GIÁC NGỘ KIẾN TÁNH LÀ THẾ NÀO ?

Các Phật tử tu tập Phật pháp đều nghe nói đến sự giác ngộ kiến tánh. Họ hiểu rằng Đức Phật, các vị Bồ Tát, A La Hán, các vị Tổ Sư và một số vị thiền sư là những người giác ngộ, kiến tánh. Họ tin như vậy, ngoài ra có một số chứng cứ giúp họ tăng cường lòng tin, đó là xá lợi, những di tích còn giữ lại khi hỏa táng nhục thân của các vị ấy. Một số vị có thần thông, có thể làm những điều phi thường mà người bình thường không thể làm được. Cụ thể như Lục Tổ Huệ Năng (慧能 638-713 CN) , ngài Hám Sơn (憨山1546-1623 CN), ngài Đan Điền (丹田1535-1614 CN, ngài Nguyệt Khê (月溪1879-1965 CN) có để lại nhục thân bất hoại là những chứng cớ vững chắc biểu thị sự giác ngộ. Nhục thân của 3 ngài Huệ Năng, Hám Sơn, Đan Điền hiện còn lưu giữ tại chùa Nam Hoa thành phố Thiều Quan 韶关市 tỉnh Quảng Đông. Còn nhục thân của ngài Nguyệt Khê hiện còn lưu giữ tại chùa Vạn Phật Hong Kong.

Nhưng hình như chưa có ai đưa ra tiêu chuẩn như thế nào là kiến tánh giác ngộ. Xá lợi hay nhục thân bất hoại cũng chưa chắc chắn là chứng cớ cho sự giác ngộ, bởi vì ngoại đạo chưa giác ngộ vẫn có nhục thân bất hoại, vẫn có xá lợi. Ngay cả có thần thông cũng chưa chắc chắn là giác ngộ. Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý là những nhân vật thời hiện đại có thần thông, nhưng đã giác ngộ kiến tánh hay chưa vẫn còn là vấn đề, chưa có câu trả lời chắc chắn.

Sở dĩ xưa nay chưa có ai dám cả gan đưa ra tiêu chuẩn để xác nhận thế nào là kiến tánh giác ngộ bởi vì người xưa cho rằng đó là điều bất khả tư nghị 不可思议 Còn ngày nay thì khoa học đã nhận thức được nguyên lý bất định (uncertainty principle) và định lý bất toàn (Incompleteness theorem) nghĩa là các nhà khoa học hiểu rằng trong vũ trụ có những điều không thể khẳng định dứt khoát, không có cái gì là toàn vẹn, hoàn hảo tuyệt đối, cái hoàn hảo cũng là không hoàn hảo (Sắc Bất Dị Không). Chúng ta đang sống trong thế giới tương đối nên không thể tuyệt đối hóa một vấn đề nào đó, chẳng hạn nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc sinh vật đều không thể khẳng định chắc chắn được. Vấn đề kiến tánh giác ngộ cũng vậy, không thể xác định tiêu chuẩn chính xác 100%, tuy vậy tôi nghĩ vẫn có thể đưa ra một số tiêu chuẩn tương đối.

Định nghĩa kiến tánh giác ngộ              

Kiến tánh giác ngộ là thấy được bản chất của vũ trụ vạn vật, thấy được bản chất hai mặt đối lập và mâu thuẫn, hai mặt khác nhau đó của vũ trụ vật chất và tinh thần. Chẳng hạn Bát Nhã Tâm Kinh đã nêu ra rằng : Sắc (vật chất, hình tướng) bất dị Không (trống rỗng, emptiness, nothingness). Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Tuy hai mặt đó khác nhau, mâu thuẫn nhau nhưng không triệt tiêu nhau mà bổ sung cho nhau. Vũ trụ là nothingness, trống rỗng, chẳng có gì là thật cả, nhưng vẫn có vũ trụ vạn vật và cuộc sống con người, có đủ mọi thứ, có đau khổ và hạnh phúc. Tuyệt đại đa số mọi người đều hiểu có cuộc sống thế gian, có đau khổ và hạnh phúc, nhưng tuyệt đại đa số đều không hiểu vũ trụ là nothingness trống rỗng, chỉ là tánh không, tánh giác. Người kiến tánh thì thấy điều đó.  

Tánh giác tức là Phật tánh, đó là Tánh Biết còn gọi là Tâm hay Chân Tâm. Nó là bản chất của tất cả mọi hiện tượng trên thế gian. Tánh Biết là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)tức là pháp bất biến vốn là như vậy, không phải do cái gì sinh ra, không phải có thật, cũng không phải giả hay không có, nó là tuyệt đối bất nhị. Ngày nay khoa học hình dung Tánh Biết là một trường thống nhất (unified field) hoặc là một trường thông tin có dạng sóng, nhưng đây là sóng tiềm năng chứ không phải sóng vật chất. Vì vậy nó còn được gọi là miền tần số (frequency domain). Như vậy bản chất của Tánh Biết là thông tin, nó có rung động (hình dung như vậy) nhưng chưa có định hình, chưa có định dạng, nghĩa là nó vẫn còn là nothingness trống rỗng, vô phân biệt, bất nhị. Vậy làm thế nào Tánh Biết hiển thị thành vũ trụ vạn vật ?

Tánh Biết có sức mạnh vạn năng, nó có khả năng vô cùng vô tận. Vì vậy kinh Hoa Nghiêm nói : “心如工畫師,造種種五陰,一切世間中,無法而不造。” [Tâm như vị họa sư tạo ra tất cả các loại ngũ ấm (cũng tức là ngũ uẩn 五蘊) tất cả mọi thứ trong thế gian, không có pháp nào mà tâm không tạo ra được]. Chính vì Tâm có khả năng vĩ đại như vậy nên một số tôn giáo gọi nó là Trời, Thượng Đế, Chúa, Đạo.   

Vậy thì Tâm hay Tánh Biết tạo ra điều kiện để vũ trụ vạn vật xuất hiện. Đây là tạo tác của Tâm, nó vọng tạo ra sinh diệt, tạo ra ảo ảnh, ảo giác, ảo tưởng. Vậy Tâm tạo ra cái gì ? Trước hết nó tạo ra các hạt cơ bản của vật chất (particles of material- material particles). Đó chỉ là những hạt ảo không có thật mà kinh điển xưa gọi là hoa đốm trong hư không. Nhà vật lý học nổi tiếng Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập (Isolated) nghĩa là sao ? Cô lập nghĩa là tách rời khỏi con người hoặc cảm biến (sensor có tác dụng cũng giống như giác quan của con người). Khi bị cô lập như thế thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng. Điều đó có nghĩa là hạt cơ bản (particles) chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Nếu không có người quan sát thì hạt chỉ là sóng tiềm năng, vô hình, không có thật. Khi đã xuất hiện hạt cơ bản, chúng mới cấu trúc thành nguyên tử, phân tử, vật thể, sinh vật, con người…

Sau khi xuất hiện hạt cơ bản, Tâm tiếp tục tạo tác điều kiện, nhân duyên cho các hạt như quark và electron kết hợp lại thành nguyên tử, trong đó hạt nhân nguyên tử là các hạt proton và neutron do hạt quark tạo thành:

Hạt proton do 2 quark-up và 1 quark-down tạo thành. Hạt neutron do 1 quark-up và 2 quark-down tạo ra.

Còn electron chạy vòng vòng ở bên ngoài tạo ra đám mây gọi là vân đạo nguyên tử, chính vân đạo này tạo ra cảm giác có hạt nguyên tử vật chất, chẳng hạn các nguyên tử hydrogen, oxygen, nitrogen, carbon.  

Chính 4 nguyên tử này là thành phần chính tạo ra chất sống, tạo ra sinh vật từ loài vi trùng, vi khuẩn tới côn trùng, nấm, cây cỏ, cá tôm, chim thú, cuối cùng là con người.

Con người là sản phẩm cao cấp, hoàn thiện nhất của tâm. Con người có lục căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ. Tâm cũng tạo tác ra lục trần là đối tượng của lục căn gồm : Sắc (vật chất), Thanh (âm thanh, tiếng động), Hương (mùi thơm, thúi), Vị (ngọt, mặn, đắng, chua, cay), Xúc (cảm giác tiếp xúc như trơn, nhám, đau, sướng, tê, mỏi), Pháp (tên gọi chung của tất cả vạn vật từ hữu hình tới vô hình, kể cả tư tưởng, tình cảm). Khi lục căn tiếp xúc với lục trần thì phát sinh ra lục thức : thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, biết). Biết là khả năng nhân thức, phân biệt tổng hợp tất cả các pháp. Còn các thức khác là khả năng chuyên biệt trong từng lĩnh vực, chẳng hạn thấy là nhận thức chủ yếu là về hình dáng to nhỏ, thanh tú hay thô kệch, màu sắc trong đó 7 màu cơ bản của cầu vồng, khi pha trộn thì thành vô số màu. Nghe chủ yếu là về âm thanh, tiếng động với vô số tần số, cường độ v.v… Lục căn, lục trần, lục thức cộng chung, Phật pháp gọi là 18 giới 十八界 tức 18 loại cảnh giới cơ bản mà con người hình dung trong tâm thức. Kinh điển đã hình tượng hóa 18 giới này thành 18 vị La Hán mà chúng ta thường thấy tượng của các vị này trong các chùa. Không hẹn mà gặp, khoa học cũng tổng kết các hạt cơ bản của vật chất thành Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) bao gồm 18 hạt. Mô hình chuẩn trong bảng liệt kê dưới đây chưa có hạt hấp dẫn (graviton) vì người ta chưa tận mắt nhìn thấy chúng, nhưng trong năm 2016 người ta đã thấy sóng hấp dẫn (gravitational waves) mà hễ có sóng thì có hạt theo quy luật lưỡng tính sóng hạt (wave-particle duality).

Riêng về thức, ngoài lục thức, Duy Thức học Phật giáo còn mô tả hai thức khác gọi là: thức thứ 7 (Mạt-na= Manas) là thức chấp ngã, mỗi cá thể chúng sinh coi thân thể và tinh thần của mình bao gồm 18 giới là của riêng mình, tách biệt với thân thể và tinh thần của chúng sinh khác. Thức thứ 8 (A-lại-da= Alaya) bao gồm thức thứ 7 trải qua vô lượng kiếp chất chứa thành một cái kho cực lớn gọi là Tàng thức. Tàng thức chỉ là tên gọi khác của A-lại-da thức.

Một câu hỏi được đặt ra là : Một cá thể chúng sinh trải qua vô lượng kiếp, dữ liệu thông tin của nó được tích chứa trong Alaya thức 1. Và tất cả chúng sinh trải qua vô lượng kiếp, dữ liệu thông tin của chúng cũng được tích chứa trong Alaya thức 2. Vậy Alaya thức 1 và Alaya thức 2 có khác nhau không ? Câu trả lời là không khác nhau, vẫn chỉ là một thôi. Tại sao ?  

Bởi vì số lượng không có thật. Tất cả chúng sinh cũng chỉ là một chúng sinh mà thôi. Alaya thức 1 và Alaya thức 2  cũng chỉ là một. Người giác ngộ phải nhận ra điều đó. Có một thí nghiệm khoa học chứng tỏ điều đó.

Năm 2012Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow đã tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu tức là liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy 100.000 photon cũng chỉ là một photon.

Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow

Thí nghiệm này chứng tỏ điều mà kinh điển Phật giáo đã nói từ lâu : Tất cả chúng sinh đều chỉ là một Tâm mà ra. Một Tâm tạo ra vô lượng vô biên chúng sinh cũng giống như một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở vô số vị trí khác nhau và tất cả vị trí đều có dính líu (entangled) với nhau.

Một thí nghiệm khác cũng chứng tỏ rằng không gian và thời gian không có thật gọi là hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement).  

Năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva tiến hành thí nghiệm loại này. Họ có thể cho một photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí cách xa nhau 18km. Tác động lên vị trí A thì tức khắc vị trí B bị tác động tương ứng không mất thời gian. Thí dụ xoay hạt A sang trái thì lập tức hạt B xoay sang phải. Thời Einstein còn sống, ông không tin hiện tượng này có thật, ông nói đó là : tác động ma quái từ xa (nguyên văn : spooky action at a distance). Einstein cũng đã tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr về việc hạt photon hoặc hạt electron có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin (độ xoay) hay không. Quan điểm của Einstein cho rằng hạt luôn luôn có sẵn những đặc trưng đó, cái đó là khách quan. Để minh họa lập trường của mình Einstein nói rằng :

Einstein nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Trái lại Bohr nói rằng hạt không có thật, hạt chỉ xuất hiện khi có người quan sát như đã trích dẫn ở trên. Bohr diễn tả lập trường của mình khi nói về cơ học lượng tử (quantum mechanics)

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Cuộc tranh luận giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới chưa ngã ngũ, chưa biết ai đúng ai sai cho đến khi cả hai đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962). Đến năm 1982 tại Paris nhà khoa học Alain Aspect làm lại thí nghiệm liên kết lượng tử, dùng bất đẳng thức của John Bell chứng minh rằng hiện tượng quantum entanglement là có xảy ra thật, từ đó người ta rút ra 3 kết luận vô cùng quan trọng vô cùng cơ bản về khoa học và hiện thực là :  

1/Vật (cụ thể là hạt cơ bản như photon, electron…) không có thật (non realism)

2/Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality)cũng tức là không có thật

3/Số lượng là không có thật (non quantity)

Như vậy tiêu chuẩn đầu tiên vô cùng quan trọng để đánh giá một người có giác ngộ kiến tánh hay không là xem coi người đó có nhận thức được bản chất của vật chất là không có thật hay không. Không phải đợi khi vật chất tan rã hết mới là không có thật, mà ngay bây giờ cái nhà của bạn, chiếc xe của bạn cũng là không có thật. Bởi vì các hạt cơ bản cấu tạo nên cái nhà và chiếc xe của bạn chỉ là hạt ảo, không có thật. Hãy đọc kỹ câu nói của Niels Bhor trong tấm hình trên.

Kế đến là xem coi nhận thức của người đó về không gian và thời gian, có thấu hiểu không gian và thời gian là không có thật, là vô sở trụ hay không. Hãy đọc lại câu kinh trích trong Kim Cang : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (應無所住而生其心 Trong điều kiện vô sở trụ thì xuất hiện cái tâm ấy). Chú ý chữ ưng là điều kiện cách, chữ kỳ là đại danh từ có nghĩa là đó, ấy. Kỳ tâm nghĩa là cái tâm ấy, chứ không phải kỳ là kỳ diệu, kỳ lạ. Ở đây không có nghĩa gì là kỳ diệu kỳ lạ cả, cái tâm ấy là cái bản tâm vốn có sẵn mà chúng ta không nhận ra, chúng ta cứ nghĩ là cái đầu óc suy tư của mình (vọng tâm) là có thật mà không nhận ra bản tâm mới là người quyết định. Ở một chỗ khác, kinh Kim Cang còn nói rõ thời gian không có thật với câu : Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.

《金剛經》“過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得”

Thời gian không có thật nên quá khứ, hiện tại, vị lai đều bất khả đắc, các cảm nhận về thời gian quá khứ hiện tại vị lai đều chỉ là tâm niệm, là tưởng tượng của tâm chứ thời gian không hề có thực thể.

Thời gian, không gian, số lượng đều không có thật nên người giác ngộ phải thấu hiểu ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 tức là phải giác ngộ sắc, thọ, tưởng, hành, thức (vật chất, cảm giác của các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý thức của não, suy nghĩ tưởng tượng, chuyển động, phân biệt) đều không có thật.

Ngộ được như vậy thì sẽ đi tới chỗ làm chủ thân tâm. Tại sao ư ? Thân tâm là do mình tưởng tượng ra chứ không phải là vật gì có thật khách quan ở ngoài, tại sao mình không làm chủ được ? Làm chủ được thân tâm cũng tức là làm chủ được nghiệp. Làm chủ được nghiệp là làm chủ được sinh tử, luôn sống trong bình an bất cứ hoàn cảnh bên ngoài xảy ra như thế nào. Ngộ đời là huyễn mộng, ảo ảnh, kể cả nhân quả, tại sao cứ phải lo lắng bất an ? Phải chăng do chấp ngã, chấp pháp ?

Không gian, thời gian, vật chất không có thật, vậy thì mình phải có khả năng thấy xa vạn dặm, nghe xa vạn dặm, đi xa vạn dặm trong tích tắc, đi xuyên qua tường, bay trên trời, lặn dưới nước đều được cả.

Tất cả chỉ là thói quen, là tâm niệm thôi. Nhưng người giác ngộ không cần tập luyện để có thần thông như người ngoại đạo, không cần thiết phải luyện tập thần thông. Bởi vì khoa học là thần thông. Khoa học dựa vào bản chất của vũ trụ vạn vật và tìm ra cách để ứng dụng, do đó khả năng của khoa học là rất lớn lao. Bây giờ việc thấy xa, nghe xa, bay trên trời, lặn dưới nước, khoa học đều làm được.

Trong tương lai chúng ta có thể tin rằng khoa học có thể dùng máy in 3D vạn năng để in ra đủ mọi thứ vật dụng cần thiết phục vụ đời sống con người. Khoa học cũng có thể biến con người thành lượng tử cho phép đi xuyên qua tường, đi xuyên qua không gian và thời gian đều được cả, thực hiện cái gọi là viễn tải lượng tử giống như video clip sau đây hình dung.   

Đi xa không giới hạn trong tích tắc bằng viễn tải lượng tử  

Vậy người giác ngộ là ngộ cái gì ? Ngộ tánh không là bản thể của vũ trụ vạn vật như bộ sách Thành Duy Thức Luận (trong phần Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận 大乘百法明門論) của ngài Huyền Trang đã dịch tại Trường An vào năm Trinh Quán thứ 22 (648 Công nguyên) : Tam giới duy tâm, Vạn pháp duy thức 三界唯心,萬法唯識 (Ba cõi giới đều là tâm, Vạn pháp đều là thức). Câu đó có nghĩa là tất cả các pháp từ vật chất tới tinh thần đều do tâm tưởng tượng ra chứ không có thực thể, do đó Bát Nhã Tâm Kinh mới nói Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 (QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH)     

Vạn pháp duy thức cũng có nghĩa là cả tam giới, vũ trụ vạn vật đều chỉ là thông tin. Thức chính là thông tin. Thông thường chúng ta hiểu thông tin là news (tin tức). Thông tin trong quá khứ là lịch sử. Thông tin về đời sống xã hội của con người là văn học, nghệ thuật. Công cụ chủ yếu của thông tin là ngôn ngữ bao gồm tiếng nói và chữ viết. Ngày nay có một hình thức thông tin mới đã trở nên phổ biến trên mạng internet, đó thông tin bằng hình ảnh video kết hợp với tiếng nói và chữ viết mà chúng ta thường thấy trên Youtube.

Nhưng vạn pháp duy thức có ý nghĩa sâu xa hơn thế. Nó có nghĩa nền tảng của vũ trụ vạn vật là thông tin. Vật chất, năng lượng cũng đều là thông tin. Ngũ uẩn giai không, mang ý nghĩa như thế. Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (biết, phân biệt) đều là không. Không chỉ có nghĩa là ảo, không có thật, chứ không phải là hư vô. Clip sau đây minh họa cho ý nghĩa vạn pháp chỉ là thông tin. Như vậy vũ trụ có bản chất là số, có thể được số hóa (digital). 

Vũ trụ vạn vật chỉ là thông tin            

Ý nghĩa mới của thông tin mà tuyệt đại đa số nhân loại hiện nay đều chưa hiểu là : cái chúng ta ăn (lương thực thực phẩm), cái chúng ta mặc, mang (quần áo, giày dép), ngôi nhà chúng ta ở, chiếc xe chúng ta đi, vật dụng chúng ta sử dụng, năng lượng chúng ta sử dụng, thành phố chúng ta sinh sống… tất cả đều là thông tin. Bậc giác ngộ kiến tánh phải biết điều đó.

Nếu tất cả chỉ là thông tin, kể cả không gian, thời gian, số lượng. Vậy nhân loại hoàn toàn có thể dùng tin học để giải quyết tất cả mọi vấn đề về cơm áo gạo tiền cho toàn thể loài người không để ai phải thiếu thốn. Tại sao con người có khả năng làm được việc đó ?  Bởi vì số lượng không có thật (non quantity), nên số lượng là vô hạn. Con người không cần phải tiến hành chiến tranh với nhau để tranh giành tài nguyên, biển đảo, điều đó quả thật là mê muội, bởi vì tất cả mọi thứ đều vô hạn, vô số lượng, không cần phải tranh giành. Người giác ngộ phải biết điều đó.

Kinh Vô lượng thọ đã có hình dung về một thế giới như vậy gọi là cõi Tây phương cực lạc. Ở cõi giới đó con người muốn gì có nấy rất dễ dàng, không giới hạn. Muốn ăn chỉ cần khởi tâm là thức ăn hiện ra, ăn xong, không còn khởi tâm về ăn uống nữa, thức ăn, mâm bàn, chén đũa, tự biến mất không cần dọn dẹp.

Việc ăn uống tại cõi Tây phương Cực lạc

Ý tưởng đó hoàn toàn có cơ sở khoa học bởi vì khoa học ngày nay đã nhận ra bản chất của vũ trụ là thông tin, là số (digital). Do đó có thể dùng tin học để giải quyết vấn đề cơm áo gạo tiền. Và nhân loại có thể sẽ thực hiện trên quả địa cầu bằng khoa học.   

Trong tương lai Khoa học có thể dùng máy in 3D vạn năng để in ra mọi thứ cần dùng cho con người từ lương thực, thực phẩm tới nhà ở, đường sá, xe cộ, vật dụng. Thậm chí đối với những vật dụng nhỏ, cá nhân có thể tự in ở nhà mình.

Kết luận

Người giác ngộ kiến tánh phải nhận thức được ngũ uẩn giai không, phải ngộ tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Tức là ngộ được nền tảng của vũ trụ vạn vật là thức, thức tức là thông tin. Phải ngộ thời gian, không gian, số lượng, là không phải tuyệt đối có thật. Phải phá được ngã chấp và pháp chấp.  

Chẳng những ngộ mà còn phải thực hành được, làm được. Trước hết là làm chủ thân tâm, sống khỏe mạnh, suốt năm không bệnh, suốt đời không bệnh. Làm chủ được nghiệp. Bởi vì nghiệp do tâm tạo, làm chủ nghiệp thì không rơi vào những đường ác, làm chủ được sinh tử. Vì thực tướng ngã và pháp đều là không, nên chẳng có ai tạo nhân, chẳng có ai chịu quả cả, thế gian chỉ là huyễn mộng không có thật, giống như một vở kịch, mọi việc là do dàn dựng mà thôi. Nghiệp có cũng như không mà thôi, cũng không thật, chỉ là ảo.   

Trong Chứng Đạo Ca 證道歌 của sư Vĩnh Gia Huyền Giác 永嘉玄覺 có câu :

Chứng thực tướng, vô nhân pháp, 證實相無人法 Chứng thực tướng không có người, không có pháp

Sát na diệt khước a tỳ nghiệp. 剎那滅卻阿鼻業 Trong sát na diệt sạch a tỳ nghiệp (nghiệp nặng địa ngục)

Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh. 若將妄語誑眾生 Nếu ta đem lời nói dối chúng sinh

Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp.  自招拔舌塵沙劫 Thì tự mình bị rút lưỡi vô số kiếp

Sư Vĩnh Gia Huyền Giác đã giác ngộ, kiến tánh, làm bài Chứng Đạo Ca để bày tỏ thực tướng vạn pháp là tánh không, nhân quả nghiệp chướng cũng là không, không có người, không có pháp (vô nhân pháp 無人法 không có người là vô ngã 無我 không có pháp là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍), không có thời gian (Sát na diệt khước a tỳ nghiệp. 剎那滅卻阿鼻業) không có không gian (Ngũ ấm phù vân không khứ lai 五蘊浮雲空去來 ngũ ấm hay ngũ uẩn giống như đám mây là tánh không, không đi không đến, ý nói không gian không có thật), không có số lượng hay vật không có thật (Pháp thân giác liễu vô nhất vật 法身覺了無一物 tức liễu ngộ pháp thân cũng tức là vũ trụ vạn vật không có một vật nào là thật, đồng nghĩa số lượng là không có thật)  

Tóm lại những điều tôi trình bày dưới dạng khoa học hiện đại, kinh điển và các bậc giác ngộ xưa đều có nói hết, chỉ khác là lời nói ngày xưa hơi trừu tượng nên khó nắm bắt hơn một chút mà thôi. Còn khoa học thì nói cụ thể rõ ràng hơn và thực hiện được. Bậc giác ngộ xưa đều hiểu rõ tánh không của vũ trụ vạn vật, nhưng rất ít người có khả năng thấy xa vạn dặm, nghe xa vạn dặm. Còn ngày nay ai ai cũng làm được, điều đó là nhờ khoa học đã biết tường tận cách làm, đã chế tạo ra công cụ để thực hiện.   

Người giác ngộ kiến tánh thời hiện đại có thể làm gì ?       

Nhiệm vụ của người giác ngộ, theo truyền thống vẫn là phổ biến tư tưởng của Phật pháp, hướng dẫn cho mọi người trong xã hội nhận thức được tánh không, ngũ uẩn giai không và hành xử, thái độ ứng xử đều dựa trên cơ sở đó. Người trẻ tuổi không nhất thiết phải xuất gia vào chùa tu, mà có thể tham gia vào sự nghiệp biến quả địa cầu này thành một nơi an lành, hòa bình. Tất cả mọi người đều phải có đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, dụng cụ sinh hoạt, không để ai phải nghèo khổ thiếu thốn. Điều này thì ngày xưa không thực hiện được, thần thông do giác ngộ kiến tánh không đủ để cải tạo xã hội. Còn ngày nay có sức mạnh của khoa học, điều này có thể làm được.   

Càng có nhiều người hiểu ngũ uẩn giai không, phá được sự chấp ngã, chấp pháp thì thế giới sẽ càng thanh tịnh và an lạc. Thế giới hòa bình thì sẽ tập trung cải tạo xã hội.

Như vậy người giác ngộ nếu không tham gia chính quyền thì cũng giúp cho nhà cầm quyền, giúp cho cả xã hội giác ngộ kiến tánh. Và xây dựng một xã hội bình an, yên ổn dựa trên nguyên lý tánh không, khiến cho toàn nhân loại đều giác ngộ, toàn thể loài người trên Trái đất đều no ấm.

Các bậc giác ngộ xưa cũng đều hiểu những điều tôi trình bày nhưng không thực hiện được. Rõ ràng là nước Ấn Độ, quê hương của Phật giáo, cho đến ngày nay vẫn còn rất nhiều người nghèo đói, dân chúng nhiều người vẫn còn rất khó khăn. Ở TQ, số người giác ngộ kiến tánh được ghi chép trong Thiền sử là hơn 7000 người. Thế nhưng TQ vẫn nghèo đói, lạc hậu cho đến khi khoa học phát triển.

Ngày 25-02-2021, TQ đã tổng kết hoạt động xóa đói giảm nghèo của toàn quốc. Từ năm 1979, tức là năm TQ bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, cả nước có 850 triệu người nghèo đói.    

Đến năm 2012 TQ chỉ còn 100 triệu người nghèo đói. Và đến năm 2021 cả nước không còn ai nghèo đói cùng cực nữa. TQ là nước đông dân nhất thế giới nhưng là nước duy nhất xóa được nạn nghèo đói cùng cực. Cả nước có 800 quận huyện, vốn có mức thu nhập trung bình của người dân dưới 4.000 Nhân dân tệ (619 USD) một năm, nay đã chính thức được đưa ra khỏi danh sách nghèo đói.

Thành tích của TQ cho thấy rõ ràng tác động của khoa học kỹ thuật. Kiến tánh giác ngộ là giải thoát về mặt tinh thần. Còn thoát khỏi đói nghèo là giải thoát về mặt thực tế vật chất. Tôi mong rằng TQ sẽ thật tâm giúp cho toàn thể nhân loại thoát khỏi đói nghèo. Nhà cầm quyền TQ cũng nói là họ muốn hợp tác xây dựng để mọi người, mọi bên cùng thắng. Đó cũng là trách nhiệm của một nước lớn đối với thế giới.  

Trong thập niên 1980-1990 bỗng nhiên tại một nước theo duy vật chủ nghĩa như TQ tự dưng xuất hiện rất nhiều những nhân vật huyền thoại như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, Nghiêm Tân. Họ đã góp phần thay đổi cái nhìn của giới lãnh đạo cao cấp, từ một nước duy vật, họ đã nới lỏng tự do tư tưởng hơn, nên sách về các nhân nói trên mới được chính thức xuất bản. Sách vở kinh điển Phật giáo cũng không bị cấm. Đó cũng là lúc TQ bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa. Và sau hơn 40 năm cố gắng đổi mới, người lao động TQ đã đem lại một kết quả rất khả quan cho đất nước và người dân, chẳng những cho TQ mà còn có ảnh hưởng rất lớn tới thế giới. Hàng TQ giá rẻ đã giúp ích cho người nghèo trên khắp thế giới.

Tóm lại giác ngộ kiến tánh phải gắn liền với khoa học kỹ thuật mới có thể đem lại thay đổi lớn lao cho thế giới. Tôi kỳ vọng rằng giác ngộ kiến tánh không chỉ giới hạn ở vài ngàn người như thời xưa mà phải là hàng tỷ người. Cơ học lượng tử của khoa học ngày nay đã tiệm cận với Phật pháp liễu nghĩa sẽ giúp nhân loại hiểu rõ Tâm, Tánh Biết, Tánh Thấy, Tánh Nghe…Tánh Không, Vô Sở Trụ, các khái niệm Không có thời gian, Không có không gian, Không có số lượng sẽ dần phổ biến. Chẳng những mọi người hiểu rõ mà còn thực hành được, đem lại lợi ích thiết thực cho toàn thể nhân loại.   

Truyền Bình              

Đăng tải tại Bài viết | 22 bình luận

VÔ SỞ TRỤ LÀ GÌ ?

Phật giáo là một đạo lý hướng dẫn con người đến sự giác ngộ. Giác ngộ là một cảnh giới tâm lý của con người, nó không phải là một thực thể khách quan. PG không có kiến lập chân lý, không có cái gì là thực thể khách quan cả, kể cả thế giới vật chất của vũ trụ vạn vật. Long Thọ Bồ Tát nói : Tâm như hư không vô sở hữu (tâm giống như hư không, không có thật nhưng cũng không phải là không có). Do đó kinh Kim Cang đưa ra nhận thức về vô sở trụ. Tôi cố gắng tìm hiểu và nhận thức về vô sở trụ trong bài viết sau. Nó rất gần gũi với hiện thực cuộc sống của con người hiện đại chứ không phải xa xôi đâu. Nhưng trước khi đọc bài viết, nhân dịp Tết Tân Sửu 2021, xin mời các bạn nghe cô Lệ Phương của đài RTI chúc tết và nghe ca sĩ Lương Bích Hữu hát một bài nhạc Xuân.

Một Năm Vui Vẻ- Ca sĩ Lương Bích Hữu thể hiện 

Cảnh sắc Xuân đơn sơ

Mấy chữ Vô Sở Trụ trích từ kinh Kim Cang : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 nghĩa là trong điều kiện vô sở trụ (non locality) thì xuất hiện cái tâm ấy.

 Tâm ấy là tâm gì ? Đó là tâm giác ngộ, là trí bát nhã 般 若 (tiếng Phạn là Prajñā  là trí tuệ vô phân biệt của Phật, Bồ Tát. Người bình thường thì thấy có không gian, có thời gian, có vật chất, có số lượng. Tức là người bình thường chúng ta có ý thức phân biệt đủ thứ. Phật và Bồ Tát đều thấy đó chỉ là vọng tưởng, chỉ là ảo tưởng, là khái niệm không có thực thể, gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 Từ thế lưu bố tưởng sinh ra chấp trước tưởng 執著想 Chính chấp trước tưởng gây ra đau khổ cho con người. Gần đây tại tỉnh Tây Ninh VN ngày 14/01/2021 xảy ra một sự kiện rất đáng thương xót, đó là một phụ nữ 24 tuổi chỉ vì mâu thuẫn với cha ruột của mình mà đã ôm hai con gái 7 tuổi và 4 tuổi nhảy xuống một dòng kênh tự tử, cả 3 đều chết.

