gồm 7 bộ nhưng rất khó hiểu. Về sau các Tổ Sư dựa vào đó mới triển khai thành nhiều kinh điển Đại Thừa. 

Vi Diệu Pháp dạy về Tâm và Vật cực kỳ khó hiểu. Tôi thử tóm tắt một phần nào, độc giả xem qua là đã thấy tá hỏa không thể nào hiểu nổi. Nhưng nếu không nhận thức được Tâm là gì, Vật là gì thì không thể nào giác ngộ được.

Tâm 心 (Citta) là A-lại-da thức bao gồm 8 thức : tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh tiếp xúc. 5 tánh này gọi chung là Tiền ngũ thức (5 thức đầu hay cơ bản). Thức thứ sáu là tánh biết, tổng hợp tiền ngũ thức do bộ não thực hiện. Thức thứ bảy là Mạt-na (Manas) là thức chấp ngã tạo ra cái ta và cái của ta (ngã sở) của cá thể sinh vật. Thức thứ tám là A-lại-da (Alaya) là Tạng thức tức kho chứa tất cả mọi chủng tử, tất cả mọi phát sinh của bảy thức kia. Như vậy Alaya bao gồm tất cả tam giới, là một kho chứa vô hình, vô lượng, vô biên. Vì vô hình, vô thể, vô dạng, nên Alaya hay Tâm (Citta) không phải là vật chất, mà nó giống như hư không. (Tâm như hư không vô sở hữu) không có thực chất, giống như ảo nhưng lại là thật, là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Nhưng Tâm không phải là hư không vì nó chứa đủ mọi chủng tử (dữ liệu- data) có khả năng biến hoá ra vũ trụ vạn vật.

Tâm Sở 心所 (Cetasika) là các thuộc tính của Tâm. Kinh điển phân tích Tâm có 51 Tâm Sở còn gọi là 51 Hành (sa. saskāra) tức là trạng thái hoạt động, biểu hiện của Tâm. 51 hành bao gồm : 5 Biến hành tâm sở (遍行, sarvatraga), 5 Biệt cảnh tâm sở (別境, viniyata), 11 Thiện tâm sở (善, kuśala), 6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱, mūlakleśa), 20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱, upakleśa) 4 Bất định tâm sở (心所不定aniyata). Nói chung các Tâm Sở là dạng hoạt động của Tâm về hai phương diện Thọ (cảm nhận, perception, sa. vedanā), và Tưởng (suy tư, tưởng tượng, meditation, imagination, sa. sajñā). Tất cả Tâm Sở cũng nằm trong Alaya.

Vật là Vật chất gọi là Sắc 色(Rūpa)

Sắc không những luôn luôn biến đổi mà cũng hoại diệt (khaya, vaya). Sắc ở mức cơ bản (paramāṇus) chỉ tồn tại trong mười bảy sát-na tâm (刹那心 citta-ksana, thời gian của một niệm).

Đại Tỳ Bà Sa Luận định nghĩa sát na 刹那 (Sa.ksana) như sau : Một ngày đêm có 30 mâu hô lật đa 牟呼栗多(muhurta), một mâu hô lật đa bằng 30 lạp phược 臘縛 (lava), một lạp phược bằng 60 đát sát na 怛剎那(tatksana), một đát sát na bằng 120 sát na 刹那 (ksana). Suy ra một ngày đêm 24 giờ bằng 30 x 30 x 60 x 120 = 6.480.000 sát na. Vậy một giây của chúng ta (second) bằng 6.480.000 /86.400 = 75 sát na  

Rūpa (Sắc) biến đổi nhanh chóng đến đổi ta không thể gõ hai lần đúng ngay vào một nơi.     

A Tỳ Đạt Ma Luận 阿毗達摩論, liệt kê 28 loại vật chất (Sắc) như sau :

4 Đại chủng sắc 四大种色 (mahā-bhūta)

Địa giới 地界(pathaví-dhātu)

Thuỷ giới水界(āpo-dhātu)

Hoả giới火界(tejo- dhātu)

Phong giới 風界(vāyo- dhātu)

14 Sở tạo sắc 所造色 (upādāya-rūpa) bao gồm :

5 Tịnh sắc 淨色(pasāda-rūpa) tức 5căn : nhãn眼(cakkhu-pasada)、nhĩ 耳(sota-pasāda)、tị 鼻ghāna-pasāda)、thiệt舌(jivhā-pasāda)、thân身(kāya-pasāda)

4 Cảnh sắc 境色(gocara-rūpa) tức 4 trần: sắc 色(nhan sắc 颜色 vanna thanh 聲(thanh âm 声音sadda)、hương 香(khí vị 气味 gandha)、vị 味 (vị đạo 味道 rasa

2 Tính căn sắc性根色(bhāvarūpa) :

Nam tính男性(hoặc Nam căn 男根 purisindriya)nhiễm sắc thể XY

Nữ tính女性(hoặc Nữ căn 女根 itthindriya)nhiễm sắc thể XX

1 Não bộ gọi là Tâm sở y xứ 心所依處 (hadayavatthu) hoặc Tâm sắc心色(hadaya-rūpa)

1 Mệnh căn 命根(jīvitindriya) còn gọi là Mệnh sắc 命色(rūpa-jivita) Có thể hiểu là tim

1 Đoạn thực 段食(kabalinkārāhāra còn gọi là Thực sắc食色) Lương thực thực phẩm

Tổng cộng 18 loại trên gọi là Hữu tướng sắc 有相色, Hoàn thành sắc 完成色 hoặc Chân thực sắc 真实色

10 loại còn lại gọi là bất hoàn thành sắc 不完成色 liệt kê như sau :

1 Hư không giới 虚空界(ākāsadhātu) còn gọi là Hạn giới sắc 限界色(rūpa-ākāsa) tức không gian

5 loại Biến hoá sắc 变化色(vikāra-rūpa) Loại vật chất biến hoá

2 Biểu sắc của thân thể và ngôn ngữ : thân biểu 身表、ngữ biểu 语表的表色(viññatti-rūpa)

1 Sắc khinh khoái tính 色轻快性(rūpassa lahutā) Loại vật chất nhẹ và nhanh ví dụ ánh sáng

1 Sắc nhu nhuyến tính 色柔软性((rūpassa mudutā) Loại vật chất mềm

1 Sắc quát ứng tính 色适应性(rūpassa kammaññatā) Loại vật chất biến đổi nhanh

4 loại vật chất liên quan Nghiệp, Tâm, Thời gian và Dinh dưỡng.

1 Sắc tích tập 色积集(rūpassa upacaya) Mô và tế bào

1 Sắc tương tục 色相续(rūpassa santati) Mã thông tin di truyền

Sắc tích tập và Sắc tương tục gọi chung là Sinh sắc 生色 Vật chất sống

1 Sắc lão tính 色老性(jarā) Loại vật chất tạo ra sự lão hoá

1 Sắc vô thường tính 色无常性(aniccatā) Loại vật chất tạo ra sự biến đổi

Sắc lão tính và Sắc vô thường tính gọi chung là Tướng sắc 相色(lakkhannarūpa) Vật chất biểu hiện hình tướng

Chỉ nói sơ qua đại khái, tổng quát, đã thấy Tâm và Vật là vô cùng phức tạp rồi. Ai có đủ kiên nhẫn, đủ hùng tâm để thấu triệt Tâm và Vật nào ? Mà không thấu triệt thì không làm chủ được thân tâm, không thể giác ngộ.

Cộng chung 28 loại vật chất gọi chung là Sắc pháp

Chúng ta thấy khoa học ngày nay đã nghiên cứu rất nhiều về vật chất, đã có hàng vạn phát kiến phát minh, đã cải thiện đáng kể đời sống vật chất của con người, nhưng khoa học vẫn chưa thấu hiểu được hết vật chất là gì. Tuy khoa học đã có những phát minh vượt bậc và có những ứng dụng tuyệt diệu, chẳng hạn điện thoại thông minh (smartphone), hệ thống internet, mạng 3G, 4G, 5G…các thành tựu về thám hiểm không gian…nhưng khoa học cũng không bao giờ hiểu hết về vũ trụ vạn vật. Còn vấn đề giữa Tâm và Vật quan hệ thế nào, thời gian, không gian có thật hay không, có thể trở về quá khứ và đi tới tương lai không …khoa học bó tay.       

Chính vì sự phức tạp khó khăn như vậy nên Phật và các vị Tổ Sư mới hướng dẫn Thiền là pháp môn Tối Thượng Thừa để đạt tới cứu cánh giác ngộ.

Thiền dạy cái gì ? Thiền dạy rằng Ngã và Pháp là không có thật. Nếu chúng ta cứ chấp ngã và cho rằng có cái pháp môn để tu hành cho tới giác ngộ (chấp pháp, chấp thế gian là có thật) thì tu muôn kiếp cũng không thể giác ngộ. Thiền dạy rằng Ngã và Pháp (vũ trụ vạn vật) chỉ là biểu hiện bề nổi của Tâm. Tâm tức là Phật, là tánh giác ngộ vốn có và bất sinh bất diệt gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 (anutpattika-dharma-kṣānti). Hành giả phải phát hiện ra Tâm mới chính là chúa tể của vạn pháp,

Tâm mới đích thực là mình còn ngũ uẩn ngã 五蘊我 (cái ta ảo hóa tạm bợ do ngũ uẩn- sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tạo ra) chỉ là biểu hiện của Tâm. Tâm có vô lượng vô biên biểu hiện, thành vô số chúng sinh, vô số pháp, gọi chung là tứ tướng 四相 bao gồm:

Ngã tướng 我相 mỗi chúng sinh đều cho rằng ngũ uẩn ngã là ta 

Nhân tướng 人相 là người khác, chúng sinh khác không phải ta

Chúng sinh tướng 眾生相 là chỉ chung loài hữu tình trong tam giới bao gồm cả ngã tướng, nhân tướng

Thọ giả tướng 壽者相: chỉ chung tất cả các pháp sinh diệt bao gồm cả con người, tất cả các loài sinh vật, tất cả những cái không phải sinh vật như gỗ, đá, nước, không khí, hành tinh, thiên thể…Bởi vì tất cả các pháp sinh diệt đều có tuổi thọ nhất định gọi là thọ giả tức cái có thọ mệnh, có thời gian sống tức tuổi thọ nhất định mặc dù rất lâu dài như mặt trời, hành tinh, thiên thể.

Tứ tướng đều là biểu hiện của Tâm

Phần trên đã đề cập Tâm và Vật theo Vi Diệu Pháp của kinh điển nguyên thủy. Bây giờ tôi trình bày lại Tâm và Vật dưới góc nhìn khoa học.

Tâm theo diễn tả của Long Thọ Bồ Tát : Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư không,  không có thật cũng không phải là giả, mà là bất nhị (không phải hai) cũng không phải là một, thực tế là không có số lượng. Số lượng chỉ là vọng tưởng của bộ não con người, thực tế là không có số lượng. Chính vì lẽ đó mà từ một Tâm hay Phật tánh (tánh giác ngộ, tánh biết) lại biểu hiện thành vô số chúng sinh, vô số pháp. Sự việc này diễn ra như thế nào ? Tâm là một dạng thông tin mà khoa học diễn tả là trường thống nhất (unified field), nó là một dạng sóng tiềm năng vô hình nên còn được gọi là miền tần số (frequency domain) nhưng sóng tiềm năng này bất động (giống như data nằm trong ổ đĩa cừng chưa có hoạt động). Tâm biến thành Vật như thế nào ? Đó là sự sụp đổ của sóng thành hạt (the collapse of waves into particles). Sóng tiềm năng vô hình biến thành hạt vật chất hữu hình. Khi nào thì xảy ra sự sụp đổ này ? Sóng tiềm năng vốn là trường thống nhất vô phân biệt, vô định hình (chưa thành dạng sóng hình sin). Cõi giới đó không có không gian, không có thời gian, không có số lượng mà kinh điển Phật giáo gọi là vô sở trụ 無所住 (non locality) hay vô thủy vô minh 無始無明 (no beginning uncertainty) nhưng nó tự rung động thành sóng vật chất hình sin do một quyền năng mà người xưa cho là Trời hay Thượng Đế, còn Phật giáo nói đó là Tánh Biết hay Tánh giác. Sóng vật chất mang thông tin có phân biệt là dạng sóng hình sin.

Sóng hình sin có sự phân biệt vị trí, khi số hóa thì đỉnh và đáy sóng có thể coi là 1 còn vị trí ở giữa có thể coi là 0

Tuy vậy sự phân biệt này chưa biểu hiện, nó vẫn còn tiềm ẩn và vô hình, đó là dạng lưỡng tính sóng hạt (wave-particle duality) của các hạt cơ bản như photon, electron. Ở dạng sóng, nó vô hình và bất định xứ, còn ở dạng hạt thì nó hữu hình và có vị trí nhất định trong không gian giả lập. Vũ trụ mênh mông mà ta nhìn lên bầu trời thấy vô số tinh tú chính là không gian giả lập đó. Giả lập nghĩa là không có thật. Có thí nghiệm khoa học nào chứng tỏ không gian không có thật ? Có đó, chính là thí nghiệm về liên kết lượng tử hay còn gọi là rối lượng tử (quantum entanglement).

Năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva tiến hành thí nghiệm loại này. Họ có thể cho một photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí cách xa nhau 18km. Tác động lên vị trí A thì tức khắc vị trí B bị tác động tương ứng không mất thời gian. Thí dụ xoay hạt A sang trái thì lập tức hạt B xoay sang phải. Thời Einstein còn sống, ông không tin hiện tượng này có thật, ông nói đó là : tác động ma quái từ xa (nguyên văn : spooky action at a distance). Einstein cũng đã tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr về việc hạt photon hoặc hạt electron có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin (độ xoay) hay không. Quan điểm của Einstein cho rằng hạt luôn luôn có sẵn những đặc trưng đó, cái đó là khách quan. Để minh họa lập trường của mình Einstein nói rằng :

Einstein nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Trái lại Bohr nói rằng hạt không có thật, hạt chỉ xuất hiện khi có người quan sát (Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập (Isolated) nghĩa là sao ? Cô lập nghĩa là tách rời khỏi con người hoặc cảm biến (sensor có tác dụng cũng giống như giác quan của con người). Khi bị cô lập như thế thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng. Điều đó có nghĩa là hạt cơ bản (particles) chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Nếu không có người quan sát thì hạt chỉ là sóng tiềm năng, vô hình, không có thật). Bohr diễn tả lập trường của mình khi nói về cơ học lượng tử (quantum mechanics)

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Cuộc tranh luận giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới chưa ngã ngũ, chưa biết ai đúng ai sai cho đến khi cả hai đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962). Đến năm 1982 tại Paris nhà khoa học Alain Aspect làm lại thí nghiệm liên kết lượng tử, dùng bất đẳng thức của John Bell chứng minh rằng hiện tượng quantum entanglement là có xảy ra thật, từ đó người ta rút ra 3 kết luận vô cùng quan trọng vô cùng cơ bản về khoa học và hiện thực là :  

1/Vật (cụ thể là hạt cơ bản như photon, electron…) không có thật (non realism)

2/Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality)cũng tức là không có thật

3/Số lượng là không có thật (non quantity)

Ngày nay chúng ta dễ dàng hình dung lưỡng tính sóng hạt này bởi vì bây giờ chúng ta đều có thiết bị để thu sóng. Đó là smartphone. Ở dạng sóng wifi, 3G, 4G, 5G…thông tin mà sóng mang theo là vô hình và bất định xứ (không có vị trí nhất định). Nhưng trên smartphone thì sóng đã biến thành hạt electron và được con chip bán dẫn xử lý để chúng xuất hiện trên màn hình thành bài báo, hình ảnh, video, âm thanh, chúng có vị trí nhất định.   

