LÀM CÁCH NÀO DIỄN GIẢI PHẬT PHÁP CHO DỄ HIỂU

Các vị luận sư ngày xưa có chứng ngộ và họ muốn diễn tả những chứng ngộ đó nhưng họ không có cách diễn tả thích hợp. Tại sao ? Bởi vì muốn giải thích cho người thế gian hiểu, họ phải sử dụng ngôn ngữ và các khái niệm của thế gian. Mà thời xưa khoa học chưa phát triển, nên muốn diễn tả những điều đi trước khoa học hàng ngàn năm, họ không có cách nào để diễn tả cho rõ ràng minh bạch. Họ chỉ có cách dùng lý luận trừu tượng để diễn tả, nên kết quả là các bộ luận rất dài dòng, mơ hồ và khó hiểu. Thực tế ngày nay chỉ có những học giả mới đủ kiên trì để đọc hết các bộ luận, còn tín đồ bình thường rất hiếm người chịu khó đọc hết các bộ luận, mà dù có cố gắng đọc, tâm trí họ càng rối bời thêm chứ không có ích lợi gì. Các học giả khi dịch kinh đều phải chú thích thêm, nhưng các học giả không phải ai cũng có đủ hiểu biết về khoa học, nên nhiều khi chú thích cũng không giúp cho kinh rõ ràng hơn, mà có khi lại lấy ý chủ quan của mình xen vào khiến cho kinh lại càng đa đoan. Tuy khoa học cũng không phải tuyệt đối đúng nhưng ít nhất nó cũng là tiêu chuẩn được nhiều người công nhận, mặt khác nó còn có khả năng sáng chế ra nhiều công cụ nâng cao khả năng nhận thức của con người, ví dụ nó có khả năng khám phá ra sóng hấp dẫn, một điều mà Einstein đã tiên đoán từ năm 1916 nhưng phải 100 năm sau, đến nay con người mới tìm thấy trong thực tế. Ai cũng biết là khoa học đã làm thay đổi đời sống của con người trên quả địa cầu này ra sao. Chúng ta không quá sùng bái khoa học, nhưng phải công nhận diễn giải của khoa học là minh bạch, dễ hiểu, dễ tiếp thu và có giá trị ứng dụng.

Do đó, ngày nay khi khoa học đã phát triển, cần thiết phải sử dụng các khái niệm và cách diễn tả của khoa học để diễn giải lại Phật pháp cho minh bạch dễ hiểu, dễ tiếp thu. Nhưng trong xã hội cũng có những tín đồ không chịu đổi mới, họ tuyệt đối trung thành với kinh điển xưa, với cách diễn tả xưa và không chịu khai tâm để tiếp nhận cách diễn tả rất rõ ràng của khoa học, một phần bởi vì họ cũng không mấy am hiểu về khoa học. Ngay cả trong khoa học ngày nay, có nhiều khái niệm vẫn còn khó hiểu đối với chính bản thân các nhà khoa học, huống hồ các tín đồ của các tôn giáo không am hiểu khoa học. Do đó vấn đề không phải dễ giải quyết. Chỉ có những ai quyết tâm mong muốn hiểu rõ Phật pháp mới có thể vượt qua những chướng ngại này. Chúng ta thử trích ra một số trường hợp để làm thí dụ.

Thành Duy Thức Luận, chương 1, Thích Thiên Siêu dịch và chú thích như sau :

Đến Du-già Sư Địa Luận hệ thống hóa thành 200 pháp, đến Duy thức tông thì rút lại còn 100 pháp, gom vào 5 vị, trong đó Tâm thức là chủ.
Năm vị 100 pháp là :
1. Sắc là tướng của thức nhận biết, ngoài thức thì không có tướng sắc.
2. Tâm vương là tự thể của thức.
3. Tâm sở là quyến thuộc, sở thuộc của thức.
4. Bất tương ưng hành là cái bóng của Sắc, Tâm, Tâm sở hợp lại.
5. Vô vi pháp là thực tánh của thức.
100 pháp đều là thức, liên hệ với thức mới có được.
Có người ngờ rằng : sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, thế sao gọi là thức biến.  Hoặc như chiếc máy vi tính, khi khoa học chưa chế ra thì không ai biết, khi khoa học chế ra rồi người ta mới biết, thế sao gọi là thức biến ?
Đâu biết rằng sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, vậy nó có là có với ai ? Còn với ai ? Ai biết nó có ? Ai biết nó còn ? Nếu khi ta đang sống trong hiện tại mà biết được núi sông khi ta chưa sanh, hay sau khi ta chết, thì đó là cái biết theo tưởng tượng, mà tưởng tượng thì đâu phải ngoại thức.
Vả lại núi kia sông nọ là có, máy vi tính là có, cái có đó có giống cái có của Na-tiên dưới mắt vua Di-lan-đà, hay cái có của chiếc xe dưới mắt Na-tiên không ? Nếu cái có đó cũng giống cái có của Na-tiên dưới mắt vua Di-lan-đà, cái có của chiếc xe dưới mắt Na-tiên, thì đều là cái có do thức biến.
Không phải núi mà thấy núi, là thức biến. Không phải sông mà thấy sông, là thức biến. Không phải vậy mà thấy vậy, là thức biến.

Đọc đoạn đó thì chúng ta hiểu Duy thức tông nói gì và giải thích có rõ ràng hơn về nghi vấn ở câu cuối hay không? Đa số người đọc cảm thấy rất mơ hồ, không mấy rõ ràng.

Còn dưới đây là cách diễn tả của khoa học :

Tất cả các pháp thế gian từ vật chất cho tới tinh thần đều là Thức (duy thức). Thức tức là thông tin. Tại sao vật chất (Sắc) cũng là thông tin ? Bởi vì những đồ vật mà ta tiếp xúc như cái nhà, chiếc xe, cái bàn, thân thể tứ đại của mình, chúng ta không hề tiếp xúc trực tiếp với chúng, chúng ta chỉ tiếp xúc với thông tin của chúng. Thông tin đó biến thành dòng điện mang tín hiệu của chúng và được não nhận biết tại các trung khu thần kinh của não. Các trung khu tương ứng với tiền ngũ thức để tạo cảm giác : thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc. Còn đại não là nơi tổng hợp các cảm giác và phân biệt chúng để tạo thành ý thức. Ngoài 6 thức đó, còn có mạt-na là thức chấp ngã, nó giống như ổ đĩa cứng, tự khu biệt mình với các ổ đĩa cứng khác và với internet. A-lại-da thức là cái kho chứa khổng lồ, giống như internet.

A-lại-da thức tức là tâm vương, còn tất cả những nhận thức, cảm giác, phân biệt, tinh thần, tình cảm, sướng khổ… đều là tâm sở.

