Bảng tổng hợp mp3 giải đáp của Thầy Duy Lực và Mục lục

Bảng Tổng hợp các danh mục Audio mp3 Giải đáp của Thầy Duy Lực

Bảng Tổng hợp 2, Danh mục liệt kê các công bố của Duy Lực Thiền (tiếp)

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới

Thông Báo 28-02-2014  (thông báo này chỉ còn là dấu tích lịch sử, không còn khả dụng)

Do Microsoft đã có nhiều thay đổi về cách sử dụng Skydrive (nơi chứa các files âm thanh thuyết pháp của thầy Duy Lực) mà nay đã đổi tên thành OneDrive, nên muốn download các files âm thanh đó, không thể bấm trực tiếp vào các files cụ thể liệt kê trên trang Duy Lực Thiền, quý vị chỉ cần nhớ số thứ tự của file muốn download, hãy bấm vào hàng chữ : Mở thư mục âm thanh … …

Nó sẽ mở ổ đĩa OneDrive trên mạng theo số thư mục có ghi trên hàng chữ nói trên. Xin nhớ một điều, mỗi thư mục chứa tới 100 files trong khi mỗi bảng liệt kê trên Duy Lực Thiền chỉ kê 50 files. Do đó cần thiết phải nhớ số thứ tự thì mới dễ tìm. Bảng kê trên trang Duy Lực Thiền chỉ còn tác dụng nêu đại ý của file âm thanh với chữ có dấu nên dễ đọc. Còn bảng liệt kê trên OneDrive là tên file, chữ không có dấu nên khó đọc hơn. Nhớ số thứ tự thì dễ dàng tìm đúng file mình muốn download. Bấm vào tên file để download.

Quý vị có thể dùng computer, laptop, máy tính bảng hay smartphone đều có thể download được. Tốt nhất là dùng smartphone, vì nó là một phương tiện gần gũi nhất với mỗi người và rất tiện lợi để nghe bất cứ lúc nào rảnh rỗi. Tuy là files âm thanh nhưng một số files có hình của các nhân vật được đề cập, quý vị có thể thấy được hình khi nghe bằng máy nghe nhạc trên điện thoại.

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới.

Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Duy Lực dịch và trứ tác

01 Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải

02 Bá Trượng Ngữ Lục

03 Bá Trượng Quảng Lục

Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục – Hoài Hải Thiền Sư mp3

04 Bửu Tạng Luận – Tăng Triệu

Bửu Tạng Luận mp3

05 Cội nguồn truyền thừa và Phương pháp tu trì của Thiền tông

Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì Thiền Tông mp3

06 Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma

Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma mp3

07 Đại Huệ Ngữ Lục

Đại Huệ Ngữ Lục mp3

08 Đại Thừa Tuyệt Đối Luận – Nguyệt Khê Thiền sư

Đại Thừa Tuyệt Đối Luận mp3

09 Danh từ Thiền Học – Ngữ vựng Phật Học

10 Đường lối thực hành Tham Tổ Sư Thiền- Duy Lực

Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền mp3

11 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 2 mp3

12 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 2 mp3

13 Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết mp3

14 Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền

Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền mp3

15 Truyền Tâm Pháp Yếu – Hoàng Bá Hy Vận

Truyền Tâm Pháp Yếu- Hoàng Bá Hy Vận mp3

16 Kinh Kim Cang

Chư Kinh Tập Yếu : Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh mp3

17 Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già mp3

18 Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Kinh Thủ Lăng Nghiêm mp3

19 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Yếu chỉ

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

20 Kinh Viên Giác 

Kinh Viên Giác mp3

21 Lâm Tế Ngữ Lục 

Đường Lối Thực Hành Tổ Sư Thiền- Lâm Tế Ngữ Lục 1,2,3 mp3

22 Nam Tuyền Ngữ Lục

Nam Tuyền Phổ Nguyện Ngữ Lục mp3

23 Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng

Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng mp3

24 Phật Pháp với Thiền Tông – Duy Lực

Phật Pháp với Thiền Tông- Thiền Sư Đại Huệ mp3

25 Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp

Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp mp3

26 Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa thượng

Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa Thượng mp3

27 Tham Thiền Phổ Thuyết- Lai Quả Thiền Sư

Tham Thiền Phổ Thuyết – Thiền Sư Lai Quả mp3

28 Thiền Thất Khai Thị Lục – Lai Quả Thiền Sư

Thiền Thất Khai Thị Lục- Thiền Sư Lai Quả mp3

29 Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải- Trung Phong Hòa Thượng

30 Triệu Luận Lược Giải – Tác giả Tăng Triệu, Lược giải Hám Sơn

Triệu Luận Lược Giải – Tăng Triệu -Hám Sơn Chú Giải mp3

31 Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 – Duy Lực

Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 mp3

32 Yếu chỉ Kinh Hoa Nghiêm

33 Yếu chỉ Phật pháp – Duy Lực

34 Yếu chỉ Trung Quán Luận – Long Thọ Bồ Tát

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

Danh Sách Bài Viết chính của Blog Duy Lực Thiền

1 TÁNH KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO

2 TẠI SAO TÂM LÀ KHÔNG LẠI CÓ VÔ SỐ CÔNG DỤNG ?

3 Phật giáo hiểu biết gì về thế giới ?

4 Thiền và Sức khỏe

5 THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN PHẬT GIÁO

6 Sự Thật là gì ?

7 Liễu nghĩa của “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

8 ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI ?

9 Lời mở đầu

10 THỜI-KHÔNG LÀ GÌ ?

11 Thế giới ta đang sống là ứng dụng của Tâm bất nhị

12 LỰC HỌC THÍCH CA ĐỐI CHIẾU VỚI CƠ HỌC NEWTON VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI CỦA EINSTEIN

13 ĐẶC ĐIỂM CỦA BLOG DUY LỰC THIỀN

14 Cốt tủy của Phật pháp

15 Khi Vật lý gõ cửa Bản thể học

16 Lục căn, lục trần, lục thức = 18 giới

17 Thế lưu bố tưởng và các hiện tượng lạ thường

18 Tông chỉ chung của Đạo Phật là phá chấp

19 TẬP QUÁN (THÓI QUEN) CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ĐỐI VỚI VŨ TRỤ VẠN VẬT ?

20 Hướng dẫn tìm kiếm

21 AI LÀ NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI ?

21 Bis PHẬT PHÁP LÀ KHOA HỌC TÂM LINH CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO  NHÂN LOẠI

22 CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN TOÀN DỰA VÀO KHOA HỌC CHĂNG ?

23 NIẾT BÀN VÀ CHÁNH BIẾN TRI

24 CON NGƯỜI CÓ THỂ DU HÀNH TRONG THỜI GIAN CHĂNG ?

25 Từ David Bohm đến Kinh Lăng Nghiêm

26 TỨ PHÁP GIỚI CỦA KINH HOA NGHIÊM

27 Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

28 KHẮP KHÔNG GIAN, KHẮP THỜI GIAN VÀ VÔ SỐ LƯỢNG CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

29 NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

30 TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA CÁC PHÁP

31 Thiền sư và Nhà khoa học

32 PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG

33 ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO HẠNH PHÚC NHÂN LOẠI

34 PHẬT PHÁP VÀ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

35 VẠN PHÁP DUY THỨC CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

36 Ý NGHĨA RÕ RÀNG CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

37 SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

38 SỰ KẾT THÚC CỦA VẬT LÝ HỌC

39 SỰ KẾT THÚC CỦA SINH VẬT TIẾN HÓA LUẬN

40 SỰ BẮT ĐẦU CỦA KHOA HỌC TÂM LINH

41 THẦN THÔNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

42 CHỐT LẠI CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC

43 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN

44 NHỮNG KHÁI NIỆM ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

45 THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO

46 MỘNG VÀ THỰC KHÔNG DỄ PHÂN BIỆT

47 “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM” LÀ NGHĨA THẾ NÀO ?

48 Tìm hiểu về Tịnh Độ Tông

49 TU HÀNH THEO PHẬT PHÁP LÀ THẾ NÀO ?

50 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ KHÔNG GIAN CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG, KHÔNG PHẢI THẬT ?

51 THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ

52 Amit Goswami- Vật Lý Lượng Tử Nói Gì Về Bản Chất Của Thực Tại?

53 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ SỐ LƯỢNG VẬT CHẤT LÀ ẢO KHÔNG PHẢI THẬT ?

54 CÁC THÁNH TÍCH PHẬT GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

55 CÁC DẠNG THỨC THÔNG TIN

56 TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

57 PHẬT PHÁP VÀ THÁM HIỂM KHÔNG GIAN

58 SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VẬT LÝ VÀ TÂM LÝ

59 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ THỜI GIAN CHỈ LÀ ẢO ?

60 THÔNG ĐIỆP CỦA PHẬT GIÁO

61 VẬT CHẤT, NĂNG LƯỢNG CŨNG LÀ THÔNG TIN

62 NGŨ THỪA PHẬT GIÁO và TRƯỜNG A-LẠI-DA THỨC

63 BÀN THÊM VỀ CHÁNH BIẾN TRI

64 TRI THỨC CỦA NHÂN LOẠI ĐÃ TIẾN TỚI ĐÂU ?

65 MIỀN TẦN SỐ A-LẠI-DA THỨC

66 AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

67 TÂM VÀ VẬT TRONG PHẬT PHÁP

68 DANH VÀ SẮC ĐỀU LÀ GIẢ DANH

69 Phật giảng giải cho Ca Diếp về Thế Lưu Bố Tưởng

70 THẾ GIỚI LÀ DO THÓI QUEN TÂM LÝ TẠO RA

71 THUYẾT KIÊN BẠCH ĐỒNG DỊ CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ?

72 TÂM VÀ THỜI ĐẠI LƯỢNG TỬ

73  ẢO VÀ THẬT

74 NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

75 TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

76 ĐỐI CHIẾU VẬT LÝ VŨ TRỤ VÀ PHẬT PHÁP

77 CÁI TA THẬT RA LÀ CÁI GÌ ?

78 PHẬT GIÁO CÓ THỂ HƯỚNG DẪN GÌ CHO KHOA HỌC VÀ NHÂN LOẠI ?

Danh Sách Bài Viết phụ (Nhà sau) của Blog Duy Lực Thiền

1 Cầu bất đắc khổ

2 Giới thiệu chuyên mục Nhà sau

3 Nữ nhân thị lão hổ

4 Sống khổ : Thiên tai, Sóng thần Nhật Bản

5 Đăng Biện Giác Tự Thơ Vương Duy

6 Sống khổ : “Tôi không thể chịu đựng nổi cuộc sống” – Dalida

7 OÁN TẮNG HỘI KHỔ : ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA (DEVADATTA)

8 ÁI BIỆT LY KHỔ : HÒN VỌNG PHU VÀ MẠNH KHƯƠNG NỮ

9 Mối “vạn cổ sầu” của các nhà thơ

10 ĐÓN XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA

11 Chuyến viếng thăm chùa Cao Mân, Trung Quốc của Thầy Duy Lực

12 VĂN HÓA MÍNH ĐÀM

13 CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG VÀ THẾ GIỚI ẢO

14 CUỘC ĐỜI LÀ ẢO MỘNG

15 NGÔI LÀNG BÌNH YÊN

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

17 HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

18 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY QUẢ VỆ TINH BỊ CHÌM DƯỚI ĐÁY SÔNG

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

20 HẦU HI QUÝ – ĐẦU BỊ CHÉM ĐỨT NGƯỜI VẪN SỐNG- SÚNG BẮN KHÔNG BỊ THƯƠNG- THẤU THỊ

21 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY CON BÒ BỊ CHÌM DƯỚI LỚP BĂNG DÀY

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

23 LIÊU VĂN VĨ – NHẬN THỨC VỀ NHÂN THỂ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

24 Trương Bảo Thắng – Cảnh cáo nữ ảo thuật gia nước ngoài và nhà xã hội học bảo thủ

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

26 TRƯƠNG BẢO THẮNG- Thời thơ ấu gian khổ – Kết cục thành đạt

27 Trương Bảo Thắng trong trận động đất Đường Sơn khủng khiếp

28 Trương Bảo Thắng bị cha nuôi bỏ rơi, người đời bắt đầu phát hiện siêu nhân

29 Trương Bảo Thắng – Lần đầu được tiến dẫn về tỉnh Liêu Ninh, chưa được trọng thị

30 Hầu Hi Quý – Trị bệnh thần tốc, hô phong hoán vũ, nhận ra và đọc đúng âm của những chữ ông chưa từng học

31 Trương Bảo Thắng – Đản sinh kỳ lạ, tuổi thơ bất hạnh

32 CÁ NHÂN TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

33 Trương Bảo Thắng – Đi về nam, đến Quảng Châu, Thâm Quyến

34 Trương Bảo Thắng- Tranh cãi với cảnh sát và cảnh vệ

35 Trương Bảo Thắng- Tha tâm thông và dùng ý niệm di chuyển vật thể

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

37 CÁI NHÌN TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH

38 Hầu Hi Quý- những chuyện thần kỳ xảy ra năm 1979, sau “cách mạng văn hóa”

39 LIÊU VĂN VĨ- LỜI BẠT (SÁCH VỀ HẦU HI QUÝ)

40 Lời tác giả- Lời tựa- Lời bạt của sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng

41 Trương Bảo Thắng- Trị bệnh cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh

42 CÓ PHẢI ZÉNON (ZENO) NGỤY BIỆN KHÔNG ?

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

44 Hầu Hi Quý – Gặp gỡ những người nổi tiếng của Hong Kong

45 Hầu Hi Quý- Biến ra đô la Mỹ, cảnh cáo cô tiếp viên nhà hàng Tây Uyển

46 Những nhà ngoại cảm, họ là ai ?

47 MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ 2014

48 DUY TÂM – LƯƠNG KHẢI SIÊU

49 VÔ THƯỜNG MÙA WORLD CUP

50 CHÍNH TRỊ, CÔNG NGHIỆP VÀ TIN HỌC

51 Thí nghiệm của Maria Chekhova về rối lượng tử (quantum entanglement)

52 HIỆU ỨNG TU HÀNH

53 VẤN ĐỀ CỦA NỀN GIÁO DỤC THẾ GIỚI

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

55 MỸ NHÂN VÀ CHUYỆN TU HÀNH

56 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN TƯƠNG ĐỐI

57 Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

58 NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

59 ĐỨNG TRƯỚC THẾ GIỚI

60 THẦN THÔNG THỜI HIỆN ĐẠI

Một số video clips về Khoa học hỗ trợ để hiểu Tánh Không

Vạn Pháp Duy Thức

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 1 – Phụ đề Việt ngữ

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 4 – Ứng dụng Toàn Ảnh – Vũ Trụ Ảo – Phụ đề Việt ngữ

Universe 5 – Bộ Não Người Là Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 6 – Bộ não người và cơ chế tạo ra thực tại ảo

Universe 7 – Mỗi Người Có Vũ Trụ của Riêng Mình – Phụ đề Việt ngữ

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Universe 9 – Chúng ta thấy thế giới không đúng như nó là – Phụ đề Việt ngữ

Universe 10 – Niềm Tin Trong Đời Sống – Phụ đề Việt ngữ

Universe 11 – Cảm Nhận, Niềm Tin Có Thể Làm Thay Đổi Gen – Phụ đề Việt ngữ 

Universe 12 – Tâm Mang Tiền Đến Cho Bạn – Phụ đề Việt ngữ

Universe 13 – Tiếng Ồn Toàn Ảnh – Chúng Ta Có Thể Làm Gì – Phụ đề Việt ngữ

Não phản ánh Tâm đã quyết định trước Ý thức 6 giây

Nguoi choi Tro Choi Nhan Loai co the lam gi ?

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 1 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 2 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 3 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp – Tổng Kết – Việt dịch

Vũ Trụ Song Song – Bồ Tát Vô Trước

Đăng tải tại Thầy Duy Lực giải đáp (Audio mp3) | 2 phản hồi

KHOA HỌC VÀ THIỀN

Tết âm lịch năm Canh Tý sắp đến rồi. Tết năm nào tôi cũng viết một bài về xuân. Tết năm nay tuy không đi sâu vào đề tài xuân nhưng khi nói về khoa học và thiền, cũng đích thị là nói về mùa xuân vĩnh cửu bởi vì khoa học đem lại cơm no áo ấm, tiện nghi trong đời sống vật chất, còn thiền đem lại hạnh phúc tự do tự tại trong tâm hồn, đó chẳng phải xuân thì là gì ? Trước khi vào bài cũng xin tặng mọi người một bài thơ mừng xuân tuy xưa nhưng luôn có ý nghĩa.

Hoa Đào Năm Cũ- Thơ Đường Thôi Hộ

Khoa học và Thiền là một đề tài khá cũ kỹ bởi vì báo chí đã đề cập nhiều tới đề tài này. Ngay trên Duy Lực Thiền cũng đã có vài bài viết về đề tài này. Chẳng hạn bài “42 Chốt Lại Cuộc Đối Thoại Giữa Phật Giáo Và Khoa Học”. Tuy nhiên trong cuộc sống của con người hiện đại, Thiền và Khoa Học là có thể nói là hai trụ cột quan trọng nhất mà nếu thiếu một, cuộc sống sẽ bị què quặt bất hạnh. Thiếu khoa học, dân Ấn Độ trong hàng ngàn năm qua, sống trong nghèo đói cùng cực. Thiếu thiền, con người thời nay tuy no đủ về vật chất vẫn sống trong đau khổ bất hạnh. Do đó đề tài này vẫn còn những khía cạnh mới mẻ để phát hiện.

Khoa học là sự phát triển tư duy của bộ não. Tư duy này dùng lý trí suy luận kết hợp với thí nghiệm, thực nghiệm để tìm ra những quy luật, những định lý, những nguyên lý về sự vận động của vật chất, từ những vật thể to lớn như thiên thể, mặt trời, trái đất, mặt trăng, sông núi, nguyên tố, sinh vật…cho đến những vật vô cùng nhỏ bé như hạt cơ bản, lượng tử. Rồi khoa học cũng nghiên cứu về tâm lý, tìm ra những quy luật về kinh tế, về sự phát triển của ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, kinh tế…Khoa học nghiên cứu tất cả mọi hoạt động của thiên nhiên và con người. Từ kết quả nghiên cứu đó, khoa học nắm được rất nhiều tri kiến và ứng dụng vào sản xuất, đem lại những kết quả cực kỳ to lớn, cải tạo được rất đáng kể cuộc sống vật chất của con người. Một xứ mà khoa học và kinh tế phát triển thì dân giàu nước mạnh, cuộc sống của người dân có vẻ sáng sủa hạnh phúc hơn.

Tuy nhiên cũng có nhiều điều khoa học không thể làm được bởi vì khoa học dựa trên những nền tảng sai lầm từ cơ bản. Cơ bản đã sai lầm thì kết quả nếu không tệ hại thì cũng bị hạn chế. Vậy hạn chế và tệ hại của khoa học là gì ?

1/Khoa học có thể đem lại nhà cửa, cơm ăn, áo mặc, phương tiện di chuyển, vật dụng hàng ngày nhưng khoa học không thể đem lại sự chan hòa thu nhập và hòa bình. Bằng chứng là rất nhiều người trên thế giới đang sống trong nghèo đói cùng khổ trong khi một số khác thì thừa mứa, chiến tranh loạn lạc triền miên. Trên báo chí tiếng Anh mấy năm nay xuất hiện thường xuyên danh từ “caravan”, nó có nghĩa là một đoàn người đi xa cùng đi chung với nhau, họ bỏ xứ quê hương của họ ở Trung Mỹ như Honduras, Guatemala và El Salvador. Họ dắt díu nhau đi về hướng Bắc. Mục tiêu của rất nhiều người là đến biên giới Mexico-Mỹ để nộp đơn xin tị nạn chính trị ở Mỹ. Bởi vì họ không sống nổi vì nghèo đói và bạo lực ở quê nhà. Tình trạng này bắt nguồn từ cuộc nội chiến El Salvador và Guatamela trong thập niên 1980. Honduras không bị chiến tranh nhưng cũng bị ảnh hưởng nặng nề do là nước láng giềng. Hệ lụy của chiến tranh là rất nhiều người mất nhà cửa và bị thất nghiệp, và đất nước họ trở thành một kho súng đạn khổng lồ. Nạn buôn lậu ma túy tràn sang và dễ dàng phát triển, nhất là với sự toa rập của các quan chức tham nhũng. Hoàn toàn không có một thế lực nào bảo vệ cho những người dân bị kẹt ở giữa các lằn đạn.

Đây là “caravan” hình ảnh những người tị nạn Trung Mỹ đi bộ hàng ngàn cây số về phía bắc

Một hình ảnh bất hạnh khác là đoàn người tị nạn bỏ nước ra đi vì chiến tranh loạn lạc tại Syria. Theo ước tính của Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), năm 2018, thế giới có khoảng 70,8 triệu người phải rời bỏ nhà cửa để đi lánh nạn.