Điều kiện để sóng biến thành hạt là khi có người quan sát hoặc có thiết bị cảm biến để nhận ra sóng. Thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) đã chứng tỏ khi có người quan sát thì sóng biến thành hạt electron. Smartphone chứng tỏ khi có thiết bị cảm biến thì sóng wifi, 4G, biến thành hạt electron. Con chip vi xử lý (processor) biến chúng thành những con số nhị phân và tiếp tục thay thế những con số đó bằng những đặc điểm về màu sắc, hình dáng, độ sáng, độ rung động thành âm thanh, để cuối cùng chúng trở thành bài báo, hình ảnh, video, âm nhạc, tiếng nói mà chúng ta thấy và nghe trên điện thoại hoặc computer, laptop.

Tóm lại vũ trụ vạn vật mà chúng ta đang sống trong đó có hai hình thái cơ bản là sóng và hạt. Ở dạng sóng tiềm năng mà kinh điển gọi là Phật tánh, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, vô phân biệt, không có đặc trưng đặc điểm gì hết, không có một vật nào, không có một pháp nào, không có ai hết, không sinh không diệt gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法 . Đó cũng là Tâm bản nguyên, tất cả mọi chúng sinh đều cùng một tâm đó. Cũng vì vậy mà kinh điển mô tả là nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc  trưng đặc điểm) cụ thể là hạt cơ bản của vật chất không có sẵn các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin.

Chỉ khi tâm của chúng sinh, của con người khởi lên thì tùy theo tập khí (tức là thói quen hay nghiệp) nó sẽ thay thế thói quen tâm niệm của mình vào sóng tiềm năng biến sóng thành hạt vật chất như photon, electron hay các hạt cơ bản khác từ đó tạo ra cảnh giới muôn vàn sai khác. Tâm thiện thì tạo ra cảnh giới tốt lành. Tâm ác thì tạo ra cảnh giới khủng khiếp.

Những hạt cơ bản của vật chất và cấu trúc do hạt tạo ra như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, sơn hà đại địa, thiên thể, mặt trời, mặt trăng, thiên hà, vũ trụ, vạn vật…đều là do tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Vì vậy kinh nói Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 Kinh Hoa Nghiêm còn nói rõ hơn nữa : “心如工畫師,造種種五陰,一切世間中,無法而不造。” [Tâm như vị họa sư tạo ra tất cả các loại ngũ ấm (cũng tức là ngũ uẩn五蘊) tất cả mọi thứ trong thế gian, không có pháp nào mà tâm không tạo ra được].

Như vậy sóng là cảnh giới tiên thiên 先天 chưa có trời đất, chưa có vũ trụ vạn vật, không có pháp nào cũng không có chúng sinh nào hết, không có khổ sướng, không có khổ tập diệt đạo, không có thập nhị nhân duyên (phi nhân duyên 非因緣)

Hạt là cảnh giới hậu thiên 後天 sau khi tâm khởi lên, các hạt cơ bản xuất hiện, chúng cấu trúc thành vũ trụ vạn vật và nhân sinh. Lúc đó mới có thế giới tương đối, có khổ sướng, có thiện ác, có sinh diệt, có đúng sai, có thập nhị nhân duyên (phi tự nhiên 非自然 )

Tóm lại Phật pháp dạy cái gì ?         

Ban đầu Phật pháp dạy cho con người sống trong cảnh giới hậu thiên, phải đi theo con đường Tứ Diệu Đế  四妙諦 (catvāry āryasatyāni) và Bát Chánh Đạo 八正道 (āryāṣṭāṅgamārga), cao hơn chút nữa làThập Nhị Nhân Duyên 十二因縁 (dvādaśanidāna) để giải thoát khỏi cảnh khổ. Hoặc phải toàn tâm hướng về Đức Phật A Di Đà phát nguyện và niệm danh hiệu ngài để lúc lâm chung được sinh về cõi Tây phương Cực lạc không còn khổ.

Nhưng đó chỉ là những pháp môn bất liễu nghĩa, dạy cho những chúng sinh nặng về tình, họ chấp chặt ngũ uẩn ngã, họ không có đủ đại trí để thấu triệt thực tại cứu cánh (rốt ráo) nên phải dạy phương tiện, dạy hóa thành. Họ không thể nào hiểu nổi không gian, thời gian, số lượng, tất cả mọi cảnh giới trong Tam giới đều chỉ là vọng tưởng, do tâm tạo chứ không phải tuyệt đối có thật.      

Đối với người thượng căn, đại trí, Phật dạy Thiền định sau này là pháp môn Tổ Sư Thiền vì do các vị Tổ Sư Ấn Độ và TQ hoằng dương cho đến nay. Thiền định là chấm dứt suy nghĩ, ngừng tưởng tượng. Hành giả tiếp xúc trực tiếp với Tâm bản nguyên, đó mới chính là nguồn gốc bất nhị của Tam giới, của vũ trụ vạn vật. Đó là cảnh giới tiên thiên khi chưa có trời đất, chưa có vũ trụ, không có một pháp nào như trong bài kệ của Huệ Năng :

菩 提 本 無 樹 Bồ Đề bổn vô thọ           Bồ Đề vốn chẳng có cây
明 鏡 亦 非 臺 Minh cảnh diệc phi đài  Gương sáng cũng thế làm sao có đài
本 來 無 一 物 Bổn lai vô nhất vật         Xưa nay nào có vật chi
何 處 惹 塵 埃Hà xứ nhạ trần ai         Bụi trần chẳng thể bám vô cái gì

Tóm lại Phật pháp dạy rằng tất cả mọi cảnh giới dù là thế gian, Tây phương cực lạc, từ sơ thiền cho tới tứ thiền đều là vọng tưởng, là ảo hóa do tưởng tượng chứ không phải tuyệt đối có thật. Không gian, thời gian, số lượng, cảnh giới, đều là do tâm tạo. Vậy hành giả đừng chấp thật nữa, đừng cho là ngũ uẩn ngã là ta, thì tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết ngay tức thời gọi là đốn ngộ 頓悟 là trực há thừa đương 直下承當 (nhìn xuống là thấy- kinh Hoa Nghiêm). Đã ngộ rồi thì tập khí sẽ tự sửa đổi trong một thời gian hữu hạn gọi là bảo nhậm. Bảo nhậm 保任 hàm ý trực há thừa đảm 直下承擔 nghĩa là nhiệm vụ phải gánh vác ngay sau khi giác ngộ, cụ thể là bảo hộ trưởng dưỡng 保護長養 duy trì nuôi dưỡng cái ánh sáng giác ngộ đó đạt tới thành tựu vững chắc. Ví dụ trường hợp của Lục Tổ Huệ Năng sau khi được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn 弘忍 (người huyện Hoàng Mai 黄梅 tỉnh Hồ Bắc) ấn chứng, đã phải trải qua 15 năm bảo nhậm sống chung với nhóm thợ săn để dứt tập khí chấp thật trước khi ra hoằng pháp.    

Các kinh điển Đại Thừa liễu nghĩa như Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa… chỉ thẳng vào tâm, liễu ngộ bản tâm chứ không còn quanh quẫn phương tiện đường dài nữa.

Người căn trí nhỏ hẹp thì phải đi qua nhiều đường vòng quanh co qua nhiều phương tiện trước khi tới được đại lộ đốn ngộ 頓悟. Còn người căn trí rộng lớn thì đi đường thẳng. Phật pháp có đủ mọi pháp môn phù hợp với rất nhiều căn cơ khác nhau của người đời.  

Nhưng điều căn bản Phật dạy là pháp giới bình đẳng, tất cả chúng sinh, tất cả pháp đều là một. Mỗi người tùy theo tập khí, thói quen tâm niệm của mình để tu tập giải thoát. Nhưng kể cả cái gọi là giải thoát cũng không có thật. Nên kinh nói : chúng sinh đều là Phật đã thành. Đức Phật Thích Ca ngay khi vừa mới chứng ngộ đã thốt lên : 「奇哉!奇哉!大地众生,皆具如来智慧德相,但因妄想执着,而不能证得」

{Lạ thay! Lạ thay! Chúng sinh trên mặt đất đều có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ do vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc (mình là Phật)}  

Thiên Thai Trí Giả đại sư 天台宗智者大师 nói :  

1. Chúng sinh vốn là Phật: Dù bạn có tin Phật hay không, có nghe danh hiệu Phật hay không, bạn vốn đã có Phật tánh, đã là Phật, không cần nói “đặt dao đồ tể xuống là thành Phật”, ngay cả khi không đặt dao xuống, họ cũng đã là Phật, vì vậy không chỉ là con người, mà tất cả chúng sinh như con kiến, con ruồi cũng đều là Phật.

2. Tương ưng thành Phật: Người đã tu hành đến nơi đến chốn, lòng tin không thể lay chuyển. Tín tâm thực tế phải có được từ kinh nghiệm tu hành thực tế, nếu biết mình là Phật thì sẽ thành Phật, đây là Phật tương ưng.

Tóm lại bạn hãy tin rằng mình vốn là Phật. Thiền dạy rằng bạn bạn đừng dấy sinh vọng tưởng nữa, hoặc nếu có dấy sinh thì biết đó là vọng tưởng, không phải chân thật, thì bạn đã thành Phật tương ưng, ứng với câu : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 Vô sở trụ tức là bạn không bám víu vào ngã và pháp (ngũ uẩn ngã, không gian, thời gian, cảnh giới…) thì cái tâm ấy (kỳ tâm) xuất hiện. Tâm ấy tức là Phật tánh, là Phật đó.

Bạn và tất cả chúng sinh khác đều đang chơi games, đang đóng kịch mà thôi, đang ở trong một đại hí trường vũ trụ. Trong vở kịch thì có phân biệt giỏi dở, sang hèn, chính diện phản diện, thiện ác, tốt xấu nhưng thực tế chân như thì mọi diễn viên đều bình đẳng, đều là Phật.  

Truyền Bình   

Đăng tải tại Bài viết | 11 bình luận

CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH

Thế nào là cuộc sống lành mạnh ?

Điều quan trọng là tâm thái, trạng thái tinh thần của con người phải lành mạnh, an lạc, không phiền não, không có sự giày vò về cả thể xác và tinh thần. Tâm trạng luôn duy trì ở trạng thái bình tĩnh, không thù oán, không bất bình về bất cứ phương diện gì.

Tâm yên lặng không xao động, không bất bình nổi sóng, là điều rất khó chứ không phải dễ đạt được. Làm sao mà không bất bình khi thấy xã hội đầy bất công, “Cường quyền dậm đạp mái đầu   

Văn chương tám vế say câu mơ màng” hay xã hội đầy bất công, tranh đoạt, cướp bóc, gian trá ? Phải có trí tuệ, hiểu biết sâu sắc về cuộc đời mới có thể giữ được tâm trạng luôn duy trì ở trạng thái bình tĩnh, không bất bình. Bởi vì bất bình chỉ là biểu hiện của ngã tướng, thói quen suy nghĩ của cái tôi. Cái tôi đó đã được hình thành trải qua nhiều đời nhiều kiếp, nó dựa trên thói quen, giáo dục, tư tưởng, văn hóa, nếp sống của xã hội, không phải dựa trên thực tại chân lý.

Chẳng hạn giáo dục của Nho gia đời Tống tại TQ dạy rằng đối với phụ nữ, trinh tiết là quan trọng, chết đói chỉ là việc nhỏ. Hậu quả là nó dẫn tới việc làm của nàng thiếu phụ Nam Xương, nàng nhảy xuống sông tự tử vì chồng hiểu lầm cho rằng nàng ngoại tình, đuổi nàng ra khỏi nhà. Nàng chọn cái chết để bảo toàn trinh tiết. Tâm thái đó không lành mạnh. Hoặc là mới đây anh Hoàng Chi Phong (Joshua Wong) bị kết án 10 tháng tù giam vì tham gia vào một buổi thắp nến tưởng niệm, đánh dấu cuộc đàn áp tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Anh Joshua Wong bất bình vì cho rằng Hong Kong không có dân chủ, nên anh tranh đấu kêu gọi dân chúng đi biều tình rầm rộ hồi năm 2019, kêu gọi các nước phương tây ủng hộ tự do dân chủ của Hong Kong, cuộc biểu tình hàng triệu người dẫn tới bạo loạn, đốt phá một số nơi, giơ cao cờ Mỹ, chà đạp bôi bẩn cờ TQ, khiến cho Hong Kong bị rối loạn, kinh tế bị ảnh hưởng.

Cờ TQ bị người biểu tình Hong Kong bôi bẩn ngày 23 tháng 9- 2019

Chính quyền Bắc Kinh không thể chấp nhận điều đó, nên họ đã làm ra luật an ninh Hong Kong ban hành cuối tháng 6-2020 loại bỏ những người tranh đấu cho dân chủ không được ứng cử quốc hội, cho phép bắt giam những người chủ chốt đã gây ra biểu tình bạo loạn năm 2019. Luật này khiến cho những người tranh đấu vì dân chủ Hong Kong bất bình, các nước dân chủ phương tây cũng bất bình, gây ra mâu thuẫn Mỹ-Trung không thể hòa giải.

Hoặc một việc cũng đang là thời sự nóng bỏng hiện nay. Dân chúng Myanmar bất bình vì họ thấy chính quyền dân cử của Bà Aung San Su Kyi bị phe quân nhân lật đổ, Bà và tổng thống Win Myint bị bắt giam. Họ biểu tình rầm rộ, bạo loạn, đốt phá một số cơ sở sản xuất của người nước ngoài chủ yếu của người TQ. Phe quân nhân đang cầm quyền phản ứng mạnh, bắn vào người biểu tình, khiến hơn 700 người chết.

Ở đây tôi muốn bàn rộng thêm một chút về vấn đề biết đủ và tùy duyên. Xưa nay cũng đã có nhiều triết thuyết bàn về vấn đề này.