Thực tướng của Thức là sóng tiềm năng phi vật chất và có thể biểu diễn dưới dạng số (digital). Chúng ta không thể chứng minh là sóng tiềm năng đó tồn tại, vì nó vô hình, vô thể, vô sở trụ. Nhưng biểu hiện của sóng là rõ ràng, đó chính là cảnh tượng chúng ta thấy, cảm nhận trên thế gian. Video sau đây diễn tả lại dưới dạng hình ảnh.

Vạn Pháp Duy Thức

Còn đối với nghi vấn nêu lên ở đoạn cuối, câu trả lời là : Ai biết sông kia núi nọ trước khi ta sanh ra đã có, khi ta chết nó vẫn còn ? Hay đó chỉ là tưởng tượng ? Bởi vì cảm giác có núi có sông, ai cũng cảm thấy nên mọi người đều cho rằng nó khách quan, ở ngoài tâm thức. Ngay cả Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ 20, cũng nghĩ như vậy khi ông cho rằng “Chẳng lẽ khi không có ai nhìn Mặt trăng thì nó không tồn tại hay sao ?”

Quả đúng là Mặt trăng không tồn tại độc lập đối với tâm thức, Duy Thức học nói rằng Mặt trăng chỉ là ảo giác. Vì có đông người có cùng ảo giác giống nhau nên người ta cho là khách quan. Thực tế là Mặt trăng chỉ tồn tại trong tâm thức chứ không có thực thể. Các nhà khoa học hiện đại cũng đồng tình với duy thức học. Mặt trăng thực tế là trống rỗng, đó chỉ là một cấu trúc ảo, cấu tạo bằng các hạt ảo như quark, electron, nó chỉ là cảm giác chứ không có gì là thực cả. Video sau đây giải thích rõ ràng.

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Tóm lại diễn giải của khoa học đem lại cho chúng ta sự nhận thức rõ ràng hơn rất nhiều so với kinh luận, kể cả khi các học giả hiện đại cố gắng chú thích thêm cũng không thể tường tận bằng diễn tả của khoa học.

Khoa học còn có thể giải thích tường tận hơn những chú thích của học giả Phật giáo. Chẳng hạn học giả nói : “Không phải núi mà thấy núi, là thức biến. Không phải sông mà thấy sông, là thức biến. Không phải vậy mà thấy vậy, là thức biến.”

Thức biến cách nào, theo cơ chế nào ? Chúng ta dựa vào kinh điển và diễn giải của khoa học để làm rõ hơn cách mà Thức biến, như sau :

Kinh Hoa Nghiêm nói : “Các pháp không có tự tánh” Khoa học, cụ thể là Niels Bohr, hiểu câu này như sau : Các tính chất đặc trưng của hạt photon như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin (chiều và vòng xoay) của hạt là bất định (uncertainty), là không sẵn có (unavailable). Những đặc trưng đó là do con người gán ghép cho hạt khi tiến hành quan sát và đo đạc. Tóm lại hạt là ảo “Isolated material particles are abstractions”  (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì chỉ là hạt ảo trừu tượng- tức không phải có thật), đặc trưng của hạt là do con người gán ghép. Như vậy các hạt cơ bản chỉ là hạt ảo và các đặc trưng của chúng là do tâm của con người gán ghép, cho nên Mặt trăng hay sông núi chỉ là tưởng tượng của con người dựa trên cấu trúc ảo của các hạt và thói quen tưởng tượng của con người. Vậy vật không phải là thực thể khách quan mà là tưởng tượng chủ quan. Vì nhiều người có tưởng tượng gần giống nhau nên tưởng là khách quan, tưởng là có vật ở ngoài, chứ thực ra là tâm tưởng tượng ra vật bằng cả 6 giác quan đồng bộ nên không có cách nào kiểm tra được tính chất ảo hóa của vật.

Người phản đối Niels Bohr quyết liệt nhất chính là Einstein. Hai người đã tranh cãi nhau từ năm 1935 cho đến khi cả hai qua đời, bất phân thắng bại. (Einstein qua đời năm 1955, Bohr mất năm 1962). Nhưng đến năm 1982 thì Alain Aspect đã tiến hành một cuộc thí nghiệm có tính chất quyết định xem ai đúng ai sai, tại Paris. Đây là cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử  (quantum entanglement). Kết quả như giới khoa học đều biết, phần thắng đã nghiêng về Niels Bohr.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Tuy kinh điển là tràng giang đại hải và mơ mơ hồ hồ không mấy rõ ràng đối với tuyệt đại đa số tín đồ, nhưng kinh điển là do các bậc giác ngộ nói ra, trong đó có những ấn chứng. Các bậc giác ngộ đã chứng nghiệm và đúc kết thành những câu rất ngắn gọn nhưng hàm súc nói lên những ý nghĩa quan trọng, tôi gọi đó là những ấn chứng, nghĩa là các tổ sư đã chứng ngộ và đúc kết lại thành những dấu ấn. Tín đồ chỉ cần thấu suốt các dấu ấn đó chứ không thể đọc hết kinh điển.

Lấy thêm một thí dụ khác : (trích Bài Tựa Luận Thành Duy Thức, Thích Thiện Siêu dịch)

Ba tự tánh : Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thật có ý nghĩa không khác gì ý nghĩa “không, giả, trung” trong bài tụng ở Trung luận : “Nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không, thị danh vi giả danh, diệc danh Trung đạo nghĩa”. Biến kế sở chấp ngã pháp là “không”, Tâm, Tâm sở và Kiến tướng phần Y tha khởi huyễn sự là “giả”. Viên thành thật tức chơn như là “trung”.
Ngài Long Thọ đứng trên chơn không vô tướng, Viên thành thật tánh mà phá Biến kế chấp. Ngài Thế Thân đứng trên Duy thức Y tha khởi để phá biến kế chấp. Hai phương thuốc cùng chữa một bệnh, bệnh ảo tưởng về thật ngã, thật pháp.
Luận sư Thanh Biện vì phá vọng tình chấp có cho nên nói hết thảy pháp đều không. Luận sư Hộ Pháp vì phá vọng tình chấp không. Cho nên nói hết thảy pháp Duy thức huyễn có. Nói không để phá có, nói có để phá không, đều cùng mục đích đưa tri kiến người ta tới chỗ ngộ nhập thật tướng Trung đạo, lìa tứ cú tuyệt bách phi.
Nói Bát-nhã không, nhưng ý không phải trụ lại nơi không. Nếu trụ lại nơi không thì thành ác thủ không. Nói Duy thức có, nhưng ý không phải trụ lại nơi Duy thức có. Nếu trụ lại nơi Duy thức có, tức là pháp chấp. Như trong luận Thành Duy Thức cuốn hai nói : “Nếu chấp Duy thức là thật có, thì không khác gì chấp ngoại cảnh, cũng là pháp chấp”.

Đối với đoạn kinh luận trên thì khoa học diễn giải như thế nào ?