Dòng người tị nạn từ Syria, Trung Đông và Châu Phi tràn vào Châu Âu       

2/ Khoa học không thể ngăn cản những cuộc chiến tranh, những tranh giành về thế lực, đất đai, tài nguyên, biển đảo, tranh chấp luôn xảy ra khiến cho con người luôn luôn sống trong thù hận, bất ổn.

Biển Đông mãi mãi là nơi tranh giành tài nguyên biển đảo giữa TQ và các nước Đông Nam Á như VN, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei.

Biển Hoàng Hải là nơi tranh giành nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa TQ và Nhật Bản, đảo dokdo/takeshima là đối tượng tranh giành giữa Hàn Quốc và Nhật Bản.

Biển Okhotsk là nơi tranh chấp quần đảo Kuril (Курильские острова- Kuril’skie ostrova) theo cách gọi của Nga hay Lãnh thổ phương bắc 北方領土 theo cách nói của Nhật. Sự tranh chấp này giữa Nga và Nhật kể từ Thế Chiến II đến nay vẫn bế tắc không thể giải quyết.

3/ Khoa học không thể giải quyết vấn đề sinh lão bệnh tử của con người. Nhiều người coi đây là phạm trù tự nhiên không có cách nào giải quyết được, chỉ có thể chấp nhận thôi.

Vậy sai lầm cơ bản của khoa học là gì ?

Ai là người có đủ tư cách và tri kiến để vạch ra sai lầm cơ bản của khoa học ?

Người có đủ tri kiến, trí tuệ bát nhã để vạch ra sai lầm cơ bản của khoa học là Phật (giác giả và môn học này là Thiền tiếng Phạn là dhyāna, tiếng Hán là Thiền禅 tiếng Anh là Zen). Đức Phật Thích Ca và các Tổ Sư Thiền về sau, đã dùng thiền định để thấu suốt bản thể của Tam giới và trình bày kiến giải đó trong các bộ Kinh Đại thừa như Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (摩訶般 若 波 羅 蜜 多 心 經 Maha Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Heart of Perfect Wisdom), Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經buddhāvataṃsaka-mahāvaipulyasūtra- Flower Garland Sutra), Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經 Śūraṃgama-samādhi-sūtra- tiếng Anh cũng gọi là Shurangama Sutra chứ không dịch nghĩa).

Điểm sai cơ bản nhất của khoa học là chấp thật, coi vật chất là có thật, các hạt cơ bản của vật chất (basic matter particles) là có thật . Người kiên trì nhất với lập trường chấp thật này chính là Albert Einstein, nhà khoa học được coi là vĩ đại nhất của nhân loại thế kỷ 20.

Từ năm 1935 cho tới cuối đời 1955, Einstein tranh cãi kịch liệt với Niels Bohr về việc hạt cơ bản của vật chất như photon hay electron có sẵn đặc trưng hay không. Đặc trưng của hạt cơ bản là những tính chất riêng biệt của nó như : vị trí (position), khối lượng (masse), điện tích (electric charge), số đo spin (spin measurements). Lập trường của Einstein là hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng, lập trường này gọi là duy vật khách quan (vật chất có thật nằm ngoài ý thức). Lập trường của Bohr thì khác, ông nói rằng các đặc trưng không có sẵn, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát, chính người quan sát tạo ra các đặc trưng đó.

Trước đó năm 1930, Einstein cũng tranh luận với nhà thơ Tagore của Ấn Độ về vấn đề bản chất của thực tại là gì và cũng với lập trường duy vật khách quan này.

Cuộc Gặp Gỡ Giữa Tagore Và Einstein – VD

Hai ông Bohr và Einstein tranh cãi bất phân thắng bại về vấn đề đặc trưng của hạt cơ bản có sẵn hay không, cho tới khi cả hai đều qua đời. Einstein qua đời năm 1955, Bohr qua đời năm 1962 mà cũng chưa biết được ai đúng ai sai. Câu nói nổi tiếng của Einstein là :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó dù cho tôi không đang nhìn nó”

Còn câu nói nổi tiếng của Bohr là :

“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa bạn chưa hiểu gì về nó.”

Tại sao Bohr nói rằng nếu bạn hiểu cơ học lượng tử một cách sâu sắc thì bạn phải bị sốc nặng ? Bởi vì thái độ chấp thật như Einstein là sai lầm hết sức cơ bản. Cơ học lượng tử phát hiện rằng vật chất không có thật. Ông hiểu điều đó nhưng ông chưa chứng minh được cho Einstein và nhiều nhà khoa học khác hiểu rằng chấp thật là sai lầm.

Nhưng rồi đến năm 1982 thì cũng có người chứng minh được rằng cuộc tranh cãi giữa Bohr và Einstein đã ngã ngũ. Người đó là nhà khoa học Pháp Alain Aspect. Năm 1982 tại Paris Aspect đã dùng chiếc máy do John Clauser, người Mỹ  sáng chế. Chiếc máy này có thể làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau trong không gian, đó là một hiện tượng gọi là rối hay liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một hạt photon biến thành hai hạt ở hai vị trí khác nhau và luôn liên kết vướng víu với nhau. Rồi Aspect dùng bất đẳng thức của John Bell, là một nhà khoa học người Ireland nghĩ ra, để chứng minh bằng toán học kết hợp với thực nghiệm rằng hiện tượng vướng víu lượng tử là có thật chứ không phải là “tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance)” như Einstein nghĩ.

Từ thí nghiệm này nhân loại rút ra 3 kết luận cực kỳ quan trọng :

1/Vật (hạt photon, electron, và  xa hơn nữa là nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian không có thật (non locality)

3/Số lượng không có thật (non quantity)

Ba kết luận này đủ để khiến cho tất cả các môn học cơ bản nhất của nhân loại như toán học, vật lý học, sinh vật học, đều sụp đổ hoàn toàn. Chính vì lẽ đó nên Bohr mới nói rằng nếu ai mà hiểu được cơ học lượng tử ắt phải bị sốc nặng vì tất cả tri thức của nhân loại tích lũy qua hàng ngàn năm lịch sử bị sụp đổ hết. Các định luật khoa học chỉ có giá trị tương đối thôi, giá trị trong thói quen ngàn đời chấp thật chứ không còn là tuyệt đối khách quan nữa. Điều này cũng tương tự như ý nghĩa của ngôn ngữ là do thói quen gán ghép của con người. Con người gán ghép ý nghĩa cho từ ngữ chứ không phải tự từ ngữ có ý nghĩa sẵn.

Không phải tới thời của Alain Aspect nhân loại mới biết vật chất không có thật. 26 thế kỷ trước, Đức Phật đã biết điều này và đã thuyết giảng cho các đệ tử nghe. Trong kinh điển nguyên thủy có phần Vi Diệu Pháp tức là Luận Tạng (Adbidamma Pitaka_A Tỳ Đàm hay A Tỳ Đạt Ma) một trong Tam Tạng kinh điển, gồm 7 bộ đề cập tới vấn đề này bao gồm :

1- Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận)

2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)

3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến.

4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 diệu đế…phân biệt các hạng người.

5- Kathāvatthu (Bộ Ngữ Tông 論事 Luận Sự) do Moggaliputta Tissa làm trong lần kết tập thứ ba mục đích là bài bác tà kiến của ngoại đạo xâm nhập vào tăng đoàn.

6-Yamaka (Bộ Song Ðối 雙論 Song Luận) Luận về chỗ đồng dị của từng cặp mệnh đề (triết học gọi là cặp phạm trù mâu thuẫn).

7- Paṭṭhāna (Bộ Vị Trí 發趣論 Phát Thú Luận). 6 bộ luận đầu chủ yếu luận về danh (tên gọi) và tướng (hình trạng) của các pháp. Còn bộ luận thứ bảy còn gọi là Đại Luận 大論 chủ yếu nói về 24 mối quan hệ của các pháp, hệ thống hoá chúng. Do đó bộ luận này rất lớn và phức tạp. Bản dịch tiếng Việt gồm 7 quyển, mỗi quyển dày khoảng 350 trang.

Về sau các vị Tổ Sư đã phát triển thêm Vi Diệu Pháp thành các kinh điển Đại Thừa như đã đề cập ở trên. Những điểm cốt yếu nhất của kinh điển có thể tóm tắt vào vài câu vô cùng ngắn gọn và cực kỳ sâu sắc :

– Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 Câu này rõ ràng hàm ý rằng các hạt cơ bản của vật chất không có sẵn đặc trưng. Vì vậy tất cả các pháp mà lục căn của con người tiếp xúc bao gồm lục căn lục trần và lúc thức, cộng chung 18 giới đều chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Chính vì vậy mới có câu tiếp theo :

– Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo. Tâm tạo ra hạt cơ bản và các cấu trúc từ hạt cơ bản như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cơ thể sinh vật. Khoa học ngày nay hoàn toàn lý giải được ngũ uẩn giai không.

– Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰 Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination). Tất cả 5 uẩn đều là cảm giác, là tưởng tượng, không có thật.

Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời ở thế gian.

Tâm là một dạng thông tin vô phân biệt, một dạng sóng tiềm năng vô hình (không có tự tính, không phân biệt thiện ác, tốt xấu). Trong tin học thì thông tin đó có dạng số (digital) và cũng chỉ là dữ liệu chưa có ý nghĩa, chưa có đặc điểm hay tính chất gì. Chỉ khi con người khởi niệm, phân biệt thì sóng tiềm năng đó mới biến thành hạt cơ bản của vật chất và có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin như trong thí nghiệm 2 khe hở đã cho thấy rõ :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron

Tương tự như vậy, trong tin học khi các dãy số trong dữ liệu được thay thế bằng những đặc điểm theo quy ước thì màn hình mới hiện ra chữ viết, hình ảnh, video và loa phát ra âm thanh.

Như vậy tâm trong thế giới đời thường và dữ liệu thông tin trong computer là hoàn toàn tương ứng.

Trên đây tôi đã dùng Như Lai Thiền của các vị Tổ Sư Thiền tông ghi chép trong kinh điển Đại Thừa, kết hợp với những phát hiện mới của cơ học lượng tử (quantum mechanics) để giải thích một cách hết sức rõ ràng tường tận những sai lầm cơ bản nhất của khoa học.

Nhưng nói như vậy có phải đánh giá khoa học là hoàn toàn vô giá trị chăng ? Không phải vậy. Các định luật khoa học vẫn có giá trị tương đối trong cuộc sống đời thường trên thế gian. Và trong cuộc sống thế gian tương đối, các vị giác giả cũng có những hạn chế nhất định. Đó là những hạn chế gì ?

Trong lịch sử Thiền tông Ấn Độ đã có 28 vị giác ngộ, họ là Tổ Sư 28 đời của Thiền Ấn Độ, và vị tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma đã sang Trung Quốc để tiếp tục hoằng truyền Đạo Thiền. Vậy họ bị hạn chế gì ?

Họ phát hiện được bản tâm, họ làm chủ được sinh tử luân hồi, nhưng họ đã không thể giúp được đông đảo người dân Ấn Độ thoát khỏi nghèo đói bần cùng. Đó là vì khoa học chưa phát triển, con người chưa biết cách gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng và hàng hóa tiêu dùng. Đây là hạn chế chung của tất cả mọi tông giáo. Khoa học là mê muội, nhưng mê muội đó có giá trị tương đối và cần thiết trong cuộc sống đời thường của thế gian.

Ngày nay thì khoa học đang phát triển rất mạnh mẽ. Rõ ràng khoa học đã giúp được cho 850 triệu người dân TQ thoát khỏi đói nghèo, có đủ ăn, có đủ nhà ở và hàng hóa tiêu dùng, có một cuộc sống tương đối khá hơn trước. TQ không còn bị nạn đói đe dọa thường xuyên như trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm qua.

Nền giáo dục khoa học kỹ thuật đem lại những hiệu quả to lớn và rõ ràng như vậy, nhưng khoa học cơ bản vốn là sai lầm nên nó cũng đem lại nhiều điều bất hạnh cho nhân loại, ví dụ những điểm sau :

– Khoa học giúp sản xuất vũ khí, trong đó đáng sợ nhất là vũ khí nguyên tử, những hóa chất độc hại như chất độc màu da cam, đem lại bao nhiêu nỗi thống khổ cho nhân loại. Chẳng hạn vừa rồi, ngày 08-01-2020, vụ tai nạn với chuyến bay PS752 của Hãng hàng không Ukraine International Airlines khiến 176 đi trên máy bay thiệt mạng. Nguyên nhân là do tên lửa của Iran bắn nhầm máy bay dân dụng.

Máy bay dân dụng của Ukraine bị trúng tên lửa Iran vỡ tan tành khiến 176 người thiệt mạng

– Sai lầm cơ bản và lớn nhất của khoa học và giáo dục là dạy cho học sinh từ mẫu giáo cho tới sinh viên đại học sự chấp thật, chấp là thế giới vật chất có thật, chấp vật chất năng lượng là nền tảng của thế giới, của vũ trụ.

– Sự chấp thật dẫn đến chấp ngã và chấp pháp, dẫn đến tranh giành, chiến tranh. Người ta giành nhau về tài nguyên, lãnh thổ, nguồn năng lượng. Tranh giành biển đảo giữa các quốc gia là vô phương giải quyết. Người ta tranh giành nhau cả về niềm tin tôn giáo và vì niềm tin đó mà sẵn sàng giết hại lẫn nhau. Họ không biết rằng ngũ uẩn giai không, tất cả mọi niềm tin chỉ là phương tiện, là vọng tưởng. Tâm, Thượng Đế, Trời, đều là vô tự tính, không có nghĩa lý gì cả, mọi nghĩa lý đều chỉ là vọng tưởng gán ghép của bộ não, kể cả các định luật khoa học.

Chính vì những hạn chế của khoa học nên người ta vẫn cần tới Thiền để điều hòa cuộc sống, để giúp cho tâm luôn được an, để giảm bớt những tranh giành mê muội.

Tại sao tranh giành là mê muội ?

Bởi vì sau cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982, các nhà khoa học hàng đầu thế giới, cụ thể là các nhà khoa học sau đây, họ đã rút ra những kết luận cực kỳ quan trọng cho nhân loại  như đã nói ở trên, họ là đại biểu ưu tú của tinh thần khoa học mới, không còn quá chấp thật :

Giới Thiệu Các Nhà Vật Lý Lượng Tử Hiện Đại

Từ thí nghiệm liên kết lượng tử năm 1982 các nhà vật lý lượng tử đã rút ra 3 kết luận cực kỳ quan trọng cho nhân loại :

1/Vật (hạt photon, electron, và  xa hơn nữa là nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) không có thật (non realism)

2/Không gian, thời gian không có thật (vô sở trụ, non locality, không thể xác định được vị trí, thời điểm)

3/Số lượng không có thật (non quantity).

Vũ trụ vạn vật, thế giới cơ bản chỉ là một toàn ảnh (hologram) vậy tại sao lại chỉ vì những ảo ảnh đó mà mọi người tranh giành, chém giết lẫn nhau, chẳng phải là quá mê muội ư ?

Chẳng những lý thuyết và thí nghiệm khoa học đã chứng tỏ vũ trụ chỉ là một toàn ảnh, một sự giả lập bằng thông tin, mà cả thực nghiệm đặc dị công năng cũng chứng tỏ như vậy. Xin mời xem bài này :

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

Kết luận

Khoa học đem lại tri thức về thế giới vật chất thực tế chung quanh chúng ta, cụ thể là các định luật khoa học, các nguyên lý của vũ trụ và thế giới. Nghững nghiên cứu chi tiết cụ thể của con người còn đem lại rất nhiều phát minh sáng chế. Những phát minh sáng chế này được ứng dụng trong sản xuất và đời sống đem lại sự cải thiện rất lớn cho cuộc sống đời thường của con người. Chẳng hạn :

-Sự phát minh ra dòng điện đem lại tiện nghi rất lớn cho đời sống hàng ngày của chúng ta.

-Sự phát minh ra máy hơi nước, động cơ xăng, động cơ diesel giúp cho năng lực sản xuất tăng lên rất nhiều và cũng giúp chế tạo những phương tiện di chuyển nhanh chóng và tiện lợi như xe máy, xe hơi, tàu thủy, phi cơ, tên lửa và vệ tinh nhân tạo, phi thuyền không gian.

– Sự phát minh cơ học lượng tử giúp con người ứng dụng hạt photon và electron một cách thần tình bằng công nghệ bán dẫn, chế tạo những con chip cực nhỏ nhưng có sức mạnh lớn, ngày càng thu hẹp khoảng cách giữa các transitors (phần tử bán dẫn), hiện nay là 7 nano mét (1 nano mét= 1 phần tỷ mét) như con chip Snapdragon 865.

Qualcomm trình diễn khả năng xử lý của Snapdragon 865 bằng việc chuyển giọng nói thành chữ viết đồng thời dịch sang các ngôn ngữ khác trong thời gian thực. Trong ảnh là lời nói bằng tiếng Anh, thể hiện thành chữ viết và dịch sang Hán ngữ.  

Nhưng trong vài năm tới khoảng cách giữa các transitors sẽ giảm xuống còn 3 nano mét giúp cho con chip còn mạnh hơn và tiêu thụ ít điện năng hơn. Hãng Samsung và Huawei đều đã có kế hoạch sản xuất con chip 3 nano mét.

Những con chip này được sử dụng trong điện thoại thông minh, đem lại tiện ích liên lạc và sử dụng cực lớn cho con người trên phạm vi toàn cầu. Một điều mà chỉ 30 năm trước thôi chúng ta không thể hình dung nổi.

Khoa học đã cải thiện đời sống vật chất cho hàng tỷ người trên thế giới, đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên các định luật, các tri thức khoa học chỉ có giá trị tương đối, thực tế là chúng sai lầm ngay từ cơ bản mà người đại diện nổi tiếng nhất chính là Albert Einstein đã bị chứng minh là sai lầm. Toàn bộ nền giáo dục của nhân loại về mọi mặt đều dựa trên nền tảng sai lầm đó. Nó không phải sai 100% nhưng thật ra nó chỉ đúng 50% còn 50% là sai lầm. Nền giáo dục đó dạy cho con người từ lúc còn là trẻ thơ đến khi trưởng thành luôn luôn chấp thật. Từ sự chấp thật này mà dẫn đến chấp ngã và chấp pháp (from the acceptance that material is real leads to the ego and the acceptance that the world is real). Từ đó khiến cho không ít người sống trong đau khổ khi gặp nghịch cảnh, khiến cho con người tranh giành và chiến tranh tàn hại lẫn nhau. Nó cũng khiến cho con người lo âu và bệnh tật.

Chính vì vậy nhân loại cần tới Thiền. Thiền là sự thực hành trong cuộc sống đời thường phá bỏ chấp thật. Thiền ứng dụng những lời dạy của Đức Phật và các Tổ Sư với những nguyên lý hết sức đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc, chỉ vài nguyên lý thôi :

-Nhất thiết pháp vô tự tính

-Nhất thiết duy tâm tạo

-Ngũ uẩn giai không

– Tất cả những lời nói ra đều không có nghĩa thật

Tổ Sư Thiền dạy tham thoại đầu, mỗi người chọn một câu để tham, đại khái như :

1-Khi chưa có trời đất, ta là cái gì?
2-Muôn pháp về một, một về chỗ nào?
3-Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao?
4-Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?
5-Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?

Hỏi không phải để suy nghĩ tìm câu trả lời mà chỉ để cảm thấy không thể hiểu, phá bỏ thói quen chấp thật, phát sinh một sự nghi ngờ trong lòng gọi là nghi tình và cứ duy trì nghi tình đó càng lâu càng tốt. Lúc tham cũng không cần ngồi. Đi đứng nằm ngồi cũng đều tham được. Lục tổ Huệ Năng nói : “Đạo do tâm ngộ, khởi tại tọa dã 道由心悟,豈在坐也?”(Đạo là do tâm ngộ chứ có phải tại ngồi đâu). Phẩm Tọa thiền trong Pháp Bảo Đàn Kinh nói đến Tọa thiền là tâm tọa (chứ không phải thân tọa) nghĩa là: bên ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác, tâm niệm chẳng khởi gọi là tọa, bên trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền.

Đó là kiến tánh, giải nghiệp, thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngã pháp đều không gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 Đó là sự an tâm hạnh phúc vững chắc cho tất cả mọi người.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 6 phản hồi

VÔ SINH PHÁP NHẪN LÀ GÌ ?

Khái niệm Vô sinh pháp nhẫn

Vô sinh pháp nhẫn無生法忍(Sanskrit:anutpattika-dharma-kṣānti)là một thuật ngữ Phật giáo xuất phát từ Kinh Đại Bát Nhã大般若經 quyển 449 Phẩm Chuyển Bất Chuyển轉不轉品

Vô sinh nghĩa là không có sinh khởi, không có bắt đầu, không do cái gì sinh ra cũng tức là không có thật mà cũng không phải là giả. Đó là một trạng thái tuyệt đối bất nhị, bất biến, không có chuyển động, không thay đổi. Trạng thái đó gọi là pháp nhẫn. Nhẫn tức là bất biến, không có chuyển động, không lay động, không thay đổi (constant). Thuật ngữ này để diễn tả Tâm bất nhị vô sinh vô diệt không thay đổi.