Hoặc các chính quyền dân chủ phương tây như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Australia…bất bình đối với chính quyền TQ vì họ cho rằng TQ đang tiến hành diệt chủng đối với người Duy Ngô Nhĩ (维吾尔Uyghur) Tân Cương. Họ đưa ra một số biện pháp trừng phạt TQ. Nó khiến cho TQ phản ứng, TQ cũng lập tức trả đũa bằng cách trừng lại một số nhân vật và tổ chức của phương tây. Quan điểm của TQ cho rằng họ không diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ, trái lại còn cải thiện đời sống vật chất cho họ rất nhiều, họ lập ra nhiều trại tập trung là để dạy nghề và cải tạo tư tưởng cho họ nhằm chống lại khủng bố Hồi giáo do người Duy Ngô Nhĩ tiến hành, kết quả là từ 2015 đến nay không còn một vụ khủng bố Hồi giáo nào xảy ra tại TQ nữa. Về vấn đề Tân Cương và người Duy Ngô Nhĩ, theo tạp chí The Diplomat ấn bản năm 2020 nhan đề Những quốc gia nào ủng hộ hoặc chống chính sách về Tân Cương của TQ 2020 (2020 Edition: Which Countries Are For or Against China’s Xinjiang Policies?) liệt kê có 39 nước phản đối chính sách và 45 nước ủng hộ. Như vậy chúng ta thấy không hề có sự thống nhất lập trường giữa các quốc gia trên thế giới.

Tóm lại nếu chúng ta dấy lên ý nghĩ ủng hộ hay chống đối một vấn đề nào, đó đều không phải là thái độ lành mạnh mà cần phải bình tĩnh và tùy duyên. Tùy duyên là một pháp quan trọng của Phật giáo. Tùy duyên thể hiện rằng chính cái nhân duyên là quyết định chứ hành giả không có ý gì trong đó cả.

Tại sao tâm không nên bất bình nổi sóng ?   

Sóng gió trong tâm là gì ? Đó là thất tình 七情 (hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục), lục dục 六欲 (6 thứ ham muốn thuộc về đối tượng của lục căn, các đối tượng này là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Sắc là vật chất, những vật có hình tướng, màu sắc, kiểu dáng là đối tượng của mắt. Cảnh đẹp, phụ nữ đẹp, trai đẹp, nhà lầu, xe hơi bóng lộn đều là sắc tướng khêu gợi lòng ham muốn nhìn ngắm sở hữu. Thanh là âm thanh, âm nhạc, tiếng nói, là đối tượng của tai. Âm nhạc du dương, tiếng nói trong trẻo ngọt ngào, khêu gợi lòng ham muốn nghe đi nghe lại, thưởng thức bằng tai. Hương là mùi thơm là đối tượng của mũi. Mùi nước hoa, mùi thức ăn thơm ngon, mùi cà phê thơm lừng khêu gợi lòng ham muốn thưởng thức bằng mũi. Vị là cảm giác do tiếp xúc của lưỡi, nó nhận ra vị ngọt, mặn, chua, cay, đắng, chát của thức ăn, những cảm giác này là đối tượng của lưỡi. Các cảm giác này khêu gợi lòng ham muốn ăn ngon. Và để được ăn ngon con người sẵn sàng phạm tội sát sinh, giết heo, bò, gà, vịt, tôm cá, chim trời, thú rừng để ăn thịt cho thỏa mãn vị giác và sớm muộn gì cũng phải chịu quả báo. Xúc là cảm giác do tiếp xúc thân thể như trơn láng, nhám, xù xì, cảm giác đê mê do nam nữ ái ân. Chính những cảm giác này khêu gợi lòng ham muốn dâm dục, kết hợp với những đối tượng khác như sắc, thanh, hương, vị, khêu gợi lòng ham muốn tính dục khó cưỡng nổi của con người. Pháp là tổng hợp tất cả các loại lục căn, lục trần (đối tượng) và lục thức gọi chung một từ là pháp nên nghĩa của nó rất rộng. Tất cả tư tưởng, nhận thức, tôn giáo, triết học, khoa học, văn học, thi ca, mọi ngành hoạt động; tất cả vũ trụ vạn vật đều gọi chung là pháp. Pháp khêu gợi lòng ham muốn hiểu biết, tất cả tri thức, du hành, du lịch mọi vùng đất, mọi cảnh giới, mọi nơi trong vũ trụ mênh mông.       

Hành giả muốn có cuộc sống lành mạnh thì không được để cho sóng gió trong tâm nổi lên, nghĩa là không để cho thất tình lục dục chiếm quyền điều khiển bộ não. Vậy ai đang điều khiển bộ não ? Chúng ta nên biết rằng tâm có hai hình thái : chân tâm (真心true mind) và vọng tâm (妄心false mind). Bản chất của hai tâm này cũng chỉ là một nhưng biểu hiện thì khác nhau. Chân tâm thì vô sinh vô diệt, bất biến, bất nhị gọi là vô sinh pháp nhẫn  無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti). Còn biểu hiện của chân tâm nhưng do bộ não phát ra gọi là vọng tâm thì vô lượng vô biên, biến đổi không ngừng, sinh diệt không ngừng, đó chính là suy nghĩ, tưởng tượng, cảm giác, thất tình, lục dục. Vọng tâm này không thể làm thay đổi chân tâm nhưng nó có thể che mờ chân tâm, che lấp chân tâm. Nó khiến cho hành giả không nhận ra cảnh giới vô sở trụ mà chỉ thấy toàn cảnh giới sinh diệt đầy biến ảo và tưởng đó là thật. Cảnh giới sinh diệt đầy biến ảo đó chính là cảnh giới thế gian mà chúng ta đang sống. Ai ai cũng mê đắm nhà lầu xe hơi, tiện nghi vật chất, quần áo đẹp, cảnh đẹp, hoa đẹp, người đẹp, quốc gia thịnh vượng, cuộc sống sang giàu. Những mê đắm đó gọi chung là thất tình, lục dục. Nó có hai mặt, thuận duyên và nghịch duyên. Thuận duyên là hạnh phúc, nghịch duyên là đau khổ. Thí dụ vợ hay chồng đẹp đôi, nhà cửa xe cộ đầy đủ, khỏe mạnh, con ngoan, đó là thuận duyên. Còn vợ hay chồng xấu xí, tật nguyền, bệnh tật triền miên, nhà nghèo không có chút tiện nghi, con cái ngổ nghịch nghiện ma túy, nghèo khổ bệnh tật, thu nhập không đủ ăn, đó là nghịch duyên. Cảnh thuận duyên hay cảnh nghịch duyên đều là nhận thức của vọng tâm do duyên nghiệp quyết định. Vọng tâm là cái tâm sinh diệt, biến đổi, dởm, yếu, nó không có sức mạnh, không có quyền lực. Chỉ có chân tâm mới có sức mạnh, quyền lực, có đủ khả năng để tạo ra cả vũ trụ vạn vật, mọi thứ cảnh giới. Do đó sự tu tập của hành giả là bỏ vọng mà hướng về chân. Bỏ vọng cũng không phải dễ bởi vì toàn bộ thất tình lục dục đều là vọng. Mọi sinh hoạt, suy nghĩ hành động của con người đều dựa vào đó cả. Ví dụ đã sống trong thế gian ai cũng cần có một mái nhà để che mưa nắng, cần có xe cộ để đi lại, cần có lương thực thực phẩm để ăn, cần có smartphone để liên lạc trong và ngoài nước, làm sao mà bỏ được ? Chính vì vậy nên mới có khái niệm tùy duyên.

Thế nào là tùy duyên

Tùy duyên có nghĩa là hành giả sẽ theo điều kiện thực tế trong hoàn cảnh của mình. Nhưng chỉ theo ở mức tối thiểu thôi, không ham muốn nhiều quá. Ví dụ chỉ cần một cái nhà vừa đủ để cả gia đình mình ở, không đòi hỏi nhà cao cửa rộng. Chỉ cần một chiếc xe vừa đủ tốt để đi lại không cần quá sang trọng. Tiện nghi trong nhà cũng chỉ cần vừa đủ dùng thôi, tivi, tủ lạnh, máy giặt, quạt máy, smartphone; ai đều có thì mình cũng có, nhưng không đòi hỏi quá đắt tiền. Chẳng hạn smartphone thì không cần sắm iPhone đời mới nhất chi cho quá đắt tiền, chỉ cần sắm một cái tầm trung có giá chỉ bằng ¼ của iPhone cũng đủ hiện đại và có cả 5G và có thể đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu của mình.

Trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ có câu :

Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc 知足便足, 待足何时足

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn 知闲便闲 待闲何时闲                                                       

Biết đủ là đủ, đợi đủ, đến bao giờ mới đủ

Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn, đến bao giờ mới nhàn

Hai câu trên tác giả lấy ý từ sách Cổ Kim Dược Thạch 古今药石 của Tống Tích đời Minh 明宋绩 chỉ sửa vài chữ ở câu sau. Nguyên tác là :

Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc 知足便足, 待足何时足

Thâu nhàn tiện nhàn, cầu nhàn hà nhật nhàn 偷闲便闲, 求闲何日闲?

Chữ có đổi chút xíu nhưng ý thì vẫn thế

Giữa biết đủ và tùy duyên cũng có liên quan. Tùy duyên là đáp ứng hoàn cảnh ở mức vừa đủ, đó cũng tức là tri túc. Trên đây là nói về phạm vi cá nhân. Trên phạm vi tập thể, Lão Tử trong Đạo Đức Kinh khuyên nhà cầm quyền đừng can thiệp quá nhiều vào cuộc sống của người dân :

Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên 治大國若烹小鮮 Cai trị nước lớn giống như nấu những con cá nhỏ (nếu xào tới xào lui quá nhiều cá sẽ nát)

Dĩ đạo lị thiên hạ 以道蒞天下  Lấy đạo để quản lý, cai trị thiên hạ

Mô hình trị nước kiểu này, hiện nay có một bô lạc tại Nam Mỹ đang áp dụng, đó là bộ lạc Kogi

0026 Bộ lạc Kogi ở Nam Mỹ

Mô hình xã hội của bộ tộc Kogi Nam Mỹ hạnh phúc thật. Nhưng thử nêu câu hỏi, có bao nhiêu người trong chúng ta bằng lòng sống theo mô hình đó ? Trong suốt mấy nghìn năm họ hầu như không có thay đổi, không có cái gọi là “tiến bộ” mà xã hội hiện đại của chúng ta rất trọng vọng. Người của xã hội đó không đi đâu xa nên không cần phương tiện vận chuyển. Họ cũng không có nhu cầu liên lạc với thế giới bên ngoài nên cũng không cần smartphone để làm gì. Một số người ưu tú dường như có thần thông, họ hiểu rõ thế giới bên ngoài có đời sống bất ổn như thế nào và họ cũng có gởi một thông điệp để cảnh tỉnh thế giới văn minh bên ngoài như sau :

Ðầu năm 1993, ký giả Alan Ereira của Đài BBC tháp tùng bởi 5 người gồm một ký giả, ba nhân viên thu hình và một nhân viên y tế lên đường.  Ðể có thể thu thập được nội dung của cuộc trao đổi phỏng vấn với người Kogi, phái đoàn này còn tìm được một người của bộ lạc kế cận có thể nói được tiếng Kogi và biết tiếng Anh để làm thông dịch. Sau một thời gian len lõi trong rừng sâu núi thẳm của vùng Nam Mỹ, họ lên được một đỉnh núi cao của miền Sierra sau khi hồi hộp đi qua chiếc cầu treo như lơ lửng trên những hố sâu và vực thẳm để vào nơi bộ tộc Kogi sinh sống.  Họ được một số người đại diện bộ tộc ra đón.  Ðó là những vị Trưởng lão – Những người này ăn mặc giống nhau: vải dệt từ những loại sợi dày màu trắng – đầu họ đội loại mũ có vành hơi rộng cũng màu trắng hoặc vàng- Tóc họ màu đen, dài, quăn, da ngăm…

Bộ tộc Kogi trên dãy núi Sierra Nevada ở Colombia
Trước tiên phái đoàn được cho biết là họ được phép ở lại đây 3 ngày.  Ðây là một trường hợp đặc biệt và sẽ không bao giờ còn có sự gặp gỡ này nữa.

Khi nhóm của ký giả Alan Ereira an toạ trên những cái ghế thấp làm bằng thân cây thì một vị cao tuổi trong bộ tộc mời họ uống nước và bắt đầu nói như giải thích:

– Có thể đây là một ngoại lệ, vì từ mấy nghìn năm qua chúng tôi theo điều luật của dòng họ, không bao giờ tiếp xúc với bất cứ ai ngoài người trong bộ tộc.  Có lẽ quý vị sẽ hiểu rõ nguyên do vì sao mà Hội đồng trưởng lão của bộ tộc chúng tôi đã quyết định có cuộc hội ngộ hôm nay.

Đại ý vị trưởng lão này nói cuộc sống văn minh của người bên ngoài không phải là hoàn hảo. Nó chất chứa nhiều nguy hiểm rất lớn mà nếu không tỉnh giác cứ tiếp tục thì kết quả sẽ rất tồi tệ, đó có thể là sự diệt vong của toàn bộ loài người văn minh đó. Chính vì vậy mà các trưởng lão của bộ lạc này quyết định cho phép đại diện của loài người văn minh đó tới đây để nhận thông điệp của họ là hãy mau mau cảnh tỉnh để tránh nguy cơ diệt vong.  

Người đang đứng đầu phía xa để chỉ về điều mà vị này vừa nhắc tới về sức khoẻ thì nhân viên y tế trong phái đoàn ngỏ ý muốn “xem qua” sức khoẻ họ.  Người này lần lượt dùng các dụng cụ y khoa đo huyết áp, khám phổi, khám răng, thử máu vân vân. Ðiều kỳ diệu là họ không tìm thấy một dấu hiệu nào về tật bệnh hay sức khoẻ suy kém nơi những người mà họ đã cẩn thận kiểm tra sức khoẻ. Ðặc biệt nhất là hàm răng của họ rất khoẻ mà không có dấu vết hay tình trạng răng hư, răng sâu.  Tuy vậy vị trưởng lão cho biết là vẫn có những trường hợp có người qua đời vì bệnh nhưng rất ít và thường xảy ra khi đứa bé mới lớn – Một khi vị trưởng lão khám nghiệm thấy không thể chữa khỏi thì cha mẹ đứa bé sẽ chấp nhận mất con vì họ cho đó là luật của tự nhiên.  Tuổi thọ của người Kogi rất cao thường là hơn 100 tuổi.

Tại sao Bồ Đề Đạt Ma đông độ ?