Tại sao không gian, thời gian, vật chất, số lượng đều không có thực thể ? Vì như nhà khoa học Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập (Isolated) nghĩa là sao ? Cô lập nghĩa là tách rời khỏi con người hoặc cảm biến (sensor có tác dụng cũng giống như giác quan của con người). Khi bị cô lập như thế thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng. Điều đó có nghĩa là hạt cơ bản (particles) chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Nếu không có người quan sát thì hạt chỉ là sóng tiềm năng, vô hình, không có thật. Khi đã xuất hiện hạt cơ bản, chúng mới cấu trúc thành nguyên tử, phân tử, vật thể, sinh vật, con người…Bát Nhã Tâm Kinh mô tả lưỡng tính sóng hạt (wave-particle duality) đó bằng câu 色不異空、空不異色、色即是空、空即是色 (sắc là vật chất, không là tánh không, không có khác nhau đều là không có thật). Một thí nghiệm khoa học cho thấy rõ không gian, thời gian, số lượng là không có thật gọi là hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva tiến hành thí nghiệm loại này. Họ có thể cho một photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí cách xa nhau 18km. Tác động lên vị trí A thì tức khắc vị trí B bị tác động tương ứng không mất thời gian. Thí dụ xoay hạt A sang trái thì lập tức hạt B xoay sang phải. Thời Einstein còn sống, ông không tin hiện tượng này có thật, ông nói đó là : tác động ma quái từ xa (nguyên văn : spooky action at a distance). Einstein cũng đã tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr về việc hạt photon hoặc hạt electron có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin (độ xoay) hay không. Quan điểm của Einstein cho rằng hạt luôn luôn có sẵn những đặc trưng đó, cái đó là khách quan. Để minh họa lập trường của mình Einstein nói rằng :

Einstein nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Trái lại Bohr nói rằng hạt không có thật, hạt chỉ xuất hiện khi có người quan sát như đã trích dẫn ở trên. Bohr diễn tả lập trường của mình khi nói về cơ học lượng tử (quantum mechanics)

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Cuộc tranh luận giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới chưa ngã ngũ, chưa biết ai đúng ai sai cho đến khi cả hai đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962). Đến năm 1982 tại Paris nhà khoa học Alain Aspect làm lại thí nghiệm liên kết lượng tử, dùng bất đẳng thức của John Bell chứng minh rằng hiện tượng quantum entanglement là có xảy ra thật, từ đó người ta rút ra 3 kết luận vô cùng quan trọng vô cùng cơ bản về khoa học và hiện thực là :  

1/Vật (cụ thể là hạt cơ bản như photon, electron…) không có thật (non realism)

2/Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality)

3/Số lượng là không có thật (non quantity)

Có một thí nghiệm khoa học chứng tỏ số lượng không có thật. Năm 2012 Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow vừa tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu tức là liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy 100.000 photon cũng chỉ là một photon.

Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow

Những kết luận này chứng tỏ rằng lập trường của Bohn là đúng, lập trường của Einstein là sai. Kết luận này cũng phù hợp với thuyết Big Bang về sự thành lập vũ trụ. Khởi đầu cách nay 13,8 tỷ năm, vũ trụ chỉ là một nguyên tử nguyên thủy (primeval atom) hoặc một điểm kỳ dị (singularity point). Nguyên tử nguyên thủy đó phát nổ (Big Bang) và tạo ra không gian, thời gian và vũ trụ vạn vật.

Những kết luận này cũng tương đồng với những điểm quan trọng cốt lõi nhất của Phật giáo. Chẳng hạn  Kinh Hoa Nghiêm nói Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc  trưng đặc điểm). Về mặt khoa học thì câu này được hiểu là tất cả các hạt cơ bản cấu tạo nên vật chất như quark, photon, electron…đều không có sẵn đặc trưng. Vậy tại sao lại có sự hiện hữu của Vũ trụ vạn vật ? Kinh điển nói rằng đó chỉ là thế lưu bố tưởng  世流布想 (tất cả chỉ là khái niệm, là tưởng tượng đã hình thành do thói quen từ lâu đời và đã phổ biến trên thế gian).

Thầy Duy Lực nói về không gian, thời gian, số lượng vật chất, chỉ là khái niệm không có thực thể

Kinh Phật nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo一切唯心造 Kinh Hoa Nghiêm nói : “心如工畫師,造種種五陰,一切世間中,無法而不造。” [Tâm như vị họa sư tạo ra tất cả các loại ngũ ấm (cũng tức là ngũ uẩn五蘊) tất cả mọi thứ trong thế gian, không có pháp nào mà tâm không tạo ra được]. Tâm tạo ra hạt cơ bản của vật chất, cụ thể là hạt electron như trong thí nghiệm hai khe hở (Double slit experiment)  sau đây :

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau là màn hứng hiển thị kết quả. Sở dĩ phải bắn từng hạt electron chứ không phải bắn cùng lúc nhiều hạt để tránh trường hợp các hạt va chạm nhau bay tứ tung làm sai lạc kết quả. Sau khi bắn như vậy khoảng một tiếng đồng hồ, kết quả như sau :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng thể hiện thành nhiều vạch

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron và chỉ thể hiện 2 vạch tương ứng với 2 khe hở

Điều đó chứng tỏ tâm của người quan sát tạo ra hạt electron là một hạt cơ bản của vật chất, nếu không có người quan sát thì electron chỉ là sóng vô hình, vô thể, không có vị trí nhất định trong không gian hay thời gian. Tính không nhất định về không gian thể hiện ở chỗ ta đứng ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới cũng có thể đọc được bài viết này miễn có internet. Tính không nhất định về thời gian thể hiện ở chỗ ta có thể đọc bài viết này trên điện thoại hoặc laptop bất cứ lúc nào ta rảnh, không hạn chế thời gian giờ giấc. Tính không nhất định về không gian và thời gian chính là điều mà kinh điển gọi là vô sở trụ (non locality).

Khoa học đã ứng dụng tính vô sở trụ của hạt photon và hạt electron dể chế tạo ra chiếc điện thoại thông minh (smartphone) giúp chúng ta có thể nhìn thấy và nói chuyện với bạn bè, người thân ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, không phụ thuộc vào việc mọi người đang đứng ở đâu. Nếu chúng ta và người đối thoại luôn mang theo smartphone bên mình thì cơ bản cuộc hội thoại cũng không phụ thuộc vào thời gian, bất cứ lúc nào cũng có thể tiếp xúc được.

Thực tế là hiện nay các ngân hàng kể cả ngân hàng ở Việt Nam như Vietcombank cho phép các dịch vụ ngân hàng diễn ra bất kể ngày đêm không phụ thuộc giờ giấc như VCBDigibank, VCB-iB@nking. Chẳng hạn con gái tôi muốn gởi cho tôi chút ít tiền xài tết, nhưng lúc đó ở VN đã là ban đêm, nhưng tiền vẫn chuyển được dễ dàng vào tài khoản của tôi. Chuyển xong con gái thông báo, tôi lập tức truy cập vào mạng để biết tiền đã vào tài khoản hay chưa, và phản hồi cho con gái hay chỉ trong vòng 30 giây. Sự kiện này chứng tỏ rằng thời gian chỉ là một khái niệm do thói quen chứ không có thực thể.

Trong thiền sử có kể lại việc Hư Vân hòa thượng trong lúc đang nấu khoai trong một cái cốc nhỏ tại núi Chung Nam (phía nam Trường An) ngồi nhập định, quên mất thời gian. Lão hòa thượng nhập định khoảng nửa tháng mà không hề hay biết, đến khi đồng môn tìm thấy, hỏi ngài đã nhập định trong bao lâu, ngài nói chỉ mới một lát thôi mà, nhưng thực tế đã qua nửa tháng, lửa của nồi khoai đã tắt từ lâu, khoai đã lên mốc.      

0940 Nhập định quên mất thời gian- Hư Vân lão hòa thượng     

Trong tương lai khoa học còn có thể đi xa hơn nữa, có thể giúp chúng ta đi đến bất cứ nơi đâu trên thế giới chỉ trong tích tắc bằng phương tiện gọi là viễn tải lượng tử (quantum teleportation) như video sau đây minh họa.

Đi xa không giới hạn trong tích tắc bằng viễn tải lượng tử       

Truyền Bình

Phụ chú : Thầy Duy Lực nói một cách khái quát một giây (second) bằng 60 sát-na. Nhưng tôi khảo sát kinh điển cụ thể thì thấy chính xác theo số liệu của kinh điển thì một giây = 75 sát-na.

Kinh A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận 阿毘達磨大毘婆沙論 (Abhidharma – mahavibhàsà – sàstra) định nghĩa sát na 刹那 (Sa.ksana) như sau : Một ngày đêm có 30 mâu hô lật đa 牟呼栗多(muhurta), một mâu hô lật đa bằng 30 lạp phược 臘縛 (lava), một lạp phược bằng 60 đát sát na 怛剎那(tatksana), một đát sát na bằng 120 sát na 刹那 (ksana).

Suy ra một ngày đêm 24 giờ bằng 30 x 30 x 60 x 120 = 6.480.000 sát na.

Một ngày đêm 24 giờ = 24x 3600 = 86.400 giây

Vậy một giây của chúng ta (second) bằng 6.480.000 /86.400 = 75 sát na

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

KHÔNG CÓ SỐ LƯỢNG NGHĨA LÀ GÌ ?

Khái niệm về không có số lượng (non quantity)

Phật pháp có hàng ngàn hàng vạn kinh điển. Kinh điển Phật giáo chia làm hai loại cơ bản : bất liễu nghĩa 不了義 và liễu nghĩa 了義 . Bất liễu nghĩa mang hàm ý phương tiện, có thể hình dung giống như cái xe để chở người đi, như tiểu thừa 小乘 trung thừa 中乘 đại thừa 大乘. Tiểu thừa là cái xe nhỏ chỉ chở được một người. Trung thừa là cái xe vừa vừa chở được một số người. Đại thừa là cái xe lớn chở được rất nhiều người. Bất liễu nghĩa không phải cái nghĩa rốt ráo tối thượng. Kinh bất liễu nghĩa phù hợp với số đông người, họ quen thuộc với những quan niệm thông thường trong xã hội kể cả quan điểm khoa học dạng cổ điển hoặc tương đối (cơ học Newton, thuyết sinh vật tiến hóa Darwin, thuyết tương đối của Einstein). Còn liễu nghĩa là ý nghĩa sâu xa rốt ráo trái với nhận thức thường nghiệm của con người, nhưng đúng với thực tế bản thể của Tam giới 三界 (ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới). Ví dụ đây là phát biểu liễu nghĩa của Tổ Sư Thiền :    

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

Thuyết giảng của thầy Duy Lực nói rằng không gian, thời gian và số lượng chỉ là ba cái khái niệm, chúng không có bản thể, không có thật. Thế giới của chúng ta chỉ là cái thế giới tưởng tượng (điên đảo mộng tưởng) dựa trên 3 cái khái niệm cơ bản đó. Nó giống như căn nhà của chúng ta phải dựa trên 3 món đồ, ví dụ cái nền nhà (không gian), các loại vật thể làm thành cột kèo, tường vách, rui mè, mái nhà (số lượng vật chất) và tuổi thọ của cái nhà (thời gian). Nếu không có 3 món đồ đó thì cái nhà không thể hình thành. Nhưng cả ba món đó (không gian, thời gian, số lượng) đều chỉ là là 3 cái khái niệm chứ không có bản thể, không có thực thể. Nói đến đây thì tuyệt đại đa số độc giả đều không thể hiểu nổi, không thể tin nổi. Làm sao mà không gian, thời gian, số lượng không có thật được ? Số lượng dùng để đếm vật chất nhiều hay ít, số lượng còn dùng để tính không gian rộng bao nhiêu, khoảng cách xa bao nhiêu, thời gian lâu hay mau. Ví dụ khoảng cách từ Sài Gòn đến Luân Đôn là hơn 10.000 km đi máy bay phải mất khoảng 12 tiếng đồng hồ mới đến, đường bộ thì phải đi qua bao nhiêu đất đá, núi đồi, sông biển, của bao nhiêu quốc gia mới đến, làm sao nói không có được, không thể nào tin. Chính vì vậy mà tuyệt đại đa số Phật tử chỉ có thể hiểu được kinh bất liễu nghĩa mà không thể hiểu kinh liễu nghĩa. Kinh liễu nghĩa nói những câu mà người bình thường không thể hiểu, không thể tin, chẳng hạn kinh Hoa Nghiêm nói:

Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造 tất cả (kể cả không gian thời gian và số lượng) đều là do tâm tạo.      

Nghe thế ắt có người sẽ hỏi : vậy tâm có thể tạo ra cái nhà, tạo ra chiếc xe cho tôi sao ? Có người cố gắng giải thích rằng do tâm muốn có nhà, muốn có xe nên phải cố gắng làm việc kiếm tiền rồi mua sắm. Còn những người làm ra nhà, làm ra xe thì cũng do tâm họ muốn từ đó nghiên cứu, chế tạo. Nhưng nói như vậy thì là sao giải thích tâm tạo ra mặt trời, mặt trăng, quả địa cầu, tâm tạo ra vũ trụ vạn vật ? Những thứ đó đâu phải do con người tạo ra. Dù cho cả loài người mong muốn cũng không thể tạo nổi quả địa cầu. Vậy kinh có nói quá không ?

Tôi xin đảm bảo với mọi người là kinh điển không hề nói quá, thực tế đúng là như vậy. Khi khoa thiên văn của loài người tiến bộ, nhìn thật xa trong vũ trụ mênh mông, thấy vô số thiên hà, vô số mặt trời, vô số hành tinh. Không gian vũ trụ thật là rộng lớn. Ánh sáng đi với vận tốc 300.000 km/giây phải mất hàng tỷ năm mới đến được những thiên hà xa xôi. Các ngôi sao nhiều vô số và đều có kích thước khổng lồ, vật chất ở đâu mà nhiều dữ thế ? Vật thể do con người chế tạo mà đi vào vũ trụ, rời khỏi Trái đất xa nhất là phi thuyền Voyager-1 của Mỹ nặng 722kg phóng đi ngày 05-09-1977 bay trong không gian với tốc độ khoảng 50.000 km/giờ, đã bay được 43 năm, hiện nay cách xa Trái đất 20 tỷ km. Nhưng so với một quang niên (năm ánh sáng = 9500 tỷ km) thì 20 tỷ km chẳng thấm vào đâu, chỉ bằng 0,002 (2 phần ngàn) của một quang niên.

Các nhà khoa học thiên văn vũ trụ nhận thấy rằng vũ trụ hiện nay vẫn còn đang nở rộng. Họ đưa ra giả thuyết Big Bang để mô tả lịch sử vũ trụ. Từ tình hình hiện tại của vũ trụ họ suy luận ngược về quá khứ về thời điểm bắt đầu của vũ trụ. Quan sát thiên văn của Edwin Hubble cho thấy quả thật vũ trụ đang giãn nở.  

Tính toán của Stephen Hawking và Roger Penrose trong những năm 1968-1970 cũng đi đến kết luận khẳng định rằng sự khởi đầu của vũ trụ (Big Bang) là không thể tránh được.

 Lý thuyết Big Bang đã đẩy vũ trụ học tới giới hạn của nhận thức: đó là điểm ban đầu của vũ trụ, được gọi là “nguyên tử nguyên thủy” (primeval atom) hoặc điểm kỳ dị (singularity point). Theo lý thuyết này, vũ trụ ban đầu là một điểm siêu vật chất (một điểm tập trung vật chất với mật độ lớn tới mức không thể tưởng tượng được), rồi sau một vụ nổ lớn (big bang) nó bừng nở ra rồi “tiến hóa” dần thành vũ trụ như ngày nay. Vũ trụ hiện nay cách thời điểm phát sinh vụ nổ là 13,8 tỷ năm (thời gian). Còn đường kính của vũ trụ hiện nay là khoảng 93 tỷ quang niên (không gian). Tại sao chỉ trong thời gian 13,8 tỷ năm mà vũ trụ đã rộng ra tới 93 tỷ quang niên ? Câu trả lời là vũ trụ giãn nở có gia tốc, nó khiến cho không gian vũ trụ nở rộng với tốc độ lớn hơn tốc độ ánh sáng. Còn số lượng vật chất có trong vũ trụ là hơn 2000 tỷ thiên hà (số lượng= quantity). Theo Phật pháp thì ba đại lượng cơ bản của vũ trụ vạn vật tức không gian, thời gian và số lượng chỉ là khái niệm, là tưởng tượng (gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想) chứ không có thực thể. Tại sao ? Kinh Hoa Nghiêm trả lời là do Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc  trưng đặc điểm). Về mặt khoa học thì câu này được hiểu là tất cả các hạt cơ bản cấu tạo nên vật chất như quark, photon, electron…đều không có sẵn đặc trưng. Điều này đã được nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr phát biểu : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập (Isolated) nghĩa là sao ? Cô lập nghĩa là tách rời khỏi con người hoặc cảm biến (sensor có tác dụng cũng giống như giác quan của con người). Khi bị cô lập như thế thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng, không còn là hạt vật chất hữu hình nữa mà chỉ là sóng tiềm năng vô hình, nó là tâm, là tinh thần, không phải là vật chất nữa, chính cái tâm thì không có số lượng, cũng không có không gian hay thời gian. Chỉ khi nào sóng đó bị con người hoặc sensor của con người quan sát hoặc tiếp xúc thì sóng tiềm năng vô hình đó mới xuất hiện thành hạt cơ bản, từ đó mới có thế giới tương đối mà con người quen thuộc. Kinh Kim Cang đã mô tả trạng thái đó bằng câu : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 Chữ ưng 應 diễn tả điều kiện cách (conditional mood) Trong điều kiện vô sở trụ (non locality) thì cái tâm vô lượng ấy xuất hiện. Cái tâm ấy là tâm gì ? Đó là tâm bản nguyên, tâm giác ngộ. Với cái tâm ấy thì không gian, thời gian và số lượng đều không có thật, là do nó tưởng tượng ra. Ba đại lượng này chỉ xuất hiện trong cái tâm thứ cấp là hoạt động của bộ não của con người, chỉ trong hoạt động của bộ não mới có ba đại lượng này, chứ ba món đồ này không phải là thực thể khách quan. Các hạt cơ bản của vật chất chỉ là hạt ảo, chúng tạo ra không gian, thời gian và số lượng, tạo ra vũ trụ vạn vật, cảnh giới đó chỉ là thế lưu bố tưởng 世流布想 tức cảnh giới tưởng tượng đã hình thành qua nhiều đời nhiều kiếp và trở nên phổ biến chứ không có thực thể. Chính vì vậy mà Niels Bohr đã phát biểu gây sốc cho giới khoa học :

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) có thể chứng tỏ rõ ràng điều này. Người ta làm thí nghiệm như sau :

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau là màn hứng hiển thị kết quả. Sở dĩ phải bắn từng hạt electron chứ không phải bắn cùng lúc nhiều hạt để tránh trường hợp các hạt va chạm nhau bay tứ tung làm sai lạc kết quả. Sau khi bắn như vậy khoảng một tiếng đồng hồ, kết quả như sau :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng thể hiện thành nhiều vạch

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron và chỉ thể hiện 2 vạch tương ứng với 2 khe hở

Điều đó chứng tỏ tâm của người quan sát tạo ra hạt electron là một hạt cơ bản của vật chất, nếu không có người quan sát thì electron chỉ là sóng vô hình, vô thể, không có vị trí nhất định trong không gian hay thời gian. Tính không nhất định về không gian thể hiện ở chỗ ta đứng ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới cũng có thể đọc được bài viết này miễn có internet. Tính không nhất định về thời gian thể hiện ở chỗ ta có thể đọc bài viết này trên điện thoại hoặc laptop bất cứ lúc nào ta rảnh, không hạn chế thời gian giờ giấc.

Các hạt cơ bản của vật chất chỉ là những hạt ảo, chúng chỉ “thật” trong cảm giác của con người. Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Nicolas Gisin của đại học Geneva Thụy Sĩ tiến hành năm 2008 đã chứng tỏ rõ ràng rằng khoảng cách không gian 18km giữa hai hạt photon A và B xuất hiện đồng thời từ một hạt photon là không có thật. Do đó khi tác động hạt A thì hạt B bị tác động tức thời không mất chút thời gian nào. Khoa học có thể ứng dụng tính chất này để thực hiện dịch chuyển tức thời hay viễn tải lượng tử (quantum teleportation) ở khoảng cách rất xa mà không mất thời gian.

Dịch chuyển tức thời hay viễn tải lượng tử là khả thi     

Tóm lại số lượng (quantity) là ảo. Nó là phương tiện mà tâm bản nguyên giả lập nên vũ trụ vạn vật bằng cách từ một điểm kỳ dị (singularity point) phóng hiện nó thành vô lượng vô biên hạt cơ bản. Rồi các hạt kết hợp thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, ngôi sao, hành tinh, thiên hà vũ trụ vạn vật, sinh vật, con người. Quá trình sáng thế đó tạo ra không gian và thời gian. Và trên một hành tinh của một hệ mặt trời được đặt tên là Địa cầu hay Trái đất, sinh vật và loài người xuất hiện, tạo ra thế giới văn minh mà chúng ta đang sống hiện nay. Tâm bản nguyên được khoa học mô tả là trường thống nhất (unified field) hoặc miền tần số (frequency domain). Chính cái tâm này tạo ra vũ trụ vạn vật ảo bằng khả năng tưởng tượng vô biên của nó mà Phật giáo diễn tả bằng câu Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造 tất cả đều là do tâm tạo. Không gian vô tận, thời gian vô cùng, vật chất vô số lượng chính là câu trả lời cho câu hỏi : trong vũ trụ vật chất ở đâu mà nhiều dữ, bởi vì vật chất không có thật, không có số lượng.     

Khái niệm không có số lượng sẽ đưa nhân loại tới đâu ?

Trước khi đi xa hơn về tương lai của nhân loại, tôi xin tóm tắt ý nghĩa của vô số lượng (non quantity). Trước hết nói về Số lượng, đó là là con số để tính vật chất trong vũ trụ, tính toán tất cả mọi thứ gì có thể định lượng trong thế giới của con người. Số lượng còn dùng để tính khoảng cách không gian rộng bao lớn, để tính thời gian dài bao lâu. Tóan học là một môn khoa học cơ bản của con người về các phương pháp tính số lượng. Số lượng quan trọng đến nỗi ngày nay con người đã dần dần số hóa tất cả mọi hoạt động của loài người. Số hóa (digital) là biến tất cả mọi thứ thành con số. Rồi người ta gán ghép cho mỗi con số một đặc điểm, đặc tính. Khi lưu trữ thì tất cả dữ liệu chỉ là những con số. Nhưng khi hiển thị thì những con số đã được con chip vi xử lý (processor) thay thế bằng các đặc điểm, đặc tính. Tốc độ thay thế là cực nhanh, mỗi giây nó có thể thay thế hàng tỷ đặc điểm vào hàng tỷ con số. Kết quả là trên màn hình không phải hiện ra những con số mà là hiện ra văn bản, hình ảnh, video. Còn âm thanh thì phát ra ở cái loa (speaker) hoặc headphone hay earphone. Điều này cũng giống như trong thế giới đời thường, bộ não thay thế sóng tiềm năng thành hạt cơ bản, nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, sơn hà đại địa, sinh vật, con người, khiến chúng ta có cảm giác rằng tất cả đều có thật. Điều này đã được khoa học trình bày thành một clip tóm tắt như sau :

Vạn Pháp Duy Thức (Tất cả các pháp chỉ là thức, là cảm giác)            

Trên đây là nói về số lượng, những con số. Còn vô số lượng thì sẽ đưa xã hội loài người tới đâu ?

Số lượng là bất liễu nghĩa, là có giới hạn, nó đưa con người tới tranh giành bởi vì số lượng bị hạn chế. Con người tranh giành danh vọng, tiền bạc, tài sản, đất đai, lãnh thổ, biển đảo; tranh giành tài nguyên dầu mỏ, nguồn nước, các loại quặng mỏ; lấy mạng sống của các loài sinh vật khác để phục vụ cho con người; tranh giành địa vị bá chủ về nhiều lĩnh vực. Sự tranh giành dẫn tới chiến tranh xung đột, cá nhân và tập thể tìm cách hại nhau để được lợi về phần mình, dẫn tới tương lai u ám cho nhân loại.     

Vô số lượng là liễu nghĩa, là không có giới hạn. Khái niệm này dựa trên cơ sở khoa học ở trình độ tối thượng, là tối thượng thừa của Phật giáo. Nó dựa trên thực tế bất nhị của pháp giới. Người với ta cũng không phải là hai, số lượng không có thật, không gian, thời gian đều không có thật. Không phải hoàn toàn không có nhưng mà không phải là có thật.  

Vật chất là vô lượng. Năng lượng là vô lượng. Không cần phải tranh giành. Con người chỉ cần khai thác nguồn năng lượng vô tận, chẳng hạn ánh sáng mặt trời như một nguồn nguyên liệu và một nguồn năng lượng vô tận.

Con người sẽ tiến tới cuộc cách mạng tin học thay cho cuộc cách mạng công nghiệp. Con người sản xuất vật chất, sản xuất ra lương thực thực phẩm, tất cả các loại hàng tiêu dùng, đều bằng phương pháp tin học không có ô nhiễm, không có chất thải. Hãy thử tưởng tượng một máy in 3D tiên tiến của tương lai sử dụng ánh sáng mặt trời để chạy. Nó có thể sản xuất ra tất cả mọi thứ phục vụ cho tất cả nhu cầu của con người chỉ bằng ánh sáng mặt trời, không có sự hạn chế về số lượng.

Hãy thử tưởng tượng con người di chuyển đi xa không mất thời gian, không phải bằng xe cộ, máy bay, tàu hỏa hay tàu thuyền mà bằng viễn tải lượng tử. Khoa học đã hình dung như thế này:    

Di chuyển đi xa bằng viễn tải lượng tử (quantum teleportation)

Con người không cần phải giết hại sinh vật khác, đoạt mạng sống của chúng sinh một cách tàn bạo để ăn thịt chúng, gây ra nghiệp báo cho chính mình. Khoa học có thể sản xuất thịt, cá nhân tạo, không cần phải chăn nuôi giết mổ. Vì khả năng sản xuất vô lượng nên đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, không bỏ sót một ai.

Khả năng phi thường như vậy, liệu có hiện thực không ?      

Máy tính điện tử của con người hiện nay vào thập niên thứ ba của thế kỷ 21 (2021) vẫn còn quá chậm. Nó chỉ xử lý được một khối lượng thông tin còn khá bé nhỏ. Dù đã có khái niệm về dữ liệu lớn (big data). Nhưng dữ liệu lớn đó chưa là gì so với dữ liệu của một cơ thể sinh vật, một con người chẳng hạn. Máy tính điện tử không thể nào xử lý nổi. Con người phải bước qua thời đại máy tính lượng tử mới đủ nhanh, đủ mạnh để sản xuất vật chất bằng tin học chứ không phải bằng công nghiệp. Cuộc cách mạng về sản xuất này dựa trên khái niệm vũ trụ là thông tin, là số (digital), vật chất hay năng lượng cũng chỉ là một dạng thức của thông tin mà thôi. Khái niệm này Phật pháp đã đề cập từ rất lâu rồi. Chẳng hạn sách Thành Duy Thức Luận 成唯識論 (Vijĩaptimàtratàsidhi-zàstra) của pháp sư Huyền Trang biên dịch có một câu tổng kết : Tam giới duy tâm Vạn pháp duy thức 三界唯心 萬法唯識. Câu này có ý nghĩa cơ bản Vũ trụ vạn vật là tâm, là thức cũng tức là thông tin, là số, nó gần như đồng nghĩa với câu The universe is digital (vũ trụ là số) theo quan điểm của Craig Hogan (a physicist at the University of Chicago and director of the Fermilab Particle Astrophysics Center near Batavia, Illinois USA).

Vào cuối năm 2020 đã xuất hiện thông tin đáng mừng về máy tính lượng tử.                    

Năm 2019 Mỹ có siêu máy tính mạnh nhất thế giới tên là Summit của IBM có tốc độ tính toán 187,66 petaflop (một giây làm được 187,6 triệu tỷ phép tính). Ngày 23-10-2019 Google tuyên bố đã chế tạo được máy tính lượng tử tên là Sycamore có ưu thế lượng tử (quantum supremacy or quantum advantage) so với máy tính điện tử, cụ thể là so với siêu máy tính Summit nó nhanh hơn cực kỳ. Một bài toán mà Summit phải mất 10.000 năm mới giải xong, Sycamore giải xong trong 200 giây.

Ngày 24-06-2020 Nhật Bản công bố siêu máy tính mạnh nhất thế giới của mình tên là Fugaku có tốc độ xử lý nhanh gấp 2,8 lần siêu máy tính Summit của Mỹ với tốc độ 415,5 petaflop (một giây làm được 415,5 triệu tỷ phép tính).

Ngày 04-12-2020 Hãng tin Bloomberg dẫn nguồn Tân Hoa xã cho biết các nhà khoa học Trung Quốc đã chế tạo thành công một máy tính lượng tử đặt tên là Jiuzhang (九章Cửu chương) có khả năng thực hiện một số lượng tính toán khổng lồ nhanh đến “không tưởng”. Trong 3 phút nó có thể giải xong bài toán mà siêu máy tính Thái Hồ Quang của TQ (hiện đứng thứ ba thế giới) phải mất 2 tỷ năm mới giải xong, còn siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay là Fugaku của Nhật phải mất 600 triệu năm mới giải xong bài toán đó. Còn so với máy tính lượng tử Sycamore của Google thì máy tính lượng tử Jiuzhang của TQ nhanh hơn 10 tỷ lần. Khi con người chế tạo được máy tính lượng tử nhanh kinh hồn như vậy mới có hy vọng tiến tới thời đại sản xuất vật chất, lưu thông hàng hóa, di chuyển đi xa đều bằng phương pháp lượng tử dựa trên khái niệm vô số lượng (non quantity).

Ngay từ bây giờ con người nên tập quen với những kinh điển liễu nghĩa của Phật pháp, thông hiểu những khái niệm như vô số lượng (non quantity), vô sở trụ (non locality), vật chất không có thật (non realism), ngũ uẩn giai không (All five aggregates are empty) để bớt tranh giành, bớt xung đột, bớt chiến tranh, nhân loại sống yên ổn, hài hòa, hòa bình, tương tự như kinh Vô Lượng Thọ nói về thế giới Tây phương Cực lạc.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

NHƯ LAI NGHĨA LÀ GÌ ?

Khái niệm về Như Lai qua kinh điển

Như Lai tiếng Phạn Tathāgata là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Kinh Kim Cang phẩm thứ 29 nói : Như Lai giả, vô sở tòng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai 如來者。無所從來。亦無所去。故名如來 (Như Lai là không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai). Như là chân như, Lai là đến. Như Lai có hai ý nghĩa : một là chỉ kết quả con đường tu đạo thành Phật tức là giác ngộ, hai là pháp thân như lai có nghĩa là như như bất động, không đi không đến, cũng tức là vô sở trụ 無所住 (non locality) kể cả về mặt không gian và thời gian. Vậy Như Lai cũng hàm nghĩa là Phật tánh hay tánh không. Tuy nói tánh không nhưng nó không phải là hư không. Như Lai giống như hư không nhưng không phải là hư không vì nó là trí bát nhã (vô phân biệt) và cũng là thức (có phân biệt thành cặp trù mâu thuẫn), nó có tánh hiểu biết, tánh giác ngộ. Chính vì vậy các tôn giáo đã hình tượng hóa nó thành Phật, Trời, Thượng Đế, Chúa, Đạo… Chẳng những vậy, nó còn xuất hiện dưới hình thức vật chất hữu hình, vũ trụ, vạn vật, con người, không gian, thời gian, số lượng, văn hóa, văn học, nghệ thuật, ca nhạc, các bộ môn triết học, khoa học, chính trị, kinh tế…       

Kinh Kim Cang đã diễn tả Như Lai bằng câu : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” 應無所住而生其心

Ưng 應 là diễn tả điều kiện cách (conditional mode, mode conditionnel), vô sở trụ là không có chỗ trụ, không có điểm tựa, không có vị trí cố định (non locality); nhi sinh kỳ tâm là xuất hiện cái tâm ấy. Cái tâm ấy là tâm gì ? Đó là tâm giác ngộ, là Như Lai. Câu trên có thể dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp như sau : if there would be the condition of non locality, this citta appears- s’il y aurait la condition de non localité, ce citta apparaît (citta là thuật ngữ tiếng Phạn để chỉ cái tâm theo ý nghĩa Phật giáo). Như Lai hay Phật có 3 thân (tam thân 三身 (s: tri-kāya):

Pháp thân Như Lai ( 法身, sa. dharmakāya) là tánh không, không có gì là thật cả nhưng nó là trí, là thức, là thông tin ở dạng sóng tiềm năng vô cùng vi tế, có tánh giác ngộ, nên nó mới có khả năng tạo ra vũ trụ vạn vật và con người. Pháp thân là Tâm như hư không vô sở hữu  cũng tức là trí tuệ Bát nhã, là vô sinh pháp nhẫn.   

Báo thân Như Lai ( 報身, sa. saṃbhogakāya) quy chiếu về Duy Thức Học báo thân là A-lại-da thức, là Cộng nghiệp của một cõi giới, một thế giới, nói chung là của cả Tam giới. Từ một pháp thân, phóng hiện ra thành vô số chúng sinh, đó là báo thân. Ví dụ từ pháp thân phóng hiện thành vũ trụ vạn vật với vô số chúng sinh trong đó.

Ứng thân Như Lai (應身, sa. nirmāṇakāya) là biệt nghiệp của một vị Phật, Bồ Tát hay chúng sinh, thị hiện thành một nhân vật cụ thể, chẳng hạn Tất Đạt Đa Cù Đàm 悉达多瞿曇 (Siddhārtha Gautama), Long Thọ Bồ Tát 龍樹菩薩 (Nagarjuna) hay một con người cụ thể nào đó trên thế gian. Quy chiếu về Duy Thức Học thì ứng thân là Mạt-na thức. Ứng thân có thể do một bậc giác ngộ chủ động thị hiện, hoặc bị động (đối với một chúng sinh mê muội) do nghiệp dắt dẫn.     