Người tu theo Phật giáo là muốn phát hiện cái tâm này, đó mới thực sự là ta cũng là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật.Trong lịch sử thiền tông, Ngài Động Sơn Lương Giới (807-869), khi kiến tánh có làm bài kệ :

切忌从他觅  Thiết kị tòng tha mích (mịch) Rất kị tìm cầu ở người khác

迢迢与我疏  Điều điều dữ ngã sơ           Như vậy là xa với chính mình

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng         Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ          Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã         Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ             Mà mình không phải là nó

应须恁么会  Ưng tu nhẫm ma hội           Phải ngộ được như thế

方得契如如  Phương  đắc khế như như   Mới khế hợp với chân như

Thầy Duy Lực đã giảng như sau (câu 1242)

1242 Xin Sư phụ giải thích bài kệ của ngài Động Sơn Lương Giới

Cái tâm này vô hình, vô thể, vô tướng nên không thể nắm bắt, không thể định nghĩa được, sự suy tư của bộ não con người không thể quan niệm, không thể hiểu được nó. Chính vì vậy Tổ Sư Thiền mới nêu ra tôn chỉ : Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự. Ngôn ngữ có giới hạn, nó diễn tả một khái niệm của ý thức, đó là tưởng tượng, suy tưởng, nghĩ ngợi trong khi tâm là một thực thể vô thể, thực tướng vô tướng không bị giới hạn.

Ngay từ thời Đức Phật không phải là không có văn tự nhưng Phật đã không cho ghi chép. Để hiểu về việc Phật giáo đã không được ghi chép thành văn bản trong thời Đức Phật tại thế và cả mấy trăm năm sau khi Phật nhập diệt, chúng ta cần xem qua về lịch sử kết tập kinh điển.

Ngôn ngữ của Đức Phật và các lần kết tập kinh điển

Theo các nhà nghiên cứu Phật học thì Đức Phật Thích ca đã dùng tiếng Magadhi để thuyết Pháp. Tiếng Magadhi là ngôn ngữ thuộc xứ Magadha (Ma Kiệt Đà摩竭陀) ở vùng trung lưu sông Ganges (Hằng hà).

Đây là xứ Magadha ngày nay là bang Bihar của Ấn Độ nơi có Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya).

Vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà)

Rất nhiều sắc lệnh của Đại đế Asoka được khắc trên các tảng đá lớn và các cây cột lớn được tìm thấy có thể cho chúng ta biết một phần nào về ngôn ngữ mà Đức Phật đã nói như thế nào.

Trụ đá của vua A Dục (Ashoka) khắc bằng chữ viết Magadhi

Vào thời Đức Phật Thích ca thì Kinh Vệ-đà (Vedas) đã có, xuất hiện muộn nhất khoảng 1.500 trước CN, đó là kinh của Bà-la-môn giáo, đã được truyền bá bằng tiếng Sanskrit -Vệ-đà (Vedic Sanskrit). Các nhà khảo cổ đã tìm thấy có bản Kinh đã viết vào khoảng 1.500 trước CN. Các Kinh văn Vệ-đà đã sử dụng cả tiếng Sanskrit Vệ-đà và Sanskrit cổ điển (Classical Sanskrit), đây là các ngôn ngữ rất thanh nhã, uyển chuyển linh động và văn hoa của giai cấp cao trong xã hội. Còn tiếng Magadhi là ngôn ngữ của giới bình dân, đại chúng, nhưng ngôn ngữ này vào thời vua A Dục (304-232 Trước CN) đã có chữ viết khá hoàn chỉnh.

Đoạn ghi chép sau đây trong Luật tạng Nam truyền cho chúng ta thấy quan điểm của Đức Phật về ngôn ngữ kinh điển:
“Vào lúc bấy giờ, hai Tỳ-kheo tên Yamelu và Tekula là hai anh em xuất thân dòng dõi Bà-la-môn có lời nói nhã nhặn với âm điệu ngọt ngào. Họ đã đi đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy đã nói với Đức Thế Tôn điều này:

– Bạch Ngài, hiện nay các Tỳ-kheo có tên gọi khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có giai cấp khác nhau, có gia tộc khác nhau đã xuất gia. Các vị ấy đang làm hỏng lời dạy của Đức Phật bằng tiếng địa phương của chính họ. Bạch Ngài, hãy để chúng con hoán chuyển lời dạy của Đức Phật sang dạng có niêm luật.”

Hoán chuyển lời dạy của Đức Phật sang dạng có niêm luật, có vần có điệu, tức là sử dụng ngôn ngữ tiếng Phạn Vệ-đà (Vedic Sanskrit), thứ ngôn ngữ vốn dành riêng cho giai cấp Bà-la-môn mà hầu hết mọi người dân bình thường thuộc các giai cấp thấp hơn không được quyền học. Do đó, Đức Phật đã bác bỏ ngay đề nghị của hai Tỳ-kheo. Ngài khiển trách rằng:

“Này những kẻ rồ dại kia, vì sao các ngươi lại nói như vầy: ‘Bạch Ngài, hãy để chúng con hoán chuyển lời dạy của Đức Phật sang dạng có niêm luật?’ Này những kẻ rồ dại kia, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, và làm thay đổi niềm tin của một số người đã có đức tin.”

“Này các Tỳ-kheo, ta cho phép học tập lời dạy của Đức Phật bằng tiếng địa phương của chính họ.”

Đức Phật thường nhắc đi nhắc lại, sự giác ngộ tối hậu không dính dáng đến văn tự, người hành giả phải lìa hết mọi văn tự ngôn ngữ mới có thể đi đến giác ngộ tuyệt đối, vào cửa là “học giả” sau đó phải là “hành giả” kiên trì thực tập mới có thể đạt đến “giác giả”. Thời đó, Ngài đã quở trách những kẻ tu hành mà chỉ là những học giả ưa tìm tòi ghi nhớ kiến thức nhưng không hề thực hành, Ngài cho đó là vô ích, gọi họ là “đa văn”, xem đó là tệ đoan và những người như vậy không thể vào Đạo. Khi còn tại thế, vì không muốn đệ tử chấp vào văn tự, Ngài đã từng nói những lời như : “Trong 49 năm ta chưa từng nói một chữ.” (Kinh Kim Cang), “Phàm là lời nói đều không có nghĩa thật.” (Kinh Lăng Nghiêm), “Ta từ đêm được Chánh giác tối thượng cho đến đêm nhập Niết bàn, trong khoảng thời gian ấy, chưa hề thuyết một chữ nào, cũng không đang thuyết hay sẽ thuyết. Không thuyết mới là Phật thuyết.” (Kinh Lăng Già)…

Như vậy trong suốt thời kỳ Đức Phật còn tại thế, Phật giáo không hề có kinh điển ghi chép bằng văn tự. Phật dùng tiếng Magadhi (Ma Kiệt Đà 摩竭陀) là thứ tiếng thông dụng của vương quốc Ma Kiệt Đà để giảng, các đệ tử thấu hiểu và giảng lại cho tín đồ bằng nhiều ngôn ngữ địa phương của họ.

Sau khi Phật nhập diệt 3 tháng thì các tu sĩ  tổ chức cuộc Kết tập Kinh điển lần thứ nhất với khoảng 500 tu sĩ tại ngoại thành Vương Xá (王舍Rajagaha) do Đại Ca Diếp chủ trì, A Nan đọc lại bài giảng, Ưu Bà Ly đọc các giới luật. Thời Đức Phật, tại Ấn Độ, mặc dù đã có văn tự Vedic  của giới quý tộc, và có lần hai Đại Đức Yamelu và Tekula xin phép Phật cho ghi chép bài giảng bằng văn tự nói trên nhưng Phật không đồng ý, vì kinh điển chỉ là phương tiện, e rằng người tu cứ bám chặt vào phương tiện mà quên mất cứu cánh, nên các bài giảng của Phật chỉ được các tu sĩ ghi nhớ thuộc lòng và truyền khẩu cho nhau mà thôi. Kết tập tức là gom lại, cùng nhau tụng đọc, rà soát lại cho thống nhất. Sau lần kết tập này, Kinh Tạng và Luật Tạng được đúc kết. Kinh Tạng có bốn bộ : Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ và Tăng Chi Bộ. Tuy có đúc kết nhưng kinh điển cũng chưa được ghi chép bằng văn tự.

Một trăm năm sau, cuộc Kết tập Kinh điển lần thứ hai được tổ chức với khoảng 700 tu sĩ tại thành Vesali (Tỳ Xá Ly 毗舍離sa. vaiśālī) và Vajji (Bạt Kỳ). Lần này Kinh Tạng có thêm Tiểu Bộ. Luật Tạng được giữ nguyên với 10 giới luật căn bản. Trong lần kết tập này có sự bất đồng giữa hai khuynh hướng, một là bảo thủ, giữ nguyên giới luật như nguyên thủy, đó là khuynh hướng của Trưởng Lão Thuyết Bộ (Sthaviravada hay Sthaviravadin- còn gọi là Thượng Tọa Bộ hàm nghĩa giáo lý của người xưa hoặc còn gọi là Theravada tức giáo lý nguyên thủy), khuynh hướng thứ hai là cải cách về giới luật của Đại Chúng Bộ (Mahasanghika). Sau lần kết tập thứ hai kinh điển cũng chưa được ghi chép bằng văn tự.

130 năm sau nữa, dưới thời vua A Dục (阿育王Asoka 268-232 trước CN), Đại hội Kết tập kinh điển lần thứ 3 được triệu tập với khoảng 1000 tu sĩ do ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu  (Moggaliputta Tissa) chủ trì. Kinh Tạng vẫn là 5 Bộ kinh như hai lần kết tập trước, nhưng có tách riêng một số bài giảng của Phật về tâm pháp, thể tính và sự tướng của vạn pháp, hình thành Thắng Pháp Tạng còn gọi Vi Diệu Pháp hay Luận Tạng. Vua A Dục rất sùng tín Phật giáo, đã gởi 9 phái đoàn để truyền bá đạo Phật ra các nước chung quanh, trong số đó có phái đoàn do hai cao tăng Uttara và Sona đi bằng đường biển đến Suvannabhumi (xứ của vàng ngày nay là Thái Lan) truyền đạo. Sử của Thái Lan và Myanma có ghi nhận công cuộc hoằng pháp của phái đoàn này. Một đoàn khác do Mahoda, con của vua A Dục cầm đầu, đã đến nước Văn Lang của vua Hùng vào năm 240 trước CN.  Trong các đoàn có Đại Đức Mahinda cũng là hoàng tử của vua, cùng với 4 tu sĩ khác, sang đảo Tích Lan (nay là Sri Lanka) hoằng pháp. Mahinda được vua nước Tích Lan giúp đỡ xây dựng chùa Đại Tự Viện (Mahavihara), từ đây phát triển thành phái Đại Tự Viện (Mahāvihāravāsins). Đây là một trong những phái thuộc Thượng Tọa Bộ xuất hiện đầu tiên ở Tích Lan tức Sri Lanka, rồi sau đó được truyền rộng rãi ra nhiều xứ ở Đông Nam Á. Ngày nay, Thượng tọa bộ Phật giáo vẫn rất phổ biến ở Sri Lanka và Đông Nam Á. Thượng tọa bộ ở Việt Nam còn được gọi là Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) dù trong thực tế Thượng tọa bộ chỉ hình thành từ khi Phật giáo phân chia thành các bộ, phái từ Hội nghị kết tập lần thứ hai sau khi Đức Phật nhập diệt 100 năm.

Hội Phật giáo thế giới đã thống nhất quy ước lấy  năm 624 trước Công nguyên (TCN) làm năm sinh của Siddhārtha Gautama Tất-đạt-đa Cù Đàm 悉达多瞿曇 tức là Đức Phật và Ngài sống được 80 tuổi, như vậy Ngài nhập diệt năm 544 TCN, đó là năm bắt đầu của Phật lịch và đến nay năm 2019, Phật lịch là năm 2563.

Vào khoảng hai thập niên cuối cùng (năm 20TCN _20 năm trước khi bước vào Công nguyên tức Phật lịch 524, Phật nhập diệt được 524 năm), khoảng 500 tu sĩ của phái Đại Tự Viện họp lại, do vua Vattagamani triệu tập, tổ chức cuộc Kết tập kinh điển lần thứ 4, tại Tích Lan. Một điểm hết sức đặc biệt là trong lần kết tập này, kinh điển sau hơn 500 năm truyền khẩu, lần đầu tiên được viết thành văn bản trên lá bối.

Kinh Phật viết trên lá bối 2000 năm tuổi phát hiện gần 2 pho tượng Phật bị phá hủy tại Afghanistan

Lá bối (palm leaf) là nguyên liệu được chế tác thành từng miếng để chép kinh

Kinh điển chép tay trên lá bối

Đó là bước đầu hình thành Tam Tạng Kinh, gồm có Kinh Tạng với 5 Bộ Kinh lớn như nói trên, riêng Tiểu Bộ có 15 quyển. Luật Tạng gồm 5 quyển : Căn bản giới, Tiểu giới, Đại phẩm, Tiểu phẩm, Yết ma và Truyền pháp giới. Tạng thứ ba là Thắng Pháp Tạng hay Luận Tạng (Adbidamma Pitaka_A Tỳ Đàm hay A Tỳ Đạt Ma) gồm 7 bộ căn bản. Ngôn ngữ được dùng để ghi chép là tiếng Pali, vốn là ngôn ngữ Paishachi ở phía Tây Ấn Độ, phát triển thành tiếng Pali sử dụng phổ biến trên cao nguyên Decan và Nam Ấn , cũng là ngôn ngữ của Mahinda đến Tích Lan từ mấy trăm năm trước. Đây là kinh điển Phật giáo nguyên thủy (Theravada) thuộc truyền thống Nam Tông, được truyền bá ở các nước phía nam nên còn gọi là Nam Truyền, như  Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, phía nam Việt Nam.

Kinh điển Đại Thừa và Khoa học

Qua lịch sử 4 lần kết tập kinh điển, hơn 500 năm sau khi Phật nhập diệt, Phật pháp mới được ghi chép thành văn tự. Ngay từ lần kết tập kinh điển thứ hai 100 năm sau khi Phật nhập diệt, giáo lý đã phân hóa thành hai hệ phái chính là : Thượng Tọa Bộ (Sthaviravada) còn gọi là Phật giáo nguyên thủy (Theravada) chủ trương giữ nguyên giới luật và giáo lý như xưa. Phái kia là Đại Chúng Bộ (Mahasanghika) chủ trương cải cách để phù hợp với thời thế. Mặt khác trong lần kết tập thứ ba, các vị sư đã tách riêng phần thâm thúy nhất của kinh điển, hình thành Luận Tạng còn gọi là Thắng Pháp Tạng hay Vi Diệu Pháp. Từ đó kinh điển đã có 3 phần rõ rệt là Kinh Tạng bao gồm giáo lý nguyên thủy với nghĩa lý thông thường, Luật Tạng là những quy định và giải thích về giới luật, Luận Tạng là phần Vi Diệu Pháp nói về thắng nghĩa của Phật pháp mà ý nghĩa trung tâm là Tâm, là Tánh Không (ngũ uẩn giai không). Đây chính là chủ đề mà bài viết này nói tới tức là Vô Sinh Pháp Nhẫn cũng tức là Tâm. Long Thọ Bồ Tát nói rằng Tâm như hư không vô sở hữu 心如虛空無所有 nghĩa là tâm giống như hư không, không có thật nhưng nó lại có khả năng tạo ra mọi cảnh giới từ vật chất cho tới tinh thần và tóm tắt trong nhóm chữ “ngũ uẩn giai không” 五蘊皆空 nghĩa là 5 tập hợp : Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (tưởng tượng, suy nghĩ), Hành (chuyển động), Thức (phân biệt) đều là không tức là không có thật.

《金剛經》:“一切有為法如夢幻泡影,如露亦如電,應做如是觀。” Kim Cang Kinh : “Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tố như thị quán” (Tất cả pháp hữu vi đều như mộng huyễn bọt bóng, như sương hay như điện, nên xem xét như vậy)

Pháp hữu vi là pháp có tạo ra, tức là pháp sinh diệt, chẳng hạn con người có sinh lão bệnh tử. Pháp hữu vi là do chuyển động mà phát sinh vọng tưởng chứ không có thật. Chẳng hạn chuyển động của hạt electron khiến ta lầm tưởng là có nguyên tử. Mà bản thân các hạt cơ bản như photon, electron, quark, cũng là do vọng niệm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Trong thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment) các nhà khoa học đã chứng thực chỉ khi có người quan sát thì hạt electron mới xuất hiện. Còn khi không có ai quan sát thì hạt electron chỉ là sóng, không phải vật chất và không có vị trí nhất định.

Hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein đã tranh luận quyết liệt về vấn đề hạt cơ bản của vật chất, cụ thể là hạt photon hoặc hạt electron có sẵn đặc trưng hay không. Einstein cho rằng hạt cơ bản như photon, electron là có thật, là khách quan luôn có sẵn đặc trưng. Lập trường của Bohr gần với Phật giáo hơn nói rằng hạt cơ bản chỉ xuất hiện khi có người quan sát, nếu không có ai quan sát thì hạt cơ bản chỉ là hạt ảo, trừu tượng (Phật pháp nói Nhất thiết pháp vô tự tính, ý nói hạt electron không có sẵn đặc trưng). Niels Bohr nói “Isolated material particles are abstractions”  (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Còn Einstein thì nói rằng :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó dù cho tôi không đang nhìn nó”

Đây là lập trường thực tại khách quan, lập trường này đã bị Alain Aspect dùng bất đẳng thức của John Bell kết hợp với thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) chứng minh là sai vào năm 1982 tại Paris. Đó là thời điểm kết thúc của chủ nghĩa duy vật khách quan, nhưng vì có rất ít người hiểu được lập trường của Bohr, cũng tức là hiểu được Phật pháp, nên tuyệt đại đa số người đời vẫn biết đến Einstein nhiều hơn, tin tưởng ở Einstein nhiều hơn, rất ít người biết đến Bohr. Người đời không thể nào hiểu được tại sao vật chất chỉ là vọng tưởng, không có thật, không thể nào tin nổi. Einstein cơ bản là không tin ở cơ học lượng tử, ông cho rằng nó thiếu sót hoặc thậm chí là sai lầm. Chính vì vậy năm 1935, Albert Einstein, Boris Podolsky và Nathan Rosen (EPR) đã công bố một bài báo trên tạp chí Physical Review mà sau này thường được gọi là nghịch lý EPR. Mục đích của họ là bác bỏ cơ học lượng tử.

Trong khi đó Bohr nói rằng : “Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa bạn chưa hiểu gì về nó.”

Nhưng kết quả của nhóm EPR là họ đã không bác bỏ được cơ học lượng tử mà càng thúc đẩy nó phát triển nhanh hơn, do có nhiều người nghiên cứu để giải quyết vấn đề đúng sai của hai lập trường khác nhau này, âu đó cũng là điều tích cực của giả thuyết sai lầm EPR vậy. Smartphone mà chúng ta đang sử dụng hàng ngày hôm nay chính là thành tựu của cơ học lượng tử, của hạt electron và hạt photon vừa là sóng vừa là hạt và vô sở trụ (non locality) không có vị trí nhất định trong không gian.

Đó là lý do trong thời đại của smartphone ngày nay, thông tin như hình ảnh, văn bản, âm thanh, video đã được số hóa. Chúng biến thành những con số, rất nhiều con số và được phát thành sóng wifi, 3G, 4G, 5G. Sóng đó vô hình và ở khắp mọi nơi. Chỉ khi cái điện thoại thông minh của chúng ta bắt được sóng đó, sóng liền biến thành hạt và xuất hiện trên màn hình thành bài báo, hình ảnh, video hoặc phát lại thành sóng âm ra loa mà tai chúng ta nghe được.

Kết luận

Một số nhà khoa học còn suy nghĩ xa hơn nữa, họ nghĩ rằng bản chất nền tảng của vũ trụ vạn vật không phải là vật chất hay năng lượng. Vật chất hay năng lượng chỉ là biểu hiện mà thôi, còn bản chất nền tảng của vạn hữu chính là thông tin, cũng chính là thức của Duy Thức Học Phật giáo, mà thức cũng chính là tâm, mà tâm cũng chính là vô sinh pháp nhẫn vậy.

Tin học đã phát triển qua thời kỳ máy tính điện tử. Những con chíp vi xử lý (processor) ngày càng có nhiều transitor trên một đơn vị diện tích hơn, nghĩa là khoảng cách giữa các transitor ngày càng thu hẹp lại, hiện nay (cuối năm 2019) người ta đã chế tạo được con chip mà giữa các transitor chỉ còn khoảng cách 7 nano mét (nm) và đang tìm cách giảm xuống chỉ còn 5 nm. Chip Snapdragon 875 mà Qualcomm sẽ cho ra mắt vào năm 2021 vẫn do TSMC (công ty gia công chip lớn nhất thế giới của Đài Loan) sản xuất sẽ có quy trình 5nm. Báo cáo cho biết thêm, chip Snapdragon 875 sẽ được sản xuất bằng quy trình 5nm của TSMC. Như vậy, Snapdragon 875 sẽ có 171,3 triệu bóng bán dẫn (transitor) trên mỗi mm vuông.