Chúng ta đã biết qua lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Trước khi Phật tịch diệt, ngài đã truyền pháp và y bát cho đại đệ tử là Maha Ca Diếp qua câu chuyện niêm hoa vi tiếu 拈花微笑 (đưa cành hoa mỉm cười). Ca Diếp làm tổ thứ nhất của Thiền Ấn Độ và sự truyền thừa tiếp tục khoảng 500 năm trải qua 28 vị Tổ liệt kê như sau :

  1. Ma-ha-ca-diếp (zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa)
  2. A-nan-đà (zh. 阿難陀, sa. ānanda)
  3. Thương-na-hòa-tu (zh. 商那和修, sa. śānavāsin)
  4. Ưu-bà-cúc-đa (zh. 優婆掬多, sa. upagupta)
  5. Đề-đa-ca (zh. 提多迦, sa. dhītika)
  6. Di-già-ca (zh. 彌遮迦, sa. miśaka)
  7. Bà-tu-mật (zh. 婆須密, sa. vasumitra, cũng gọi là Thế Hữu)
  8. Phù-đà-nan-đề (zh. 浮陀難提, sa. buddhanandi, hoặc Phật-đà-nan-đề 佛陀難提)
  9. Phù-đà-mật-đa (zh. 浮陀密多, sa. buddhamitra, hoặc Phật-đà-mật-đa 佛陀密多)
  10. Bà-lật-thấp-bà (zh. 婆栗濕婆, sa. pārśva, cũng gọi là Hiếp tôn giả 脅尊者)
  11. Phú-na-dạ-xa (zh. 富那夜奢, sa. puṇayaśa)
  12. A-na-bồ-đề (zh. 阿那菩提, sa. ānabodhi, hoặc Mã Minh 馬鳴, sa. aśvaghoṣa)
  13. Ca-tì-ma-la (zh. 迦毘摩羅, sa. kapimala)
  14. Long Thụ (zh. 龍樹, sa. nāgārjuna, cũng gọi Na-già-hạt-thụ-na 那伽閼樹那)
  15. Ka-na-đề-bà (zh. 迦那提婆, sa. kāṇadeva, hoặc ngắn là Đề-bà 提婆, hoặc Thánh Thiên, sa. āryadeva)
  16. La-hầu-la-đa (zh. 羅睺羅多, sa. rāhulabhadra)
  17. Tăng-già-nan-đề (zh. 僧伽難提, sa. saṃghanandi)
  18. Tăng-già-xá-đa (zh. 僧伽舍多, sa. saṃghayathata)
  19. Cưu-ma-la-đa (zh. 鳩摩羅多, sa. kumāralāta)
  20. Xà-dạ-đa (zh. 闍夜多, sa. śayata)
  21. Thế Thân (zh. 世親, sa. vasubandhu, hoặc Thiên Thân 天親, Bà-tu-bàn-đầu 婆:|)
  22. Ma-noa-la (zh. 摩拏羅, sa. manorata)
  23. Cưu-lặc-na (zh. 鳩勒那, sa. haklenayaśa, hoặc Hạc-lặc-na 鶴勒那)
  24. Sư Tử Bồ-đề (zh. 師子菩提, sa. siṃhabodhi)
  25. Bà-xá-tư-đa (zh. 婆舍斯多, sa. baśaṣita)
  26. Bất-như-mật-đa (zh. 不如密多, sa. puṇyamitra)
  27. Bát-nhã-đa-la (zh. 般若多羅, sa. prajñādhāra)
  28. Bồ-đề-đạt-ma (zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma)  

Đến vị tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma (470-543 CN) ông rời bỏ Ấn Độ và đi về phía đông (tiếng Trung gọi là Đông độ 东渡) Tại sao ông rời bỏ Ấn Độ đi về phía TQ ? Đó là một hành động tùy duyên. Ông đến TQ vào triều đại nhà Lương (502-557). Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Có truyền thuyết cho rằng sư phụ của Bồ-đề-đạt-ma là Bát-nhã-đa-la (prajñādhāra) từng dặn sư hãy đợi sau khi mình tịch thì hãy đi Trung Quốc và Bồ-đề-đạt-ma đã thực hiện lời dặn lúc ông đã ngoài 50 tuổi. Sử sách không nêu rõ lý do nhưng chúng ta có thể đoán rằng dân Ấn Độ sắp hết duyên với Thiền tông sau thời kỳ hoạt động của Đức Phật và 27 vị Tổ Sư. Vào thời của Bồ Đề Đạt Ma có một tu viện Phật giáo lớn nằm ở vương quốc cổ Magadha (Ma Kiệt Đà 摩揭陀) , ngày nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Địa điểm này nằm cách Patna chừng 95 kilômét (59 dặm) về phía đông nam, gần thành phố Bihar Sharif và là một trung tâm học thuật quan trọng từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 12, phát triển rực rỡ trong giai đoạn từ thời vua Śakrāditya (danh tánh của người này chưa được chắc chắn, có thể là triều vua Kumara Gupta I hoặc Kumara Gupta II) đến năm 1197 thì bị người Hồi giáo tàn phá và Phật giáo cũng bị xóa sổ gần như hoàn toàn tại Ấn Độ.

Chúng ta cần nêu ra câu hỏi : Tại sao Ấn Độ vốn là cái nôi của Phật giáo, đã có nhiều bậc thánh trí khai sáng Đạo Phật, vậy mà đã dễ dàng bị xóa sổ sau gần 1800 năm (từ lúc Phật thành đạo lúc 30 tuổi năm 594 TCN đến năm 1197CN). Theo thiển nghĩ của tôi, đó là do tập khí, tập quán, thói quen suy nghĩ của tuyệt đại đa số người dân Ấn Độ. Họ tin tưởng thần linh, mê hoặc thần quyền, cuộc sống của người Ấn Độ gắn chặt với các vị thần linh mà họ cho là những vị thần có thể ban phúc giáng họa cho họ. Thói quen đó rất trái với tinh thần khoa học và thực tiễn của Phật pháp. Thói quen đó dường như cũng chẳng giúp ích gì mấy cho họ. Nên đến ngày nay ở Ấn Độ vẫn còn rất nhiều người nghèo khổ cùng cực. Lễ hội Kumbh Mela tắm trên sông Hằng diễn ra trong tháng 4-2021 để rửa sạch tội lỗi sai lầm trong quá khứ theo niềm tin của người Ấn Độ, hàng triệu người ngâm mình trong nước sông Hằng.

 Đó là một sự kiện siêu lây nhiễm Covid-19, nó dẫn đến tình hình thảm họa hiện nay cho người dân Ấn Độ. Hiện nay mỗi ngày có hơn 400.000 người Ấn bị nhiễm virus SARS-COV-2 và mỗi ngày có hơn 4000 người chết. Tất cả bệnh viện đều quá tải, người chết không thể hỏa thiêu kịp, mọi khu đất trống đều được tận dụng để đốt xác người chết, thậm chí không có đủ củi để đốt.

Có những xác chết chỉ bị đốt cháy phần nào, sau đó được ném xuống sông.

Báo Times of India hôm 12.5 công bố đoạn video clip quay cảnh các nhân viên xe cứu thương vứt xác những nạn nhân tử vong vì Covid-19 xuống sông. Vài ngày qua, hơn 100 xác chết bị nghi nhiễm Covid-19 đã dạt vào hai bờ sông Hằng, và nghị sĩ Janardhan Singh Sigriwal của đảng cầm quyền BJP cáo buộc một số thi thể đã bị chính nhân viên xe cứu thương vứt xuống sông ở bang Bihar.             

Tóm lại Bồ Đề Đạt Ma vị Tổ thứ 28 của Thiền Ấn Độ đã rời bỏ nước này để đi về phía đông vì người Ấn Độ đã hết duyên với Phật giáo, Thiền Phật giáo cũng không thể giúp gì được cho họ.

Bồ Đề Đạt Ma đông độ để truyền bá Tổ Sư Thiền tại TQ. Và Thiền đã phát huy đại hưng thịnh tại TQ từ đời Đường trở về sau, nhất là sau thời của Lục Tổ Huệ Năng.

Tinh thần của người TQ thực tế hơn người Ấn Độ, họ chú trọng thực tế chứ không quá sùng bái thần linh. Tuy vậy trong thời gian dài họ cũng quá thiên về lịch sử, văn chương, thi ca, tư tưởng hơn là khoa học. Vì vậy họ cũng bị tây phương vượt mặt và phải trải qua 100 năm ô nhục vì bị tây phương chèn ép xâm lược. Ngay cả một quốc gia láng giềng nhỏ bé là Nhật Bản cũng đè đầu cỡi cổ họ sau khi tiến hành canh tân sớm hơn và trở nên hùng mạnh.

Nhưng sau 40 năm cải cách và mở cửa kể từ 1979, TQ đã bước vào hàng ngũ những quốc gia có khoa học kỹ thuật phát triển nhất trên thế giới, kinh tế hùng mạnh, dân chúng thoát khỏi đói nghèo.

Ngày 25-02-2021, TQ đã tổng kết hoạt động xóa đói giảm nghèo của toàn quốc. Từ năm 1979, tức là năm TQ bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, cả nước có 850 triệu người nghèo đói.    

Đến năm 2012, TQ chỉ còn 100 triệu người nghèo đói. Và đến năm 2021 cả nước không còn ai nghèo đói cùng cực nữa. TQ là nước đông dân nhất thế giới nhưng là nước duy nhất xóa được nạn nghèo đói cùng cực. Cả nước có 800 quận huyện, vốn có mức thu nhập trung bình của người dân dưới 4.000 nhân dân tệ (619 USD) một năm, nay đã chính thức được đưa ra khỏi danh sách nghèo đói.

Thành tích của TQ cho thấy rõ ràng tác động của khoa học kỹ thuật. Kiến tánh giác ngộ là giải thoát về mặt tinh thần. Còn thoát khỏi đói nghèo là giải thoát về mặt thực tế vật chất. Tôi mong rằng TQ sẽ thật tâm giúp cho toàn thể nhân loại thoát khỏi đói nghèo. Nhà cầm quyền TQ cũng nói là họ muốn hợp tác xây dựng để mọi người, mọi bên cùng thắng. Đó cũng là trách nhiệm của một nước lớn đối với thế giới.  

TQ và Ấn Độ đều là những nước lớn, quốc gia khổng lồ với dân số xấp xỉ nhau đều trên một tỷ người. TQ theo điều tra dân số năm 2020 có 1,410 tỷ dân (1410 triệu dân) còn Ấn Độ theo con số tính toán đến cuối năm 2020 là 1,387 tỷ dân (1387 triệu dân). TQ đã hoàn thành kế hoạch xóa đói giảm nghèo, không còn người nghèo đói cùng cực nữa. Ấn Độ thì còn xa lắm mới đạt tới mục tiêu này và hiện nay đang chìm trong thảm họa Covid-19.

Kết luận      

Ấn Độ và TQ có nhiều điểm tương đồng :

1/cùng là những quốc gia có nền văn minh rất cổ xưa. Từ hơn 3000 năm trước, xã hội của hai nước này đã có chữ viết. Để so sánh chúng ta nên biết rằng những quốc gia văn minh hiện đại như Anh, Pháp, chỉ mới có chữ viết khoảng 1000 năm thôi. Mỹ thì mới chính thức tuyên bố lập quốc từ 1776, đến nay được 245 năm. Còn những quốc gia văn minh cổ khác có chữ viết sớm tương đương với TQ và Ấn Độ, như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, thì ngày nay chỉ còn là vang bóng một thời, hậu duệ của họ chỉ còn duy trì một vùng đất nhỏ hẹp, sức ảnh hưởng đối với thế giới không có bao nhiêu.                

2/Cả hai đều có dân số khổng lồ như đã đề cập ở trên, mỗi nước đều có dân số trên dưới 1,4 tỷ dân.  

3/Cả hai đều có quan hệ mật thiết với Phật giáo. Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo, là nơi phát sinh ra Phật giáo và duy trì được gần 1800 năm. TQ là nơi tiếp nhận Phật giáo từ đầu Công nguyên. Lúc đó dưới sự bảo trợ của vua Kanishka thuộc bộ tộc Kushan (貴霜 Quý Sương, tộc mạnh nhất trong 5 bộ tộc của Đại Nguyệt Chi大月支, hoặc 大月氏), Phật giáo nhanh chóng lớn mạnh ngoài Ấn Độ và bắt đầu xâm nhập vào một nền văn minh cổ xưa khác, Trung Quốc. Sách Hậu Hán thư chép rằng niên hiệu Vĩnh Bình thứ tám (65 CN), vua Minh Đế ra chiếu chỉ người phạm tội lẫn trốn phải dâng một số tơ lụa tốt để chuộc tội. Sở Vương Anh, huynh đệ của Minh Đế, đóng đô ở Bành Thành, tự xét rằng trong nhà có người phạm tội nên dâng ba mươi bốn xấp lụa để chuộc tội cho người thân. Minh Đế xem trường hợp này không đáng xử tội với lý do Sở Vương Anh biết “tụng độc lời vi diệu của Hoàng Lão và đề cao đức nhân từ của Phù Đồ (Phật)” (楚王誦黃老之微言尚浮屠之仁祠 Sở vương tụng Hoàng Lão chi vi ngôn thượng Phù Đồ chi nhân từ) nên hẳn nhiên là người tốt, không phải phạm tội, cho nên vua đem tơ lụa hoàn trả lại cho Sở Vương. Sau đó, Vương làm lễ sám hối, ăn chay ba tháng và tổ chức thịnh soạn cúng dường Tăng sĩ (桑門 tang môn) và cư sĩ (伊蒲塞 y bồ tắc). Chiếu văn của Minh Đế hiện nay vẫn còn. Văn kiện lịch sử này là một chứng cứ xác thực chứng minh sự có mặt của Phật giáo vào thời Hậu Hán.   

Buddha (Phật) thời xa xưa được phiên ra Hán tự là Phù Đồ 浮屠 về sau mới phiên lại là Phật Đà 佛佗

Người xuất gia hay tăng sĩ tiếng Phạn là śramaṇa lúc đầu được phiên Hán tự là tang môn 桑門 về sau mới phiên thành sa môn 沙門

Upāsaka (Cận sự nam 优婆塞 ưu bà tắc) lúc đầu phiên Hán tự là y bồ tắc 伊蒲塞 sau mới phiên là ưu bà tắc

Sách Cao Tăng Truyện chép rằng Hán Minh đế nằm mộng thấy người vàng, mới sai hơn 10 quan viên sang Thiên Trúc thỉnh Phật. Trên đường đi, sứ đoàn gặp 2 nhà sư là Kāśyapa Mātaṇga (Ca Diếp Ma Đằng 迦叶摩腾) và Dharmaratna (Trúc Pháp Lan 竺法蘭) đang tải kinh đi vào đất Hán, bèn hộ tống họ  vào đất Hán. Khi đến Lạc Dương hai người cùng ở chung, chỉ một thời gian ngắn sau đó là thông thạo tiếng Hán. Hán Minh đế bèn xây dựng một ngôi tự viện vào năm 68 CN (niên hiệu Vĩnh Bình) đặt tên là chùa Bạch Mã 白馬寺cho 2 vị sư làm nơi trú ngụ, dịch kinh và truyền pháp. Về sau, Trúc Pháp Lan mất ở Lạc Dương, thọ trên 60 tuổi.