Ý nghĩa của 3 nguyên lý khiến cho một pháp xuất hiện là :

Biến kế sở chấp 遍計所 Biến kế nghĩa là cho là. Sở chấp là cái mà ta nắm giữ. Vậy biến kế sở chấp là cái vọng tưởng mà ta cho là có thật. PG nói tất cả các pháp đều không có thật, nhưng con người tưởng tượng là có thật.   

Khoa học diễn tả nguyên lý Biến Kế Sở Chấp bằng những hình ảnh cụ thể như sau :

Vong Tron Tuong Tuong

Thực tế không có vòng tròn nhưng ta tưởng tượng có một đường tròn

Duong Cong hay Thang

Các đường thực tế là thẳng và song song nhưng ta thấy là cong vì mặt phẳng bị lồi lên hay biến dạng

Cot Lon Nho

Các cột đều bằng nhau nhưng ta thấy cột màu xanh lá cây lớn nhất vì gần với góc nhìn nhất

Cham Tron Mo Nhat

Độ sáng của các chấm tròn đều như nhau nhưng ta thấy chấm số 3 mờ nhất chỉ vì nó tiệp nhất với màu nền

Quang_pho_lien_tuc

Màu sắc của ánh sáng qua lăng kính hiện lên quang phổ bảy màu đều là do ta tưởng tượng do mỗi loại ánh sáng có độ dài sóng khác nhau chứ màu sắc không có thật

Co Gai hay Mu Phu Thuy

Ta hình dung đây là cô gái hay mụ phù thủy hoàn toàn là do ta tưởng tượng

Tóm lại, tất cả những cảm nhận của con người đều là biến kế sở chấp, là tưởng tượng chứ không phải thật.

Y tha khởi 依他起 nghĩa là dựa vào cái khác mà phát sinh. Ví dụ nguyên tử là phải dựa vào hạt nhân và electron mới xuất hiện, hạt nhân phải dựa vào proton và neutron. Proton và neutron phải dựa vào quark. Hạt quark và hạt electron phải dựa vào sóng tiềm năng phi vật chất cùng với tưởng tượng của lục căn mới xuất hiện được. Tưởng tượng của lục căn cũng chính là biến kế sở chấp.

Viên thành thật 圓成實 còn gọi là Biến y viên 遍依圓 nghĩa là dựa vào nhiều pháp đồng bộ hóa để xuất hiện cái nhận thức chân thực. Ví dụ sở dĩ cho là cái bánh có thật vì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, bụng no, ý thức biết, tất cả đều đồng bộ khiến cho ta cảm thấy cái bánh hoàn toàn là có thật.

Bát Nhã Tâm Kinh nói : “VÔ SẮC, VÔ THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, VÔ NHÃN, NHĨ, TỶ, THIỆT, THÂN, Ý, VÔ SẮC THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP, VÔ NHÃN GIỚI NÃI CHÍ VÔ Ý THỨC GIỚI” Không có vật chất; không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (các đối tượng của lục căn); không có thế giới của mắt thấy, cho đến không có thế giới của ý thức.

Nghĩa là kinh Bát Nhã nói không có cái gì là có thật cả.

Còn Duy Thức thì nói Tất cả chỉ là thức (duy thức) ngoài ra không có gì là thật cả.

Vậy hai cách nói này có mâu thuẫn không ? Không có mâu thuẫn. Bởi vì cái Không của kinh Bát Nhã có nghĩa là không có thật, là ảo, chứ không phải hư vô. Còn cái Thức của Duy Thức là sóng tiềm năng phi vật chất, nó cũng vô hình, vô thể, vô sở trụ, không thể chứng minh là có, nên cũng không khác cái Không của Bát Nhã.

Để dung hòa hai cách nói thì khoa học sẽ dịch lại câu “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” trong kinh Bát Nhã như sau : “Hạt (vật chất) không khác Sóng (tiềm năng), Sóng không khác Hạt; Hạt tức là Sóng, Sóng tức là Hạt”

Thức tức là thông tin có thể biểu diễn dưới dạng số (digital) và có hình thái là sóng tiềm năng phi vật chất, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng mà Duy Thức học gọi là A-lại-da (Alaya).

Tóm lại đoạn kinh luận trên có thể được khoa học diễn tả lại rõ ràng hơn rất nhiều.

Bây giờ chúng ta hãy xem qua một số ấn chứng của Phật giáo :

Phật tử chắc cũng có nghe qua Tam Pháp Ấn của Phật giáo. Ba dấu ấn đó là : Vô thường, Khổ và Vô ngã.

Vô thường nghĩa là luôn luôn biến đổi. Hoa sớm nở tối tàn, Người trẻ đẹp khỏe mạnh biến thành già yếu xấu xí bệnh tật. Xuân qua Hè tới, Thu sang Đông tàn. Vô thường còn có nghĩa là bất định, không thể xác định. Khi hạt electron ở dạng sóng, vị trí của nó là bất định, nó ở khắp mọi nơi. Khi ở dạng hạt thì vị trí của nó mới xác định. Khi chúng ta rình xem thì electron là hạt và nó chỉ đi qua một trong hai khe hở gần nhau. Còn khi không có ai nhìn thì nó là sóng và đi qua cùng lúc cả hai khe. Bất định còn có nghĩa là không theo quy luật thông thường . Ví dụ tuổi thọ trung bình của con người là 75 tuổi, nhưng có người mới ngoài 20 đã chết cũng gọi là vô thường.

Khổ là một trong Tứ Diệu Đế. Đời sống của chúng sinh trên thế gian là khổ : nghèo đói; bệnh tật; nóng rét; thiên tai như bão lụt, động đất, sóng thần, núi lửa, hạn hán; nhân họa như áp bức, bất công, tham nhũng, khủng bố, chiến tranh, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ; tâm lý con người bất an tóm tắt trong bát khổ (8 điều khổ).

Vô ngã là một dấu ấn nổi bật của Phật giáo. Đây là tiêu chuẩn để phân biệt chánh tà. Vô ngã là chánh, chấp ngã là tà. Sở dĩ vô ngã vì Ngũ Uẩn Giai Không. Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (tưởng tượng), Hành (vận động, hoạt động, chuyển động), Thức (hiểu biết, phân biệt, nhận thức). Năm thứ tích hợp làm thành cái tôi đều không thật có.

Ngoài tam pháp ấn, nhiều ấn chứng khác nằm rải rác khắp các kinh điển. Chứng nghĩa là các bậc giác ngộ như Phật, Tổ đã chứng nghiệm. Ấn là dấu ấn. Ấn chứng là dấu ấn hình thành từ chứng nghiệm của các bậc giác ngộ. Ví dụ kinh Hoa Nghiêm nói : “心如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính). “Nhất thiết pháp vô tự tính” đó là một ấn chứng rất quan trọng.  Einstein mặc dù cũng rất coi trọng Phật giáo nhưng vẫn chưa hiểu hết PG, do đó mới tranh cãi quyết liệt với Niels Bohr và cuối cùng cho đến lúc qua đời vẫn chưa biết mình sai như video trên đã kể rõ.