Chúng ta nên nhớ rằng trong điều kiện vô sở trụ (pháp thân Như Lai) thì không có thời gian, không có không gian, không có số lượng, pháp giới bình đẳng, phàm thánh không phân biệt. Đó là tánh không, còn báo thân và ứng thân Như Lai chỉ là thế lưu bố tưởng世流布想 là một thói quen tâm niệm, một tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian chứ không phải là sự thật tuyệt đối.

Như Lai trong thực tế vũ trụ và khoa học  

Như Lai là không đến không đi, là vô sở trụ. Trong không gian vũ trụ hay trên quả Địa cầu cũng không hề có một điểm cố định nào bởi vì vũ trụ luôn giãn nở, Địa cầu luôn di chuyển. Tuy vậy trên quả Địa cầu chúng ta cảm nhận cái nhà của mình có một vị trí cố định, tất cả các thành phố hay lãnh thổ quốc gia cũng có vị trí cố định, có thể xác định bằng kinh độ, vĩ độ. Thậm chí ngày nay hệ thống GPS (Global Positioning System= hệ thống định vị toàn cầu) có thể xác định vị trí chính xác tôi đang đứng ở đâu vào bất cứ lúc nào bởi vì tôi luôn có mang theo chiếc smartphone bên mình. Chính vì thế khi chúng ta dùng Grab để gọi xe ôm, chúng ta chỉ cần báo mình muốn đi tới đâu, chứ không cần báo mình đang ở đâu bởi vì hệ thống định vị GPS đã xác định mình đang ở vị trí nào rồi. Tại sao có sự mâu thuẫn như thế, một mặt không có một vị trí cố định trong không gian, nhưng mặt khác vị trí chúng ta đang đứng có thể xác định chính xác ? Đó là do chuyển động tịnh tiến nên có sự tương đối. Quả địa cầu đang di chuyển quanh quỹ đạo Mặt trời, đồng thời Địa cầu cũng xoay chung quanh trục của nó. Cái trục này nằm nghiêng một góc 23 độ 27 phút so với mặt phẳng hoàng đạo, vì vậy mà tạo ra bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Rồi cả Thái dương hệ cũng di chuyển, cả dải Ngân hà cũng đang đi chuyển. Do đó không thể có một vị trí cố định trong không gian. Tuy nhiên do chuyển động tịnh tiến, nghĩa là tất cả mọi vị trí cùng di chuyển đồng thời đồng nhịp với nhau, do đó vẫn có thể xác định được vị trí tương đối của hai vật thể. Ví dụ chúng ta đang ngồi trên xe lửa, xe lửa đang chạy, vị trí của ta đang thay đổi, thế nhưng vị trí người bạn bên cạnh ta cũng đang thay đổi cùng hướng với ta (tịnh tiến) nên vị trí tương đối của ta và người bạn của ta không thay đổi và có thể xác định được, ví dụ cách nhau 1m chẳng hạn. Khoảng cách này không hề thay đổi mặc dù vị trí của cả hai đều đang thay đổi.

Vô sở trụ còn có nghĩa là ngay cả trong thời gian cũng không có một điểm cố định. Kinh Kim Cang đã diễn tả ý này bằng câu : 《金剛經》“過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得” (quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc). Câu này hàm ý là thời gian không có thật nên quá khứ hiện tại vị lai đều không có thật nên bất khả đắc, tất cả chỉ là tâm niệm mà thôi chứ không có thực thể. Ví dụ chúng ta dựa vào lịch sử, nền văn minh xuất hiện sớm nhất là ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) thuộc lưu vực của hai sông Tigris và Euphrate khu vực Trung Đông  vào khoảng 3500 năm trước công nguyên (TCN) tức cách nay hơn 5500 năm. Và lịch sử văn minh của nhân loại xét theo thuyết tiến hóa, không vượt quá xa khỏi phạm vi 10.000 năm trước. Thế nhưng tháng 6/1968, ông William J. Meister, một nhà sưu tầm hoá thạch không chuyên đã tìm thấy một phiến đá dày 5cm ở Antelope Springs, bang Utah, Mỹ. Với một nhát búa, ông đập phiến đá để lộ ra một dấu giày hoá thạch của con người. Nhưng dấu giày này có một điểm đặc biệt, có dính một con bọ ba thuỳ bị dẫm nát. Niên đại của hóa thạch này cách nay hàng trăm triệu năm. Không lâu sau khi tin tức này lan truyền trên khắp thế giới, một số nhà nghiên cứu đã đến Antelope Spring, và phát hiện thêm nhiều dấu tích do giày dép giống như thời hiện đại lưu lại trên một địa tầng tương thích với các niên đại vô cùng cổ xưa.

Hóa thạch dấu giày dẫm lên con bọ 3 thùy 

Bọ ba thùy (Trilobites), một loài sinh vật có mặt từ 600 triệu đến 260 triệu năm trước đây    

Bọ 3 thùy đã bị diệt chủng cách nay 260 triệu năm, vậy tại sao thời kỳ đó lại có con người văn minh mang giày dép giống như con người hiện nay trong khi lịch sử văn minh của con người mới chỉ có không quá 10.000 năm ? Phải chăng hàng trăm triệu năm trước cũng đã có loài người văn minh sống trên Địa cầu ? Những khái niệm về thời gian quá khứ xa xôi và hiện tại đều chỉ là vọng tưởng, đúng như kinh Kim Cang nói, bất khả đắc (không có thật).    

Thời gian không có thật có nghĩa rằng pháp sư Huệ Trì (em ruột của pháp sư Huệ Viễn慧遠 334-416 CN thuộc đời Tấn 晋, người sáng lập Tịnh Độ Tông ở TQ) có thể ngồi nhập định 700 năm trong một bộng cây. Thời gian không có thật có nghĩa rằng Maha Ca Diếp, đại đệ tử của Đức Phật, hiện nay vẫn còn sống và đang ngồi nhập định trong một tảng đá lớn tại núi Kê Túc tỉnh Vân Nam TQ. Thỉnh thoảng ông xuất định và đi ra ngoài, người hữu duyên thì có thể thấy một ông già đi dạo gần tảng đá lớn đó.

Tại Ấn Độ cũng có núi Kê Túc (Kukkatapāda) thuộc huyện Gaya, bang Bihar, vùng Tây Bắc Ấn Độ. Núi Kê Túc không phải là một dãy núi mà chỉ là một ngọn núi nằm trơ trọi ở một vùng đất bằng phẳng thuộc bang Bihar, cách Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh-Gaya) khoảng 75 km về hướng Đông Nam. Tầm nhìn xa và rất đẹp.

Núi Kê Túc (Kukkatapāda) tại Ấn Độ

Trên đỉnh núi có một cái tháp đang được xây, theo kiến trúc của Phật giáo Tây Tạng, dưới tháp đó là một cái hang, được cho là nơi đức Ca Diếp ngồi nhập định. Chỗ đó giờ được xây thành một điện thờ nhỏ, trong có tôn tượng đức Ca Diếp, làm nơi hành lễ của các đoàn đến chiêm bái.

Cách đây không lâu, khoảng đầu thế kỷ 20, tiến sĩ triết học Bá Khắc Sâm, người Anh, đã được gặp tôn giả Đại Ca-Diếp tại Kê Túc Sơn, Ấn Độ, mà không biết. Sau đó theo hướng dẫn, đã quy y, trở thành tỳ kheo, đến Rangun, Myanmar thiền định và gặp lại, mới biết đó là Đại Ca Diếp. Như vậy Đại Ca Diếp đã nhập định được hơn 2500 năm và đến nay vẫn còn sống. Ông ẩn thân trong tảng đá lớn nên không ai có thể thấy, chỉ trừ những người có nhân duyên ông muốn cho gặp. Thời gian chẳng có nghĩa lý gì. Không gian cũng vậy, núi Kê Túc ở Ấn Độ và nó cũng ở TQ, hai nơi tuy thấy cách xa nhau hàng ngàn dặm nhưng cũng chỉ là một.           

Nếu chỉ đề cập khái niệm Như Lai qua kinh điển, nhất là nói về pháp thân Như Lai thì chúng ta cảm thấy nó xa rời với cuộc sống thực tế. Vô sở trụ là không có thời gian, không có không gian, không có số lượng. Những khái niệm đó có vẻ xa rời với cuộc sống thực tế hàng ngày của chúng ta, phải vậy chăng ? Thật ra thì không phải như vậy, vô sở trụ (non locality) không hề xa, nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của chúng ta hôm nay. Bằng chứng ư ? Chúng ta hiện nay có ai không sử dụng điện thoại hay smartphone không ? Một chị bán hàng rong ngoài đường, một anh lái xe ôm, một anh bảo vệ cho một cơ sở nào đó…và đại đa số chúng ta đều có sử dụng điện thoại di động, đúng không ? Vậy thì mọi người đang ứng dụng vô sở trụ mà khoa học đã cung cấp cho họ.

Vô sở trụ là không có khoảng cách không gian. Tôi đang ngồi trong nhà tại VN, tôi có thể nói chuyện dễ dàng ngoài ra còn nhìn thấy hình của một thân nhân ở bên nước Mỹ xa xôi. Trên mạng internet thì khoảng cách không gian đã bị triệt tiêu.

Vô sở trụ là không có thời gian. Những thông tin ở trên mạng lúc nào cũng có sẵn trên đó, dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh, video. Bất cứ lúc nào tôi rảnh tôi có thể mở ra xem, không có tùy thuộc vào giờ giấc. Có khi 12 giờ khuya, nhớ tới cần phải trao đổi thông tin gì đó với con cái hoặc thân nhân ở nước ngoài, tôi có thể cầm điện thoại gọi ngay hoặc nhắn tin. Bởi vì do múi giờ chênh lệch, bên VN là 12g khuya nhưng bên Anh là 5g chiều (giờ mùa đông chênh lệch 7 tiếng), bên Mỹ là 9 giờ sáng ngày hôm trước (giờ của California).

Vô sở trụ là không có số lượng. Một bài viết tôi post lên mạng thì vô số người có thể xem được, không hạn chế về số lượng.

Như vậy vô sở trụ không hề là một khái niệm xa xôi mà thật ra rất gần gũi với con người hiện đại. Vô sở trụ còn có thể tiến xa hơn nữa. Không phải chỉ có tín hiệu thông tin mới có thể chuyển đi xa mà ngay cả cố thể vật chất một ngày nào đó trong tương lai có thể cũng được chuyển đi bằng viễn tải lượng tử. Tôi đã hình dung ý tưởng này bằng câu chuyện sau đây :

Chuyện tình ngày Thất tịch七夕

Không gian không có thật có nghĩa là Ngưu Lang và Chức Nữ, một người ở đầu sông Ngân, một người ở cuối sông Ngân, hai nơi cách xa nhau 100.000 năm ánh sáng, nhưng vẫn có thể gặp nhau mỗi năm vào đêm thất tịch (mồng 7 tháng 7 âm lịch). Nói theo Phật pháp chỉ cần một niệm là vượt qua được khoảng cách 100.000 năm ánh sáng. Còn nói theo khoa học là ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) biến thân ngũ uẩn của Ngưu Lang thành lượng tử và nhờ hiệu ứng liên kết lượng tử mà những lượng tử trong thân ngũ uẩn của Ngưu Lang được thay thế bằng những lượng tử giống hệt bên kia dải Ngân Hà và buồng hạt ở đó tổng hợp lại thành thân thể bằng xương bằng thịt của Ngưu Lang khiến chàng trong tích tắc đã ở bên cạnh Chức Nữ.  

Điều kiện để thực hiện viễn tải lượng tử là phải có loại máy tính lượng tử cực kỳ mạnh mới đủ khả năng biến một cố thể vật chất thành lượng tử và ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử để chuyển lượng tử đi xa không giới hạn. Máy tính lượng tử gần đây đã có những bước tiến đột phá.

Năm 2019 Mỹ có siêu máy tính mạnh nhất thế giới tên là Summit của IBM có tốc độ tính toán 187,66 petaflop (một giây làm được 187,6 triệu tỷ phép tính). Ngày 23-10-2019 Google tuyên bố đã chế tạo được máy tính lượng tử tên là Sycamore có ưu thế lượng tử (quantum supremacy or quantum advantage) so với máy tính điện tử, cụ thể là so với siêu máy tính Summit nó nhanh hơn cực kỳ. Một bài toán mà Summit phải mất 10.000 năm mới giải xong, Sycamore giải xong trong 200 giây.

Ngày 24-06-2020 Nhật Bản công bố siêu máy tính mạnh nhất thế giới của mình tên là Fugaku có tốc độ xử lý nhanh gấp 2,8 lần siêu máy tính Summit của Mỹ với tốc độ 415,5 petaflop (một giây làm được 415,5 triệu tỷ phép tính).

Ngày 04-12-2020 Hãng tin Bloomberg dẫn nguồn Tân Hoa xã cho biết các nhà khoa học Trung Quốc đã chế tạo thành công một máy tính lượng tử đặt tên là Jiuzhang (九章Cửu chương) có khả năng thực hiện một số lượng tính toán khổng lồ nhanh đến “không tưởng”. Trong 3 phút có thể giải xong bài toán mà siêu máy tính Thái Hồ Quang của TQ (hiện đứng thứ ba thế giới) phải mất 2 tỷ năm mới giải xong, còn siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay Fugaku của Nhật phải mất 600 triệu năm mới giải xong bài toán đó. Còn so với máy tính lượng tử Sycamore của Google thì máy tính lượng tử Jiuzhang của TQ nhanh hơn 10 tỷ lần.

Đột phá về máy tính lượng tử của TQ  

Nguyên mẫu máy tính lượng tử TQ   

Chính những máy tính lượng tử có tốc độ nhanh khủng khiếp như vậy là tiền đề để thực hiện viễn tải lượng tử. Và cũng là tiền đề để tạo ra máy in 3D vạn năng có thể in ra bất cứ thứ gì cũng được, số lượng không hạn chế. 

Kết luận

Như Lai là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật bao gồm :

Như Lai  (如來, sa., pi. tathāgata) không từ đâu đến, không đi về đâu tức vô sở trụ.

Ứng Cúng (應供 Bhagavant-arhat) xứng đáng được cúng dường, từ bậc  A La Hán 阿羅漢arahant trở lên đến Bồ Tát và Phật đều được xưng là ứng cúng.

Chánh Biến Tri (正遍知, sa. samyaksaṃbuddha dịch âm là Tam miệu tam bồ đề), Biết cùng khắp Tam giới, không chỗ nào không biết.

Minh Hạnh Túc (明行足, sa. vidyācaraṇasaṃpanna), Có đủ trí huệ và đức hạnh

Thiện Thệ (善逝, sa. sugata) Có đầy đủ khả năng đi qua được bờ bên kia (giác ngộ)

Thế Gian Giải (世間解, sa. lokavid) Thấu suốt tam giới

Vô Thượng Sĩ (無上士, sa. anuttarapuruṣa) Bậc tối thượng không có ai cao hơn

Điều Ngự Trượng Phu (調御丈夫, sa. puruṣadamyasārathi) Người làm chủ được ngã và pháp 

Thiên Nhân Sư (天人師), sa. devamanuṣyānāṃ śāstṛ Bậc thầy của trời và người

Phật Thế Tôn (佛世尊, sa. Buddhalokanātha) Người giác ngộ được thế gian tôn kính       

Trong 10 danh hiệu này thì có 3 danh hiệu thường được sử dụng hơn là Như Lai, Chánh Biến Tri và Phật Thế Tôn.

Như Lai là hàm ý vô sở trụ, không có một điểm cố định nào trong không gian và thời gian, cũng không có số lượng (bất nhị). Như Lai cũng là diễn tả Phật tánh, tánh giác ngộ, pháp thân Phật. Còn có một thuật ngữ khác là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 Tóm lại là có rất nhiều danh từ mà người tu hành Phật giáo mong muốn đạt tới, muốn thấy muốn chứng thực (kiến tánh) cái thực tướng vô tướng của nó.

Con người ngày nay không còn bằng lòng với việc chỉ giới hạn ở sự giáo hóa. Tức là người kiến tánh (giác giả) không chỉ truyền đạo để nhiều người khác giác ngộ tìm thấy sự an tâm hạnh phúc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Như thế vẫn chưa được, chưa đủ, tại sao ? Bởi vì trong thời đại khoa học phát triển, giác giả không thể chỉ đàm huyền luận diệu suông trong khi khoa học đã làm được nhiều điều hiện thực hóa những ý tưởng mà kinh điển Phật giáo nêu ra.

Chẳng hạn Như Lai là không có thời không (no space-time, non locality) khoa học đã sáng tạo ra chiếc smartphone để thực hiện ý tưởng đó ít nhất là trên phạm vi Địa cầu, ít nhất là trong phạm vi truyền thông tin trong thế giới ngày nay. Khoa học cũng đang nghiên cứu vấn đề đi ngược về quá khứ hoặc đi tới tương lai bởi vì vô sở trụ là không hạn chế ở một điểm dừng cụ thể nào về mặt thời gian. Còn về mặt không gian, khoa học đang mò mẩm tìm cách đi xa khỏi quả Địa cầu, đi ra khỏi Thái dương hệ. Như vậy vẫn chưa đủ, khoa học đang tìm cách ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) để đi xa hơn bằng phương pháp viễn tải lượng tử. Viễn tải lượng tử (quantum teleportation) là chuyển vật thể đi xa không giới hạn tức thời không mất thời gian dựa trên nguyên lý thời-không đều không có thật. Vì khoảng cách không gian không có thật nên nói là di chuyển chứ thực tế là không có di chuyển, đó tức là vô sở trụ. Người có đặc dị công năng như Hầu Hi Quý có thể thực hiện việc này.

Hầu Hi Quý dùng tâm niệm di chuyển khoảng cách 3 tầng lầu

Trên thế giới, số người có thể thực hiện công năng như Hầu Hi Quý cực kỳ ít. Nhưng nếu khoa học thực hiện viễn tải lượng tử thành công thì tất cả mọi người đều có thể làm được.

Một vấn đề khác nữa là cuộc sống đời thường của xã hội, của nhân loại, nghèo đói, thiếu ăn, bệnh tật…giác giả giải quyết như thế nào ? Nước Ấn Độ xưa gọi là Thiên Trúc 天竺 vốn là nơi khai sáng ra Đạo Phật nhưng bây giờ ra sao ? Đạo Phật gần như đã bị quét sạch khỏi Ấn Độ, một bộ phận không nhỏ người dân Ấn Độ vẫn còn sống trong nghèo khổ cùng cực. GDP bình quân đầu người theo danh nghĩa (nominal) của Ấn Độ năm 2019 chỉ là là 2.170 USD còn theo PPP (purchasing power parity= tương đương sức mua) là 7034 USD đứng thứ 126 trên thế giới, thua cả VN 8374 USD đứng thứ 120 thế giới.

Tại sao Ấn Độ một xứ sở khai sinh ra Đạo Phật, Đạo Giác Ngộ mà lại nghèo nàn lạc hậu đến thế ? Bởi vì văn hóa của người dân Ấn Độ ưa thích thần quyền, tâm trí của đa số mọi người chỉ nghĩ tới thần linh. Nếu chúng ta xem phim Ấn Độ thì bất kỳ phim nào cũng nói tới thần linh, đầu óc của họ thiếu thực tế.

Giác giả không nên chỉ nói suông mà phải nghĩ tới ứng dụng Phật pháp trong cuộc sống đời thường thế nào. Dù cho có tu luyện được thần thông như Trương Bảo Thắng và Hầu Hi Quý cũng không thể làm được gì nhiều cho đời. Muốn ứng dụng Phật pháp phải dựa vào khoa học. Phật pháp hướng dẫn con người phá ngã chấp, phá pháp chấp để có cuộc sống giải thoát. Phật pháp có thể hướng dẫn cho khoa học. Nhưng Phật pháp cũng phá không chấp và cũng không phủ nhận cái dụng trong cuộc sống đời thường. Vậy giác giả sẽ ứng dụng thế nào để có được cái dụng hài hòa giữa cá nhân (bản thân mỗi người) và xã hội ?  

Phật pháp nói số lượng không có thật (non quantity) và nhất thiết pháp vô tự tính. Vậy các nguyên lý này nên được ứng dụng ra sao ?

Thay vì tranh giành tiền bạc, của cải, danh vọng, tài nguyên đất đai, sông núi, biển đảo. Giác giả tại sao không ứng dụng nguồn tài nguyên vô tận là ánh sáng mặt trời ? Đó là một nguồn tài nguyên sạch không gây ô nhiễm môi trường. Tại sao không chế tạo ra cái máy in 3D sử dụng ánh sáng mặt trời như một nguồn năng lượng vô tận có thể biến thành điện năng; ánh sáng cũng là một nguồn nguyên liệu có thể biến thành bất cứ thứ vật chất gì (bởi vì hạt photon, hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác đều không có tự tính, duy tâm tạo, có thể biến thành cái gì cũng được). Như vậy nhân loại có thể dùng máy in 3D siểu đẳng in ra lương thực thực phẩm, tất cả mọi thứ hàng tiêu dùng cần thiết cho đời sống con người, từ nhà cửa cho tới xe cộ, vật dụng. Đó là những điều mà khoa học có thể dựa vào những nguyên lý do Phật giáo chỉ ra để nghiên cứu và ứng dụng đem lại đời sống an lạc hạnh phúc cho toàn thể nhân loại, không bỏ sót một ai.      Giác giả là những người hiểu Phật pháp và thực hành Phật pháp đem lại sự bình an tâm trí cho chính mình và cho xã hội, ngoài ra cũng góp phần cải thiện đời sống vật chất của tất cả mọi người trong xã hội. Đó mới đúng là cái Từ Bi của Phật chỉ dạy. Thực hiện Từ Bi trong thực tế tánh không. Không có người năng làm, không có đối tượng sở nhận, cũng không có cái vật trung gian giữa năng và sở. Bởi vì tất cả đều là tánh không, không có thật, nhưng xã hội hài hòa, bình an, nhân dân hạnh phúc.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

SỨC MẠNH CỦA VÔ THỨC

Nhà báo Phan Đăng có một clip trên Youtube nhan đề “Sức mạnh ngoài tưởng tượng của vô thức con người”. Nhà báo dựa trên phân tâm học (psychoanalysis) của Sigmund Freud để nói về vô thức.

Nhà báo Phan Đăng nói về Vô Thức

Khi nói tới vô thức (unconsciousness) tức là cái biết, cái nhận thức nằm ngoài ý thức thì không thể không đề cập tới Duy thức học Phật giáo, bởi vì đây là một lý thuyết rất tinh vi, tường tận về thức (consciousness) và về vô thức. Phật giáo nói nguồn gốc của vũ trụ vạn vật là tâm, hay Phật tánh tức là tánh giác ngộ, là vô phân biệt trí, còn gọi là trí tuệ bát nhã (Prajna, đừng nhầm với Prana là khí trong khí công). Khi có niệm phân biệt nổi lên thì tâm trở thành thức. Ý nghĩa sâu xa của duy thức học là một khoa học nói rằng vũ trụ vạn vật chỉ là thức mà thôi, nền tảng của vũ trụ là thức (thông tin) chứ không phải là vật chất, vật chất chỉ là vọng tưởng.

Tâm có 8 thức bao gồm tiền ngũ thức (5 thức đầu làm nền tảng là: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức và thân thức). Thức thứ 6 là ý thức, cái biết tổng hợp từ thông tin của 5 thức đầu. Thức thứ 7 là mạt-na thức (manas) là thức chấp ngã của chúng sinh, của con người. Thức thứ 8 là a-lại-da thức (alaya) là tổng hợp bao gồm cả bảy thức trước. Tuy phân tích ra 8 thức như vậy nhưng thực tế chỉ là một và gọi chung là tâm thức. Người đời thường chỉ biết lục căn, lục trần và lục thức gọi chung là 18 giới nhưng không biết mạt-na thức và a-lại-da thức (tàng thức, vô thức)  

Vậy vô thức mà Sigmund Freud đề cập có phải là Alaya (tàng thức) hay không ? Không phải, vô thức của Freud chỉ là manas thôi, không phải alaya. Vô thức mà Freud đề cập là vô thức cá nhân tương ứng với mạt-na thức. Học trò của Freud là Carl Jung có đề cập tới vô thức tập thể, đó mới đúng là Alaya.

Tuy nhiên có một điều mà cả Freud và Jung đều chưa hiểu, đó là số lượng không có thật (non quantity) nên mọi phân biệt đều chỉ là tương đối, không phải tuyệt đối. Điều này có nghĩa là manas trong vô lượng kiếp thì cũng chẳng khác gì alaya. Phật pháp nói rằng tất cả chúng sinh đều từ một Phật tánh mà ra, điều đó có nghĩa là tất cả chúng sinh cũng chỉ là một, một là tất cả. Kinh Hoa Nghiêm nói : 一切即一 一即一切 Nhất thiết tức nhất, nhất tức nhất thiết (Tất cả là một, một là tất cả).  Vạn vật dữ ngã nhất thể, chúng sinh bổn vô khu biệt 萬物與我一體,眾生本無區別 (vạn vật là cùng một thể với ta, chúng sinh vốn là không phân biệt).

Não con người có khoảng 100 tỷ tế bào, có một số hệ thần kinh tiếp nhận và xử lý thông tin như hệ thần kinh vận động, hệ thần kinh cảm giác, hệ thần kinh ký ức ghi nhớ. Từ năm 1920 Wilder Penfield dường như chứng minh được rằng các tế bào engram nằm trong những vùng nhất định của não bộ có chức năng ghi nhớ. Bộ nhớ phụ thuộc vào điểm tiếp xúc thần kinh giữa các tế bào Engram. Điểm tiếp xúc (Synapses) hoạt động giống như bóng bán dẫn trong con chip tin học.   

Cảm giác sợ hãi được ghi nhớ trong vùng engram (tam giác xanh)                

Tại Phòng thí nghiệm sinh học Yerkes, Florida,  nhà tâm lý thần kinh (neuropsychologist) Karl Lashley đã huấn luyện chuột một số kỹ năng rồi cắt bỏ những phần trong não bộ có thể liên quan đến kỹ năng đó (không một nhà phẫu thuật nào tìm được một vị trí xác định của các engram ). Pribram, là một nhà phẫu thuật thần kinh nội trú, nghiên cứu vấn đề ký ức nằm ở đâu trong não. Song một điều ngạc nhiên là dù cắt bỏ bao nhiêu đi nữa, kỹ năng được huấn luyện vẫn lưu tồn. Và Pribram đi đến kết luận quan trọng: trí nhớ không được lưu trữ tại một nơi nhất định trong não bộ mà bằng một cách nào đó lan truyền và phân bố trong toàn não bộ. Vào giữa năm 1960 khi Pribram đọc một bài báo trên Scientific American về cấu tạo của một hologram (toàn ảnh) thì ông hiểu rằng:  não bộ là một toàn ảnh (hologram).

Hologram là một ảnh 2D (trên mặt phẳng 2 chiều), song khi được nhìn dưới những điều kiện chiếu sáng nhất định thì tạo nên một hình ảnh 3D ( trong không gian 3 chiều) trọn vẹn. Mọi thông tin mô tả vật thể 3D đều được mã hoá trên bề mặt 2D. Như vậy chúng ta có hai thực tại 2D và 3D tương đương với nhau về mặt thông tin. Từ thông tin chứa trong 2D có thể phóng hiện thành hình 3D.  

Một tính chất quan trọng khác của hologram là nếu chỉ lấy một phần của nó người ta cũng có thể khôi phục được hình ảnh 3D  của toàn bộ vật.

Thông tin chứa trong vô thức hay tàng thức là dạng 2D. Thông tin này có thể phóng hiện thành thế giới thực tế 3D như video sau minh họa.

Ứng dụng toàn ảnh, phóng hiện thông tin từ 2D thành 3D

Từ những kết quả nghiên cứu trên, người ta có thể hiểu sức mạnh của vô thức (hay alaya, tàng thức) là vô cùng lớn, không thể tưởng tượng nổi. Đó là điều mà Phật giáo gọi là Nhất thiết duy tâm tạo (tất cả đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra như thật). Vô thức chứa vô lượng thông tin. Vô lượng thông tin này có thể phóng hiện thành thân thể ngũ uẩn của vô lượng chúng sinh trong tam giới, trong vô lượng không gian và vô lượng thời gian, vô lượng hoàn cảnh mà kinh điển gọi là lục đạo luân hồi. Kinh Vô Lượng Thọ 無量壽經 đã đúc kết ý tưởng này trong câu niệm Phật :

Nam Mô A Di Đà Phật 南 無 阿 彌 陀 佛 Namah Amitabhàya buddhàya 

A Di Đà (阿彌陀) là Hán dịch từ hai thuật ngữ tiếng Phạn : amitābhaamitāyus

Amitābha dịch nghĩa là “vô lượng quang” là “ánh sáng vô lượng” cũng có nghĩa là không gian vô lượng.

Amitāyus có nghĩa là “vô lượng thọ” là “thọ mệnh vô lượng” cũng có nghĩa là thời gian vô lượng   

Người niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật là mong muốn đưa mình về thế giới cực lạc vô lượng quang, vô lượng thọ của Đức Phật A Di Đà.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CỦA PHÁP GIỚI

Hồi năm 2016 tôi đã có bài viết “5 nguyên lý cơ bản của vũ trụ vạn vật” Bây giờ đối chiếu với tiêu chuẩn mới sau đây thì chỉ có 3 cái đáng gọi là nguyên lý bao gồm : nguyên lý vô minh, nguyên lý thay thế, nguyên lý bất toàn. Còn hai cái kia là thì chỉ nên gọi là định luật thôi gồm : định luật nhân quả, định luật nhân duyên.

Trước khi đi sâu vào nội dung, tôi xin phép đưa ra định nghĩa của mình về hai thuật ngữ nguyên lý và pháp giới.

Nguyên lý là gì ? : là quy luật nền tảng, quy luật cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật. Vũ trụ vạn vật hình thành trên nền tảng các nguyên lý đó và theo một số quy luật khác nữa mà tầm quan trọng của những quy luật này thấp hơn nguyên lý. Trong khoa học người ta có thể gọi tên những quy luật thứ cấp này là định luật, định lý, quy tắc v.v…Ví dụ :

Nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heisenberg nhà vật lý người Đức đưa ra lần đầu năm 1927. Tại sao gọi nó là nguyên lý mà không gọi là định lý ? Bởi vì mức độ cơ bản của nó, nó là một định lý sơ cấp cơ bản nhất vì liên quan tới các hạt cơ bản của vật chất như electron, photon. Nguyên lý này nêu lên tính bất định của các hạt cơ bản là những hạt hình thành nên thế giới vật chất. Nguyên lý bất định nói rằng không thể đồng thời xác định vị trí và động lượng của hạt electron.  

Những quy luật thứ cấp trong vật lý thường được gọi là định luật (laws of physics). Còn những quy luật trong toán học thường được gọi là định lý (theorems of mathematics). Ví dụ :

-Định luật Archimedes nói rằng: “Một vật nhúng vào chất lỏng bị chất lỏng đẩy thẳng đứng từ dưới lên với lực có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật chiếm chỗ”. Đây chỉ là một quy luật thứ cấp nên không gọi là nguyên lý.   

-Định lý Pythagore phát biểu rằng : bình phương cạnh huyền (cạnh đối diện với góc vuông) bằng tổng bình phương của hai cạnh còn lại.   

a2 + b2 = c2  

Tôi nêu ra tiêu chuẩn mới để phân biệt đâu là nguyên lý, đâu là định luật và định lý. Xin trình bày thêm như sau :

Những quy luật nào có tác dụng trước khi các hạt cơ bản của vật chất xuất hiện, trước khi vũ trụ vạn vật hình thành mới được gọi là nguyên lý, thí dụ : nguyên lý vô minh hay còn gọi là nhất thiết pháp vô tự tính hoặc là nguyên lý bất định, chưa có phân biệt nhị nguyên. Ví dụ những quy luật sau đây có thể gọi là nguyên lý : nguyên lý vô minh, nguyên lý thay thế, nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo, nguyên lý bất toàn.

Những quy luật nào chỉ có tác dụng sau khi đã xuất hiện các hạt cơ bản của vật chất thì được gọi là định luật hoặc định lý. Vì lẽ đó, lý thuyết về nhân duyên hay nhân quả chỉ nên gọi là định luật.      

Pháp giới là gì ? : pháp (dharma) là một thuật ngữ có ý nghĩa rộng nhất, phổ quát nhất trong Phật pháp. Tất cả mọi sự vật dù vô hình (ví dụ hư không) hay hữu hình (ví dụ mặt trời, trái đất, ngọn núi, con sông, con người) đều gọi chung là pháp. Thậm chí vật không hiện hữu trên đời, không có thật như lông rùa, sừng thỏ cũng là pháp. Thất tình (mừng, giận, thương, ghét, buồn, vui, muốn), lục dục (6 ham muốn là đối tượng của lục căn : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều gọi chung là pháp. Thế giới của tất cả các pháp gọi là pháp giới. Phật giáo chia pháp giới thành 3 loại cơ bản gọi là Tam giới (Triloka) bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Dục giới là cõi giới có khối lượng (mass) thể hiện bằng trọng lượng, thí dụ một con người nặng trung bình 60kg. Năm 2012 khoa học khám phá ra hạt Higgs (Higgs boson) là loại hạt tạo ra khối lượng vật chất.  