4/Cả hai nước đều thường xuyên xảy ra nạn nghèo đói, khổ sở đối với đa số người dân mỗi khi xảy ra mất mùa, lũ lụt.

Nhưng giữa Ấn Độ và TQ cũng có sự khác biệt về tập quán của nhân dân :

1/ Người Ấn Độ đặc biệt sùng bái thần linh. Người TQ thực tiễn hơn tuy cũng có tôn thờ thần linh nhưng không quá nặng như người Ấn Độ.

2/ Người Ấn Độ phân biệt giai cấp nặng nề. Người TQ ít phân biệt giai cấp hơn, những người nghèo nhất trong xã hội nếu có học vấn, thi đậu tiến sĩ, trạng nguyên, vẫn có thể trở thành quan lớn triều đình. Câu chuyện Trần Minh khố chuối là một ví dụ.

3/ Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ nhưng lại không được đa số người Ấn coi trọng vì PG bác bỏ thần quyền. Vì vậy vào đầu Công nguyên khi PG đến TQ đã được người TQ tiếp đón trân trọng. Vào thế kỷ thứ sáu CN (năm 520) khi Bồ Đề Đạt Ma sang TQ thì Thiền tông phát huy cực thịnh kéo dài đến ngày nay. TQ đã trở thành môi trường thích hợp với PG, đã phát triển được 2000 năm và vẫn còn kéo dài. PG và tiếng Phạn hoặc Pali đã in sâu trong văn hóa và ngôn ngữ TQ, có đến 35.000 từ gốc tiếng Phạn hoặc Pali trong tiếng Trung hiện nay, quen thuộc đến mức nhiều người còn không biết đó là tiếng gốc Ấn. Ví dụ Phật (佛佗, 浮屠 buddha); Hòa thượng  (和尚  upādhyāya); Tăng-già (僧伽 saṅgha= tăng đoàn); Cà sa (袈裟 Kasāya); Kiết hạ (結夏 varṣa = mưa); Bồđề (菩提bodhi= giác ngộ); Giàlam (伽藍Sanghārāma= nơi thờ Phật); Xá lợi (舍利 sarira); Trà tỳ  (茶昆 Japita = hỏa táng).   

4/ Tập quán khác nhau đã đưa đến kết quả khác nhau. Vào khoảng thập niên 1950 hai nước có xuất phát điểm giống nhau là nhân dân đều nghèo đói cùng cực. Nhưng năm 2021 TQ đã giải quyết xong cơ bản vấn đề nghèo đói của xã hội, không còn ai nghèo đói cùng cực. Trong khi đó dân Ấn Độ vẫn còn rất nhiều người nghèo đói, hiện nay lại lâm vào thảm họa dịch bệnh Covid-19 rất thương tâm. 

Từ sự đối chiếu này, tôi rút ra một kết luận là : cuộc sống lành mạnh của con người là phải thực tế, dựa trên khoa học chứ không thể dựa vào niềm tin tôn giáo, không thể dựa vào thần quyền. Tâm lý của người dân Ấn Độ tin tưởng vào thần linh khiến họ gạt bỏ một đạo lý thực tế rất đáng giá là Phật giáo, mà tiền nhân của họ đã khai sáng, đó là điều rất đáng tiếc. Chính vì thế mà Bồ Đề Đạt Ma phải đem đạo lý đó truyền sang phía đông (gọi là đông độ东渡) phát huy ở một xứ sở khác. Sự tin tưởng thần quyền của người dân Ấn phản ánh rõ trong clip sau đây. Trong lúc đất nước đang bị thảm họa vì đại dịch Covid-19, người dân vẫn trông chờ thần linh giải quyết vấn đề cho họ.

Phụ nữ Ấn dâng nước cho thần linh cầu thoát dịch bệnh Covid-19                  

Tóm lại cuộc sống lành mạnh là gì ? Đối với cá nhân, đó là cuộc sống không có lo âu phiền não. Không lo âu phiền não vì nhận ra cuộc sống thế gian chỉ là thế lưu bố tưởng世流布想 là tưởng tượng theo tập khí, theo thói quen, chứ không phải là tuyệt đối chân thật, vì vậy không cần thiết phải lo âu phiền não. Tuy vậy do tính tương đối của thế gian, cá nhân cũng phải điều chỉnh để những điều xảy ra trong hoàn cảnh của mình không quá chướng ngại, bi thương, ví dụ không quá nghèo khổ, đói khát, bệnh tật, mặc dù biết những chuyện đó cũng không phải tuyệt đối chân thật.

Ở phạm vi quốc gia, xã hội, cũng vậy; nhà cầm quyền cũng nên là bậc giác ngộ, không nên để cho cả một khối đông đảo dân chúng tin tưởng quá đáng, mù quáng, vào thần linh, xa rời thực tế đến mức tổ chức những cuộc tụ tập siêu lây nhiễm để tôn vinh thần linh, thực hiện những phép mầu không có thật trong lúc cả nước có dịch bệnh, khiến cho cả nước Ấn Độ phải trả giá bằng thảm họa dịch bệnh khủng khiếp như hiện nay. Ngoài ra nhà nước phải chăm lo cho cuộc sống vật chất của người dân, phát triển khoa học kỹ thuật để cho gần 1,4 tỷ dân Ấn Độ ít ra cũng có được đời sống tương đối như người dân TQ hiện nay.

Truyền Bình        

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

VÔ KÝ KHÔNG LÀ GÌ ?

Tâm không phải là vô ký không

Trong Thiền ngữ đôi khi chúng ta nghe nói thuật ngữ vô ký không. Chẳng hạn tham thiền tới cảnh giới vô thủy vô minh cũng chưa phải là giác ngộ, cần phải : Bách xích can đầu cánh tiến nhất bộ 百尺竿頭須進步  Đầu sào trăm thước tiến thêm bước nữa. Nếu dừng lại là lọt vào vô ký không. Vậy vô ký không là gì ?

Vô ký không ý nói là hư không (nothingness). Vô ký không là cái không trống rỗng không có thông tin, không có sóng, không có gì cả. Tâm giống như hư không nhưng không phải là hư không vì tâm có khả năng biến hóa, tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, còn hư không không có khả năng đó. Hư không không phải là Phật tánh, không phải tánh giác ngộ, không phải tánh biết. Nhưng vì Phật pháp là bất nhị nên Long Thọ Bồ Tát nói : Tâm như hư không vô sở hữu 心如虛空無所有 Tâm giống như hư không, không có thật nhưng cũng không phải không có gì hết.

Tâm giống như hư không nhưng không phải hư không vì tâm không phải vô ký không. Từ đó chúng ta mới hiểu Tánh Không trong Phật pháp không phải là hư không (nothingness) cũng không phải là vô ký không (no record emptiness). Tại sao tâm không phải vô ký không ? Theo Duy Thức Học Phật giáo, Tâm (Citta) là 8 thức trong đó thức thứ 8 là A-lại-da chứa vô lượng vô biên chủng tử 種子 . Thuật ngữ chủng tử ngày nay chúng ta có thể dịch là data, cơ bản hơn là seed (hạt giống). Bởi vì nền tảng của vũ trụ vạn vật là data. Cơ bản của data là bit, từ bit cấu trúc thành byte, đó là data đơn giản nhất, rồi mới cấu trúc thành seed. Những seed cơ bản nhất là hạt cơ bản (particles) Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) ngày nay có mặt 17 hạt như sau :

Mô hình chuẩn Vật Lý hạt       

Trong bảng mô hình chuẩn này vẫn còn thiếu một hạt, đó hạt graviton (hạt hấp dẫn). Năm 2016 nhân loại đã khám phá ra sóng hấp dẫn, mà theo quy luật lưỡng tính sóng hạt (particlewave duality) sóng luôn luôn đi liền với hạt, hễ có sóng là có hạt. Đã tìm thấy sóng hấp dẫn tức là có hạt hấp dẫn nhưng vì người ta chưa tận mắt thấy hạt hấp dẫn (graviton) nên chưa vội đưa vào bảng mô hình chuẩn.

Chúng ta có thể nói rằng bảng mô hình chuẩn vật lý hạt đầy đủ sẽ có 18 hạt. 18 hạt đó tương ứng với 18 giới十八界 tức là 18 cảnh giới bao gồm lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não); lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp);  và lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác của thân thể, ý thức). Phật giáo hình tượng hóa 18 cảnh giới thành 18 vị La Hán để cho người bình dân dễ hiểu.   

Tóm lại Tánh Không trong Phật pháp, đó là sóng, không phải vô ký không. Sóng đó vô hình, vô phân biệt, bất nhị, bình đẳng, không có không gian, không có thời gian (non locality= vô sở trụ), không phải là vô ký không (no record emptiness) vì đó là Tàng thức chứa vô lượng vô biên chủng tử (data). 

Tại sao phải cánh tiến nhất bộ, điều đó có nghĩa là gì ?   

Đã tới cảnh giới vô thủy vô minh, đó cũng tức là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti,tại sao vẫn phải bước thêm bước nữa ? Bởi vì cảnh giới đó chưa có dụng. Tánh không phải biến thành Có mới hữu dụng, nghĩa là sóng vô hình phải biến thành hạt hữu hình mới hữu dụng. Thử hỏi chúng ta có sóng wifi ở khắp nơi nhưng không có cái smartphone để thu nhận sóng wifi và biến nó thành bài báo, hình ảnh, video, âm nhạc, thì sóng wifi chẳng phải là vô dụng sao ? Sóng tiềm năng phải biến thành hạt cơ bản, cụ thể là 18 hạt hay thập bát giới để phát huy tác dụng. Sau khi sóng biến thành hạt thì thập nhị nhân duyên mới phát huy tác dụng. Chứ ở hình thái sóng thì rõ ràng là phi nhân duyên. Còn khi sóng đã thành hạt rồi thì phi tự nhiên. Hạt lúa phải trải qua quá trình đâm chồi, nẩy mầm, trồng xuống đất, hấp thụ nước, hấp thụ ánh sáng mặt trời, để phát triển thành cây lúa, ra hoa kết hạt, tạo ra nhiều hạt lúa mới, từ một hạt lúa biến thành nhiều hạt lúa, số lượng mới phát sinh.        

Chấp không tức lọt vào vô ký không thì vô dụng, hư không trống rỗng là vô dụng. Tâm phải biến hóa thành vũ trụ vạn vật, thành cuộc sống thế gian của con người, thành các cõi trời, thành cõi tây phương cực lạc, thành hằng sa cõi giới trong vũ trụ, đó là cái dụng của tâm.

Ta, tôi, cá thể, cá nhân cũng là do Tâm biến ra. Người khác, loài khác, vật khác cũng là do tâm biến ra. Đó là nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo一切唯心造 Tất cả mọi cảnh giới : tam giới, lục đạo luân hồi, bốn loài chúng sinh cũng đều là do tâm biến ra. Tất cả mọi cảnh giới trên thế gian đều là tưởng tượng : thế lưu bố tưởng世流布想 chứ không phải là có thật. Đó chỉ là vở kịch, tuồng hát, chiếu bóng, phim. Nếu không hiểu mà cứ cho là thật và khư khư chấp thật thì sẽ rơi vào khổ.

Dân chúng Myanmar hiện nay đang rơi vào cảnh khổ vì họ muốn đấu tranh cho nền dân chủ do bà Aung San Suu Kyi (đọc là Ôn San Su Chi) lãnh đạo. Họ đổ xô ra đường biểu tình rầm rộ hơn hai tháng nay. Khi có đông người tụ tập thì không tránh khỏi xảy ra bạo loạn, đốt phá cơ quan, xí nghiệp…phe quân đội đang cầm quyền lập tức bắn giết, đàn áp, khiến cho hơn 600 người tử vong, bao nhiêu gia đình gặp cảnh bất hạnh.              

Biển Đông là nơi tranh giành quyền lực giữa một sức mạnh đang trỗi dậy là TQ với các quốc gia xung quanh. Họ tranh giành tài nguyên biển đảo. Một sức mạnh khác vốn đã thống trị thế giới khoảng 100 năm nay là Mỹ muốn can thiệp để bảo vệ quyền lực của mình. Thế là họ đả kích lẫn nhau, trừng phạt lẫn nhau, biểu dương sức mạnh không quân, hải quân, hàng không mẫu hạm, tên lửa…và có thể xung đột chiến tranh với nhau. Rất nhiều người chấp thật thì sẽ khổ tâm khi thấy quyền lợi, quốc gia, dân tộc của mình bị tổn hại. Nhưng họ không ngờ tất cả chỉ là games. Mà dù có biết là games đi nữa họ vẫn lao vào chơi hết mình. Bởi vì thế gian vốn là hí trường, là sân khấu để diễn ra mọi cuốn phim đau khổ và hạnh phúc. Cuộc đời giống như thi đấu thể thao, mọi người thi đấu hết mình, nhưng đó chỉ là trò chơi thôi.     

Chấp không tức là lọt vào vô ký không thì vô dụng, không có cảnh đẹp, người đẹp, không có vũ trụ vạn vật, không có gì cả, điều đó không đúng với thực tế. Chấp có thì rơi vào khổ : sinh lão bệnh tử, tranh giành, chiến tranh, bạo loạn, thảm họa, dịch bệnh chẳng hạn Covid-19 như hiện nay. Vậy phải làm sao ?

Người giác ngộ thì không chấp trước. Không chấp không tức không lọt vào vô ký không. Không chấp có tức là nhận ra mọi cảnh giới chỉ là ảo hóa mà thôi, không phải thật. Ngã không có thật thì ai đau khổ ? Pháp không có thật thì sinh lão bệnh tử, biểu tình bạo loạn Myanmar, tranh giành Biển Đông chỉ là games. Tại sao chúng ta phải đau khổ dằn vặt vì xem một cuốn phim bi ai ? Tại sao chúng ta thích thú khi xem một cuốn phim hạnh phúc ? Tất cả chỉ vì thói quen mà thôi, thói quen đó Phật pháp gọi là tập khí 習氣 (habit).  

Tập khí chính là nghiệp                 

Trong quyển Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang tập 7 trang 6578 giải thích hai chữ tập khí như sau:

“Tập khí chính là phần tàn dư , khí còn sót lại của phiền não, dần dần kết chặt vào tâm, trải qua thời gian lâu xa tích tập thành tánh, rất khó phá trừ. Ví như đặt một thỏi hương vào hộp, khi lấy thỏi hương ra, trong hộp vẫn còn mùi thơm; tức là tuy đã diệt trừ chánh thể ( chánh sử ) phiền não nhưng vẫn còn khí phần tập quán. Trong kinh Phật có nói đến dâm tập của ngài Nan Ðà, sân tập của ngài Xá lợi phất và Ma ha ca diếp, mạn tập của ngài Tỳ lăng già bà bạt, khiêu hỷ tập của ngài Ma đầu ba tư tra, ngưu nghiệp tập của ngài Kiều phạm ba đề… Chỉ có Phật là đoạn trừ vĩnh viễn chánh sử và tập khí”.