Chính vì các pháp đều không có tự tính nên pháp sẽ tùy tâm hiện. Hạt electron sẽ tùy theo tâm thức của người quan sát mà hiện ra là sóng hay là hạt như video sau đây chỉ rõ. Khi tâm vô niệm hoặc không có ai nhìn hay đặt thiết bị rình coi thì electron là sóng. Còn khi tâm hữu niệm, có người nhìn hoặc đặt máy đo thì electron là hạt.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Sóng tiềm năng của hạt electron và hạt quark là những pháp rất lạ lùng. Thân thể chúng ta, nhà cửa, cây cối, đường sá, núi sông…cho tới thiên hà, vũ trụ đều cấu tạo bằng quark và electron. Các hạt này đều có hai hình thái : hạt và sóng. Hạt là có, sóng là không. Do đó không thể khẳng định là vũ trụ Có hay Không Có. Chỉ có thể nói vũ trụ Có nhưng không thật, chỉ là ảo mà thôi.

Khoa học đã giải thích tính chất ảo hóa của vũ trụ bằng hai khái niệm : Trường thống nhất (Unified Field) và Vũ Trụ toàn ảnh (Holographic Universe). Dưới đây là video mô tả :

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Đến đây có thể tạm kết luận : Khoa học có khả năng diễn giải rất rõ ràng, có chứng cớ, những ấn chứng trong Phật pháp. Từ đây chúng ta có thể rút ra một phương pháp tu học cũng như truyền bá giáo pháp một cách mới mẻ, hiệu quả và thiết thực.

Chúng ta sẽ diễn giải các ấn chứng của chư Phật, chư Tổ nằm rải rác trong các kinh điển bằng phương pháp mới của khoa học. Những ấn chứng đó nên được trích nguyên văn bằng tiếng Phạn La Tinh hóa, kèm theo chuyển ngữ từ trong Hán Tạng và lời dịch bằng tiếng Việt. Ví dụ, trích dịch 4 bài kệ trong Duy Thức Tam Thập Tụng của Thế Thân.

ātmadharmopacāro hi vividho ya.h pravartate ।
vijñānapari.nāme ‘sau pari.nāma.h sa ca tridhā ॥ 1 ॥

01 由假說我法 有種種相轉 彼依識所變 此能變唯三

 Do giả thuyết ngã pháp, hữu chủng chủng tướng chuyển, bỉ y thức sở biến, thử năng biến duy tam. 

Cái ta và các pháp có nguồn gốc là giả, có vô số hình tướng chuyển hóa, cái này là sở biến của thức, cái kia là năng biến của thức gồm 3 thứ.

vipāko mananākhyaś ca vijñaptir vișayasya ca ।
tatrālayākhya.m vijñāna.m vipāka.h sarvabījakam ॥ 2 ॥

02 謂異熟思量 及了別境識  初阿賴耶識 異熟一切種

Vị Dị Thục, Tư Lượng cập Liễu Biệt Cảnh Thức, sơ A Lại Da Thức Dị Thục Nhất Thiết Chủng

Là : Dị Thục Thức, Tư Lượng Thức và Liễu Biệt Cảnh Thức. Thức đầu (Dị Thục Thức) tức là A Lại Da Thức (Alaya) chứa tất cả hạt giống và quả báo.

Dị Thục Vipāka xưa dịch là quả báo. Nhân hay hạt giống sẽ biến thành quả, có thể là cách một hay nhiều đời, có thể nhân biến thành quả ngay trong đời hiện tại, hình thức đa dạng. Tư Lượng Thức tức là Mạt-na thức là thức phân biệt, so sánh, chấp ngã. Liễu Biệt Cảnh Thức tức là Tiền ngũ thức và Ý thức.

asa.mviditakopādisthā navijñaptikañ ca tat ।
sadā sparśamanaskāravitsa.mjñācetanānvitam ॥ 3 ॥

03 不可知執受 處了常與觸 作意受想思 相應唯捨受

Bất khả tri chấp thọ, xử liễu thường dữ xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư, tương ứng duy xả thọ

Tiếp nhận mà không thể biết, Alaya thường cùng với xúc (chỉ tiền ngũ thức : thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc thân thể) và ý thức, mạt-na thức, tiếp nhận, tưởng tượng, suy nghĩ, (gọi chung là biến hành tâm sở 遍行心所) tương ứng với giữ, buông, cảm nhận (perception) .

Tóm lại bát thức hoạt động tương tác với nhau tạo ra ngã (cái ta) và pháp (thế giới) mà chúng sinh không hay biết.

upekșā vedanā tatrāniv.rtāvyāk.rtañ ca tat ।
tathā sparśādayas tac ca vartate srotasaughavat ॥ 4 ॥

04 是無覆無記 觸等亦如是 恒轉如暴流 阿羅漢位捨

Thị vô phú vô ký, xúc đẳng diệc như thị, hằng chuyển như bạo lưu, A La Hán vị xả

Alaya là trung tính, vô phú là chưa được gán ghép thuộc tính, vô ký là trung tính, nghĩa là nó không phải thiện cũng không phải ác, không phải tốt cũng không phải xấu, nó chưa phân hóa thành cặp phạm trù mâu thuẫn, không mang đặc trưng, không có thuộc tính (properties) gì hết. Xúc (tiền ngũ thức) cũng vậy. Nó luôn luôn biến chuyển mạnh mẽ như dòng nước cuồn cuộn chảy, tới quả vị A La Hán mới buông bỏ được.

Tóm lại diễn giải các ấn chứng Phật giáo bằng khoa học là một cách làm sớm muộn gì cũng phải diễn ra, bởi vì cách diễn giải của khoa học tốt và rõ ràng hơn, tại sao không sử dụng ? Tại sao chỉ bằng lòng với cách lý luận trừu tượng mơ mơ hồ hồ của kinh điển xưa ? Phật pháp là một khoa học cao cấp, người học Phật muốn hiểu PG phải có một trình độ khoa học rất cao. Phật và các Tổ Sư xưa, chúng ta đừng tưởng là họ không hiểu về khoa học, họ am tường khoa học hơn các nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, bằng chứng là Einstein không hiểu khoa học bằng Thích Ca, điều đó đã quá rõ ràng qua cuộc tranh luận nổi tiếng thế kỷ 20 giữa Niels Bohr và Albert Einstein.

Truyền Bình

 

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
This entry was posted in Bài viết. Bookmark the permalink.

Có 41 phản hồi tại LÀM CÁCH NÀO DIỄN GIẢI PHẬT PHÁP CHO DỄ HIỂU

  1. nguyen nam nói:

    xin thầy cho con hỏi
    duy thức tông có khác nam tông phật giáo không ạ
    trong duy thức tông có khái niệm về vô ngã, duyên khởi , tứ diệu đế không ạ.
    con trân thành cảm ơn.