Sắc giới là cõi giới có hình tướng nhưng không có khối lượng, trọng lượng tuy nhiên vẫn có số lượng. Thí dụ thế giới tin học, thế giới thông tin, không có trọng lượng nhưng vẫn có số lượng. Số lượng thông tin được tính bằng bit, byte và các bội số của byte như kilobyte, megabyte, gigabyte, terabyte.

Vô sắc giới là cõi giới không có hình tướng, không có khối lượng, trọng lượng, chỉ có tâm niệm. Phật pháp có đề cập tới cõi giới tên là Phi tưởng phi phi tưởng xứ là một cõi trời vô sắc. Phật giáo có câu chuyện về Uất Đầu Lam Phất (Udraka Rāmaputra郁头蓝弗) là người tu thiền định từng đến được cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhưng vì một niệm xấu đã phải tái sinh thành loài chồn phi ly ở thế gian.  

Trong pháp giới có những nguyên lý gì ?      

1/Nguyên lý bất định (Phật pháp gọi là vô minh hay nhất thiết pháp vô tự tính)

Bất định, vô minh hay vô tự tính đều mang ý nghĩa là không xác định, không rõ ràng, không có sẵn đặc trưng. Ý muốn nói trạng thái đó chưa xác định là tinh thần hay vật chất. Tinh thần là sóng là vô hình, còn vật chất là hạt là hữu hình. Người ta thường hay hiểu nhầm chữ vô minh trong Phật giáo. Vô minh không phải là suy nghĩ sai, nhận thức sai, không chánh niệm. Vô minh là trạng thái không rõ ràng, không xác định, không phải đúng cũng không phải sai, đó là trạng thái tuyệt đối (không có đối đãi), bất nhị.     

Nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heisenberg nêu ra năm 1927, thật ra buổi ban đầu khái niệm chưa đầy đủ do trình độ khoa học của nhân loại lúc đó còn hạn chế. Ông chỉ mới nêu ra tính bất định của hạt electron, khi thì nó là sóng không có vị trí (position) nhất định trong không gian, khi thì nó là hạt xác định được vị trí nhưng không xác định được động lượng (momentum).

Ý nghĩa đầy đủ của nguyên lý bất định chỉ đến sau khi cuộc tranh luận khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 giữa hai nhà vật lý hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein kết thúc vào năm 1982 sau thí nghiệm liên kết lượng tử do Alain Aspect tiến hành tại Paris. Cuộc thí nghiệm đó xác nhận rằng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) là có xảy ra, những hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark…đều không có sẵn những đặc trưng, đặc điểm (features) như vị trí (position), khối lượng (mass), điện tích (electronic charge), spin (chỉ số xoay)…Các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát hoặc có thiết bị đo đạc. Cuộc thí nghiệm đó xác nhận một tuyên bố của Niels Bohr từ lúc ông còn sống : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Cô lập nghĩa là đứng riêng một mình, tách rời khỏi người quan sát.    

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”   

Nguyên lý bất định thật ra đã xuất hiện trong kinh điển Phật giáo hàng ngàn năm trước với tên là Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性

Trong Trung Luận 中論 hay còn gọi là Trung Quán Luận 中觀論, tên đầy đủ theo tiếng Phạn là Căn bản trung luận tụng 根本中論頌 (sa. mūlamadhyamakakārikā) của Long Thọ Bồ Tát 龍樹菩薩 (Nagarjuna) có bài kệ :   

一切法從緣起 Nhất thiết pháp tòng duyên sinh Tất cả pháp đều do duyên mà sinh khởi

所以無自性     Sở dĩ vô tự tính                                Do đó không tự có đặc trưng

既然無自性     Ký nhiên vô tự tính                          Đã không có đặc trưng

就只有依緣而生滅  Tựu chỉ hữu y duyên nhi sinh diệt  Thì chỉ là dựa theo duyên mà sinh diệt        

Tất cả các pháp đều không có sẵn đặc trưng, chúng ta nên hiểu một cách cơ bản nhất là các hạt cơ bản của vật chất, cụ thể là 17 hạt trong Sơ đồ chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) trong bảng này chưa liệt kê hạt hấp dẫn (graviton) đều là trừu tượng không có sẵn đặc trưng.

Năm 2016 con người đã khám phá sóng hấp dẫn (gravitational waves) mà sóng luôn luôn đi liền với hạt, hễ có sóng tức là có hạt nhưng vì con người chưa trực tiếp nhìn thấy hạt hấp dẫn (graviton) nên người ta chưa đưa nó vào bảng sơ đồ chuẩn hạt cơ bản. Hệ thống 18 hạt cơ bản này của khoa học tương ứng với 18 giới 十八界 (Astādaśa dhātavah)của Duy Thức Học Phật giáo bao gồm lục căn, lục trần và lục thức.   

Tất cả các hạt cơ bản tạo nên vật chất đều không có sẵn đặc trưng. Trung luận nói Nhất thiết pháp tòng duyên sinh (Tất cả pháp đều do duyên mà sinh khởi) Vậy duyên gì đã tạo ra các hạt cơ bản ?

Thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) chỉ rõ cho chúng ta thấy các hạt cơ bản do duyên gì sinh ra. Người ta làm thí nghiệm như sau :

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau là màn hứng hiển thị kết quả. Sở dĩ phải bắn từng hạt electron chứ không phải bắn cùng lúc nhiều hạt để tránh trường hợp các hạt va chạm nhau bay tứ tung làm sai lạc kết quả. Sau khi bắn như vậy khoảng một tiếng đồng hồ, kết quả như sau :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng thể hiện thành nhiều vạch

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron và chỉ thể hiện 2 vạch tương ứng với 2 khe hở

Điều đó chứng tỏ tâm của người quan sát tạo ra hạt electron là một hạt cơ bản của vật chất, nếu không có người quan sát thì electron chỉ là sóng vô hình, vô thể, không có vị trí nhất định trong không gian hay thời gian. Tính không nhất định về không gian thể hiện ở chỗ ta đứng ở bất kỳ đâu trên thế giới cũng có thể đọc được bài viết này miễn có internet. Tính không nhất định về thời gian thể hiện ở chỗ ta có thể đọc bài viết này trên điện thoại hoặc laptop bất cứ lúc nào ta rảnh, không hạn chế thời gian.

Các hạt cơ bản của vật chất không nhất thiết là sóng cũng không nhất thiết là hạt, chúng bất định, cái cơ duyên để chúng xuất hiện dưới hình thức hạt là khi có người quan sát hoặc có thiết bị đo đạc, chính cảm biến (sensor) hoặc tâm của chúng sinh khởi lên làm sóng vô hình biến thành hạt cơ bản. Đó mới chính là ý nghĩa cốt lõi của nguyên lý bất định. Còn Phật giáo thì diễn tả nguyên lý bất định bằng câu Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 (tất cả các pháp đều không có sẵn đặc trưng). Thiền tông thì gọi là vô thủy vô minh. Bất định hay vô minh (không rõ ràng) hay vô tự tính (không có đặc trưng riêng) là thể hiện trạng thái bất nhị chưa phân cực. Trạng thái này Tổ Sư Thiền gọi là vô thủy vô minh (không có bắt đầu, mờ mờ ảo ảo không rõ ràng). Từ trạng thái này giống như đã đến đầu sào cao trăm thước, hết chỗ trèo lên rồi nhưng phải tiến thêm bước nữa mới kiến tánh. Đời Tống, thiền sư Chiêu Hiền có sáng tác bài kệ để nói ý này :

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân, Sào cao trăm thước người lặng thinh,
Tuy nhiên đắc nhập vị vi chân.  Tuy là cao vút hết đường binh
竿 頭須   Bách xích can đầu, tu tiến bộ, Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  
全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Trong khoa học, trạng thái này của thiền được diễn tả là sự sụp đổ của sóng tiềm năng thành hạt cơ bản và được gọi là sự sụp đổ chức năng sóng (wave function collapse). Tâm bản thể vốn là trạng thái tinh thần bỗng biến thành hạt cơ bản, thành vật chất, thành ngũ uẩn và thành vũ trụ vạn vật. Vậy tại sao lại có hiện tượng đó ?  Vậy đặc trưng của pháp hay của hạt cơ bản do đâu mà có ? Đó là do :

2/Nguyên lý thay thế

Đây là một nguyên lý hết sức cơ bản, vô cùng quan trọng mà nhân loại chưa hiểu hết, chưa đánh giá đúng mức. Nguyên lý này được sử dụng rất nhiều trong tin học. Chúng ta hầu hết đều biết, thông tin chính là dữ liệu Data được biểu diễn trong đơn vị nhỏ nhất là bit, bit là đơn vị thông tin nhỏ nhất được ký hiệu là số 0 hoặc số 1. Với hệ đếm nhị phân, số 0 và số 1 được tổ hợp thành con số, bất cứ con số nào dù lớn hay nhỏ cũng đều có thể diễn tả bằng hệ đếm nhị phân này. Rồi tất cả mọi tính chất, đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ đều được thay thế bằng các con số gọi là số hóa hay kỹ thuật số (digital). Mỗi con số đại biểu cho một đặc điểm. Vô lượng vô biên đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ được gán ghép cho vô lượng vô biên con số. Bộ vi xử lý (processor) trong computer hay điện thoại sẽ thay thế các đặc điểm này vào các con số để phóng hiện lên màn hình thành văn bản, bài báo, hình ảnh, video, âm thanh. Ví dụ cụ thể như sau :

Nhị phân      Thập phân Đồ hoạ
100 0000           64    @
100 0001           65    A
100 0010           66    B
100 0011           67    C
100 0100           68    D
110 0001           97    a
110 0010            98                       b

Chữ @ (a còng trong địa chỉ email) mã số là 64 (thập phân) hoặc 100 0000 (nhị phân)

Chữ A (viết hoa) có mã số là 65 (thập phân) hoặc 100 0001 (nhị phân)

Chữ a (viết thường) có mã số là 97 (thập phân) hoặc 110 0001 (nhị phân)

Chữ b (viết thường) có mã số là 98 (thập phân) hoặc 110 0000 (nhị phân)

Về sau người ta sử dụng từ 8 tới 10 bit để diễn tả một con số hay một ký tự cơ bản và đặt tên là byte. Bội số của byte là kilobyte (KB) = 1024 bytes, Megabyte (MB) = 1024 KB, Gigabyte = 1024 MB, Terabyte = 1000 GB.

Và khi chúng ta gõ chữ A trên màn hình thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số 100 0001 (nhị phân) tức 65 (thập phân) trong dữ liệu. Gõ chữ @ (a còng trong địa chỉ email) thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số  100 0000 (nhị phân) tức là 64 (thập phân). Dữ liệu chỉ là những con số được biểu diễn dưới dạng nhị phân với hai cơ số 0 và 1 nhưng khi hiển thị lên màn thì đã được thay thế bằng các đặc điểm tương ứng và biến thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh.  

Bộ vi xử lý có tốc độ cực kỳ nhanh, trong một giây có thể xử lý hàng tỷ bit  nên nó kịp thời hiển thị lên màn hình những biến hóa vô cùng đa dạng mà nguồn gốc chỉ là những con số được biểu diễn bằng 0 và 1 trong bộ nhớ mà thôi.

Công tác xử lý của con chip chính là ứng dụng nguyên lý thay thế, nghĩa là mỗi tính chất, mỗi đặc điểm của sự vật được thay bằng một con số. Vô số con số của dữ liệu sẽ được hiển thị trở lại màn hình bằng cách giải mã khiến cho chúng ta chỉ thấy văn bản, hình ảnh, âm thanh, video chứ không phải chỉ là những con số vô hồn nữa.

Trở lại với thế giới đời thường của con người, nguyên lý thay thế cũng được ứng dụng vô cùng nhiều mà chúng ta không hay biết. Đức Phật hay các vị Tổ Sư Thiền tu hành là đi tìm cái gì ? Họ đi tìm cái sóng vô hình, sóng tiềm năng của vũ trụ vạn vật, của thân tứ đại. Họ đã tìm thấy, đã chứng ngộ và đã diễn tả trong kinh điển, gọi đó là Phật (tánh giác ngộ) hay Tâm (không khác tâm ý của chúng ta nhưng là cái tâm bản nguyên sẵn có trước khi cha mẹ chưa sinh ra chúng ta, trước khi xuất hiện vũ trụ vạn vật, trước khi loài người xuất hiện, trước khi sinh vật xuất hiện.

Dùng từ ngữ “trước” thật ra là không đúng, mắc kẹt trong thời không (space-time) Phật pháp nói rằng thời không cũng không có thật, tất cả các pháp đều không có thật, chỉ là tưởng tượng do tâm tạo ra nên kinh điển nói Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, không có pháp nào tuyệt đối là chân thật, tất cả các pháp đều không có thực thể. Vậy cái Tâm có thật hay không ? Long Thọ Bồ Tát trả lời rằng Tâm như hư không vô sở hữu 【心如虚空无所有 (Tâm như hư không nhất thiết pháp giai vô sở hữu  心如虚空一切法皆无所有)Tâm giống như hư không không có thật, nhưng cũng không phải giả, Tâm là tuyệt đối bất nhị không rơi vào cặp phạm trù nhị nguyên mâu thuẫn】 

Nhưng chính cái tâm đó đã tưởng tượng ra các hạt cơ bản, rồi các hạt cơ bản lại cấu trúc thành nguyên tử, thành phân tử, thành cố thể vật chất, thành thân thể ngũ uẩn của chúng ta. Bấy giờ thì luật nhân duyên, luật nhân quả và tất cả các định luật vật lý khác cũng như các định lý toán học mới có tác dụng. 

Nguyên lý thay thế cũng được ứng dụng trên cái thân ngũ uẩn của con người. Thân ngũ uẩn (sắc thọ tưởng hành thức) cũng như thế giới chung quanh nó hiện ra dựa trên nhân duyên gì ? Phật giáo giải thích rằng ở mỗi con người cũng như ở mỗi chúng sinh, cảnh giới (thân thể và hoàn cảnh- body and environment) xuất hiện dựa trên thói quen tâm niệm gọi là nghiệp業 (karma). Nghiệp hay nghiệp thức là một thói quen lâu đời nó quy định Tâm sẽ xuất hiện như thế nào. Nghiệp thiện thì thân thể sẽ xuất hiện mạnh khỏe, lành lặn, đẹp đẽ, hoàn cảnh thuận lợi tốt đẹp, chẳng hạn sinh vào nhà tử tế có của ăn của để. Nghiệp ác thì thân thể sẽ xuất hiện bệnh tật, xấu xí, tật nguyền, sinh vào nhà bất hảo, nghèo khó…Như thế có nghĩa là thói quen tâm niệm sẽ biến thành thân thể ngũ uẩn và hoàn cảnh sinh hoạt của chúng sinh theo nguyên lý thay thế.

3/Nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo

Chính sự sụp đổ chức năng sóng (wave function collapse) là một màn ảo thuật cực kỳ cơ bản và phổ biến, nó biến tâm vốn là một trạng thái tinh thần không có hình tướng, không có đặc trưng, không có chỗ trụ (vô sở trụ 無所住 non locality) cả về không gian và thời gian, thành hạt cơ bản, thành vật chất có hình tướng, có đặc trưng, có chỗ trụ, có điểm xác định trong không gian và thời gian.     

Sự thay thế nghiệp (thói quen tâm niệm) của tâm thành cảnh dựa trên nguyên lý thay thế và nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo, và kết quả tốt hay xấu do nghiệp quy định. Nghiệp thiện thì sinh vào 3 đường lành (thiên, atula, nhân – trời, thần, người). Nghiệp ác thì sinh vào 3 đường xấu (súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Kinh điển Phật giáo nêu ra lý thuyết về sáu đường, bốn loài, ba cõi (đã nói ở trên). Sáu đường là : 

Cõi trời  (deva)

Cõi thần (a-tu-la  asura)

Cõi người (manussa)

Cõi súc sinh (tiracchānayoni)

Cõi ngạ quỷ (petta)

Cõi địa ngục (niraya)    

Bốn loài là : thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh.

Thai sinh 胎生, Skt. jarāyujā yoniḥ điển hình là con người, người mẹ sinh ra con

Noãn sinh 卵生, Skt. aṇḍa-jā yoniḥ điển hình là gà, vịt, gà mẹ sinh ra trứng

Thấp sinh 濕生, Skt. saṃsveda-jā yoniḥ điển hình là vi trùng vi khuẩn, sinh từ nơi ẩm thấp dơ bẩn.

Hóa sinh 化生, Skt. aupapādukā yoniḥ điển hình theo kinh Vô lượng thọ nói ở cõi Tây phương cực lạc, chúng sinh ở cõi đó xuất hiện từ hoa sen biến hóa ra.     

Cơ chế để hình thành nguyên lý này dựa trên mô tả ngũ uẩn của Phật pháp. Vậy ngũ uẩn là gì ?

Ngũ uẩn 五蘊 là 5 tập hợp. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰 Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination).
Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời ở thế gian. Nguyên lý của vấn đề này nằm ở chỗ kinh điển gọi là tất cả các pháp đều không có tự tính, tất cả mọi tính chất của pháp là do tưởng tượng gán ghép của con người. Dễ thấy nhất là ngôn ngữ, từ ngữ của của bất cứ ngôn ngữ nào đều không có ý nghĩa, mọi ý nghĩa đều là do con người gán ghép cho từ ngữ. Tương tự như vậy, tất cả mọi vật trong vũ trụ đều không có thực chất, mọi tính chất đều do chúng sinh gán ghép cho vật, cho là như vậy, chứ vật từ hạt cơ bản cho tới nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cơ thể sinh vật, con người…đều chỉ là thông tin (duy thức) chứ không có thực thể nên Phật giáo nói là Ngũ uẩn giai không五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật.

Do nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo nên toàn thể pháp giới từ hữu hình cho tới vô hình đều là do tâm tưởng tượng ra nên Phật pháp mới nói tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Và người tu hành theo Phật giáo là phải tự mình chứng thực cái bản tâm này của toàn pháp giới, cái đó mới đích thực là mình. Sư Động Sơn Lương Giới洞山良價(807-869) khi kiến tánh có làm bài kệ trong đó có câu :

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng         Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ          Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã         Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ             Mà mình không phải là nó

Trong bài kệ này cừ 渠 là chỉ tâm bản nguyên, khắp nơi đều gặp nó, thân ngũ uẩn của mình cũng là nó bởi vì nó chính là nguồn gốc của mình, nhưng cái ta giả của mình lại không phải là nó, dù cái ta giả này có trầm luân vĩnh kiếp, khổ sướng như thế nào cũng chẳng ảnh hưởng gì tới nó cả.

4/Nguyên lý bất toàn              

Đây vốn là một định lý toán học gọi là Định lý bất toàn (Incompleteness theorem) doKurt Gödel nêu ra năm 1931 làm sụp đổ tất cả các lâu đài khoa học và triết học mà con người đã xây dựng từ hàng ngàn năm nay. Vì tính chất nền tảng phổ biến của định lý này nên tôi thấy nên nâng cấp nó lên thành nguyên lý. Từ nguyên lý bất toàn có thể suy ra các hệ quả như :

Computer sẽ không bao giờ thông minh như con người, và bạn sẽ chẳng bao giờ hiểu đầy đủ về chính bạn. Không tồn tại Lý thuyết về mọi thứ. Siêu-toán-học là một giấc mơ không tưởng. Không thể giải thích nguyên nhân đầu tiên. Không thể có lý thuyết cuối cùng. Bộ não là một chiếc máy tính được kết nối với một thần thức. Thế giới thực tại rộng hơn nhận thức của con người. Nhận thức của con người rộng hơn tư duy lý lẽ. Tư duy lý lẽ rộng hơn tư duy duy vật… Muốn đến gần thực tại hơn, con người phải tự giải thoát khỏi cái khung chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, của tư duy lý lẽ, bay lên những tầng cao hơn của thế giới bằng đôi cánh của trực giác và cảm nhận bằng trí bát nhã …

Mọi nhận định ở trên đều là hệ quả triết học trực tiếp hoặc gián tiếp của Định lý Bất toàn của Gödel – một định lý đóng vai trò nền tảng trong khoa học nhận thức hiện đại. Không thể có một cái nhìn đúng đắn về thế giới nếu không hiểu Định lý Gödel.

Phát biểu của định lý bất toàn : “Bất kỳ lý thuyết nào được tạo ra một cách hiệu quả đủ khả năng biểu diễn số học sơ cấp đều không thể vừa nhất quán vừa đầy đủ. Đặc biệt, đối với bất kỳ lý thuyết hình thức nào nhất quán, được tạo ra một cách hiệu quả cho phép chứng minh một số chân lý số học căn bản, sẽ có một mệnh đề số học đúng nhưng không thể chứng minh trong lý thuyết ấy.”

Ý nói là không có bất kỳ hệ thống lý luận nào đầy đủ trọn vẹn mà không có mâu thuẫn. Nhà toán học Bertrand Russell (1872-1970) đã minh họa cho ý tưởng bất toàn này bằng câu chuyện Người thợ cạo thành Seville :

Chuyện kể rằng trong 1 thị trấn nhỏ chỉ có 1 người đàn ông duy nhất làm nghề thợ cắt tóc, cạo râu. Tất cả những người đàn ông trong thị trấn chia thành 2 nhóm : nhóm A tự cắt tóc cạo râu cho mình, nhóm B nhờ ông thợ cạo này cắt tóc cạo râu cho họ. Bác thợ cạo này đã tuyên bố “Tôi chỉ cắt tóc cạo râu cho tất cả những ai ở thành Seville này không tự cắt tóc cạo râu được.” Mâu thuẫn phát sinh là không biết phải xếp bác thợ cạo này vào nhóm nào? Nếu ông tự cắt tóc cạo râu cho mình thì phải xếp ông vào nhóm A nhưng điều đó mâu thuẫn với tuyên bố “ tôi chỉ cắt tóc cạo râu cho những ai không tự mình cắt tóc cạo râu được” nếu ông tự cắt cạo được thì ông cũng không thể làm cho mình vì trái với tuyên bố. Như vậy phải xếp ông vào nhóm B. Nhưng cũng không được, vì nhóm B phải nhờ ông cắt cạo cho, mà khi ông cắt cạo cho mình thì cũng là tự cắt tóc cạo râu, vậy phải xếp ông vào nhóm A. Rốt cuộc đó là mâu thuẫn vô phương giải quyết, xếp ông vào nhóm nào cũng mâu thuẫn với tuyên bố.

Khi khoa học đã bế tắc về việc giải thích nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc con người, tức là chủ nghĩa duy vật, coi vật chất là nền tảng của thế giới đã thất bại, một số người đã trở lại với các tôn giáo, chẳng hạn Phật giáo, để lắng nghe xem bên phía Tâm học giải thích thế nào. Phật giáo giải thích như trên đã trình bày.

Nguyên lý bất toàn nêu lên rằng tất cả mọi hệ thống lý luận lô gích đều có mâu thuẫn. Lý do là bất cứ hệ thống lý luận của bất cứ khoa học nào từ toán học, vật lý học, sinh vật học, thiên văn học, triết học, lịch sử, địa lý, kinh tế, chính trị, xã hội…đều phải dựa trên một số tiên đề và những tiên đề này không thể chứng minh. Thí dụ tiên đề về điểm và đường thẳng của hình học Euclid : “Qua một điểm nằm ngoài một đường thẳng ta vẽ được một và chỉ một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho”. Vì tiên đề này không thể chứng minh là đúng, chỉ có thể cảm nhận bằng kinh nghiệm trực giác. Vì vậy Lobachevsky giả thiết rằng từ một điểm ngoài đường thẳng ta có thể vẽ được hơn một đường thẳng khác, nằm trên cùng mặt phẳng với đường thẳng gốc, mà không giao nhau với đường thẳng gốc (đường thẳng song song). Từ đó, ông lập luận tiếp rằng từ điểm đó, có thể xác định được vô số đường thẳng khác cũng song song với đường thẳng gốc. Lobachevsky lập nên môn hình học phi Euclid hay hình học không gian với lập luận rằng mặt phẳng thực tế trong không gian vũ trụ là một mặt cong. Và tổng số các góc của một hình tam giác trên mặt phẳng (thực tế là cong) này lớn hơn 180 độ, trong khi hình học Euclid nói rằng tổng số các góc của một hình tam giác trên mặt phẳng bằng 180 độ.      

Giáo sư Phạm Việt Hưng là người nghiên cứu chuyên sâu về định lý bất toàn, ông đã rút ra kết luận như sau :

“Không có bất cứ hệ thống lý luận logic nào có thể chứng minh tiên đề của chính nó. Vậy lý thuyết về nguồn gốc sự sống không thể giải thích nguồn gốc của sự sống”

Tại sao có sự bất toàn ? bởi vì lý và phi lý không phải là hai, lý chính là phi lý. Cái này thì Bát Nhã Tâm Kinh đã nói rõ từ lâu : Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Đúng cũng tức là Sai, Đúng và Sai đã là tương đối thì không thể toàn vẹn được. Đúng cũng là do con người tưởng tượng vẽ vời ra, Sai cũng thế. Vì vậy không thể bám chấp vào Đúng hay vào Sai. Chính vì vậy mà Long Thọ Bồ Tát có Trung Luận 中論 còn gọi là Trung Quán Luận 中觀論 nói rằng chúng ta không nên lệch về một bên, cũng không phải ở ngay chính giữa, mà là vô sở trụ (không có chỗ trụ) tùy duyên mà hành pháp không nhất thiết phải như thế nào mới đúng. Lục Tổ Huệ Năng cũng có bài kệ :

無念念即正  Vô niệm niệm tức chánh    Cái niệm vô niệm thì chánh

有念念成邪  Hữu niệm niệm thành tà    Cái niệm có niệm thành tà

有無俱不計  Hữu vô câu bất kế                Không chấp có hay không có

 長御白牛車 Trường ngự bạch ngưu xa  Luôn ngồi trên xe trâu trắng  

Trường ngự bạch ngưu xa ý nói luôn xử sự theo Đại thừa liễu nghĩa.

5/Nguyên lý pháp giới bình đẳng

Tại sao một người ngu với một người trí bình đẳng được ? Tại sao một phụ nữ xinh đẹp và một phụ nữ xấu xí bình đẳng được ? Tại sao một con trâu với một con người bình đẳng được ? Chúng ta thấy không thể bình đẳng bởi vì chấp vào tướng, chấp vào hình thức. Tất cả mọi sắc tướng đều chỉ là ảo hóa không phải chân thật. Nguồn gốc bản thể của tất cả mọi sắc tướng đó đều là do tâm tạo, đều cùng một Phật tánh nên đều bình đẳng. Tâm biến ra con trâu đồng thời tâm biến ra con người. Về hình tướng thì con trâu và con người không bình đẳng, nhưng đối với chúa tể của mọi biến hóa là tâm thì tất cả các pháp đều bình đẳng, đó là nguyên lý pháp giới bình đẳng.

Ý tưởng vạn vật bình đẳng cũng được Trang Tử đề cập trong thiên Tề Vật Luận. Ông nói rằng con chim sẻ và chim Bằng 鵬 (loại lớn nhất trong loài chim) đều bình đẳng. Chim sẻ bay vụt lên cây du cây phượng cũng giống như chim Bằng bay xuống biển nam. Vật lớn thì ở chỗ lớn, vật nhỏ thì ở chỗ nhỏ, đâu vừa với đó. Ông cho rằng không cần phải so sánh mình với người khác vật khác, cứ vui vẻ bằng lòng với cái hiện có của mình, vì vạn vật là bình đẳng, đó là triết lý ông nói trong thiên Tiêu Dao Du, mỗi người chỉ cần phát huy sở trường của mình, sống cho hết cái trời ban cho mình chứ không nên bắt chước người khác.

Tuy nhiên Tề Vật Luận của Trang Tử chỉ nói tới sự bình đẳng tương đối, bình đẳng với nghĩa bóng, nghĩa là vật lớn thì ở chỗ lớn, vật nhỏ thì ở chỗ nhỏ, đâu vừa với đó, chứ chưa đạt tới bình đẳng tuyệt đối, tức vật lớn và vật nhỏ thật sự bằng nhau, cũng tức là không có vật gì thật sự lớn cũng không có vật gì thật sự nhỏ. Ý niệm này chỉ trong Phật giáo mới thấy rõ. Trong Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, Phẩm Bất Tư Nghị, Xá Lợi Phất tỏ ý nghi ngờ căn phòng nhỏ bé của Duy Ma Cật làm sao chứa được pháp hội đông tới hàng vạn người, Duy Ma Cật nói : “Thưa ngài Xá-lợi-phất, chư Phật và Bồ tát có pháp môn giải thoát được gọi là bất khả tư nghị. Bồ tát ở nơi giải thoát này có thể đặt ngọn núi Tu-Di hùng vĩ trong một hạt cải mà không hề thay đổi kích thước của hạt cải. Tướng trạng nguyên thuỷ của núi chúa Tu-di vẫn như cũ. Bốn vị Thiên vương cùng với chư thiên Đao-lị cũng không biết mình đã được đặt trong một hạt cải. Chỉ những ai cần được độ mới thấy Tu-Di lọt vào trong hạt cải. Đó là pháp môn giải thoát bất khả tư nghị” Núi Tu Di là núi lớn nhất, trung tâm của thế giới được đề cập trong kinh điển, thực tế đó chính là ngọn núi Everest cao nhất thế giới nằm trong dãy Hy Mã Lạp Sơn tại Nepal.

Núi Tu Di có thể bỏ vừa trong hạt cải. Đó chính là nghĩa cốt lõi của pháp giới bình đẳng. Ý nghĩa này cũng được các khoa học gia sử dụng để xây dựng lý thuyết vũ trụ xuất phát từ vụ nổ Big Bang. Khởi nguyên của không gian vũ trụ chỉ là một chất điểm cực kỳ nhỏ có kích thước là 10-33 (mười lũy thừa trừ 33) cm, tức là lấy 1cm chia cho con số cực lớn gồm 10 và 33 con số không theo sau. Còn vũ trụ ngày nay là một khối cầu có bán kính 13,7 tỉ quang niên và không ngừng trương nở thêm. Chất điểm và vũ trụ là bình đẳng hay bằng nhau, vì chúng vốn là một nhưng chúng ta thấy khác nhau vô cùng. Chính vì sự khác nhau cực kỳ nhưng lại bằng nhau nên trí óc duy lý của con người không thể lý giải được, cũng như ngôn ngữ không thể diễn tả được, Phật giáo miễn cưỡng gọi là bất nhị, không phải hai nhưng cũng không phải là một. Các nhà khoa học thì mô tả vũ trụ là chất điểm trải rộng ra mười phương sau vụ nổ lớn và họ cộng thêm vào một yếu tố giả danh khác là thời gian và mô tả thành lý thuyết vũ trụ song song có 11 chiều trong đó 7 chiều không nhìn thấy được vì bị cuốn lại, chỉ còn nhìn thấy và cảm nhận được không-thời gian hay thời-không bốn chiều (gồm dài, rộng, cao và chiều thứ tư là thời gian).

Kết luận

Các nguyên lý của pháp giới là những quy luật nền tảng có một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành vũ trụ vạn vật và con người. Có thể rất nhiều người trong nhân loại còn chưa biết hoặc bất ngờ với những nguyên lý như thế. Có thể họ còn không tin rằng những nguyên lý này có tồn tại. Các nhà khoa học, các nhà đạo học, các nhà tu hành của các tôn giáo có thể nghe nói tới các nguyên lý này, nhưng có thể chưa hiểu hết tầm mức rộng lớn, bao phủ của chúng.

Chẳng hạn người ta có thể biết quy tắc thay thế trong tin học. Nhưng rất nhiều người có thể không ngờ rằng quy tắc này xứng đáng được nâng lên thành nguyên lý, bởi vì trong thực tế cuộc sống đời thường, nó cũng có ứng dụng cực kỳ lớn. Lớn tới mức người ta không ngờ, không hiểu, không tin rằng nghiệp (karma) là một thói quen tâm lý (Phật pháp gọi là tập khí), nó là một dạng sóng tinh thần nhưng có thể sụp đổ thành vật chất theo định luật sụp đổ chức năng sóng (wave function collapse) thành thân thể và hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Con người phải hiểu rằng ý kiến của người này người nọ về một vấn đề hay một nhân vật nào đó đều là sự thay thế, gán ghép chủ quan tâm niệm của nọ vào vấn đề hay nhân vật chứ hoàn toàn không phải là thực tế. Do đó ngôi sao Hàn Quốc, nữ ca sĩ Sulli Choi không việc gì phải tự tử chỉ vì công chúng có những ý kiến phê phán bất lợi cho cô. Nếu cô Sulli hiểu nguyên lý thay thế thì sẽ không hành động dại dột như thế.