Nhưng hiện nay các nhà khoa học đang phát triển máy tính lượng tử có tốc độ xử lý còn nhanh hơn nữa, dựa trên nguyên tắc khác với máy tính điện tử. Máy tính điện tử dựa trên đơn vị thông tin là bit. Bit chỉ có hai trị số là 0 và 1. Còn máy tính lượng tử dựa trên đơn vị thông tin là qubit. Qubit ngoài hai trị số 0 và 1 còn trị số thứ ba và thứ tư chồng chập giữa 0 và 1.

Trong Phật pháp có khái niệm tứ cú (4 câu). Bốn câu là 4 mệnh đề luận lý : Có, Không, Vừa có vừa không, Không phải có cũng không phải không.

Qubit là sự ứng dụng tứ cú vào tin học. Bốn mệnh đề luận lý của Phật pháp được ứng dụng trong thực tế đời thường bằng kỹ thuật siêu việt giúp cho tốc độ xử lý thông tin nhanh hơn gấp bội. Sự nhanh hơn này được mô tả như sau : Trong số hàng tỷ tỷ tỷ lựa chọn, chỉ có 1 lựa chọn đúng. Máy tính điện tử phải so sánh tiêu chuẩn đúng lần lượt trong tỷ tỷ tỷ lần để phát hiện ra cái đúng. Còn máy tính lượng tử có khả năng so sánh cùng lúc tỷ tỷ tỷ lựa chọn nên có thể phát hiện ngay ra cái đúng một cách tức thời. Điều đó gọi là ưu thế lượng tử hoặc tối thắng lượng tử (quantum advantage hay quantum supremacy).

Ngày 23-10-2019 Google đã công bố máy tính lượng tử Sycamore có ưu thế lượng tử tuyệt đối tức là tối thắng lượng tử so với máy tính điện tử. Cụ thể là Sycamore có khả năng giải bài toán mà siêu máy tính Summit của Mỹ nhanh nhất thế giới hiện nay phải mất 10.000 năm mới giải xong, nhưng Sycamore chỉ mất 200 giây để giải xong. Sycamore có khả năng xử lý 53 qubit.

Máy tính lượng tử Sycamore

53 of the qubits that form the fundamental data-processing element at the heart of the system (53 qubits là đơn vị dữ liệu cơ bản ở trung tâm của hệ thống tức là con chip vi xử lý). Đối với máy tính điện tử, chúng ta đã từng biết với các khái niệm vi xử lý 32 bit và 64 bit.

Trong kinh Hoa Nghiêm 华严经  có bài kệ :

若人欲了知  Nhược nhân dục liễu tri  Nếu người muốn biết rõ

三世一切佛  Tam thế nhất thiết Phật Tất cả Phật ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai)

应观法界性  Ưng quán pháp giới tính  Nên quán tính pháp giới

一切唯心造  Nhất thiết duy tâm tạo    Tất cả do tâm tạo

Tính pháp giới là gì ? Pháp giới bao gồm Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới). Tất cả đều là Tâm và vô sở trụ, cũng là Tánh Không [Không có thật (non realism); không có không gian và thời gian (non locality), không có số lượng (non quantity)] Vì vậy nên pháp giới bình đẳng, ở đâu cũng như nhau, mọi sự vật đều như nhau.

Pháp giới tính mà bài kệ đề cập cũng tức là Vô sinh pháp nhẫn với ý nghĩa là tất cả các pháp đều là ảo hóa, không có gì là thật, kể cả thế giới vật chất trong cuộc sống đời thường của chúng sinh.

Vậy vô sinh pháp nhẫn sẽ được ứng dụng trong cuộc sống đời thường như thế nào ?

Đó là lúc tin học phát triển đến trình độ cao, con người sáng chế được máy tính lượng tử có tốc độ xử lý cao gấp hàng tỷ tỷ lần hiện nay. Máy tính đó đủ khả năng phân tích mọi vật thể kể cả thân thể tứ đại của con người thành lượng tử, chuyển đi xa bất cứ đâu, bất cứ khoảng cách là bao xa, chỉ trong thời gian một niệm dù là khoảng cách hàng ngàn năm ánh sáng, theo phương thức liên kết lượng tử, rồi tổng hợp lại thành vật thể như cũ. Nói cho chính xác là không có sự di chuyển, sự vật biến mất ở chỗ này và xuất hiện tức thời ở chỗ khác. Cái đó gọi là viễn tải lượng tử như video sau đây minh họa.

Viễn Tải Lượng Tử- Di Chuyển Vật Thể Di Xa Tức Thời

Mặt khác trình độ in 3D đạt tới siêu việt, có thể sử dụng ánh sáng mặt trời vừa làm nguyên liệu vừa làm năng lượng để in ra mọi thứ cần dùng cho con người từ nhà cửa, xe cộ, lương thực thực phẩm cho tới vật dụng sinh hoạt hàng ngày, không giới hạn, đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, không ai cần phải tranh giành nữa. Những phế phẩm có thể biến hoàn toàn thành lượng tử để tái sử dụng nên địa cầu không còn rác thải nữa.

Vô sinh pháp nhẫn có thể giúp con người đi tới cảnh giới đó không ? Chúng ta hãy chờ xem.

Truyền Bình

 

Đăng tải tại Bài viết | 2 phản hồi

VÔ TÌNH THUYẾT PHÁP HỮU TÌNH NGHE

Trước hết xin được giải thích ý nghĩa các thuật ngữ vô tình và hữu tình. Trong Phật pháp, vô tình chỉ những vật vô tri như gỗ, đá, sông, núi…chúng không có ý thức, không có tình cảm. Còn hữu tình là chỉ những sinh vật có ý thức, có tình cảm như súc vật, con người v.v…

Phật pháp cũng phân chia tất cả các pháp trong Tam giới thành 4 loại gọi là Tứ tướng 四相như sau :

1/Ngã tướng 我相 : đó là hình thức con người cho rằng cái tôi của mình bao gồm thể xác, tinh thần và những cái của mình (ngã sở) là có thật.

2/Nhân tướng 人相: là hình thức đối lập với ngã tướng, chỉ người khác và cho rằng đó không phải là ta

3/Chúng sinh tướng 眾生相: là chỉ chung sinh vật, loài hữu tình bao gồm loài người và tất cả các loài sinh vật khác.

4/Thọ giả tướng 壽者相:chỉ chung tất cả các pháp sinh diệt bao gồm cả con người, tất cả các loài sinh vật, tất cả những cái không phải sinh vật như gỗ, đá, nước, không khí, hành tinh, thiên thể…Bởi vì tất cả các pháp sinh diệt đều có tuổi thọ nhất định gọi là thọ giả tức cái có thọ mệnh, có thời gian sống tức tuổi thọ nhất định mặc dù rất lâu dài như mặt trời, hành tinh, thiên thể.

Thọ giả tướng là thuật ngữ bao hàm nhất, trừ 3 loại đầu là loài hữu tình, phần còn lại của thọ giả tướng là loài vô tình.

Về việc vô tình thuyết pháp, có một câu chuyện mà kinh điển có ghi chép như sau :

Động Sơn Lương Giới (洞山良价807-869)đến tham bái ngài Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐771-853)hỏi, “Mới đây con nghe nói Nam Dương Huệ Trung Quốc Sư (南陽慧忠675 ?-775) có cuộc pháp thoại về vô tình thuyết pháp, con không hiểu được ý nghĩa vi tế.” Quy Sơn nói: “Con có nhớ pháp thoại đó không?” – “Có nhớ.” Quy Sơn nói: “Hãy nói ra xem.” Động Sơn nói: “Một vị tăng hỏi: ‘Tâm của Cổ Phật là gì?’ Quốc sư trả lời: ‘Rào, tường, ngói, đá.’ Vị tăng hỏi: ‘Rào, tường, ngói đá có phải là loài vô tình không?’ Quốc sư nói: ‘Phải.’ Tăng hỏi: ‘Có biết thuyết pháp không?’ Quốc sư nói: ‘Thuyết pháp không dừng nghỉ.’ Vị tăng hỏi: ‘Sao con không nghe?’ Quốc sư nói: ‘Ông không nghe nhưng không thể cản trở người khác nghe.’ Tăng hỏi: ‘Ai nghe được?’ Quốc sư nói: ‘Các bậc Thánh nghe được.’ Vị tăng hỏi: ‘Hòa thượng có nghe không?’ Quốc sư nói: ‘Ta không nghe.’ Vị tăng hỏi: ‘Hòa thượng không nghe làm sao biết là vô tình có thể thuyết pháp?’ Quốc sư nói: ‘Nhờ ta không nghe, nếu ta nghe thì đồng với các bậc Thánh, ông sẽ không được nghe ta dạy.’ Vị tăng hỏi: ‘Như vậy chúng sanh không dự phần trong đó sao?’ Quốc sư nói: ‘Ta thuyết pháp vì lợi ích của chúng sanh, không phải cho các vị thánh.’ Vị tăng nói: ‘Sau khi chúng sanh nghe rồi thì thế nào?’ Quốc sư: ‘Tức không phải là chúng sanh.’ Vị tăng nói: ‘Kinh nào làm căn cứ cho việc thuyết pháp của loài vô tình?’ Quốc sư nói: ‘Những lời không hợp với kinh điển thì không phải là lời của người học đạo. Ông có đọc kinh Hoa Nghiêm chưa? Kinh nói rằng đất thuyết pháp, chúng sanh thuyết pháp, mọi vật trong ba thời quá khứ hiện tại tương lai thuyết pháp.”

Theo như ý nghĩa trong câu chuyện thì trong kinh Hoa Nghiêm nói cả loài hữu tình và vô tình đều đang thuyết pháp. Rào tường ngói đá hay chúng sinh đều là tâm Phật không có gì khác nhau cả. Sự khác nhau chỉ là do chúng sinh phân biệt thôi chứ không có thực chất.

Đất thuyết pháp, biển thuyết pháp, gió thuyết pháp, núi sông thuyết pháp…đó đều là vô tình thuyết pháp, các bậc thánh và cả con người nghe thấy tiếng thuyết pháp đó, các sinh vật khác cũng nghe thấy tiếng thuyết pháp đó nên gọi là hữu tình nghe mặc dù đó không phải là ngôn ngữ của loài người. Con người cũng như các sinh vật khác sống trên mặt đất hoặc trong lòng biển hoặc trong sông núi đều nghe thấy tiếng thuyết pháp, nghe bằng tánh nghe, tánh thấy, tánh biết, không phải nghe bằng lỗ tai và ngôn ngữ loài người.

Nhưng ngày nay thì càng rõ ràng hơn, dễ thấy, dễ chấp nhận hơn, cái computer, cái laptop, cái điện thoại di động, video clips, files mp3…chúng đều là vật vô tình nhưng rõ ràng có thể thuyết pháp cho con người nghe bằng ngôn ngữ của loài người.

Từ đây chúng ta có thể nhận định tứ tướng đều là tâm. Đã là tâm thì không còn phân biệt vô tình hữu tình nữa. Hay nói cho rõ hơn, sự phân biệt chỉ là giả tạm không có thực chất. Một con người và một đồ vật khác nhau ở chỗ nào ?

Một đồ vật, một loài vô tình, chẳng hạn con robot, với trí tuệ nhân tạo AI (Artificial Intelligence) nó có thể làm những việc mà trước đây chỉ có con người làm được như đi đứng, nói năng, giao tiếp, thuyết pháp, thậm chí nó cũng có thể biểu hiện tình cảm. Có một số lĩnh vực con robot làm còn giỏi hơn con người, chẳng hạn về mặt dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, nó có thể dịch nhanh hơn con người hàng triệu lần, nó có thể thông thạo tất cả mọi ngôn ngữ của loài người, tuy rằng về mặt chính xác trong dịch thuật, hiện nay nó chưa bằng con người.

Tại sao về mặt bản chất vô tình và hữu tình là không khác nhau ?

Bởi vì vô tình và hữu tình đều là tâm. Vô tình là rào, tường, ngói, đá ; hữu tình là con người. Tại sao rào tường ngói đá và con người đều là tâm, có gì chứng tỏ ?

Bởi vì nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 nghĩa là Tất cả các pháp đều không có đặc điểm tính chất riêng, hiểu cho triệt để là tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều không có đặc điểm gì cả. Chúng vốn chỉ là sóng tiềm năng không có thật, và chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Hạt cơ bản chính là cái mà kinh Lăng nghiêm nói là hoa đốm trong hư không. Khoa học thế kỷ 20 và 21 đã chứng tỏ điều đó trong 2 thí nghiệm : liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 và thí nghiệm 2 khe hở (double slit experiment). Tại sao khi có người quan sát thì hạt electron mới xuất hiện và có các đặc điểm như các nhà khoa học đã đo đạc ? Bởi vì đặc điểm là do người quan sát tưởng tượng ra và gán ghép cho hạt chứ nó vốn là không có sẵn. Vô hình trung khoa học đã chứng tỏ một ý vô cùng quan trọng trong kinh điển : Nhất thiết duy tâm tạo 切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo. Tâm tạo ra hạt cơ bản và các cấu trúc như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cơ thể sinh vật. Khoa học hoàn toàn lý giải được ngũ uẩn giai không.

Tiến sĩ Masaru Emoto, chủ tịch Viện Hado Quốc tế (IHM= International Hado Membership) và là tác giả cuốn sách “Thông điệp của Nước”, đã tiến hành các thí nghiệm qua đó kết luận rằng các nhân tố như sự ô nhiễm, âm nhạc, và suy nghĩ của chúng ta có thể tác động đến hình dạng của tinh thể nước.

Khi hai từ “Tình thương” và “Cảm ơn” được đọc hướng vào những mẫu nước, các tinh thể tạo nên một hình dạng tuyệt đẹp. Khi mẫu nước được tiếp xúc với các từ ngữ mang tính chất tiêu cực như “Tôi ghét bạn”, các tinh thể sẽ tạo nên hình dạng hỗn loạn và vô trật tự. Các kết quả tương phản là rất đáng kinh ngạc và phản ánh trực tiếp ảnh hưởng của tâm trí con người lên vật chất. Đó cũng là biểu hiện Nhất thiết duy tâm tạo.

Vậy rào, tường, ngói, đá vốn chỉ là những vật ảo do con người tưởng tượng ra theo 2 cơ chế Nhất thiết pháp vô tự tính và Nhất thiết duy tâm tạo như trên đã nói. Thân tứ đại của con người cũng như con robot cũng là do con người tưởng tượng và làm ra. Như vậy thì bản chất của chúng cả vô tình và hữu tình là do tâm tạo và không có gì khác nhau, bản chất của chúng là thức tức là thông tin. Thông tin đó có thể mã hóa bằng con số. Cả vũ trụ vạn vật đều có bản chất là thông tin và có thể mã hóa thành con số.  Khoa học hiện đại của thế kỷ 21 đã truy nguyên nguồn gốc của chúng và thấy rằng chúng là lượng tử (quantum). Tiếp tục truy nguyên nữa thì thấy rằng chúng là thông tin (information). Toàn bộ vũ trụ vật chất cũng chỉ là thông tin tương ứng với Duy Thức Học Phật giáo nói rằng Vạn Pháp Duy Thức.

Tinh thể nước cũng là tâm. Khi tâm nghĩ tới điều tốt đẹp thì tinh thể nước biểu hiện hình ảnh đẹp. Khi tâm nghĩ tới điều xấu thì tinh thể nước biểu hiện hình ảnh xấu.

Tâm là một dạng thông tin vô phân biệt, một dạng sóng tiềm năng vô hình (không có tự tính, không phân biệt thiện ác, tốt xấu). Trong tin học thì thông tin đó có dạng số (digital) và cũng chỉ là dữ liệu chưa có ý nghĩa, chưa có đặc điểm hay tính chất gì. Chỉ khi con người khởi niệm, phân biệt thì sóng tiềm năng đó mới biến thành hạt cơ bản của vật chất và có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin như trong thí nghiệm 2 khe hở đã cho thấy rõ :

Khi không có người quan sát, không có tâm niệm thì hạt electron chỉ là sóng

Khi có người quan sát, có nhất niệm vô minh khởi lên thì sóng mới biến thành hạt electron

Tương tự như vậy, trong tin học khi các dãy số trong dữ liệu được thay thế bằng những đặc điểm theo quy ước thì màn hình mới hiện ra chữ viết, hình ảnh, video và loa phát ra âm thanh.

Như vậy tâm trong thế giới đời thường và dữ liệu thông tin trong computer là hoàn toàn tương ứng.

Chính vì vậy Craig Hogan, giáo sư thiên văn học và vật lý tại Đại học Chicago và là giám đốc của Trung tâm vật lý thiên văn hạt Fermilab (Fermilab Center for Particle Astrophysics). Ông nói rằng vũ trụ có thể là Số

Do We Live in a Two-Dimensional Universe? An Interview with Physicist Craig Hogan :

The Holographic Principle describes the Universe as a finite set of data stored on the two-dimensional edge of the cosmos.  From that data, all the information that describes everything in existence is “projected”, in the same way a three-dimensional hologram is projected from a two-dimensional surface.

Có phải chúng ta sống trong một vũ trụ hai chiều không? Một cuộc phỏng vấn với nhà vật lý Craig Hogan:
Nguyên lý toàn ảnh mô tả Vũ trụ như một tập hợp dữ liệu hữu hạn được lưu trữ trên bề mặt hai chiều của vũ trụ. Từ dữ liệu đó, tất cả các thông tin mô tả mọi thứ tồn tại đều được “chiếu”, giống như cách hình ba chiều được chiếu từ bề mặt hai chiều.

When people hear hologram or projection, they think “illusion”.  As the Fermilab’s FAQ (Frequently Asked Question = Câu hỏi thường gặp)

page puts it succinctly, all three spatial dimensions and everything in them are real, it’s just that the Universe only needs two dimensions to store the data required to describe it all.  The spatial dimensions with which we are familiar, are considered “emergent”.  It emerges from the two-dimensional information.

Khi mọi người nghe hình ba chiều hoặc hình chiếu, họ nghĩ “ảo ảnh”. Vì trang FAQ (Frequently Asked Question =Câu hỏi thường gặp) của Fermilab đặt nó một cách ngắn gọn, cả ba chiều không gian và mọi thứ trong đó đều là thật, chỉ là Vũ trụ chỉ cần hai chiều để lưu trữ dữ liệu cần thiết để mô tả tất cả. Các kích thước không gian mà chúng ta quen thuộc, được coi là “xuất hiện”. Nó nổi lên từ thông tin hai chiều.

Professor Hogan and his team are looking for something called “holographic noise”. They are trying to determine if, at the finest level–“the Plank length”–the Universe is composed of discreet, individual values, like the 1’s and 0’s in the binary system of a computer code.

Giáo sư Hogan và nhóm của ông đang tìm kiếm một thứ gọi là “tiếng ồn toàn ảnh”. Họ đang cố gắng xác định xem, ở mức độ vi tế nhất – “độ dài Plank” – Vũ trụ bao gồm các giá trị bí ẩn, riêng biệt như 1 và 0 trong hệ thống nhị phân của mã máy tính. (Nghĩa là chúng có bản chất là số).

Tiếng ồn toàn ảnh đã được phát hiện vào ngày 17-01-2012

Tiếng Ồn Toàn Ảnh- Holographic Noise

Tiếng ồn toàn ảnh là một minh chứng rằng thuyết Vũ trụ là số có cơ sở thực tế.

Và Craig Hogan cũng đã nghĩ tới bit thông tin của vũ trụ, ông diễn tả như sau :

Bit thông tin vũ trụ theo lập luận của Craig Hogan

Độ dài Planck được định nghĩa như sau:

Trong đó : lp là độ dài Planck

ħ là hằng số Planck đơn giản

G là hằng số trọng trường

C là vận tốc ánh sáng trong chân không

Quy tròn độ dài Planck lp = 1,61624 x 10-35 m (metre)

Diện tích Planck AP = 2.61219415 × 10-70 m2

Như vậy bit thông tin vũ trụ chiếm một diện tích mặt phẳng bằng 4 lần diện tích Planck (AP)

Ngoài ra còn những lý thuyết gì của giới khoa học chứng tỏ rằng vũ trụ không phải là có thật ?

Vũ Trụ của chúng ta có phải là giả lập không ?

Vũ trụ giả lập tức vũ trụ 3D là vũ trụ mà Thái dương hệ và quả Địa cầu của chúng ta đang ở trong đó nhưng theo lý thuyết của một số nhà khoa học, đó chỉ là hình chiếu lập thể của những dữ liệu thông tin 2D chứa trong mặt phẳng 2 chiều. Chính dữ liệu 2D này mới là bản chất thật của vũ trụ. Còn vũ trụ 3D và cuộc sống trên thế gian chỉ là giả lập. Họ đưa ra lý thuyết rằng có một nền văn minh nào đó đã giả lập ra vũ trụ mà chúng ta đang thấy và đang sống trong đó. Và khi nền văn minh của con người đạt tới trình độ đủ cao, họ cũng có thể giả lập ra một vũ trụ khác. Và cứ thế mà tiếp tục. Như vậy nhiều vũ trụ cứ chồng chất lên nhau.