Theo tôi hiểu thì tập khí không phải chỉ là phần tàn dư , khí còn sót lại của phiền não. Tập khí chính là thói quen tưởng tượng, nó quyết định cảnh giới gì sẽ hiện ra. Thí dụ ngài Nan Đà có thói quen thích phụ nữ, thì trong một đám thính chúng có nam có nữ thì ngài chỉ chú ý người nữ, chỉ thấy người nữ. Thói quen về ngôn ngữ thí dụ chúng ta quen thuộc với tiếng Anh thì khi đọc văn bản tiếng Anh, hoặc nghe ai đó nói tiếng Anh chúng ta mới hiểu. Nếu không quen thuộc thì không thể hiểu. Phật hay các thiền sư triệt ngộ đã rũ bỏ hết thói quen sinh tử thì sẽ sinh tử tự do, muốn sống muốn chết đều thực hiện được dễ dàng như câu chuyện về gia đình Bàng Uẩn chứng tỏ. Gia đình Bàng Uẩn là một kịch bản do các vị A La Hán và Bồ Tát đóng, họ không còn tập khí sinh tử, không còn bị thói quen sinh tử sai khiến nên dễ dàng thực hiện sinh tử tự do. Hầu Hi Quý không còn bị tập khí về không gian chi phối nên có thể lấy một gói thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa ở khoảng cách xa 1600 km trong tích tắc. Những người bình thường chúng ta với sự trợ giúp của chiếc smartphone cũng có thể thoát khỏi sự ràng buộc của không gian trong nhất thời, có thể nói chuyện và thấy hình ảnh của thân nhân bạn bè ở khoảng cách xa hàng vạn dặm. Trong tương lai chúng ta còn có thể làm được như Hầu Hi Quý lấy một món quà gì đó như cái bánh, ly cà phê, ly rượu vang, ở khoảng cách xa vạn dặm. Nghĩa là chúng ta có thể đối ẩm với một người bạn ở cách xa vạn dặm, bởi thực tế vô sở trụ 無所住 (non locality), không gian, thời gian, số lượng vật chất chỉ là khái niệm, là tập khí chứ không phải có thật.           

Mỗi chúng sinh xuất hiện trong tam giới hoặc là do nghiệp bị động hoặc là do nghiệp chủ động. Nghiệp bị động chính là thói quen tức là tập khí của chúng sinh đó dẫn dắt. Thân khẩu ý hay 18 giới của chúng sinh đó sẽ tạo ra cảnh giới. Tập khí thiện thì sẽ dẫn vào 3 đường thiện : trời, người, a-tu-la. Tập khí ác thì sẽ dẫn vào 3 đường ác : súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Biệt nghiệp của mỗi chúng sinh hay mức độ của tập khí còn đưa tới những sự phân biệt vi tế hơn. Chẳng hạn cùng là cõi người nhưng có quốc gia thịnh vượng, quốc gia loạn lạc khác nhau. Cùng là quốc gia thịnh vượng cũng có phân biệt nhà giàu nhà nghèo khác nhau. Cùng là quốc gia loạn lạc cũng có cảnh khổ nhiều khổ ít khác nhau.

Nghiệp chủ động là tâm nguyện của bậc giác ngộ sinh tử tự do như Phật, Bồ Tát hay thiền sư kiến tánh, họ là những chúng sinh chủ động tự nguyện sinh vào một cõi giới nào đó để thực hiện một sự nghiệp cứu nhân độ thế. Chẳng hạn Phật Thích Ca.

Lúc mới ra đời Đức Phật tên là Siddhārtha Gautama (Tất Đạt Đa 悉达多 Cù Đàm 瞿曇 hay Kiều Đạt Ma 喬達摩 Gautama) là con của vị vua thànhCa Tỳ La Vệ [迦毘羅衛 sa. (sankrit): Kapilavastu], ngày nay có tên là Padaria. Vào thời đức Phật, đó là thủ đô của vương quốc cùng tên thuộc dòng họ Thích Ca 释迦 (Sakyas), dưới quyền trị vì của vua Tịnh Phạn (淨飯, sa. śuddhodana).

Ca Tỳ La Vệ, vào thời ấy, là một thuộc quốc của nước Kiều Tát La (憍薩羅, sa. kośala). Bấy giờ người cai trị Kiều Tát La (Kosala) là vua Ba Tư Nặc [波斯匿P(Pali): Pasenadi; sa.: Prasenajit], có kinh đô đóng tại thành Xá Vệ (舍衛Skt.: Sravasti), nay thuộc bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Độ.

Lúc gần ngày sinh, hoàng hậu Ma Da 摩耶 (Mayadevi) đi về quê mẹ để chuẩn bị sinh con theo truyền thống, dọc đường đến Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) thì hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa.

Lúc mới sinh ngài đã có đầy đủ 32 tướng tốt, nhà tiên tri A Tư Đà (阿私陀Asita) nói rằng Tất Đạt Đa sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Bảy ngày sau khi sinh thì mẹ mất, Tất Đạt Đa được người dì, em của hoàng hậu Ma Da là Ma Ha Ba Xà Ba Đề Kiều Đàm Di( 摩呵波闍波提 喬曇彌, sa. Mahāprajāpatī Gotami) chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất Đạt Đa kết hôn với công chúa Da Du Đà La ( 耶輸陀羅, sa. yaśodharā).

Năm 19 tuổi, sau khi công chúa Da Du Đà La hạ sinh một bé trai  được đặt tên là La Hầu La (羅睺羅, sa. rāhula), thái tử Tất Đạt Đa quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Tất Đạt Đa quyết tâm tìm cách diệt khổ và cầu đạo ở nhiều đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Có 5 anh em Kiều Trần Như (憍陈如Koṇḍañña ) cùng tu với Tất Đạt Đa. Sau  nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất Đạt Đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, ngài bắt đầu ăn uống bình thường trở lại, năm người đồng tu kia thất vọng bỏ đi. Ngài  ngồi dưới gốc một cây pipala (về sau gọi là cây Bồ Đề) bên dòng sông Ni Liên Thiền (尼連禪 Niranjana) tại nơi mà về sau gọi là Bồ Đề Đạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định, mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu, Tất Đạt Đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 30 sau 5 năm tầm sư học đạo và 6 năm tu khổ hạnh. Từ thời điểm đó, Tất Đạt Đa trở thành Phật, là người Giác ngộ, Hán dịch là giác giả 覺者và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh, không còn khổ nữa.

Trên đây là lược sử về cuộc đời Đức Phật, ngài sinh ra làm thái tử nướcCa Tỳ La Vệ là do chủ động chứ không phải bị động, quá trình tu tập gian khổ dẫn tới giác ngộ thành Phật là một kịch bản đã định trước chứ không phải ngẫu nhiên. Ngô Thừa Ân khi sáng tác tiểu thuyết Tây Du Ký cũng diễn theo ý đó tức chuyến đi sang Thiên Trúc thỉnh kinh của Đường Huyền Trang là một kịch bản đã định sẵn mà người dàn dựng là Phật Thích Ca diễn tả quá trình gian khổ đi thỉnh kinh của bốn thầy trò trải qua 81 khổ nạn mới mang được kinh về Trường An. 

Vũ trụ chính là tâm  

Tâm (citta) là bát thức. Ở hình thái không (sóng) Tâm là Phật tánh, tánh giác ngộ, tánh biết. Ở hình thái sắc (hạt) Tâm là 8 thức trong đó A-lại-da (Alaya) thức hay Tàng thức có tất cả data của tất cả chúng sinh trong Tam giới. Các data này ở trạng thái bình đẳng vô phân biệt (ở đâu cũng như nhau, lúc nào cũng như nhau, vô sở trụ (non locality) cũng tức là không có không gian, không có thời gian, không có số lượng. Chính vì cái không này có data nên nó không phải là vô ký không, không phải là hư không trống rỗng. Tuy có data nhưng data này vô tự tính tức là chưa có đặc trưng đặc điểm, vì vậy mới gọi là bình đẳng.

Vậy lúc nào thì data mới có đặc trưng ? Đó là lúc niệm khởi lên. Niệm khởi lên theo một thói quen gọi là tập khí và tập khí đó quyết định đặc trưng mà data sẽ hiển thị. Niệm khởi lên sẽ biến sóng thành hạt. Sóng vô hình và không có đặc trưng còn hạt thì có đặc trưng. Thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) đã chứng tỏ điều này.

Tin học cho ta một ví dụ rất rõ ràng về việc số hóa tất cả mọi điều mà con người có thể nghĩ tới. Đó là việc biến mọi sự vật thành con số. Con số vốn chưa có gì phân biệt. Giữa con số này và con số khác có phân biệt nhưng chưa hiện thực nên vẫn còn bình đẳng. Nhưng khi ta gán ghép đặc trưng cho mỗi con số thì chúng liền phân biệt trong hiển thị. Chẳng hạn thói quen quy ước của tin học trong bảng ký tự ASCII, người ta gán ký hiệu @ cho số 64, chữ A cho số 65, chữ B cho số 66, chữ C cho số 67…Những con số 64, 65, 66, 67 vốn không có ý nghĩa gì cả. Nhưng khi được gán ghép thì ký tự @, A, B, C trở nên có ý nghĩa nhất là khi con người có một thói quen ngôn ngữ. Người ta gán ghép các chữ cái thành từ ngữ và nhiều từ ngữ thành văn bản và mọi người đều cảm thấy văn bản có ý nghĩa. Ý nghĩa đó là hoàn toàn chủ quan theo thói quen của số đông người chứ không có gì là thật trong đó cả. Thí dụ văn bản:

“Trước mắt tôi là một con sông lớn chảy qua các thung lũng và đồng bằng”

Văn bản này miêu tả một cảnh giới gồm có một người xưng tôi, cảnh con sông, cảnh thung lũng, cảnh đồng bằng. Những danh từ chỉ sự vật đó đều là giả danh. Nó gợi ra trong tâm trí người đọc một cảnh giới thiên nhiên. Nhưng chỉ có người Việt hiểu tiếng Việt thì mới tưởng tượng ra cảnh giới đó. Còn người nước khác đọc không hiểu thì không cảm thấy gì cả. Vì họ không có thói quen về ngôn ngữ giống như người Việt.

Đi sâu vào bản chất hơn nữa, tôi, con sông, thung lũng, đồng bằng, đều không có thực chất. Tôi bao gồm ngũ uẩn, con sông là nước, thung lũng đồng bằng là đất đá cây cỏ, thực chất chỉ là thông tin mà thôi, là data, là dòng điện tín hiệu dẫn vào não và não tưởng tượng ra tất cả cảnh giới mà câu văn mô tả, không có gì là thật cả. Khoa học ngày nay đã hiểu biết tường tận rằng cảnh giới vật chất mà câu văn mô tả chỉ là 18 loại hạt cơ bản mà mô hình chuẩn vật lý hạt đã nêu. Và bản chất của 18 loại hạt cơ bản đó là sóng tiềm năng vô hình, đồng nhất mà khoa học gọi là trường thống nhất (unified field) hoặc là miền tần số (frequency domain).

Tóm lại danh từ là giả danh mà sự vật, vật chất cũng là giả danh, không phải là có thật, tất cả chỉ là tưởng tượng mà thôi.   

Vạn pháp duy thức, nhất thiết duy tâm tạo                    

Kết luận  

Vô ký không (no record emptiness) là hư không trống rỗng vô dụng. Còn tánh không của Phật pháp là data chưa phân biệt. Tùy theo tập khí của chúng sinh mà data sẽ hiển thị những cảnh giới nào trong lục đạo luân hồi. Yếu tố quyết định chính là thói quen (tập khí). Người tu theo Tịnh Độ dốc lòng niệm Phật chính là tạo ra một thói quen để dẫn dắt tới cõi Tây phương cực lạc. Còn người tu theo Tổ Sư Thiền là phá bỏ tất cả mọi thói quen, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không suy nghĩ, trực tiếp thể nhập chân như phật tánh. Như vậy giác giả không bị thói quen ràng buộc có thể sinh tử tự do, có thể chủ động sinh vào một cảnh giới nào đó để thực hiện một sự nghiệp gì đó tạm gọi là cứu độ chúng sinh mê muội, hay chỉ là rong chơi thôi. Mà thật ra đó chỉ là một trò chơi, một game. Tại sao mọi cảnh giới chỉ là games ? Bởi vì như kinh Hoa Nghiêm nói :

「奇哉,奇哉,一切众生皆有如来智慧德相,乃因妄想执着而不能证得」 

“Kỳ tai, kỳ tai, nhất thiết chúng sinh giai hữu Như Lai trí huệ đức tướng, nãi nhân vọng tưởng chấp trước nhi bất năng chứng đắc”  (Lạ thay, lạ thay, tất cả chúng sinh đều có đức tướng, trí huệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc).

Mọi chúng sinh đều có đủ trí huệ của Như Lai, chỉ vì thói quen vọng tưởng chấp trước mà bị trói buộc trong không gian, thời gian và cảnh giới tưởng tượng. Mọi chúng sinh đều đang chơi game say mê tới mức lú lẫn, quên rằng mình chính là Phật chỉ đang chơi game thôi. Tất Đạt Đa chơi game làm một bậc thánh trí giác ngộ cứu độ chúng sinh. Còn nàng Ma Đăng Già (摩登伽 Matanga) chơi game làm nàng kỹ nữ mê hoặc đàn ông. Kỳ thực thì Tất Đạt Đa và Ma Đăng Già đều là Phật đã thành.

Chúng sinh đều là Phật đã thành, thật sự không có chúng sinh nào cần cứu độ cả. Ngã pháp đều không (vô sinh pháp nhẫn) thì ai cứu độ ai ? Có một công án thiền :

Huệ Lăng hỏi Thạch Đầu: “Phật là ai?”

Thạch Đầu đáp: “Nhà ngươi không có Phật Tánh”

Hỏi: “Cả loài bò bay máy cựa cũng không có sao?”

Đáp: “Loài bò bay máy cựa có Phật Tánh”

Hỏi: “ Vậy Huệ Lăng nầy sao không có?”

Đáp: “Vì ngươi không chịu nhận là mình có”.

Vậy té ra chúng sinh mê muội, điên đảo mộng tưởng, không chịu nhận mình vốn là Phật, chỉ mải mê chơi game.     

Truyền Bình     

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

GIÁC NGỘ KIẾN TÁNH LÀ THẾ NÀO ?