Ngày 14-10-2019 nữ ca sĩ Sulli Choi đã treo cổ tự tử chết

Hoặc người ta không hiểu rằng nguyên lý bất định (Thiền gọi là vô thủy vô minh), đó là một nền tảng vô cùng quan trọng của thế giới, đó là một trạng thái không xác định dẫn tới hệ quả vô cùng lớn mà ngay cả những nhà khoa học tầm cỡ như Einstein cũng không ngờ tới. Hệ quả gì ? Khi các hạt cơ bản ở trạng thái sóng thì vật không có thật, không hiện hữu, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng (Kinh Kim Cang gọi là vô sở trụ). Phật pháp gọi là tánh không (ngũ uẩn giai không). Hạt photon (ánh sáng) và hạt electron (điện tử) là những hạt con người tiếp xúc gần gũi quen thuộc nhất. Ngày nay các hạt này đã được con người ứng dụng một cách kỳ diệu trong computer, laptop, smartphone, mạng internet, mạng wifi, mạng 3G, 4G, 5G đem lại những hiệu ứng cực kỳ quan trọng mà chỉ mới cách nay 25 năm chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Sự tiện lợi mà những công cụ này mang lại là lớn lao không thể phủ nhận. Chẳng hạn chúng ta ngồi ở nhà mà biết hết tình hình khắp thế giới. Chúng ta có thể gặp gỡ nói chuyện với bạn bè, người thân ở bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới vào bất cứ lúc nào miễn là hai bên chấp nhận. Tôi từng có kinh nghiệm như vậy. Năm 2017 tôi có qua bên Anh ở trong 5 tháng. Dù là 3 giờ khuya đang ngủ, bỗng nhiên thức giấc khi nghe có tiếng tin nhắn viber phát ra từ chiếc điện thoại, thế là liền có thể trao đổi bằng tin nhắn với bà xã từ VN. Đó quả thực là một kinh nghiệm kỳ diệu.

Hiểu sâu và ứng dụng các nguyên lý này, nền văn minh nhân loại còn có thể tiến xa tới mức hiện nay không tưởng tượng nổi. Chẳng hạn viễn tải lượng tử (quantum teleportation). Hoặc vượt qua thời đại công nghiệp hóa đầy ô nhiễm để bước vào thời đại tin học hóa, sản xuất vật chất bằng tin học, thế giới sẽ không còn ô nhiễm do bụi bẩn hoặc môi trường sống bị tàn phá, khả năng sản xuất là vô tận, nhanh chóng, dễ dàng, nên có thể đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, không ai bị bỏ lại phía sau. Nhân loại sẽ không còn cần thiết phải tranh giành tài nguyên biển đảo như hiện nay nữa. Tôi đã từng đề cập cụ thể tới những viễn cảnh như thế này trong một số bài viết trước đây.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 6 bình luận

THẾ GIAN ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG

Điên đảo mộng tưởng là gì ?

Trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu :

遠 離 顛倒 夢 想,究竟涅槃

VIỄN LY ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG CỨU CÁNH NIẾT BÀN :

Xa rời cả điên đảo mộng tưởng và cứu cánh niết bàn.

Điên đảo 顛倒 là thế nào ? Điên là cái đỉnh đầu. Đảo là té ngã, đảo ngược. Vậy điên đảo là ngã nghiêng, trạng thái không tỉnh táo như người say rượu. Điên đảo mộng tưởng là giấc mơ ngược ngạo (Upside down dream) không đúng thực tế. Cả câu VIỄN LY ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG CỨU CÁNH NIẾT BÀN có thể có sự hiểu lầm. Có người nghĩ là Xa rời điên đảo mộng tưởng đạt tới cứu cánh niết bàn. Ý của Bát Nhã Tâm Kinh không phải như vậy. Điên đảo mộng tưởng và Cứu cánh niết bàn là một cặp phạm trù mâu thuẫn có tính tương đối, đối đãi với nhau, một bên là ảo mộng sướng và khổ của thế gian, một bên là niết bàn giải thoát không còn phiền não. Ở trên Kinh đã nói Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không… thì ở đây cũng thế Điên đảo mộng tưởng cũng là cứu cánh niết bàn, không hai (bất nhị) không khác. Cho nên hành giả xa rời, buông bỏ cả hai, mà thật ra cũng không cần buông bỏ, thực tế là không cần buông bỏ chỉ là không cố chấp, buông bỏ chấp trước tưởng mà thôi. Chính vì vậy mà thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền 臨濟義玄đã đưa ra 4 cách đối trị phù hợp với 4 hạng căn cơ trong Tứ Liệu Giản 四料簡

Liệu 料 nghĩa đen là vật liệu chất liệu. Nghĩa bóng là cân nhắc liều lượng

 Giản 簡 nghĩa đen là cái thẻ tre. Nghĩa bóng ở đây là chọn lựa

奪人不奪境  Đoạt nhân bất đoạt cảnh  Bỏ người không bỏ cảnh

 奪境不奪人 Đoạt cảnh bất đoạt nhân  Bỏ cảnh không bỏ người

 人境俱奪      Nhân cảnh câu đoạt          Người và cảnh đều bỏ

 人境俱不奪 Nhân cảnh câu bất đoạt  Người và cảnh đều không bỏ      

Người thế gian điên đảo mộng tưởng như thế nào ?

Con người sinh ra trong thế gian bỗng thấy chung quanh mình có cảnh giới : cái nôi, chiếc giường, mùng mền chiếu gối, nước, sữa, cha mẹ thân nhân…Nó hoàn toàn không hiểu cảnh giới đó từ đâu mà có. Lớn lên chút nữa, nó thấy có phòng ốc, nhà cửa, đường sá, xe cộ, hoa cỏ, cây cối, con chó, con mèo, con chim… Nó ý thức rằng nó có một thân thể và chung quanh nó là cảnh vật nhân tạo và thiên nhiên. Cảnh thiên nhiên to lớn hùng vĩ và đẹp đẽ như rừng cây, sông hồ, núi non, biển cả, bầu trời, mặt trời, mặt trăng, tinh tú. Rồi nó có ý thức về không gian và thời gian. Không gian là nhà cửa, ruộng vườn, thành phố, đất nước, quả địa cầu. Thời gian là giờ giấc, ngày tháng năm được ghi bằng đồng hồ, lịch và trong trí nhớ.

Nó tin tưởng 100% là tất cả cảnh giới bên ngoài và bên trong thân thể nó đều có thật không chút mảy may nghi ngờ.

Tuyệt đại đa số những con người sống trong thế gian đều tin tưởng giống như nó. Không hề có chút hoài nghi nào về bản thân mình và cảnh giới chung quanh.

Nhưng rồi có những biến cố xảy ra. Chẳng hạn như thân nhân của nó như cha mẹ anh chị em, có người bỗng chết mất vì tai nạn, vì bệnh tật khiến nó đau buồn. Rồi có những thiên tai xảy ra, chẳng hạn mưa bão lụt lội khiến nhà sập, tài sản bị cuốn trôi. Động đất, sóng thần cũng gây ra bao nhiếu mất mát. Rồi dịch bệnh xảy ra khiến cho người chết quá nhiều không kiểm soát nổi. Những điều đó khiến nó khổ.  

Trong cuộc sống bình thường hàng ngày thì sự nghèo đói, thiếu thốn hoặc bệnh tật cũng khiến nó cảm thấy phiền não. Nếu không chết đói hay bị tai nạn hoặc bệnh tật thì sống tới già quá thì cũng phải chết. Hễ có sinh thì có tử, không ai thoát chết cả. 

Những cuộc biến đổi lớn, trong sách sử, thi ca phương đông gọi là cuộc bể dâu. Ý nói ruộng dâu biến thành biển xanh hoặc ngược lại. Ngày nay thì nói là biến đổi khí hậu khiến cho bầu không khí nóng lên, băng ở hai cực tan chảy, nước biển dâng cao làm ngập các đồng bằng ven biển.     

Số đông người thì vẫn cứ chấp nhận cuộc sống là như vậy. Họ cho rằng Trời Đất đã sắp đặt như thế thì con người phải chấp nhận thôi. Một số ít thì có suy nghĩ mang tính triết học. Một số người có khuynh hướng khoa học muốn đi tìm nguồn gốc của Trời Đất, nguồn gốc của sinh vật và con người. Một số nhà triết học thì nêu lên vấn đề cuộc sống có phải là sự thật hay không mà sao mong manh quá.

Có một nhà tu hành dùng thiền định quán chiếu đến tận bản thể của tất cả các pháp thì phát hiện rằng tất cả mọi cảnh giới đều chỉ là khái niệm, là tưởng tượng chứ không có thực thể. Nghĩa là mọi cảnh giới chỉ là điên đảo mộng tưởng chứ không phải có thật. Người đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Và tất cả mọi cảnh giới chúng ta thấy chung quanh mình được gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 nghĩa là tưởng tượng đã được lưu truyền phổ biến trên thế gian đến mức mọi người đều tin rằng đó là sự thật 100%.

Khoa học nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ và sinh vật

Về vấn đề nguồn gốc vũ trụ

Lý thuyết Big Bang đã đẩy vũ trụ học tới giới hạn của nhận thức: đó là điểm ban đầu của vũ trụ, được gọi là “nguyên tử nguyên thủy” (primeval atom) hoặc điểm kỳ dị (singularity point). Theo lý thuyết này, vũ trụ ban đầu là một điểm siêu vật chất (một điểm tập trung vật chất với mật độ lớn ở mức không thể tưởng tượng được), rồi sau một vụ nổ lớn (big bang) nó bừng nở ra rồi “tiến hóa” dần thành vũ trụ như ngày nay.

Nhiều người nói Lý thuyết Big Bang là lý thuyết về Nguồn gốc Vũ trụ, điều đó không sai nhưng cũng không hoàn toàn đúng, vì lý thuyết này không hề giải thích nguồn gốc điểm ban đầu của vũ trụ. Nó chỉ mô tả lịch sử của vũ trụ kể từ điểm ban đầu đó về sau mà thôi. Mặc dù hiện nay xuất hiện nhiều ý kiến phê phán thậm chí bác bỏ Lý thuyết Big Bang, nhưng khốn thay, có nhiều lý do để lý thuyết này vẫn đứng vững:

Rất khó bác bỏ những lập luận toán học chính xác của Lý thuyết Big Bang. Cụ thể: Việc giải phương trình trường trong Thuyết tương đối tổng quát của Einstein rút ra những nghiệm tương ứng với một vũ trụ giãn nở.

Quan sát thiên văn của Edwin Hubble cho thấy quả thật vũ trụ giãn nở.  

Tính toán của Stephen Hawking và Roger Penrose trong những năm 1968-1970 cũng đi đến kết luận khẳng định rằng sự khởi đầu của vũ trụ là không thể tránh được.

Quan điểm cho rằng vũ trụ có khởi đầu và có quá trình phát triển phù hợp với Định luật 2 của Nhiệt động lực học, và phù hợp với quan sát thiên văn hiện đại.

Quan sát thiên văn hiện đại của Saul Perlmutter (đoạt Giải Nobel vật lý năm 2011) cho thấy vũ trụ không chỉ giãn nở, mà thậm chí giãn nở gia tốc.

Vũ trụ học hiện đại cũng phát hiện được những vi sóng phát đi từ vụ nổ lớn từ thủa sơ sinh của vũ trụ, xác nhận tiên đoán của Lý thuyết Big Bang.

Cho đến nay vẫn không có một lý thuyết vũ trụ học nào tốt hơn Lý thuyết Big Bang.

Nhưng Lý thuyết Big Bang nêu lên một thách đố: Nguồn gốc điểm ban đầu của Vũ Trụ từ đâu mà có và ai đã tạo ra Vụ Nổ Lớn?

Câu hỏi thách đố ấy đã chia rẽ giới khoa học thành 2 trường phái đối lập:

Trường phái sáng tạo (Creationism) thừa nhận rằng điểm ban đầu của vũ trụ là giới hạn của khoa học duy lý.

Đối với nhà khoa học sống bằng niềm tin vào lý lẽ, câu chuyện kết thúc giống như một giấc mơ buồn. Anh ta đã leo lên ngọn núi vô minh; sắp chinh phục được đỉnh cao nhất; nhưng khi trèo lên tảng đá cuối cùng, anh ta lại được chào đón bởi một nhóm các nhà thần học đã ngồi ở đó từ hàng thế kỷ nay” (For the scientist who has lived by his faith in the power of reason, the story ends like a bad dream. He has scaled the mountains of ignorance, he is about to conquer the highest peak; as he pulls himself over the final rock, he is greeted by a band of theologians who have been sitting there for centuries)

Trường phái duy lý (rationalism) không chịu thừa nhận điểm ban đầu của vũ trụ là giới hạn của nhận thức khoa học. Họ muốn tìm ra nguyên nhân của điểm ban đầu, tức là nguồn gốc của vũ trụ. Để thoát khỏi cái bẫy do chính khoa học đặt ra – điểm ban đầu của vũ trụ – họ bắt đầu SÁNG TÁC RA CÁC GIẢ THUYẾT MỚI.

Stephen Hawking cũng rất hăng hái bảo vệ chủ nghĩa duy lý trước “bước đường cùng” do Lý thuyết Big Bang đẩy tới.

Thật vậy, trong cuốn “Thiết kế Lớn” (Grand Design), ông lớn tiếng nói: “Vì có một định luật như luật hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ tự tạo ra nó từ hư không”. 

(Phần Nguồn gốc Vũ trụ trích từ Phạm Việt Hưng)

Về vấn đề nguồn gốc sinh vật

Thuyết sinh vật tiến hóa của Charles Darwin giải thích rằng do vật chất tự vận động các nguyên tử vô cơ (inorganic atoms) ngẫu nhiên kết hợp thành các phân tử hữu cơ (organic molecules), đó là chất sống đầu tiên là acid amin :

Rồi các phân tử chất sống dần dần kết hợp thành sinh vật đơn bào rồi tiến hóa dần đến sinh vật đa bào, sinh vật có xương sống và cuối cùng thành con người.

Nhưng về sau thuyết Sinh vật tiến hóa của Darwin bị nhiều phản bác. Người ta cho rằng xác suất để các nguyên tử vô cơ ngẫu nhiên kết hợp thành phân tử hữu cơ là cực kỳ thấp gần bằng 0 nên đó chỉ là một giả thuyết không đúng thực tế. Và sự tiến hóa của sinh vật cũng chỉ là một giả thuyết không đúng thực tế. Các hóa thạch của các côn trùng như con gián, con dế có niên đại hàng trăm triệu năm hoàn toàn giống với con gián, con dế hiện nay, không hề có tiến hóa. Sự tiến hóa từ con vượn đến con người cũng không thuyết phục vì thiếu bằng chứng, người ta không tìm thấy hóa thạch trung gian thể hiện các giai đoạn tiến hóa.

Thế nên việc giải thích nguồn gốc sinh vật cũng bế tắc.      

Khoa học duy lý cảm thấy bế tắc vì định luật bất toàn

Định lý bất toàn (Incompleteness theorem) do Kurt Gödel nêu ra năm 1931 làm sụp đổ tất cả các lâu đài khoa học và triết học mà con người đã xây dựng từ hàng ngàn năm nay, từ đó suy ra các hệ quả như :

Computer sẽ không bao giờ thông minh như con người, và bạn sẽ chẳng bao giờ hiểu đầy đủ về chính bạn. Không tồn tại Lý thuyết về mọi thứ. Siêu-toán-học là một giấc mơ không tưởng. Không thể giải thích nguyên nhân đầu tiên. Không thể có lý thuyết cuối cùng. Bộ não là một chiếc máy tính được kết nối với một thần thức. Thế giới thực tại rộng hơn nhận thức của con người. Nhận thức của con người rộng hơn tư duy lý lẽ. Tư duy lý lẽ rộng hơn tư duy duy vật… Muốn đến gần thực tại hơn, con người phải tự giải thoát khỏi cái khung chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, của tư duy lý lẽ, bay lên những tầng cao hơn của thế giới bằng đôi cánh của trực giác và cảm xúc …

Mọi nhận định ở trên đều là hệ quả triết học trực tiếp hoặc gián tiếp của Định lý Bất toàn của Gödel – một định lý đóng vai trò nền tảng trong khoa học nhận thức hiện đại. Không thể có một cái nhìn đúng đắn về thế giới nếu không hiểu Định lý Gödel.

Phát biểu của định lý bất toàn : “Bất kỳ lý thuyết nào được tạo ra một cách hiệu quả đủ khả năng biểu diễn số học sơ cấp đều không thể vừa nhất quán vừa đầy đủ. Đặc biệt, đối với bất kỳ lý thuyết hình thức nào nhất quán, được tạo ra một cách hiệu quả cho phép chứng minh một số chân lý số học căn bản, sẽ có một mệnh đề số học đúng nhưng không thể chứng minh trong lý thuyết ấy.”

Ý nói là không có bất kỳ hệ thống lý luận nào đầy đủ trọn vẹn mà không có mâu thuẫn. Nhà toán học Bertrand Russell (1872-1970) đã minh họa cho ý tưởng bất toàn này bằng câu chuyện Người thợ cạo thành Seville :

Chuyện kể rằng trong 1 thị trấn nhỏ chỉ có 1 người đàn ông duy nhất làm nghề thợ cắt tóc, cạo râu. Tất cả những người đàn ông trong thị trấn chia thành 2 nhóm : nhóm A tự cắt tóc cạo râu cho mình, nhóm B nhờ ông thợ cạo này cắt tóc cạo râu cho. Bác thợ cạo này đã tuyên bố “Tôi chỉ cắt tóc cạo râu cho tất cả những ai ở thành Seville này không tự cắt tóc cạo râu được.” Mâu thuẫn phát sinh là không biết phải xếp bác thợ cạo này vào nhóm nào? Nếu ông tự cắt tóc cạo râu cho mình thì phải xếp ông vào nhóm A nhưng điều đó mâu thuẫn với tuyên bố “ tôi chỉ cắt tóc cạo râu cho những ai không tự mình cắt cạo được” nếu ông tự cắt cạo được thì ông cũng không thể làm cho mình vì trái với tuyên bố. Như vậy phải xếp ông vào nhóm B. Nhưng cũng không được, vì nhóm B phải nhờ ông cắt cạo cho, mà khi ông cắt cạo cho mình thì cũng là tự cắt tóc cạo râu, vậy phải xếp ông vào nhóm A. Rốt cuộc đó là mâu thuẫn vô phương giải quyết, xếp ông vào nhóm nào cũng mâu thuẫn với tuyên bố.

Khi khoa học đã bế tắc về việc giải thích nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc con người, tức là chủ nghĩa duy vật, coi vật chất là nền tảng của thế giới đã thất bại, một số người đã trở lại với các tôn giáo, chẳng hạn Phật giáo, để lắng nghe xem bên phía Tâm học giải thích thế nào.

Một trong những nhà sáng tạo tông giáo vĩ đại nhất là Đức Phật đã nói đại khái là : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Nhất thiết duy tâm tạo. Như thế vũ trụ vạn vật và con người là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Nhưng nguồn gốc của tâm là gì ở đâu ra? Câu trả lời là Vô sinh pháp nhẫn.        

Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)là một thuật ngữ Phật giáo xuất phát từ Kinh Đại Bát Nhã 大般若經 quyển 449 Phẩm Chuyển Bất Chuyển 轉不轉品

Vô sinh nghĩa là không có sinh khởi, không có bắt đầu, không do cái gì sinh ra cũng tức là không có thật mà cũng không phải là giả. Đó là một trạng thái tuyệt đối bất nhị, bất biến, không có chuyển động, không thay đổi. Trạng thái đó gọi là pháp nhẫn. Nhẫn tức là bất biến, không có chuyển động, không lay động, không thay đổi (constant). Thuật ngữ này để diễn tả Tâm bất nhị vô sinh vô diệt không thay đổi.

Long Thọ Bồ Tát nói rằng : Tâm như hư không vô sở hữu 心如虛空無所有 (Tâm giống như hư không không có thật).

Người tu theo Phật giáo là muốn phát hiện cái tâm này, đó mới thực sự là ta cũng là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Trong lịch sử thiền tông, Ngài Động Sơn Lương Giới (807-869), khi kiến tánh có làm bài kệ :

切忌从他觅  Thiết kị tòng tha mích (mịch) Rất kị tìm cầu ở người khác

迢迢与我疏  Điều điều dữ ngã sơ           Như vậy là xa với chính mình

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng         Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ          Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã         Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ             Mà mình không phải là nó

应须恁么会  Ưng tu nhẫm ma hội           Phải ngộ được như thế

方得契如如  Phương  đắc khế như như   Mới khế hợp với chân như 

Ý bài kệ nói rằng cái ta giả của mình không phải là toàn bộ cái tâm mặc dù ta là do tâm tạo ra. Tâm tạo ra vũ trụ vật lý mà con người đang sống trong đó nhưng vũ trụ vật lý không phải là toàn bộ cái tâm. Tâm không tùy thuộc vào số lượng, không phải lớn cũng không phải nhỏ, không tùy thuộc vào không gian và thời gian.  

Tóm lại câu trà lời của Phật giáo là Vũ trụ vạn vật là do tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Tâm cũng tức là Phật, là tánh giác, tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh cảm giác. Tánh đó gọi chung là vô sinh pháp nhẫn, bất biến, không do cái gì sinh ra, cũng không trở thành cái gì, nó vô ngã, vô pháp nhưng lại có công năng tưởng tượng ra vạn pháp, nó tạo ra các cặp phạm trù mâu thuẫn như âm dương, ta người, sáng tối, có không, thật giả…Nó tạo ra tứ tướng (ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng).  Nguyên tử nguyên thủy (primeval atom) hoặc điểm kỳ dị (singularity point) cũng là do tâm tưởng tượng ra. Còn tâm là gì từ đâu sinh ra thì là Vô sinh pháp nhẫn. Vậy câu trả lời của Phật giáo có căn cứ khoa học không ? Xin thưa là Có. Ngày nay với sự phát triển của cơ học lượng tử, người ta tìm thấy chứng cứ khoa học của thuyết Nhất thiết duy tâm tạo và ứng dụng được nó trong việc phần nào làm triệt tiêu được khoảng cách không gian và thời gian với việc chế tạo ra chiếc điện thoại thông minh (smartphone) và mạng internet toàn cầu.

Vũ trụ vạn vật cấu tạo bằng những hạt cơ bản như photon, electron, quark. Những hạt cơ bản này chỉ xuất hiện khi có người hay thiết bị quan sát. Nếu không thì chúng chỉ là sóng tiềm năng vô hình, vô dạng chỉ có thể nhận biết một cách gián tiếp. Bởi vì khi trực tiếp quan sát thì sóng biến thành hạt. Thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) chứng tỏ điều đó. Thí nghiệm này chứng tỏ tâm tưởng tượng ra hạt chứ hạt không có thật. Các nhà vật lý tìm hiểu vật chất đến chỗ tận cùng thì kinh ngạc và cực kỳ sốc vì vật chất không có thực thể, các hạt cơ bản khi bị cô lập (tách rời khỏi người hoặc thiết bị quan sát) thì không phải là vật mà chỉ là khái niệm trừu tượng. Vì vậy Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Đây chính là chỗ mà Phật pháp nói là Nhất thiết duy tâm tạo. Và Niels Bohr đưa ra một nhận định gây khủng hoảng cho giới khoa học (ảnh).

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”   

Ngoài ra Phật pháp cũng nói Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Câu này phải hiểu một cách sâu xa là các hạt cơ bản của vật chất không có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát, khi sóng đã biến thành hạt và hạt mới có đặc trưng do người quan sát tưởng tượng ra. Tưởng tượng này là do tập khí, thói quen lâu đời của người quan sát tạo ra và thuật ngữ Phật giáo gọi là Thế lưu bố tưởng 世流布想 Thế lưu bố tưởng khác xa với tưởng tượng thuần túy của ý thức gọi là Chấp trước tưởng 執著想 Ví dụ : Bản thân cái bàn là thế lưu bố tưởng còn suy niệm về cái bàn là chấp trước tưởng.

Cuộc tranh luận khoa học lớn nhất thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới Niels Bohr và Albert Einstein chính là về vấn đề hạt cơ bản có sẵn đặc trưng hay không. Lúc hai ông còn sống thì cuộc tranh luận bất phân thắng bại, nó vẫn chưa ngã ngũ khi cả hai ông đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962). Mãi tới năm 1982 thì Alain Aspect tiến hành cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử tại Paris mới xác định phần thắng nghiêng về Bohr, quan điểm duy vật khách quan của Einstein cho rằng hạt cơ bản như photon hay electron luôn luôn có sẵn đặc trưng là sai. Hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) là có xảy ra.

Một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, ví dụ vị trí A và B. Khi tác động vào A, chẳng hạn xoay hạt về phía phải thì tức thời B xoay về phía trái không mất chút thời gian nào. Sau này vào năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva có làm lại thí nghiệm, cho A và B cách xa nhau 18km, kết quả vẫn như vậy. Và gần đây năm 2017 khi TQ phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên của thế giới lên không gian, họ làm lại thí nghiệm với A và B cách xa nhau 1200km, kết quả vẫn như vậy, sự liên kết giữa hai vị trí không mất chút thời gian nào.

Năm 2012 Bà Maria Chekhova của đại học Moskva làm thí nghiệm cho một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau, tất cả các vị trí đều liên kết với nhau.

Từ thí nghiệm liên kết lượng tử do  Alain Aspect tiến hành năm 1982 giới khoa học đã rút ra được 3 kết luận quan trọng cực kỳ cơ bản về thế giới :

1/Hạt cơ bản hay vật không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian (space-time) không có thật (non locality= vô sở trụ 無所住)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Như vậy các nhà khoa học lượng tử ngày nay đã hiểu rằng không gian, thời gian chẳng những khả biến mà còn là không có thật.

Ba kết luận này khiến cho các ngành khoa học cơ bản của nhân loại đều trở nên tương đối, nghĩa là chỉ có giá trị giới hạn mà thôi không phải lúc nào cũng đúng.

Khoa toán học từ trước đến nay đều cho là tuyệt đối chính xác nay không còn hoàn toàn đúng vì số lượng không có thật. Một hạt photon, một nguyên tử hay một vật thể có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau. Người ta không thể xác định chính xác có bao nhiêu con virus corona chủng mới hay số lượng châu chấu đang lan tràn thành nạn dịch trên thế giới. Một nguyên tử nguyên thủy (primeval atom) đã biến thành vũ trụ với vô số lượng nguyên tử. Một cũng tức là nhiều.

Khoa vật lý học cũng trở nên mơ hồ vì nền tảng của nó là không gian, thời gian và vật chất đều do tâm tạo, không có thật. Hai thí nghiệm khoa học : liên kết lượng tử (quantum entanglement) và thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) đã cho thấy rõ ràng.

Khoa sinh học càng trở nên mông lung hơn khi thuyết sinh vật tiến hóa của Darwin bị quá nhiều phản bác. Nó chỉ còn là một giả thuyết không thể chứng minh, không đúng thực tế.

Nguồn gốc của vũ trụ và nguồn gốc của sinh vật không thể xác định rõ ràng bằng bất cứ hệ thống lý luận lô gích nào. Bởi vì mọi hệ thống đều dựa trên tiên đề và các tiên đề thì không thể chứng minh mà chỉ là tạm tin thôi và luôn luôn có xảy ra mâu thuẫn trong lý luận mà định lý của Godel đã nêu ra.

Kết luận

Bát Nhã Tâm Kinh nói người thế gian điên đảo mộng tưởng bởi vì họ không biết rằng thế giới họ đang sống là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra chứ không phải cứng chắc vững bền dù rằng cũng có những loại vật chất khá kiên cố như vàng, đá. Tâm cố chấp kiên cố khiến cho vật chất cũng kiên cố, chẳng hạn những loại hạt như proton, neutron là rất kiên cố, chúng khiến cho hạt nhân nguyên tử khó bị phá vỡ. Tuy khó nhưng cũng không phải là không thể bị phá vỡ nếu biết cách. Chẳng hạn khoa học đã biết cách phá vỡ hạt nhân của nguyên tử Uranium 238

Hạt nhân nguyên tử Uranium 238 bị phá vỡ (phân rã =decay event) cho ra 2 nguyên tử : Helium (He) và Thorium (Th)

Phản ứng này còn giải phóng một năng lượng rất lớn mà con người đã lợi dụng để xây dựng những nhà máy điện nguyên tử, tiến hành phân rã hạt nhân có kiểm soát, sản sinh năng lượng và biến năng lượng đó thành điện năng.

Nếu làm chủ được tâm thì một vài người có đặc dị công năng có thể điều khiển được cả một khối lượng vật chất chẳng hạn như cơ thể của chính mình.

Hầu Hi Quý có thể biến mất ở chỗ này xuất hiện ở chỗ khác trong tức thời 

Những động thái kể trên chứng tỏ rằng cảnh giới vật chất là vô thường huyễn ảo không phải tuyệt đối có thật, nhưng người thế gian lại tin chắc 100% là cảnh giới vật chất có thật. Vì vậy kinh Bát Nhã mới nói đó là điên đảo mộng tưởng 顛 倒 夢 想 (Upside down dream) lầm tưởng cho rằng cái ảo giả là thật. Người thế gian cứ mê muội tin như vậy nên họ khổ, họ bị phiền não đến mức nhà thơ thời Đường là Vương Duy 王维 trong bài Thán bạch phát 歎白髮 (than tóc bạc) nói rằng :  

一生幾許傷心事 Nhất sinh kỷ hử thương tâm sự  Ở đời bao chuyện thương tâm

不向空門何處銷  Bất hướng không môn hà xứ tiêu  Không về cửa Phật biết làm sao khuây?

Cuộc sống trên thế gian sướng hay khổ là do tâm tưởng tượng, do tập khí, do nghiệp, không phải là sự thật, không có thực chất. Nên kinh Bát Nhã nói :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại (tức Quán Thế Âm) khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Giải thoát được tất cả mọi khổ nạn đơn giản chỉ là thấu suốt khổ nạn chỉ là điên đảo mộng tưởng, không có thật. Cũng như toàn bộ cảnh giới thế gian, vũ trụ vạn vật đều là cảnh tượng ảo hóa, không phải có thật. Tuy nhiên vì tâm của con người đã có một thói quen tưởng tượng trải qua rất nhiều đời nhiều kiếp mà kinh Phật gọi là thế lưu bố tưởng, nên mọi người đều thấy giống y như là có thật, và vui mừng hay đau khổ tùy theo cảnh giới đó làm cho họ yêu thích hay sợ hãi. Vì thế  Kinh Kim Cang nói :

一 切 有 爲 法 Nhất thiết hữu vi pháp,      Tất cả pháp hữu vi

如 夢 幻 泡 影 Như mộng huyễn bào ảnh  Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

如 露 亦 如 電 Như lộ diệc như điện,         Như sương, như điện chớp,

應 作 如 是 觀 Ưng tác như thị quán.         Hãy quán chiếu như thế.

Mọi người hãy phát khởi nghi tình, nghi ngờ các giác quan mắt thấy tai nghe của mình chỉ là mộng tưởng và đừng quá lo âu sợ hãi trước mọi biến cố.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

Ý NGHĨA CỦA CHỮ THỜI 時

Chữ Thời 時 thông thường có hai nghĩa cơ bản là: thời gian 時间 và thời cơ 時机 . Thời gian là một đại  lượng cơ bản của vũ trụ vạn vật mà theo nhà khoa học trứ danh Einstein, nó gắn liền với không gian không thể tách rời, gọi chung là thời không hay không-thời gian (space-time). Thời cơ là khoảng thời gian thuận lợi để làm một công việc gì đó. Chẳng hạn thời cơ đối với nước Việt Nam hiện nay là hội nhập với thế giới, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật để tiến lên một cường quốc hạng trung trên thế giới. Tại sao bây giờ là thời cơ thuận lợi đối với VN ? Bởi vì VN ổn định về chính trị, đất nước thanh bình không có chiến tranh. VN là một quốc gia chống đại dịch Covid-19 rất tốt nên nhiều nhà đầu tư đang hướng về đất nước này trong khi nhiều nước khác còn đang vật lộn chống dịch. Qui mô dân số của VN đã lên tới gần 100 triệu, lớn hơn dân số của các cường quốc Tây Âu như Đức, Anh, Pháp, Ý và đang ở thời kỳ vàng trong cơ cấu dân số. Tốc độ phát triển kinh tế của VN năm 2019 là 7,02% thuộc loại cao nhất trên thế giới. Chính vì có nhiều điều kiện thuận lợi như vậy nên mới gọi là có thời cơ.

VN trong bản đồ cường quốc, sách của Hamada Kazuyuki

Ý nghĩa thâm sâu của thời gian   

Ý nghĩa cơ bản của thời gian thì ai cũng hiểu. Một đứa trẻ sinh ra nuôi 6 năm được 6 tuổi thì vào học lớp một. Đi học 12 năm thì nó tốt nghiệp Phổ thông trung học. Học tiếp 4 năm nữa thì nó có thể tốt nghiệp đại học và ra trường đi làm việc. Thời gian tính bằng ngày, tháng, năm thì ai cũng hiểu nên không ai thắc mắc thời gian là gì. Tuy nhiên bản chất của thời gian là gì thì khó hiểu hơn rất nhiều. Chẳng hạn nhà khoa học trứ danh Einstein nói thời gian là tương đối. Chẳng hạn trong Thuyết tương đối hẹp (Special relativity) Einstein nói rằng thời gian không phải bất biến mà có thể kéo dài ra hoặc co rút lại.