Các nhà khoa học tuy đã gần như chắc là vũ trụ của chúng ta là giả lập nhưng vẫn còn mơ hồ về một bản gốc của tất cả các vũ trụ giả lập chồng chất lên nhau đó. Và họ hoàn toàn không có khả năng phát giác ra bản gốc. Tại sao ? Bởi vì phương pháp của họ là tư duy, là lý luận, là lô-gích. Mà phương pháp này bị giới hạn bởi định lý bất toàn (Theorem of Incompleteness) do Kurt Gödel (1906-1978) nhà toán học người Áo đưa ra năm 1931 . Định lý này phát biểu thành 2 định lý :

Định lý 1Nếu một lý thuyết dựa trên một hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì trong lý thuyết ấy luôn luôn tồn tại những mệnh đề không thể chứng minh cũng không thể bác bỏ.

Định lý 2Không tồn tại bất cứ một quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính phi mâu thuẫn của một hệ tiên đề.

Áp dụng định lý bất toàn vào việc chứng minh vũ trụ mà chúng ta đang sống trong đó là giả lập bằng tư duy và lý luận thì sẽ dẫn tới kết quả là không thể chứng minh cũng không thể bác bỏ, bởi vì không có quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính phi mâu thuẫn của lý thuyết vũ trụ giả lập.

Ý nghĩa thực tế của nó là các nhà khoa học có thể tạo ra một vũ trụ giả lập bằng một siêu máy tính cực mạnh nhưng các nhà khoa học không thể làm chủ được bản thân mình, không thể sinh tử tự do, không thể muốn đi tới đâu cũng được tùy ý, cũng không thể phát hiện được bản gốc của vũ trụ mình đang sống.

Điều mà các nhà khoa học không thể làm được thì các thiền sư chân chánh lại làm được. Các thiền sư của Tổ Sư Thiền không dùng tư duy lý luận, cũng không quán tưởng, chỉ bằng cách phát khởi nghi tình và không tìm cách lý giải nhưng họ lại tiếp xúc được với bản gốc của vũ trụ mà thuật ngữ Phật giáo gọi là Phật, Phật tánh (tánh giác ngộ, tánh biết), Chánh biến tri, Như Lai v.v…có rất nhiều tên gọi.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên 五灯会元 quyển 7 kể về Ngộ An thiền sư 遇安禅师 ở chùa Thụy Lộc 瑞鹿寺 chuyện xảy ra vào đời Bắc Tống năm 995 Công nguyên.
Ngộ An thiền sư trước khi lâm chung tự mình tắm rửa thật sạch sẽ, thay quần áo sạch. Sau khi tĩnh tọa một hồi bèn tự mình vào nằm trong quan tài, đậy nắp lại. Qua ba ngày, các đệ tử muốn tưởng niệm sư phụ bèn mở nắp áo quan, thấy sư phụ đã chết rồi, mọi người đau buồn khóc lên thống thiết. Lúc đó bỗng nhiên sư phụ ngồi dậy rồi thăng đường nói với đại chúng : “ Nếu lần sau mà có người nào còn lén mở nắp áo quan thì không phải là đệ tử của ta” Nói xong lại tự vào trong áo quan nằm và lần này thì viên tịch thật. Sư Ngộ An không chỉ đạt được sinh tử tự tại, tức muốn đi lúc nào thì đi, mà còn có khả năng sau khi nhập quan ba ngày, vẫn có thể tùy ý sống lại, điều đó chứng tỏ sống chết chỉ là hiện tượng giả tạo không phải có thật.

Chẳng những thiền sư ngộ đạo sinh tử tự do mà hàng cư sĩ cũng có thể kiến tánh và sinh tử tự do :

Trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc có một câu chuyện người thật việc thật được ghi lại trong sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục 景德傳燈錄 Đó là câu chuyện một gia đình bốn người đều kiến tánh giác ngộ, đạt được sinh tử tự do.

Gia đình của Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường) người huyện Hành Dương 衡陽 tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc, tự là Ðạo Huyền 道玄. Ông sống tại chân núi Lộc Môn 鹿門 với vợ và hai con: một gái tên Linh Chiếu 靈照, một trai tên Canh Hoạch 耕获, tên chữ là Bàng Đại Chính 龐大正. Tất cả gia đình tu theo Thiền tông, và đều đã ngộ đạo hết. Sau khi đốn ngộ, ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông Tương 湘江, căn nhà thì cúng dường để xây chùa. Ông cất một thất nhỏ để ở tu. Cô Linh Chiếu thường theo cha hầu hạ, chuyên việc chẻ tre đan rổ, bện sáo, đem ra chợ bán để nuôi cha. Họ đã từ bỏ tất cả tài sản giàu có để sống bằng việc làm lụng cực nhọc và ăn uống kham khổ, mà vẫn vui sống. Người con trai thì lo việc trồng trọt để nuôi mẹ. Ông Bàng Uẩn thường đi nhiều nơi để tham vấn các vị thiền sư nổi danh thời đó. Theo Thiền tông thì việc đi tham vấn là phương pháp cần thiết để học hỏi và trao đổi những kinh nghiệm tu tập, các thầy còn khuyến khích đệ tử của mình phải đi tham vấn, chứ không có ngăn cản. Bàng Uẩn đã gặp nhiều Thiền Sư nổi tiếng như Thạch Ðầu Hi Thiên 石頭希遷, Mã Tổ Đạo Nhất 馬祖道一, Ðơn Hà Thiên Nhiên 丹霞天然 và đều được các vị ấy chứng nhận kiến tánh. Khi gặp Thạch Ðầu, Ông được coi như đã giải ngộ, nhưng sau đó được gặp Mã Tổ thì ông mới thiệt triệt ngộ và ở lại với Mã Tổ hơn một năm. Ông có làm chừng ba trăm bài kệ và được truyền rộng rãi.
Nét tiêu biểu trong cuộc sống gia đình của ông là :
有男不婚,有女不嫁 Hữu nam bất hôn, hữu nữ bất giá (Có con trai không cưới vợ, có con gái không gả chồng)
大家團樂頭,共說無生話 Đại gia đoàn lạc đầu, cộng thuyết vô sinh thoại. (Cả nhà vui vẻ đoàn tụ, cùng nói chuyện vô sinh)
Lúc sắp tịch, ông bảo Linh Chiếu ra ngoài xem, khi nào mặt trời đúng ngọ vào cho ông hay. Linh Chiếu ra xem rồi vào thưa: “Mặt trời đã đúng ngọ, nhưng lại bị sao thiên cẩu ăn mất (nhật thực)” Tưởng thật, ông rời chỗ ngồi bước ra xem thì Linh Chiếu đã ngồi vào bồ đoàn của ông, tịch trước. Ông vào thấy vậy, cười nói: “Con gái ta lanh lợi quá !” rồi phải dời việc nhập diệt lại bảy ngày sau, vì còn phải lo hậu sự cho Linh Chiếu.
Lúc đó có quan Châu Mục của Tương Châu là Vu Khẩu đến thăm và vị này có yêu cầu ông để lại một lời di huấn. Sách Truyền Đăng Lục chép :
當襄州州牧于□來探病時,他說:“但願空諸所有,慎勿實諸所無” 說完,便枕著于□的 膝,怡然入寂 (Lúc quan Tương Châu Mục là Vu Khẩu đến thăm bệnh, ông nói “Chỉ nguyện buông bỏ hết tất cả những cái mình có, cẩn thận đừng có ôm vào thực hiện tất cả những cái mình không có” nói xong bèn nằm lên đầu gối của Vu Khẩu mà an nhiên tịch diệt).
Vợ ông thấy tình hình như vậy, nói: 這痴女和無知老漢竟然不告而別,何其忍心啊 “Con gái ngu si với ông già vô tri, thật là không báo tin mà đi, sao nhẫn tâm vậy!” Bà đi ra ngoài đồng báo tin cho con trai, em của Linh Chiếu. Người con trai đang cuốc đất, nghe tin xong bèn đứng ôm cán cuốc mà tịch. Bàng phu nhân thấy thế bèn nói: 你這小子更愚蠢了(thằng nhỏ này lại càng ngu xuẩn !) rồi lo việc hỏa táng cho con trai xong, bèn nói :
“坐臥立化未為奇,不及龐婆撒手歸。雙手撥開無縫石,不留蹤跡與人知”
[Ngồi, nằm, đứng mà hóa cũng chẳng phải việc lạ, không bằng Bàng Bà này buông tay mà về. Hai tay ta vạch khối đá không có kẽ nứt (ý nói giống như Ma Ha Ca Diếp vạch tảng đá ra để ẩn thân), không để lại tung tích cho người đời biết]. Rồi bà đi vào rừng sâu núi cao mà biệt tăm.
Sau đó Vu Khẩu đã ghi chép những mẩu chuyện, những bài thơ và viết cuốn “Bàng Uẩn ngữ lục” Sách này đã được R.F. Sasaki, Y. Iriya và D.R. Fraser dịch ra Anh văn tựa đề ” A Man of Zen – The Recorded Sayings of Layman P’ang”. (Một Thiền nhân- Ngữ lục của Bàng Cư sĩ).
Qua nghiên cứu thư tịch cổ, tôi có nhận xét rằng Bàng Uẩn, Linh Chiếu và Canh Hoạch đã chứng quả A La Hán, riêng Bàng phu nhân chứng quả Bồ Tát, ngang tầm với Ma Ha Ca Diếp. Nói cách khác, trong vở kịch gia đình Bàng Uẩn, các vị La Hán đóng vai Bàng Uẩn, Linh Chiếu và Canh Hoạch, còn Quán Thế Âm Bồ Tát đóng vai Bàng phu nhân.
Đối với người đời, nếu lâm vào hoàn cảnh của Bàng phu nhân thì thật là khủng khiếp, trong vòng một tuần mà con gái, chồng và con trai đều qua đời, thật là họa vô đơn chí, thảm họa đời người. Nhưng đó là gia đình giác ngộ, mọi người đều sinh tử tự do, họ đều giác ngộ thế gian chỉ là huyễn ảo, không có thật, không có gì phải sợ hay phải khổ cả. Cuộc sống thế gian chỉ là vở kịch. Người xưa và chúng ta hiện nay đều đang chơi trò chơi Nhân Loại trên thế gian.

Kết luận

Phật pháp đã phân loại tất cả các pháp trong vũ trụ thành 4 loại gọi là tứ tướng như đã nói trên. Trong 4 loại này chúng ta có thể gom lại nữa chỉ còn 2 loại thôi, đó là vô tình và hữu tình.

Môn Vật lý học, Hóa học, Thiên văn học hay nói chung là khoa học tự nhiên (natural sciences) của nhân loại là nghiên cứu về loài vô tình. Môn Toán học, Sinh vật học, Tôn giáo, Triết học, Lịch sử, Địa lý, Văn học, Kinh tế, Chính trị, Tâm lý học, Xã hội học…nói chung là khoa sinh học và xã hội nhân văn (biological human and social sciences) nghiên cứu về loài hữu tình.

Nhưng sự phân biệt vô tình, hữu tình chỉ là vọng tưởng của người thế gian. Đối với người giác ngộ thì sự phân biệt này chỉ là giả tạm, không có thực chất, vì lẽ Nhất thiết duy tâm tạo. Tất cả các pháp đã là do tâm tạo thì vô tình hay hữu tình bản chất chẳng có khác gì nhau, tất cả đều là tâm. Hơn nữa tâm đó là trí vô phân biệt, là Tánh Không chẳng có nghĩa lý gì cả, nhưng lại bao hàm tất cả mọi nghĩa lý, tất cả tứ tướng đều gồm đủ trong đó. Tâm chẳng có quá khứ, chẳng có hiện tại, chẳng có vị lai, tóm lại chẳng có thời gian, chẳng có không gian, chẳng có số lượng, nhưng cái gì cũng có, cái gì tâm cũng có thể tạo ra. Những cái tâm tạo ra thì không phải là có thật cũng không phải là không có. Tóm lại tâm là gì thì không thể khẳng định cũng không thể phủ định. Kinh Kim Cang gọi đó là Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm này).

Cơ học lượng tử thế kỷ 21 có một thí nghiệm biểu diễn đầy đủ cái tâm này, đó là thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Khoa học (Science) năm 2017 mô tả các nhà khoa học đã có thể tạo ra các photon vướng víu lượng tử trên vệ tinh Mặc Tử có quỹ đạo cách trái đất gần 500 km và truyền các photon này đến 2 phòng thí nghiệm trên mặt đất cách nhau 1.200km mà vẫn duy trì được sự vướng víu giữa các hạt.

Khoảng cách giữa hai phòng thí nghiệm tại Delingha (德令哈 Đức Linh Cáp)và Lijiang (丽江 Lệ Giang) là 1200 km. Khi tác động vào một photon ở Delingha thì tức thời photon ở Lijiang bị tác động theo không mất chút thời gian nào, suy ra rằng khoảng cách 1200km là không có thật, thời gian để tín hiệu đi 1200 km đó cũng không có thật. Từ một photon người ta đã tạo ra vô số photon xuất hiện đồng thời giữa hai nơi đó, điều đó chứng tỏ rằng số lượng photon cũng không có thật.

Thí nghiệm này đủ để kết luận rằng không gian, thời gian, số lượng chỉ là do tâm tưởng tượng ra chứ không có thật. Giả thuyết vũ trụ nổ Big Bang của khoa học cũng nói rằng ban sơ vũ trụ chỉ là một hạt cực vi, vụ nổ khiến cho hạt đó xuất hiện thành vô số hạt và thành cái vũ trụ mà chúng ta đang thấy.

Tóm lại sự phân biệt vô tình và hữu tình không có thực chất. Vô tình thuyết pháp hữu tình nghe chẳng có gì lạ. Tổ Sư Thiền dạy rằng : Vô sở cầu, Vô sở đắc, Vô sở úy (sợ). Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng : Vô lão tử, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Tất cả chỉ là ảo hóa của tâm.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 4 phản hồi

NGƯỜI TRẺ CẦN TRANG BỊ KIẾN THỨC GÌ ?

Chúng ta thấy trong hình là Sulli và Jonghyun, họ đang cười rạng rỡ. Nhưng cuộc sống thật sự của họ không hạnh phúc, tâm họ bất an, bị trầm cảm nặng và cả hai đều đã tự tử chết. Jonghyun chết ngày 18-12-2017 còn Sulli tự tử ngày 14-10-2019.
Áp lực của danh tiếng, búa rìu dư luận và tự vấn bản thân, cả Sulli và Jonghyun đều nếm trải. Nếu Jonghyun dằn vặt vì anh và nhóm nhạc SHINee vẫn chưa tiến xa như mong muốn, thì Sulli đúng nghĩa bị hắt hủi khi cô làm gì dư luận cũng không hài lòng. Những gánh nặng đó nhấn chìm chàng trai cô gái còn trẻ măng, hoàn toàn đối lập với những hứa hẹn đẹp đẽ khi họ bước chân vào showbiz.
Câu hỏi là tại sao các nghệ sĩ này bị lệ thuộc vào những thứ đó, vì những thứ đó mà chết thì có đáng không ? Có thể nào chúng ta vẫn đam mê nghệ thuật, vẫn phấn đấu hết mình mà không bị lệ thuộc, vẫn sống an tâm và lành mạnh ?
Trong rất nhiều lĩnh vực khác chứ không riêng về nghệ thuật, đều có những áp lực như vậy, có thể nào chúng ta vẫn an tâm trụ vững không ?
Câu trả lời là có, nó đến từ sự giác ngộ mà Đức Phật và các vị Tổ Sư đã giảng thuyết từ lâu, các bạn trẻ nên trang bị cho mình. Chỉ cần thấu hiểu vài ba nguyên lý cơ bản nhất của thế giới. Ở đây tôi chỉ xin giới thiệu 3 nguyên lý :
1/ Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 nghĩa là những cặp mâu thuẫn như đẹp-xấu, hay-dở, khen-chê, thành công-thất bại… đều không có nghĩa thật, không có sẵn ý nghĩa.
Vậy thì ý nghĩa ở đâu mà ra ? Ý nghĩa từ nguyên lý thứ hai mà ra.
2/ Nguyên lý thay thế : người đời gán ghép vọng tưởng của mình cho các pháp, ngụy tạo ra các ý nghĩa. Tức là xã hội và chính mình ngụy tạo ra ý nghĩa đẹp xấu, hay dở, khen chê, rồi gán cho người này hay người kia dở, người này đẹp người kia xấu.
Chính hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Albert Einstein và Niels Bohr cũng đã tranh cãi suốt đời về nguyên lý 1 . Họ cãi nhau về việc hạt photon có sẵn đặc điểm đặc trưng hay không. Einstein cho rằng hạt photon luôn luôn có sẵn đặc trưng. Bohr thì cho rằng đặc trưng không có sẵn, chỉ khi có người quan sát thì đặc trưng mới xuất hiện. Đến năm 1982 thì Alain Aspect đã làm thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) và chứng minh rằng Bohr đúng, Einstein sai. Nghĩa là chính hạt cơ bản của vật chất như photon, electron cũng không có sẵn đặc trưng. Những đặc điểm của chúng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin…đều là do con người tưởng tượng và gán ghép chứ chúng vốn không có sẵn.
Hai nguyên lý trên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Mọi sự đánh giá khen chê của thế nhân đều là gán ghép và không hề có nghĩa thật, chỉ có một ý nghĩa tương đối, giá trị hết sức tương đối bởi vì là do tưởng tượng ngụy tạo. Mọi người không nên quá bận tâm. Chính vì vậy Phật giáo có nguyên lý thứ 3 :
3/ Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 Tất cả đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra. Không có gì là thật cả.
Các bạn trẻ tự tử vì những điều vớ vẩn, thật mê lầm, thật đáng thương xót. Sulli và Jonghyun chỉ cần hiểu 3 nguyên lý này thôi, thì họ sẽ phát sinh nghi ngờ và đã không làm chuyện dại dột.

Truyền Bình

Đăng tải tại Nhà sau | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ý THỨC VÀ MẠT-NA THỨC

Trong 8 thức của Duy Thức học Phật giáo, Ý thức là thức thứ 6, còn Mạt-na là thức thứ 7. Vậy hai thức này giống và khác nhau như thế nào ?

Ý thức (conciousness)  

Ý thức là một thức tổng hợp nhận biết và xử lý tiền ngũ thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc thân thể) để thành một một nhận thức tổng hợp, phân biệt rõ ràng từ đó phát sinh khái niệm về vật chất, cảnh giới tinh thần, tư tưởng, tập quán, văn hóa, triết học, tôn giáo, khoa học, tất cả những cái tạo ra nền văn minh nhân loại. Tóm lại ý thức dựng lên cảnh giới vật chất và tinh thần của con người.

Cơ sở của ý thức là lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ) và lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Lục căn tiếp xúc với lục trần phát sinh ra lục thức bao gồm tiền ngũ thức và ý thức như nói trên. Một điểm cực kỳ quan trọng là não bộ tiếp xúc với pháp phát sinh ra toàn bộ cuộc sống xã hội văn minh của con người. Theo Phật pháp thì cuộc sống xã hội đời thường của con người không phải là có thật mà chỉ là tưởng tượng phát sinh từ bộ máy cực kỳ tinh xảo của thân tứ đại của con người trong đó bộ phận quan trọng nhất là bộ não. Clip sau đây minh họa điều đó.

Vạn Pháp Duy Thức

Mạt-na thức (Manas)

Khi bộ não của một con người ngừng hoạt động thì cả vũ trụ tưởng tượng của người đó hoàn toàn sụp đổ, cái xác đốt thì thành tro, chôn thì thành đất. Một vấn đề được đặt ra là nghiệp và thần thức (神識vijñānanā) là gì, chứa ở đâu mà lại có sự luân hồi tái sinh? Câu trả lời là nó chứa ở thức thứ 7 tức là Mạt-na thức.

Mạt-na thức là thức chấp ngã, nó cho rằng toàn bộ lục căn, lục trần, lục thức đều là nó. Chẳng những thế toàn bộ các kiếp sống của vô lượng vô biên kiếp quá khứ, hiện tại và tương lai cũng đều là nó. Nghiệp của quá khứ, hiện tại sẽ dẫn tới kiếp lai sinh của nó, triền miên vô tận như thế, Phật giáo gọi là luân hồi tái sinh. Cơ thể vật chất tiêu vong nhưng thần thức  vẫn còn và nó đi đầu thai ở một cơ thể mới. Theo Phật pháp, Có 6 đường để cho thần thức đi đầu thai tùy theo nghiệp lực của nó gồm : người trời (thiên nhân天人deva), a-tu-la (阿修羅asura) người (nhân loại人类manussa), súc sinh (畜生tiracchānayoni), ngạ quỷ (餓鬼petta) và địa ngục (地獄niraya). Trong trường hợp thần thức đầu thai vào nhân đạo (đường làm người) và trong một số trường hợp đặc biệt, người tái sinh nhớ lại được tiền kiếp thì giới khoa học có thể xác nhận được tiền kiếp và kiếp lai sinh như hai trường hợp sau đây :

Câu chuyện tái sinh của Suresh Verma- BBC 1980

Câu chuyện tái sinh của Shanti Devi- India 1926-1987- Dr. Kirti Swaroop Rawat

Duy Thức Học Phật giáo giải thích rằng thức chấp ngã của một chúng sinh tức là Mạt-na thức bao gồm cả 7 thức, trong đó Ý thức là thức hiện hành của hiện tại chỉ chiếm một phần nhỏ, còn thông tin hay dữ liệu của vô lượng kiếp quá khứ thì ẩn tàng, nằm tiềm ẩn trong thức thứ 7. Ý thức không nhớ không biết về dữ liệu này cho đến khi bị kích thích vì một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn bị thôi miên hay có một sự gợi nhớ nào đó, như gặp một cảnh lạ nhưng nó lại cảm thấy rất quen, thì nó sẽ nhớ lại các tiền kiếp xa xưa. Để dễ hình dung, chúng ta hãy mượn tin học để giải thích cho dễ hiểu.

Ý thức giống như bộ nhớ RAM (Random Access Memory= Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên), đây là bộ nhớ hoạt động, dữ liệu từ ổ đĩa cứng (thí dụ cho Mạt-na) phải được đưa vào RAM (thí dụ cho Ý thức) thì dữ liệu đó mới hoạt động, mới hiện ra màn hình hoặc ra loa phát âm.

Thức chấp ngã của một chúng sinh chứa dữ liệu thông tin vô lượng kiếp của một chúng sinh là rất lớn, nó giống như một ổ đĩa cứng khổng lồ dung lượng không giới hạn.

Tàng thức hay A-lại-da thức (Alaya)

Khi nói tới vấn đề số lượng không giới hạn, chúng ta phải đi tới khái niệm không có số lượng (non quantity). Phật pháp dùng thuật ngữ bất nhị để mô tả khái niệm này. Bất nhị không phải là hai hay số nhiều mà cũng không phải là một, bất nhị chính là không có số lượng.

Để dễ hiểu về khái niệm này, chúng ta nên mượn một thí nghiệm khoa học về liên kết lượng tử (quantum entanglement) để mô tả, cụ thể là thí nghiệm do bà Maria Chekhova của đại học Moscow tiến hành năm 2012. Bà làm thí nghiệm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau.

Maria Chekhova

Như vậy 100.000 hạt photon đó không phải là một vì rõ ràng có tới 100.000 hạt, con số còn có thể lên tới vô tận. Nhưng đó cũng không phải là nhiều vì nguồn gốc chỉ là một hạt. 100.000 hạt đó không phải hoàn toàn giống nhau vì vị trí của mỗi hạt trong không gian là khác nhau, những đặc điểm khác của mỗi hạt cũng có thể khác nhau chút ít, chẳng hạn nếu spin của hạt gốc xoay sang phải thì spin của các hạt khác xoay sang trái.

Mỗi hạt photon có thể đại biểu cho một chúng sinh, tất cả các hạt đều có chung một nguồn gốc.

Đưa ra thí nghiệm này để chúng ta có hiểu được tất cả chúng sinh đều có chung một nguồn gốc là Phật tánh, hay nói cách khác, một Phật tánh có thể biểu hiện thành vô lượng chúng sinh, tuy bề ngoài chúng có vẻ rất khác nhau nhưng bản thể là không khác.

Nguyên lý bất nhị hay không có số lượng dẫn chúng ta đến thức thứ 8 gọi là A-lại-da thức hay còn gọi là Tàng thức. Thức này chứa dữ liệu thông tin của tất cả chúng sinh. Như vậy đứng về mặt hạn chế, hữu vi, có số lượng, thì Mạt-na chứa dữ liệu của một chúng sinh riêng biệt, giống như một ổ đĩa cứng. Còn đứng về mặt vô hạn, không có số lượng thì Mạt-na cũng là A-lại-da, chứa dữ liệu của vô lượng chúng sinh. Điều đó có nghĩa là một chúng sinh trải qua vô lượng kiếp cũng tương đương với vô lượng chúng sinh trong vô lượng kiếp bởi vì thời gian không có thật, không gian không có thật, số lượng cũng không có thật. Một hạt photon cũng là vô lượng hạt photon.  Giống như tất cả ổ đĩa cứng đều liên thông với nhau thành mạng khổng lồ Internet. Hình ảnh IoT (Internet of Things= Internet kết nối vạn vật) cho chúng ta khái niệm tương đối cụ thể về A-lại-da thức hay Tâm vô lượng, hàng tỷ con người và hàng tỷ đồ vật đều kết nối với nhau, tương tác với nhau qua mạng 5G chẳng hạn, giống như vô lượng chúng sinh trong Tam giới có sự liên kết dính líu với nhau (quantum entanglement) qua một làn sóng vô hình mà thí nghiệm liên kết lượng tử đã cho chúng ta một khái niệm rõ ràng.

Tuy phân biệt chia ra thành 8 thức cho tiện mô tả nhưng 8 thức vẫn là đồng nhất thể và có thể gọi chung là Tâm (Citta). Tâm bao gồm cả 8 thức đó. Vô lượng vô biên chúng sinh vẫn chỉ là một tâm. Tâm là bản thể còn Tam giới và vô lượng chúng sinh là dụng. Thể và Dụng tuy rất khác nhau nhưng không phải là hai nên Phật giáo gọi là Bất nhị.

Năng lực khác nhau của Ý thức và Mạt-na thức

Khi nói Nhất thiết duy tâm tạo hay tâm tạo ra vật chất, chúng ta rất khó tin, tin không nổi bởi vì làm thế nào ý thức tạo ra vật chất được ? Đó là vấn năng lực của ý thức có giới hạn.

Năng lực của Ý thức giới hạn hơn Mạt-na thức vì nó chỉ có sức mạnh hiện hành của bộ não. Bộ não con người trung bình có 86 tỷ tế bào, nhưng không phải toàn bộ tế bào não đều đồng thời hoạt động. Một số nhà đặc dị công năng nói rằng chỉ có từ 5-10% tế bào não thực sự hoạt động tạo ra ý thức hiện hành trong cuộc sống hàng ngày, còn phần lớn tế bào ở trong trạng thái ngủ yên hoặc chỉ hoạt động cầm chừng giống như chiếc điện thoại di động của chúng ta, nó thường không hoạt động hết công suất. Phần không hoạt động này tương ứng với tiềm thức và tiềm năng.

Tiềm năng và tiềm thức này thuộc về sức mạnh của Mạt-na thức, nó bao gồm những tập khí (thói quen) của nhiều kiếp trước, những nghiệp lực của quá khứ, nó có sức mạnh điều khiển chúng ta lớn hơn và sâu xa hơn ý thức. Tiềm thức này quyết định bản sắc của mỗi con người. Một con người thông minh hay ngu tối, sở thích như thế nào là do tiềm thức quyết định, nó ảnh hưởng tới ý thức và dẫn dắt con người đi theo một lộ trình rất nhiều trường hợp là không theo mong muốn của ý thức.

Khi một người bị thôi miên hay có một cơ duyên nào gợi nhớ thì phần tiềm thức này bị đánh thức và người đó nhớ lại những tiền kiếp trong quá khứ mà bình thường người đó không hề ý thức, không hề biết. Như video sau :

Câu chuyện tái sanh của Swarnlata Mishra sinh năm 1948 tại India

Những nhận thức của con người chúng ta về thế giới chung quanh cũng là do tập quán, tập khí nhiều đời quy định mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian, nhiều người có cùng một nhận thức như nhau (cộng nghiệp) nên cho rằng đó là khách quan, thật ra đó chỉ là chủ quan tập thể, chủ quan giống nhau của một số đông người. Chẳng hạn, kết quả cuộc tranh luận khoa học trong thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Albert Einstein và Niels Bohr cho chúng ta thấy rằng hạt cơ bản như photon hay electron không hề có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Chỉ khi có người quan sát các đặc trưng đó mới xuất hiện. Như vậy hạt electron với các đặc trưng mà các nhà khoa học đo đạc được chỉ là tưởng tượng, là chủ quan tập thể của con người chứ không phải có thật. Và các cấu trúc nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, thân thể của chúng ta, cũng chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Tưởng tượng đó không phải của ý thức mà là của Mạt-na thức, nó sâu xa hơn, mạnh hơn, tác động quyết định hơn.

Vậy có gì chứng tỏ vật chất chỉ là tưởng tượng chứ không phải hoàn toàn có thật ? Không phải hiện giờ vật chất như cái nhà, cái xe là có thật. Không phải chỉ khi nhà và xe hoàn toàn tan rã thì vật chất mới mất đi. Mà ngay bây giờ nhà và xe cũng không có thật, PG nói là đương thể tức không当体即空 (cái đang hiện hữu cũng là không). Tánh không là bản thể của vật chất. Vật chất không có thực thể.

Các nhà đặc dị công năng chứng tỏ điều đó bằng thực nghiệm.

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

Người có công năng đặc dị như Trương Bảo Thắng vận dụng được nhiều hơn tiềm năng của bộ não nên làm được những điều người bình thường không làm được. Chỉ với ý thức, chúng ta không thể đi xuyên qua tường dù chúng ta có hiểu rõ đến đâu về tánh không, hiểu rõ thân thể không có thật, bức tường không có thật, nhưng chúng ta vẫn không thể đi xuyên qua tường được, bởi vì tập khí của Mạt-na thức vẫn luôn cho rằng thân thể và bức tường là có thật. Sức mạnh của Mạt-na lớn hơn ý thức rất nhiều. Thế nhưng Trương Bảo Thắng có thể đi xuyên qua bức tường.

Trương Bảo Thắng

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

Qua sự chứng tỏ của đặc dị công năng, chúng ta thấy rõ khả năng khác nhau của Ý thức và Mạt-na thức. PG dạy phá ngã chấp tức là phá những tập khí sâu dày của Mạt-na thức không phải chỉ bằng ý thức mà bằng sự tu tập công phu. Tổ Sư Thiền dạy cách phát khởi nghi tình để đến được thoại đầu, tiếp xúc được, làm chủ được sức mạnh của tâm, từ đó thoát khỏi luân hồi, sinh tử tự do, muốn đi đâu chỉ một niệm là đến. Hầu Hi Quý là người thực nghiệm được viễn tải lượng tử bằng năng lực của ý niệm xuất phát từ Mạt-na thức.

Hầu Hi Quý

75 Thực Nghiệm Viễn Tải Lượng Tử

Trên đây chúng ta chúng ta đã bàn đến 8 thức, những thức sau đều bao gồm những thức đầu, nghĩa là A-lại-da thức bao gồm hết 8 thức và được hình dung là Tâm hay Tâm linh, toàn bộ vũ trụ vạn vật, kể luôn cả Tam giới đều là Tâm. Những khoảng cách về không gian và thời gian, cũng như số lượng nhiều ít đều chỉ là mô tả chứ không có thực chất. Bây giờ chúng ta xem tiếp Tâm có những tác dụng gì vượt quá những cái thấy biết thông thường của người đời.

Vấn đề người ngoài hành tinh

Vấn đề tiếp xúc với người ngoài hành tinh, có một câu chuyện cũng rất nổi bật. Đó là từ chòm sao Thất Nữ Pleiades. Cụm sao Pleiades – được biết đến với cái tên cụm sao Thất Nữ hoặc M45 – là thiên thể có thể quan sát được ở hầu hết những nơi có sự hiện diện của con người. Thất Nữ có hình dạng như một nhóm sao màu xanh sáng mờ. Với khoảng cách 541 năm ánh sáng từ Trái Đất chúng ta, Pleiades là một trong những cụm sao gần nhất và sáng nhất có thể quan sát bằng mắt thường.

Cách tìm Pleiades trên bầu trời. Bạn hãy tìm ra cho mình chòm sao Orion (Thợ săn), chòm sao này đặc trưng bởi ba ngôi sao thẳng hàng và cách đều nhau. Từ ba ngôi sao đó bạn hãy nhìn qua bên phải và bạn sẽ thấy những ngôi sao xếp thành hình chữ V với một ngôi sao sáng ở giữa. Chữ V đó chính là khuôn mặt con bò vàng của chòm sao Taurus. Ngôi sao sáng trong hình chữ V đó là Aldebaran – tượng trưng cho mắt của con bò vàng này. Qua khỏi Aldebaran một chút, bạn sẽ thấy cụm sao Thất Nữ tức Pleiades – cụm sao này được tưởng tượng như là là vai của con bò vàng.

Trên mạng có nhiều tài liệu nói rằng ở chòm sao đó có người sinh sống, họ là người Pleiadian. Tiếng kêu của họ là thông điệp họ truyền đến Địa cầu qua sự tiếp điển của bà Barbara Marciniak ở bang North Carolina, Mỹ. Những đạo lý của người Pleiadian được bộ não của bà Barbara Marciniak tiếp nhận theo kiểu mặc khải và được viết ra bằng tiếng Anh và in thành sách từ năm 1988.

Bà Barbara Marciniak, sinh năm 1948, sống tại bang North Carolina, Mỹ

Chẳng hạn quyển sách :

Những người mang đến ánh bình minh

Người Pleiadians là những sinh vật ngoài hành tinh từ các cụm sao trong chòm sao Taurus được gọi là Pleiades. Barbara Marciniak tuyên bố rằng người Pleiadians chọn bà làm sứ giả của họ. Bà tiết lộ điều này trong cuốn sách của mình tiếp điển, “Những người mang đến ánh bình minh”. Theo bà Marciniak, thông điệp là: “Nếu bạn có thể giải thoát mọi người khỏi nghiệp cá nhân (sở tri chướng) của họ, họ có thể du hành trong vũ trụ.”

Nếu người Pleiadians truyền tín hiệu qua không gian vũ trụ bằng vô tuyến điện, phải mất 541 năm thì các tín hiệu đầu tiên mới đến được Địa cầu. Đó không phải là phương thức di chuyển hoặc truyền thông hữu hiệu trong vũ trụ. Phương thức hữu hiệu chính là viễn tải lượng tử, đây cũng chính là phương thức tâm linh mà Hầu Hi Quý đã sử dụng. Điều đó cũng có nghĩa là khoa học và tâm linh hợp nhất, nhận thức rằng vũ trụ chỉ là ảo hóa, không gian, thời gian, số lượng, không phải không có, nhưng chỉ là ảo không phải thật. Nhân loại hiện nay đang khai thác rất mạnh thế giới ảo của tin học, tuy nhiên sự khai thác đó cũng chỉ mới bắt đầu, vẫn còn đang ở thời kỳ sơ khai. Con người cần phải đi tới chỗ thống nhất nhận thức rằng vũ trụ cũng chỉ là ảo, cũng tức là số (digital), vật chất, lương thực thực phẩm, vật dụng, nhà cửa xe cộ, sơn hà biển đảo cũng đều là số, đó là một vũ trụ duy thức. Và người ta có thể dùng máy in 3D chạy bằng năng lượng ánh sáng, nguyên vật liệu cũng lấy từ ánh sáng, để in ra tất cả mọi thứ cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Nhưng đó là chuyện tương lai của nhân loại, bây giờ chúng ta đang nói về viễn tải lượng tử liên hành tinh.

Người Pleiadians ở chòm sao Thất Nữ (Pleiades) dùng phương pháp tâm linh mà dân gian gọi là tiếp điển để truyền thông điệp của họ tới người Địa cầu qua vị sứ giả mà họ chọn là Bà Barbara Marciniak. Khoảng cách 541 năm ánh sáng giữa sao Thất Nữ và Địa cầu, coi như không có “vì tác động ma quái từ xa” theo cách nói của Einstein, còn hiểu cho rốt ráo là khoảng cách không gian chỉ là ảo không phải có thật. Nội dung thông điệp của họ thật ra không có gì mới lạ nếu chúng ta hiểu Phật pháp một cách đúng mức, hiểu Phật pháp cũng tức là hiểu thông điệp của họ.

Bác sĩ tiến sĩ Brian Weiss, sinh năm 1944, tốt nghiệp Đại học Y khoa Yale (Yale University School of Medicine) năm 1970, sống tại thành phố Miami bang Florida, Mỹ, là người chuyên nghiên cứu về tái sinh, luân hồi chuyển kiếp. Ông là nhà nghiên cứu hàng đầu có thẩm quyền về liệu pháp hồi quy nhớ lại tiền kiếp, tác giả của những quyển sách bán rất chạy : Many Lives, Many Masters (nhiều kiếp sống, nhiều bậc thầy); Through Time into Healing (Chữa bệnh bằng cách đi xuyên qua thời gian); Only Love Is Real (Chỉ có Tình yêu thương là thật). Quyển sách Many Lives, Many Masters đã bán được hơn 2 triệu bản và đã được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ từ lúc nó được tung ra lần đầu năm 1988.

Bác sĩ Brian Weiss

Bác sĩ Weiss nói rằng : “Có một năng lực chữa bệnh trong thế giới này, một năng lực tỏ ra có hiệu quả hơn nhiều so với những phương thuốc quy ước hiện đại”. Bác sĩ Weiss phục vụ với tư cách Trưởng khoa thường trực của phân khoa Tâm thần học của đại học Y khoa Yale, và là Chủ nhiệm khoa Tâm thần học tại Trung tâm Y khoa Mount Sinai tại Miami, bang Frorida (Mỹ) nơi ông có duy trì một phòng khám tư.

Trong quyển sách Same Soul, Many Bodies (cùng linh hồn, nhiều thể xác) Bác sĩ Brian Weiss có kể về một bệnh nhân ông thôi miên để phát hiện tiền kiếp, người này tên là Patrick, một trong các tiền kiếp của anh ta xảy ra cách nay 60.000 năm, anh ta sống trên một hành tinh khác. Một bộ phận trong giống nòi của anh ta đã di cư tới địa cầu và khi họ đến, họ gặp những cư dân khác đến từ những hệ mặt trời khác.

Họ đến Địa cầu bằng cách nào ? Chắc chắn không phải bằng cách ngồi phi thuyền bay đến Địa cầu, cách đó không khả thi. Cách phổ biến và hữu hiệu nhất là thần thức của họ (dân gian gọi là linh hồn) tái sinh trên Trái đất. Đối với thần thức thì khoảng cách không gian không có thật. Dù cho họ từ một hành tinh cách xa Địa cầu 1000 năm ánh sáng, hoặc từ một vùng khác trên Địa cầu cách xa 1000 km thì chẳng có gì khác nhau cả. Hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) chứng tỏ rõ ràng như vậy.

Kết luận

Trong bài này chúng ta nói về Ý thức và Mạt-na thức. Đây là thức thứ 6 và thức thứ 7 trong hệ thống 8 thức của Duy Thức Học Phật giáo. Phân tích ra như vậy nhưng thực tế 7 thức đầu đều được bao gồm trong thức thứ 8 là A-lại-da hay Tàng thức, đó cũng chính là Tâm bất nhị không thể phân chia. Chúng ta phân tích để thấy rõ tác dụng của từng thức chuyên biệt nhưng cuối cùng thì tất cả đều là tâm.

Duy Thức học nói rằng đối với người giác ngộ hay giác giả thì 8 thức sẽ chuyển thành 4 trí.

Tiền ngũ thức chuyển thành Thành Sở Tác Trí. Hễ nói tới trí thì chúng ta phải hiểu rằng đã đạt tới bản thể vô phân biệt. Năm thức biến thành một trí. Tiền ngũ căn hợp nhất, tiền ngũ trần cũng hợp nhất thành một khả năng nhận biết chung, không còn cần phải chuyên biệt hóa nữa. Chẳng hạn chị Hoàng Thị Thiêm, trú tại thôn Bùi Trám, xã Hòa Lương, Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, VN có khả năng đó. Dù mắt có bị bịt kín, chị vẫn có thể đọc báo được bình thường. Trương Bảo Thắng có thể dùng mũi ngửi đọc được chữ thay cho con mắt. Ông Lý Tự Sầm, nguyên hiệu trưởng trường đại học Đài Loan, đã có 18 năm nghiên cứu về công năng đặc dị. Năm 1996, khoa điện cơ của trường bắt đầu tuyển sinh cho lớp đọc chữ bằng tay, nghĩa là dùng xúc giác của cơ thể cũng có thể nhận ra chữ viết. Những năm đầu của thập niên 80, báo chí từng đưa tin: Tứ Xuyên có cậu bé tên Đường Vũ, được phát hiện có thể dùng tai đọc chữ. Theo đó, nếu viết một chữ lên giấy, che nó lại (không cho cậu nhìn thấy), rồi kề vào tai của Đường Vũ, thì cậu có thể nghe ra nhận biết được chữ.