Các Phật tử tu tập Phật pháp đều nghe nói đến sự giác ngộ kiến tánh. Họ hiểu rằng Đức Phật, các vị Bồ Tát, A La Hán, các vị Tổ Sư và một số vị thiền sư là những người giác ngộ, kiến tánh. Họ tin như vậy, ngoài ra có một số chứng cứ giúp họ tăng cường lòng tin, đó là xá lợi, những di tích còn giữ lại khi hỏa táng nhục thân của các vị ấy. Một số vị có thần thông, có thể làm những điều phi thường mà người bình thường không thể làm được. Cụ thể như Lục Tổ Huệ Năng (慧能 638-713 CN) , ngài Hám Sơn (憨山1546-1623 CN), ngài Đan Điền (丹田1535-1614 CN, ngài Nguyệt Khê (月溪1879-1965 CN) có để lại nhục thân bất hoại là những chứng cớ vững chắc biểu thị sự giác ngộ. Nhục thân của 3 ngài Huệ Năng, Hám Sơn, Đan Điền hiện còn lưu giữ tại chùa Nam Hoa thành phố Thiều Quan 韶关市 tỉnh Quảng Đông. Còn nhục thân của ngài Nguyệt Khê hiện còn lưu giữ tại chùa Vạn Phật Hong Kong.

Nhưng hình như chưa có ai đưa ra tiêu chuẩn như thế nào là kiến tánh giác ngộ. Xá lợi hay nhục thân bất hoại cũng chưa chắc chắn là chứng cớ cho sự giác ngộ, bởi vì ngoại đạo chưa giác ngộ vẫn có nhục thân bất hoại, vẫn có xá lợi. Ngay cả có thần thông cũng chưa chắc chắn là giác ngộ. Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý là những nhân vật thời hiện đại có thần thông, nhưng đã giác ngộ kiến tánh hay chưa vẫn còn là vấn đề, chưa có câu trả lời chắc chắn.

Sở dĩ xưa nay chưa có ai dám cả gan đưa ra tiêu chuẩn để xác nhận thế nào là kiến tánh giác ngộ bởi vì người xưa cho rằng đó là điều bất khả tư nghị 不可思议 Còn ngày nay thì khoa học đã nhận thức được nguyên lý bất định (uncertainty principle) và định lý bất toàn (Incompleteness theorem) nghĩa là các nhà khoa học hiểu rằng trong vũ trụ có những điều không thể khẳng định dứt khoát, không có cái gì là toàn vẹn, hoàn hảo tuyệt đối, cái hoàn hảo cũng là không hoàn hảo (Sắc Bất Dị Không). Chúng ta đang sống trong thế giới tương đối nên không thể tuyệt đối hóa một vấn đề nào đó, chẳng hạn nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc sinh vật đều không thể khẳng định chắc chắn được. Vấn đề kiến tánh giác ngộ cũng vậy, không thể xác định tiêu chuẩn chính xác 100%, tuy vậy tôi nghĩ vẫn có thể đưa ra một số tiêu chuẩn tương đối.

Định nghĩa kiến tánh giác ngộ              

Kiến tánh giác ngộ là thấy được bản chất của vũ trụ vạn vật, thấy được bản chất hai mặt đối lập và mâu thuẫn, hai mặt khác nhau đó của vũ trụ vật chất và tinh thần. Chẳng hạn Bát Nhã Tâm Kinh đã nêu ra rằng : Sắc (vật chất, hình tướng) bất dị Không (trống rỗng, emptiness, nothingness). Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Tuy hai mặt đó khác nhau, mâu thuẫn nhau nhưng không triệt tiêu nhau mà bổ sung cho nhau. Vũ trụ là nothingness, trống rỗng, chẳng có gì là thật cả, nhưng vẫn có vũ trụ vạn vật và cuộc sống con người, có đủ mọi thứ, có đau khổ và hạnh phúc. Tuyệt đại đa số mọi người đều hiểu có cuộc sống thế gian, có đau khổ và hạnh phúc, nhưng tuyệt đại đa số đều không hiểu vũ trụ là nothingness trống rỗng, chỉ là tánh không, tánh giác. Người kiến tánh thì thấy điều đó.  

Tánh giác tức là Phật tánh, đó là Tánh Biết còn gọi là Tâm hay Chân Tâm. Nó là bản chất của tất cả mọi hiện tượng trên thế gian. Tánh Biết là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)tức là pháp bất biến vốn là như vậy, không phải do cái gì sinh ra, không phải có thật, cũng không phải giả hay không có, nó là tuyệt đối bất nhị. Ngày nay khoa học hình dung Tánh Biết là một trường thống nhất (unified field) hoặc là một trường thông tin có dạng sóng, nhưng đây là sóng tiềm năng chứ không phải sóng vật chất. Vì vậy nó còn được gọi là miền tần số (frequency domain). Như vậy bản chất của Tánh Biết là thông tin, nó có rung động (hình dung như vậy) nhưng chưa có định hình, chưa có định dạng, nghĩa là nó vẫn còn là nothingness trống rỗng, vô phân biệt, bất nhị. Vậy làm thế nào Tánh Biết hiển thị thành vũ trụ vạn vật ?

Tánh Biết có sức mạnh vạn năng, nó có khả năng vô cùng vô tận. Vì vậy kinh Hoa Nghiêm nói : “心如工畫師,造種種五陰,一切世間中,無法而不造。” [Tâm như vị họa sư tạo ra tất cả các loại ngũ ấm (cũng tức là ngũ uẩn 五蘊) tất cả mọi thứ trong thế gian, không có pháp nào mà tâm không tạo ra được]. Chính vì Tâm có khả năng vĩ đại như vậy nên một số tôn giáo gọi nó là Trời, Thượng Đế, Chúa, Đạo.   

Vậy thì Tâm hay Tánh Biết tạo ra điều kiện để vũ trụ vạn vật xuất hiện. Đây là tạo tác của Tâm, nó vọng tạo ra sinh diệt, tạo ra ảo ảnh, ảo giác, ảo tưởng. Vậy Tâm tạo ra cái gì ? Trước hết nó tạo ra các hạt cơ bản của vật chất (particles of material- material particles). Đó chỉ là những hạt ảo không có thật mà kinh điển xưa gọi là hoa đốm trong hư không. Nhà vật lý học nổi tiếng Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập (Isolated) nghĩa là sao ? Cô lập nghĩa là tách rời khỏi con người hoặc cảm biến (sensor có tác dụng cũng giống như giác quan của con người). Khi bị cô lập như thế thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng. Điều đó có nghĩa là hạt cơ bản (particles) chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Nếu không có người quan sát thì hạt chỉ là sóng tiềm năng, vô hình, không có thật. Khi đã xuất hiện hạt cơ bản, chúng mới cấu trúc thành nguyên tử, phân tử, vật thể, sinh vật, con người…

Sau khi xuất hiện hạt cơ bản, Tâm tiếp tục tạo tác điều kiện, nhân duyên cho các hạt như quark và electron kết hợp lại thành nguyên tử, trong đó hạt nhân nguyên tử là các hạt proton và neutron do hạt quark tạo thành:

Hạt proton do 2 quark-up và 1 quark-down tạo thành. Hạt neutron do 1 quark-up và 2 quark-down tạo ra.

Còn electron chạy vòng vòng ở bên ngoài tạo ra đám mây gọi là vân đạo nguyên tử, chính vân đạo này tạo ra cảm giác có hạt nguyên tử vật chất, chẳng hạn các nguyên tử hydrogen, oxygen, nitrogen, carbon.  

Chính 4 nguyên tử này là thành phần chính tạo ra chất sống, tạo ra sinh vật từ loài vi trùng, vi khuẩn tới côn trùng, nấm, cây cỏ, cá tôm, chim thú, cuối cùng là con người.

Con người là sản phẩm cao cấp, hoàn thiện nhất của tâm. Con người có lục căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ. Tâm cũng tạo tác ra lục trần là đối tượng của lục căn gồm : Sắc (vật chất), Thanh (âm thanh, tiếng động), Hương (mùi thơm, thúi), Vị (ngọt, mặn, đắng, chua, cay), Xúc (cảm giác tiếp xúc như trơn, nhám, đau, sướng, tê, mỏi), Pháp (tên gọi chung của tất cả vạn vật từ hữu hình tới vô hình, kể cả tư tưởng, tình cảm). Khi lục căn tiếp xúc với lục trần thì phát sinh ra lục thức : thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, biết). Biết là khả năng nhân thức, phân biệt tổng hợp tất cả các pháp. Còn các thức khác là khả năng chuyên biệt trong từng lĩnh vực, chẳng hạn thấy là nhận thức chủ yếu là về hình dáng to nhỏ, thanh tú hay thô kệch, màu sắc trong đó 7 màu cơ bản của cầu vồng, khi pha trộn thì thành vô số màu. Nghe chủ yếu là về âm thanh, tiếng động với vô số tần số, cường độ v.v… Lục căn, lục trần, lục thức cộng chung, Phật pháp gọi là 18 giới 十八界 tức 18 loại cảnh giới cơ bản mà con người hình dung trong tâm thức. Kinh điển đã hình tượng hóa 18 giới này thành 18 vị La Hán mà chúng ta thường thấy tượng của các vị này trong các chùa. Không hẹn mà gặp, khoa học cũng tổng kết các hạt cơ bản của vật chất thành Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) bao gồm 18 hạt. Mô hình chuẩn trong bảng liệt kê dưới đây chưa có hạt hấp dẫn (graviton) vì người ta chưa tận mắt nhìn thấy chúng, nhưng trong năm 2016 người ta đã thấy sóng hấp dẫn (gravitational waves) mà hễ có sóng thì có hạt theo quy luật lưỡng tính sóng hạt (wave-particle duality).

Riêng về thức, ngoài lục thức, Duy Thức học Phật giáo còn mô tả hai thức khác gọi là: thức thứ 7 (Mạt-na= Manas) là thức chấp ngã, mỗi cá thể chúng sinh coi thân thể và tinh thần của mình bao gồm 18 giới là của riêng mình, tách biệt với thân thể và tinh thần của chúng sinh khác. Thức thứ 8 (A-lại-da= Alaya) bao gồm thức thứ 7 trải qua vô lượng kiếp chất chứa thành một cái kho cực lớn gọi là Tàng thức. Tàng thức chỉ là tên gọi khác của A-lại-da thức.

Một câu hỏi được đặt ra là : Một cá thể chúng sinh trải qua vô lượng kiếp, dữ liệu thông tin của nó được tích chứa trong Alaya thức 1. Và tất cả chúng sinh trải qua vô lượng kiếp, dữ liệu thông tin của chúng cũng được tích chứa trong Alaya thức 2. Vậy Alaya thức 1 và Alaya thức 2 có khác nhau không ? Câu trả lời là không khác nhau, vẫn chỉ là một thôi. Tại sao ?  

Bởi vì số lượng không có thật. Tất cả chúng sinh cũng chỉ là một chúng sinh mà thôi. Alaya thức 1 và Alaya thức 2  cũng chỉ là một. Người giác ngộ phải nhận ra điều đó. Có một thí nghiệm khoa học chứng tỏ điều đó.

Năm 2012Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow đã tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu tức là liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy 100.000 photon cũng chỉ là một photon.

Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow

Thí nghiệm này chứng tỏ điều mà kinh điển Phật giáo đã nói từ lâu : Tất cả chúng sinh đều chỉ là một Tâm mà ra. Một Tâm tạo ra vô lượng vô biên chúng sinh cũng giống như một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở vô số vị trí khác nhau và tất cả vị trí đều có dính líu (entangled) với nhau.

Một thí nghiệm khác cũng chứng tỏ rằng không gian và thời gian không có thật gọi là hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement).  

Năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva tiến hành thí nghiệm loại này. Họ có thể cho một photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí cách xa nhau 18km. Tác động lên vị trí A thì tức khắc vị trí B bị tác động tương ứng không mất thời gian. Thí dụ xoay hạt A sang trái thì lập tức hạt B xoay sang phải. Thời Einstein còn sống, ông không tin hiện tượng này có thật, ông nói đó là : tác động ma quái từ xa (nguyên văn : spooky action at a distance). Einstein cũng đã tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr về việc hạt photon hoặc hạt electron có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin (độ xoay) hay không. Quan điểm của Einstein cho rằng hạt luôn luôn có sẵn những đặc trưng đó, cái đó là khách quan. Để minh họa lập trường của mình Einstein nói rằng :

Einstein nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Trái lại Bohr nói rằng hạt không có thật, hạt chỉ xuất hiện khi có người quan sát như đã trích dẫn ở trên. Bohr diễn tả lập trường của mình khi nói về cơ học lượng tử (quantum mechanics)

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Cuộc tranh luận giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới chưa ngã ngũ, chưa biết ai đúng ai sai cho đến khi cả hai đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962). Đến năm 1982 tại Paris nhà khoa học Alain Aspect làm lại thí nghiệm liên kết lượng tử, dùng bất đẳng thức của John Bell chứng minh rằng hiện tượng quantum entanglement là có xảy ra thật, từ đó người ta rút ra 3 kết luận vô cùng quan trọng vô cùng cơ bản về khoa học và hiện thực là :  

1/Vật (cụ thể là hạt cơ bản như photon, electron…) không có thật (non realism)

2/Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality)cũng tức là không có thật

3/Số lượng là không có thật (non quantity)

Như vậy tiêu chuẩn đầu tiên vô cùng quan trọng để đánh giá một người có giác ngộ kiến tánh hay không là xem coi người đó có nhận thức được bản chất của vật chất là không có thật hay không. Không phải đợi khi vật chất tan rã hết mới là không có thật, mà ngay bây giờ cái nhà của bạn, chiếc xe của bạn cũng là không có thật. Bởi vì các hạt cơ bản cấu tạo nên cái nhà và chiếc xe của bạn chỉ là hạt ảo, không có thật. Hãy đọc kỹ câu nói của Niels Bhor trong tấm hình trên.

Kế đến là xem coi nhận thức của người đó về không gian và thời gian, có thấu hiểu không gian và thời gian là không có thật, là vô sở trụ hay không. Hãy đọc lại câu kinh trích trong Kim Cang : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (應無所住而生其心 Trong điều kiện vô sở trụ thì xuất hiện cái tâm ấy). Chú ý chữ ưng là điều kiện cách, chữ kỳ là đại danh từ có nghĩa là đó, ấy. Kỳ tâm nghĩa là cái tâm ấy, chứ không phải kỳ là kỳ diệu, kỳ lạ. Ở đây không có nghĩa gì là kỳ diệu kỳ lạ cả, cái tâm ấy là cái bản tâm vốn có sẵn mà chúng ta không nhận ra, chúng ta cứ nghĩ là cái đầu óc suy tư của mình (vọng tâm) là có thật mà không nhận ra bản tâm mới là người quyết định. Ở một chỗ khác, kinh Kim Cang còn nói rõ thời gian không có thật với câu : Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.

《金剛經》“過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得”

Thời gian không có thật nên quá khứ, hiện tại, vị lai đều bất khả đắc, các cảm nhận về thời gian quá khứ hiện tại vị lai đều chỉ là tâm niệm, là tưởng tượng của tâm chứ thời gian không hề có thực thể.

Thời gian, không gian, số lượng đều không có thật nên người giác ngộ phải thấu hiểu ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 tức là phải giác ngộ sắc, thọ, tưởng, hành, thức (vật chất, cảm giác của các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý thức của não, suy nghĩ tưởng tượng, chuyển động, phân biệt) đều không có thật.

Ngộ được như vậy thì sẽ đi tới chỗ làm chủ thân tâm. Tại sao ư ? Thân tâm là do mình tưởng tượng ra chứ không phải là vật gì có thật khách quan ở ngoài, tại sao mình không làm chủ được ? Làm chủ được thân tâm cũng tức là làm chủ được nghiệp. Làm chủ được nghiệp là làm chủ được sinh tử, luôn sống trong bình an bất cứ hoàn cảnh bên ngoài xảy ra như thế nào. Ngộ đời là huyễn mộng, ảo ảnh, kể cả nhân quả, tại sao cứ phải lo lắng bất an ? Phải chăng do chấp ngã, chấp pháp ?

Không gian, thời gian, vật chất không có thật, vậy thì mình phải có khả năng thấy xa vạn dặm, nghe xa vạn dặm, đi xa vạn dặm trong tích tắc, đi xuyên qua tường, bay trên trời, lặn dưới nước đều được cả.

Tất cả chỉ là thói quen, là tâm niệm thôi. Nhưng người giác ngộ không cần tập luyện để có thần thông như người ngoại đạo, không cần thiết phải luyện tập thần thông. Bởi vì khoa học là thần thông. Khoa học dựa vào bản chất của vũ trụ vạn vật và tìm ra cách để ứng dụng, do đó khả năng của khoa học là rất lớn lao. Bây giờ việc thấy xa, nghe xa, bay trên trời, lặn dưới nước, khoa học đều làm được.

Trong tương lai chúng ta có thể tin rằng khoa học có thể dùng máy in 3D vạn năng để in ra đủ mọi thứ vật dụng cần thiết phục vụ đời sống con người. Khoa học cũng có thể biến con người thành lượng tử cho phép đi xuyên qua tường, đi xuyên qua không gian và thời gian đều được cả, thực hiện cái gọi là viễn tải lượng tử giống như video clip sau đây hình dung.   

Đi xa không giới hạn trong tích tắc bằng viễn tải lượng tử  

Vậy người giác ngộ là ngộ cái gì ? Ngộ tánh không là bản thể của vũ trụ vạn vật như bộ sách Thành Duy Thức Luận (trong phần Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận 大乘百法明門論) của ngài Huyền Trang đã dịch tại Trường An vào năm Trinh Quán thứ 22 (648 Công nguyên) : Tam giới duy tâm, Vạn pháp duy thức 三界唯心,萬法唯識 (Ba cõi giới đều là tâm, Vạn pháp đều là thức). Câu đó có nghĩa là tất cả các pháp từ vật chất tới tinh thần đều do tâm tưởng tượng ra chứ không có thực thể, do đó Bát Nhã Tâm Kinh mới nói Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 (QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH)     

Vạn pháp duy thức cũng có nghĩa là cả tam giới, vũ trụ vạn vật đều chỉ là thông tin. Thức chính là thông tin. Thông thường chúng ta hiểu thông tin là news (tin tức). Thông tin trong quá khứ là lịch sử. Thông tin về đời sống xã hội của con người là văn học, nghệ thuật. Công cụ chủ yếu của thông tin là ngôn ngữ bao gồm tiếng nói và chữ viết. Ngày nay có một hình thức thông tin mới đã trở nên phổ biến trên mạng internet, đó thông tin bằng hình ảnh video kết hợp với tiếng nói và chữ viết mà chúng ta thường thấy trên Youtube.

Nhưng vạn pháp duy thức có ý nghĩa sâu xa hơn thế. Nó có nghĩa nền tảng của vũ trụ vạn vật là thông tin. Vật chất, năng lượng cũng đều là thông tin. Ngũ uẩn giai không, mang ý nghĩa như thế. Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (biết, phân biệt) đều là không. Không chỉ có nghĩa là ảo, không có thật, chứ không phải là hư vô. Clip sau đây minh họa cho ý nghĩa vạn pháp chỉ là thông tin. Như vậy vũ trụ có bản chất là số, có thể được số hóa (digital). 

Vũ trụ vạn vật chỉ là thông tin            

Ý nghĩa mới của thông tin mà tuyệt đại đa số nhân loại hiện nay đều chưa hiểu là : cái chúng ta ăn (lương thực thực phẩm), cái chúng ta mặc, mang (quần áo, giày dép), ngôi nhà chúng ta ở, chiếc xe chúng ta đi, vật dụng chúng ta sử dụng, năng lượng chúng ta sử dụng, thành phố chúng ta sinh sống… tất cả đều là thông tin. Bậc giác ngộ kiến tánh phải biết điều đó.

Nếu tất cả chỉ là thông tin, kể cả không gian, thời gian, số lượng. Vậy nhân loại hoàn toàn có thể dùng tin học để giải quyết tất cả mọi vấn đề về cơm áo gạo tiền cho toàn thể loài người không để ai phải thiếu thốn. Tại sao con người có khả năng làm được việc đó ?  Bởi vì số lượng không có thật (non quantity), nên số lượng là vô hạn. Con người không cần phải tiến hành chiến tranh với nhau để tranh giành tài nguyên, biển đảo, điều đó quả thật là mê muội, bởi vì tất cả mọi thứ đều vô hạn, vô số lượng, không cần phải tranh giành. Người giác ngộ phải biết điều đó.

Kinh Vô lượng thọ đã có hình dung về một thế giới như vậy gọi là cõi Tây phương cực lạc. Ở cõi giới đó con người muốn gì có nấy rất dễ dàng, không giới hạn. Muốn ăn chỉ cần khởi tâm là thức ăn hiện ra, ăn xong, không còn khởi tâm về ăn uống nữa, thức ăn, mâm bàn, chén đũa, tự biến mất không cần dọn dẹp.

Việc ăn uống tại cõi Tây phương Cực lạc

Ý tưởng đó hoàn toàn có cơ sở khoa học bởi vì khoa học ngày nay đã nhận ra bản chất của vũ trụ là thông tin, là số (digital). Do đó có thể dùng tin học để giải quyết vấn đề cơm áo gạo tiền. Và nhân loại có thể sẽ thực hiện trên quả địa cầu bằng khoa học.   

Trong tương lai Khoa học có thể dùng máy in 3D vạn năng để in ra mọi thứ cần dùng cho con người từ lương thực, thực phẩm tới nhà ở, đường sá, xe cộ, vật dụng. Thậm chí đối với những vật dụng nhỏ, cá nhân có thể tự in ở nhà mình.

Kết luận

Người giác ngộ kiến tánh phải nhận thức được ngũ uẩn giai không, phải ngộ tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Tức là ngộ được nền tảng của vũ trụ vạn vật là thức, thức tức là thông tin. Phải ngộ thời gian, không gian, số lượng, là không phải tuyệt đối có thật. Phải phá được ngã chấp và pháp chấp.  

Chẳng những ngộ mà còn phải thực hành được, làm được. Trước hết là làm chủ thân tâm, sống khỏe mạnh, suốt năm không bệnh, suốt đời không bệnh. Làm chủ được nghiệp. Bởi vì nghiệp do tâm tạo, làm chủ nghiệp thì không rơi vào những đường ác, làm chủ được sinh tử. Vì thực tướng ngã và pháp đều là không, nên chẳng có ai tạo nhân, chẳng có ai chịu quả cả, thế gian chỉ là huyễn mộng không có thật, giống như một vở kịch, mọi việc là do dàn dựng mà thôi. Nghiệp có cũng như không mà thôi, cũng không thật, chỉ là ảo.   

Trong Chứng Đạo Ca 證道歌 của sư Vĩnh Gia Huyền Giác 永嘉玄覺 có câu :

Chứng thực tướng, vô nhân pháp, 證實相無人法 Chứng thực tướng không có người, không có pháp

Sát na diệt khước a tỳ nghiệp. 剎那滅卻阿鼻業 Trong sát na diệt sạch a tỳ nghiệp (nghiệp nặng địa ngục)

Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh. 若將妄語誑眾生 Nếu ta đem lời nói dối chúng sinh

Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp.  自招拔舌塵沙劫 Thì tự mình bị rút lưỡi vô số kiếp

Sư Vĩnh Gia Huyền Giác đã giác ngộ, kiến tánh, làm bài Chứng Đạo Ca để bày tỏ thực tướng vạn pháp là tánh không, nhân quả nghiệp chướng cũng là không, không có người, không có pháp (vô nhân pháp 無人法 không có người là vô ngã 無我 không có pháp là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍), không có thời gian (Sát na diệt khước a tỳ nghiệp. 剎那滅卻阿鼻業) không có không gian (Ngũ ấm phù vân không khứ lai 五蘊浮雲空去來 ngũ ấm hay ngũ uẩn giống như đám mây là tánh không, không đi không đến, ý nói không gian không có thật), không có số lượng hay vật không có thật (Pháp thân giác liễu vô nhất vật 法身覺了無一物 tức liễu ngộ pháp thân cũng tức là vũ trụ vạn vật không có một vật nào là thật, đồng nghĩa số lượng là không có thật)  

Tóm lại những điều tôi trình bày dưới dạng khoa học hiện đại, kinh điển và các bậc giác ngộ xưa đều có nói hết, chỉ khác là lời nói ngày xưa hơi trừu tượng nên khó nắm bắt hơn một chút mà thôi. Còn khoa học thì nói cụ thể rõ ràng hơn và thực hiện được. Bậc giác ngộ xưa đều hiểu rõ tánh không của vũ trụ vạn vật, nhưng rất ít người có khả năng thấy xa vạn dặm, nghe xa vạn dặm. Còn ngày nay ai ai cũng làm được, điều đó là nhờ khoa học đã biết tường tận cách làm, đã chế tạo ra công cụ để thực hiện.   

Người giác ngộ kiến tánh thời hiện đại có thể làm gì ?       

Nhiệm vụ của người giác ngộ, theo truyền thống vẫn là phổ biến tư tưởng của Phật pháp, hướng dẫn cho mọi người trong xã hội nhận thức được tánh không, ngũ uẩn giai không và hành xử, thái độ ứng xử đều dựa trên cơ sở đó. Người trẻ tuổi không nhất thiết phải xuất gia vào chùa tu, mà có thể tham gia vào sự nghiệp biến quả địa cầu này thành một nơi an lành, hòa bình. Tất cả mọi người đều phải có đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, dụng cụ sinh hoạt, không để ai phải nghèo khổ thiếu thốn. Điều này thì ngày xưa không thực hiện được, thần thông do giác ngộ kiến tánh không đủ để cải tạo xã hội. Còn ngày nay có sức mạnh của khoa học, điều này có thể làm được.   

Càng có nhiều người hiểu ngũ uẩn giai không, phá được sự chấp ngã, chấp pháp thì thế giới sẽ càng thanh tịnh và an lạc. Thế giới hòa bình thì sẽ tập trung cải tạo xã hội.

Như vậy người giác ngộ nếu không tham gia chính quyền thì cũng giúp cho nhà cầm quyền, giúp cho cả xã hội giác ngộ kiến tánh. Và xây dựng một xã hội bình an, yên ổn dựa trên nguyên lý tánh không, khiến cho toàn nhân loại đều giác ngộ, toàn thể loài người trên Trái đất đều no ấm.

Các bậc giác ngộ xưa cũng đều hiểu những điều tôi trình bày nhưng không thực hiện được. Rõ ràng là nước Ấn Độ, quê hương của Phật giáo, cho đến ngày nay vẫn còn rất nhiều người nghèo đói, dân chúng nhiều người vẫn còn rất khó khăn. Ở TQ, số người giác ngộ kiến tánh được ghi chép trong Thiền sử là hơn 7000 người. Thế nhưng TQ vẫn nghèo đói, lạc hậu cho đến khi khoa học phát triển.

Ngày 25-02-2021, TQ đã tổng kết hoạt động xóa đói giảm nghèo của toàn quốc. Từ năm 1979, tức là năm TQ bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, cả nước có 850 triệu người nghèo đói.    

Đến năm 2012 TQ chỉ còn 100 triệu người nghèo đói. Và đến năm 2021 cả nước không còn ai nghèo đói cùng cực nữa. TQ là nước đông dân nhất thế giới nhưng là nước duy nhất xóa được nạn nghèo đói cùng cực. Cả nước có 800 quận huyện, vốn có mức thu nhập trung bình của người dân dưới 4.000 Nhân dân tệ (619 USD) một năm, nay đã chính thức được đưa ra khỏi danh sách nghèo đói.

Thành tích của TQ cho thấy rõ ràng tác động của khoa học kỹ thuật. Kiến tánh giác ngộ là giải thoát về mặt tinh thần. Còn thoát khỏi đói nghèo là giải thoát về mặt thực tế vật chất. Tôi mong rằng TQ sẽ thật tâm giúp cho toàn thể nhân loại thoát khỏi đói nghèo. Nhà cầm quyền TQ cũng nói là họ muốn hợp tác xây dựng để mọi người, mọi bên cùng thắng. Đó cũng là trách nhiệm của một nước lớn đối với thế giới.  

Trong thập niên 1980-1990 bỗng nhiên tại một nước theo duy vật chủ nghĩa như TQ tự dưng xuất hiện rất nhiều những nhân vật huyền thoại như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, Nghiêm Tân. Họ đã góp phần thay đổi cái nhìn của giới lãnh đạo cao cấp, từ một nước duy vật, họ đã nới lỏng tự do tư tưởng hơn, nên sách về các nhân nói trên mới được chính thức xuất bản. Sách vở kinh điển Phật giáo cũng không bị cấm. Đó cũng là lúc TQ bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa. Và sau hơn 40 năm cố gắng đổi mới, người lao động TQ đã đem lại một kết quả rất khả quan cho đất nước và người dân, chẳng những cho TQ mà còn có ảnh hưởng rất lớn tới thế giới. Hàng TQ giá rẻ đã giúp ích cho người nghèo trên khắp thế giới.

Tóm lại giác ngộ kiến tánh phải gắn liền với khoa học kỹ thuật mới có thể đem lại thay đổi lớn lao cho thế giới. Tôi kỳ vọng rằng giác ngộ kiến tánh không chỉ giới hạn ở vài ngàn người như thời xưa mà phải là hàng tỷ người. Cơ học lượng tử của khoa học ngày nay đã tiệm cận với Phật pháp liễu nghĩa sẽ giúp nhân loại hiểu rõ Tâm, Tánh Biết, Tánh Thấy, Tánh Nghe…Tánh Không, Vô Sở Trụ, các khái niệm Không có thời gian, Không có không gian, Không có số lượng sẽ dần phổ biến. Chẳng những mọi người hiểu rõ mà còn thực hành được, đem lại lợi ích thiết thực cho toàn thể nhân loại.   

Truyền Bình              

Đăng tải tại Bài viết | 22 bình luận