Một thí nghiệm do nhà vật lý Joseph C. Hafele và phi hành gia Richard E. Keating thực hiện năm 1971 như sau :

“Tháng 10 năm 1971, 4 chiếc đồng hồ nguyên tử Cesium được đặt trên 2 chuyến bay vòng quanh thế giới, một chuyến đi về hướng Đông, một chuyến đi về hướng Tây, để thử nghiệm thuyết tương đối của Einstein với đồng hồ nguyên tử là loại đồng hồ cực kỳ chính xác. Theo giả thuyết, khi so sánh với đồng hồ đối chiếu đặt tại đài quan sát Hải quân, chiếc đồng hồ đi về hướng Đông sẽ có thời gian co rút là 40 ± 23 phần tỷ giây, và thời gian giãn nở ở chiếc đồng hồ đi về hướng Tây là 275 ± 21 phần tỷ giây. Kết quả thực tế, thời gian co rút là 59 ± 10 phần tỷ giây, còn thời gian giãn nở là 273 ± 7 phần tỷ giây, với sai số nằm trong khoảng chấp nhận được.”

Chiếc đồng hồ sử dụng trong thí nghiệm Hafele-Kieting

Đến nay, thí nghiệm Hafele-Keating đã được thực hiện lại bằng các phương tiện hiện đại và chính xác hơn. Các nhà vật lý học, từ năm 1970, cũng dần đi đến đồng thuận rằng, tác động của lực hấp dẫn, và của động lực học lên thời gian hoàn toàn có cơ sở, từ đó bác bỏ được những lời chỉ trích đối với thí nghiệm này trước đây.

Như vậy Einstein đã đưa ra khái niệm là thời gian không phải bất biến mà có thể thay đổi. Sự thay đổi đó tùy thuộc vào vận tốc. Vận tốc càng nhanh, càng gần với với vận tốc ánh sáng thì sự thay đổi càng lớn.

Nhà khoa học Paul Langevin (1872-1946) đã đưa ra câu chuyện giả tưởng dựa trên khoa học về hai anh em song sinh. Một cặp song sinh có người anh là nhà du hành vũ trụ, còn người em sống và làm việc trên Trái Đất. Khi người anh du hành không gian với vận tốc gần vận tốc ánh sáng rồi trở về, nếu theo dõi từ góc nhìn của Trái Đất, chuyến đi sẽ mất tới hàng chục ngàn năm. Nhưng vì chuyển động của người anh có tính tương đối cao so với Trái Đất, người anh sẽ già đi với tốc độ chậm hơn người em song sinh bằng tuổi mình. Khi trở về sau chuyến hành trình, người anh chỉ già đi vài tuổi, nhưng người em đã qua đời từ rất lâu rồi vì hàng vạn năm đã trôi qua. Giả thuyết này làm chúng ta nhớ lại câu chuyện cổ về Lưu Thần và Nguyễn Triệu du thiên thai 劉晨阮肇遊天台.Truyện kể rằng : Đời nhà Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu, nhân ngày Đoan ngọ đi hái thuốc vào suối Đào Nguyên ở trong núi Thiên Thai, gặp hai nàng tiên, họ kết duyên với hai nàng ở lại Thiên Thai được nửa năm rồi về. Nhưng khi về đến nhà thì cháu bảy đời của họ đã chết hết cả rồi. Hai người tìm đường trở lại núi Thiên Thai, nhưng chỉ thấy mịt mù mây nước, mất hút nẻo quay về.

Nhưng không phải chỉ có ví dụ giả tưởng và câu chuyện xưa, ta có sự kiện thực tế: có một cá nhân đã thực sự rút ngắn được thời gian. Đó là nhà du hành vũ trụ Sergei Krikalev đã sống tổng cộng 803 ngày, 9 tiếng và 39 phút trên quỹ đạo. Trở về sau một chuyến đi dài 748 ngày trên Trạm vũ trụ Mir, Krikalev được nhận định rằng ông đã “trẻ ra” 0,02 (2%) giây so với chính Krikalev nếu như ông sống trên Trái đất. 0,02 giây là thời gian quá nhỏ dường như không có ý nghĩa thực tế, nhưng nó chứng tỏ rằng thời gian là tương đối.

Hiện tượng này đã được chứng minh bằng một vật thể du hành thời gian khác, đó là vệ tinh GPS, bay quanh Trái Đất với vận tốc 14.000km/h (3,8km/s). Mỗi ngày, đồng hồ của vệ tinh này lại nhanh hơn vài (trung bình là 3) micro giây so với đồng hồ trên Trái Đất. Đến nay GPS hoạt động được 25 năm bằng khoảng 10.000 ngày, vậy đồng hồ trên vệ tinh đã nhanh hơn đồng hồ trên Trái đất khoảng 30.000 micro giây = 3×10-2 giây  tức 3 phần trăm giây, một khoảng thời gian có ý nghĩa để một vận động viên điền kinh chạy 100m thắng đối thủ !

Tiến sĩ J. Richard Gott, nhà vật lý vũ trụ từ Đại học Princeton nói rằng có thể kết hợp vận tốc cao và trường lực hấp dẫn lớn để du hành thời gian một cách hiệu quả ngay trong Hệ Mặt Trời này. Phi hành gia chỉ cần lên sao Thủy, sống 30 năm ở đó là sẽ du hành được 22 giây, so với việc sống ở trên Trái Đất.

Theo như giáo sư Brian Greene – nhà vật lý lý thuyết tại ĐH Columbia: “Bạn có thể chế ra một con tàu, đi ra ngoài vũ trụ rồi di chuyển ở tốc độ ánh sáng, sau đó quay đầu và trở về Trái đất”.

“Tưởng tượng, bạn đi mất 6 tháng, rồi về trong  6 tháng”. Tức đi và về mất một năm.

Khi ấy, thời gian của bạn sẽ trôi nhanh hơn, trong khi những người ở Trái đất thì vẫn như cũ. Tức là bạn đã đi rất nhanh, trong khi thời gian thực vẫn chậm.

“Khi bước ra khỏi con tàu, bạn già thêm 1 tuổi, nhưng Trái đất đã đi qua rất rất nhiều năm rồi. Bạn có thể đã đi đến 10.000 năm, 100.000 năm, hoặc 1 triệu năm về phía tương lai, phụ thuộc vào tốc độ bạn di chuyển gần đạt tốc độ ánh sáng đến mức nào”. 

Trong thực tế có những sự kiện kỳ bí xuyên thời gian. Chẳng hạn :

Sự việc xảy ra vào một buổi tối giữa tháng 6/1950. Vào lúc hơn 11 giờ đêm, các hành khách trên Quảng trường Thời đại ở New York để ý thấy một người đàn ông khoảng 30 tuổi, ăn mặc theo phong cách từ cuối thế kỷ 19. Không ai biết bằng cách nào ông xuất hiện tại đây. Bản thân ông cũng có vẻ bối rối khi đứng giữa đoạn giao lộ. Sau đó, ông bất ngờ bị một chiếc taxi đâm vào và tử vong tại chỗ.

Rudolph Fentz bỗng xuất hiện ở Quảng trường Thời đại hơn nửa thế kỷ sau

Khi các quan chức khám nghiệm tử thi, họ tìm thấy trong túi của ông có nhiều vật lạ không rõ nguồn gốc. Trong đó có một tấm thẻ đồng mang tên một quán rượu – không ai biết về cái tên này, ngay cả những người lớn tuổi trong thành phố; khoảng 70 đô la loại tiền cũ; tấm danh thiếp mang tên Rudolph Fentz có địa chỉ tại đại lộ số 5 (Fifth Avenue); một lá thư từ Philadelphia gửi tới địa chỉ này có đề ngày tháng từ 6/1876. Tất cả những vật dụng này đều không hề có dấu hiệu cũ nát theo thời gian.

Một cuộc điều tra đã được tiến hành, sau đó người ta tìm được cô con dâu của Rudolph Fentz sống tại Florida. Bà kể rằng cha chồng bà đã mất tích một cách bí ẩn từ năm 1876, khi đó mới 29 tuổi. Buổi tối hôm đó, ông ra ngoài đi dạo nhưng không bao giờ quay trở về nữa. Sau khi các nhà điều tra tìm kiếm hồ sơ về người đàn ông tên là Rudolph Fentz mất tích năm 1876, họ ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi mô tả, từ tuổi tác, ngoại hình, cho đến trang phục đều trùng với người đàn ông trên Quảng trường Thời đại năm 1950.

Như vậy ông Rudolph Fentz sống tại New York đã du hành xuyên thời gian, biến mất từ 1876 và xuất hiện lại vào năm 1950.

Nói về bản chất của thời gian thì trình bày như trên vẫn chưa đầy đủ. Ở trên mới nói về tính chất tương đối của thời gian. Bản chất của thời gian còn thâm sâu hơn nữa.

Không gian, thời gian, vật chất đều không có thật

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅密多心經 Prajnaparamitahridaya Sutra) bản dịch của Huyền Trang chỉ có 260 chữ nhưng đã gói gọn ý nghĩa cốt lõi của Đạo Phật. Trong đó hiển bày Tánh Không cực kỳ cô đọng qua 4 chữ Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空 Cốt lõi của Phật giáo thực sự nằm trong 4 chữ này. Các kinh điển Phật giáo nêu ra một số tri kiến mang tính chất nguyên lý bởi vì chúng hết sức cơ bản. Chẳng hạn Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 Muốn hiểu câu này bạn tuyệt đối cần thiết phải hiểu khoa học, nếu không thì chỉ là hiểu mơ hồ, chung chung, không rõ ràng. Cũng khó trách những người không hiểu Bát Nhã Tâm Kinh, bởi vì một nhà khoa học được cho là vĩ đại nhất của thế kỷ 20 là Einstein cũng vẫn còn chưa hiểu nguyên lý này.

Nhất thiết pháp vô tự tính có ý nghĩa cốt lõi là các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark… đều không có sẵn tự tính, chúng không có sẵn đặc trưng đặc điểm gì cả. Nghĩa là chúng không có sẵn những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Einstein không tin như vậy, ông cho rằng các hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng, góc nhìn đó gọi là quan điểm duy vật khách quan (objective materialistic point of view). Einstein tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr cũng là một nhà vật lý hàng đầu thế giới. Quan điểm của Niels Bohr là hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát và đo đạc các hạt cơ bản này. Đây là cuộc tranh luận khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 và chưa phân thắng bại cho tới khi cả hai qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962).

Để giải quyết cuộc tranh luận này, John Bell (1928-1990), một nhà vật lý người Bắc Ireland đã đưa ra một bất đẳng thức mang tên ông vào năm 1964. Ông muốn giải quyết tranh cãi bằng thực nghiệm. Muốn làm được cuộc thí nghiệm thì phải chế tạo được một cỗ máy. Cỗ máy này có khả năng làm cho một hạt photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau. Người ta sẽ đo đạc và tính toán để kết luận là hiện tượng rối (hay liên kết) lượng tử có thật sự xảy ra không. Hiện tượng này tiếng Anh gọi là quantum entanglement.

Năm 1967 một nhà vật lý người Mỹ là John Clauser đã chế tạo được một cỗ máy như vậy. Cỗ máy này ngày càng hoàn thiện. Clauser vốn là người ủng hộ lập trường của Einstein nhưng kết quả làm ông thất vọng vì nó trái với quan điểm của Einstein.

Đến năm 1982 một nhà vật lý người Pháp là Alain Aspect quyết định sẽ giải quyết dứt khoát cuộc tranh luận dang dở giữa Bohr và Einstein. Ông tiến hành cuộc thí nghiệm tại Paris, dùng cỗ máy của John Clauser và áp dụng bất đẳng thức của John Bell, có sự giám sát của nhiều nhà khoa học. Những điểm chính của cuộc thí nghiệm như sau :

Cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, ví dụ vị trí A và B. Khi tác động vào A, chẳng hạn xoay hạt về phía phải thì tức thời B xoay về phía trái không mất chút thời gian nào. Sau này vào năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva có làm lại thí nghiệm, cho A và B cách xa nhau 18km, kết quả vẫn như vậy. Và gần đây năm 2017 khi TQ phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên của thế giới lên không gian, họ làm lại thí nghiệm với A và B cách xa nhau 1200km, kết quả vẫn như vậy, sự liên kết giữa hai vị trí không mất chút thời gian nào.

Năm 2012 Bà Maria Chekhova của đại học Moskva làm thí nghiệm cho một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau, tất cả các vị trí đều liên kết với nhau.

Sau thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982, người ta mới hiểu rõ quan điểm của Bohr là đúng đắn, quan điểm của Einstein là sai. Hiện tượng quantum entanglement là có thật, hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Trước đó, Bohr đã nói :  “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật) Cô lập (isolated) có nghĩa là đứng một mình không có ai quan sát, thì nó chỉ là sóng vô hình, sóng tiềm năng, khi đó hạt (particle) là trừu tượng, không có thật. Hạt cơ bản chỉ là tánh không, là sóng vô hình. Sau này tiến sĩ vật lý Amit Goswami có làm một clip ngắn nói về sự kỳ lạ của hạt electron.

Tiến sĩ Vật Lý Amit Goswami Nói Về Hạt Electron

Điều kỳ lạ của hạt electron là khi không có ai nhìn nó thì nó hiện diện ở khắp mọi nơi. Nhưng nếu có người nhìn thì nó chỉ xuất hiện ở một máy kiểm hạt Geiger duy nhất. Khoa học đã lợi dụng tính chất này của photon và electron để tạo ra sóng wifi, sóng 3G, 4G, 5G và smartphone. Thông tin khi ở dạng sóng thì nó ở khắp mọi nơi nhưng khi được chiếc smartphone thu sóng thì hạt electron sẽ xuất hiện trên màn hình của chiếc điện thoại đó. Chiếc smartphone đóng vai trò giống như người quan sát.

Hạt cơ bản chỉ xuất hiện khi có người quan sát, lúc đó sóng tiềm năng mới biến thành hạt như hạt photon, hạt electron. Khi đó, hàm sóng của hạt sẽ “sụp đổ” để cho ra các đặc trưng và mỗi đặc trưng chỉ có một giá trị duy nhất gọi là đặc trưng của hạt, ví dụ khối lượng, điện tích. Sự sụp đổ từ sóng thành hạt tiếng Anh gọi là wave function collapse (sự sụp đổ chức năng sóng). Giới khoa học không thể hiểu hiện tượng này, họ gọi đó là một bí ẩn của vật lý lượng tử. Nhưng Đức Phật từ thời xa xưa đã chứng ngộ và gọi đó là Nhất thiết duy tâm tạo一切唯心造 Tất cả mọi hiện tượng trong Tam giới đều là do tâm tạo, người quan sát chính là tâm, là bộ não người, hạt là vọng tưởng của tâm, thuật ngữ Phật giáo gọi là Thế lưu bố tưởng世流布想 Chiếc smartphone đóng vai trò giống như bộ não. Computer và smartphone chính là sự mô phỏng hoạt động của bộ não.     

Hạt cơ bản đã là hạt ảo, chỉ là tưởng tượng, kinh điển gọi là hoa đốm trong hư không, thì những cấu trúc của hạt cơ bản như nguyên tử, phân tử, vật thể, thiên thể, sinh vật, con người cũng đều là ảo, không có thực thể. Vì vậy Kinh Bát Nhã mới nói Ngũ Uẩn Giai Không (五蘊皆空All five aggregates are empty) tức Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination). Tất cả đều là không, không có thật.      

Từ thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) giới khoa học đã rút ra được 3 kết luận quan trọng cực kỳ cơ bản về thế giới :

1/Hạt cơ bản hay vật không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian (space-time) không có thật (non locality= vô sở trụ 無所住)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Như vậy các nhà khoa học lượng tử ngày nay đã hiểu rằng thời gian chẳng những khả biến mà còn là không có thật.

Từ nhận thức này cơ học lượng tử đã phát triển những công cụ tin học làm triệt tiêu khoảng cách không gian và thời gian trên địa cầu. Ví dụ hiện nay qua chiếc điện thoại thông minh chúng ta đã có thể nhìn thấy và nghe tiếng nói của người thân, bạn bè từ những nơi xa xôi trên thế giới.

Thí nghiệm liên kết lượng tử là bằng chứng về việc không có số lượng trong phạm trù hạt cơ bản. Sự nhân bản vô tính con cừu Dolly là bằng chứng về không có số lượng trong đời sống thực tế, một con người như anh A nếu nhân bản vô tính thì sẽ có vô số anh A giống hệt nhau.  

Tất cả thế giới vật chất và tinh thần đều là ảo hóa, không có gì là thật cả (Ngũ uẩn giai không)

Kinh Kim Cang nói :

一 切 有 爲 法 Nhất thiết hữu vi pháp,      Tất cả pháp hữu vi

如 夢 幻 泡 影 Như mộng huyễn bào ảnh  Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

如 露 亦 如 電 Như lộ diệc như điện,         Như sương, như điện chớp,

應 作 如 是 觀 Ưng tác như thị quán.         Hãy quán chiếu như thế.

Phần trên chúng ta đã nói vật chất chỉ là ảo, là tánh không, không có thực thể mà Phật giáo đã nhận thức từ xa xưa và khoa học đã chứng tỏ. Còn về phương diện thực nghiệm người thật việc thật thì có ai làm được không ? Xin thưa là có. Gần như đồng thời với cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris, thì ở tại Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh, đây là một nơi trang nghiêm bậc nhất của quốc gia, một nơi TQ dùng để họp Quốc Hội.

Trước sự chứng kiến của lãnh đạo TQ và nhiều nhà khoa học, Trương Bảo Thắng, một người có đặc dị công năng bẩm sinh, sẽ làm một cuộc thí nghiệm hiếm có.

Trương Bảo Thắng (trái) Cơ Bằng Phi 姬鵬飛 (giữa) Tổng thư ký Quốc Vụ Viện và Lika Shing tỷ phú Hong Kong

Người ta đặt hai quả táo (apple) vào trong một thùng sắt và hàn kín nắp. Trương Bảo Thắng sẽ dùng ý niệm để lấy một quả táo ra khỏi thùng sắt. Và ông đã thực hiện được việc đó, cho quả táo đi ra ngoài và nằm ở một góc của khán đài.

Biểu diễn của Trương Bảo Thắng là một thực nghiệm chứng tỏ rằng cái thùng sắt cũng như quả táo chỉ là những vật ảo, ông có thể dùng ý niệm để điều khiển chúng.

Hành vi của Trương Bảo Thắng cũng là việc mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là Sự Sự Vô Ngại. Thùng sắt là một sự vật, quả táo là một sự vật. Quả táo có thể đi xuyên qua thùng sắt không hề trở ngại.

TQ là một quốc gia cộng sản chỉ tin vào chủ nghĩa duy vật. Trước việc làm “duy tâm” của Trương Bảo Thắng họ không khỏi phản đối. Nhưng sau một quá trình đấu tranh lâu dài, cuối cùng các nhà lãnh đạo và các nhà khoa học đã thừa nhận đặc dị công năng là người thật việc thật không phải mê tín, nên họ đã cho phép xuất bản chính thức quyển sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng.

Qua sự kết hợp nghiên cứu giữa Phật pháp và Khoa học chúng ta đi đến nhận thức sâu xa hơn về Thuyết tương đối của Einstein. Thời không (space-time) và cả vũ trụ vạn vật chẳng những là những sự vật khả biến mà còn là không có thật, do tâm tạo.

Kinh Kim Cang đã đưa ra một nhận thức rốt ráo về thời không chỉ là ảo tưởng :

《金剛經》“過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得”

Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc. Vì các tâm sở là không có thật nên bất khả đắc.

Ý của kinh nói rằng quá khứ, hiện tại, vị lai, đều không có thật, đều là do tâm tưởng tượng ra. Vậy bạn muốn điểm cái tâm nào ? Câu hỏi bạn muốn điểm cái tâm nào cũng có ý nói thời cơ của bạn là thế nào.

Thời cơ của bạn, người đang sống trong thế gian        

Tuy là vũ trụ vạn vật không có thật, cảnh giới thế gian chỉ là ảo hóa, chúng ta không nên chấp thật. Nhưng Phật giáo cũng không phủ nhận thế giới tương đối. Chấp Có hay chấp Không đều là biên kiến. Biên kiến đều là tà kiến không phải chánh pháp của Phật giáo. Vì vậy Long Thọ Bồ Tát mới có Trung Quán Luận để phá chấp.

Trong câu chuyện về bà già bán bánh rán liên quan đến câu: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc 過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得 thì thời cơ của sư Đức Sơn Tuyên Giám là đến tham vấn Thiền sư Long Đàm Sùng Tín để giác ngộ.

Chúng ta đang sống trên quả Địa Cầu, thời đại của con người hiện giờ là đã bước qua thập niên thứ ba của thiên niên kỷ thứ ba với đầy biến động : đại dịch Covid-19 đã làm cho cả thế giới điêu đứng, suy giảm kinh tế trầm trọng. Đến ngày cuối ngày 10-09-2020 số người nhiễm bệnh lên tới 28.312.986, số người chết là 913.077.  5 quốc gia có số ca nhiễm nhiều nhất theo thứ tự là Mỹ, Ấn Độ, Brazil, Nga, Peru.

Vậy thời cơ đối với mỗi người chúng ta là gì ? Chúng ta có thể làm gì tốt nhất trong hoàn cảnh này ?

Theo ý kiến riêng của tôi thì đây là dịp để mọi người xem xét lại tâm niệm và hành vi của mình xem có gì mê muội sai lầm không, cụ thể là hãy trả lời những câu hỏi sau :

-Mình có thật sự thấu hiểu bản chất của thế giới hay không ? Thế giới này là thật hay ảo ? Thời không (space-time) là gì, từ đâu mà có ? Đây là câu hỏi rất cơ bản thuộc phạm trù tư duy triết học hoặc thiền định, cần kết hợp với khoa học để hiểu.

-Việc cắm đầu cắm cổ theo đuổi tiền tài danh vọng hưởng thụ vật chất có tuyệt đối cần thiết hay không ? Nếu cần thiết thì bao nhiêu là đủ ? Việc ăn uống, mặc quần áo, tậu nhà ở, mua sắm vật dụng của mình có vượt quá nhu cầu cần thiết, có trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới môi trường sinh thái địa cầu hay không ? Nó có gây nghiệp sát sinh hại vật hay không ?

-Tâm niệm ưa ghét của mình có ảnh hưởng thế nào ? Ưa người này ghét người kia, thích nước này thù nước nọ ảnh hưởng thế nào tới mình và người khác tới quốc gia của mình và quốc gia khác. Có phải đó chính là mầm mống của ganh ghét, tranh giành và chiến tranh hay không ? Có phải đó là chia phe để kình chống lẫn nhau không ? Việc đó sẽ đưa tới hậu quả gì ?

Về mặt nhận thức Phật giáo giảng dạy về bất nhị, những cặp phạm trù mâu thuẫn không phải tuyệt đối khác nhau. Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc. Ta không khác Người, Người không khác Ta. Ta hại người hại vật cũng tức là hại Mình. Con virus corona SARS-CoV-2 không phải do ai khác tạo ra mà do chính Tâm của Ta tạo ra vì mê muội, vì gây nhiều nghiệp xấu, con virus xuất hiện như một nghiệp báo để trừng phạt loài người. Những người nhiễm bệnh, những người chết đi phải chăng là đang trả nghiệp của chính mình ?

Về mặt thái độ ứng xử, Phật giáo dạy từ bi. Quán vô lượng thọ kinh chép: “Tâm của chư Phật là tâm đại từ bi” (Chư Phật tâm giả, đại từ bi thị 诸佛心者大慈悲是). Từ bi của Phật pháp là Vô duyên từ, Đồng thể bi 无缘慈同体悲 Vô duyên từ là tình thương không phân biệt, không có nguyên nhân. Vì nền tảng cốt lõi của Phật giáo là Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空 nên không phân biệt, phi nhân duyên, không có nguyên nhân không có điều kiện. Ngũ uẩn chỉ là vọng tưởng không phải chân thật. Đồng thể bi là lòng thương xót bằng trí chứ không phải bằng tình. Trí nhận biết Thiên Địa Vạn Vật đồng nhất thể nên lòng thương xót cũng không phân biệt, không phân biệt Ta Người, Bạn Thù, xem tất cả đều như nhau.

Tuy nhiên trong thực tế thế gian thì tâm thức của con người là có phân biệt. Đó là một tập quán lâu đời ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức, tới mức làm sụp đổ sóng tiềm năng đồng nhất vô phân biệt thành các lượng tử cụ thể như hạt quark, hạt photon, hạt electron và các loại hạt cơ bản khác. Và các hạt này bắt đầu có đặc trưng đặc điểm của tâm niệm. Cuối cùng các hạt cơ bản mới hình thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thân tứ đại của con người. Những đặc trưng đó do tập khí (習氣 Vāsanā) tức thói quen lâu đời tạo ra. Tập khí tạo ra các quy luật vật lý tự nhiên. Cái mà con người thường mô tả bằng khái niệm khách quan chính là chủ quan tập thể của một số đông người. Cái chủ quan tập thể này thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 (Kinh Đại Bát Niết Bàn : Nhất thiết thánh nhân duy hữu thế lưu bố tưởng vô hữu trước tưởng一切聖人唯有世流布想無有著想 tất cả các bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng không có chấp trước tưởng). Kinh điển giải thích rằng thế lưu bố tưởng nghĩa là thấy trâu là trâu, thấy ngựa là ngựa. Ngày nay chúng ta có thể giải thích rõ ràng hơn : Thánh nhân cũng như tất cả mọi người đều thấy nguyên tử helium (He) có các đặc trưng như sau : Nó có 2 hạt proton mang điện tích dương, 2 hạt neutron không mang điện tích, 4 hạt này nằm trong hạt nhân của nguyên tử He. Bên ngoài có 2 hạt electron mang điện tích âm.

Thánh nhân mặc dù thấy giống như người phàm nhưng bậc thánh không chấp thật nghĩa là không cho rằng nguyên tử He là có thật, cũng như không cho rằng thân tứ đại của mình là có thật, vì vậy thánh nhân không chấp ngã, không chấp pháp. Vì vậy việc sinh tử không làm cho bậc thánh phiền não. Nhưng việc sinh tử làm cho người phàm phiền não vì họ chấp thật, sự chấp thật đó gọi là chấp trước tưởng. Có điều gì chứng tỏ cái thấy của thánh nhân là chính xác ? Một số nhà đặc dị công hiện đại như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý có thể chứng tỏ điều đó. Như phần trên đã nói. Trương Bảo Thắng có thể dùng tâm niệm để lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà nắp đã bị hàn kín. Hầu Hi Quý có thể lấy một gói thuốc lá ở cách xa chỗ ông ta đứng hàng ngàn dặm. Những hành động này chứng tỏ thùng sắt, quả táo, gói thuốc lá, khoảng cách không gian đều không phải tuyệt đối là có thật.

Thế nên Tổ Đạt Ma có hướng dẫn hành giả cách hành động phù hợp trong Đạt Ma Nhị Nhập Tứ Hành Quán「達磨入四行觀」đó là tùy duyên, chia làm 4 trường hợp.

一 報冤行 1/Báo Oan Hành (hành động khi gặp oan trái) 經曰: 逢苦不憂,何以故,識達故 Kinh nói : Phùng khổ bất ưu, hà dĩ cố, thức đạt cố. (Gặp khổ không lo, tại sao thế ? Vì hiểu rõ ngọn nguồn)

  隨緣行  2/Tùy Duyên Hành (hành động tùy duyên) 眾生無我,並緣業所轉,苦樂齊受,皆從緣生
Chúng sinh vô ngã, tịnh duyên nghiệp sở chuyển, khổ lạc tề thọ, giai tòng duyên sinh (Chúng sinh vô ngã đều do duyên nghiệp mà hình thành, khổ vui đều xem như nhau, đều là do duyên mà sinh khởi).

無所求行  3/Vô Sở Cầu Hành (hành động không có lòng mong cầu) 智者悟真,理將俗反,安心無為,形隨運轉  Trí giả ngộ chân, lý tương tục phản, an tâm vô vi, hình tùy vận chuyển (Người trí ngộ được thực tế, lý lẽ trái với thế tục, an tâm không làm theo tư dục, hình tướng tùy duyên nghiệp mà chuyển biến).

四  稱法行 4/Xứng Pháp Hành (hành động tương xứng với pháp) 性淨之理,目之為法  Tính tịnh chi lý, mục chi vô pháp (tính lý của vạn pháp là thuần nhất, vô phân biệt nên mắt (người trí) xem như không có pháp, không có vật gì cả.

Thấu suốt như vậy thì tất cả mọi người đều thoát khỏi tất cả phiền não như Bát Nhã Tâm Kinh mô tả :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Kết luận :

Chữ thời 時 mà tôi muốn đề cập trong bài viết này trích trong câu HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI 行深般若波羅蜜多時 Lúc thực hành tận cùng với trí bát nhã (thì thấy rõ ngũ uẩn giai không).

Thời cơ của mỗi người chúng ta hiện nay là gì ? Trong lúc đại dịch Covid-19 hoành hành, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, vui chơi giải trí, thể thao, du lịch, đều bị ngưng trệ, chúng ta sống giãn cách xã hội ở tại nhà, có nhiều thời giờ rảnh, hãy tham thiền quán chiếu, thấu suốt hoàn cảnh thực tế hiện nay trên thế gian để tự mình giác ngộ, thoát khỏi mọi khổ nạn. Độ nhất thiết khổ ách không phải chỉ là tìm cách thoát khỏi những khổ nạn đang hiện hành (đó là hoạt động tùy duyên, tuy duyên hành như Bồ Đề Đạt Ma đã chỉ dạy) mà quan trọng hơn là thấu hiểu tất cả khổ nạn đều chỉ là vọng tưởng, không phải có thật, nên hành giả không sợ hãi, không phiền não.

Còn hoạt động tùy duyên như đeo khẩu trang khi tới chỗ đông người, thường rửa tay bằng nước sát khuẩn…thì cứ theo hướng dẫn của nhà nước. Ai có nhiệm vụ chế tạo vaccine, thử nghiệm và sản xuất ra thật nhiều vaccine để phòng dịch cho nhân loại thì cứ làm nhiệm vụ của mình. Ai có thể làm được gì cho xã hội đỡ khổ hơn, bình an hơn, tốt đẹp hơn thì cứ tiếp tục.

Điều quan trọng mà hành giả luôn tâm niệm và thực hiện là : từ thế lưu bố tưởng không sinh ra chấp trước tưởng. Đó là trí tuệ và cái hạnh行 của thánh nhân mà các hành giả tu tập theo Phật giáo nên noi theo.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 1 bình luận

LẠI NÓI VỀ KHOA HỌC VÀ PHẬT PHÁP

Trên Duy Lực Thiền đã có nhiều bài nói về Khoa học và Phật pháp, nhưng bây giờ lại nói thêm vì tôi nhận thấy có những khía cạnh còn chưa nói hết, chưa nói đầy đủ, nhiều người vẫn còn mơ hồ cảm thấy dường như Khoa học và Phật pháp là hai cái khác nhau. Thậm chí có người nói rằng : “Mọi người xin hãy mau tấn tu, khoa học kỹ thuật và vật chất không thể cứu nổi chúng ta trong khi thế cuộc suy đồi, ngày trả nghiệp của toàn nhân loại đã đến. Ai theo công giáo xin nguyện chúa, ai theo Phật giáo xin thiền định, niệm Phật. Ai thuộc tôn giáo nào xin hãy thành khẩn trì niệm thánh hiệu của các vị giáo chủ tôn giáo đó. Xin mọi người lưu tâm ạ”.

Khoa học và Phật pháp giống nhau hay khác nhau ?

Khi nói như lời trích dẫn là ngụ ý rằng Khoa học Kỹ thuật là có giới hạn và không thể cứu nổi nhân loại. Điều đó không sai, khoa học kỹ thuật hiện nay của nhân loại còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn công nghiệp hóa của thế giới phá rừng, xây đập thủy điện trên các con sông làm ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên, tạo ra nhiều khí thải, chất thải, làm ô nhiễm môi trường, gây ra hiệu ứng nhà kính, tăng nhiệt độ của địa cầu khiến băng sơn ở hai cực tan chảy, nước biển dâng lên có thể xóa sổ một số đồng bằng ven biển. Sự tàn phá môi trường còn có thể gây ra bệnh dịch nguy hiểm, chẳng hạn bệnh Covid-19 đang hoành hành thế giới hiện nay.