    • Phật giáo Nam tông tức PG nguyên thủy có từ thời Đức Phật, còn Duy Thức tông do Vô Trước và Thế Thân sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ 4 Công nguyên. Duy Thức tông bao hàm và vượt qua các khái niệm Tứ Diệu Đế, Duyên Khởi, Vô Ngã nhưng trình bày một cách khác, giải thích Tam giới bằng 8 thức. Thức tức là thông tin, do đó Duy Thức học rất giống tin học hiện đại nhưng nhận thức của Duy Thức cao hơn tin học hiện đại ở chỗ nó coi vũ trụ, vạn vật, vật chất cũng là thông tin. Vì vậy nó tương đồng với lý thuyết cực kỳ mới của nhân loại thế kỷ 21 là Vũ Trụ Toàn Ảnh (The Holographic Universe) hay Vũ Trụ là số (The Universe is digital). Có nghĩa là vũ trụ chỉ là ảo ảnh 3 chiều được phóng hiện từ thông tin chứa trong mặt phẳng 2 chiều. Trong thực tế người ta thấy thông tin của những vật thể rơi vào hố đen đươc chứa trong bề mặt Chân trời sự kiện (Event horizon) của hố đen.

  2. nguyen nam nói:

    con thưa thầy
    con đọc rất nhiều bài viết của thầy nhưng có nhiều thứ con không hiểu được
    một vật ta có thể thấy, cảm nhận, nhận biết thì không thể bảo nó là ảo, là thông tin.Chiến tranh, bạo lực, giết người, thiên tai thảm họa nó là thật, không thể bảo là ảo, là do tâm ta sinh ra. nếu mọi thứ là ảo, là thông tin thì ai phải chịu trách nhiệm cho những tội ác trên cuộc đời này.những người vô tội bị giết chết thì phải có cái gì đó chịu trách nhiệm, không thể nói là do thức, do các hạt cơ bản, do cái gì ảo làm ra.
    nếu một người sinh ra bị tàn tật, thì do ai tạo ra, nếu bảo là do nghiệp ở kiếp trước thì không thể được, đó là tội ác mất rồi, tại sao lại bắt họ chịu những việc như thế.
    con mong thầy giải đáp cho con

    • Suy nghĩ của bạn cũng là suy nghĩ của tuyệt đại đa số nhân loại trong đó có cả nhà khoa học lừng danh nhất của nhân loại là Albert Einstein. Đó là nhận thức chấp thật, tức cho là thế giới là khách quan có thật. Nhưng những phát hiện mới của Vật lý lượng tử khiến cho nhân loại té ngữa vì kinh ngạc. Nếu thế giới là có thật thì những hạt cơ bản của vật chất phải có thật, chúng phải luôn luôn có sẵn những tính chất đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Thế nhưng cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 đã xác nhận một lần cho tất cả, là thực tế các hạt cơ bản không có sẵn những đặc trưng kể trên, những đặc trưng kể trên chỉ xuất hiện khi có người quan sát đo đạc. Chính người đó đã gán ghép những đặc trưng tưởng tượng cho hạt. Chính vì vậy Phật giáo mới nói tất cả là do tâm tạo. Vì một bộ óc vĩ đại như Einstein còn chưa hiểu nổi điều này, nên bạn không hiểu là điều không có gì lạ. Cảnh tượng thế gian là ảo nhưng nó không phải xuất hiện ngẫu nhiên mà là do nghiệp lực dẫn dắt. Có cộng nghiệp là nghiệp chung cho số đông người, ví dụ thiên tai, nhân họa. Cũng có biệt nghiệp là nghiệp riêng của từng cá nhân. Nếu bạn cứ khư khư cho rằng ngoại cảnh là có thật thì sẽ không bao giờ hiểu được Phật giáo cũng như không bao giờ hiểu được Vật lý lượng tử.

  3. Huỳnh nói:

    Thưa bác Truyền Bình,
    Toán học cấp 2 có phép quy đồng mẫu thức, ở đó người làm toán biến đổi các phân thức khác mẫu về cùng một mẫu thức.
    Vậy liệu Giác giả có khả năng biến đổi cảm nhận về thế giới chung quanh của tất cả mọi hình thái tồn tại ( đất đá, động thực vật, người, người ngoài hành tinh, thần…) về cùng một cấp độ hay không?

    • Giác giả tức là Phật cũng là Tâm giác ngộ, tôn giáo khác gọi là Thượng Đế hoặc Trời. Tâm có vô lượng vô biên khả năng không việc gì không làm được. Kinh Hoa Nghiêm mói : “Tâm như họa công sư, họa chủng chủng ngũ ấm. Nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo…Nhất thiết pháp vô tự tính心如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính). Tuy nhiên vũ trụ là chủ quan cứ không phải khách quan. Mỗi chúng sinh sống trong vũ trụ vọng tưởng riêng của mình, tự sướng tự khổ, Phật cũng không thể can thiệp được bởi vì nó không có thật.

  4. J Pham nói:

    http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-2225190/Can-quantum-physics-explain-bizarre-experiences-patients-brought-brink-death.html
    kính gởi thầy bài nghiên cứu của các nhà vật lý học về quantum science , nói về cận tử nghiệp , các microtubules vẫn giữ đủ information sau khi chết và đi ra ngoài vũ trụ, điều này match với Kinh và triết lý luân hồi , khi chết con người mang theo nghiệp và bị nghiệp dẫn đi rebirth, cũng vì vậy mà phải lãnh cái quả trong ddoi sau từ cái nhân kiếp này và kiếp trước

    With these beliefs, Dr Hameroff holds that in a near-death experience the microtubules lose their quantum state, but the information within them is not destroyed. Instead it merely leaves the body and returns to the cosmos.
    sorry cháu ráng viết tiếng Việt nhưng không đủ diễn tả hết ý vì nói về khoa học cháu phải dịch từ English qua mà cháu không dịch hết qua tiếng Việt được vì không dduoc học khoa học vật lý bằng tiếng việt, chỉ đi học ở Mỹ, nhưng cháu nghĩ là thầy hiểu hết bài này vì cháu thấy thầy có chen English vocabulary trong bài viết.
    Người Mỹ tìm hiểu đạo Phật hay tìm thấy nhiều điểm tương quan giữa quantum science and Buddhism , họ đến với PG không phải là tôn giáo mà là more practical ways of living, phật tử Mỹ không xa lạ với những cách dẫn giải kinh bằng các định luật vật lý học như các bài viết của thầy trong blog này
    The quantum information within the microtubules is not destroyed, it can’t be destroyed, it just distributes and dissipates to the universe at large.
    Thus it is held that our souls are more than the interaction of neurons in the brain. They are in fact constructed from the very fabric of the universe – and may have existed since the beginning of time.
    ( nghiệp từ vô thỉ vẫn mang theo tới nay)

    kính lời cám ơn thầy có nhiều bài hay

    • Chúng sinh cấu tạo bằng Ngũ Uẩn, ngoài thân thể là Sắc (vật chất) còn có Thọ (cảm giác), Tưởng (thói quen tưởng tượng), Hành (vận động), Thức (hiểu biết, phân biệt). Tất cả Ngũ Uẩn đều là thông tin, thông tin đó tồn tại dưới dạng sóng tiềm năng mà PG gọi là nghiệp. Thông tin đó chứa trong não và vận hành theo phương thức toàn ảnh. Bình thường thì thông tin đó nằm trong phần tiềm thức của não nên chúng sinh không nhớ kiếp trước nhưng trong một số trường hợp bị thôi miên, bị bệnh nặng hay bị tai nạn hoặc một lý do khác, phần tiềm thức đó bị kích hoạt nên một con người có thể nhớ lại tiền kiếp. Video sau đây mô tả một trường hợp nhớ lại tiền kiếp. https://onedrive.live.com/?authkey=!ABxehzsHkL9Zi_g&cid=3A697DD6BE1AB73E&id=3A697DD6BE1AB73E!21144&parId=3A697DD6BE1AB73E!21143&o=OneUp

  5. nguyen nam nói:

    xin thầy cho con hỏi
    tại sao có người sinh ra bị tàn tật, sống trong cảnh nghèo khó, có người sinh ra lại được sống trong giàu sang.tại sao lại có nhiều bất công trong xã hội, sao không để mọi người bình đẳng như nhau.
    một người có khả năng quyết định cuộc đời mình không? nếu không có khả năng quyết định cuộc đời theo cách mình muốn thì có nghĩa là người đó bị nô lệ, không có tự do.
    tiền bạc quyền lực vật chất là động lực phát triển xã hội. nếu mọi người từ bỏ đam mê ham muốn của mình thì con không biết thế giới này sẽ như thế nào
    con cảm ơn thầy

    • nguyen nam nói:

      cảnh đời như thế này con thấy quá nhiều trong xã hội,họ có thể làm gì để thoát khổ,
      http://vietnamnet.vn/vn/ban-doc/chia-se/300247/cha-ban-not-chiec-xe-om-van-khong-du-tien-chua-benh-cho-con.html

      • Trong xã hội có nhiều cảnh đời thương tâm. Trong xã hội cũng có nhiều nhà từ thiện (ví dụ Bill Gates) và nhiều tổ chức từ thiện để giúp đỡ cho những người nghèo khổ. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu Phật pháp để tự mình thoát khổ. Phật giáo có Tam pháp ấn : Vô thường, Khổ, Vô ngã. Hiểu đời là vô thường không có gì vững chắc. Hiểu thế gian vốn là khổ, khổ là chuyện tất yếu của thế gian. Hiểu thực tế là vô ngã, mọi người nên từ bỏ ái dục. Người cha trong câu chuyện đó chỉ cần làm hết khả năng của mình, đứa con có sống có khỏe mạnh lại hay không là do nghiệp của nó, vô ngã thì ai là người chịu khổ ?

  6. xin thầy cho con hỏi
    có phải có thế lực siêu nhiên đã tạo ra vũ trụ, con người. mọi thứ trên thế giới này. mọi sự vật hiện tượng đã được lập trình và sắp xếp, con người cũng như là con rối bị điều khiển và không có khả năng nhận thức hay thay đổi.
    có phép thần thông nào để thay đổi mọi thứ trên đời này, biến cái xấu thành cái tốt được không ạ?
    con cảm ơn thầy.

    • Không phải có một thế lực siêu nhiên nào tạo ra vũ trụ, chẳng hạn Thượng Đế. Không phải thế, vũ trụ chỉ là ảo, không có thật, do Tâm tưởng tượng ra. Còn cá nhân con người mê muội không biết mình với Tâm là một (bất nhị). Con người mê muội thì đúng chỉ là con rối không làm chủ được mình, nhận thức thế nào, đúng hay sai cũng đều là vọng tưởng. Cái ý muốn thay đổi mọi thứ trên đời, biến xấu thành tốt cũng chỉ là vọng tưởng, không thể giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Bởi vì tốt cũng tức là xấu, thiện cũng tức là ác. Chẳng phải Bát Nhã Tâm Kinh đã nói “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” đó sao ! Mọi cặp phạm trù mâu thuẫn cũng đều như vậy, không có khác nhau đâu. Sự khác nhau chỉ là chủ quan, là vọng tưởng của con người.

      • nguyen nam nói:

        con thưa thầy
        nếu thầy nói không có một thế lực siêu nhiên thì ai tạo ra a lai da thuc.
        theo con nghĩ là a lai da thuc do đấng tối cao tạo ra, con người là cái máy thu nhận tín hiệu đó.
        con có đọc bài của bác Phạm Việt Hưng và nhiều người khác thì họ nói là có thế lực siêu nhiên đã tạo ra con người.

      • Không có một đấng Thượng Đế siêu nhiên hữu ngã. Thượng Đế chỉ là Chánh biến tri trong Phật giáo. A-lại-da thức cũng tức là Tâm vốn là không có bắt đầu, không có kết thức, chẳng phải do ai tạo ra. Tâm không phải là Có cũng không phải là không có. Tóm lại không thể dùng ngôn ngữ diễn tả được.

  7. nguyen nam nói:

    lời đầu tiên con xin cảm ơn thầy đã giải đáp những câu hỏi của con.
    con luôn thấy thương cảm, đau xót cho những con người bất hạnh trên cuộc đời này. tại sao lại có người nghèo khổ không có tài sản gì lại còn gặp bệnh tật tai ương.trong khi có người sống trong giàu sang nhung lụa.
    vì cuộc sống mưu sinh nên có nhiều người phải làm việc xấu để kiếm cái sinh nhai. có trường hợp bố đi trộm cướp để mua sữa cho con.
    con thấy con người khi sinh ra đều là người lương thiện nhưng vì hoàn cảnh xã hội khiến con người tha hóa và làm việc xấu
    mỗi người đều có nỗi khổ riêng mình, khổ vì vật chất, tình cảm, sức khỏe, tinh thần nếu bảo họ đó là ảo thì không ai tin, vì mọi người đều cảm thấy nỗi đau khổ của chính mình.

    • Chính vì nỗi khổ của thế gian mà Đạo Phật xuất hiện, đó là duyên khởi của việc Tất Đạt Đa từ bỏ vợ con, cung vàng điện ngọc để tìm con đường giải thoát. Đến khi giác ngộ rồi mới biết không có gì là thật cả. Chính vì chúng sinh chấp thật nên mới khổ.

  8. trung quang nói:

    con chào thầy
    thưa thầy con nhận thấy nền triết học phương tây khác hoàn toàn với những điều đức phật dạy
    ở phương tây tự do cá nhân là điều rất quan trọng, có rất nhiều người tranh đấu cho tự do dân chủ.
    nếu tu theo đạo phật thì mỗi người có được theo đuổi sở thích đam mê của mình không, con luôn nhận được lời khuyên là phải có ước mơ, có đam mê sở thích của riêng mình, trong khi đức phật lại dạy con người là vô ngã,
    con muốn hỏi quan điểm của thầy về tự do và chủ nghĩa cá nhân của phương tây.
    con cảm ơn thầy.

    • Những người đấu tranh cho tự do dân chủ cũng là sống trong vọng tưởng. Họ cho rằng có một chế độ độc tài toàn trị, bóp nghẹt quyền tự do cá nhân của con người nên đấu tranh để chống lại. Nhưng họ không biết rằng ai mới là người thật sự thật sự trói buộc họ. Người đó chính là ngã với vô số tập quán mê muội của nó. Thật ra không có ai trói buộc không cho mình chạy theo đam mê sở thích. Phật đặt ra giới luật để hạn chế bớt tính ngông cuồng mê muội của con người vì tác hại của những thứ ái dục đó. Chứ nếu mình biết chừng mực điều độ và quan trọng hơn là biết những thứ đó là giả tạm thì tự mình sẽ làm chủ. Tôi cũng có nghe nhạc, xem phim, hiểu qua các nền văn hóa lớn của nhân loại, nhưng không đam mê vì biết rằng chúng giả tạm, kể cả cái gọi là tự do dân chủ của phương tây. Hãy nhìn vào cuộc cách mạng hoa nhài, Ai Cập, Libya, Ucraina, Syria để thấy tự do dân chủ đem lại kết quả gì hay chỉ là một thứ vọng tưởng tai hại.

  9. nguyen nam nói:

    xin thầy cho con hỏi
    có cách nào để biết kiếp trước mình là ai, mình làm gì không ạ.

    con cảm ơn thầy

    • Có thể biết được. Ký ức về tiền kiếp nằm trong phần não không hoạt động gọi là tiềm thức (PG gọi là A-lại-da thức). Một số ít nhà thôi miên có khả năng kích hoạt tiềm thức để nó hoạt động (tương tự như đưa một file từ đĩa cứng vào bộ nhớ RAM). Khi đó con người có thể nhớ lại tiền kiếp. Loạt video sau đây nghiên cứu sâu về vấn đền này. https://www.youtube.com/watch?v=g2NHibiYPEw

  10. nguyen nam nói:

    xin thầy cho con hỏi
    có cách nào để biết trước tương lai không ạ.nếu biết trước thì con người có thể tránh được tai họa, tránh được thất bại khổ đau

    • Có thể biết trước tương lai bởi vì theo Phật pháp quá khứ, hiện tại, vị lai đồng thời tồn tại. 3000 năm trước quan Thái sử To Do đời Chu Chiêu Vương biết trước ở phương tây (chỉ Ấn Độ) sẽ có thánh nhân ra đời và 1000 năm sau Đạo của thánh nhân ấy sẽ truyền tới TQ. Vua cho khắc bia đá lời dự đoán đó. 400 năm sau (tức cách nay 2600) năm Đức Phật ra đời. 600 năm sau nữa thì PG truyền đến TQ dưới thời Đông Hán. Trong Word Cup 2010 tại Nam Phi, bạch tuộc Paul đã biết trước kết quả của 8 trận đấu trong đó 7 trận có đội Đức tham dự và trận chung kết giữa Tây Ban Nha và Hà Lan mà chúng ta có thể kiểm chứng. Dù cho biết trước cũng không thể thay đổi được vì đó là nghiệp. Chỉ có thay đổi nhân hiện tại thì mới thay đổi được nghiệp tương lai.

  11. nguyen nam nói:

    xin thầy cho con hỏi
    mọi việc xảy ra trong cuộc sống thường ngày là ngẫu nhiên hay đã được sắp xếp trước( nhân duyên đưa đến cho con người may mắn và xui xẻo)
    con làm và quyết định nhiều việc, bây giờ con nghĩ lại thấy những quyết định, việc làm đó là sai lầm. con luôn hối hận, và mong có thể sửa lại sai lầm đó.
    vậy những sai lầm đó là do con đã làm hay là đã được sắp xếp trước và con không thể tránh khỏi
    con cảm ơn thầy

    • Mọi việc xảy ra đều theo dòng nghiệp lực đã sắp xếp. Điều đó giải thích tại sao một đội bóng hay vẫn có thể thua đội kém hơn. Thực tế là bạn không làm chủ được mình. Nếu bạn hiểu Đạo là bạn sẽ tùy duyên, nghĩa là tùy thuận theo sự sắp xếp của Tâm bản lại. Nếu ý thức của cái tôi (bản ngã) chống kháng lại thì suốt đời sẽ cảm thấy hối tiếc và bất hạnh vì thực tế diễn ra không theo mình muốn.

  12. nguyen nam nói:

    xin thầy cho con hỏi
    bây giờ có nhiều người tự tử, người vì tiền bạc, tình yêu, bệnh tật hay có học sinh vì bị nói xấu trên facebook cũng tự tử. đạo phật giải thích hiện tượng này như thế nào, do nghiệp,do nhân duyên của họ nên họ bắt buộc phải tự tử, hay do họ không được giác ngộ.
    trong tường hợp này chính họ đã quyết định việc tự tử hay môi trường hoàn cảnh quyết định.
    con luôn suy nghĩ không biết những việc con đã làm là do con hay do môi trường xung quanh đã quyết định. con đang đi học và nhận thấy việc chọn ngành học của mình là sai lầm, con suy nghĩ không biết do năng lực, khả năng hạn chế khiến con chọn sai. hay là môi trường vì không có ai tư vấn cho con, thông tin con cũng không có.
    con có câu hỏi riêng tư: thầy tìm hiểu đạo phật nhiều, thầy hiểu nhiều thì có lúc nào thầy cảm thấy đau khổ không, có buồn vì những chuyện mình gặp phải không?
    con trân thành cảm ơn thầy.

    • Mọi việc xảy ra đều do nghiệp. Cái tôi không thể làm chủ được. Có người có ý chí, có người không. Có người sáng suốt, có người u tối. Những biểu hiện đó cũng do nghiệp. Con người rơi vào môi trường hoàn cảnh thế nào cũng do nghiệp dắt dẫn. Người hiểu Phật pháp thì có thể phá được ngã chấp. Phá được ngã chấp thì ta còn đau khổ lo buồn vì ai chứ ? Trong cuộc sống, tôi cũng gặp nhiều nghịch cảnh, ví dụ người nhà gây nhiều nợ nần, gia đình ly tán, bản thân mình cũng có bệnh nan y. Nhưng không cần phải lo buồn đau khổ.

      • nguyen nam nói:

        xin thầy cho con hỏi
        nếu mọi vật mọi thứ đều là ảo không có thật thì con người là gì, mục đích tồn tại của loài người ở thế gian này là gì?
        nếu tất cả đều là ảo thì giác ngộ, niết bàn, phật thích ca có phải là ảo không, nếu giác ngộ là ảo thì con người có cần giác ngộ không.

  13. Đã là ảo tức không có thật thì làm sao có mục đích. Một con người cụ thể sống trong thế gian tự đặt ra một mục đích cho mình, chứ thế gian thì không có mục đích. Giác ngộ, niết bàn, Phật cũng chỉ là ảo. Con người đang mê thì cần giác ngộ. Đến khi giác ngộ rồi thì biết giác ngộ cũng không có thật. Bởi vì con người sống trong luân hồi cảm thấy khổ nên mới cần tu hành giác ngộ. Trong Kinh Kim Cang, Phẩm 22 Vô Pháp Khả Đắc có câu : Tu Bồ Đề hỏi Phật : “Thế Tôn, Phật đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttara samyak sambodhi – Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) có phải là Vô Sở Đắc (không có cái được, không được gì cả) không ?”
    “Đúng vậy, đúng vậy. Này Tu Bồ Đề, ta chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho đến một pháp nhỏ bé nào cũng không có được, mới gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”.

  14. nguyen nam nói:

    thưa thầy
    nếu kiếp sống này con người thấy quá khổ vì bệnh tật và nghèo thì họ tự tử để giải thoát,hi vọng được sống ở kiếp khác nhiều hạnh phúc hơn. như thế có được không ạ

  15. nguyen nam nói:

    con thưa thầy
    con người có bản ngã không ạ. con có những tính cách và suy nghĩ từ bé đến bây giờ không thay đổi.có những tính xấu con muốn sửa nhưng không sửa được, con hay sống phụ thuộc người khác, không có chính kiến của riêng mình nên khi nào phải lựa chọn là con không biết lựa chọn thế nào, con thường làm theo số đông, làm những việc được người khác bảo, con rất tin người khác nên hay bị lừa.
    theo con mỗi người đều có một cái ngã, cái ngã để phân biệt người này với người kia.
    thầy có thể viết bài về: vô ngã, duyên khởi, vô thường được không ạ.
    con cảm ơn.

    • Ai cũng thấy mỗi người đều có cái ngã. Nhưng theo Phật pháp thì cái ngã đó giả tạm. Nếu mình quá chấp ngã thì sẽ có hại, sẽ đau khổ vì nhiều sở cầu của nó không được đáp ứng mà dù có được đáp ứng đi nữa cũng không vững bền, hết phước sẽ tới họa. Sẽ có lúc tôi trở lại với đề tài vô thường vô ngã.

  16. trung nói:

    xin thầy cho con hỏi
    mat na thuc là gì. do đâu mà có và nó hoạt động như thế nào.
    con cảm ơn thầy

    • trung nói:

      con hỏi thêm
      mat na thuc có biến đổi theo thơì gian hay bất biến.

      • Mạt-na thức là hữu hạn và có biến đổi, nó không ngừng giao tiếp với a-lại da và các chúng sinh khác. Thức chấp ngã này là nguyên do của luân hồi sinh tử.

    • Mat-na thức là thức chấp ngã. Một chúng sinh có thói quen phân biệt mình với phần còn lại của thế giới, đó là tánh chấp ngã, các dữ liệu về ngã hình thành mạt-na thức. Nó giống như một ổ đĩa cứng, dữ liệu của mọi đĩa cứng đều lấy từ internet xuống. Internet được coi như A-lại-da thức. Nhưng ổ cứng biệt lập với các ổ cứng khác, nó thông qua một số giao thức để liên lạc với các ổ cứng khác và với internet. Hoạt động của mạt-na cũng giống như ổ cứng nhưng phức tạp hơn. Nếu hoạt động của ổ cứng thông qua sound card (tương ứng với tai), video card (tương ứng với mắt) và RAM (tương ứng với não) Ổ cứng của computer không có các bộ phận tương ứng với mũi, lưỡi và thân thể tiếp xúc trong khi mạt-na thì có đủ lục căn, phức tạp hơn là ở chỗ đó. Khi một người giác ngộ thì thức chấp ngã mạt-na chuyển thành bình đẳng tánh trí tức ngộ rằng pháp giới bình đẳng, mọi chúng sinh đều là a-lại-da thức và là một, nhất thể chứ không phải là mạt-na thức nhỏ hẹp.

  17. trung nói:

    con thưa thầy
    cúng lễ ở chùa, hay các hình thức cúng lễ vật vàng mã, để trả nợ kiếp trước có giúp được mình thoát khỏi vận hạn,hoạn nạn không ạ
    con đi xem bói, thầy xem bói bảo con làm lễ cắt tiền duyên vì có duyên âm theo, có phải đây là mê tín dị doan không ạ

    • Chúng sinh cõi âm (ma, quỷ) không phải không có, một số nhà ngoại cảm có thể tiếp xúc với chúng. Một vong linh đeo đuổi một người sống để báo oán hay vì quyến luyến có thể có. Cúng lễ vật để cầu siêu, giải oan giải hạn cũng có thể có tác dụng. Vấn đề là làm sao xác định đúng cái duyên nghiệp đó có thật không. Giống như chẩn đúng bệnh mới trị được bệnh. Nếu chẩn sai thì chỉ là mê tín.

  18. trung nói:

    xin thầy cho con hỏi
    dùng ý thức có điều khiển và thay đổi được mat na thức không ạ. ý thuc do mat na thức quyết định hay do môi trường sống quyết định?
    con cảm ơn thầy

    • Ý thức cá nhân hay mạt-na thức và tâm nguyên thủy (a-lại-da thức) cũng là một thôi, chỉ khác nhau về mức độ rộng hẹp. Tâm nguyên thủy giống như internet còn mạt-na thức giống như ổ đĩa cứng, khả năng rất giới hạn. Ý thức lại càng hạn hẹp hơn nữa, nhưng nếu ý thức phát nguyện đủ mạnh và kéo dài, cũng có thể thay đổi mạt-na thức và dần dần nhất thể hóa với tâm nguyên thủy. Đây là phương pháp của Như Lai Thiền, dùng cái biết để tu. Nó khác với Tổ Sư Thiền, dùng cái không biết để tu, chấm dứt tất mọi cái biết của ý thức, để tâm nguyên thủy tự hiện. Môi trường ngoại cảnh thật ra chính là mạt-na thức, tức bao gồm cả ý thức và tiền ngũ thức. Ý thức là thức thứ sáu, còn mạt-na thức bao gồm cả 6 thức. Sức mạnh của ý thức là yếu nhưng nếu kiên trì và kéo dài, nó cũng có thể thay đổi mạt-na thức và cuối cùng thống nhất với a-lại-da thức.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s