Ý thức chuyển thành Diệu Quan Sát Trí. Đối với mọi cảnh giới vật chất và tinh thần trong Tam giới, Diệu Quan Sát Trí đều thấy hết, biết hết nhưng không phân biệt vì bản chất của Tam giới là không có tự tánh. Khi hoạt dụng, nó trở thành thức thì mới phân biệt, khi đó Thành Sở Tác Trí trở thành 5 thức có 5 chức năng chuyên biệt.

Mạt-na thức chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí, tức không còn phân biệt ta người, không còn ngã chấp, Bình Đẳng Tánh Trí thấy tất cả các pháp đều bình đẳng như nhau.

A-lại-da thức chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí. Đó giống như tấm gương lớn phản chiếu tất cả mọi hiện tượng xảy ra trong Tam giới nhưng không lưu lại bất cứ vết tích gì. Bởi vì tất cả mọi thông tin đều có sẵn trong Tâm không thể thêm bớt.

Thức và Trí cũng không phải là hai, chỉ là hai mặt khác nhau của cùng một Tâm như hư không vô sở hữu mà thôi. Thức là dụng, Trí là thể, đều là Tâm vô sở trụ hoạt bát vạn năng có năng lực vô biên vô tận, có thể tạo ra Tam giới hay tất cả mọi cảnh giới không bị hạn chế.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thực Nghiệm Viễn Tải Lượng Tử

Hiện nay với vệ tinh lượng tử Mặc Tử, TQ đã thực hiện được viễn tải lượng tử đối với một hạt photon đi xa 1200 km, đó là kỷ lục vào thời điểm này.

Nhưng thực tế có người đã thực hiện được viễn tải với khoảng cách 3 tầng lầu nhưng di chuyển được nguyên cả một người.

Hôm đó, tham mưu Lưu và Trưởng nhà nghỉ, ông Lưu và người quản lý, ông Cao, nói rằng họ đến đường Trường An (Bắc Kinh) làm chút việc, mời Hầu Hi Quý cùng đi một thể. Lái xe muốn xử lý công việc, Hầu Hi Quý và mọi người bèn đứng trước tòa lầu đợi, khi nào lái xe đến thì đi.

Đợi mãi đợi mãi, Hầu Hi Quý không chịu được, ông rung rung cái túi xách bằng giả da nhân tạo màu đen đang cầm, hỏi tham mưu Lưu : “Các ông nhìn xem trong này có tiền không ?” cố ý cầm cái túi lắc qua lắc lại.

“Tiền à, không có.” Tham mưu Lưu đánh giá Hầu Hi Quý đang định khai mở cái gì, nên trả lời đại.

“Đúng là không có,” Hầu Hi Quý mở dây kéo, trong đó trống không. “Không có tiền, đúng không ?”. Ông lại lấy cái túi vạch tận đáy, để cho mọi người đều thấy qua, sau đó đóng dây kéo lại, túi xách bỗng nhiên cộm lên.

“Có hay không, ai nói đi ?” Hầu Hi Quý cười ha ha lên, hai tay cầm túi xách.

Tham mưu Lưu muốn giật túi xách để coi rốt cuộc là cái gì. Hầu Hi Quý lùi lại chạy. Tham mưu Lưu vốn xuất thân là quân nhân, chạy rất nhanh, thấy vậy đuổi theo, ông ta đưa tay định đoạt túi xách. Bỗng nhiên Hầu Hi Quý trong chớp mắt biến mất. Tham mưu Lưu kinh ngạc, mọi người đều nhìn quanh bốn bề để tìm người, trên mặt lộ vẻ kinh hoảng.

“Ui, tại đây, tôi ở đây nè !” Bỗng nhiên từ trên không truyền lại tiếng của Hầu Hi Quý. Mọi người theo tiếng mà nhìn, chỉ thấy Hầu Hi Quý đang đứng tại balcon lầu ba, nhìn họ mà cười, tay cầm túi xách giơ lên.

“Lưu tham mưu, lại đây xem nha !”

Lưu tham mưu không làm sao được, chỉ lắc lắc đầu, vẻ kinh hoảng tăng lên cùng cực.

“Thôi được, để tôi xuống.” Hầu Hi Quý nói xong , lại nhanh như điện chớp biến mất khỏi balcon. Mấy người ở dưới cả sợ, vội nhìn tứ phía tìm ông.

“Hi hi, không phải tôi đang ở đây sao ?”

Mấy người quay đầu lại, Hầu Hi Quý đang cười sằng sặc đứng sau lưng họ, giống như chẳng có việc gì xảy ra. Tham mưu Lưu, Trưởng nhà khách Lưu và Quản lý Cao bỗng nhiên phát sinh nghi sợ, phải chăng Hầu Hi Quý đang đứng trước mặt họ, có thể phi thiềm tẩu bích (bay lên mái nhà, đi trên vách tường) và còn có thuật ẩn thân ?

Hầu Hi Quý trong tích tắc đã biến mất trước mặt mấy người bạn và tức thời xuất hiện trên balcon lầu ba của một tòa nhà cao tầng. Sau đó ông biến mất khỏi balcon và xuất hiện trở lại dưới đường sau lưng họ. Không phải ông phi thân từ dưới đường lên lầu ba. Mà thực tế hành động của ông chính là viễn tải lượng tử, hoàn toàn giống như hiện tượng liên kết lượng tử giữa hai photon trong trong thí nghiệm của Anton Zeilinger năm 2012 giữa hai đảo La Palma và đảo Tenerife

Gởi một photon đi xa 89 miles

Đăng tải tại Nhà sau | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

THỜI HIỆN ĐẠI GIÁC GIẢ SẼ LÀM GÌ ?

Định nghĩa

Chúng ta đang đứng ở bình diện tương đối, nên cần có những định nghĩa để hiểu tương đối thống nhất về những điều sẽ nêu ra trong bài viết.

Giác giả là người giác ngộ nhưng ở đây không nói là người kiến tánh thành Phật làm chủ tam giới, mà ở đây mang ý nghĩa tương đối hơn, chỉ là người nhận thức được ngũ uẩn giai không và thường sống trong tâm niệm này. Hay đơn giản hơn nữa, giác giả là người có cuộc sống thiên về đạo lý, không còn quá chú tâm đuổi theo vật chất, danh vọng, phù hoa, mà hướng cuộc sống của mình vào sự an tâm, tĩnh lặng, giữ cho tâm của mình như mặt nước hồ thu yên tĩnh, càng ít gợn sóng càng tốt.

Giác giả ở đây có thể là hành giả Phật giáo, không phân biệt là tu sĩ hay cư sĩ nhưng có những điểm chung như phá ngã chấp và phá pháp chấp. Bởi vì đây là những hành trì chủ yếu của Phật tử tức là tín đồ Phật giáo.

Tại sao phải phá ngã chấp và phá pháp chấp ? Bởi vì ngã và pháp vốn là cái dụng của Phật tánh nhưng nếu không khéo, không hiểu rõ thì những cái này sẽ trở thành nguồn gốc của khổ. Bởi vì ngã là cái ta sẽ phát sinh ra ngã sở, chẳng hạn thân thể của ta, sức khỏe của ta, danh vọng uy tín của ta, con cái nhà cửa của ta, dân tộc của ta, quốc gia của ta. Ai ai cũng cố chấp ngã và ngã sở thì sẽ va chạm, xung đột với nhau dẫn tới xô xát, hận thù, chiến tranh, khổ.

Sở dĩ có vấn đề chấp ngã và ngã sở là do chấp pháp là có thật. Pháp (法 dharma) là một từ có ý nghĩa rất rộng trong Phật giáo, tất cả mọi sự mọi vật trong Tam giới đều được gọi chung là pháp. Như phương pháp tu hành gọi là pháp môn, giáo lý kinh điển của Phật gọi là Phật pháp, Tam giới cũng gọi là pháp giới, luật lệ do con người đặt ra gọi là pháp luật, thậm chí những vật do con người tưởng tượng chứ không có sẵn trong thiên nhiên, ví dụ lông rùa, sừng thỏ cũng là pháp; hay những vật do con người mới khám phá như hạt Higgs (phát hiện năm 2012) hay sóng hấp dẫn (phát hiện năm 2016) cũng đều là pháp. Tuyệt đại đa số con người đều cố chấp cho rằng pháp là có thật, nhưng Phật và các Tổ Sư dạy rằng pháp chỉ là ảo hóa chứ không phải có thật. Ngay cả Tâm hay Phật tánh là nguồn gốc của tất cả các pháp cũng không phải là có thật mà cũng không phải là không có, cái nầy gọi là nguyên lý hay pháp môn bất nhị của Phật pháp. Bất nhị không phải là hai mà cũng chẳng phải là một, đó là bất định còn gọi là vô sở trụ. Phật tử nên nhớ câu nói nổi tiếng của Long Thọ Bồ Tát : Tâm như hư không vô sở hữu [心如虛空無所有- Citta (mind) is like nothingness, unreal- Tâm giống như hư không không có thật]

Như vậy pháp cũng không có thật, ngã cũng không có thật, tất cả là do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo) nghĩa là tâm tưởng tượng ra các pháp trong đó kể cả cái thân tứ đại, kể cả ngã và ngã sở đều chỉ là vọng niệm.

Ngày nay sự nhận thức Nhất thiết duy tâm tạo còn được các thí nghiệm khoa học củng cố thêm phần chắc chắn, không phải chỉ nói suông mà còn có chứng cớ rõ ràng. Nhà khoa học hàng đầu thế giới Niels Bohr nói : It is wrong to think that the task of physics is to find out how Nature is. Physics concerns what we say about Nature. (Thật sai lầm khi nghĩ rằng nhiệm vụ của vật lý là tìm ra bản chất của Tự nhiên. Vật lý là điều chúng ta nói về Tự nhiên) Ý của Bohr thật ra rất rõ ràng, nếu nói khác đi một chút theo cách nói của thầy Duy Lực là : Vật lý học là điều chúng ta cho là Tự nhiên, tưởng tượng Tự nhiên là như thế, chứ không phải là bản thân Tự nhiên.

Bản thân Tự nhiên là cái gì thì bộ não của con người không bao giờ biết được, đây là điều mà nhà triết học Đức Immanuel Kant đã diễn tả : Vật tự thể (Das Ding an sich) là cái mà con người chúng ta không bao giờ nhận biết được. Theo Kant, ta chỉ có thể phát biểu về sự vật những gì do chính đầu óc ta tưởng tượng ra.  Điều này thì kinh điển Phật giáo từ lâu đã nói rằng : Cảnh giới vật chất, chẳng hạn con trâu, con ngựa, nam nữ, sông núi, nhà cửa, chỉ là thế lưu bố tưởng世流布想 nghĩa là tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian (Imagination which has circulated popularly on the world). Tại sao lại như thế ?

Bởi vì cuộc tranh luận lớn nhất của thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein đã đi đến kết luận vào năm 1982 sau thí nghiệm liên kết lượng tử của Alain Aspect. Nó chứng tỏ rằng các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark không hề có sẵn đặc trưng, đặc điểm, đặc tính gì cả (no features). Phật giáo nói rằng : Nhất thiết pháp vô tự tính. Các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin, chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Nghĩa là chính người quan sát đã tưởng tượng ra các đặc trưng đó. Thí nghiệm hai khe hở một lần nữa xác định điều này.

Bắn từng hạt electron qua một tấm chắn có 2 khe hở nhỏ, phía sau có màn hứng. Nếu có người quan sát thì màn hứng chỉ hiện ra 2 vạch tương ứng với 2 khe hở chứng tỏ electron là hạt vật chất. Nếu không có người quan sát, màn hứng hiện ra nhiều vạch, chứng tỏ hạt electron là sóng, sóng đó giao thoa nên tạo ra nhiều vạch.

Thí nghiệm này chứng tỏ hạt electron là do người quan sát tạo ra. Vì vậy Phật giáo nói Nhất thiết duy tâm tạo. Rõ ràng là hạt electron với tất cả đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin, chỉ xuất hiện khi có người quan sát đo đạc nó. Phật pháp đã nói rằng nhất niệm vô minh tạo ra mọi cảnh giới.

1/Có người quan sát màn hứng chỉ hiện ra 2 vạch

2/Không có người quan sát màn hứng hiện ra nhiều vạch   

Thí nghiệm này giải thích ý nghĩa câu nói của Bohr : Vật lý học với các quy luật của nó chỉ là tưởng tượng tập thể của con người thôi, nó mang tính khách quan tập thể, nghĩa là 7,7 tỷ người trên thế giới cùng thấy, cùng tưởng tượng giống nhau (do cộng nghiệp), nhưng đó vẫn không phải là chân lý tuyệt đối, không phải hoàn toàn có thật. Vì vậy Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải là vật thật). Các hạt cơ bản đã không phải là vật thật thì các cấu trúc của chúng như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất cũng chỉ là vật ảo mà thôi.

Trên đây chúng ta đã định nghĩa về giác giả trong một ý nghĩa thực tế tương đối. Dưới đây chúng ta sẽ nói tiếp về việc làm của giác giả.

Giác giả có thể làm gì trong thời nay ?

Ngày xưa bậc giác ngộ nếu hữu duyên thì ra hoằng pháp dạy đạo cho nhiều người khác giác ngộ như Huệ Năng và các vị Tổ khác. Còn nếu vô duyên thì sẽ ẩn mình sống tự tại giữa chốn hồng trần mà hình ảnh của ông tăng chuyên làm công việc sửa đường lộ tại tỉnh Vân Nam mà hòa thượng Hư Vân từng gặp là một ví dụ điển hình.

Điểm khác nhau quan trọng giữa thời xưa và thời nay nằm ở chỗ : Thời xưa khoa học chưa phát triển. Các thiền sư giác ngộ chỉ giải quyết vấn đề tâm lý, tinh thần của con người. Còn vấn đề vật chất, cơm ăn, áo mặc, nhà ở, vật dụng…của người đời thì họ tự lo. Thậm chí đời sống vật chất của hàng ngũ xuất gia còn phải nhờ vào sự bố thí của người đời.

Thời nay khoa học đã phát triển, đã đi được khá xa nên các giác giả theo định nghĩa ở trên, chẳng những tham gia dạy dỗ về tâm lý, tinh thần cho người đời mà còn tham gia giải quyết đời sống vật chất của họ. Bởi vì tất cả mọi người đều đã thừa nhận khoa học có sức mạnh. Nó có thể giải quyết vấn đề cơm ăn, áo mặc, nhà ở, vật dụng, hàng tiêu dùng cho cả một quốc gia đông người như TQ chẳng hạn. TQ trong suốt quá trình lịch sử là một nước nghèo đói, dân chúng thường xuyên thiếu ăn, nhưng ngày nay đã chấm dứt nạn đói. Rõ ràng đó là nhờ khoa học và kinh tế phát triển.

Giác giả ngày nay là những ai ?

Tỷ phú Bill Gates là một trong những nhà từ thiện “hào phóng” nhất thế giới, với tổng số tiền quyên góp lên đến 41 tỷ USD. Bill Gates được biết đến là người đồng sáng lập tập đoàn Microsoft. Ông cùng vợ đã sáng lập quỹ từ thiện lớn nhất thế giới mang tên Bill & Melinda Gates và đóng góp vào đó phân nửa tổng tài sản của mình.

Warren Buffett là nhà đầu tư, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Tập đoàn Berkshire Hathaway. Năm 2010, ông cùng với vợ chồng tỷ phú Bill Gates đã thành lập Quỹ từ thiện “The Giving Pledge” Bản thân Warren Buffett đã dành tới 83% số tài sản của mình cho Quỹ này. Với số lượng lớn thành viên tham gia và số tài sản hiện có, The Giving Pledge có thể dành hơn 125 tỷ USD cho các hoạt động từ thiện hoặc nhân đạo.

Azim Premji Hashim (sinh năm 1945) được coi là một ông trùm kinh doanh ở Ấn Độ, Chủ tịch Tập đoàn Wipro Limited Tháng 12/2010, Premji cam kết đóng góp 2 tỷ USD cổ phiếu Wipro, cải thiện giáo dục trong các trường học ở Ấn Độ. Đó là sự đóng góp từ thiện lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ hiện đại. Gần đây, ông Premji đã cam kết làm từ thiện với số tiền là 7,5 tỷ USD, tổng đóng góp từ thiện của ông hiện ở mức khoảng 21 tỷ USD.

Tỷ phủ trẻ tuổi Mỹ Mark Zuckerberg ngày 1/12/2015 tuyên bố sẽ hiến số tài sản 45 tỷ USD, tương đương 99% tổng tài sản trong suốt cuộc đời mình để giúp những người khác cải thiện cuộc sống vì thế hệ tương lai.

Người giàu nhất Ả-rập Xê-út khu vực Trung Đông là Hoàng tử Alwaleed bin Talal bỏ ra 20 tỷ USD để làm từ thiện

Từ năm 1979, tỷ phú George Soros (Mỹ) đã chi 8,5 tỷ USD để cung cấp kim tiêm sạch cho các phòng khám ở California (Mỹ). Năm 2017, Soros đã chuyển 18 tỷ USD cho Open Society Foundations – tổ chức đã sử dụng hơn 14 tỷ USD từ năm 1993 chủ yếu cho các hoạt động từ thiện tại khu vực Trung và Đông Âu.

Carlos Slim Helú là nhà thương nhân México đã bỏ ra 4 tỷ USD là từ thiện.

Người sáng lập kiêm CEO Amazon, Jeff Bezos quyên góp 2,14 tỷ USD làm từ thiện.

Nhà sáng lập kiêm CEO của Tencent có tài sản khoảng 45,3 tỷ USD và đã quyên góp 2,01 tỷ USD để làm từ thiện. Tencent là tập đoàn công nghệ lớn nhất Trung Quốc, sở hữu nền tảng nhắn tin WeChat và QQ

Người sáng lập Alibaba, Jack Ma quyên góp 129,4 triệu USD trong tổng tài sản giá trị ròng 39 tỷ USD (năm 2018) để làm từ thiện.

Những người nói trên đã từ bỏ một phần ngã sở của mình để giúp đỡ cho người khác.

Hàng ngũ giác giả không phải chỉ có những tỷ phú giàu có bỏ tài sản riêng của mình ra làm từ thiện, mà thành phần chủ yếu của họ là những người sống theo nguyên lý của Phật giáo, họ tham gia vào tất cả mọi hoạt động của xã hội để giúp cho xã hội phát triển theo một chiều hướng lành mạnh an lạc. Những hoạt động đó bao gồm :

Hướng dẫn Phật pháp : họ mở website, blog hay đưa các bài viết, video, âm thanh, lên mạng hay in ấn các kinh sách để phổ biến giáo lý cho mọi người hiểu biết và thực hành.

Mở các trung tâm hướng dẫn khí công, nhân điện, tham thiền để trị bệnh về thân thể và giúp cho tâm được an lạc.

Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tin học, tham gia sản xuất chế tạo các công cụ như chip vi xử lý, thiết bị bán dẫn, các loại máy móc thiết bị phục vụ cho đời sống và sản xuất, phục vụ cho tiến bộ xã hội.

Những con người mang tâm niệm hiền hòa không quá chấp ngã và chấp pháp, tham gia vào tất cả mọi hoạt động của xã hội đem lại một sự điều hòa nhất định cho môi trường và xã hội. Họ có thể làm được những gì ? Khi tham gia chánh quyền họ phục vụ với công tâm, không tham ô, nhũng nhiễu. Khi tham gia hoạt động sản xuất, họ không làm ra sản phẩm giả, độc hại, lợi mình hại người. Khi tham gia hoạt động thương mại, phân phối sản phẩm, họ không đầu cơ tích trữ để làm giàu phi pháp. Họ tránh tham gia vào việc sản xuất những hóa chất độc hại, những vũ khí giết người hàng loạt. Trong gia đình họ không tranh giành tài sản với anh chị em. Ngoài xã hội họ không sống gian dối lợi mình hại người.

Trong xã hội luôn luôn có những con người như vậy. Có thể họ không theo một tôn giáo nào cụ thể nhưng họ sống theo những nguyên lý tốt đẹp và tận tụy phục vụ xã hội vô điều kiện. Nếu chúng ta có xem tivi thì thấy hàng ngày có chương trình giới thiệu những người tốt việc tốt, những nơi đáng sống. Họ là những hiệp sĩ đường phố sẵn lòng giúp đỡ những yếu thế gặp hoạn nạn mà không hề đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. Có những tổ chức thiện nguyện của tư nhân, họ sẵn lòng trợ giúp những người gặp sự cố trên đường đi như bị hư xe, bị cướp giật, nhà nghèo mà có người thân qua đời không có tiền mai táng, hoặc phải đưa thân nhân đi bệnh viện xa nhà mà không có chỗ ở…

Trong xã hội luôn luôn có hai thế lực thiện ác cùng tồn tại. Thế lực ác gây ra những vụ bê bối sản phẩm độc hại, cán bộ tham nhũng, lừa đảo kiếm lợi, xâm hại tính dục, đánh bom giết người hàng loạt, kẻ mạnh lấn át xâm lược kẻ yếu… Thế lực ác luôn làm hại người còn thế lực thiện thì giúp đỡ người, làm lợi cho người như trên đã kể.

Nhưng giác giả phải hiểu rằng Thiện và Ác là tương đối, đó chỉ là hai hình thái đối lập của cùng một bản tánh. Bản tánh đó tức là Phật tánh. Phật tánh là bất nhị, vô phân biệt nhưng trong tâm niệm của chúng sinh thì có phân biệt, phân ra thành thiện ác, có người làm thiện, có người làm ác, có phân cực như vậy thì mới thành thế giới tương đối. Nói thế để mọi người hiểu rằng sẽ không bao giờ có chuyện tất cả mọi người đều làm thiện, cũng sẽ không bao giờ có chuyện tới một lúc nào đó sẽ không còn cái ác, bởi vì thiện ác cũng giống như các cặp phạm trù mâu thuẫn khác, cái này có thể biến thành cái kia nên sẽ không bao giờ hết được. Điều đó cũng giống như kinh Bát Nhã nói rằng Vô lão tử diệc vô lão tử tận.

Giác giả có thể thành tựu cụ thể gì trong tương lai ?

Không còn ai nghèo đói

Điều này thì ngày xưa các bậc giác ngộ không thể làm được bởi vì khoa học chưa phát triển, nhân duyên chưa tới. Vì vậy Ấn Độ là nơi phát sinh ra Phật giáo, vẫn nghèo đói triền miên. TQ là nơi Phật giáo đã truyền tới vào đầu công nguyên, vào đời Đường, thời đại của Huệ Năng, Thiền rất hưng thịnh, người giác ngộ rất nhiều, nhưng TQ vẫn nghèo đói triền miên cho tới tận thế kỷ 20.  Nhưng giác giả ngày nay có thể làm được việc giải quyết vấn đề nghèo đói của đại đa số người dân. Chúng ta hãy nói cụ thể về tình hình nước Việt Nam.

Việt Nam hiện nay có khoảng 97 triệu dân, số người nghèo đói không đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, cho tới năm 2019 chỉ còn khoảng 5 triệu người.

Tiêu chí và mức chuẩn nghèo nhà nước áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 như sau : Chuẩn mức sống tối thiểu: từ 1.3 triệu đồng/người/tháng trở xuống ở thành thị và 1 triệu đồng/người/ tháng tại nông thôn. Nếu ai sống dưới mức này thì được coi là nghèo đói.

Theo thống kê của UNDP (United Nations Development Programme = Chương trình Phát triển Liên hợp quốc) số người nghèo đói trên toàn thế giới tháng 7-2019 là 1,3 tỷ người, tổng dân số thế giới là 7,7 tỷ người, chiếm tỷ lệ : 16,8 %. Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương (PPP= Purchasing Power Parity) của địa phương để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Nếu ai có thu nhập dưới 365 USD/năm = 8.435.150 đồng/năm (tỉ giá giữa tháng 9-2019) tính theo PPP thì được coi là nghèo đói.

Như vậy nếu so với chuẩn nghèo của VN ngay cả đối với vùng nông thôn là 12 triệu đồng/năm thì người VN vẫn còn khá hơn so với thế giới nói chung. Tỉ lệ nghèo chính thức của VN cuối năm 2018 là 5,35%. Các số liệu cho thấy rằng người VN ít nghèo hơn so với thế giới. Điều đó là rõ ràng, không có ai ở VN phải bỏ nước ra đi vì nghèo đói như dân Trung Mỹ ở các nước Salvador, Honduras, Guatemala hay một nước Nam Mỹ khủng hoảng là Venezuela. Đây là hình ảnh dân Trung Mỹ phải bỏ nước ra đi vì nghèo đói.

Dân tị nạn tại biên giới Mỹ-Mexico tháng 5-2019

Chương trình giảm nghèo của nhà nước : giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1% – 1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3% – 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.

Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng hơn 5% nhưng để dứt điểm xóa nghèo không phải dễ bởi vì những hộ đã xóa nghèo có thể lại tái nghèo. Do đó để giảm nghèo thật sự từ 1% – 1,5% /năm cho cả nước tương ứng với con số tuyệt đối từ gần một triệu tới gần 1,5 triệu người mỗi năm, không phải con số nhỏ.

Cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho mọi người

Đời sống tinh thần của con người được cải thiện qua hệ thống phát thanh, truyền hình và internet. Thông tin ngày nay có thể đến được với tất cả mọi người một cách nhanh chóng và tiện lợi chủ yếu qua điện thoại di động thông minh (smartphone) bằng sóng wifi và các sóng 3G, 4G. Sóng 5G tốc độ nhanh cũng bắt đầu được triển khai thí điểm tại các thành phố lớn như SG và Hà Nội. Ngày nay giá smartphone đã đủ rẻ để bất cứ ai có nhu cầu đều có thể trang bị. Nhiều chương trình phát thanh (radio) và truyền hình (TV) kể cả quốc tế và quốc nội cũng đã được đưa lên mạng internet. Hệ thống video trực tuyến Youtube cũng sẵn sàng phục vụ. Mạng xã hội Facebook cũng trở nên vô cùng phổ biến với tất cả mọi người để mọi người đều có thể giao tiếp với thân nhân, bè bạn trên khắp thế giới.

Những ai cần đọc sách, đọc báo, xem video về bất cứ lĩnh vực gì đều có thể xem trên mạng kể cả việc học hỏi giáo lý Phật pháp đều có đủ. Chẳng hạn Duy Lực Thiền là một blog về Phật giáo đã hoạt động được 9 năm, cung cấp những tri thức về Phật pháp kết hợp chặt chẽ với khoa học để giúp mọi người hiểu thật sâu, củng cố lòng tin tự tâm nơi mỗi người.

Còn về đời sống vật chất, ngoài việc giúp cho những hộ gia đình nghèo nhất thoát nghèo, các giác giả còn làm việc để góp phần phát triển kinh tế nâng cao thu nhập bình quân đầu người.

GDP (Gross Domestic Product = Tổng sản phẩm quốc nội) theo giá hiện hành năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp 2 lần quy mô GDP năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD.

Vậy GDP tức là tổng trị giá sản phẩm và dịch vụ quốc nội bình quân đầu người tính theo giá hiện hành năm 2018 là 58,5 triệu đồng, bình quân hàng tháng là 4,875 triệu đồng. Thu nhập bình quân hàng tháng của một người là 4,8 triệu. Có lẽ nhiều người nhận thấy lương tháng của mình cao hơn mức đó. Nhưng cũng có rất đông người nghèo nhận thấy thu nhập hàng tháng của mình thấp hơn mức đó. Vì vậy nên nhà nước định nghĩa người ở thành phố mà có thu nhập dưới 1,3 triệu đồng/tháng hoặc ở nông thôn mà thu nhập dưới 1 triệu đồng/tháng thì bị xếp vào loại nghèo.

Thu nhập bình quân đầu người của VN hiện nay cũng còn rất thấp nếu so với một số nước khác. Chỉ cần so với vài nước chung quanh cũng đủ thấy (tính bằng USD) : Đài Loan 25534, Thái Lan 7084, Malaysia 10703, Philippines 3099, Singapore 61230, TQ 9633. Trong khi đó VN chỉ có 2587.

Do đó chúng ta phải lo nâng cao năng suất lao động, nâng cao kết quả sản xuất để theo kịp thế giới, phải góp phần xóa đói giảm nghèo cho những người nghèo túng nhất trong xã hội. Bằng cách nào ?

Bằng cách làm việc có công tâm, hiệu quả, trách nhiệm, không lo vun quén cho cá nhân, không lãng phí tài nguyên của xã hội.

Góp phần vào tiến bộ khoa học kỹ thuật               

Tham gia xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ và người dân bao gồm cá nhân và công ty xí nghiệp nếu không dùng giấy in hoặc dùng rất ít, tối thiểu giấy in, phần lớn các giao dịch đều thực hiện bằng điện tử qua mạng internet thì vừa nhanh chóng, tiện lợi vừa giảm được rất nhiều giấy in. Từ đó tiết kiệm được hàng vạn hecta rừng.

Nếu các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, phần lớn việc mua bán kể cả mua bán lặt vặt ngoài đường phố đều được thực hiện bằng điện thoại di động thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều thứ : giảm bớt chi phí in tiền, nhà nước sẽ không còn cần phải in ra một số lượng tiền khổng lồ dùng trong lưu thông hàng hóa nữa. Cá nhân thì giảm bớt thời gian đếm tiền thối tiền. Những người muốn quản lý việc chi tiêu cá nhân của mình, nhất là các bà nội trợ, không còn phải mất thì giờ ghi chép vào sổ tay nữa, các khoản chi tiêu có thể được liệt kê nhanh chóng, chính xác, đầy đủ hàng ngày chỉ cần bấm nút.

Những tiến bộ về cơ học lượng tử dẫn đến hiệu suất sử dụng năng lượng ngày càng lớn và con người càng bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chuyển sang sử dụng năng lượng sạch không gây ô nhiễm môi trường. Chẳng hạn năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng tổng hợp nhiệt hạch.

Những con chip dùng trong các flagship (điện thoại cao cấp) hiện nay đã sử dụng tiến trình 7nm (nano mét) nó sẽ ít hao pin hơn và hoạt động nhanh hơn. Một số hãng hàng đầu đang nghiên cứu tiến trình 5 nm để đạt hiệu quả cao hơn nữa.

Con chip Snapdragon 855 tiến trình 7nm của hãng Qualcomm (Mỹ) hỗ trợ 5G

Những tấm pin mặt trời ngày nay đã đạt hiệu suất chuyển hóa năng lượng từ quang năng sang điện năng ngày càng cao . Hiệu suất tấm pin năng lượng mặt trời đa tinh thể Polycrystalline hiện tại có hiệu suất trung bình khoảng 15-22% . Bạn có thể nhận ra tấm pin năng lượng mặt trời đa tinh thể bởi đặc  trưng là màu xanh đậm và màu xanh lốm đốm.

Tấm pin mặt trời đa tinh thể

Loại tấm pin mặt trời đơn tinh thể Monocrystalline giá có nhỉnh hơn loại đa tinh thể chút xíu , nhưng hiệu quả chúng mang lại cao hơn với cùng một điều kiện lượng nắng và diện tích bề mặt như nhau, có thể đạt hiệu suất 22-27 %. Bạn có thể nhận ra tấm pin năng lượng mặt trời đơn tinh thể bởi đặc  trưng là màu đen đậm.

Tấm pin mặt trời đơn tinh thể

Một vấn đề mà nhân loại đang gặp phải là lão hóa dân số. Dân số của các nước phát triển như Nhật, Hàn Quốc, Anh, Nga, Đài Loan đang có chiều hướng suy giảm vì tỉ lệ sinh thấp; kể cả một số nước đang phát triển như TQ dân số cũng có khuynh hướng lão hóa, sẽ dẫn đến tình trạng thiếu lao động. Như vậy người ta sẽ giải quyết cách nào về tình trạng người trẻ phải nuôi ngày càng nhiều người già ? Người ta sẽ dùng robot để sản xuất thay cho lao động. Hiện nay các cường quốc đang thi đua phát triển trí tuệ nhân tạo (AI = Artificial Intelligence). Robot sẽ ngày càng thông minh hơn và sẽ đảm nhận nhiều công việc phức tạp, gian khổ và nguy hiểm hơn. Số giờ lao động theo quy định của con người sẽ ngày càng ít đi nhưng mức độ hưởng thụ thì chỉ tăng chứ không giảm bởi vì robot đã làm thay con người rất nhiều việc.

Đã có nhiều bài viết nói về việc robot sẽ thay thế lao động, như bài sau đây của John Vũ :

“Tôi bước vào trong cửa hàng Amazon Go, nơi không có nhân viên thu ngân, lấy vài mặt hàng: hai cuốn sách và cái bánh sandwich, rồi bước ra. Mọi thứ tôi mua sẽ được làm hoá đơn cho tài khoản Amazon của tôi.

Công nghệ của cửa hàng bao gồm các cảm biến, máy quay, chụp ảnh, và phần mềm trí tuệ nhân tạo – đã được dùng trong xe tự lái và cơ xưởng tự động hoá. Các cảm biến của cửa hàng phát hiện thứ tôi đã chọn, máy quay nhận diện tôi là khách hàng, và tích hợp vào ứng dụng Amazon Go mà tôi đã cài đặt vài ngày trước trên điện thoại di động. Việc bán hàng rất nhanh chóng và thuận tiện, hoàn toàn là kinh nghiệm thú vị vì không có thủ qũy để tôi trả tiền. Trong thời gian ngắn ở đó, tôi chỉ thấy vài khách hàng như tôi, vào mua cái gì đó rồi bước ra. Chẳng bao lâu nữa kiểu cửa hàng này sẽ sẵn có trên khắp nước Mỹ và thậm chí khắp thế giới. Tôi nghĩ tới tất cả những người làm việc như thủ quỹ, người hỗ trợ trong các cửa hàng dù lớn hay nhỏ và tự hỏi họ có biết về điều này không? Cái gì sẽ xảy ra khi công nghệ tiếp quản kế sinh nhai của họ?

Năm ngoái, tôi đã tới thăm một cơ xưởng được tự động hoá đầy đủ ở Đức nơi các robots làm giầy và quần áo thể thao mà không có bóng dáng một người nào. Mọi thứ đều được điều khiển bởi máy tính có phần mềm trí tuệ nhân tạo. Người quản lý ở đó bảo tôi rằng trong vòng một năm, họ sẽ xây dựng nhiều cơ xưởng như thế trên khắp thế giới, họ không cần công nhân vì công nghệ đang ngày càng tốt hơn và “khôn” hơn.

Ông ấy giải thích: “Chính chi phí cho lao động làm cho giá thành cao, bằng việc đầu tư vào tự động hoá chúng tôi có thể làm tăng lợi nhuận và trong tương lai, tự động hoá sẽ là yếu tố then chốt trong mọi việc chế tạo”. Tôi nghĩ về tất cả những người đang làm việc như công nhân lao động trong cơ xưởng giầy dép và quần áo ở các nước đang phát triển (như Việt Nam), và tự hỏi họ có biết về điều này không? Cái gì sẽ xảy ra cho họ khi công nghệ tiếp quản kế sinh nhai của họ?

Có nhiều xe hơi tự lái đang được kiểm thử trên nhiều thành phố lớn. Năm ngoái, tôi đã ngồi trên một chiếc xe tự lái đưa tôi từ đại học Carnegie Mellon tới sân bay trong giờ giao thông cao điểm với hàng trăm xe chạy trên đường cao tốc. Nó là kinh nghiệm kinh hoàng với tôi, nhưng mọi thứ đều tốt đẹp và không có tai nạn. Người quản lý công ty xe tự lái bảo tôi rằng trong vòng vài năm công nghệ này sẽ hoàn toàn phá huỷ ngành công nghiệp vận tải. Sẽ không cần người lái xe. Tôi nghĩ về tất cả những tài xế taxi hay xe tải ở các nước đang phát triển, và tự hỏi họ có biết điều này không?

Ngay cả với ai đó như tôi, người đã dành nhiều năm trong công nghiệp công nghệ và dạy các môn học về trí tuệ nhân tạo, học máy, và phân tích dữ liệu tại đại học, tôi vẫn bị ngạc nhiên về tốc độ thay đổi của công nghệ. Tôi nghĩ về tất cả những người, không chỉ công nhân lao động, mà còn cả công nhân văn phòng rằng những công nghệ này sẽ tác động và tự hỏi cái gì sẽ xảy ra trong mười, hai mươi năm tới.”

Nhiều người lao động sẽ mất việc làm nhưng sản phẩm trên toàn cầu sẽ vẫn nhiều hơn. Vấn đề là phải phân phối lại thu nhập. Các nhà tư bản giàu sụ sẽ bắt buộc phải làm từ thiện, phân phối lại thu nhập cho người lao động thất nghiệp để có người mua hàng của họ. Hoặc vai trò phân phối lại thu nhập sẽ do chính quyền đảm nhận. Những chính quyền độc tài như TQ càng có nhiều khả năng để làm được vai trò này.

Robot lắp ráp xe hơi thay cho con người

Một trong những vấn đề quan trọng nhất của nhân loại mà giác giả nhất định phải tham gia, đó là vấn đề biến thông tin và năng lượng thành vật chất. Sở dĩ vấn đề này cực kỳ quan trọng vì nó sẽ giải quyết tương lai của nhân loại một cách toàn diện và hữu hiệu.

Những bản thiết kế về lương thực thực phẩm, đồ dùng của nhân loại là thông tin. Còn ánh sáng, phong năng, thế năng, điện năng là năng lượng và nguyên liệu. Con người sẽ biến các loại thông tin và năng lượng đó thành thức ăn và đồ dùng bằng những chiếc máy in 3D hiện đại.

Ngôi nhà mẫu sử dụng công nghệ in 3D của của công ty ICON có giá 10.000 USD nhưng hãng cam kết sẽ giảm giá xuống 4.000 USD trong tương lai gần. 

Ngôi nhà mẫu này có đầy đủ phòng khách, phòng ngủ, phòng tắm và mái vòm cong. “Có một vài công ty có thể in nhà và làm kiến trúc nhà”, Ballard nói.

Công ty này đã hợp tác với New Story, một tổ chức phi lợi nhuận giải quyết vấn đề nhà ở trên toàn cầu. “Chúng tôi sẽ xây nhà cho cộng đồng tại Haiti, El Salvador và Bolivia”, Alexandria Lafci, đồng sáng lập New Story nói với The Verge.

Một ngôi nhà rộng 60 m2 với khá nhiều tiện nghi chỉ có giá 4000 USD và tới một lúc nào đó sẽ được in ra và tặng không cho người có nhu cầu. Cá nhân và cả các quốc gia sẽ không còn cần thiết phải tranh giành giành nhau về các nguồn tài nguyên nữa. Bời vì khoa học sẽ ngày càng giúp cho con người nhận thức và thực hiện được tánh không.  

Kết luận :

Giác giả là những người hiểu Ngũ uẩn giai không五蘊皆空 (All five elements are empty) Chẳng những hiểu mà họ còn có khả năng thực hiện ý tưởng này bằng khoa học. Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư không, không có thật) Tâm chỉ là tánh không nhưng nó có khả năng biến tánh không đó thành thế giới vật chất. Tánh không đó được ứng dụng vào cuộc sống thực tế của con người trên thế gian, không phải là chuyện đàm huyền luận diệu nói suông vô bổ, mà ứng dụng được trong cuộc sống đời thường hàng ngày. Những máy in 3D hiện đại sẽ in ra từ nhà cửa cho tới lương thực thực phẩm và tất cả đồ dùng của con người. Thế giới tương lai sẽ bớt dùng những phương tiện vận tải như xe hơi, máy bay, tàu hỏa, tàu thủy nhất là đối với cự ly xa, bởi vì người ta có thể thay thế chúng bằng phương thức viễn tải lượng tử (téléportation) nghĩa là biến vật thể chẳng hạn một con người, thành lượng tử, và chuyển đi xa bằng phương thức liên kết lượng tử (quantum entanglement), đây là loại phương thức ứng dụng vô sở trụ (non locality) của kinh Kim Cang nghĩa là bởi vì cả không gian, thời gian và số lượng đều không có thật, nên việc chuyển một con người từ Trái Đất lên Mặt Trăng cũng chỉ một niệm là đến. Khoa học sẽ thực hiện việc này bằng cách đưa người đó vào phòng hạt trên Địa Cầu, biến người đó thành lượng tử và anh ta hoặc chị ta tức thời biến mất trên Địa Cầu và đồng thời xuất hiện tại phòng hạt trên Mặt Trăng. Rồi khoa học sẽ tiến xa hơn nữa, đưa một con người lên Sao Hỏa, cũng một niệm là đến, nhanh chóng dễ dàng như hiện nay tại VN chúng ta có thể nói chuyện và nhìn thấy thân nhân của mình bên Mỹ. Không cần tới những tên lửa cao hàng trăm mét có sức mang hàng trăm tấn và những phi thuyền cực kỳ đắt đỏ. Việc di chuyển giữa Địa Cầu và Sao Hỏa sẽ an toàn và dễ dàng như đi chợ.

Đến lúc đó con người không còn phải lo về cuộc sống vật chất của mình nữa mà chỉ phải lo làm thế nào để sống một cuộc đời khỏe mạnh, an lành. Giác giả làm việc tận tâm không phải vì cá nhân mình, cũng không phải chỉ vì gia đình mình, cũng không phải chỉ cho quốc gia dân tộc của mình mà vì toàn thể nhân loại, nói rộng hơn nữa là vì toàn thể chúng sinh. Rõ ràng trong việc in ra thực phẩm, nhân loại có đủ thực phẩm để ăn mà không cần phải chăn nuôi, đánh bắt thủy hải sản, giết chóc các con vật đáng thương, nên nói vì toàn thể chúng sinh cũng không hề quá đáng.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bạn nghĩ gì về bài viết này?