Nhưng cầu nguyện, niệm Phật, niệm danh hiệu của các bậc giáo chủ tôn giáo thì có cứu nổi thế giới hay không ? Niềm tin này cũng có cơ sở bởi vì nguyên lý của Phật pháp là Nhất thiết duy tâm tạo, nhưng để cứu thế giới thì niềm tin này không có hiệu lực quyết định, mà tác nhân quyết định là luật nhân quả. Cảnh khổ vì bệnh tật hiện nay là do cộng nghiệp của nhân loại. Mỗi năm con người đã tàn sát, đã ăn thịt hàng triệu tấn thủy hải sản, đã giết và ăn thịt hàng triệu con bò, hàng trăm triệu con heo, hàng tỷ con gà vịt và gia súc gia cầm khác. Đó là loài người vay sinh mạng của muôn loài để đáp ứng nhu cầu của con người. Có vay thì có trả, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh nhân họa, không ngừng giáng xuống đầu nhân loại, đó là sự hiện hành của ác nghiệp. Cầu nguyện hay niệm danh hiệu của Phật, Chúa cũng không thể cứu nổi con người. Nếu cầu nguyện mà cứu được, hóa ra luật nhân quả không có tác dụng sao ? Tâm hay Trời đã tạo ra con virus SARS-CoV-2 để tạo ra câu chuyện trả nghiệp cho nhân loại. Nghiệp báo này xảy ra một cách tự động theo quy tắc phản lực. Khi con người tạo ra một nghiệp lực ác thì cái nghiệp lực đó tác động ngược trở lại con người ngay tức thời. Nhưng con người có những tập quán (thói quen) sai lầm về không gian thời gian và số lượng. Chính cái thói quen vọng niệm sai lầm đó tạo ra hiệu ứng không gian, thời gian và số lượng. Nghĩa là sao ? Bản chất không có thật của không gian và thời gian, của các cảnh giới và diễn tiến được Kinh Kim Cang mô tả : quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc

Nghĩa là không gian và thời gian là vọng niệm của con người tạo ra chứ không phải có thật. Nghĩa là  con người tạo nghiệp ở một cảnh giới không gian và thời gian này nhưng nghiệp báo lại xảy ra ở một cảnh giới không gian và thời gian khác khiến con người không nhận ra được mối liên hệ giữa hai cảnh giới khiến cho có nhiều người không tin nhân quả bởi vì không thấy trực tiếp. Bởi vì họ không thấy rõ mối liên hệ giữa hai cảnh giới nên tưởng là không có nhân quả. Ngoài ra theo nguyên lý Bất nhị của Phật pháp, toàn thể Tam giới vũ trụ vạn vật chỉ là một Tâm thôi. Cái tâm bản nguyên đó biến hiện thành vô lượng cảnh giới và vô lượng chúng sinh. Có nghĩa là vô số chúng sinh khác nhau ở trong Tam giới trong thời gian vô thủy vô chung chỉ là một người, một tâm mà thôi (bất nhị). Tâm vốn không có số lượng nhưng biểu hiện của tâm là số lượng nhiều không kể xiết. Số lượng không có thật được thể hiện rõ ràng trong thí nghiệm khoa học do Maria Chekhova của đại học Moskva thực hiện năm 2012.

Bà cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau trong không gian và tất cả photon đều liên kết với nhau gọi là rối, vướng víu hay liên kết lượng tử (quantum entanglement). Sở dĩ chúng liên kết dính líu với nhau bởi vì tất cả chúng thực chất chỉ là một hạt photon.

Maria Chekhova của đại học Moskva (Moscow)

Khi tác động vào một photon thì cả 100.000 photon bị tác động đồng thời không mất chút thời gian nào. Điều đó chứng tỏ rằng không gian và thời gian là không có thật.

Thế nhưng trong tâm niệm của con người thì không gian thời gian, vô lượng chúng sinh là có thật, chúng hoàn toàn khác nhau, ta và chúng sinh khác không phải là một. Ta là người thì có trí thông minh, có sức mạnh, ta có quyền ăn thịt heo bò gà vịt, tôm cá và nhiều loài khác, đó là vay nợ sinh mạng và phải trả bằng sinh mạng. Nghiệp báo có thể đến nhanh hay chậm do ác nghiệp nhiều hay ít. Nếu ác nghiệp nhiều và liên tục thì nghiệp báo sẽ đến rất nhanh. Để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta có thể xem kinh điển, chẳng hạn Kinh Pháp Cú (Dhammapada hoặc Pháp Cú Thí Dụ Kinh法句譬喻经) . Còn muốn hiểu chính xác hơn chúng ta lại cần tới khoa học.

Đây là một loại khoa học ở trình độ cao nơi khái niệm phân biệt vật chất và tinh thần bị xóa nhòa. Bát Nhã Tâm Kinh nói Sắc Bất Dị Không, Ngũ Uẩn Giai Không. Nghĩa là vật chất cũng là không tức vật chất cũng là tinh thần, năm tập hợp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều là không, đều không hoàn toàn khác nhau. Vật chất và tinh thần (ý thức, tình cảm, cảm giác, tưởng tượng, chuyển động) không phải là hai thứ khác nhau (bất nhị).

Các bác sĩ có khả năng thôi miên tức tác động tới tinh thần, tâm lý của bệnh nhân khiến họ thấy lại nhiều tiền kiếp, thì sẽ thấy rõ mối liên hệ giữa nhân và quả.

Bác sĩ Brian Weiss có khả năng thôi miên để giúp bệnh nhân nhớ lại tiền kiếp, từ đó trị được những chứng bệnh khó hiểu do tác động tâm lý của quá khứ. Bác sĩ Brian Leslie Weiss sinh năm 1944, tốt nghiệp thạc sĩ Y Khoa tại đại học Yale. Ông đã từng là bác sĩ nội trú tại Trung Tâm Y Khoa Bellevue của New York University, sau đó trở thành trưởng khoa nội trú của khoa Tâm Thần tại đại học Y Khoa – Yale. Ông từng phụ trách chức vụ chủ tịch danh dự ngành Tâm Thần học tại Trung Tâm Y khoa Mount Sinai ở Miami. Ông đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng xuất bản. Ông thường tổ chức nhiều cuộc hội thảo và các chương trình đào tạo chuyên nghiệp khắp nơi trên thế giới.

Bác sĩ Brian Leslie Weiss

Kể chuyện cô Catherine thấy lại tiền kiếp qua thôi miên

Phật pháp cũng là Khoa học, Khoa học tức là Phật pháp (giống như Sắc bất dị Không) Khoa học kỹ thuật hiện nay còn hạn chế. Chẳng hạn hiện nay khoa học chưa đủ khả năng sử dụng ánh sáng mặt trời vừa làm năng lượng vừa làm nguyên liệu để in 3D ra lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người trên thế giới. Khoa học hiện nay chưa thực hiện được viễn tải lượng tử (teleportation) chuyển một người đi xa không giới hạn trong tức thời. Tuy nhiên khoa học đã thực hiện được một số việc khá thần kỳ, ví dụ gởi hình ảnh, âm thanh, video đi khắp thế giới trong tích tắc.

Chúng ta đừng nghĩ rằng những giáo lý của Đức Phật nêu ra từ hơn 2600 năm trước không phải là khoa học. Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm. Ví dụ : Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên. Đó không phải chỉ là Phật pháp mà còn là khoa học.

Ở một trình độ cao hơn nữa, trong kinh Viên Giác 圓覺經 Phật nói về vô minh của chúng sinh như sau :

Nầy Thiện-nam, tất cả chúng-sanh từ hồi nào đến giờ, bị nhiều món điên-đảo làm mê-mờ tánh “Viên-Giác”, như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Ðiên-đảo vọng-hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ-đại giả hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng-niệm sanh diệt duyên theo bóng-dáng của sáu trần cho là thật tâm mình. Như người nhặm con mắt, thấy trong hư-không có các hoa đốm, hoặc mặt trăng thứ hai. Thật ra trong hư-không chẳng có hoa đốm hay mặt trăng thứ hai, nhưng vì người nhặm con mắt thấy có hoa đốm rồi vọng-chấp có hoa đốm thật. Bởi vọng-chấp, nên chẳng những không biết được hư-không không có thật, mà lại thêm mê-lầm: Chấp thật có hoa đốm sanh. Vì mê-lầm mà có sanh-tử luân-hồi, nên gọi là “Vô-minh”.

Lời dạy này của Phật cũng hoàn toàn có cơ sở khoa học chứ không phải chỉ là giáo lý vô căn cứ. Không phải là lợi dụng thần quyền để khiến mọi người tin bừa những việc không có thật. Vậy trong lời dạy trên, cơ sở khoa học ở chỗ nào ?

Cái mà kinh Viên Giác gọi là hoa đốm trong hư không, các nhà vật lý lượng tử hiện đại gọi là các hạt cơ bản của vật chất. Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) liệt kê 17 hạt cơ bản như thế :

Mô hình chuẩn Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics).

Bảng này chưa có hạt graviton (hạt hấp dẫn) Sóng hấp dẫn đã được tìm thấy năm 2016. Có sóng thì có hạt nhưng vì con người chưa trực tiếp nhìn thấy hạt nên chưa đưa vào.

Các hạt cơ bản này bản thể là sóng vô hình, không có hình dạng, không có thật. Nhưng khi có người quan sát thì các hạt cơ bản nói trên xuất hiện. Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) đã chứng tỏ điều này. Và từ các hạt như quark up, quark down hình thành hạt proton, neutron và hạt nhân nguyên tử. Các hạt electron chạy chung quanh hạt nhân tạo thành nguyên tử. Nhiều nguyên tử tạo thành phân tử. Các nguyên tử phân tử hóa hợp với nhau một cách hữu cơ tạo thành chất sống như acid amin, glucid, lipid, protein…rồi thành sinh vật, cuối cùng thành con người với thân tứ đại vô cùng phức tạp.

Vậy cái thân tứ đại của con người hình thành do vọng tưởng giống như hoa đốm trong hư không, vốn là không có thật nhưng vì vô minh, tưởng lầm là có thật, vọng chấp là thật từ đó phát sinh ra vui thích và phiền não, hạnh phúc và đau khổ, không biết rằng tất cả đều là không hoàn toàn có thật. Cái vọng tưởng không có thật đó, kinh điển gọi là Thế lưu bố tưởng世流布想Cái thế giới vật chất chỉ là vọng tưởng mê lầm của các giác quan, của ý thức, của mạt-na thức và cái tàng thức gọi là A Lại Da thức. Do đó Phật giáo mới có Duy Thức Học để mô tả 8 thức. Duy Thức Học là Phật giáo, còn Cơ Học Lượng Tử là Khoa học, về cơ bản Phật giáo và Khoa học không có khác nhau. Nhưng khoa học thì mô tả rõ ràng chi tiết hơn. Ngoài ra Khoa học có kỹ thuật hỗ trợ. Kỹ thuật là dựa trên các định lý khoa học để chế tạo vật chất, sản xuất thật nhiều lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường sá, xe cộ, máy bay, tàu thủy… là phục vụ đời sống vật chất. Bút mực, nhạc cụ, tranh ảnh, văn hóa phẩm, âm nhạc, nghệ thuật…là phục vụ đời sống tinh thần.

Phật giáo và một số tôn giáo khác cũng có một số kỹ thuật để hỗ trợ đời sống tâm linh. Chẳng hạn những kỹ thuật như tham thiền, yoga, niệm Phật, niệm chú, tụng kinh, khí công, nhân điện…Đó là những kỹ thuật điều phục thân tâm mà nếu làm tốt cũng có thể giữ được sức khỏe, thân tâm an lạc, đi đến giác ngộ. Hoặc nếu chuyên luyện một pháp thuật gì đó thì có thể  luyện được những đặc dị công năng, chẳng hạn như Hầu Hi Quý.

Tóm lại Khoa học và Phật đều dựa trên thực tế. Thực tế đó là gì thì Phật pháp và Khoa học trình độ thấp nhận thức khác nhau. Phật pháp nói thực tế đó là thế lưu bố tưởng tức là vọng tưởng của số đông chúng sinh qua nhiều đời nhiều kiếp. Khoa học trình độ thấp nhận thức chưa tới mức tối thượng thì cho đó là thực tại khách quan, cho rằng vũ trụ vạn vật, vật chất là có thật. Còn Khoa học trình độ cao như phát biểu của Niels Bohr thì tương đồng với Phật pháp, đã nhận ra vật chất cũng không có thật, chính người quan sát làm cho sóng tiềm năng vốn vô hình vô dạng, sụp đổ thành hạt cơ bản của vật chất.

Công năng tác dụng của Phật pháp và Khoa học

Nếu chúng ta xem xét một cách công tâm thì những kỹ thuật của các tôn giáo thuộc về công phu tập luyện của cá nhân hành giả, ai thực hành cái gì thì kết quả chỉ đến cho riêng mình người đó chứ nó không có tác dụng phổ biến cho số đông. Một người tu hành giác ngộ thì chỉ một mình người đó đạt được sinh tử tự do, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứ cũng chẳng có cách nào làm cho người khác giác ngộ. Ai muốn giác ngộ thì phải tự mình tu tập. Vì thế kết quả của sự tu tập đó thì không thể so sánh được với các kỹ thuật của khoa học. Thực tế xã hội thể hiện rất rõ ràng. Ví dụ :

-Kỹ thuật máy hơi nước của James Watt đã đưa đến cách mạng công nghiệp của xã hội, cách mạng giao thông vận tải với xe hơi, tàu thủy, xe lửa. Nhờ có động cơ hơi nước nên năm 1785, mục sư Edmund Cartwright đã phát minh ra máy dệt vải chạy bằng hơi nước. Năm 1791, Cartwright xây dựng một nhà máy dệt đầu tiên của nước Anh và ngành dệt của Anh đã có bước nhảy vọt từ phương thức thủ công sang sản xuất đại công nghiệp. Từ đó có thể cung cấp vải vóc may quần áo cho cả thế giới, điều mà các nhà yoga hay thiền định không thể làm được.

-Kỹ thuật dây chuyền sản xuất của Henry Ford đã đưa đến sự phát triển của xe hơi. Nó làm thay đổi cách thức di chuyển của con người.

-Kỹ thuật máy bay của hai anh em người Mỹ gồm Orville Wright ( 1871-1948) và Wilbur Wright (1867 – 1912), là những người đầu tiên chế tạo thành công chiếc máy bay từ đó nâng khả năng đi xa nhanh chóng của con người. Ngày xưa con người chỉ có thể đi bộ, đi xe ngựa hay đi thuyền buồm. Sau khi khoa học kỹ thuật phát triển, con người có thể đi xa bằng xe máy, xe hơi, xe lửa, máy bay, nhanh chóng  hơn rất nhiều.

-Sau đó là sự phát minh vĩ đại về cơ học lượng tử : Khoa học ứng dụng được tánh không của vũ trụ vạn vật. Không gian thời gian không có thật, số lượng không có thật đã được ứng dụng trong tin học hiện đại. Computer, laptop, điện thoại thông minh (smartphone) đã giúp cho tất cả mọi người trên thế giới có thể nhìn thấy nhau, nghe thấy nhau không còn tùy thuộc vào vị trí của họ đang ở đâu, vào bất cứ lúc nào, chỉ cần họ kết nối với nhau. Chính là họ đã ứng dụng hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) để thực hiện hiệu ứng đó. Một bậc kiến tánh giác ngộ có thần thông cũng có thể làm được điều đó mà không cần thiết bị, nhưng cả thế giới chỉ vài người làm được. Còn với kỹ thuật của chiếc smartphone thì bất cứ ai cũng có thể làm được. Cơ học lượng tử còn có thể tiến xa hơn nữa, phần sau tôi sẽ đề cập.

Nhân dịp nhận giải thưởng Nobel ngày 11 tháng 12 năm 1933, Werner Heisenberg (1901-1976) đã đọc một bài giảng, tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của cơ học lượng tử. Năm 1900, khi Planck phát hiện ra hiện tượng gián đoạn trong các quá trình quang học, điều chưa từng được biết đến trong vật lý cổ điển. Chỉ một vài năm sau, Einstein đã diễn tả chính xác hiện tượng này trong giả thuyết của ông về các lượng tử ánh sáng, sau đó ông có một phát minh về quang điện. Lý thuyết lượng tử tiếp tục tiến thêm một bước nữa khi được diễn tả một cách hệ thống trong các định đề cơ bản của Niels Bohr. Nhận thức của Bohr là một cuộc cách mạng triệt để nhất về mặt nhận thức khoa học, đưa khoa học đến rất gần với Phật giáo khi ông nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật).

Nếu các hạt cơ bản của vật chất không phải là vật thật, không có thật, vậy thì nó tương đồng với hoa đốm trong hư không của kinh Viên Giác, vô hình trung Bohr đã xác nhận tánh không của Phật pháp.

Rồi đến cuộc tranh luận thế kỷ giữa Bohr và Einstein. Heisenberg đã qua đời năm 1976 không còn sống đến năm 1982 để chứng kiến sự ngã ngũ kết thúc của cuộc tranh luận của hai nhà khoa học hàng đầu thế giới với phần thắng nghiêng về Bohr.

Cơ học lượng tử đã toàn thắng với 3 kết luận hết sức quan trọng :

1/Hạt cơ bản hay vật không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian (space-time) không có thật (non locality= vô sở trụ 無所住)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Đa số các nhà khoa học hiện nay vẫn còn mơ hồ không hiểu rõ 3 kết luận quan trọng này vì họ vẫn tin tưởng vào Einstein, tin rằng vật chất là sự thật khách quan. Vì vậy họ không thật sự hiểu cơ học lượng tử. Chính vì lẽ đó mà Niels Bohr đã phát biểu :

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Chính vì thế giới hiện nay vẫn còn rất nhiều các nhà khoa học mê muội không biết mình đang sống trong điên đảo mộng tưởng và đang tàn phá môi sinh, môi trường Trái đất, chạy theo các kỹ thuật công nghiệp hóa đầy ô nhiễm nên mới có người nói “Mọi người xin hãy mau tấn tu, khoa học kỹ thuật và vật chất không thể cứu nổi chúng ta trong khi thế cuộc suy đồi, ngày trả nghiệp của toàn nhân loại đã đến”

Thực tế là trong thế kỷ 21 này, giữa khoa học trình độ cao (cơ học lượng tử) và Phật pháp đã có tiếng nói chung, đừng vì một số đông nhà khoa học trình độ thấp, mê muội, sai lầm mà cho rằng khoa học kỹ thuật không thể cứu nổi nhân loại. Các nhà khoa học tỉnh táo của thế kỷ 21, chẳng hạn các nhà khoa học được nêu tên dưới đây :

Giới thiệu một số nhà vật lý lượng tử hiện đại

Những khoa học gia này đã phần nào hiểu được tánh không của vũ trụ vạn vật. Khoa học và Phật pháp bây giờ đi chung một con đường chứ không phải đường ai nấy đi. Các nhà khoa học ngày càng hiểu rõ Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)cái không sinh không diệt, ngã và pháp đều là không mà họ gọi tên khác là Trường thống nhất.

Điều mà mọi người cần làm hiện nay là giới khoa học và giới tu hành nên hiểu biết lẫn nhau. Các nhà khoa học cũng nên hiểu biết về Phật pháp, chẳng hạn Vô sinh pháp nhẫn, Nhất thiết pháp vô tự tính, Nhất thiết duy tâm tạo, Ngũ uẩn giai không.

Các nhà tu hành cũng cần hiểu một cách rõ ràng cơ bản về những phát kiến và phát minh khoa học ít nhất là từ đầu thế kỷ 20 đến nay, ví dụ nguyên tử, phân tử, các hạt cơ bản của vật chất, các thí nghiệm khoa học cực kỳ quan trọng như thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment), thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement), sinh sản vô tính (thí nghiệm về con cừu Dolly (1996-2003) được nhân bản vô tính lần đầu tiên năm 1996 và sống được 7 năm). Một số nguyên lý, định lý khoa học quan trọng : nguyên lý bất định (uncertainty principle) của Heisenberg, nguyên lý thay thế trong tin học, định lý bất toàn (theorem of Incompleteness) của Gödel…

Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) là bằng chứng về việc không có số lượng trong phạm trù hạt cơ bản. Sự nhân bản vô tính con cừu Dolly là bằng chứng về không có số lượng trong đời sống thực tế, một con người như anh A nếu nhân bản vô tính thì sẽ có vô số anh A giống hệt nhau.  

Sự khác nhau giữa Phật pháp và Khoa học chỉ là sự thực hành khác nhau, kỹ thuật và phương tiện khác nhau chứ về nhận thức thì ngày càng thống nhất, ngày càng có tiếng nói chung.

Cơ học lượng tử đã phát triển đưa đến những ứng dụng vô cùng tinh vi và kỳ diệu hiện nay. Tánh không (không có không gian và thời gian, không có số lượng) đã được ứng dụng trong đời sống hàng ngày bằng những phương tiện như máy vi tính (computer) laptop, smartphone, mạng Internet, mạng điện thoại viễn thông, mạng 3G, 4G, 5G…

Bây giờ ai cũng có thể thấy xa ngàn dặm, nghe xa ngàn dặm. Hai người ở bất cứ góc bể chân trời nào trên thế giới cũng có thể nhìn thấy nhau, nghe thấy tiếng nói của nhau, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Một tấm ảnh thì không có số lượng vì nó có thể được copy ra muốn bao nhiêu cũng có. Một con người cũng có thể nhân bản vô tính thành vô số bản sao.

Liệu khoa học còn có thể tiến xa hơn không ? Chẳng hạn viễn tải lượng tử (teleportation) gởi một cố thể vật chất chẳng hạn một cái bánh, một hộp cơm, một ly bia, thậm chí là một con người, đi xa qua mạng internet ?

Về lý thuyết thì chẳng có lý do gì là không được. Bởi vì các nhà khoa học hiện đại đã nhận ra rằng vũ trụ cũng là thông tin, là con số (digital). Vật chất cũng là thông tin, chẳng qua là số bit thông tin của nó cực lớn. Kỹ thuật hiện nay chỉ mới gởi được một hạt cơ bản như photon, electron đi xa. Ví dụ vệ tinh lượng tử Mặc Tử của TQ có thể gởi những hạt photon hoặc electron đi xa 1200 km (thí nghiệm năm 2017). Nhưng từ cơ bản này người ta sẽ tiến tới gởi một nguyên tử rồi một phân tử, một cố thể vật chất rồi một con người. Qua nghiên cứu lâu dài con người có khả năng làm được.

Vậy còn trong lĩnh vực sản xuất và đời sống, khoa học lượng tử còn có thể tiến tới đâu ?

Khi con người đã nhận thức và chuyển đổi qua lại được giữa vật chất và thông tin thì người ta sẽ kết thúc thời đại công nghiệp hóa đầy ô nhiễm để chuyển qua thời đại tin học hóa sạch sẽ hơn và không còn chất thải. Người ta sẽ không còn khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, quặng mỏ sắt đồng chì kẽm, than đá. Không cần xây đập thủy điện, không còn cần tới nhà máy điện nguyên tử, không cần trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt hải sản, không cần phải giết hại sinh vật để ăn thịt chúng tạo nhiều ác nghiệp . Đơn giản là người ta chỉ cần khai thác nguồn ánh sáng mặt trời vô tận, sử dụng nó như là nguồn năng lượng và nguồn nguyên liệu để sản xuất ra lương thực thực phẩm, tất cả mọi thứ hàng tiêu dùng. Cần bao nhiêu đều có thể sản xuất bấy nhiêu, đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người trên Trái đất. Từ đó con người mới thôi tranh giành tài nguyên biển đảo với nhau nữa.

Hiện nay công nghệ in 3D đã bắt đầu phát triển. Công  nghệ in 3D hiện nay còn khá thô sơ, nhiều hạn chế, bởi vì ngay cả ý niệm tương quan giữa vật chất và thông tin trong đầu các nhà sáng chế vẫn còn mơ hồ, chưa rõ ràng. Cần phải có một nhà thiên tài khoa học nào đó nêu ra được một công thức biến đổi giữa vật chất và thông tin, tương tự như công thức biến đổi giữa vật chất và năng lượng do Einstein nêu ra vào năm 1905 : E = mc2  Từ đó sẽ dẫn tới cuộc cách mạng tin học. Đó sẽ là cuộc cách mạng vĩ đại nhất mà nhân loại từ xưa tới nay chưa hề biết tới.

Kết luận

Phật giáo và Khoa học xuất phát từ hai phạm trù khác nhau. Phật giáo là phạm trù tâm linh triết học được lập ra nhằm mục đích giải quyết vấn đề đau khổ của con người. Như Tam pháp ấn 三法印 (Sanskrit, sa: trilakṣaṇa) của Phật pháp đề cập. Tam pháp ấn bao gồm  Vô thường (anicca), Khổ (dukkha), Vô ngã (anātman). Ý nghĩa cơ bản của tam pháp ấn là vì các pháp là vô thường nên chúng sinh khổ (ví dụ đang hạnh phúc ngồi máy đi du lịch, bỗng nhiên máy bay rớt, chết, khổ) muốn giải thoát đau khổ phải chứng ngộ vô ngã. Ví dụ đời người thì vô thường, sinh lão bệnh tử là khổ. Chứng ngộ vô ngã, ta không có thật thì không có ai là người phải chịu đau khổ cả. Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)còn đưa nhận thức lên cao hơn một bậc, pháp cũng không có thật, ngã cũng không có thật nên khổ chỉ là vọng tưởng mê muội. Thế nên Bát Nhã Tâm Kinh nói : Vô Khổ Tập Diệt Đạo. Vô Lão Tử Diệc Vô Lão Tử Tận (Tứ diệu đế : Khổ Tập Diệt Đạo đều không có thật. Không có Sinh Lão Bệnh Tử, già chết là không có thật mà cũng sẽ không bao giờ hết Sinh Lão Bệnh Tử, hết già chết).

Ở đây xin nói thêm một chút về việc Tái Sinh Luân Hồi Nhân Quả. Nhiều người vẫn còn lầm tưởng là có linh hồn (tức có ngã) và chính cái linh hồn này tái sinh (luân hồi) qua vô số kiếp, tùy theo nhân thiện hay ác trong quá khứ mà quả tốt hay xấu. Phật giáo hay Tổ Sư Thiền không dùng từ ngữ linh hồn, chỉ có dân gian dùng từ ngữ này, Phật giáo dùng từ thần thức (神識thần thức thì vô ngã). Chính cái thức này, đó là một tập hợp các thông tin mà Duy Thức Học gọi là Mạt-na thức, nó bao gồm cả Ý thức và tiền ngũ thức. Trải qua vô lượng kiếp vô lượng cảnh giới, nó trở thành Tàng thức tức là A Lại Da thức. Mạt-na thức giống như một ổ đĩa cứng chứa thông tin. Vô lượng chúng sinh giống như vô số ổ đĩa cứng không có cái gì là ngã cả, chỉ có thông tin là thức mà thôi. Và vô số thức hay thông tin đó họp lại thành cái gọi là Internet cũng giống như vô số Mạt-na thức họp lại thành A Lại Da thức.

Thông tin trong A Lại Da thức là vô phân biệt, tức là không có phân biệt tốt xấu, thiện ác, chưa phân biệt nhị nguyên (vô tự tính). Tùy theo nghiệp hay thói quen, tập khí của Mạt-na mà thông tin đó hiện hành thành tốt hay xấu, thiện hay ác, thành các cảnh giới, thành các loại pháp đủ thứ. Thần thức chỉ là tập hợp thông tin hoàn toàn giống như thông tin chứa trên internet và trong các ổ đĩa cứng chỉ là những con số dưới dạng nhị phân, hoàn toàn không có đặc điểm đặc tính gì cả. Những gì ta thấy và nghe trên máy vi tính hay trên điện thoại di động như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video là do sự thay thế. Con chip vi xử lý (processor) nó sẽ thay thế cực kỳ nhanh những con số vô nghĩa đó bằng những đặc điểm đặc tính do người ta qui ước. Qua quá trình thay thế đó thì thông tin chúng ta nhận thấy trên màn hình hay nghe qua loa mới có sự phân biệt thành văn bản, hình ảnh, âm thanh, video.

Khoa học là phạm trù nhận thức thế giới chung quanh con người. Ban đầu nó mang tính triết học gần giống như bên tôn giáo, chẳng hạn từ đâu mà có Trời Đất và con người và các sinh vật khác, từ đâu mà có vũ trụ vạn vật, thiên hà, tinh tú, mặt trời, mặt trăng.

Nhưng rồi Khoa học và Phật pháp đi theo hai con đường khác nhau, phương pháp khác nhau. Phật giáo dùng phương pháp tư duy, thiền định, chứng ngộ bằng trực giác. Còn Khoa học dùng phương pháp phân tích thực nghiệm, lý luận. Tri kiến khoa học chi tiết, tỉ mỉ hơn Phật pháp rất nhiều, phát minh kỹ thuật thì nhiều hơn hẳn. Chính vì vậy Khoa học có sức mạnh thực tế trong xã hội lớn hơn Phật pháp mặc dù về mặt tri kiến tổng quát Khoa học không bằng Phật pháp. Tại sao nói về mặt tổng quát Khoa học không bằng Phật pháp ? Phật pháp đã nhận thức tánh không, vô thường, vô ngã, không gian thời gian, số lượng không có thật, nhất thiết pháp vô tự tính, nhất thiết duy tâm tạo, từ thời Đức Phật cách nay 2600 năm. Thế mà cho tới tận bây giờ Khoa học vẫn còn mơ hồ về những vấn đề này. Do đó Phật giáo có khả năng hướng dẫn cho khoa học.

Tuy vậy Khoa học cũng có cái hay mà Phật giáo không làm được, đó là cải thiện đời sống vật chất của con người trong xã hội.

Bằng chứng là nước Thiên Trúc (tức Ấn Độ ngày nay) qua 28 đời Tổ Sư giác ngộ giáo hóa, xã hội vẫn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân vẫn cùng khổ, phân biệt giai cấp vẫn hết sức nặng nề cho tới tận ngày nay. Cho tới tận bây giờ xã hội Ấn Độ vẫn còn rất nghèo nàn, cùng khổ, tệ nạn xã hội vẫn đầy dẫy. Dân Ấn Độ là những người có niềm tin tôn giáo, tin tưởng thần linh, cầu khấn bậc nhất trên thế giới. Vậy tại sao xã hội chậm tiến đời sống nhân dân chậm cải thiện ? Chính vì khoa học kỹ thuật chậm phát triển, dân chúng tin tưởng thần linh một cách mê muội. Từ chỗ không hiểu khoa học, niềm tin tôn giáo của người dân Ấn Độ mang tính cách thần quyền. Sự tệ hại gấp bội so với những quốc gia khoa học phát triển như Mỹ, Tây Âu. Tại sao ? Bởi vì dân chúng vừa không hiểu khoa học vừa không hiểu tôn giáo. Dân Ấn Độ đã từ bỏ Phật giáo vì không hiểu Phật pháp. Họ cũng không hiểu khoa học nên cứ mãi chìm đắm trong niềm tin thần quyền đầy sai lầm. Chính vì dân Ấn Độ đã hết duyên với Phật giáo, mà vị Tổ thứ 28 của Thiền Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma đã phải rời bỏ quê hương Ấn Độ để sang TQ truyền đạo.

Nhưng ngày nay Phật giáo và Khoa học đã tìm thấy tiếng nói chung, thống nhất nhận thức, tuy nhiên số lượng nhà khoa học hiểu Phật pháp vẫn còn quá ít, đó chính là điều mà người ta cho rằng khoa học còn nhiều hạn chế. Còn về mặt thực hành, những phương pháp tư duy, thiền định, chứng ngộ trực giác của Phật giáo vẫn có tác dụng tốt đưa tới giác ngộ, thấu hiểu thực tại. Còn phương pháp lý luận phân tích tỉ mỉ của khoa học kỹ thuật thì có ứng dụng rộng lớn trong đời thường, cải thiện được đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần của đại đa số quần chúng.

Quần chúng tuy họ không hiểu gì về tánh không nhưng họ vẫn có thể sử dụng smartphone để đạt hiệu ứng của tánh không là thấy xa ngàn dặm, nghe xa ngàn dặm và trong tương lai còn có thể đi xa ngàn dặm chỉ trong tích tắc.

Từ những ứng dụng này, liệu có thể giáo dục cho họ hiểu rõ, có cơ sở để tin vô sinh pháp nhẫn (ngã và pháp đều là không) từ đó mà phá ngã chấp, phá pháp chấp, giải trừ lòng tham lam ích kỷ, sống hài hòa hơn, tốt đẹp hơn, không còn đặt nặng vấn đề tranh đoạt giữa ta và người khác, từ đó thế giới mới có hy vọng hòa bình và no ấm cho tất cả mọi người. Đó phải chăng là giáo dục cho người dân đi theo con đường khoa học nhưng cuối cùng cũng đạt được mục đích của tôn giáo là giác ngộ giải thoát.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 3 bình luận

LÃNH ĐẠO QUỐC GIA NHẤT LÀ CỦA CÁC NƯỚC LỚN NÊN LÀ NGƯỜI GIÁC NGỘ

Vài nét lịch sử

Khổng Tử

Sở dĩ đề cập tới Khổng Tử (551-479 TCN) vì ông từng có lúc nắm quyền chính trị. Khổng Tử 孔子 tên Khâu 丘 , tự Trọng Ni 仲尼 sinh năm 551 trước công nguyên (TCN), tại ấp Tưu 陬邑, làng Xương Bình 昌平, nước Lỗ 鲁 (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Cha ông là Thúc Lương Hột 叔 梁 纥, một quan võ nhỏ của ấp  Tưu, đến 70 tuổi cha ông mới lấy vợ lẻ là Bà Nhan thị sinh ra Khổng Khâu tức Khổng Tử. Ông Sống vào thời Đông Chu ở Trung Quốc, đó là một thời kỳ mà trên thế giới có nhiều vĩ nhân xuất hiện. Tại tiểu lục địa Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca sinh năm 643 TCN, trước Khổng Tử 92 năm. Tại Trung Quốc, Lão Tử, ông Tổ của Đạo giáo, theo truyền thuyết, sống cùng thời với Khổng Tử, nhưng không biết rõ năm sinh và năm mất, đại khái ra đời khoảng năm 570 TCN, sau khi viết xong bộ Đạo Đức Kinh, để lại cho người giữ ải Hàm Cốc, Lão Tử cỡi trâu ra khỏi ải đi mất nên không ai biết chung cuộc của ông ra sao, có thuyết nói rằng ông sống đến 160 tuổi. Tương truyền Khổng Tử có gặp Lão Tử. Tại Hy Lạp, Socrates (470-399 TCN) và học trò là Platon (427-347 TCN), Aristoteles (384-322 TCN) tiếng Anh là Aristotle, học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế, là những nhà triết học vĩ đại của phương Tây.

Đạo của Khổng Tử là Vương Đạo (trị quốc dựa trên đạo lý và nhân ái) nên đi ngược ý đồ Bá Đạo (dựa trên chinh phạt giành địa vị bá chủ 霸主) của các vua chư hầu và quyền lợi của các quan Đại phu nên các vua chư hầu đều không dám dùng ông. Ông từng cảm thán “Ai mà không phải đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà ? Vậy mà tại sao không có ai đi theo đạo này ?

Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định công, ông được 51 tuổi, được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của ông làm khuôn mẫu. Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 TCN), ông phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ở Quy Âm mà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước.

Qua năm sau, Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng thư) coi việc hình án. Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị. Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong ông lên làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng Quốc), coi việc Chính trị trong nước. Ông cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính. Ông chỉnh đốn kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chính trị mỗi ngày một tốt lên. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị.

Nước Tề thấy nước Lỗ mạnh lên, có ý lo ngại. Vua Tề theo kế, lập ra Bộ Nữ Nhạc gồm toàn mỹ nữ mà đem dâng vua Lỗ. Khổng Tử biết vua Tề có ý dùng chuyện hưởng lạc để làm suy bại chính sự nước Lỗ nên khuyên Lỗ Định công đừng nhận, nhưng Định công không nghe. Quả nhiên vua Lỗ sau khi nhận Bộ Nữ Nhạc sinh ra mê đắm, lười biếng chính sự và chán ghét Khổng Tử. Lỗ Định công không nghe lời can gián của Khổng Tử, bỏ bê việc triều chính, có khi luôn 3 ngày không ra coi triều, mọi việc đều giao cả cho quyền thần. Khổng Tử can gián vua Lỗ nhiều lần nhưng không được, chán nản xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các nước chư hầu. Cuối cùng Khổng Tử trở thành một nhà giáo dục, một ông thầy đầu tiên trong lịch sử.

Đại đế Alexandros của Hy Lạp

Alexandros III của Macedonia còn được biết rộng rãi với cái tên Alexandros Đại Đế (356-323 Trước CN). Ông là vua đồng thời là triết gia. Trong khoảng thời gian từ năm 342 đến 340 TCN, Alexandros đã theo học Aristoteles, một triết gia danh tiếng của Hy Lạp thời đó. Chính Aristoteles đã huấn luyện Alexandros về mọi mặt như thuật hùng biện và văn học và gợi lên các sở thích của cậu ta trong khoa học, y khoa và triết học. Đồng thời, Alexandros cũng đã trải qua khóa huấn luyện quân sự và thể thao chuyên sâu. Alexandros tuyên bố rằng ông nợ cha mình sự sống, nhưng ông nợ người thầy cuộc sống tốt đẹp mà ông có. Aristoteles mong muốn một nền văn minh Hy Lạp vượt quá giới hạn hạn hẹp của các thành bang trong xứ. Ông rèn cho người học trò của mình niềm tin rằng toàn cõi Hy Lạp có thể được thống nhất dưới sự lãnh đạo của một vị vua chuyên chế Macedonia. Ông nhấn mạnh rằng vị vua này, tuy chuyên chế, nhưng không sở hữu bất cứ điều gì của một tên bạo chúa. Để nền văn minh Hy Lạp chiến thắng trên toàn thế giới, cần phải có một cá nhân với nhân phẩm vượt trội xuất hiện để hiện thực hóa nó. Đây là một vị vua mà Aristoteles đang tìm kiếm bên trong con người Alexandros. Ảnh hưởng quyết định của vị triết gia này được đo lường bằng cảm xúc, rằng Alexandros trong nhiều trường hợp, đã dành nhiều tâm huyết cho một sứ mệnh lịch sử để thống nhất phương Tây và phương Đông.

Alexandros, lên ngôi lúc 20 tuổi, là vua mới của Macedonia. Ông tiến hành chinh phục cả Hy Lạp, các thành bang Hy Lạp như Athena, Thebes, và cuối cùng là Sparta đều bị bắt buộc phải quy phục.

Sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp cổ đại, Alexandros chinh phục Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, Bactria và Lưỡng Hà và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận Punjab thuộc Ấn Độ ngày nay. Alexandros thực hiện một chính sách hòa hợp: ông đưa cả những người ngoại quốc (không phải người Hy Lạp hay người Macedonia) vào chính quyền và cả quân đội của mình, ông khuyến khích hôn nhân giữa các tướng sĩ của mình với người nước ngoài và chính ông cũng lấy vợ ngoại quốc. Sau mười hai năm liên tục thân hành cầm quân đánh đâu thắng đó, năm 323 TCN Alexandros Đại đế đinh vượt sông Indus nhưng thất bại ở Taxila, Gandhara (nay thuộc Pakistan) Alexandros rút quân về Babylon và chết ở đấy vì bệnh, có lẽ là do sốt rét, thương hàn, hay viêm não do virút. Sau khi Alexandros chết,  các tướng tùy tùng liền chia cắt đế quốc thành những vương quốc để tự mình cai trị. Seleukos I Nicator kế vị Alexandros năm 323 TCN đóng đô ở Babylon, lập nên triều đại Seleukos cai trị một đất nước rộng lớn bao gồm các nước ngày nay là Syria, Lebanon, Jordan, Mesopotamia, Persia, và Bactria. Phần đất ở Ai-cập thì hậu duệ của tướng Ptolemy Soter thay nhau trị vì;  và ở Hy-lạp thì do Antigonus Monopthalmos nắm giữ.

Di sản của Alexandros bao gồm sự khuếch tán văn hóa và sự kết hợp đa nguyên hình thành nên từ những tác động do các cuộc chinh phạt của ông đã gây ra, mà điển hình là Phật giáo Hy Lạp, tức là Phật giáo đã đến Hy Lạp từ rất sớm. Ông đã cho thành lập khoảng 70 thành phố mang tên mình, nổi bật nhất trong số đó là Alexandria ở Ai Cập.

Khi Alexandros  xâm chiếm Bactria vào khoảng 329-327 TCN, Gandhara với kinh đô Taxila, nay thuộc Pakistan, nơi phì nhiêu với 5 con sông chảy qua nên Hán văn còn gọi là vùng Ngũ Hà, chính là các phụ lưu của con sông Indus bắt nguồn từ Hy-mã-lạp-sơn, Gandhara là  vùng đất đã lưu truyền Phật giáo rất sớm. Năm 327 TCN, Đại đế trẻ tuổi của Hy-lạp Alexandros đã bành trướng đất đai, đem quân đánh bại quân Persia (Ba Tư) và thâu tóm luôn vùng Tiểu Á. Hai năm kế, ông ổn định vùng Hindu Kush và Bactria (Baluchistan – bắc Afghanistan), thiết lập lên nhiều thành phố như Samarkand, Leninabad (thuộc Nga ngày nay) và Chankar (phía bắc Kabul), tái dựng cố đô Kapisa và đổi tên là Alasandra gần Caucasus (còn gọi là Alexandria trên sông Oxus).

Đế quốc của Alexandros (WU-SUN là Ô Tôn 乌孙, HSIONG-NU là Hung Nô, YUEH-CHIHlà Nguyệt Chi, PATALIPUTRA nay Patna thủ phủ bang Bihar)

Vua A Dục (阿育Ashoka) và vua Milinda (Menander)

Trong khi đó ở Ấn vào năm 321 TCN. Chandragupta lật đổ Nanda và lập ra triều đại Maurya. Năm 304 TCN Seleukos I lại cố xâm lăng Ấn lần nữa, nhưng cũng bị đẩy lui bởi Chandragupta Maurya. Chandragupta trị vì được 23 năm thì băng, người con trai kế vị là Bindusara ở ngôi được 25 năm và mất năm 273 TCN, triều đình có biến loạn, Ashoka (nghĩa là không đau khổ) lên ngôi hòang đế năm 269 TCN, cai trị một lãnh thổ rộng lớn từ Bengal đến Afghanistan, oai hùng nhất trong lịch sử Ấn. Chỉ sau khi cuộc xâm lăng đẩm máu đất nước Kalinga vào năm 260 TCN (bang Orissa ngày nay) hơn 8 năm sau khi lên ngôi, vua Ashoka mới hối hận, ông suy ngẫm về trận chiến ở Kalinga, cuộc xâm lăng lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ được ghi lại cho đến lúc đó mà người ta cho rằng đã làm hơn 100.000 người chết, và ông thành tâm qui y Phật giáo, đã dốc lòng khuyếch trương đạo Phật ra khắp nơi. Ông cũng đã gởi nhiều đoàn truyền giáo ra hải ngọai, trong số đó có đại sư Dharmaraksita (về sau là sư phụ của tỳ kheo Nagasena) họat động rất tích cực ở vùng tiểu Á [theo Mahavamsa (Đại vương Thống sử), chương XII]. Ashoka có một mối quan hệ đặc biệt với vùng tây bắc Ấn, bởi ông đã từng làm phó vương ở đấy và đóng dinh tại Taxila (tiếng Sankrit là Takshasila, gần Rawalpindi thuộc Pakistan bây giờ). Taxila bấy giờ đã là một trung tâm danh tiếng về thương mại, triết học và thần học, đặc biệt là Ấn giáo và Phật giáo. Ngày nay người ta biết đến rất nhiều pháp dụ khắc bằng đá do ông sai dựng lên khắp đế quốc; trong số đó những bia ký ở thung lũng Kabul được ghi bằng tiếng Hy-lạp và Aramaic, và nội dung còn cho biết là ông đã cho truyền bá chánh pháp đến các nước Ai-cập, Syria, Macedonia, Greece, Cyprus, Bactria, Kashmir, Gandhara, Himalayas, Sindh (Gujarat), vv. Vua Ashoka trị vì xấp xỉ trong bốn mươi năm, và sau khi ông qua đời, triều đại Maurya chỉ tồn tại thêm được năm mươi năm nữa. Quốc huy của Ấn Độ hiện nay là bản sao của cột đá Ashoka.

Trụ đá Ashoka tại Sarnath (Lộc Uyển)     Quốc kỳ và Quốc huy Ấn Độ

Theo bộ kinh Milinda-panha (Milinda vấn đạo) thì Na Tiên tỳ kheo (Nagasena) sanh tại làng Casangala (Kajangala), dưới chân Hy Mã Lạp sơn, ở vùng Tây bắc Ấn Ðộ, trong một gia đình Bà La Môn mà thân phụ tên là Soñuttara. Nagasena học đạo với các sư phụ gồm đại sư Rohana và Assagutta của tăng viện Vattaniya, Dharmarakshita của tăng viện Ashoka Ārāma ở kinh đô Pātaliputta (nay là Patna thủ phủ bang Bihar). Chính đại sư Dharmarakshita đã từng được đại đế Ashoka phái đi truyền đạo ở Aparanta phía tây nước Ấn. Người ta tin rằng bộ kinh Milindapanha đã được khẩu tập không lâu sau khi vua Menander, tiếng Pali là Milinda  (183 – 110 TCN) băng. Menander sinh năm 183 TCN ở Alasandra (mà ngày nay được biết là Alexandria của vùng Caucasus hay Alexandria trên sông Oxus), vốn là kinh đô Kapisa của vùng Gandhara cổ (nay thuộc Afghanistan) đã bị Alexandros đổi tên thành Alasandra vào năm 329 TCN, cách 150 km về phía bắc Kabul ngày nay). Menander là vua trị vì xứ Bactria từ khoảng 150-110 TCN.

Vương quốc Hy Lạp-Bactria, là một phần phía đông của thế giới Hy Lạp, bao gồm Đại Hạ (tức Bactria) và Sogdiana ở khu vực Trung Á từ năm 250 – 125 TCN. Bactria hay Bactriana là tên gọi cổ đại của một khu vực lịch sử tại Trung Á, nằm trong phạm vi của Hindu Kush và Amu Darya. Nó là một phần của vùng ngoại biên thế giới Iran và vùng lãnh thổ này ngày nay thuộc về Afghanistan, Tajikistan, Uzbekistan và một phần nhỏ của Turkmenistan.

Đặc điểm của bộ kinh là nó được xem như một cuộc giao thoa Âu-Á đầu tiên, một cuộc học đạo giữa một người tây phương (vua Menander người Hy Lạp) muốn học hỏi giáo pháp uyên áo của đạo Phật ở đông phương qua sự giải đáp của một vị tăng (Tỳ kheo Nàgasena) ở thung lũng sông Indus. Qua đó Phật pháp đã được trình bày một cách đầy thuyết phục và dễ nhớ.

Nāgasena đã học Vi Diệu Pháp với sư Rohana. Sau khi đã đạt được kiến thức toàn diện của bảy bộ trong tạng Vi Diệu Pháp bao gồm :

1-Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận)
2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)
3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến
4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 đế…phân biệt các hạng người.
5- Kathāvatthu (Bộ Ngữ Tông 論事 Luận Sự) do Moggaliputta Tissa làm trong lần kết tập thứ ba mục đích là bài bác tà kiến của ngoại đạo xâm nhập vào tăng đoàn.
6- Yamaka (Bộ Song Ðối 雙論 Song Luận) Luận về chỗ đồng dị của từng cặp mệnh đề.
7- Paṭṭhāna (Bộ Vị Trí 發趣論 Phát Thú Luận).

6 bộ luận đầu chủ yếu luận về danh (tên gọi) và tướng (hình trạng) của các pháp. Còn bộ luận thứ bảy còn gọi là Đại Luận 大論 chủ yếu nói về 24 mối quan hệ của các pháp, hệ thống hoá chúng. Do đó bộ luận này rất lớn và phức tạp. Bản dịch tiếng Việt gồm 7 quyển, mỗi quyển dày khoảng 350 trang.

Nāgasena thọ giới Tỳ Kheo và Rohana gởi Nāgasena đến tu viện Vattaniya để học với ngài Assagutta. Sau đó Assagutta gởi Nāgasena đến ngài Dhammarakkhita tại Vườn Ashoka ở Pātaliputta. Nāgasena đã chứng quả A-la-hán.

Vua Milinda đang ở trong thành Sāgala. Sāgala là tên xưa của một thành phố thuộc tỉnh Punjab ngày nay mà thủ phủ là Lahore, một khu vực địa lý trải rộng qua biên giới giữa Pakistan và Ấn Độ, bao gồm tỉnh Punjab (nghĩa là 5 dòng sông, phụ lưu của sông Indus: Jhelum, Chenab, Ravi, Sutlej, và Beas) của Pakistan, Sāgala ngày nay gọi là Sialkot nằm giữa các sông Chenab và Ravi gần biên giới Kashmir.

Nhà vua rất thông thái về mỹ thuật và khoa học, có đầu óc thích quan sát, tìm hiểu. Nhà vua có tài tranh luận và không ai từng có thể giải quyết những nghi ngờ của nhà vua về những vấn đề trong lãnh vực tôn giáo.

Hai người gặp nhau tại tu viện Samkheyya nơi Nāgasena đang trụ trì.

Bây giờ chúng ta xem qua một phần của chương 3 nói về khởi thủy của thời gian.

1/“Bạch ngài Nāgasena, cái gì là gốc của thời gian, quá khứ, hiện tại và tương lai?”

Trả lời : “Là vô minh. Vô minh là nhân duyên làm hành nghiệp sinh khởi; hành nghiệp là nhân duyên làm thức sinh khởi; thức làm sinh khởi danh sắc; danh sắc làm sinh khởi lục nhập; lục nhập làm sinh khởi xúc; xúc làm sinh khởi sanh; sanh làm sinh khởi lão, tử, thương tiếc, ân hận, đau khổ, buồn bã và thất vọng.”  (thập nhị nhân duyên).

2/ “Ngài nói rằng sự khởi sinh đầu tiên hết của sự vật thì không thể thấy được. Xin ngài cho một ví dụ.”

Trả lời : “Đức Thế Tôn có nói: ‘Do bởi có sáu căn và trần (cảnh) mà xúc sinh khởi; do bởi xúc mà thọ sinh khởi; do bởi thọ mà tham ái sinh khởi; do bởi tham ái mà hành nghiệp sinh khởi. Và từ hành nghiệp mà sáu căn lại một lần nữa sinh khởi.’ Bây giờ liệu sự sinh khởi dây chuyền này (trùng trùng duyên khởi) có thể chấm dứt được không?”
“Thưa không.”
“Như vậy, thưa Đức Vua, sự sinh khởi đầu tiên của sự vật là không thể thấu hiểu được.”

3/ “Phải chăng sự sinh khởi đầu tiên hết của mọi sự vật là không thể biết được?”

Trả lời : “Một phần là vậy, phần khác thì không.”
Hỏi : “Vậy thì phần nào biết được, phần nào không biết được?”
Trả lời : “Với bất cứ nhân duyên nào đi trước kiếp này mà đối với ta như là không có từ trước thì sự sinh khởi đầu tiên hết không thể biết được. Nhưng với cái gì trước không có mà nay hiện hữu và vừa mới sinh (sau một thời gian) lại diệt mất thì sự sinh khởi đầu tiên hết có thể biết được.”

4/ “Phải chăng có những pháp hữu vi được tạo tác nên?”

Trả lời : “Thưa Đức Vua, chắc chắn như vậy. Nơi nào mà có mắt và cũng có hình sắc thì có nhãn thức; nơi nào có nhãn thức thì có xúc; nơi nào có xúc thì có cảm thọ; nơi nào có cảm thọ thì có tham ái; nơi có tham ái thì có thủ; nơi có thủ thì có hữu; nơi có hũu thì có sanh, lão, tử, thương tiếc, đau đớn, buồn bã hay thất vọng. Nhưng nơi nào không có mắt và hình sắc (không có căn và trần) thì không có nhãn thức, không có xúc, không có cảm thọ, không có tham ái, không có thủ, không có hữu; và nơi nào không có hữu thì không có sanh, lão, tử, thương tiếc, đau đớn, buồn bã hay thất vọng.”

“Trong vô số kiếp ta lang thang trong sinh tử luân hồi,
Đi tìm kiếm mà chẳng tìm ra kẻ xây nên căn nhà này.
Ngươi chính là người xây nhà! Đừng bao giờ xây nhà nữa!
Tất cả mọi ô nhiễm phải được phá vỡ! Vô minh phải được dẹp tan!
Tâm ta đã đi đến Niết bàn. Sự chấm dứt tham ái đã được thành tựu.”

5/ “Có chăng những pháp hữu vi mà không được tạo tác nên?”

Trả lời : “Thưa Đức Vua, chẳng có pháp hữu vi nào như vậy, bởi vì các pháp hữu vi được tạo tác chỉ do tiến trình của hữu.”
Hỏi : “Xin cho một ví dụ.”
“Có phải ngôi nhà mà Bệ Hạ ngồi đây đã được tạo tác nên do một tiến trình của hữu?”
“Chẳng có một cái gì ở đây mà không có từ trước. Gỗ này là đã ở trong rừng, đất sét này là từ đất mà ra và do công sức của con người, đàn ông và đàn bà, ngôi nhà này mới hiện hữu.”
“Thưa Đức Vua, cũng giống như vậy, chẳng có pháp hữu vi nào mà không được tạo tác nên.”

(Pháp hữu vi được tạo tác thực chất là do vọng tưởng mà có, chẳng hạn các hạt cơ bản của vật chất cũng là do vọng tưởng mà hiện hữu)

Tóm lại qua 5 câu vấn đáp giữa vua Milinda và Nagasena, chúng ta đi tới kết luận :

Thời gian không có bắt đầu cũng không có kết thúc (vô thủy vô chung). Tất cả sự vật hữu vi đều là do tâm tạo tác. Thân thể tâm ý của chúng ta do chính chúng ta tạo ra (ta là nguyên nhân mà nguyên nhân đầu tiên thì không thể biết được, còn cái biết được như cha mẹ, ông bà, tổ tiên thì chỉ là duyên và cha mẹ đầu tiên thì không thể biết được).

Vua Trần Nhân Tông   

Vua Trần Nhân Tông 陳仁宗 (1258-1290)của VN tên thật là Trần Khâm 陳昑 là một nhà lãnh đạo giác ngộ. Người giác ngộ tất nhiên là không hề muốn tranh giành, không hề muốn chiến tranh, nhưng đã là một vị vua có trách nhiệm với toàn dân, có lúc cũng chẳng đặng đừng, phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh khốc liệt với quân Nguyên.

Năm 1285, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt 忽必烈 Xubilaĭ Khaan huy động  một lực lượng lớn (theo Đại Việt sử ký toàn thư là 50 vạn quân) tấn công Đại Việt. Quân dân Đại Việt ban đầu gặp nhiều tổn thất phải bỏ kinh thành lui xuống hạ lưu sông Hồng rồi theo eo cửa Giao Thủy đi ra biển vòng lên Tháp Sơn (Đồ Sơn); nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, Thượng hoàng Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, quân dân Việt đã dần dần xoay chuyển tình thế và đánh bật quân Nguyên ra khỏi đất nước. Sau đó, 2 vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược kế tiếp của Mông – Nguyên vào năm 1287. Sau đó Trần Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm Đại sĩ 竹林大士 và Điều Ngự Giác Hoàng 調御覺皇; nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính sự. Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.

Sau hai cuộc kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã bắt tay vào việc tái thiết kinh tế, xã hội Đại Việt. Khoảng tháng 5 năm 1288, ông xuống chiếu đại xá thiên hạ và cắt giảm thuế má, sưu dịch cho dân chúng. Đặc biệt, các vùng bị chiến tranh tàn phá đều được miễn thuế và sưu dịch hoàn toàn. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, trong thời gian này Trần Nhân Tông đã hòa giải thành công sự bất hòa của một số quan viên trong triều.

Tháng 10 (âm lịch) năm 1299, Nhân Tông rời kinh thành đến núi Yên Tử (Quảng Ninh) mở tịnh xá thuyết pháp độ tăng. Vào thế kỷ XI – XIII, Phật giáo Đại Việt tồn tại chủ yếu dựa trên 3 dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi (毘尼多流支Vinitaruci là một Thiền sư người Ấn Độ, từng sang Trung Quốc tham học và là môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán, về già sang VN ở tại chùa Pháp Vân- Chùa Dâu Bắc Ninh), Thảo Đường 草堂(vị sư người TQ bị bắt từ Chiêm Thành đưa về Đại Việt thời Lý Thánh Tông) và Vô Ngôn Thông 無言通 (người TQ đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải qua VN năm 820, ở tại chùa Kiến Sơ). Điều ngự giác hoàng đã hợp nhất các tông phái này vào dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.  Đây được xem là tông phái thống nhất đầu tiên của Thiền tại Việt Nam.

Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước.

Cũng chính trong lần này, Điều ngự đã hứa gả con là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân;  Chế Mân xin nhượng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt làm sính lễ. Hôn lễ giữa Huyền Trân với vua Chiêm được cử hành vào năm 1306. Vua Anh Tông sáp nhập hai châu Ô, châu Lý vào Đại Việt và đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa, về sau trở thành phủ Thuận Hóa thời Minh thuộc, đến thời Lê trở thành thừa tuyên Thuận Hóa bao gồm luôn phủ Tân Bình và đô thành của nó tới thời Nguyễn gọi là Huế.  

Năm 1304, khi đang hoằng hóa tại huyện Nam Sách (Hải Dương), Điều ngự đã gặp và thu nhận Pháp Loa (thế danh Đồng Kiên Cương 1284 – 1330) làm đệ tử xuất gia. Sau đó ông đào tạo cho Pháp Loa trở thành người kế thừa thiền phái của mình, chính thức truyền thừa năm 1308 làm Tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm.

Tháng 11 âm lịch (tháng 12 dương lịch) năm 1308, Điều ngự Trần Nhân Tông viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân (Yên Tử). Thánh đăng ngữ lục đã tường thuật về cuộc đối thoại cuối cùng giữa Điều ngự với thị giả Bảo Sát:

Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý.

Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: Chính là giờ ta đi! Bảo Sát hỏi: Tôn Đức đi đâu? Điều Ngự đáp:

Tất cả pháp chẳng sanh,

Tất cả pháp chẳng diệt,

Nếu hay hiểu như thế,

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi gì?

Bảo Sát thưa:

– Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?

Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo:

– Chớ nói mớ!

Nói xong, Ngài nằm theo tư thế sư tử lặng lẽ mà tịch.

Đạt Lại Lạt Ma 達賴喇嘛 Tenzin Gyatso

Khi Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 viên tịch vào năm 1935, chính phủ Tây Tạng có nhiệm vụ tìm kiếm một người thừa kế là hậu thân của ngài. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền thống của Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc ở tương lai từ hồ linh thiêng này. Lúc bấy giờ vị nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, KaMa hiện lên giữa mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu tự này là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ.

Một phái đoàn tìm kiếm hậu thân được thành lập và đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, vị trưởng phái đoàn là Lạt-ma Kewtsang Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera. Khi phái đoàn đến làng Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã thấy dưới hồ thiêng.

Thị giả Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng đoàn, Lạt-ma Kewtsang Rinpoche cải trang thành người thị giả và họ vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt-ma Kewtsang có mang  một xâu tràng hạt (rosary) của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt-ma Kewtsang hứa sẽ cho nếu chú đoán được ngài là ai. Và chú bé liền trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa phương là “Sera aga”, nghĩa là “Lạt-ma ở tu viện Sera”. Tiếp đó, sư hỏi chú bé vị trưởng đoàn là ai và chú bé đã trả lời đúng, và chú cũng cho biết tên chính xác của người thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm khác để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và nói: “của tôi, của tôi”. Chú bé ấy chính là Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 hiện nay.

Đạt-lại Lạt-ma bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật giáo (Doctorate of Buddhist Philosophy) ở tuổi 25 vào năm 1959. Năm 24 tuổi, Sư đã tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại học Phật giáo Drepung, Sera và Ganden. Kỳ thi cuối cùng được tổ chức tại Jokhang, thủ đô Lhasa trong thời gian lễ hội Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng.

Vào ngày 17 tháng 11 năm 1950, Đạt-lại Lạt-ma 14 đảm nhận trọng trách là người lãnh đạo cả Giáo quyền và Thế quyền của người dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng 80.000 quân lính của Trung Quốc đến chiếm đóng Tây Tạng. Năm 1954, Ngài đã đến Bắc Kinh để thương thuyết hòa bình với chủ tịch Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo Trung Hoa khác, gồm Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi này không mang lại kết quả.

Cuối thập niên 50, tại miền Đông Tây Tạng, dân chúng đã đứng lên kháng cự mạnh mẽ phản đối chính quyền TQ. Sự kháng cự này đã lan ra trên nhiều tỉnh thành của Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của Tây Tạng diễn ra tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính  TQ phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng là một quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình này đã bị quân đội Trung Quốc trấn áp quyết liệt. Cũng năm 1959, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đạt-lại Lạt-ma 14 đã âm thầm đào thoát vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ.

Ngày nay, với hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú tại vùng đất Dharamsala, Ấn Độ, được biết như là một “Lhasa nhỏ”, lập thành một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội đồng Dân cử Tây Tạng từ năm 1960. Năm 1963, Đạt-lại Lạt-ma đã ban hành một hiến pháp dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của nhà Phật và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc để biên soạn và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai.

Ngài được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989, đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc hiện nay trên thế giới. Các tác phẩm Sư viết trình bày Phật giáo Tây Tạng và Phật pháp bằng tiếng Anh nói chung được rất nhiều người đọc kể cả người trong các nước Tây phương. Cuốn sách nổi tiếng nhất của Ngài là Quốc Thổ và Quốc Dân Tôi (My Land and my People).

Tác phẩm của Đức Đạt Lại Lạt Ma

Kết luận

Qua thực tế lịch sử từ đông sang tây như trên đã trình bày, chúng ta thấy rằng từ thời cổ đại đã có những người muốn dùng triết học, đạo học của mình để trị nước, giúp cho đất nước và xã hội loài người sống có đạo lý, trật tự và hạnh phúc.

Khổng Tử là người đầu tiên muốn đem đạo học của mình trị nước theo vương đạo nhưng chỉ thành công bước đầu rồi sau đó cũng không thực hiện được.

Nhưng đạo lý của họ có khi chưa đạt tới tối thượng, vẫn còn thiếu sót, còn nhiều phân biệt nên có những chủ trương sai, gây hại cho xã hội. Chẳng hạn Aristotles nhà triết học Hy Lạp cổ đại, ông cho rằng nền văn minh Hy Lạp lúc đó là tốt đẹp vĩ đại nhất, ông muốn cho cả thế giới phương Tây và phương Đông đều được hưởng ánh sáng văn minh đó, nên ông đã đào tạo cho Alexandros trở thành một nhà chinh phục khai sáng văn minh cho thế giới. Thế nên cuộc chinh phạt của Alexandros đã gây ra biết bao đau thương tang tóc cho con người lúc đó.

Một điều tốt trong cuộc chinh phạt của Alexandros là Phật giáo từ phương Đông đã sớm đến được Hy Lạp. Manh nha từ thế kỷ thứ 4 TCN, có chứng cứ để thấy Phật giáo đã truyền sang phương Tây cụ thể là Hy Lạp từ thời vua Menander (183 – 110 TCN) của Bactria qua bộ kinh Milinda vấn đạo. Nghệ thuật làm tượng Phật theo phong cách Hy Lạp cũng được tìm thấy.

Tượng Phật theo phong cách Hy Lạp tìm thấy tại Gandhara

Ngay tại Ấn Độ, Phật giáo cũng chỉ trở nên hưng thịnh sau những cuộc chiến tàn khốc của vua Ashoka đi chinh phục mở rộng đế quốc. Sau đó nhà vua hối hận vì hành động chiến tranh của mình, dốc tâm phát huy Phật pháp, gởi sứ giả đi khắp nơi để truyền đạo trong đó có một phái đoàn đến nước Văn Lang trong thời đại Hùng Vương vào khoảng năm 240 TCN.

Tại VN một vị vua kiến tánh giác ngộ là Trần Nhân Tông vẫn phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh khốc liệt vào năm 1285 và 1288 CN chống lại đế quốc Nguyên Mông để bảo vệ đất nước và người dân.

Và thời hiện đại lãnh tụ Phật giáo Tây Tạng, Đức Đạt Lại Lạt Ma thứ 14 cũng phải dẫn 80.000 dân đào thoát sang Ấn Độ sống lưu vong để có thể tiếp tục công cuộc hoằng pháp độ sinh cho thần dân của mình và hướng dẫn tinh thần cho một bộ phận của dân chúng thế giới.

Tóm lại muốn làm được bất cứ việc gì, bất cứ thành tựu nào, con người cũng phải trả giá, không có việc gì là dễ dàng hoàn toàn thuận lợi.

Bây giờ chúng ta nói về tình hình hiện nay của thế giới.

Nếu những nhà lãnh đạo đang nắm quyền lực của thế giới hiện nay như Tổng thống Mỹ, Chủ tịch TQ, Tổng thống Nga, Thủ tướng Ấn Độ…, là những người giác ngộ hay ít nhất là những người điều hành đất nước với hàng tỷ, hàng trăm triệu dân, theo một đạo lý công bình nhân ái thì nhân dân thế giới cũng sẽ được lợi lạc.

Chúng ta cũng đừng có thành kiến cho rằng họ là những con người độc tài, tham lam, tàn bạo. Những tuyên truyền đó chưa chắc phản ánh đúng thực tế và có hại hơn là có lợi. Họ là lãnh đạo của những nước lớn, họ bị áp lực rất lớn từ bên trong và bên ngoài nước. Họ giống như những nghệ sĩ xiếc đi trên dây, lỡ chân một chút là té nhào rất nguy hiểm. Họ cũng không thể hành động hoàn toàn theo nhận thức riêng của mình bởi vì có những áp lực rất lớn từ mọi phía đang đè ép họ. Nhưng nếu họ là những người có đạo lý có chừng mực và nếu giác ngộ Phật pháp thì càng tốt, càng có nhiều hy vọng đưa thế giới vào một quỹ đạo hòa bình, no ấm.

Người giác ngộ ngày nay sẽ không giống như ngày xưa, không chỉ thuyết giảng về đạo lý giác ngộ. Bởi vì trong tình hình khoa học kỹ thuật rất phát triển. Người lãnh đạo không thể chỉ cung cấp cho dân chúng của mình những điều kiện sống đơn giản tối thiểu và an lạc theo mô hình của bộ lạc Kogi Nam Mỹ, hay một đất nước thanh bình kiểu Nepal hay Bhutan. Sự nghèo nàn cơ cực của người dân Ấn Độ hiện nay cũng không phải là mô hình tốt cho sự lãnh đạo của bậc giác ngộ.

Một nhà lãnh đạo giác ngộ ngày nay cũng phải cung cấp được cho người dân cuộc sống no đủ, an lạc cả tinh thần và vật chất.

Truyền Bình

 

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận