Bảng tổng hợp mp3 giải đáp của Thầy Duy Lực và Mục lục

Bảng Tổng hợp các danh mục Audio mp3 Giải đáp của Thầy Duy Lực

Bảng Tổng hợp 2, Danh mục liệt kê các công bố của Duy Lực Thiền (tiếp)

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới

Thông Báo 28-02-2014  (thông báo này chỉ còn là dấu tích lịch sử, không còn khả dụng)

Do Microsoft đã có nhiều thay đổi về cách sử dụng Skydrive (nơi chứa các files âm thanh thuyết pháp của thầy Duy Lực) mà nay đã đổi tên thành OneDrive, nên muốn download các files âm thanh đó, không thể bấm trực tiếp vào các files cụ thể liệt kê trên trang Duy Lực Thiền, quý vị chỉ cần nhớ số thứ tự của file muốn download, hãy bấm vào hàng chữ : Mở thư mục âm thanh … …

Nó sẽ mở ổ đĩa OneDrive trên mạng theo số thư mục có ghi trên hàng chữ nói trên. Xin nhớ một điều, mỗi thư mục chứa tới 100 files trong khi mỗi bảng liệt kê trên Duy Lực Thiền chỉ kê 50 files. Do đó cần thiết phải nhớ số thứ tự thì mới dễ tìm. Bảng kê trên trang Duy Lực Thiền chỉ còn tác dụng nêu đại ý của file âm thanh với chữ có dấu nên dễ đọc. Còn bảng liệt kê trên OneDrive là tên file, chữ không có dấu nên khó đọc hơn. Nhớ số thứ tự thì dễ dàng tìm đúng file mình muốn download. Bấm vào tên file để download.

Quý vị có thể dùng computer, laptop, máy tính bảng hay smartphone đều có thể download được. Tốt nhất là dùng smartphone, vì nó là một phương tiện gần gũi nhất với mỗi người và rất tiện lợi để nghe bất cứ lúc nào rảnh rỗi. Tuy là files âm thanh nhưng một số files có hình của các nhân vật được đề cập, quý vị có thể thấy được hình khi nghe bằng máy nghe nhạc trên điện thoại.

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới.

Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Duy Lực dịch và trứ tác

01 Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải

02 Bá Trượng Ngữ Lục

03 Bá Trượng Quảng Lục

Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục – Hoài Hải Thiền Sư mp3

04 Bửu Tạng Luận – Tăng Triệu

Bửu Tạng Luận mp3

05 Cội nguồn truyền thừa và Phương pháp tu trì của Thiền tông

Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì Thiền Tông mp3

06 Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma

Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma mp3

07 Đại Huệ Ngữ Lục

Đại Huệ Ngữ Lục mp3

08 Đại Thừa Tuyệt Đối Luận – Nguyệt Khê Thiền sư

Đại Thừa Tuyệt Đối Luận mp3

09 Danh từ Thiền Học – Ngữ vựng Phật Học

10 Đường lối thực hành Tham Tổ Sư Thiền- Duy Lực

Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền mp3

11 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 2 mp3

12 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 2 mp3

13 Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết mp3

14 Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền

Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền mp3

15 Truyền Tâm Pháp Yếu – Hoàng Bá Hy Vận

Truyền Tâm Pháp Yếu- Hoàng Bá Hy Vận mp3

16 Kinh Kim Cang

Chư Kinh Tập Yếu : Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh mp3

17 Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già mp3

18 Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Kinh Thủ Lăng Nghiêm mp3

19 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Yếu chỉ

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

20 Kinh Viên Giác 

Kinh Viên Giác mp3

21 Lâm Tế Ngữ Lục 

Đường Lối Thực Hành Tổ Sư Thiền- Lâm Tế Ngữ Lục 1,2,3 mp3

22 Nam Tuyền Ngữ Lục

Nam Tuyền Phổ Nguyện Ngữ Lục mp3

23 Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng

Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng mp3

24 Phật Pháp với Thiền Tông – Duy Lực

Phật Pháp với Thiền Tông- Thiền Sư Đại Huệ mp3

25 Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp

Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp mp3

26 Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa thượng

Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa Thượng mp3

27 Tham Thiền Phổ Thuyết- Lai Quả Thiền Sư

Tham Thiền Phổ Thuyết – Thiền Sư Lai Quả mp3

28 Thiền Thất Khai Thị Lục – Lai Quả Thiền Sư

Thiền Thất Khai Thị Lục- Thiền Sư Lai Quả mp3

29 Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải- Trung Phong Hòa Thượng

30 Triệu Luận Lược Giải – Tác giả Tăng Triệu, Lược giải Hám Sơn

Triệu Luận Lược Giải – Tăng Triệu -Hám Sơn Chú Giải mp3

31 Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 – Duy Lực

Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 mp3

32 Yếu chỉ Kinh Hoa Nghiêm

33 Yếu chỉ Phật pháp – Duy Lực

34 Yếu chỉ Trung Quán Luận – Long Thọ Bồ Tát

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

Danh Sách Bài Viết chính của Blog Duy Lực Thiền

1 TÁNH KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO

2 TẠI SAO TÂM LÀ KHÔNG LẠI CÓ VÔ SỐ CÔNG DỤNG ?

3 Phật giáo hiểu biết gì về thế giới ?

4 Thiền và Sức khỏe

5 THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN PHẬT GIÁO

6 Sự Thật là gì ?

7 Liễu nghĩa của “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

8 ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI ?

9 Lời mở đầu

10 THỜI-KHÔNG LÀ GÌ ?

11 Thế giới ta đang sống là ứng dụng của Tâm bất nhị

12 LỰC HỌC THÍCH CA ĐỐI CHIẾU VỚI CƠ HỌC NEWTON VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI CỦA EINSTEIN

13 ĐẶC ĐIỂM CỦA BLOG DUY LỰC THIỀN

14 Cốt tủy của Phật pháp

15 Khi Vật lý gõ cửa Bản thể học

16 Lục căn, lục trần, lục thức = 18 giới

17 Thế lưu bố tưởng và các hiện tượng lạ thường

18 Tông chỉ chung của Đạo Phật là phá chấp

19 TẬP QUÁN (THÓI QUEN) CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ĐỐI VỚI VŨ TRỤ VẠN VẬT ?

20 Hướng dẫn tìm kiếm

21 AI LÀ NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI ?

21 Bis PHẬT PHÁP LÀ KHOA HỌC TÂM LINH CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO  NHÂN LOẠI

22 CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN TOÀN DỰA VÀO KHOA HỌC CHĂNG ?

23 NIẾT BÀN VÀ CHÁNH BIẾN TRI

24 CON NGƯỜI CÓ THỂ DU HÀNH TRONG THỜI GIAN CHĂNG ?

25 Từ David Bohm đến Kinh Lăng Nghiêm

26 TỨ PHÁP GIỚI CỦA KINH HOA NGHIÊM

27 Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

28 KHẮP KHÔNG GIAN, KHẮP THỜI GIAN VÀ VÔ SỐ LƯỢNG CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

29 NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

30 TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA CÁC PHÁP

31 Thiền sư và Nhà khoa học

32 PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG

33 ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO HẠNH PHÚC NHÂN LOẠI

34 PHẬT PHÁP VÀ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

35 VẠN PHÁP DUY THỨC CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

36 Ý NGHĨA RÕ RÀNG CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

37 SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

38 SỰ KẾT THÚC CỦA VẬT LÝ HỌC

39 SỰ KẾT THÚC CỦA SINH VẬT TIẾN HÓA LUẬN

40 SỰ BẮT ĐẦU CỦA KHOA HỌC TÂM LINH

41 THẦN THÔNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

42 CHỐT LẠI CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC

43 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN

44 NHỮNG KHÁI NIỆM ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

45 THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO

46 MỘNG VÀ THỰC KHÔNG DỄ PHÂN BIỆT

47 “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM” LÀ NGHĨA THẾ NÀO ?

48 Tìm hiểu về Tịnh Độ Tông

49 TU HÀNH THEO PHẬT PHÁP LÀ THẾ NÀO ?

50 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ KHÔNG GIAN CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG, KHÔNG PHẢI THẬT ?

51 THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ

52 Amit Goswami- Vật Lý Lượng Tử Nói Gì Về Bản Chất Của Thực Tại?

53 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ SỐ LƯỢNG VẬT CHẤT LÀ ẢO KHÔNG PHẢI THẬT ?

54 CÁC THÁNH TÍCH PHẬT GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

55 CÁC DẠNG THỨC THÔNG TIN

56 TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

57 PHẬT PHÁP VÀ THÁM HIỂM KHÔNG GIAN

58 SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VẬT LÝ VÀ TÂM LÝ

59 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ THỜI GIAN CHỈ LÀ ẢO ?

60 THÔNG ĐIỆP CỦA PHẬT GIÁO

61 VẬT CHẤT, NĂNG LƯỢNG CŨNG LÀ THÔNG TIN

62 NGŨ THỪA PHẬT GIÁO và TRƯỜNG A-LẠI-DA THỨC

63 BÀN THÊM VỀ CHÁNH BIẾN TRI

64 TRI THỨC CỦA NHÂN LOẠI ĐÃ TIẾN TỚI ĐÂU ?

65 MIỀN TẦN SỐ A-LẠI-DA THỨC

66 AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

67 TÂM VÀ VẬT TRONG PHẬT PHÁP

68 DANH VÀ SẮC ĐỀU LÀ GIẢ DANH

69 Phật giảng giải cho Ca Diếp về Thế Lưu Bố Tưởng

70 THẾ GIỚI LÀ DO THÓI QUEN TÂM LÝ TẠO RA

71 THUYẾT KIÊN BẠCH ĐỒNG DỊ CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ?

72 TÂM VÀ THỜI ĐẠI LƯỢNG TỬ

73  ẢO VÀ THẬT

74 NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

75 TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

76 ĐỐI CHIẾU VẬT LÝ VŨ TRỤ VÀ PHẬT PHÁP

77 CÁI TA THẬT RA LÀ CÁI GÌ ?

78 PHẬT GIÁO CÓ THỂ HƯỚNG DẪN GÌ CHO KHOA HỌC VÀ NHÂN LOẠI ?

Danh Sách Bài Viết phụ (Nhà sau) của Blog Duy Lực Thiền

1 Cầu bất đắc khổ

2 Giới thiệu chuyên mục Nhà sau

3 Nữ nhân thị lão hổ

4 Sống khổ : Thiên tai, Sóng thần Nhật Bản

5 Đăng Biện Giác Tự Thơ Vương Duy

6 Sống khổ : “Tôi không thể chịu đựng nổi cuộc sống” – Dalida

7 OÁN TẮNG HỘI KHỔ : ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA (DEVADATTA)

8 ÁI BIỆT LY KHỔ : HÒN VỌNG PHU VÀ MẠNH KHƯƠNG NỮ

9 Mối “vạn cổ sầu” của các nhà thơ

10 ĐÓN XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA

11 Chuyến viếng thăm chùa Cao Mân, Trung Quốc của Thầy Duy Lực

12 VĂN HÓA MÍNH ĐÀM

13 CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG VÀ THẾ GIỚI ẢO

14 CUỘC ĐỜI LÀ ẢO MỘNG

15 NGÔI LÀNG BÌNH YÊN

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

17 HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

18 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY QUẢ VỆ TINH BỊ CHÌM DƯỚI ĐÁY SÔNG

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

20 HẦU HI QUÝ – ĐẦU BỊ CHÉM ĐỨT NGƯỜI VẪN SỐNG- SÚNG BẮN KHÔNG BỊ THƯƠNG- THẤU THỊ

21 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY CON BÒ BỊ CHÌM DƯỚI LỚP BĂNG DÀY

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

23 LIÊU VĂN VĨ – NHẬN THỨC VỀ NHÂN THỂ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

24 Trương Bảo Thắng – Cảnh cáo nữ ảo thuật gia nước ngoài và nhà xã hội học bảo thủ

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

26 TRƯƠNG BẢO THẮNG- Thời thơ ấu gian khổ – Kết cục thành đạt

27 Trương Bảo Thắng trong trận động đất Đường Sơn khủng khiếp

28 Trương Bảo Thắng bị cha nuôi bỏ rơi, người đời bắt đầu phát hiện siêu nhân

29 Trương Bảo Thắng – Lần đầu được tiến dẫn về tỉnh Liêu Ninh, chưa được trọng thị

30 Hầu Hi Quý – Trị bệnh thần tốc, hô phong hoán vũ, nhận ra và đọc đúng âm của những chữ ông chưa từng học

31 Trương Bảo Thắng – Đản sinh kỳ lạ, tuổi thơ bất hạnh

32 CÁ NHÂN TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

33 Trương Bảo Thắng – Đi về nam, đến Quảng Châu, Thâm Quyến

34 Trương Bảo Thắng- Tranh cãi với cảnh sát và cảnh vệ

35 Trương Bảo Thắng- Tha tâm thông và dùng ý niệm di chuyển vật thể

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

37 CÁI NHÌN TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH

38 Hầu Hi Quý- những chuyện thần kỳ xảy ra năm 1979, sau “cách mạng văn hóa”

39 LIÊU VĂN VĨ- LỜI BẠT (SÁCH VỀ HẦU HI QUÝ)

40 Lời tác giả- Lời tựa- Lời bạt của sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng

41 Trương Bảo Thắng- Trị bệnh cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh

42 CÓ PHẢI ZÉNON (ZENO) NGỤY BIỆN KHÔNG ?

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

44 Hầu Hi Quý – Gặp gỡ những người nổi tiếng của Hong Kong

45 Hầu Hi Quý- Biến ra đô la Mỹ, cảnh cáo cô tiếp viên nhà hàng Tây Uyển

46 Những nhà ngoại cảm, họ là ai ?

47 MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ 2014

48 DUY TÂM – LƯƠNG KHẢI SIÊU

49 VÔ THƯỜNG MÙA WORLD CUP

50 CHÍNH TRỊ, CÔNG NGHIỆP VÀ TIN HỌC

51 Thí nghiệm của Maria Chekhova về rối lượng tử (quantum entanglement)

52 HIỆU ỨNG TU HÀNH

53 VẤN ĐỀ CỦA NỀN GIÁO DỤC THẾ GIỚI

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

55 MỸ NHÂN VÀ CHUYỆN TU HÀNH

56 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN TƯƠNG ĐỐI

57 Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

58 NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

59 ĐỨNG TRƯỚC THẾ GIỚI

60 THẦN THÔNG THỜI HIỆN ĐẠI

Một số video clips về Khoa học hỗ trợ để hiểu Tánh Không

Vạn Pháp Duy Thức

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 1 – Phụ đề Việt ngữ

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 4 – Ứng dụng Toàn Ảnh – Vũ Trụ Ảo – Phụ đề Việt ngữ

Universe 5 – Bộ Não Người Là Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 6 – Bộ não người và cơ chế tạo ra thực tại ảo

Universe 7 – Mỗi Người Có Vũ Trụ của Riêng Mình – Phụ đề Việt ngữ

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Universe 9 – Chúng ta thấy thế giới không đúng như nó là – Phụ đề Việt ngữ

Universe 10 – Niềm Tin Trong Đời Sống – Phụ đề Việt ngữ

Universe 11 – Cảm Nhận, Niềm Tin Có Thể Làm Thay Đổi Gen – Phụ đề Việt ngữ 

Universe 12 – Tâm Mang Tiền Đến Cho Bạn – Phụ đề Việt ngữ

Universe 13 – Tiếng Ồn Toàn Ảnh – Chúng Ta Có Thể Làm Gì – Phụ đề Việt ngữ

Não phản ánh Tâm đã quyết định trước Ý thức 6 giây

Nguoi choi Tro Choi Nhan Loai co the lam gi ?

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 1 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 2 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 3 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp – Tổng Kết – Việt dịch

Vũ Trụ Song Song – Bồ Tát Vô Trước

Advertisements
Đăng tải tại Thầy Duy Lực giải đáp (Audio mp3) | 2 phản hồi

Thư Mục Âm Hình- Thuyết giảng tiêu biểu

0002 Lục Tổ Huệ Năng là người nước nào ?

0010 Đại Trí Độ Luận của Long Thọ Bồ Tát

0012 Bốn bài kệ của Vĩnh Gia Huyền Giác- Không thể kiến lập cái biết

0013 Thấy không phải do con mắt, tánh thấy bất sinh bất diệt

0026 Bộ lạc Kogi ở Nam Mỹ

0029 Công án Hương Nghiêm- người treo mình ngậm cành cây

0032 Đom đóm đốt núi Tu Di

0033 Giới thiệu Hòa thượng Duy Lực

0038 Thuyết pháp tại Long Khánh- Câu chuyện Huỳnh Đình Kiên

0039 Nói về sự Mê Ngộ của sư Cao Phong

0050 Hướng dẫn tham Tổ Sư Thiền

0062 Mục Kiền Liên- Lực hấp dẫn- Cứu độ- Tịnh độ- 5 thứ nghi…

0065 Huỳnh Đình Kiên- Đầu thai- Khứ hậu lai tiên- Chiêm bao- Tăng và Ni

0094 Như thị- Phỉ bang Phật Pháp- Chúng sinh là Phật đã thành- Mâu thuẫn Hawking- Hội Long Hoa

0105 Hư Vân hòa thượng và ông tăng đắp đường lộ

0106 Hữu tình- Ẩn tâm- Hồi hướng- Biểu đồ Nguyệt Khê- Newton Einstein Thích Ca- Chủ khách

0107 In kinh- Biên kiến- Vô ngã- Pavlov- Các vị Phật Bồ Tát- Liễu Nhiên- Ni Thực Tế

0116 Hành bổn phận- DNA- Cộng nghiệp, biệt nghiệp- Tướng, tưởng, hành ấm- Tam tịnh nhục

0119 Hám Sơn 20 cuốn- Tứ tướng- Lực học Thích Ca- Định Huệ- Lời dạy của Lục Tổ

0120 Tham thoại đầu có thấy gì là sai- Hawking- Hoạt bát vạn năng- 4 bài kệ của Vĩnh Gia- Mạt pháp

0125 Cầu xuất gia với Văn Thù- Nhân duyên xuất gia- Cách tham thiền-Ms Phương Canada

0127 Định Huệ không hai- Không, Giả, Trung- Pháp Nhãn Văn Ích

0137 Bơm mực- Tham thiền lười học- Huỳnh Bá, Lâm Tế- Thí nghiệm Pavlov

0145 Biểu đồ 4 thừa của Phật giáo theo Ngài Nguyệt Khê

0146 Tông chỉ Tổ Sư Thiền- Thiên Thai Tông- Hoa Nghiêm Tông

0202 Bộ lạc Kogi sinh hoạt giống Tăng Đoàn

0203 Chưa ngộ trình công phu là trình cái gì ?

0204 Ngoài Tổ Sư Thiền còn pháp môn nào tu được kiến tánh ?

0226 Khai thị Không gian 4 chiều- Làn song ánh sáng- Triết lý sinh mạng

0292 Con thấy Krisnamurti luận rất hay nhưng không biết có đúng chánh pháp không ?

0301 Phật tánh khác với tâm chúng sanh thế nào ?

0302 Khi tham và khán có nghi tình, bị mệt, có thể ngưng không ?

0309 Phật nói 3 điều không thể biết

0316 Phật tánh vốn đầy đủ, sao Lục Tổ vẫn phải nhờ người viết chữ giúp

0356 Những hiện tượng đặc dị công năng xảy ra ở Trung Quốc gần đây

0376 Kết quả tu Tịnh Độ và Tham Thiền ra sao ?

0396 Lời của ngài Lai Quả và Nguyệt Khê có mâu thuẫn không ?

0401 Khai thị về Nghi Tình

0454 Vô thủy vô minh và Nhất niệm vô minh- 2 loại chiêm bao

0475 Tại sao Chứng Đạo Ca nói ngoại đạo thông minh chẳng trí huệ ?

0480 Hòa thượng Tuyên Hóa kiến tánh triệt để chưa ? có được ngài Hư Vân chứng nhận không ?

0507 Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, tâm và thức phân biệt thế nào ?

0526 Ngài Lai Quả nói lúc đến thoại đầu, đi chẳng biết đi, ngồi chẳng biết ngồi…

0530 Vì sao Tổ Đạt Ma chỉ quảy trên vai có một chiếc giày ?

0536 Ngài Suzuki nói Bồ Tát muốn thành Phật phải nhờ Phật gia trì ?

0543 Sư phụ kể chuyện quy củ Thiền đường Cao Mân ở Trung Quốc

0545 Hư Vân hòa thượng thuộc tông phái nào ?

0549 Phật đưa cành hoa, Ca Diếp mỉm cười, niêm hoa vi tiếu

0561 Đang thọ 5 giới, muốn thọ Bồ Tát giới- chuyện vua Ba Tư Nặc- Tội phá giới và tội nhân quả

0565 Ngài Nguyệt Khê nói Tư tưởng tức là Tang vật

0584 Chuyện Kim Bích Phong- Huệ Nam luật sư- Thần Già lam

0599 Thế nào là Tam Huyền Tam Yếu của Tổ Lâm Tế ?

0608 Dùng cái biết để tu có thể kiến tánh không ?

0621 Theo lời của Phật trong kinh Kiến Tánh thì bộ óc làm đày tớ cho Phật tánh

0637 Có phải tu thiền chỉ thờ Phật Thích Ca và Tổ Ca Diếp chứ không thờ Phật khác ?

0638 Tại sao ngài Nguyệt Khê dạy khán còn ngài Lai Quả dạy đề khởi thoại đầu ?

0652 Trước khi có vũ trụ con người ở đâu, con người từ đâu mà sinh ra ?

0654 Con thấy Phật Thích Ca từ bi, Phật Di Lặc hoan hỉ còn Tổ Đạt Ma trợn mắt giận dữ, xin Sư phụ giải thích ?

0661 Xin Sư phụ giải thích lợi ích giữa ngồi thiền và tham thiền

0664 Trúc Lâm Đại Sĩ nói hừng hực nóng toát mồ hôi, chiếc khố mẹ sanh chưa từng ướt nghĩa là sao, xin Sư phụ giải thích ?

0666 Pháp thí có đổi được Tài thí không ?

0703 Vì sao bài kệ của Huệ Năng được truyền Y Bát ?

0705 Kinh nói Tất cả lời nói đều là hư vọng không có nghĩa thật, còn không nói ra có phải là hư vọng không ?

0706 Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm nghĩa là thế nào ?

0707 Giải thích về tham Tổ Sư Thiền khi có Phật tử thắc mắc Chết đi về đâu

0712 Truyền tâm ấn là gì, tại sao ngài Vĩnh Gia đã ngộ còn phải tìm Lục Tổ xin ấn chứng ?

0713 Tại sao ngài Hám Sơn và ngài Nguyệt Khê nhận xét trái nhau về Đại Thừa Khởi Tín Luận ?

0717 Cái Không dung nạp tất cả là do Hòa thượng nói hay ngài Long Thọ nói ?

0723 Kể chuyện cô Chơn Nguyệt và Hòa thượng Quang Tâm với Kinh Kim Cang

0725 Xin Hòa thượng kể về hai bài kệ của Thần Tú và Lục Tổ

0734 Ai là người không cùng muôn pháp làm bạn ?

0748 Mục Kiền Liên trai tăng cúng dường cầu siêu cho mẹ như Kinh nói, vậy có đúng không ?

0767 Ni cô Thực Tế và thiền sư Thiên Long độ người

0795 Câu chuyện về pháp sư Huệ Trì nhập định 700 năm ở Tứ Xuyên

0796 Tại sao ngài Mục Kiền Liên đã chứng quả A La Hán mà vẫn còn bị nhân quả chi phối ?

0800 Tại sao Phật Như Lai hai mắt mà Đạo Cao Đài chỉ vẽ có một mắt ?

0803 Có thể thấy tin tức công phu không ?

0812 Đại trí như Ngu là như thế nào ?

0819 Chuyện về đứa bé và thiền sư “thế à”

0840 Ngày xưa tu có chứng đắc, ngày nay con không thấy ai chứng đắc ?

0901 Phật giáo nói gì về những thần đồng khoa học, toán học ?

0902 Một số biểu hiện không hiểu giới luật của chùa Ni hiện tại

0903 Thiền của thiền sư Nhất Hạnh có đưa con người đến cứu cánh giải thoát không ?

0909 Chấp lý bỏ sự là kẻ vác bảng, chấp dụng bỏ thể là kẻ lỗ mãng

0921 Ngài Đạt Ma kiến tánh trước hay sau khi nhìn vách 9 năm ?

0937 Hố Thẳm của Phạm Công Thiện có phải là Tánh Không không ?

0939 Phật nói không có vô minh, vậy nhân quả từ đâu mà có ?

0940 Nhập định không cảm nhận được thời gian của ngài Hư Vân ở núi Chung Nam

0945 Tại sao có người thong minh có người ngu dốt, có phải do chất xám không ?

0953 Khi tụng kinh là tụng bằng thức hay tụng bằng trí ?

0954 Các hành vô thường là pháp sanh diệt, hết sanh diệt là vui nghĩa là thế nào ?

0960 Sanh tử vô minh có phải do A-lại-da và thức thứ bảy không ?

0980 Tâm vật hợp nhất và phi tâm phi vật

0984 Thắc mắc về lời khai thị của ngài Bác Sơn và ngài Lai Quả

0989 Tứ Liệu Giản của ngài Lâm Tế ý nghĩa thế nào ?

0992 Tại sao ngài Ca Diếp không nhập định ở Ấn Độ mà nhập định ở Vân Nam Trung Quốc ?

0993 Năng lễ Sở lễ tánh không tịch nghĩa là gì ?

1001 Không thể dùng quán tưởng để sửa đổi nhân quả

1004 Người kiến tánh có phải là thánh nhân không ?

1006 Sư cô tu đã lâu mà không biết tâm mình ở đâu

1009 Thiền đường Pháp Thành tu TST cúng 3 rằm lớn có lợi ích gì không ?

1011 Có phải Phật Thích Ca tham thiền kiến tánh không ?

1014 Câu chuyện con rít ở chùa Tam Bảo

1017 Thắc mắc việc vua A Xà Thế phạm tội ngũ nghịch mà nghe Phật thuyết pháp tội tiêu được

1024 Tịnh Độ là gì ? Có thể hướng dẫn người Tin Lành, Thiên Chúa tập hương công tham thiền không ?

1031 Tỳ kheo ni hoàn tục lại xuất gia lần 2, thầy bổn sư có bị nhân quả không ?

1032 Trong bài kệ của Tuệ Trung thượng sĩ, con không biết ai là khách còn về quê là ở đâu

1033 Các Thầy các Cô tham thiền có cần phải học không ?

1037 Các vị Tổ ngày xưa kiến tánh sao phải trốn tránh không ra hoằng pháp

1041 Trong Quảng Lục có câu : Khắp sơn hà đại địa tìm một người làm bạn cũng không có, nghĩa là sao ?

1043 Vô tình có thể tiến hóa thành hữu tình không ? Khoa tử vi có mê tín không ?

1051 Có nên thờ ông Quan Công và bà Mẹ Sanh không ?

1052 Thiền sư Việt Nam có vị nào tu Tổ Sư Thiền được kiến tánh không ?

1056 Vô vi của Phật giáo và Vô vi của Lão Tử có khác nhau không ?

1057 Thiền của Hòa thượng Thanh Từ có phải là Như Lai Thiền không ?

1070 Một vị tăng hỏi ngài Tuệ Trung (Việt Nam) về thanh tịnh pháp thân

1077 Trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận ngài Nguyệt Khê nói Thanh văn Duyên giác phá được ngã chấp nhưng vẫn còn pháp chấp, đúng không ?

1078 Do nhân duyên gì mà Đức Phật độ 5 anh em Kiều Trần Như đầu tiên ?

1095 Vô Môn Quan có phải cũng là pháp môn Tổ Sư Thiền không ?

1103 Chừng nào Phật Di Lặc ra đời, xin Sư phụ khai thị

1104 Nguyên do gì Phật chỉ nhận lễ vật của ông Thuần Đà ?

1107 18 vị La Hán tu các hạnh khác nhau như thế nào ?

1111 Ngài Bác Sơn nói hành giả dù 8 cảnh thay nhau đến cũng không biết, 8 cảnh đó là gì ?

1113 Thế nào là ngoại giới, nội giới, các bài chú có hiệu nghiệm gì không ?

1117 Bình thường trong hiện tại mình phải sống ra sao ?

1118 Tại sao vô tâm chưa phải là đạo mà còn cách một trùng quan ?

1120 Hiện tiền sát na bất động, có phải vậy không ?

1124 Pháp môn tu Quán Thế Âm của sư cô Thanh Hải có đúng chánh pháp không ?

1128 Người tại gia cũng có thể kiến tánh- Kể chuyện gia đình Bàng Uẩn

1130 Chúng con đi cứu trợ người nghèo khổ, có giúp ích gì cho họ không ?

1134 Thuận nghịch tranh nhau, chẳng biết hành xử, nhọc công là bệnh, nghĩa thế nào ?

1141 Thắc mắc về việc Hòa thượng Hư Vân gặp ông lão đắp đường

1163 Cực lạ cực quen, phi phàm phi thánh là sao ?

1191 Trình kiến giải về Huỳnh Bá, Lâm Tế, Đại Ngu

1194 Thiền sư kiến tánh sinh tử tự do, không sợ uy quyền của vua

1206 Trong Duy Thức Học nói ngũ tiền năng là như thế nào ?

1210 Quan Âm Diệu Trí Lực năng cứu thế gian khổ- kể chuyện Trương Bảo Thắng

1212 Quan niệm tham thiền không cần học giới luật có đúng không ?

1217 Câu Thường kiến tự kỷ quá là nghĩa thế nào ?

1225 Trình kiến giải về việc ngài Toàn Khoát không công nhận Đức Sơn và Động Sơn

1228 Không thấy Lục Tổ tu gì hết sao được kiến tánh ?

1235 Tại sao tăng độ ni là có lỗi, con không hiểu ?

1242 Giải thích bài kệ của sư Động Sơn Lương Giới

1245 Tổ Đạt Ma nói kiến tánh triệt để 5đại tội cũng tiêu, vậy nhân quả ở đâu ?

1302 Làm việc thiện việc tốt có giảm bớt nhân xấu đã gieo không ?

1303 Kinh Địa Tạng nói trong nhà có người chết nên làm phước bố thí đúng không ?

1305 Ở chùa Tịnh Độ, làm Phật sự có trở ngại tham thiền không ?

1306 Hành trạng Ngũ Tổ- kể chuyện Bạch Vân Lão Đoan thăm đứa bé 3 tuổi

1313 Trình công phu- Thắc mắc về lời khai thị của ngài Lai Quả

1318 Ba trụ thiền và truyền nhân của ngài Đạo Nguyên (Nhật Bản)

1334 Ngài Lai Quả đánh người phạm quy củ, có phải thiếu lòng từ bi không ?

1356 Có phái đoàn quen cô Chơn Nguyệt đến thăm thiền đường

1371 Tịnh Độ và Thiền tông có hòa hợp không qua bài kệ của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ ?

1382 Thắc mắc việc ngộ đạo của Lục Tổ qua kinh Pháp Bảo Đàn

1384 Trình 4 cái biết đối với Lục Tổ lúc ở núi Hoàng Mai

1395 Xin pháp danh- Hỏi về công án Đức Sơn, Tuyết Phong, Nham Đầu

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

1402 Ngưng bộ óc thì linh chi hiện ra nghĩa là sao ?

1403 Giới thiệu Hòa thượng Hoằng Tu và thiền đường chuyên tu ở Trung Quốc

1412 Từ Sắc giới trở lên bố thí là bệnh, tham lam bỏn sẻn là thức ?

1414 Hòa thượng Hư Vân nói tham thiền đến một lúc nào đó cần có con mắt kim cang

1415 Thắc mắc việc dầu của Phật bị chuột rúc vô trong Kinh Duy Ma Cật

1416 Con không hiểu sao Tổ Ưu Ba Cúc Đa đã kiến tánh còn bị lầm

1421 Ngài Đại Huệ bưng chén cơm không biết đưa vô miệng là biểu hiện của cái không biết chăng ?

1426 Tại sao ngài Đại Huệ mạt sát Mặc Chiếu Thiền ?

1430 Thắc mắc lời Phật nói sau khi vua A Xà Thế chứng quả Tu đà hoàn

1438 Thắc mắc sao ngài Hư Vân và ông lão làm đường đã kiến tánh rồi mà còn phải trắc nghiệm nhau

1439 A La Hán mê rượu phong tình, khởi niệm lui sụt thì bị rơi vào địa ngục ?

1449 Công án Quy Sơn và Hương Nghiêm

1464 Vua Khang Hi cũng bị đánh hương bảng khi phạm quy

1467 Tại sao Nguyệt Khê khán thoại đầu có hai năm thì kiến tánh ?

1483 Công án Nam Tuyền chém mèo và Cố Sơn tiêu ngược

1487 Có phải ngài Hám Sơn dạy đối với người nghiệp nặng nên vừa tham thiền vừa trì chú ?

1488 Thắc mắc về một câu niệm Phật súc miệng ba ngày của Tổ Triệu Châu

1501 Ngài Hư Vân ngài Lai Quả sao lại để tóc dài ?

1503 Sư tụng kinh Bát Nhã hàng ngày mà không hiểu

1506 Hiểu biết của mình về cái ngộ của Tổ sợ không đúng, xin chỉ dạy

1507 Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy A Nan thế nào con không hiểu ?

1509 Tại sao trong kim quan Phật duổi chân thị hiện chỉ một mình ngài Ca Diếp thấy ?

1513 Thắc mắc về thời gian đọa địa ngục của người phạm giới

1520 Vô tình thuyết pháp hữu tình nghe là thế nào ?

1535 Từ Bi và Bác Ái khác nhau thế nào ?

Đăng tải tại Thầy Duy Lực giải đáp (Audio mp3) | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MÙA XUÂN VĨNH CỬU

Năm nào vào thời gian trước Tết âm lịch cổ truyền, tôi đều viết một bài về chủ đề Xuân với Tết. Năm nay cũng vậy, mùa xuân năm nay sẽ là bài viết tiêu biểu cho cuộc sống thế gian, lúc nào cũng là mùa xuân tươi đẹp không tùy thuộc vào hoàn cảnh, không gian và thời gian.

Con người sống trên đời, chắc là đa số mọi người đều mong ước một cuộc sống tươi đẹp, vật chất không thiếu thốn, sức khỏe dồi dào không bệnh tật, có cuộc sống gia đình đầm ấm, tình yêu bền vững với người hôn phối, con cái xinh xắn, thông minh, khỏe mạnh, không gặp nhiều nghịch cảnh, phải thế không ? Liệu ước vọng đó có thành tựu hay không ?

Có lẽ trong xã hội cũng có không ít người đạt được điều đó, đó là những người có nhiều phước báo. Nhưng cũng có rất nhiều người không đạt được điều đó, họ là những người có nhiều nghiệp báo. Vậy nói tới mùa xuân vĩnh cửu, phải chăng chỉ là nói ngoa, không có cơ sở thực tế ?

Muốn biết điều đó có cơ sở thực tế hay không, chúng ta phải xem xét lại ý nghĩa của hạnh phúc và đau khổ thực chất là gì. Tôi tin rằng nếu chúng ta hiểu thực chất của hạnh phúc và đau khổ là gì thì sẽ thấy mùa xuân vĩnh cửu là hiện thực.

Từ xưa đến nay cũng đã có không ít giấy mực bàn về hạnh phúc và đau khổ, nhưng theo tôi nhận thấy, tuyệt đại đa số chưa nhìn thấy rõ vấn đề. Tại sao tôi dám nói như thế ? Bởi vì cơ sở thực tế của vạn pháp từ thời xa xưa đã có ghi trong kinh điển của Phật giáo, chúng ta chỉ cần xem và hiểu. Nhưng kinh điển thực tế là khó hiểu, cực kỳ khó hiểu và đầy mâu thuẫn, nên nhiều người có thể không tin tưởng ở kinh điển, hoặc là chỉ tin một cách giới hạn, hoặc là cho rằng trong kinh điển có nhiều điều huyễn hoặc thiếu cơ sở khoa học, có phần nào đó hoang đường. Vâng, nhận thức như thế cũng không đáng trách, bởi vì kinh điển vừa mênh mông vừa mơ hồ, khó có thể thuyết phục người có học thức trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, người có học thức thì tin tưởng khoa học. Trong thế giới hiện đại, khoa học là cơ sở thực tế để biện biệt đúng sai. Khoa học cung cấp nhiều phát minh sáng chế làm thay đổi cuộc sống con người trên thế gian vô cùng lớn, nên người trí thức tin tưởng ở khoa học là lẽ đương nhiên. Nhưng liệu tri thức khoa học có bị hạn chế hay không ? Nền khoa học của nhân loại thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đã đủ trưởng thành để hiểu rằng, đúng là khoa học có hạn chế, tri thức của con người không thể biết hết tất cả. Thế nên nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới cũng đã quay lại với tôn giáo, bởi vì họ nhận ra rằng những vĩ nhân như Đức Phật Thích Ca có tri kiến vô cùng siêu việt mà nền khoa học hiện đại của nhân loại cũng chưa sánh kịp.

Tiến sĩ Robert Jastrow (Từng là chủ tịch đầu tiên của Chương trình thám hiểm mặt trăng của NASA, trưởng ban lý thuyết của NASA, cha đẻ và giám đốc của Viện nghiên cứu không gian Goddard của NASA, giáo sư địa vật lý tại Đại học Columbia, giáo sư khoa học về trái đất tại Học viện Dartmouth, cha đẻ và chủ tịch danh dự của Viện George Marshall, giám đốc danh dự Đài quan sát thiên văn Mount Wilson), là người theo thuyết bất khả tri về vấn đề tôn giáo, nhận xét về lý thuyết của vụ nổ Big Bang: Một cách cổ điển, những nhà khoa học đã phủ nhận ý tưởng về một hiện tượng tự nhiên không thể giải thích được, thậm chí với thời gian và tiền bạc không giới hạn của họ. Có một loại tôn giáo trong khoa học, ấy là mỗi sự kiện có thể được giải thích theo cách hợp lý như là kết quả của một sự kiện trước đó; mỗi hậu quả phải có nguyên nhân của nó. Bây giờ khoa học chứng minh rằng  trong một thời điểm nhất định có một vụ nổ (Big Bang) để vũ trụ phát sinh và tồn tại. Khi hỏi: “Nguyên nhân nào dẫn đến kết quả này? Ai hay cái gì đã đặt những vật chất và năng lượng vào trong vũ trụ?” thì khoa học không thể trả lời những câu hỏi này được.

Jastrow kết luận bằng câu nói bất hủ này:

Đối với nhà khoa học đã sống bằng niềm tin dựa vào sức mạnh của lý lẽ, thì câu chuyện kết thúc như một cơn ác mộng. Ông ta đã leo lên những ngọn núi của sự tự mãn; ông đang chuẩn bị chinh phục đỉnh cao nhất; ông bò qua tảng đá cuối cùng và thấy một nhóm các nhà thần học (cũng tức là các nhà sáng lập tôn giáo) đã ngồi đó hàng bao thế kỷ đang chào đón mình.

Nhưng dù sao khoa học hiện nay đã đủ trình độ để hiểu ra vấn đề mặc dù chưa thực hiện nổi. Chẳng hạn vấn đề viễn tải lượng tử, các nhà khoa học cảm nhận rằng đó là điều có cơ sở khoa học, nhưng nền khoa học hiện nay của nhân loại chưa làm được nhiều, thế nhưng Đức Phật Thích Ca làm được, trong kinh điển có ghi, chẳng hạn Đức Phật đã đi lên cõi trời Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe.

Trong bản đồ thánh tích Phật giáo, chúng ta thấy có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay), địa danh này tương đối ít được biết. Đó là nơi Đức Phật dùng thần thông lên trời Đạo Lợi忉利天thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe, Phật lên cõi trời chỉ một buổi thôi, nhưng người trần gian thấy là ba tháng, sau ba tháng Phật mới trở về trần thế, có Đế Thích và Phạm Thiên theo hầu.

Bia đá tạc sự tích Đế Thích và Phạm Thiên hầu Phật trở về thế gian tại Sankasya (Tăng Già Thi)

Mà ngay thời hiện đại cũng có những nhà đặc dị công năng như Hầu Hi Quý làm được, lấy được một gói thuốc lá ở khoảng cách xa hàng ngàn km.

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

Vấn đề bản chất của hạnh phúc và đau khổ           

Kinh điển Phật giáo nói thế nào về thực chất của hạnh phúc và đau khổ ? Kinh điển nói rằng hạnh phúc và đau khổ không có thực chất. Đó chỉ là sự gán ghép của tâm thức vào một cấu trúc ảo tưởng về cả hai phương diện vật chất và tâm lý.

Về mặt vật chất (matter, material, substance), cố thể vật chất là một cấu trúc, chẳng hạn nguyên tử (atoms), phân tử (molecules), cái nhà, con sông, quả núi, sinh vật. Nguyên tử được cấu tạo bởi hạt nhân (nuclear) và electron. Hạt nhân được cấu tạo bởi những hạt proton và neutron. Proton và neutron được cấu tạo bằng những hạt quarks. Khoa vật lý học đã giải thích tường tận như vậy.

Thế nhưng quark và electron chỉ là những hạt ảo, không có thật. Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Các hạt cơ bản (particles) như quark và electron, photon, chúng vốn là sóng vô hình, sóng tiềm năng, không phải là vật chất. Chúng không có sẵn bất cứ đặc trưng nào như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Chúng chỉ trở thành hạt vật chất như electron, photon là khi có người quan sát và đo đạc. Thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 đã chứng tỏ như vậy. Thí nghiệm đó chứng tỏ rằng quan niệm của Einstein cho rằng hạt photon luôn luôn có sẵn các đặc trưng về vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, là sai lầm, thế giới duy vật khách quan của Einstein và những người theo quan điểm duy vật đã sụp đổ.

Ngoài ra thí nghiệm về hai khe hở cũng chứng tỏ rằng hạt electron không độc lập khách quan, nó phụ thuộc vào một điều kiện khác ở ngoài bản thân nó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Điều này Duy Thức Học Phật giáo nêu ra nguyên lý Y tha khởi, nghĩa là sự hiện hữu của một vật phải dựa vào một vật khác chứ nó không thể độc lập tồn tại. Kinh điển PG cũng nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính, nghĩa là Tất cả mọi vật đều không có sẵn đặc trưng, mọi đặc trưng của vật đều là gán ghép từ nguồn khác.

Như vậy chính người quan sát đã gán ghép tâm niệm, tập quán, tưởng tượng của mình vào cấu trúc ảo tưởng không có thật để thành ra những hạt cơ bản, rồi thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, sinh vật, cảnh giới thế gian, chứ không phải có thật. Điều đó có nghĩa là cảnh giới thế gian chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật. Thuật ngữ PG gọi cảnh giới thế gian là thế lưu bố tưởng, nghĩa là cái tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến trên thế gian.

Về mặt tâm lý (mentality, psychology), tâm niệm, tập quán chính là cái nguồn tưởng tượng, gán ghép quan niệm của mình vào đối tượng. Đối tượng có thể là cảnh giới vật chất như nhà cửa, núi sông, đường sá, bến cảng, sinh vật, thân thể của chính mình. Đối tượng cũng có thể là một vấn đề, một quan điểm, sự khen chê, v.v…

Tóm lại dù là vật chất hay là tâm lý đều là tưởng tượng, không một đối tượng nào có thực chất. Điều này PG diễn tả một cách ngắn gọn là Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật (Chữ uẩn 蘊 –skandha- còn gọi là ấm 陰 . Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, conciousness, alaya, discrimination). Vì vậy hạnh phúc hay đau khổ cũng chỉ là tưởng tượng, là quan niệm. Ngày xưa có câu chuyện Tái ông thất mã 塞翁失馬 (Ông già ở vùng biên giới mất ngựa) diễn tả chuyện họa phúc cũng tức là đau khổ và hạnh phúc, chỉ là quan niệm thôi chứ không có thực chất. Bài này ngắn và có ý nghĩa thâm thúy, tôi xin dẫn nguyên văn để bạn nào biết Hán văn, cùng thưởng thức. (Trích trong sách Hoài Nam Tử, phần Nhân gian huấn).

Hoài  Nam Tử 《淮南子·人间训》

近塞上之人有善術者,馬無故亡而入胡。人皆吊之。其父曰:“此何遽不為福乎?”居數月,其馬將胡駿馬而歸。人皆賀之。其父曰:“此何遽不能為禍乎?”家富 良馬,其子好騎,墮而折其髀。人皆吊之。其父曰:“此何遽不為福乎?”居一年,胡人大入塞,丁壯者引弦而戰,近塞之人,死者十九,此獨以跛之故,父子相 保。

Cận tái thượng chi nhân hữu thiện thuật giả, mã vô cố vong nhi nhập  Hồ. Nhân giai điếu chi. Kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất vi phúc hồ?” Cư sổ nguyệt, kỳ mã tương Hồ tuấn mã nhi quy. Nhân giai hạ chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất năng vi họa hồ?” Gia phú lương mã, kỳ tử hiếu kỵ, đọa nhi chiết kỳ bễ. Nhân giai điếu chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất vi phúc hồ?” Cư nhất niên, Hồ nhân đại nhập tái, đinh tráng giả dẫn huyền nhi chiến, cận tái chi nhân, tử giả thập cửu, thử độc dĩ bả chi cố, phụ tử tương bảo.

Trong những người ở gần biên giới có người giỏi nuôi ngựa, con ngựa bỗng nhiên đi lạc sang đất Hồ. Hàng xóm đến chia buồn, ông ta nói : “Sao vội cho đó không phải là phúc ?”. Vài tháng sau, con ngựa đó dẫn một con tuấn mã của Hồ trở về. Mọi người đến chia vui, ông ta (người cha) nói : “Sao vội cho đó không phải là họa ?” Nhà có thêm ngựa hay, con trai ông ham cỡi ngựa, té bể xương đầu gối. Mọi người đến chia buồn, người cha nói : “Sao vội cho đó không phải là phúc ?”. Một năm sau, quân Hồ ồ ạt xâm lấn biên giới, trai trẻ cầm cung tên chiến đấu, người ở vùng gần biên giới, mười người chết hết chín, chỉ có nhà ông vì con trai bị què, nên cha con được bảo toàn.

Thế nhưng sự tưởng tượng ở đây không phải chỉ là tưởng tượng của ý thức (thức thứ 6 trong 8 thức) mà là sự tưởng tượng đồng bộ của cả 8 thức. Vì vậy nó sâu xa cơ bản hơn rất nhiều so với từ ngữ tưởng tượng (imagine) mà chúng ta thường dùng. Nó liên quan tới tiền ngũ thức (5 giác quan cơ sở là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể) do bộ não thống lĩnh và phát sinh ra ý thức. Một phần của bộ não chứa dữ liệu hoạt động hiện hành của ý thức (tương ứng bộ nhớ RAM của tin học). Một phần của bộ não chứa dữ liệu lưu trữ trong kiếp hiện sinh của ta tức Mạt-na thức (tương ứng với ổ đĩa cứng -hard disk của tin học). Và một phần lớn của bộ não chứa dữ liệu của vô lượng vô biên kiếp của quá khứ và vị lai tức A-lại-da thức, không còn phân biệt là ta hay không phải ta bởi vì tất cả đều là một (tương ứng với internet của tin học).

Ý nghĩa của mùa xuân vĩnh cửu là gì ?    

Chúng ta không thể nào tin nổi cảnh giới thế gian chỉ là ảo hóa, tưởng tượng, không phải thật mặc dù khoa học đã lý giải rõ ràng và đặc dị công năng đã chứng tỏ bằng thực nghiệm. Trương Bảo Thắng đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng quả táo và cái thùng sắt chỉ là ảo, nên anh ta có thể lấy quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà không cần mở nắp. Thân thể anh ta và cánh cửa cũng chỉ là ảo nên anh ta có thể đi qua cánh cửa mà không cần mở cửa.

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

Qua nghiên cứu của khoa học và thực nghiệm của nhà đặc dị công năng, chúng ta có thể tin rằng cảnh giới vật chất chỉ là ảo hóa, vô thường, không phải là tồn tại vĩnh viễn. Nhưng trong đời thường, chúng ta thấy vật chất khá vững bền. Sở dĩ vật chất khá vững bền hoặc rất vững bền là do tuổi thọ của các hạt proton và neutron trong hạt nhân của nguyên tử là rất lớn.

Hạt proton là thành-phần cấu-tạo hạt-nhân nguyên tử. Proton có khối-lượng lớn gấp 1840 lần hạt electron, thời gian sống của hạt proton rất bền vững (1030 – mười lũy thừa 30 năm). Hạt photon, không phải là hạt cơ bản, mà cấu tạo bởi 3 hạt quark, khi ở trạng thái tự-do, nó chỉ sống được có 17 phút (1000s).

Đối với hạt neutron, cũng hơi giống hạt proton nhưng người ta không thể xác định chính xác tuổi thọ của nó, hai phương pháp  khác nhau tính tuổi thọ của hạt neutron đưa đến hai kết quả khác nhau, chỉ biết rằng nếu tách rời hạt neutron khỏi hạt nhân nguyên tử, ở trạng thái tự do, nó chỉ tồn tại 15 phút rồi nhanh chóng phân hóa thành một hạt proton, một hạt electron và một phản hạt neutrino.

Sở dĩ tuổi thọ của hạt proton và hạt neutron là rất lớn vì có hiện tượng giam hãm (confinement) là hiện tượng 3 hạt quark cấu tạo nên chúng bị giam hãm gần như vĩnh viễn trong hạt proton hoặc hạt neutron, vì vậy chúng rất vững bền trong hạt nhân nguyên tử khiến con người cảm thấy vật chất là có thật và rất bền chắc.

Nhưng vật chất dù cho bền chắc trong nhận thức của con người, chúng thực ra cũng chỉ là ảo hóa và có thể bị tâm khống  chế như thực nghiệm của các nhà đặc dị công năng đã cho thấy.

Vì vậy mùa xuân vĩnh cửu chủ yếu là tâm trạng, tâm trạng an lạc trước những biến thiên của cảnh giới, của thời gian và không gian. Như trên đã nói, không gian, thời gian, cảnh giới đều là tương đối, đều là do tâm tạo, vì vậy tâm có thể tạo ra mùa xuân vĩnh hằng.

Không phải không có cảnh giới : “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương” của mùa hè. Không phải không có cảnh giới : “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” của mùa thu. Cũng không phải không có cảnh giới : “Đêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”  của mùa đông. Các cảnh giới đều có đủ nhưng tâm trạng của hành giả tham thiền không bi thương hay hoan lạc theo sự biến thiên của cảnh giới mà lúc nào cũng an lạc tĩnh tại trong mùa xuân vĩnh hằng vô tướng dù có hay không cảnh giới : Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo, Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.

Những tiên nhân còn có thể dùng tâm lực để thực hiện vô sở trụ, chẳng những tâm không bị cảnh chi phối mà trái lại còn có thể biến đổi vị trí, hoàn cảnh của thân. Chẳng hạn câu chuyện của Hàn Tương Tử, một trong Bát tiên, là cháu kêu nhà văn Hàn Dũ đời Đường bằng ông chú như video sau đây :

  1. Hàn Dũ – Nhà Văn Nhà Thơ Thời Trung Đường – Việt dịch

Hàn Dũ vì dâng biểu định ngăn cản vua rước xương Phật tốn kém ngân khố nên vua nổi giận  tức thời đày ông đi Lĩnh Nam xa xôi trong mùa đông tuyết giá. Hàn Tương Tử đang ở Trường An nhưng có thể phân thân để xuất hiện ở Lĩnh Nam cứu giúp ông chú.

Theo quan điểm của khoa học ngày nay thì đó không phải là chuyện hoang đường, đó chính là viễn tải lượng tử như video sau đây.

Di chuyển một con người đi xa tức thời bằng viễn tải lượng tử

Không thực hiện được vô sở trụ (non locality), có những trường hợp sẽ rất đau khổ, chẳng hạn tác phẩm Thương Nhớ Mười Hai của nhà văn Vũ Bằng bộc lộ.

Nhà văn Vũ Bằng  (1913 – 1984), tên thật là Vũ Đăng Bằng, là một nhà văn, nhà báo của Việt Nam. Ông là người có sở trường về viết truyện ngắn, tùy bút, bút ký. Ông đã vào Sài Gòn trong đợt di cư 1954 từ Bắc vào Nam để làm báo và hoạt động tình báo. Tháng 3 năm 2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2 – Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có văn bản xác nhận nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo của cách mạng hoạt động tại Miền Nam.

Trong số trứ tác của Vũ Bằng, Thương Nhớ Mười Hai là tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông. Nội dung sách ông viết về hình ảnh người vợ tên Quỳ bên kia vỹ tuyến. Ông khởi sự viết từ tháng Giêng 1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang vào năm 1971 và xuất bản năm 1972.

Có người bạn thân, trong lúc đàm đạo văn chương, hỏi tôi: “Sắp sang thế kỷ 21 rồi, nếu chỉ được phép mang mười cuốn sách văn học vào thế kỷ mới, ông mang những cuốn nào?”. Tôi trả lời ngay: “Một trong những cuốn tôi mang theo là Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng!

 Bởi viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng. Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng. Nỗi nhớ niềm yêu ấy là tuyệt vọng! Hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Quỳ, vợ hiền của ông, người đã góp phần quyết định làm nên một Vũ Bằng nhà văn, nhà báo, là nguồn cảm hứng văn chương của ông…(Triệu Xuân)

Vũ Bằng tự ngôn : “Bắt đầu viết cuốn sách này thì là nhớ. Viết đến câu chót bài “Tháng chín” thì là thương. Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn Nguyễn Thị Quỳ.

Sài Gòn, Phú Lâm, Bình Lợi, Chợ Lớn, Lồ Ồ… vui quá, cứ uống rượu mạnh thế này, nghe con hát đàn vừa múa vũ vừa ca, lại cặp kè với gái hơ hớ như trăng mới mọc thế này, thì sao lại có thể rầu rĩ được? Ấy vậy mà một buổi chiều trở gió kia, ngồi cúi xuống lòng để hỏi chuyện tim mình, ta cảm như có hàng ngàn vạn con mọt nhỏ li ti vừa rụng cánh o o vừa đục khoét con tim bệnh tật. Và tự nhiên ta có cảm giác rằng thân thể ta, không biết từ lúc nào, đã bị mối “xông” và đang đi đến chỗ mọt ruỗng, rã rời tan nát.  

Mỗi nỗi buồn se sắt xâm chiếm đầu óc ta. Buồn thì ngâm thơ:

Biệt ly ai kể xiết lời,
Vì hoa cách mặt cho người thương tâm.
Người đưa rượu hỏi thăm Bành Trạch,
Kẻ say trăng tìm khách Đào Chu;
Nào ai trang điểm máu thu,
Hoa vàng chén bạc tạc thù với ai?
Miền Dữu Lĩnh tin mai gắn bó,
Đỉnh Cô Sơn mối gió đợi chờ.
Muốn mang chén rượu câu thơ,
Lạnh lùng trong tuyết, hững hờ dưới trăng… 

(Những câu thơ trên trích trong bài thơ dài Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ, cháu kêu Cao Bá Quát bằng chú :

Bành Trạch là nơi Đào Uyên Minh tức Đào Tiềm làm huyện lệnh, ông chỉ làm quan được 80 ngày thì từ quan trở về nhà vì không thích sự gò bó của quan trường.

Đào Chu : Phạm Lãi là người yêu của Tây Thi, sau khi nước Ngô của Phù Sai diệt vong, ông đến đất Đào buôn bán làm giàu và được gọi là Đào Chu công.

Dữu Lĩnh (không phải Hữu Lĩnh) tức núi Đại Dữu còn gọi là Mai Lĩnh 梅岭, một trong ngũ lĩnh  nằm ở ranh giới tỉnh Giang Tây và tỉnh Quảng Đông, Tống Chi Vấn có bài thơ nổi tiếng : Đề Đại Dữu Lĩnh Bắc Dịch 題大庾嶺北驛 = Đề thơ ở trạm đưa thư phía bắc núi Đại Dữu.

Cô Sơn 孤山 là một hòn đảo nằm trong Tây Hồ Hàng Châu. Từ đời Đường khi Bạch Cư Dị xây dựng Bạch đê, con đê nối từ phía đông hòn đảo tới Tân Kiều và nối phía tây hòn đảo tới Tây Linh Kiều, thì hòn đảo không còn là cô đảo – đảo cô đơn – nữa- TB chú thích )

Ngâm thơ lại càng buồn, mình chán nản không để đâu cho hết. Sự chán nản không tên tuổi, không lý do, ví có muốn nói ra với người ở cạnh cũng không thể được.”

Nhà văn đã thổ lộ tâm tư đau buồn, chán nản đến tuyệt vọng. Thương Nhớ Mười Hai có nghĩa là một năm 12 tháng, nhà văn không lúc nào nguôi nhớ đến quê hương bản quán, đến người vợ trẻ có lẽ cũng đang âu sầu thương nhớ chồng mà không có thông tin cũng không có cách nào liên lạc được. Nhiều lắm thì cũng chỉ như Tô Thức : “Thiên lý cộng thuyền quyên” (Xa xôi nghìn đặm chỉ có mặt trăng là điểm chung cả hai nhìn thấy)

Trong hoàn cảnh đau buồn héo hắt như vậy, chúng ta mới cảm nhận được giá trị của mùa xuân vĩnh cửu. Trong hoàn cảnh như nhà văn Vũ Bằng thì có thực hiện được mùa xuân vĩnh cửu không ? Ngày nay thì quá dễ, với điện thoại di động và những công cụ thông tin tân tiến như Viber, Whatsapp, Zalo, có khả năng vô sở trụ thì những khoảng cách xa ngàn đặm trên địa cầu chẳng có nghĩa lý gì, lúc nào cũng có thể liên lạc được. Nhưng thời đại của Vũ Bằng thì chưa có phương tiện thế này nên bất khả thi. Ngay cả ngày nay mà ở vào những xứ nơi thông tin bị cấm đoán quá hà khắc như Triều Tiên thì người dân cũng khó lòng thực hiện được.

Tuy vậy, mùa xuân vĩnh cửu là tâm trạng độc lập đối với hoàn cảnh. Nó cũng không lệ thuộc vào phương tiện, mà chủ yếu là do nhận thức. Chẳng hạn Huệ Trì là em trai của Tổ Sư Tịnh Độ Tông Huệ Viễn, ông đi đến Tứ Xuyên, ngồi trong bộng cây nhập định quên mất thời gian, ngồi suốt bảy trăm năm, không phát sinh một vọng tưởng nào nên thời gian gần như ngừng lại.

Pháp sư Huệ Trì

Đến khi người ta phát hiện được ông, ông cũng chưa xuất định, người ta phải dùng võng khiêng ông về Biện Kinh, thủ đô của Nhà Tống. Ở đây có cao tăng Ấn Độ giúp ông xuất định, khi đó ông mới hay rằng mình đã nhập định hơn bảy trăm năm, anh của ông là Huệ Viễn đã qua đời từ lâu lắm rồi. Vua Tống Huy Tông cảm khái làm ba bài thơ, xin trích một bài như sau :

Bài kệ thứ nhất của Tống Huy Tông :

七百年來老古錐    Thất bách niên lai lão cổ trùy

定中消息許誰知? Định trung tiêu tức hứa thùy tri ?

爭如只履西歸去    Tranh như chích lý Tây quy khứ

生死何勞木作皮    Sinh tử hà vinh mộc tác bì

Dịch nghĩa : Lão tăng sống hơn bảy trăm năm, căn cơ bén nhọn như cái dùi. Lúc nhập định có lẽ không ai biết tin tức gì của ông. Có thể sánh với Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc giày về Tây Thiên. Sống chết có vinh hoa gì khi lấy gỗ làm da. 

Hư Vân hòa thượng cũng có lần nhập định nửa tháng tại núi Chung Nam ở Trường An. Thầy Duy Lực có đề cập tới sự kiện này.

0940 Nhập định không cảm nhận được thời gian của ngài Hư Vân ở núi Chung Nam

Cuối cùng chúng ta có thể kết luận rằng mùa xuân vĩnh cửu là trạng thái an lạc không có vọng tưởng, không có vọng động, không có thời gian, tự do tự tại, không tùy thuộc vào bất cứ một điều kiện nào hay một cảnh giới nào, bất sinh bất diệt, vô sinh pháp nhẫn.

Cũng không nhất thiết phải ngồi thiền hay nhập định, bình thường tâm trong cuộc sống hàng ngày đời thường cũng chính là mùa xuân vĩnh cửu, khi ta thực hiện được vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở úy (sợ) 無所求無所得無所畏 ngay trong cuộc sống thế gian đời thường, ngay trong cuộc mưu sinh vất vả hàng ngày, ngay trong thế giới vô thường đầy bất trắc mà tâm vẫn an định.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 9 phản hồi

CÓ NÊN BỎ TẾT ÂM LỊCH, ĂN TẾT THEO DƯƠNG LỊCH ?

Từ nhiều năm nay, lúc gần đến Tết cổ truyền, trên báo chí thường hay có những bài tranh luận về việc có nên bỏ Tết nguyên đán theo truyền thống để chuyển sang ăn tết theo Tây lịch, noi gương người Nhật không.

Đề xuất ăn tết theo dương lịch của Gs Võ Tòng Xuân

(VTC News) – Giáo sư Võ Tòng Xuân – người 11 năm trước (2006) làm “nóng” dư luận khi đề xuất gộp tết ta vào tết tây – cho biết, đã có những “tín hiệu cho thấy sự thay đổi” và ông tin rồi Việt Nam sẽ ăn Tết cổ truyền theo dương lịch như Nhật Bản.

Giáo sư Xuân nói: “Tôi vẫn bảo lưu quan điểm về Tết hội nhập. Nên thống nhất ăn Tết cùng lúc với các đối tác trên thương trường của chúng ta, chuyển các tập quán ăn Tết âm lịch sang các ngày dương lịch, và giảm dần ngày nghỉ Tết âm lịch quá lê thê. Chúng ta đang là một nước nghèo so với phần còn lại của thế giới, làm thế nào để đất nước có thể bắt được những dòng chủ lưu của nhân loại?”

Gs Võ Tòng Xuân

– 11 năm trước, đề xuất đón Tết cổ truyền theo dương lịch của giáo sư đã tạo ra những tranh luận, giờ giáo sư có quan điểm khác về vấn đề này không?

Không! Tôi vẫn bảo lưu quan điểm của mình!

Tôi cho rằng đã có những tín hiệu báo hiệu sự thay đổi. Những hoạt động trong ngày Tết dương lịch năm nay ở các tỉnh, thành phố lớn như đếm ngược đồng hồ đợi khoảnh khắc giáp canh, hay việc lãnh đạo Nhà nước có thông điệp đầu năm mới… Tôi thấy mình đã tiếp cận thế giới một cách giống người ta. Tức là, mình đã tổ chức đón mừng năm mới theo dương lịch như là các nước trên thế giới.

Tôi rất mừng là Chính phủ chúng ta hiện nay, tôi gọi là Chính phủ “của thời kỳ Đại hội 12” có nhiều cái mới, đem lại hy vọng về nhiều thứ.

Tôi nghĩ, từ từ chúng ta sẽ chuyển sang ăn Tết cùng ngày với thế giới. Và, từ từ rồi chúng ta cũng sẽ nhận ra mình có thể làm được như Nhật Bản cuối thế kỷ 19 là chuyển sang ăn Tết tây. Nhật Bản bây giờ, nhờ thế mà từ nước Á Châu đã trở thành cường quốc kinh tế.

– Có ý kiến cho rằng việc gộp Tết không đủ sức nặng để kéo một nền văn hóa, một quốc gia tụt lại trong quá trình hội nhập, giáo sư nghĩ sao?

Thế giới ngày nay thay đổi rất nhanh, để vượt qua các thách thức, chúng ta phải tận dụng chắt chiu từng cơ hội.

Tôi lấy ví dụ, trên thị trường chứng khoán, người ta thấy rõ ràng làm ăn đầu tư chỉ trong vòng vài phút, giá thay đổi là chứng khoán thay đổi liền.

Khi người ta làm việc mà mình nghỉ thì mình bỏ rất nhiều cơ hội. Hoặc khi mình làm mà họ nghỉ thì cũng chịu nhiều thiệt thòi. Chừng nào mình giàu như họ rồi hay nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi.

Tôi thông cảm cho nhiều ý kiến phản đối. Mình muốn ăn Tết theo Trung Quốc nhưng theo Trung Quốc thì tục lệ cổ truyền mình lâu quá rồi, mấy ngàn năm rồi, cứ theo họ hoài thì lệ thuộc vào nền văn hoá cũ.

Khi mọi người đều có việc làm hết, sẽ thấy rằng thì giờ để ăn Tết sẽ rất phí nếu chúng ta kéo dài quá lê thê, làm hai Tết càng phung phí.

Để tận dụng các cơ hội, để có thể làm giàu thì chúng ta cũng phải suy nghĩ lại.

 

Đối với đề xuất của Gs Xuân, cũng có nhiều ý kiến ủng hộ việc ăn tết theo dương lịch, đồng nhịp với phương Tây và Nhật Bản, và cũng có không ít ý kiến phản đối vì cho rằng ăn tết theo âm lịch là một truyền thống lâu đời không thể bỏ được.

Bây giờ chúng ta thử xét xem ý kiến đề nghị của Gs Võ Tòng Xuân có cơ may trở thành hiện thực không.

Điểm quan trọng nhất theo đề nghị của Gs Xuân, đó là VN nên ăn tết đồng nhịp với phương Tây và Nhật Bản, đó là thế giới tiên tiến, dòng chủ lưu của nhân loại, và không làm mất cơ hội làm ăn kinh doanh khi chúng ta nghỉ tết quá lâu trong khi thế giới đang làm việc. Điểm thứ hai, ăn tết theo cổ truyền là theo nền văn hóa Trung Quốc, như vậy là sẽ mãi lệ thuộc vào nền văn hóa cũ lạc hậu.

Chúng ta hãy xem xét hai quan điểm đó như thế nào trong thế giới hiện đại.

1/Có phải khi chúng ta nghỉ ăn tết thì dòng chủ lưu của kinh tế thế giới đang làm việc không ?

Tình hình kinh tế trong những năm gần đây đã thay đổi nhanh chóng, có những sự thay đổi rất lớn, dòng chủ lưu của kinh tế thế giới hiện nay có còn là phương Tây và Nhật Bản nữa không, đó là điều chúng ta sẽ xem xét. Chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể hoạt động ngoại thương xuất nhập khẩu của VN, giao thương với các nước ăn tết theo dương lịch và các nước ăn tết theo âm lịch, xem bên nào nặng bên nào nhẹ, từ đó dự đoán có nên thay đổi ngày tết hay không.

Chúng ta lấy dữ liệu thực hiện 9 tháng năm 2017 của Tổng Cục Hải Quan để xem xét.

Sơ đồ Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đối với 10 thị trường lớn nhất

Nguồn : số liệu 9 tháng 2017 của Tổng Cục Hải Quan, tổng trị giá 220,65 tỷ USD

Theo sơ đồ trên, tổng kim ngạch ngoại thương (xuất nhập khẩu) của hai loại thị trường giao thương với Việt Nam chiếm trong tổng số như sau :

Thị trường ăn tết theo Dương Lịch bao gồm : Mỹ , EU, Nhật Bản, Australia chiếm 33,7 %

Thị trường ăn tết theo Âm Lịch (Nông lịch Trung Quốc) hoặc không phải Dương lịch (nghĩa là cũng không ủng hộ việc thay đổi) bao gồm : ASEAN, Đài Loan, Hong Kong, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc,  chiếm 54,8%

10 thị trường lớn này đã chiếm 88,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu có qua Hải quan trong 9 tháng 2017 với tổng giá trị 220,65 tỷ USD. Còn nếu tính trọn năm từ tháng 10/2016 đến tháng 9/2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước là 308,12 tỷ USD.

Như vậy chúng ta thấy hết sức rõ ràng rằng Việt Nam giao thương với các nước ăn tết theo âm lịch chiếm tỷ trọng lớn hơn đáng kể so với các nước ăn tết theo dương lịch (54,8% so với 33,7%). Như vậy không có chuyện khi chúng ta nghỉ ăn tết thì thế giới vẫn làm việc. Thực tế là phần thế giới mà chúng ta giao thương quan trọng nhất (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong , một phần quan trọng của ASEAN như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, cũng nghỉ ăn tết cùng lúc. Như vậy nếu chúng ta bỏ tết âm lịch, ăn tết theo dương lịch là không phù hợp với trào lưu hiện nay trên thế giới, đó là tự làm khó mình.

2/ Có phải ăn tết theo âm lịch là lệ thuộc vào nền văn hóa cũ lạc hậu của Trung Quốc không ?

Chuyện ăn tết đồng thời với Trung Quốc và chuyện lệ thuộc vào nền văn hóa cũ là hai chuyện khác hẳn nhau. Việt Nam tuy là nước đồng văn với TQ nhưng trải qua hơn 2000 năm, VN đã phát triển một nền văn hóa có bản sắc riêng biệt, từ ngôn ngữ, chữ viết cho đến y phục, tập quán, đều khác với TQ. Từ năm 939 Công nguyên tức là lúc Ngô Quyền giành độc lập đến nay, VN luôn là một quốc gia độc lập, tuy có vài thời kỳ bị ngoại bang thống trị, nhưng đó chỉ là những thời kỳ ngắn so với lịch sử. Thời kỳ Nhà Minh đô hộ chỉ kéo dài 20 năm (1407-1427). Thời kỳ Pháp thuộc chỉ kéo dài hơn 80 năm (1867-1954).

Trong gần 1000 năm nay, tuy VN ăn tết đồng thời với TQ nhưng VN cơ bản vẫn là nước độc lập có nền văn hóa riêng, trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc vẫn không bị đồng hóa. Nền văn minh TQ, nền văn hóa mà VN bị ảnh hưởng lớn, có lúc bị coi là lỗi thời, lạc hậu, nhưng hiện nay đang có triển vọng phục hưng, và trong làm ăn kinh tế, đang có xu hướng trở thành dòng chủ lưu của kinh tế thế giới. Bằng chứng là kế hoạch xây dựng kinh tế vĩ đại nhất thế giới hiện nay, dự án Một Vành đai, Một con đường (One Belt One Road) với kế hoạch đầu tư hơn 1000 tỷ USD là do TQ chủ trì. Kế hoạch đó đã bắt đầu tiến hành.

Những con đường xe lửa dài nhất thế giới nối liền TQ và Châu Âu đã đi vào hoạt động.

Tàu hàng đầu tiên chạy từ Trung Quốc đã tới thành phố Hamburg của Đức vào tháng 8-2013 sau hành trình dài 15 ngày.

Đoàn tàu hỏa đầu tiên từ Trịnh Châu TQ đến Hamburg (Đức)

Tuyến đường sắt xuyên lục địa dài nhất thế giới, nối liền Trung Quốc và Tây Ban Nha dài hơn 13.000 km đã được hoàn thiện và chạy thử thành công.

Sơ đồ tuyến đường xe lửa nối Trung Quốc và Âu Châu

Trung Quốc đã cho chạy thử đoàn tàu chở hàng trên tuyến xe lửa Yu’Xin’Ou Railway ( Du Tân Âu渝新欧) để khánh thành tuyến đường sắt dài kỷ lục. Tàu khởi hành từ ngày 18/11/2014 tại Nghĩa Ô, Chiết Giang, Trung Quốc sau đó đi qua các nước Trung Quốc, Kazakhstan, Nga, Belarus, Ba Lan, Đức và Pháp, trước khi kết thúc hành trình tại Madrid –  thủ đô Tây Ban Nha – vào ngày 9/12/2014.

Một nhánh của tuyến đường sắt từ Hamburg đi London chạy qua đường hầm xuyên biển Manche. Ngày 01/01/2017 khai trương chuyến xe lửa chở hàng đầu tiên bắt đầu từ thành phố Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang (miền Đông Trung Quốc) đến thị trấn Barking (London, Anh). Đoàn tàu đã đến London sau 18 ngày, tức vào ngày 18/01/2017 chở theo 88 container hàng hóa.

Chuyến Xe Lửa Trung Quốc- Luân Đôn Đầu Tiên

Ông David Martin, Hội đồng Doanh nghiệp Anh – Trung Quốc cho biết: “Tuyến đường này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nó cho thấy sự tham gia ngày càng tích cực của Trung Quốc vào môi trường kinh doanh toàn cầu. Tôi hy vọng đây cũng sẽ là cơ hội để các công ty Anh đưa các sản phẩm của mình vào thị trường Trung Quốc”.

Tàu Gió Đông từ Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang TQ đến London

Tàu Gió Đông cũng đã rời ga Barking phía Đông London ngày 10/4, đã đi qua bảy quốc gia gồm Pháp, Bỉ, Đức, Ba Lan, Belarus, Nga và Kazakhstan để đến thành phố Nghĩa Ô thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc) vượt qua quãng đường dài 11930 km, chở 32 container chứa các mặt hàng như rượu, dược phẩm và các sản phẩm đồ dùng cho trẻ em sơ sinh đã đến nơi sau 20 ngày.

London hiện là thành phố thứ 15 tại châu Âu có đường xe lửa trực tiếp tới Trung Quốc kể từ năm 2013 khi Trung Quốc đưa ra sáng kiến Một Vành đai Một con đường, thúc đẩy phát triển giao thương với châu Âu và các quốc gia khác trong châu Á.

Nền văn hóa cũ mà người Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều tức nền văn hóa Ấn- Hoa cũng không phải là nền văn hóa lỗi thời, lạc hậu. Trái lại, đó là nền văn hóa tiên tiến bậc nhất của thế giới.

Phật giáo đã đến VN sớm hơn TQ. Thời điểm Phật giáo du nhập Trung Quốc (TQ), có hai thuyết, sớm nhất là năm thứ 2 TCN đời vua Ai Đế Nhà Hán, muộn nhất là năm 67CN đời vua Hán Minh Đế. Vua Minh Đế nằm mộng thấy kim nhân (người có hào quang sáng chói) nên cử người đi về phía tây để tìm, dọc đường gặp hai nhà sư Ấn Độ đang đi về phía đông là Ca Diếp Ma Đằng (Kasyapa Matanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa) nên thỉnh luôn về TQ, xây dựng chùa Bạch Mã tại Trường An để hai vị sư trụ trì. Như vậy ta thấy PG đến TQ bằng đường bộ, đường đi rất khó khăn vì phải đi qua sa mạc Gobi mênh mông, do đó PG du nhập TQ khá muộn, 6 thế kỷ sau khi Phật thành đạo.

Khác với TQ, PG đã đến VN sớm hơn bằng đường biển do dễ đi hơn. Chúng ta nên biết rằng trong khoảng thời gian đầu CN hoặc sớm hơn nữa, thuyền buôn của các nước Nam Á như Ấn Độ, Tích Lan, Mã Lai đã đi lại khá nhiều trên biển Đông mà di chỉ Óc Eo là chứng cớ. Theo Thích Nguyên Tạng, các nhà khảo cứu lịch sử PG xác nhận PG đã truyền đến VN dưới thời Hùng Vương, ngay trong  đợt truyền giáo lớn của vua A Dục (Asoka 273 – 232 TCN- vua nước Ma Kiệt Đà -Magadha- bắc Ấn Độ). Các đoàn truyền giáo của vua A Dục do hai vị sư Uttara và Sona cầm đầu đã đến Sri Lanka, Miến Điện, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Đoàn truyền giáo của Mahoda, con của vua A Dục, đã đến nước Văn Lang của Hùng Vương vào năm 240 TCN. Họ đã truyền Đạo Phật cho những người Việt có tên tuổi đầu tiên là Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa. Tháp và giảng đường do sứ giả của vua A Dục dựng lên tại thành Nê Lê (sách Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ mô tả vị trí thành Nê Lê “phía đông nam huyện Định An, cách sông 7 dặm”, sách Thủy Kinh chú của Lịch Đạo Nguyên cũng có nhắc tới thành Nê Lê ở huyện An Định. Sách Tiền Hán thư của Ban Cố cho biết An Định là một trong 10 huyện của quận Giao Chỉ. Đến thời Lưu Tống (thế Kỷ V thuộc Nam Triều), An Định được đổi tên thành Định An. Học giả Claude Madroll dựa vào tên gọi Nê Lê (nghĩa là bùn đen, đây là tên gọi rất cổ nên có thể nói là theo ngữ pháp của người Việt, -theo ngữ pháp Hán phải là Lê Nê- cũng giống như trong Lục Độ tập kinh, có 15 lần dùng chữ kiểu đó, chẳng hạn dùng “trung tâm” để chỉ trong lòng thay vì “tâm trung”) suy đoán rằng đó là Đồ Sơn của Hải Phòng. Còn thiền sư Lê Mạnh Thát thì đoán rằng Nê Lê là phiên âm của tiếng Phạn naraka nghĩa là địa ngục, vậy đó có thể là chùa Địa Ngục ở Tam Đảo.

Về địa điểm nơi Chử Đồng Tử lần đầu tiên được thuyết giảng Phật pháp, theo sách Lĩnh Nam trích quái là núi Quỳnh Viên. Theo Lê Mạnh Thát, núi này nằm ở phía nam Cửa Sót, là cửa biển của con sông cùng tên, nay thuộc Hà Tĩnh. Chử Đồng Tử trong một lần đi buôn xa bằng đường biển cùng với thương nhân nước ngoài, đã đến núi Quỳnh Viên, gặp nhà sư Phật Quang và được truyền pháp. Phật Quang chỉ là tên chữ Hán của một nhà sư ngoại quốc có thể là một vị sư người Ấn trong đoàn truyền giáo của Mahoda.

Về niên đại của Chử Đồng Tử, sách Lĩnh Nam trích quái 嶺南摭怪 (Trích nhặt chuyện quái lạ ở Lĩnh Nam) nói là vào đời vua thứ ba của triều đại Hùng Vương thứ 18, tức cuối triều đại Hùng Vương. Chử Đồng Tử là con của Chử Cù Vân, hai cha con rất nghèo phải mặc chung lần lượt một cái khố, sống tại làng Chử Xá (nay thuộc huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên), ông được coi là tổ của ngành ngoại thương Việt Nam vì đã biết buôn bán với nước ngoài bằng đường biển.

Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung công chúa trong tình huống đặc biệt

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì triều đại Hùng Vương kết thúc vào năm 258 TCN sau khi vua Hùng bị Thục Phán đánh bại, vua Thục lập nên triều đại An Dương Vương với tên nước là Âu Lạc, và Thục Phán mất nước vào tay Triệu Đà năm 208TCN.  Nhưng theo các sách giáo khoa tại Việt Nam hiện nay căn cứ theo tư liệu của Sử ký để lấy năm 179 TCN là năm Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc. Có lẽ vì Sử ký ra đời chỉ một vài chục năm sau khi nước Nam Việt mất nên đây được coi là nguồn tài liệu đáng tin cậy hơn. Hơn nữa, năm 1983 khi lăng mộ của Triệu Văn Vương tức Triệu Mạt, con trai của Trọng Thủy (và Mỵ Châu ?), cháu đích tôn của Triệu Đà, được khám phá tại Quảng Châu thì người ta xác định được Triệu Mạt sinh năm 175 TCN. Như vậy khi Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc, Mỵ Châu bị vua cha chém chết, đó là việc có thể xảy ra ngay năm 175 TCN sau khi sinh Triệu Mạt. Vậy Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc sớm nhất là sau năm 180TCN là năm Lã Mậu mất, chứ chắc chắn không phải là 208TCN và muộn nhất là 175 TCN (năm sinh Triệu Mạt) bởi vì sau khi có người nối dõi, Trọng Thủy quyết định chết theo Mỵ Châu. Sách Sử Ký chép là Triệu Đà diệt nước Âu Lạc “Sau khi Lã Hậu chết”, mà Lã Hậu chết năm 180 TCN. An Dương Vương  安陽王, tên thật là Thục Phán 蜀泮, là một vị vua đã lập nên đất nước Âu Lạc và cũng là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Theo cuốn dư địa chí Cổ Loa, các nhà sử học cho rằng, Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, khoảng trên dưới 30 năm. Do đó nếu năm 179TCN nước Âu Lạc mất thì suy ra năm 208TCN có thể là năm Thục Phán chiếm nước Văn Lang của tộc Lạc Việt, sáp nhập với địa bàn của tộc Âu Việt thành nước Âu Lạc. Thế thì khi phái đoàn của Mahoda tới vào năm 240TCN thì triều đại Hùng Vương vẫn còn, và Chử Đồng Tử đã gặp một vị sư trong đoàn, bởi vì phải 32 năm sau nữa tức đến 208TCN, Thục Phán mới đánh chiếm Văn Lang, kết thúc triều đại Hùng Vương.

Chúng ta có thể kết luận là Phật giáo từ Ấn Độ đã du nhập trực tiếp vào Việt Nam rất sớm, dưới thời Hùng Vương, trước khi Phật giáo du nhập Trung Quốc từ 2,5 tới 3 thế kỷ. Như vậy Việt Nam ban đầu bị ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ cụ thể là Phật giáo, cho tới năm 111TCN khi đoàn quân của Nhà Tây Hán dưới thời Hán Vũ Đế do Lộ Bác Đức chỉ huy đánh chiếm thành Phiên Ngung (Quảng Châu) của Nhà Triệu do Thừa tướng Lữ Gia nắm quyền sau khi Lữ Gia đã giết Triệu Ai vương và mẹ là Cù thị năm 112 TCN.

Trong các thời kỳ Bắc thuộc thì văn hóa Trung Quốc mới dần dần ảnh hưởng tới VN từ ngôn ngữ đến phong tục tập quán trong đó tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Nho giáo có ảnh hưởng rõ nét nhất. Trong Nho giáo thì tam cương (quân thần, phụ tử, phu thê); ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín); tư tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, có ảnh hưởng nhất định. Và tư tưởng Đại Thừa Phật giáo lại một lần nữa truyền bá sang VN xuất phát từ TQ. Như vậy có hai thời kỳ Phật giáo du nhập VN. Thời kỳ đầu trực tiếp từ Ấn Độ, từ thời vua A Dục (Asoka), chủ yếu là truyền khẩu. Thời kỳ thứ hai, gián tiếp từ TQ, lần này thì qui mô hơn, có ghi chép đầy đủ trong sách vở.

Tư tưởng văn hóa Phật giáo, chủ yếu là giác ngộ tánh không; tư tưởng Nho giáo, chủ yếu là đạo làm người, cho đến ngày nay, vẫn là những tư tưởng tiên tiến của nhân loại, cũng không có gì phải e ngại.

Kết luận

Không có lý do gì để Việt Nam bỏ Tết Âm lịch chuyển sang ăn tết theo Dương lịch bởi vì người VN hiện nay đang ăn tết đồng thời với những nước có nền kinh tế phát triển phồn thịnh nhất thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hong Kong. Tỷ trọng giao thương của VN với những nước này đã vượt xa những nước ăn tết theo dương lịch, cụ thể là 54,8% so với 33,7 %.

Xét về đầu tư trực tiếp của hai nhóm nước ăn tết theo âm lịch và ăn tết theo dương lịch, chúng ta thấy như sau :

Hàn Quốc hiện là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư đạt 55,8 tỷ USD với 5.593 dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đó chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo sản phẩm nhất là điện tử (35 tỷ USD/ 3.294 dự án).

Tính đến hết tháng 8-2017 Singapore có 1.918 dự án đầu tư còn hiệu lực  tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt hơn 41,4 tỷ USD, đứng thứ 3/122 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Đài Loan với hơn 2.500 dự án, tổng số vốn hơn 31,8 tỷ USD, có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn thứ 4 tại Việt Nam. Riêng tại Bình Dương, các nhà đầu tư Đài Loan đã có 772 dự án với tổng số vốn gần 6 tỷ USD. Hiện nay, Hong Kong là nhà đầu tư lớn thứ 6 tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký lũy kế đến hết tháng 10-2017 đạt hơn 17,6 tỉ USD và xu hướng đang tăng mạnh mẽ. Trung Quốc hiện có 1.616 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 11,2 tỷ USD, xếp thứ 8 trong các quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.

Nhật Bản với 3.523 dự án đầu tư có tổng số vốn đăng ký 46,1 tỷ USD, là quốc gia đứng thứ 2 về đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài tính đến Quý I năm 2017 các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với 1.959 dự án từ 24 nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 21,6 tỷ USD đứng thứ 5 tại VN. Mỹ  xếp vị trí thứ 7 trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với 11,3 tỷ đô la. Australia có 396 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 1,8 tỷ USD.

Tổng kết sơ bộ, các quốc gia ăn tết theo âm lịch (Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hong Kong, Trung Quốc) có tổng vốn đầu tư vào VN tính đến 2017 là 157,8 tỷ USD. (chưa kể những nước khác có đông người Hoa ăn tết âm lịch như Malaysia, Thái Lan, Indonesia)

Các quốc gia ăn tết theo dương lịch (Nhật Bản, EU, Mỹ, Úc) có tổng vốn đầu tư vào VN đến 2017 là  80,8 tỷ USD.

Như vậy, chúng ta thấy các nước ăn tết dương lịch đầu tư vào VN chỉ bằng một nửa so với các nước ăn tết âm lịch.

Nói chung, xét về cả hai phương diện : kinh tế đời sống vật chất và văn hóa tư tưởng, người dân Việt Nam vẫn đang sống đồng nhịp, ăn tết đồng thời với những quốc gia văn minh tiến bộ hàng đầu trên thế giới, do đó không có nhu cầu bỏ Tết âm lịch truyền thống để chuyển sang ăn tết dương lịch để được đồng thời với một số quốc gia khác. Thời trước những nước ăn tết dương lịch là dòng chủ lưu của kinh tế thế giới, nhưng ngày nay vai trò đó không còn nữa, bởi vì trọng tâm của kinh tế thế giới hiện nay đã dịch chuyển sang Châu Á Thái Bình Dương nơi đa số các quốc gia ăn tết theo âm lịch, chỉ có Nhật Bản là lẻ loi một mình khi ăn tết theo dương lịch. Người dân ở Đông Á và Đông Nam Á vẫn vui mừng đón nhận một ngày nghỉ lễ Tết dương lịch, nhưng phần lớn họ không ăn tết dương lịch mà vẫn tiếp tục ăn tết Nguyên đán theo âm lịch và tập tục cổ truyền.

Truyền Bình

Đăng tải tại Nhà sau | 3 phản hồi

SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA THẾ GIỚI TIN HỌC VÀ ĐỜI THƯỜNG

Trên Duy Lực Thiền tôi đã nhiều lần nói đến sự tương đồng, nghĩa là giống nhau giữa thế giới tin học và cuộc sống đời thường, bởi vì cả hai đều có bản chất là ảo hóa. Trong bài này tôi muốn xem xét tường tận hơn nữa.

Khái niệm về mối tương quan giữa thế giới tin học và đời thường

Nói một cách khái quát, thế giới tin học là thế giới phẳng, về mặt không gian tĩnh thì chỉ có hai chiều (2 dimensions viết tắt 2D), còn không gian động thì thêm một chiều thời gian nữa để biểu diễn sự biến đổi thì thành 3 chiều. Phim ảnh, video chính là không thời gian ba chiều động của thế giới tin học.

Thế giới đời thường là thế giới có bề dày, về mặt không gian tĩnh thì có ba chiều (3 dimensions viết tắt 3D), còn không gian động thì thêm một chiều thời gian nữa thành không thời gian (space-time) bốn chiều. Thế gian chính là không thời gian bốn chiều động của thế giới đời thường.

Khi thế giới tin học tăng thêm một chiều kích (dimension) thì thành thế giới đời thường. Nghĩa là thế giới đời thường là sự phóng hiện ra không gian 3 chiều (tĩnh) của cuốn phim điện ảnh.

Chúng ta thường cảm nhận có sự khác nhau hoàn toàn giữa thế giới trong phim điện ảnh và thế giới thật bên ngoài, thực tế thì sự khác nhau đó chỉ là khả năng còn giới hạn về mặt kỹ thuật của con người trong tin học. Chúng ta hãy đối chiếu để thấy cảnh giới trong phim ảnh và ngoài đời giống và khác nhau thế nào.

Số TT Thế giới ngoài đời Thế giới Tin học Hiệu ứng (thức) Đối tượng  (objects)
1 Mắt Video card Thấy Sắc (vật chất)
2 Tai Sound card Nghe Âm thanh, tiếng động
3 Mũi Chưa có Ngửi Mùi hương
4 Lưỡi Chưa có Nếm Cảm giác ngọt mặn, chua, cay…
5 Thân thể Chưa có Cảm giác tiếp xúc Cảm giác êm, đau, trơn, nhám…
6 Não Ram và CPU Ý thức Tư tưởng, tình cảm, ưa, ghét, phân biệt…
7 Mạt-na (Manas) Đĩa cứng Chấp ngã, khu biệt Cái tôi, cái của tôi
8 A-lại-da (Alaya) Internet Chánh biến tri Vũ trụ, vạn vật

 

Qua bảng đối chiếu trên, chúng ta thấy thế giới ngoài đời phức tạp hơn bởi vì thế giới ngoài đời có thêm 3 thức (ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc) mà tin học chưa có.

Ngoài ra, vấn đề gởi cố thể vật chất đi xa trong không gian với vận tốc nhanh hơn ánh sáng hoặc tức thời hiện nay vẫn còn là vấn đề nan giải, khoa học chỉ mới thực hiện được việc gởi một photon đi xa tức thời mà thôi.

Thí nghiệm của Anton Zeilinger gởi một photon tức thời đi xa 89 dặm (miles)

Tuy nhiên thực nghiệm đặc dị công năng thì đã làm được nhiều hơn. Năm 1979 Hầu Hi Quý đã thực hiện lấy một gói thuốc lá ở khoảng cách xa 1600 km.

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

Các nhà khoa học hy vọng rằng một ngày kia họ cũng sẽ làm được giống như Hầu Hi Quý, thực hiện viễn tải lượng tử đồ vật, thậm chí là cả một con người bằng xương bằng thịt, giống như video viễn tưởng sau :

Di chuyển một con người đi xa tức thời bằng viễn tải lượng tử

Trở lại với sự tương đồng giữa thế giới tin học và đời thường, hai thế giới này giống nhau ở bản chất là thông tin. Thế giới tin học là thông tin thì ai cũng biết rồi, hoàn toàn không có tranh cãi, nhưng nói thế giới đời thường hay thế gian cũng là thông tin thì rất ít người tin hiểu, không có một ai tưởng tượng nổi. Vì vậy cần phải trình bày chứng cứ để đi tới kết luận rằng vũ trụ vật chất cũng là thông tin.

Vũ trụ và thế giới đời thường cũng là thông tin

Phật giáo từ xa xưa đã nói thế gian là huyễn ảo, chỉ là do thức biến hiện (Duy Thức Học). Trong tác phẩm Thành Duy Thức Luận 成唯識論  tiếng Phạn (विज्ञप्तिमात्रतासिद्धि Vijñāptimātratāsiddhi),của Đại sư Huyền Trang  đã có tổng kết : Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thức 三界唯心 萬法唯識  nghĩa là : Ba cõi giới bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới đều là Tâm, Tất cả các pháp đều là Thức.

Mà bản chất của Thức là thông tin, giống như bản chất của tin học chính là thông tin. Thông tin chính là dữ liệu Data được biểu diễn trong đơn vị nhỏ nhất là bit, bit là đơn vị thông tin nhỏ nhất được ký hiệu là số 0 hoặc số 1. Với hệ đếm nhị phân, số 0 và số 1 được tổ hợp thành con số, bất cứ con số nào dù lớn hay nhỏ cũng đều có thể diễn tả bằng hệ đếm nhị phân này. Rồi tất cả mọi tính chất, đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ đều được thay thế bằng các con số gọi là số hóa hay kỹ thuật số (digital). Mỗi con số đại biểu cho một đặc điểm. Vô lượng vô biên đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ được gán ghép cho vô lượng vô biên con số. Bộ vi xử lý (processor) trong computer hay điện thoại sẽ thay thế các đặc điểm này vào các con số để phóng hiện lên màn hình thành văn bản, bài báo, hình ảnh, video, âm thanh. Ví dụ cụ thể như sau :

Nhị phân       Thập phân   Đồ hoạ
100 0000            64      @
100 0001            65      A
100 0010            66      B
100 0011            67      C
100 0100            68      D
110 0001            97      a

Chữ @ (a còng trong địa chỉ email) mã số là 64 (thập phân) hoặc 100 0000 (nhị phân)

Chữ A (viết hoa) có mã số là 65 (thập phân) hoặc 100 0001 (nhị phân)

Chữ a (viết thường) có mã số là 97 (thập phân) hoặc 110 0001 (nhị phân)

Về sau người ta sử dụng từ 8 tới 10 bit để diễn tả một con số hay một ký tự cơ bản và đặt tên là byte. Bội số của byte là kilobyte (KB) = 1024 bytes, Megabyte (MB) = 1024 KB, Gigabyte = 1024 MB, Terabyte = 1000 GB.

Và khi chúng ta gõ chữ A trên màn hình thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số 100 0001 tức 65 (thập phân) trong dữ liệu. Gõ chữ @ (a còng trong địa chỉ email) thì bộ nhớ sẽ được ghi thành số  100 0000 (nhị phân) tức là 64 (thập phân).

Bộ vi xử lý có tốc độ cực kỳ nhanh, trong một giây có thể xử lý hàng tỷ bit  nên nó kịp thời hiển thị lên màn hình những biến hóa vô cùng đa dạng mà nguồn gốc chỉ là những con số được biểu diễn bằng 0 và 1 mà thôi.

Công tác xử lý của con chip chính là ứng dụng nguyên lý thay thế, nghĩa là mỗi tính chất, mỗi đặc điểm của sự vật được thay bằng một con số. Vô số con số của dữ liệu sẽ được hiển thị trở lại màn hình bằng cách giải mã khiến cho chúng ta chỉ thấy văn bản, hình ảnh, âm thanh, video chứ không phải chỉ là những con số vô hồn nữa.

Trở lại với Duy Thức Học, môn này giải thích các lý căn bản của thế gian đời thường bằng ba tính chất của sự vật :

1/ Y tha khởi tánh 依 他 起 性 : (Paratantra-svabhava), còn gọi là Duyên khởi tánh, Tương thuộc tánh. Tính chất này có thể diễn tả một cách khác là  Nhất thiết pháp vô tự tánh 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tánh, chính vì thế nó phải nương tựa vào một pháp khác mới thành ra có đặc điểm, thành một sự vật phân biệt được với sự vật khác. Điều này có ý nghĩa cụ thể là tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều không có sẵn đặc trưng, không có sẵn tính chất gì cả. Mọi đặc trưng đặc điểm của sự vật đều được thay thế hay gán ghép từ một nguồn khác. Điều này thấy rõ trong ngôn ngữ. Một chữ viết hay một âm thanh tự nó không có ý nghĩa; ý nghĩa của nó là do con người gán ghép. Sự gán ghép này lâu ngày trở thành một thói quen, một qui ước tự động, khiến cho nhiều người nhìn thấy chữ viết hay âm thanh thì liền hiểu ngay ý nghĩa được gán ghép của nó. Ví dụ : chữ “con ngựa” bất cứ người nào biết ngôn ngữ Việt Nam  đều tự động hiểu là chỉ con vật này. Còn đối với người chỉ biết tiếng Anh, phải dùng chữ horse họ mới hiểu.

Con ngựa (horse)

2/ Biến kế sở chấp tánh 遍计所执性 : còn gọi là Phân biệt tánh, Vọng kế tự tánh, Vọng phân biệt tánh, Vọng tưởng tự tánh, Tự tánh giả lập (parikalpita-svabhava).  Sở chấp nghĩa là nắm giữ, cái tính chất hay đặc điểm mà vật đang nắm giữ là nó có thể lấy từ khắp mọi nơi (biến kế) bất cứ tính chất hay đặc điểm gì. Tính chất này có thể diễn tả bằng nguyên lý thay thế. Nghĩa là có thể gán ghép cho vật bất cứ tính chất hay đặc điểm gì. Giống như trong tin học người ta có thể gán ghép bất cứ đặc điểm, tính chất gì cho một con số, đó hoàn toàn chỉ là quy ước thôi. Và trong thực tế những tính chất đặc trưng của hạt electron như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, chính là do người khảo sát gán ghép tâm niệm của mình vào vật, từ đó mới xuất hiện hạt electron, chứ thực ra hạt electron không có thật, không hiện hữu, nó chỉ hiện hữu trong tâm niệm của con người mà thôi. Do đó Phật pháp mới nói Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo. Thí nghiệm hai khe hở cho chúng ta thấy rõ hạt electron chỉ trở thành hạt khi có người quan sát hoặc đặt thiết bị để đo đạc, nếu không thì nó chỉ là sóng, một dạng tiềm thể của vật chất, chứ không phải là vật chất.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Một ví dụ để thấy ta có thể thay thế một vật bằng bất cứ cái gì, chữ Hán gọi là biến kế sở chấp. Chẳng hạn chúng ta có thể thay thế cái video clip trên bằng một nhóm chữ hoàn toàn khác.

Man attaches his mind to an indeterminate wave to turn it into an electron

3/ Viên thành thật tánh 圆成实性 : (Parinispana-svabhava), còn gọi là Viên thành tự tánh, Đệ nhất nghĩa đế thể tánh, Tự tánh tuyệt đối. Vậy rốt cuộc pháp hay vật, bản chất hay thực tướng của nó là gì ? Cái tự tánh viên mãn chân như của vật là tánh không. Tánh không giống như hư không, không có thật, không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng. Nhưng tánh không không phải hư không, nó là một tàng thức chứa đủ tất cả mọi thông tin. Nó ở khắp mọi nơi, mọi không gian vũ trụ, không hạn chế ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, không hạn chế bởi số lượng. Nó không phải nhỏ cũng không phải lớn, không phải Một cũng không phải Nhiều, Phật giáo tạm gọi là Bất Nhị. Khoa học ngày nay diễn tả nó như là Trường thống nhất (Unified Field) hoặc Miền Tần Số (Frequency Domain), nó có dạng là sóng vô hình, chỉ chứa thông tin, không phải là vật chất nhưng có tiềm năng biến thành vật chất trong nhất niệm vô minh của chúng sinh.

Nói tóm lại cái thực tướng của vạn hữu là vô tướng. Tùy theo tâm niệm của chúng sinh như thế nào mà cảnh sẽ hiện ra tương ứng. Đó gọi là nhất thiết duy tâm tạo. Tâm niệm của chúng sinh không phải chỉ là ý thức tức thức thứ sáu, ý thức chỉ là một phần rất nhỏ của tâm niệm, phần lớn của tâm niệm nằm ở Mạt-na thức hay biệt nghiệp của mỗi cá thể chúng sinh, và một phần lớn hơn nữa nằm ở A-lại-da thức hay cộng nghiệp của một tập thể chúng sinh. Tất cả tám thức đồng tương tác và hiển thị thành cảnh giới thế gian. Chính nghiệp lực (Karma) đang chi phối tất cả mọi diễn biến của thế gian. Cộng nghiệp chi phối ở những cảnh giới rộng lớn của xã hội, quốc gia, quốc tế. Biệt nghiệp chi phối ở những cảnh giới nhỏ hẹp hơn là cá nhân và gia đình.

Qua đối chiếu, chúng ta thấy giữa thế giới tin học và thế giới đời thường có sự tương đồng rất lớn. Điểm mấu chốt quan trọng nhất là dữ liệu không có tự tính, cụ thể là các con số của tin học không có tính chất đặc điểm gì cả, giống như các hạt cơ bản của vật chất vốn không có tính chất đặc trưng đặc điểm gì cả. Tất cả mọi tính chất đặc điểm là do thay thế từ một nguồn khác vào. Đối với cả hai thế giới, cái nguồn tính chất đặc trưng để thay thế là do tưởng tượng của con người. Con người có thể tưởng tượng ra bất cứ thứ gì và thay thế nó vào dữ liệu để tạo ra một thế giới hiện thực ảo hóa. Thế giới đời thường có nhiều tính năng phức tạp hơn tin học, như ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc và cần một cơ sở dữ liệu lớn hơn rất nhiều, bởi vì hiện tượng diễn ra trong không gian 3 chiều chứ không phải trên mặt phẳng 2 chiều như tin học. Đó là sự tương quan so sánh giữa diện tích và thể tích, ngoài ra độ phân giải của dữ liệu thông tin đời thường cũng phải rất lớn. Nhà khoa học Craig Hogan đã thử tính toán nhằm xác định bit thông tin của vũ trụ vạn vật đời thường như sau :

Theo lý thuyết của Hogan, mọi vật trong thế giới 3D (thế giới đời thường của chúng ta) đều có thể mã hóa trên một diện tích 2D ở độ phân giải Planck. Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất. Và những bit cơ bản của thông tin vũ trụ nằm trong kích cỡ Planck. Kích thước Planck là khoảng cách vật lý nhỏ nhất còn có ý nghĩa, dưới khoảng cách này thì con số chỉ còn là con số toán học vô nghĩa, nó vô nghĩa vì không còn tương ứng với một thực thể vật lý nào. Kích thước Planck là 10-33   (mười lũy thừa trừ 33) cm. Đó chính là kích thước của lượng tử (quantum). Từ kích thước Planck, ông tính ra diện tích Planck là 10-66 cm2 (mười lũy thừa trừ 66 centimét vuông). Một bit thông tin vũ trụ cần diện tích bằng 4 diện tích Planck.

Một bit thông tin vũ trụ chiếm diện tích bằng 4 diện tích Planck

Craig Hogan nói rằng khi dữ liệu được dựng lên thành không gian 3 chiều tức là đã tăng khoảng không gian lên gấp bội so với mặt phẳng 2 chiều, tạo ra một độ nhòe giống như khi chúng ta phóng một tấm ảnh lên quá lớn thì nó bị nhòe. Sự nhòe đó tạo ra tiếng ồn toàn ảnh, tiếng ồn này đã được kiểm chứng, quả thực là có, cũng giống như việc người ta đã phát hiện được tàn tích của vụ nổ Big Bang.

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

Như vậy thuyết vũ trụ là số đã có cơ sở thực nghiệm. Mà vũ trụ là số tức nó phải là ảo. Vũ trụ đích thực là ảo thì không có gì phân biệt giữa thực và mộng. Sờ mó nắm bắt được, ngửi nếm ăn uống được, tiêu hóa tăng trưởng được, cũng không đảm bảo là thật, đó chỉ là sự đồng bộ giữa các giác quan mà thôi.

Và từ dữ liệu được mã hóa tức là biến thành con số trên mặt phẳng hai chiều, người ta sẽ có thể phóng hiện thành thế giới đời thường, thành cuộc sống thế gian. Đó chính là sự tương đồng đích thực giữa thế giới tin học và đời thường.

Bây giờ chúng ta thử quy đổi một bit tin học ra bit vũ trụ để thấy độ lớn khủng khiếp của dữ liệu vũ trụ.

Bit tin học ở mức độ hiện nay khi mạch điện cách nhau 10 nano mét, như vậy bit tin học chiếm diện tích 10-6 x 10-6  = 10-12  cm2 (mười lũy thừa trừ 12 centi mét vuông).

Bit vũ trụ có diện tích 4×10-66   cm2 (bốn lần mười trừ 66 centi mét vuông)

Bit vũ trụ bằng 4 lần diện tích Planck, vậy bit vũ trụ nhỏ hơn bit tin học 10-12 / 4x 10-66  = ¼ x1054  lần  (đại khái là số lượng bit vũ trụ nhiều hơn bit tin học 0.25×1054 lần, tạm hình dung là số lượng bit vũ trụ phải nhiều gấp một phần tư của tỷ x tỷ x tỷ x tỷ x tỷ x tỷ (mỗi chữ tỷ tương ứng với 9 số 0) bit tin học, hoặc viết cách khác, số lượng bit vũ trụ nhiều gấp ¼ x1.000.000.0006 bit tin học. Như vậy chỉ có các siêu máy tính một giây có thể xử lý hàng tỷ tỷ phép tính mới đủ sức xử lý bit vũ trụ. Tóm lại một diện tích chứa một bit tin học có thể chứa tới ¼ x 1000000000bit vũ trụ.

Có lẽ chúng ta phải chờ đến khi máy tính lượng tử ra đời, có khả năng xử lý nhanh gấp hàng tỷ tỷ lần máy tính điện tử hiện nay thì mới có hy vọng gởi một cố thể vật chất đi xa tức thời bằng viễn tải lượng tử.

Kết luận

Thế giới tin học và thế giới đời thường có cùng bản chất là sự ảo hóa. Nhiều nhà khoa học hiện nay tin rằng vũ trụ chúng ta đang sống trong đó là giả lập chứ không phải có thật.

Vũ trụ giả lập theo doanh nhân Elon Musk

Vũ trụ ảo giả lập bởi siêu máy tính Sunway Taihu Light

Các nhà khoa học Đức nói họ đã có bằng chứng về vũ trụ giả lập

Phật giáo từ ngàn xưa đã nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo, tức vũ trụ vạn vật chỉ là do tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật, điều đó đã được tổng kết trong câu kinh : Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thức 三界唯心 萬法唯識  nghĩa là : Ba cõi giới bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới đều là Tâm, Tất cả các pháp đều là Thức. Nói cách khác toàn bộ Tam giới đều chỉ là thông tin từ trong A-lại-da thức biến hiện ra chứ không phải có thật.

Máy tính điện tử hiện nay còn rất chậm, không đủ khả năng xử lý bit vũ trụ. Thật vậy, siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay là Thần Uy Thái Hồ Chi Quang (神威太湖之光Sunway ThaihuLight) chỉ mới xử lý được 93 triệu tỷ phép tính một giây, nghĩa là chưa tới một phần mười của một tỷ bình phương, còn thấp xa so với yêu cầu một phần tư của một tỷ lũy thừa 6 phép tính một giây, tương ứng với diện tích 1 nano mét của tin học hiện nay. Như vậy có lẽ chúng ta còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa loài người mới tiến đến chỗ xử lý nổi bit thông tin vũ trụ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 11 phản hồi

THẦY DUY LỰC VÀ 20 NĂM TIN HỌC

Năm 1996, Thầy Duy Lực đã đầu tư một phòng máy vi tính tại Bình Thủy TP Cần Thơ gồm bốn chiếc computer, trong đó 3 chiếc 486 và 1 chiếc 586. Thời điểm đó còn khá sớm, máy vi tính chưa phổ biến, ở Việt Nam cũng chưa có internet. Đến cuối năm 1997 VN mới bắt đầu có internet được truyền dẫn chung với đường dây điện thoại, tín hiệu internet được tách ra bằng một modem tốc độ rất thấp, chỉ có 56 Kilobit/giây. Hiệu ứng internet lúc đó chỉ có thể gởi email và đọc báo dạng text trên mạng, nhưng nó đánh dấu sự bắt đầu của một thời đại mới khi con người bắt đầu có thể liên lạc với phần còn lại của thế giới bằng một phương thức nhanh chóng. Từ đó đến nay đã 20 năm trôi qua.

Thầy Duy Lực không hề biết sử dụng computer hay lướt web, nhưng thầy cảm thấy giữa tin học cụ thể là chiếc computer và Phật pháp có một sự tương đồng, có mối quan hệ sâu xa, nên thầy đầu tư một phòng máy nhỏ tại quê nhà để giúp các em học sinh làm quen với tin học và từ đó có thể tạo cơ duyên với Phật pháp. Thầy chỉ nói vắn tắt là bộ vi xử lý của computer mô phỏng hoạt động của bộ não. Mà bộ não là cơ quan cốt yếu nhất của con người để nhận thức thế giới. Bộ não cũng như toàn thể con người, toàn thể chúng sinh, toàn thể thế giới và vũ trụ đều là do Tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造). Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Người  tu hành cầu đạo giác ngộ theo Phật pháp là khám phá cái tâm đó. Chúng ta bắt đầu công việc khám phá cái tâm đó bằng phương tiện là khám phá cơ chế hoạt động của chiếc computer, từ đó khám phá ra cơ chế hoạt động của tâm, để hiểu một cách thật rõ ràng nhất thiết duy tâm tạo nghĩa là thế nào, làm cách nào mà tâm tạo ra được vật chất.

Từ lúc computer và mạng internet xâm nhập vào VN cho đến nay, sau 20 năm, tin học đã có một bước tiến rất xa. Bộ vi xử lý đã mạnh hơn rất nhiều, từ chỗ chỉ có đơn nhân, tốc độ xử lý 100MHz /s của computer 486, ngày nay trong chiếc điện thoại smartphone, bộ vi xử lý có tới 8 nhân, tốc độ xử lý mỗi nhân cỡ 2GHz/s tức mạnh hơn gấp cả trăm lần. Ổ đĩa cứng của máy 486 chỉ có 850MB tức chưa tới 1GB (= 1024 MB) trong khi máy vi tính ngày nay có ổ cứng xoàng nhất cũng 300GB tức có sức chứa gấp mấy trăm lần. Hiệu ứng của mạng internet thì vô cùng phong phú, chúng ta có thể nói chuyện video (video call) với thân nhân bạn bè ở những nơi xa xôi trên thế giới bằng wifi gần như miễn phí qua các công cụ như Viber, Whatsapp, Zalo cài trên smartphone. Chúng ta có thể gởi tin nhắn, hình ảnh, video đến bất cứ nơi nào trên thế giới miễn là có truy cập internet, bằng smartphone, tablet, laptop hay computer. Chúng ta có thể đi tới những thành phố xa lạ mà không cần hỏi đường người địa phương, chỉ cần hỏi và xem bản đồ trên điện thoại. Chúng ta có thể mua sắm trên mạng, người ta có thể mang hàng đến tận nhà theo yêu cầu đặt hang trên mạng. Chúng ta có thể chuyển tiền ngân hàng và thanh toán nhiều thứ hóa đơn bằng điện thoại. Ngày nay chúng ta có thể không cần mua sách báo in trên giấy nữa, chúng ta có thể đọc báo, đọc sách hay nghe sách nói trên mạng. Chúng ta cũng có thể nghe radio và xem tivi trên mạng. Chúng ta cũng có thể sử dụng những ổ đĩa trên mạng để làm nơi chứa dữ liệu riêng của mình, chẳng hạn OneDrive của Microsoft  hay Google Drive của nhà mạng Google. Họ cho chúng ta sử dụng miễn phí 15GB cho mỗi tài khoản email của mình. Những ổ đĩa này gọi là đám mây (Cloud) nơi chúng ta có thể lưu trữ dữ liệu riêng của mình và đi đến bất cứ nơi đâu trên thế giới, miễn truy cập được internet thì có thể tiếp xúc được, lấy dữ liệu về máy của mình được.

Ngày nay con người sống và làm việc rất nhiều với thế giới ảo của máy vi tính, của điện thoại di động thông minh. Nhưng hầu hết mọi người trên thế gian đều không ngờ rằng thế giới đời thường mà mình đang sống cũng là thế giới ảo, là một loại mở mắt chiêm bao tức chiêm bao giữa ban ngày, về bản chất là không khác với nhắm mắt chiêm bao tức là giấc chiêm bao ban đêm lúc ngủ. Hãy nghe thầy Duy Lực nói về hai thứ chiêm bao.

Nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao

Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu tường tận về sự giống nhau giữa thế giới ảo của tin học, cái mà tất cả chúng ta đều biết là ảo, và thế giới ảo của đời thường, cái mà tuyệt đại đa số nhân loại đều tưởng là thật, không biết đó cũng chỉ là ảo hóa.

Môn tin học của nhà trường phổ thông dạy cho học sinh biết rằng thế giới ảo của tin học bản chất chỉ là dòng điện, tức là dòng chuyển động của electron trong mạch điện, chỉ có hai trạng thái thôi, trạng thái đóng mạch tức có dòng điện chạy qua được ký hiệu bằng số 1, trạng thái ngắt mạch tức không có dòng điện chạy qua, được ký hiệu bằng số 0. Chỉ với hai cơ số này, người ta có thể diễn tả tất cả mọi con số, đó gọi là hệ thống số nhị phân (binary system). Rồi người ta sử dụng nguyên lý thay thế, thay tất cả mọi đặc điểm về chữ viết, số thập phân Ả Rập mà mọi người quen sử dụng, hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, video, tất tần tật bằng các con số. Đó gọi là số hóa (digital) tức là thay thế mọi đặc điểm rất nhỏ của thế giới ảo bằng các con số điện tử. Rồi các bộ vi xử lý (processor) sẽ điều khiển, tương tác, xử lý các con số đó và hiển thị lên màn hình hoặc loa những đặc điểm đã được thay thế. Chúng ta cảm thấy thật kỳ diệu, bởi vì những con số rối rắm vô hồn đã biến thành bài báo, bức thư, tin nhắn, hình ảnh, video, âm nhạc, tiếng nói. Kỳ diệu hơn nữa, tất cả những hiển thị đó là vô sở trụ (non locality) tức không có vị trí nhất định, nó ở khắp nơi trên thế giới, bất cứ nơi nào có internet và có thiết bị để tiếp nhận thì đều có thể hiển thị, tạo ra một sự thuận lợi cực lớn cho con người.

Nếu trước kia muốn gởi một bức thư viết trên giấy từ VN qua Mỹ, nhanh lắm cũng phải mất nửa tháng, thuận lợi nhất là thư được trả lời liền và gởi hồi âm liền thì mất thêm nửa tháng nữa mới tới được tay người gởi thư đầu tiên. Bình thường không gặp thuận lợi lắm thì phải hai tháng người gởi đầu tiên mới nhận được hồi âm. Ngày nay gởi thư điện tử thì chỉ trong giây lát đã có thể nhận được hồi âm. Các dịch vụ mới gọi là OTT (Over The Top) như Viber, Whatsapp, Zalo, có thể giúp gởi tin nhắn, hình ảnh , video, hay nói chuyện video, tức thời, nhanh chóng, vô cùng tiện lợi và rất ít tốn tiền. Dịch vụ đó thì hoàn toàn miễn phí, chúng ta chỉ phải tốn tiền cho thuê bao internet cố định hàng tháng, hoặc 3G, 4G để truy cập internet mà thôi .

Con người còn kỳ vọng một ngày kia có thể gởi cố thể vật chất như cái bánh, ly cà phê, ly bia, đồ vật, hay chính bản thân con người, qua mạng một cách cực kỳ nhanh chóng giống như các vật ảo điện tử hiện nay, đó gọi là viễn tải lượng tử ( Quantum Teleportation), kỳ vọng đó được thể hiện qua video sau :

Viễn Tải Và Máy Tính Lượng Tử – Quantum Teleportation And Computer

Thế còn thế giới đời thường giống thế giới ảo của tin học ở chỗ nào ?

Môn vật lý dạy cho học sinh và sinh viên biết rằng toàn bộ vật chất trong vũ trụ có thể gom lại chỉ còn 18 loại hạt cơ bản, được trình bày trong bảng Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) như sau :

Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) gồm có 18 hạt cơ bản : 6 leptons, 6 quarks, 1 higg và 5 forces (photon, gluon, Z boson, W boson, graviton). Trong mô hình này còn thiếu hạt graviton là hạt mới được khám phá năm 2016.

Theo quan điểm của nhà vật lý hang đầu thế giới Niels Bohr, “Isolated material particles are abstractions (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Các hạt cơ bản vốn chỉ là sóng vô hình, không phải vật chất, và đồng nhất không có phân biệt mà khoa học gọi là Trường thống nhất (Unified field). Trường thống nhất là một khái niệm khoa học tương đương Tánh Không hoặc là Phật tánh hay tánh Giác ngộ của Phật giáo. Chúng ta không thể chứng minh sự hiện hữu của nó, cũng không thể phủ nhận. Không thể khẳng định là Có hay là Không, đây là điều cơ bản của Nguyên lý bất định.

Trong cuộc tranh luận khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein, quan điểm của Bohr đã được Alain Aspect chứng minh là đúng đắn trong thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) diễn ra tại Paris năm 1982. Hiện tượng liên kết lượng tử là có thật sự xảy ra chứ không phải chỉ là hiểu nhầm theo lý luận đôi găng tay của Einstein. Video sau đây mô tả lại cuộc tranh luận.

Lý Luận Đôi Găng Tay Của Einstein Để Giải Thích Liên Kết Lượng Tử

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Thí nghiệm của Alain Aspect chứng thực một điều là hạt photon hoặc hạt electron không có sẵn các đặc trưng như vị trí, khối lượng và cả số lượng, điện tích và số spin. Những đặc trưng này chỉ xuất hiện khi có người hoặc thiết bị quan sát, đo đạc, chứ chúng không có sẵn. Nó cũng chứng tỏ rằng vật chất không độc lập đối với ý thức hay nói trắng ra là chính thức (8 thức chứ không phải chỉ có ý thức) tạo ra vật chất. Điều này cũng được phát hiện thông qua thí nghiệm hai khe hở.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Vô hình trung nó cũng xác nhận hai mệnh đề cốt lõi trong kinh điển Phật giáo :

Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều này có ý nghĩa cụ thể là tất cả các hạt cơ bản của vật chất đều không có sẵn đặc trưng.

Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism). Chính vì vậy mà Bát Nhã Tâm Kinh nói :

無無明、亦無無明盡、乃至無老死、亦無老­死盡

VÔ VÔ MINH, DIỆC VÔ VÔ MINH TẬN, NÃI CHÍ VÔ LÃO TỬ, DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN :

Không có vô minh, cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết nên cũng không có hết già chết.

Phật giáo nói rằng chính nhất niệm vô minh đã thay thế cái tập khí của con người vào cấu trúc ảo của vật chất. Cấu trúc ảo đó chính là vô thủy vô minh, được thay thế bằng thói quen nhiều đời nhiều kiếp của tâm niệm và hiển thị thành cảnh giới thế gian có đầy đủ đặc điểm đặc trưng của tập khí đó. Vì cái tập khí đó là cộng nghiệp của con người trên thế gian, nên tất cả mọi người đều thấy gần giống nhau, gọi là thế lưu bố tưởng  世流布  Tuy nhiên mỗi người đều có biệt nghiệp nên cái thấy của người này cũng không phải hoàn toàn giống với người khác.

Vô thủy vô minh là gì ? Đó chính là cấu trúc ảo của các hạt cơ bản như quark, electron,  boson W, boson Z, Higgs, graviton…tạo thành hạt nhân nguyên tử và nguyên tử, rồi thành phân tử, cố thể vật chất v.v… nhưng tất cả còn ở dạng tiềm thể (potential) dạng sóng vô hình chưa phải là vật chất. Khi có nhất niệm vô minh khởi lên thì tập khí sẽ thay thế các đặc điểm của nó tức các thông tin chứa trong A-lại-da thức (Alaya) hay còn gọi là Tàng thức, vào cấu trúc ảo đó để nó trở thành vật chất. Điều đó hoàn toàn giống như các đặc điểm về hình dáng, màu sắc, cường độ sáng, đặc điểm về sóng âm…được thay thế vào vô số các con số nhị phân 0 và 1 để hiển thị thành bài báo, hình ảnh, video, âm thanh trên computer hay điện thoại thông minh. Cái tập khí và nghiệp lực (karma) riêng của một người được chứa trong thức thứ bảy là Mạt-na thức (Manas) sẽ quyết định cảnh giới mà người đó thấy, gặp và tương tác. Nghiệp tốt sẽ hiển thị thành phước báu, những điều tốt lành. Nghiệp xấu sẽ hiển thị thành tai ương hoạn nạn, những điều bất hạnh.

Cơ chế hoạt động giống nhau giữa bộ vi xử lý của computer và bộ não của con người, đó cũng chính là thông điệp mà thầy Duy Lực muốn gởi tới đám trẻ mới bắt đầu tập tành học vi tính cũng như tất cả những ai đang sử dụng các thiết bị tin học. Trong khi sử dụng computer, laptop hay smartphone, hành giả hãy liên tưởng tới thế giới đời thường đang cũng diễn ra giống y như vậy, chỉ là phức tạp cao cấp hơn thôi, từ đó có thể phát khởi nghi tình và có thể đi tới giác ngộ.

Cuối cùng chúng ta hãy xem lại Bát Nhã Tâm Kinh dưới dạng bài hát, đó cũng chính là bài ca giác ngộ mà thầy Duy Lực muốn gởi tới mọi người khi đầu tư vào phòng máy vi tính tại Bình Thủy vào năm 1996.

Bát Nhã Tâm Kinh- Tôn Lộ- VD

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 24 phản hồi

NHÂN LOẠI CẦN HAI NỀN GIÁO DỤC SONG HÀNH

Từ thời xa xưa khi nền giáo dục phổ thông dựa trên khoa học chưa ra đời, nhân loại cũng đã có một nền giáo dục dựa trên tôn giáo (tông giáo 宗教 religion). Tôn giáo xuất hiện do một số ít vĩ nhân, họ phát hiện ra một điều gì đó rất sâu sắc và đứng lên dạy bảo một số học trò rồi dần dần hình thành tông giáo.

I/GIÁO DỤC CỦA CÁC TÔN GIÁO

Các tôn giáo lớn của thế giới xuất hiện trong thời cổ đại, trong đó nổi bật là các vị giáo chủ :

A/ Đức Phật Thích Ca

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (释迦牟尼Sakya Muni) sinh năm 623 trước Công nguyên. Như vậy đến năm 2017 CN thì ngài được 2640 tuổi. Nhưng Phật Lịch chỉ bắt đầu từ lúc ngài nhập niết bàn, năm 543 trước CN kể là năm 1, đến đầu CN là PL 544 và đến nay là PL 2561.

Nguyên quán của Siddhārtha Gautama (Tất Đạt Đa 悉达多 Cù Đàm 瞿曇 hay Kiều Đạt Ma 喬達摩Gautama) là thành Ca Tỳ La Vệ [迦毘羅衛 sa. (sankrit): Kapilavastu], ngày nay có tên là Padaria. Vào thời đức Phật, đó là thủ đô của vương quốc cùng tên thuộc dòng họ Thích Ca 释迦 (Sakyas), dưới quyền trị vì của vua Tịnh Phạn (淨飯, sa. śuddhodana).

Ca Tỳ La Vệ, vào thời ấy, là một thuộc quốc của nước Kiều Tát La (憍薩羅, sa. kośala). Bấy giờ người cai trị Kosala là vua Ba Tư Nặc [波斯匿 Pali: Pasenadi; sa.: Prasenajit], có kinh đô đóng tại thành Xá Vệ (舍衛 sa.: Sravasti), nay thuộc bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Độ.

Lúc gần ngày sinh, hoàng hậu Ma Da 摩耶 (Mayadevi) đi về quê mẹ để chuẩn bị sinh con theo truyền thống, dọc đường đến vườn Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) thì hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa.

Lúc mới sinh ngài đã có đầy đủ 32 tướng tốt, nhà tiên tri A Tư Đà (阿私陀Asita) nói rằng Tất Đạt Đa sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Bảy ngày sau khi sinh thì mẹ mất, Tất Đạt Đa được người dì, em của hoàng hậu Ma Da, là Ma Ha Ba Xà Ba Đề Kiều Đàm Di ( 摩呵波闍波提 喬曇彌, sa. Mahāprajāpatī Gotami) chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất Đạt Đa kết hôn với công chúa Da Du Đà La ( 耶輸陀羅, sa. yaśodharā).

Năm 19 tuổi, sau khi công chúa Da Du Đà La hạ sinh một bé trai  được đặt tên là La Hầu La (羅睺羅, sa. rāhula), thái tử Tất Đạt Đa quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Tất Đạt Đa quyết tâm tìm cách diệt khổ và cầu đạo ở nhiều đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Có 5 anh em Kiều Trần Như (憍陈如 Koṇḍañña ) cùng tu với Tất Đạt Đa. Sau  nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất Đạt Đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, ngài bắt đầu ăn uống bình thường trở lại, năm người đồng tu kia thất vọng bỏ đi. Ngài  ngồi dưới gốc một cây pipala (về sau gọi là cây Bồ Đề) bên dòng sông Ni Liên Thiền (尼連禪 Niranjana) tại nơi mà về sau gọi là Bồ Đề Đạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định, mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu, Tất Đạt Đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 30, sau 5 năm tầm sư học đạo và 6 năm tu khổ hạnh. Từ thời điểm đó, Tất Đạt Đa kiến tánh thành Phật, là người Giác ngộ, Hán dịch là giác giả 覺者 và biết rằng cái ta chỉ là một khái niệm giả tạm, không có thật và tất cả các pháp đều là ảo hóa không có thật, chỉ là thế lưu bố tưởng 世流布想 abhuta kalpana sprastavya.

Nhưng vì thế lưu bố tưởng là một tập khí lâu đời thâm căn cố đế 深根固柢 nên Đức Phật phải bày ra Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, giảng thuyết nhiều bộ Kinh làm phương tiện để giáo hóa dần dần giải trừ các tập khí lâu đời để hướng tới giác ngộ.

B/Khổng Tử

Khổng Tử 孔子 tên Khâu 丘 , tự Trọng Ni 仲尼 sinh năm 551 trước công nguyên (TCN), tại ấp Tưu 陬邑, làng Xương Bình 昌平, nước Lỗ 鲁 (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Cha ông là Thúc Lương Hột 叔 梁 纥, một quan võ nhỏ của ấp  Tưu, đến 70 tuổi cha ông mới lấy vợ lẻ là Bà Nhan thị sinh ra Khổng Khâu. Ông Sống vào thời Đông Chu ở Trung Quốc, đó là một thời kỳ mà trên thế giới có nhiều vĩ nhân xuất hiện. Tại Trung Quốc, Lão Tử, ông Tổ của Đạo giáo, theo truyền thuyết, sống cùng thời với Khổng Tử, nhưng không biết rõ năm sinh và năm mất, đại khái ra đời khoảng năm 570 TCN, sau khi viết xong bộ Đạo Đức Kinh, để lại cho người giữ ải Hàm Cốc, Lão Tử cỡi trâu ra khỏi ải đi mất nên không ai biết chung cuộc của ông ra sao, có thuyết nói rằng ông sống đến 160 tuổi. Tương truyền Khổng Tử có gặp Lão Tử. Tại Hy Lạp, Socrates (470-399 TCN) và học trò là Platon (427-347 TCN) là những nhà triết học vĩ đại của Tây phương. Về sau vì Khổng Tử có viết cuốn sử biên niên là Xuân Thu 春 秋 nên các nhà sử học gọi đó là thời đại Xuân Thu (770-403 TCN) thời đại này bắt đầu khi Thiên tử nhà Chu là Chu Bình Vương lên ngôi và dời đô từ Cảo Kinh (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) về Lạc Ấp (nay thuộc tỉnh Hà Nam), và kết thúc lúc nước Tấn晉 là nước lớn mạnh nhất thời Xuân Thu, bị chia thành 3 nước là Hàn韓, Triệu趙và Ngụy魏  hình thành cục diện của thời Chiến Quốc với 7 nước lớn.

Tổ tiên dòng họ của Khổng Tử được sách sử chép như sau. Sau khi Nhà Chu diệt Nhà Thương Ân, Chu Võ Vương lên ngôi không lâu thì mất, Chu Thành Vương còn nhỏ tuổi nối ngôi, em của Võ Vương là Chu Công (tên thật là Cơ Đán 姬旦) nhiếp chính, phong cho một người thứ huynh (anh dòng thứ) của vua Trụ là Vi Tử Khải 微子启 làm chủ nước Tống, đóng đô ở Thương Khâu 商丘 (nay thuộc tỉnh Hà Nam). Khi Vi Tử Khải qua đời, người em trai là Vi Trọng Diễn 微 仲 衍 kế vị, Vi Trọng Diễn chính là tổ tiên của Khổng Tử. Kể từ ông tổ  6 đời của Khổng  Tử là Khổng Phụ Gia 孔父嘉  dòng họ này chính thức lấy họ là Khổng, Khổng Phụ Gia làm đại phu nước Tống, từng giữ chức Đại Tư Mã, trong cung có loạn, bị sát hại. Đời ông cố của Khổng Tử là  Khổng Phòng Thúc 孔防叔 chạy loạn từ nước Tống qua nước Lỗ định cư.

Đến đời cha ông là Thúc Lương Hột ( Thúc Lương là tự , tên là Hột), ông Hột ban đầu cưới bà họ Thi tên là Diệu Anh sinh được 9 con gái mà không có con trai, nên cưới thêm người thiếp sinh được một con trai là Mạnh Bì 孟皮 bị tàn tật (què chân), thời đó con gái và con trai tàn tật đều không được thừa tự (chính thức tiếp nối dòng họ), ở tuổi 70 ông lấy Bà Nhan Chinh Tại 颜 征 在 tuổi còn trẻ, sinh ra Khổng Tử. Vì Nhan thị có đi cầu tự ở núi Ni Khâu 尼丘山 , mặt khác trên đỉnh đầu Khổng Tử có một chỗ lõm hơi giống núi Ni Khâu, nên ông được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni , chữ Trọng có nghĩa là thứ hai, vì đã có Mạnh Bì là con trưởng, Mạnh có nghĩa là thứ nhất (các tháng trong mỗi mùa thường được gọi là Mạnh, Trọng, Quý).

Khổng Tử là người chủ trương nhập thế hành xử như một người quân tử, tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng xuất phát từ vị giáo chủ này vì ông chỉ dạy học cho nam nhân. Trong số hơn 3000 học trò của ông, không có ai là nữ. Ông dạy về mối quan hệ giữa con người với nhau (nhân luân 人倫) trong đó ông xác định những mối quan hệ chính là tam cương三綱 ba mối quan hệ, là quân thần, phụ tử, phu phụ君臣, 父子, 夫婦, và ngũ thường五常 năm thứ đạo lý mà con người  trong xã hội phải giữ gìn gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín仁,義,禮,智,信 . Những đạo lý này gọi tắt là cương thường綱常 hay còn gọi là kỷ cương紀綱 tức là giềng mối.

Sách Lễ Ký và Trung Dung nói “Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ” 仲尼祖述尧舜,宪章文武 (Trọng Ni góp nhặt và trình bày đạo lý của Nghiêu, Thuấn, phát huy hiến chương của Chu Văn Vương và Chu Võ Vương). Thời đại của ông không có nhiều sách vở lắm, đại khái chỉ có mấy quyển quan trọng Thi, Thư và Dịch. Thi là tập hợp những sáng tác thi ca của dân gian khắp các nước, sau Khổng Tử mới san định thành Kinh Thi. Thư chỉ là tài liệu ghi chép về lịch sử tối cổ của Trung Quốc, ông cũng noi theo đó mà viết một bộ sử biên niên về sau gọi là Kinh Xuân Thu. Riêng Dịch 易là quyển sách bói và cũng là triết học tối cổ của Trung Quốc tương truyền do Phục Hy伏羲đặt nền tảng đầu tiên, bàn về sự vận động biến hóa của  thiên nhiên và xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử về mặt triết học là dựa trên Dịch lý.

Triết lý của Dịch:

Biến hóa, thay đổi là nguyên lý của vũ trụ vạn vật, tức phải có biến hóa mới có trời, đất, người  và vạn vật. Biến hóa tạo ra vô số hiện tượng như sáng, tối, mưa, gió, sấm sét, sơn hà đại địa, cây cối sinh vật…Để diễn tả sự biến hóa đó, người xưa dùng các quẻ, có 8 quẻ cơ bản gọi là bát quái八卦 có từ thời Phục Hy, gồm những vạch gọi là hào , vạch liền gọi là dương hào阳và vạch đứt gọi là âm hào阴:

Hậu thiên Bát quái sắp theo thứ tự : Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn

Đây là thứ tự theo Chu Dịch do Chu Văn Vương đề xướng

Tổ hợp của bát quái thành 64 quái (quẻ) có từ đời Hạ Vũ夏禹 (Vua Vũ Nhà Hạ) trong đó có tất cả 384 hào, đó là tiên thiên bát quái lấy quẻ Cấn艮 làm đầu. Hào và quái chỉ là những ký hiệu vắn tắt, cần có thêm lời mô tả ý nghĩa mới rõ ràng gọi là từ 辭 , mỗi quái có quái từ, mỗi hào có hào từ. Chu Văn Vương là người đã diễn dịch ý nghĩa của 64 quẻ trong quái từ khi bị Vua Trụ cầm tù. Con thứ của Văn Vương, tức là em trai của Chu Võ Vương là Chu Công tên là Cơ Đán đã diễn dịch ý nghĩa 384 hào trong hào từ khi Nhà Chu đã thay Nhà Thương làm Thiên tử, do đó về sau Dịch còn được gọi là Chu Dịch周易hay Dịch Kinh易经 (sau thời Khổng Tử). Diễn giải của Dịch trong các quái từ và hào từ thường rất bí hiểm, mơ hồ, khó nắm bắt, nên có nhiều bất đồng giữa các học giả. Dịch khởi nguồn từ tượng 象 tức hiện tượng, sự vật trong tự nhiên. Con người thấy các tượng đó phát sinh ý tưởng.

Ví dụ họ thấy khúc gỗ trôi trên sông, tượng là “mộc tại thủy thượng” (cây ở trên nước) phát sinh ý tưởng làm thuyền, đặt tên quẻ là hoán 涣 ký hiệu (xem hình) .

Quẻ Hoán và quẻ Tiểu quá

Ví dụ khác quẻ tiểu quá 小過 (xem hình)tượng là “thượng động hạ tĩnh” (trên động dưới tĩnh) từ đó phát sinh ý tưởng làm cái chày và cái cối giã gạo. Triết học cơ bản của Dịch là vạn vật xuất phát từ chỗ vô cùng đơn giản, phát triển dần đến chỗ cực kỳ phức tạp. Dịch Thoán từ truyện nói : “ Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái diễn Vạn vật”  是故易有太极,是生两仪两仪生四象,四象八卦, 八卦演万物   Như vậy Dịch đã phát triển từ Thái cực là cái đơn nguyên cực đơn giản cho tới Vạn vật là cái cực phức tạp. Thái cực tương đương với Đạo của Lão Tử, với Bất nhị hay Tâm của Phật giáo, tương đương với Chân không lượng tử của Vật lý học hiện đại, đó là trạng thái trung hòa, vô hướng, năng lượng cực tiểu nhưng lại vô hạn. Lưỡng nghi là Âm và Dương, trong Phật giáo là Sắc và Không, trong Vật lý học là hạt (sơ cấp) và sóng tiềm năng của vật chất. Hạt và phản hạt, là từng cặp hạt có cấu trúc giống nhau chỉ khác dấu về điện tích, (ví dụ electron mang điện âm, positron mang điện dương) khi gặp nhau thì có thể triệt tiêu lẫn nhau, cũng có thể tạo thành vật chất, đó cũng đồng với  tính tương sinh tương khắc của Dịch. Tứ tượng theo Dịch là 4 hình thái cơ bản của vật chất gồm : Thái dương, Thái âm, Thiếu dương, Thiếu âm, trong Phật giáo là Tứ Đại : đất (chất rắn), nước (chất lỏng), gió (chất khí), lửa (năng lượng). Trong Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics) thì đó là 4 lực tương tác cơ bản của vật chất gồm : lực hấp dẫn (gravitational force), lực điện từ electromagnetic force), lực tương tác mạnh (strong interaction force) và lực tương tác yếu (weak interaction force).  Bát quái là 8 hình thái đầu tiên của vạn vật :  乾,坤,震,艮,巽,坎,离,兑 Càn, Khôn, Chấn, Cấn, Tốn, Khảm, Ly, Đoài (Càn là quẻ thuần dương, chỉ Trời là năng lực nguyên thủy. Khôn là quẻ thuần âm, chỉ Đất có ý nghĩa nhu thuận, năng lực sinh sản. Chấn chỉ Sấm có ý nghĩa chuyển động. Cấn chỉ núi có ý nghĩa ngăn cản trở ngại. Tốn chỉ gió, có ý nghĩa nhu thuận, uyển chuyển. Khảm chỉ nước chảy không ngừng trong vực sâu, tượng trưng sự nguy hiểm, muốn thoát hiểm phải học tập rèn luyện không ngừng. Ly chỉ lửa có ý nghĩa sáng sủa, bừng sáng. Đoài chỉ đầm nước có ý nghĩa vui vẻ, trao đổi, hanh thông) Bát quái là 8 quẻ chỉ 8 hình thái sơ cấp của Trời Đất với ý nghĩa cơ bản, ý nghĩa này có thể mở rộng đến vô cùng thành vạn vật.

Tóm lại các tư tưởng triết học lớn của nhân loại đều có cơ sở khoa học, chỉ khác nhau về cách diễn tả và mức độ sâu cạn.

Khi nắm vững được qui luật biến hóa của Dịch, người ta có thể đoán định được những việc cát (tốt), hung (xấu) và tương lai hậu vận, do đó Dịch thường được dùng trong bói toán, ứng dụng cho mọi hoạt động của con người, từ cá nhân cho tới xã hội, nhất là trong xây dựng kiến trúc, kết hôn, tang ma, mộ táng…

Cấu trúc của Dịch về hình thức khá giống với kỹ thuật số theo hệ nhị phân được ứng dụng rộng rãi trong máy vi tính hiện nay, số 0 tương ứng với hào âm, số 1 tương ứng với hào dương. Nhưng Dịch chỉ mô tả thế giới thực và tìm cách phát minh sáng chế phục vụ đời sống và ảnh hưởng tới thế giới thực để đạt được hiệu quả tốt, như tìm một cục đất tốt hợp phong thuỷ để xây dựng một thủ đô, một ngôi đền miếu, một ngôi nhà, hoặc làm mộ phần để có ảnh hưởng tốt đến con cháu đời sau, hoặc chọn ngày lành tháng tốt cho những sự kiện quan trọng…  nhưng hiệu quả thực tế rất giới hạn, bởi vì triết học của Dịch còn nhiều thiếu sót, chưa rõ ràng, tức các ý tưởng còn hơi mơ hồ,  mặt khác, chưa nghiên cứu kỹ về nguyên nhân của biến đổi, về luật nhân quả, người ta có thể nhầm lẫn giữa triệu chứng và nguyên nhân. Ví dụ việc đặt mộ táng đúng long mạch không thể là nguyên nhân phát sinh một vương triều hưng thịnh. Một vương triều hưng thịnh chỉ có thể là cộng nghiệp của một xã hội.

Trong khi đó kỹ thuật số làm chủ hoàn toàn thế giới ảo, tạo ra vô số công dụng thần kỳ nhờ những máy móc thiết bị tinh vi và các chương trình phần mềm ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên kỹ thuật số cũng chỉ tạo thêm nhiều tiện nghi cho con người chứ cũng không làm chủ được thế giới thực hay thế giới đời thường.

Cảm khái của Khổng Tử về Dịch tiểu biểu là câu nói khi ông nhìn con sông nước chảy không ngừng : “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ”  逝者如斯夫。不舍昼夜( Trôi mãi như thế này ư ! ngày đêm không ngừng) Ngoài Dịch lý Khổng Tử còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các chế độ của Nhà Tây Chu.

Triều đại Tây Chu

Sau khi đánh bại vua Trụ ở Mục Dã, lật đổ Nhà Thương, Chu Võ Vương lên ngôi Thiên tử lập nên Nhà Chu, đóng đô ở đất Cảo (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây). Thời kỳ trước khi dời đô qua Lạc Ấp gọi là Tây Chu, đó là thời tương đối thịnh trị. Chu Công trong thời gian 7 năm nhiếp chính từ khi Võ Vương qua đời mà Thành Vương còn nhỏ, đã làm được rất nhiều việc ảnh hưởng lớn đến hậu thế, ông là người đã thể chế hoá hiến chương Văn Võ thành chế độ cụ thể, ví dụ :

-Chế độ phong kiến封建  (phong tước kiến địa) phân phong cho chư hầu. Sách Lễ ký, mục Vương chế có ghi:  王者之制禄爵,公、侯、伯、子、男凡五等…天子之田方千里,公、侯田方百里,伯七十里,子、男五十里, ( Vương giả chi chế lộc tước, Công, Hầu, Bá, Tử Nam phàm ngũ đẳng…Thiên tử chi điền phương thiên lý, công hầu điền phương bách lý, Bá thất thập lý, Tử, Nam ngũ thập lý _ Chế độ lộc tước của vương giả có 5 bậc là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam…Đất của Thiên tử vuông ngàn dặm, đất của Công, Hầu vuông trăm dặm, Bá bảy chục dặm, Tử, Nam năm chục dặm). Sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận dẫn “Cốc lương truyện” nói, theo phép tỉnh điền đời Chu “Tam bách bộ vi lý” ba trăm bước là một dặm, như vậy đại khái một dặm khoảng 150-200m.

– Chế độ đẳng cấp : Thiên tử, Chư hầu, Khanh, Đại phu, Sĩ. Các loại lễ nghi, trang phục, nhạc lễ cho từng cấp bậc đều được qui định rõ ràng, kẻ dưới không được tiếm của người trên. Tuy nhiên chế độ đẳng cấp của Trung Quốc không nghiêm nhặt như của Ấn Độ, giữa các đẳng cấp vẫn có thể thông hôn với nhau, giai cấp Sĩ bằng con đường học vấn vẫn có thể tiến lên các bậc trên.

– Chế độ tông pháp qui định quyền lợi và nghĩa vụ của từng thứ bậc trong một gia tộc để ràng buộc người cùng dòng họ với nhau, trong đó điểm quan trọng là tước vị được cha truyền cho con trưởng, trong khi chế độ trước đó được truyền lần lượt cho các em trai (như ta thấy Vi Tử Khải truyền ngôi vị cho em trai là Vi Trọng Diễn). Chế độ tông pháp khiến cho người trong họ tộc đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, đến ngày nay vẫn còn ảnh hưởng.

– Binh chế, qui định khi hữu sự thì các vị Công, Hầu, Bá, Tử, Nam phải cung cấp cho Thiên tử bao nhiêu quân lính, bao nhiêu cỗ chiến xa tùy theo tước vị.

– Chế độ giáo dục chia làm 2 cấp tiểu học và đại học đều do nhà nước lập. Cấp tiểu học có trường dành riêng cho quí tộc gọi là thục塾, phân biệt với trường dành cho bình dân gọi là tường庠. Chức quan dạy tiểu học ở trường quí tộc có Sư thị师 氏dạy luân lý, đức hạnh. Chức Bảo thị保 氏dạy lục nghệ và lục nghi (6 kiểu nghi lễ dung mạo dành cho các trường hợp như : tế tự, tiếp tân, trong triều đình, trong tang lễ, trong quân đội, khi cỡi ngựa, lúc ngồi xe…Trường đại học đời Chu gọi là tích ung辟 雍 dạy các sách xưa và các triết học cao thâm để hàm dưỡng đức tính.

-Chế độ tỉnh điền井 田: ở vùng đất ruộng bằng phẳng, chia đất làm 9 khu theo hình chữ tỉnh 井 mỗi khu 100 mẫu, khu ở trung tâm là công điền do nhà nước quản lý, 8 khu chung quanh chia cho tư gia, các nhà chung quanh phải chung sức cày cấy khu ở giữa cho nhà nước. Tuy nhiên công điền dành 20 mẫu để cho 8 nhà chung quanh làm đất thổ cư cất nhà ở, nên thực tế chỉ còn 80 mẫu. Người được chia đất chỉ được canh tác chứ  không có quyền sở hữu, đến tuổi già phải trả lại cho nhà nước. Thanh niên đến tuổi thì lại được cấp đất. Cứ 3 năm có một lần phân phối lại.

– Các chế độ khác như công thương nghiệp, thuế khóa, …đều có qui định cụ thể.

Những thể chế tương đối hoàn bị do Chu Công thiết lập khiến Khổng Tử rất hâm mộ, ông thường nằm mơ thấy Chu Công.

C/Lão T

Lão Tử tên là Lý Nhĩ 李耳(Ước 570 _ mất sau 500 trước Công nguyên _TCN) tự Bá Dương 伯阳, còn gọi là Lão Đam 老聃, đời sau thường gọi là Lão Tử. Tài liệu cũ nói rằng ông là người Lộc Ấp 鹿邑huyện Khổ 苦 nước Sở 楚. Nhưng qua khảo chứng của chuyên gia kết hợp với khai quật khảo cổ, hiện nay người ta đã chứng thực Lão Tử là người huyện Oa Dương 涡阳 tỉnh An Huy 安徽. Ông sống trong thời đại Đông Chu, từng giữ chức Tàng Thất Sử ( quản lý thư viện) tại kinh đô Lạc Ấp 洛邑 của Nhà Chu. Khổng Tử lúc chu du liệt quốc có gặp Lão Tử hỏi về lễ tại Lạc Ấp. Vãn niên, ông cỡi trâu đi về phía tây đến ải Hàm Cốc 函谷 , ở lại ải viết bộ Đạo Đức Kinh dài 5000 chữ  để lại cho quan coi ải là Tổng binh Doãn Hỉ 尹喜, rồi ra khỏi ải đi về phía tây đến Chu Chất 盩厔 (nay là huyện Chu Chí 周至của thành phố Tây An) dừng chân ở nơi núi non trập trùng bên sông Điền Dục 田峪 cạnh núi Chung Nam 终南, kết cỏ làm nhà tu luyện và giảng kinh, di tích đó ngày nay hãy còn, gọi là Lâu Quán Đài 楼观台 được xếp vào trọng điểm văn vật cấp quốc gia. Đó là nơi phát nguyên của Đạo giáo hay còn gọi là Lão giáo. Tương truyền Lão Tử vũ hóa (thoát xác bay lên tiên) xác phàm chôn ở địa điểm cách Lâu Quán Đài 8km về phía tây, nay là mộ của Lão Tử. (thuyết cũ nói rằng Lão Tử cỡi trâu ra khỏi ải đi đâu bặt vô âm tín).

Sau khi Đạo giáo hình thành vào đời Đông Hán, Lão Tử được tôn xưng Thái Thượng Lão Quân 太上老君. Theo sách Liệt Tiên truyện thì Lão Tử được tôn xưng là thần tiên.

Thế giới quan của Lão Tử    

Lão Tử xem Đạo là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Trong Đạo Đức Kinh  có câu : “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu, ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo, cưỡng vi chi danh viết đại” 有物混成,先天地生,寂兮寥兮,独立而不改,周行而不殆,可以为天下母,吾不知其名,字之曰道,强为之名曰大 (Có vật hình thành từ sự hỗn độn, sinh ra trước trời đất, lặng lẽ mênh mông, đơn nhất không thay đổi, đi khắp mọi nơi mà không mệt mõi, có thể xem là mẹ của vạn vật trong trời đất, ta không biết tên nó, tạm đặt tên là đạo, miễn cưỡng gọi tên nó là lớn). Chữ “hỗn thành” ta có thể liên tưởng tới thuyết vũ trụ nổ Big Bang. “Độc lập nhi bất cải” có nghĩa là đơn nguyên bất biến vì chưa có sự phân cực thành cặp phạm trù mâu thuẫn. “Chu hành nhi bất đãi” nghĩa là khắp không gian vũ trụ nơi nào cũng có. “Khả dĩ vi thiên hạ mẫu” vì Đạo là mẹ sanh của vạn vật. Qui luật của Đạo là “Phản giả Đạo chi động” 反者道之动  Động lực của Đạo là ngược lại (với lực phát sinh) từ đó có thể chuyển hóa theo hướng mới. Lão Tử nhận định rằng những cặp phạm trù mâu thuẫn rất gần gũi nhau “Họa hề phúc chi sở ỷ, Phúc hề họa chi sở phục” 祸兮福之所倚,福兮祸之所伏  (Họa là chỗ dựa của Phúc, Phúc là chỗ nằm của Họa) ý nói họa và phúc rất gần nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, tức họa biến thành phúc, phúc biến thành họa. Ý này Phật giáo diễn tả một cách cơ bản và rốt ráo hơn trong câu sau, trích trong Bát nhã Tâm Kinh “Sắc bất dị không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” ( Sắc _vật chất hữu hình_ không khác với Không _hư không trống rỗng_ ; Sắc tức là Không, Không tức là Sắc_ hình thức tuy khác nhau nhưng bản chất vốn là một, tất cả chỉ là ý thức, là tâm niệm, không phải thực thể, không có tự tánh, không độc lập tồn tại ). Trong Đạo Đức Kinh, có những câu ngày xưa khó lòng hiểu nổi, chẳng hạn “Thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” 天 地 万 物 生 於 有, 有 生 於 无  (Trời đất vạn vật sinh từ chỗ có, có sinh từ chỗ không). Các tư tưởng lớn gặp nhau (Lão và Phật) qua các câu đã dẫn trên, tuy nhiên trong suốt mấy ngàn năm qua, nhân loại đa số đều mù mờ không hiểu rõ. Các Phật tử  ngày nào cũng tụng Bát nhã Tâm kinh song không thật sự hiểu. Chẳng hạn, một đại đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Thiền tông Trung Hoa là Thần Tú cũng vẫn mơ màng không hiểu bản chất không của vạn vật, huống hồ gì những người khác. Các học giả đã nghiền ngẫm Đạo Đức Kinh của Lão Tử suốt mấy ngàn năm qua song vẫn chưa ai nói được rõ ràng “hữu sinh ư vô” là như thế nào. Sở dĩ như vậy là vì dùng tư duy logic để hiểu thì không thể hiểu được vì gặp phải mâu thuẫn. Chỉ có thể chứng thực bằng thực nghiệm mà thôi. Phải đợi đến thế kỷ 20 khi Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics) phát triển, người ta chế tạo được kính hiển vi điện tử có khả năng phóng to một vật lên hàng trăm tỉ lần, chế tạo được máy gia tốc có khả năng cung cấp năng lượng cực lớn cho các hạt dưới nguyên tử (subatomic particles) di chuyển với tốc độ gần bằng ánh sáng, bây giờ mới có thể hiểu rõ một vài câu bí hiểm trong Đạo Đức Kinh, chẳng hạn Lão Tử nói : “Hốt hề, hoảng hề, kỳ trung hữu tượng, hoảng hề, hốt hề, kỳ trung hữu vật” 忽兮恍兮,其中有像;怳兮忽兮,其中有物  (trong hốt hoảng có hiện tượng, trong hoảng hốt có vật chất). Khi một hạt quark và phản quark gặp nhau chúng tạo thành hạt meson chỉ tồn tại khoảng một phần nghìn tỉ giây, đó chính là hiện tượng mà Lão Tử mô tả bằng câu “Hốt hề hoảng hề kỳ trung hữu tượng” Khi một hạt electron đụng phải phản hạt của nó là positron, cả hai biến mất tạo ra 2 tia gamma, đó là vật chất dạng sóng. Đây là trường hợp mà Lão Tử mô tả bằng câu “Hoảng hề hốt hề kỳ trung hữu vật”. Một hạt quark đứng một mình không tồn tại, (vô) nhưng 3 hạt quark hợp lại tạo ra hạt proton hoặc hạt neutron vô cùng bền chắc (hữu) Proton và neutron hình thành hạt nhân nguyên tử kết hợp với hạt electron xoay chung quanh tạo thành nguyên tử vật chất, ví dụ hydrogen gồm hạt nhân là một hạt proton với một electron xoay quanh.  Một chất  đồng vị của hydro là deuterium, hạt nhân có 1 proton và 1 neutron

Hydrogen và chất đồng vị của nó là deuterium

Những tính chất kỳ lạ của quark cũng như của lượng tử nói chung khiến cho thuyết tương đối của Einstein ngày càng được thực nghiệm chứng minh, chẳng những thế cơ học lượng tử còn đi xa hơn những quan điểm ban đầu của Einstein, do bản chất của lượng tử vốn hư ảo lại có thể sinh ra nguyên tử có vẻ rất thật mà Lão Tữ mô tả trong câu “Thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” và Phật giáo cũng đã đề cập trong Bát nhã Tâm Kinh. Nguyên tử là hữu, hạt quark đơn lẻ hay chất điểm (point particle) là hữu, hạt photon, hạt electron là hữu nhưng các hạt cơ bản của vật chất có bản chất là sóng vô hình vô thể nên gọi là vô  (nói là vô nhưng không phải hư vô, đó là cái mà vật lý hiện đại gọi là chân không lượng tử_ quantum vacuum), hữu và vô thật ra không khác nhau, vật chất và tinh thần cũng không khác nhau.  Đạo vô hình, vô thể, là gốc của vạn vật, ông nói : “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”  道生一,一生二,二生三,三生万物”  Đại khái ta có thể hiểu câu này như sau, Đạo là vô hình vô thể, sinh ra hữu thể đầu tiên là năng lượng với đơn vị là lượng tử (nhất), lượng tử sinh ra quark và electron (nhị), quark và electron sinh ra nguyên tử vật chất (tam), nguyên tử sinh ra vạn vật.

Chủ trương chính trị và nhân sinh của Lão Tử

Xuân Thu là một thời đại vô cùng hỗn loạn, do đó các nhà tư tưởng đều muốn tái lập trật tự . Tuy nhiên mỗi nhà từ chỗ nhận thức khác nhau về thế giới, nên có những chủ trương khác nhau. Khổng Tử mong muốn “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” (câu này chính xác do Nho gia có thể là Tăng Sâm ghi trong sách Đại học) bằng phương pháp chính danh, dùng lễ nhạc để cảm hóa nhưng không thành công. Còn Lão Tử trước hết phủ định Trời như một bậc Thượng đế có ý chí và quyền lực vô biên, ông nói : “Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu” 天地不仁 以万物为刍狗  (Trời đất bất nhân coi vạn vật như con chó rơm). Ông nói : “Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội, tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ, tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu”  绝圣弃智,民利百倍。绝仁弃义,民复孝慈。绝巧弃利,盗贼无有 (Dứt thánh bỏ trí, dân lợi trăm lần, dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại có hiếu và thương người, dứt kỹ xảo bỏ lợi lộc, không có trộm cướp) Khác với Khổng Tử, ông không đề cao các giá trị văn minh sáng tạo của của con người như thánh trí, nhân nghĩa, kỹ xảo và lợi tức. Xảo là cái mà ngày nay chúng ta gọi là khoa học kỹ thuật, còn Lợi chính là tiền tài, lợi tức, sản phẩm vật chất, là GDP (Gross Domestic Product= Tổng sản phẩm quốc nội).  Bởi vì các giá trị đó đều có mặt trái của chúng, do đó ông muốn thấy một xã hội thuần phác, yên tĩnh, vô vi. Có lẽ cuộc sống của bộ tộc  Kogi ở Colombia Nam Mỹ mà người ta quay phim năm 1993, gần với lý tưởng của Lão Tử. Họ sống cực kỳ đơn giản, không ăn thịt cá, chỉ ăn rau cải, trái cây, an tĩnh hướng nội, trí tuệ sáng suốt, rất ít bệnh tật, rất ít giao tiếp với bên ngoài, môi trường được bảo tồn hoàn hảo, suốt mấy ngàn năm không hề thay đổi. Họ đã sống hoà bình yên ổn, không tranh đua và có lẽ cảm thấy rất hạnh phúc trong rừng rậm. Lão Tử chủ trương “Vô vi nhi trị” không làm gì can thiệp vào trật tự của tự nhiên mà được thịnh trị. Ông nói : “Ngã vô vi nhi dân tự hoá, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nhi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác”  我无为而民自化,我好静而民自正,我无事而民自富,我无欲而民自朴   (Ta vô vi mà dân tự cải thiện, ta thích yên tĩnh mà dân tự làm đúng, ta không làm gì mà dân tự giàu, ta không ham muốn mà dân tự chất phác) Lão Tử đứng ở vị trí của bậc quân chủ mà nói, khuyên các bậc vua chúa vô vi, yên tĩnh, vô dục  để dân chúng, xã hội sẽ tự cải thiện lành mạnh. Chữ “phú” (giàu) ở đây có ý nghĩa tâm lý chứ không phải giàu về vật chất, giàu vì biết đủ, biết thế nào là đủ cho mình hạnh phúc, vì cái xã hội mà ông coi là lý tưởng thật ra có GDP rất thấp, dân chỉ có phương tiện sinh hoạt tối cần thiết mà thôi, nhưng họ hạnh phúc vì không có bất công, không ai chiếm đoạt tài sản của họ làm ra, không ai tranh giành. Cái xã hội đó không hướng về sự giàu có về của cải vật chất nên không cần nhiều kỹ xảo mà hướng về cuộc sống tinh thần an lạc, dựa trên sự quân bình của Đạo. Sự quân bình đó là “ Tổn hữu dư nhi bổ bất túc” 损有余而补不足  ( bớt chỗ dư bù chỗ thiếu). Trái lại con người sống theo tư dục luôn luôn hành động ngược lại, tức là họ bớt chỗ thiếu bù chỗ dư, chẳng hạn xã hội ngày nay là đầy bất công vì người giàu thì càng lúc càng giàu thêm, người nghèo thì càng lúc càng nghèo thêm, đến một lúc nào đó xã hội không còn chịu đựng nổi ắt nổ ra cách mạng.

Triết học nhân sinh của ông có thể tóm tắt như sau “ Tích nhật Lão Đam chi sinh dã, do vô chí hữu; Kim nhật Lão Đam chi tử dã, do hữu qui vô” 昔日老聃之生也,由无至有”、“今日老聃之死也,由有归无   (Ngày xưa Lão Đam sinh ra là từ không tới có, nay Lão Đam chết là từ có trở về không) Như thế sống hay chết đối với ông chỉ là sự biến đổi, chẳng có gì quan trọng. Trong cuộc sống ông chủ trương bất tranh : “Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh” 以其不争,故天下莫能与之争  (Mình không tranh giành thì thiên hạ không ai tranh được với mình). Sở dĩ không tranh giành, vì hiểu qui luật “ Vật hoặc tổn chi nhi ích, hoặc ích chi nhi tổn. Nhân chi sở giáo ngã diệc giáo chi. Cường lương giả, bất đắc kỳ tử” 故物或損之而 益,或益之而損。人之所教,我亦教之。強梁者不得其死  (Vật hoặc bớt mà được thêm, hoặc thêm mà bị bớt. Người mà dạy được ta ắt cũng dạy hắn rồi. Kẻ hung bạo chết bất đắc kỳ tử). Đạo không có thêm bớt, thêm bớt chỉ là biểu hiện cục bộ của vật, vì vậy người trí không tranh.

D/Jesus Christ

Jesus hay Giêsu là người sáng lập ra Kitô giáo. Giêsu là người Do Thái có tên là Yehoshua (יהושע – có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ” trong tiếng Hebrew), thường được gọi vắn tắt là Yeshua (ישוע). Từ “Kitô” (tiếng Latinh: Christus; tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós hoặc từ “Cơ Đốc”, chữ Hán: 基督 Ji-du) là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là “người được xức dầu”, nhằm chỉ ông là một vị lãnh đạo, chính trị cũng như tôn giáo, được chọn bởi Thiên Chúa. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm. Đó là “Đấng cứu thế”.Chữ Kitô hữu được chỉ những người tin và theo Chúa Kitô. Trong Phúc âm John chương 14 câu 6 chép: “Đức Chúa Giêsu phán rằng: Thầy là đạo, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (John 14:6). Theo đức tin Kitô giáo, Giê-su là con Đức Chúa Trời, và được sinh ra trên Trái Đất và chịu đóng đinh, để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, nên Giê-su còn được xưng tụng là Đấng Cứu Thế.

Hầu hết các học giả đồng ý rằng Giêsu là một người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36 CN tại xứ Judea, ông chỉ sống và hoạt động tại Galilee và Judea (vùng Bờ Tây sông Jordan) chứ không ở nơi nào khác.

Bản đồ vùng Galilee và Judea thuộc nước Israel ngày nay

Luca (Luke, một trong bốn sách Phúc Âm) 1:5 viết rằng Herod đã trị vì trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ khi ông khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius (khoảng năm 28 hoặc 29 Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Giêsu sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến 4 trước Công nguyên. Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện ông bị đóng đinh trên cây thập giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên.

Theo Kinh thánh Tân Ước, Cuộc đời và tư tưởng của chúa Giêsu được tuyên giảng lại theo bốn sách Phúc Âm (the four gospels, bao gồm: Matthew, Mark, Luke and John )

Phúc âm Mark 6:3 ký thuật rằng “Giêsu là con của Maria, anh của Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon”. Nhưng  Hieronymus hay thánh Jerome cho rằng Giacôbê và những người em khác chỉ là em họ của Giêsu.

Giêsu trải qua thời niên thiếu tại làng Nazareth thuộc xứ Galilee. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Giêsu theo gia đình lên Jerusalem trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Giêsu 12 tuổi được tìm thấy trong Đền thờ Jerusalem, đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo.

Theo Kinh Thánh, Giêsu đã cùng các môn đồ đi khắp xứ Galilee để giảng dạy và chữa bệnh. Ông thường tập trung giảng về Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là Bài giảng trên núi, trong đó đề cập đến Tám Mối Phúc thật (Beatitudes). Trong số những dụ ngôn của Giêsu, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện: Người Samaria nhân lành và Người con trai hoang đàng. Giêsu có nhiều môn đồ, thân cận nhất là mười hai sứ đồ (hoặc tông đồ), Phêrô (Peter) được Công giáo Rôma cho là sứ đồ trưởng. Theo Tân Ước, Giêsu làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazarô sống lại khi đã chết. Một phép lạ nổi tiếng khác là  Giêsu từ 5 ổ bánh mì và 2 con cá, đã biến ra đủ số lượng cho cả chục ngàn người ăn no.

Sách Phúc Âm John kể rằng : [Khi ấy, Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilee, cũng gọi là Tiberias. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua  (Passover) là đại lễ của người Do-thái đã gần tới.

Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?” Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philipphê thưa: “Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút”. Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người”. Chúa Giêsu nói: “Cứ bảo người ta ngồi xuống”. Nơi đó có nhiều cỏ, người ta ngồi xuống, số đàn ông độ năm ngàn chưa kể đàn bà và trẻ con.

Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã ăn no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi”. Họ thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư].

Giêsu cùng các môn đồ lên thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua (Passover); ông vào Đền thờ Jerusalem, đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: “Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp”. Sau đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (Sanhedrin) bởi viên Thượng tế Joseph Caiaphas. Trong bóng đêm của khu vườn Getsemani ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện được Giêsu nhờ cái hôn của Judas Iscariot, một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền.

Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin kết án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc Pontius Pilatus (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt INRI (của câu: “Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái”) được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilatus.

Sau khi Giêsu chết, Giuse người Arimathea đến gặp Pilatus và xin được phép chôn cất với sự chứng kiến của Maria (mẹ của Giacôbê), Maria Magdalena (Maria của thành Magdala, người yêu của Giêsu), và những phụ nữ khác.

Theo hầu hết các giải thích Kinh Thánh của Kitô giáo, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải, tình yêu vô điều kiện, tha thứ tội lỗi, khoan dung và hướng về Thiên đường. Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái, Ki tô giáo đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với đạo Do Thái chỉ vài thập kỷ sau cái chết của Giêsu. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp đế chế La Mã dưới dạng được biết đến qua Tín điều Nicea [  hay Kinh Tin kính Nicea (Tiếng Latinh: Symbolum Nicaenum) là kinh tuyên xưng đức tin của Giáo hội Công giáo] và trở thành quốc giáo dưới thời Theodosius I. Qua hàng thế kỷ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới.

Một số Phật tử, trong đó có Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 thời hiện đại xem Giêsu như một vị Bồ tát, người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại.

II/NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Đối với nền giáo dục phổ thông của từng quốc gia, hầu hết chúng ta đều quen thuộc. Nó có nguồn gốc từ Phương Tây và chủ yếu dựa vào khoa học.

Trong các thế kỷ 19 và 20, sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, của phương Tây lan tràn khắp thế giới và chiếm vị trí chủ đạo trong giáo dục kể cả tại mẫu quốc và thuộc địa. Do đó nền giáo dục phổ thông của hầu hết các quốc gia hiện nay là tương đối giống nhau, chủ yếu dựa trên các bộ môn khoa học như :

1/Vật Lý học (Physics), dạy về sự nhận thức thế giới tự nhiên chung quanh con người nhưng thiên về các định luật vật lý, các hiện tượng tự nhiên như điện, quang, từ trường, các lực cơ bản của vật lý hoặc một số phát minh của con người như máy hơi nước, động cơ xăng dầu, thủy điện, nhiệt điện, quang điện, phong điện v.v…

2/Hóa học (Chemistry), dạy về cấu trúc phân tử của vật chất, sự tương tác của các nguyên tố, bảng phân loại tuần hoàn (Periodic table) do nhà hóa học Nga Dmitri Mendeleev công bố lần đầu năm 1869, trong đó sắp xếp theo thứ tự các nguyên tố hóa học dựa trên cấu trúc nguyên tử, mà hạt nhân là các hạt proton và neutron, sự phân bố electron, từ đó có ảnh hưởng tác động khi các nguyên tố tương tác với nhau.

3/Sinh Vật học (Biology), dạy về sự nhận thức thế giới tự nhiên chung quanh con người nhưng thiên về mô tả thế giới sinh vật, động vật, thực vật, côn trùng, con người, các quy luật về di truyền, đời sống, tập tính. Đối với cơ thể con người thì đi sâu hơn về mặt giải phẫu học, sinh lý học cơ thể, từ đó tiến tới Y học, trị bệnh khi hoạt động cơ thể bị rối loạn hoặc gặp trở ngại và cách phòng bệnh.

4/Tin học (IT= Information Technology) là một bộ môn khoa học mới phát minh gần đây, vào cuối thế kỷ 20, nhưng có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống nhân loại hiện nay. Tin học dạy về sự vận động của hạt electron và hạt photon, chúng được lợi dụng qua cơ chế đóng ngắt của dòng điện hoặc dòng ánh sáng, với quy ước mô tả bằng số nhị phân, đóng tức có dòng điện hay dòng ánh sáng quy ước là số 1, ngắt tức không có dòng điện hay dòng ánh sáng quy ước là số 0. Chỉ với hai cơ số này, người ta có thể diễn tả bất cứ số lượng bao nhiêu, bất cứ con số nào. Mỗi con số được gán cho một đặc điểm về hình dáng, màu sắc, độ sáng, cao độ, cường độ của âm thanh v.v…Kỹ thuật gán ghép này gọi là số hóa, nghĩa là diễn tả tất cả mọi đặc điểm gì mà con người nhận thức được bằng những con số nhị phân.

Người ta chế tạo được những bộ vi xử lý (processor) có tốc độ rất cao, rung động hàng tỷ lần trong một giây để làm công việc thay thế gán ghép đó. Người ta cũng chế tạo được những thiết bị để ghi nhớ vô lượng vô biên những con số nằm sát khít bên nhau, hiện nay chúng chỉ còn cách nhau khoảng 10 nanomettre (một nano mét bằng một phần tỷ mét). Bộ nhớ có hai loại : bộ nhớ lưu trữ (storage memory) và bộ nhớ hoạt động (RAM= random access memory). Khi hoạt động thì dữ liệu từ bộ nhớ lưu trữ phải được đưa vào bộ nhớ RAM để hiển thị và tương tác.

Người ta cũng chế tạo ra mạng internet để kết nối toàn bộ các thiết bị thông tin trên toàn thế giới lại với nhau. Như thế nghĩa là một người đang ở bất cứ đâu, khi vào mạng internet thì có thể liên lạc, tương tác, trao đổi thông tin với bất cứ ai có vào mạng internet.

Ngày nay đại đa số con người trên địa cầu đều có sử dụng điện thoại di động, nhất là smartphone là một loại thiết bị thông tin tiêu biểu và phổ biến của kỹ thuật số, khiến cho việc liên lạc giữa con người với nhau trên phạm vi toàn thế giới trở nên dễ dàng, thuận lợi và ít tốn kém.

5/Toán học bao gồm Hình học, Số học và Đại số học (Mathematics includes geometry, arithmetics and algebra). Hình học dạy về mối quan hệ giữa các loại hình dáng như hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình thoi, hình bình hành, đường thẳng, đường cong, không gian vũ trụ. Số học dạy về mối quan hệ tính toán giữa các con số. Đại số học là mức độ cao cấp của số học, con số có thể mang dấu cộng (dương) hoặc trừ (âm) và có những ẩn số tức những con số chưa xác định, được thay thế bằng chữ. Ví dụ công thức biến đổi giữa vật chất và năng lượng của Einstein :

E = MC2

E là con số thay thế cho năng lượng, M là khối lượng vật chất, C là một hằng số, tốc độ của ánh sáng.

6/Lịch sử (History) dạy về những sự kiện xảy ra trong quá khứ liên quan tới đời sống của một đối tượng nào đó như Địa cầu, một quốc gia, một vùng đất, một dân tộc, một con người hay một ngành khoa học v.v…

Lịch sử chia ra :

a/Thời tiền sử và Thượng cổ (Prehistoric and Ancient period). Khi con người chưa có văn minh, chưa có ngôn ngữ, văn tự để ghi chép, chưa có sách vở ghi nhận thông tin, đó là thời tiền sử. Do đó thông tin của thời tiền sử dựa vào ngành khảo cổ khai quật từ lòng đất. Thời thượng cổ (Ancient period) khi con người đã bắt đầu có văn minh, có ngôn ngữ văn tự để ghi chép. Trên thế giới chỉ có một vài nền văn minh cổ đại mới có thông tin về thời thượng cổ.

Văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamian civilization) là vùng đất thuộc vùng đồng bằng trăng lưỡi liềm, nơi khai sinh ra các nhà nước thành bang cổ đại vùng Trung Đông. Vùng giao nhau của hai sông Tigris và sông Euphrates đã tạo nên một vùng đất màu mỡ và nguồn cung cấp nước cho tưới tiêu.

Vùng Lưỡng Hà, giữa hai sông Tigris và Euphrates

Những nền văn minh nổi lên xung quanh hai con sông này là những nền văn minh lâu đời nhất không du canh, du cư, được biết cho đến nay. Vùng Lưỡng Hà này sản sinh ra những nền văn minh như Sumerian, Akkadian, Assyrian, and Babylonian.

Văn minh Ai Cập cổ đại (Ancient Egyptian civilization)

Lưu vực sông Nil ở Bắc Phi là nơi ra đời nền văn minh Ai Cập cổ đại. Khoảng 6000 năm TCN, xuất hiện các vương quốc của xã hội tiền Ai Cập cổ đại (trước khi xuất hiện chế độ quân chủ ở Ai Cập) có kĩ năng trồng trọt và chăn thả gia súc. Những hình ảnh ban đầu đó có thể quan sát được qua những biểu tượng trên đồ gốm của nền văn hóa Gerzeh, khoảng 4000 năm TCN, giống với chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại. Vữa hồ bắt đầu được sử dụng từ khoảng 4000 năm TCN, đồ gốm sứ bắt đầu được sản xuất từ khoảng 3500 năm TCN. Bệnh viện và trung tâm phục vụ y tế bắt đầu có từ 3000 năm TCN.

Lưu vực sông Nil Ai Cập

Văn minh Ấn- Hằng (Indus-Ganges Civilisation)  

Văn minh lưu vực sông Ấn xuất hiện khoảng 3300 năm TCN. Giai đoạn đầu xuất hiện trước 4000 năm TCN. Trung tâm của nền văn minh là nằm bao quanh sông Ấn (chủ yếu thuộc lãnh thổ của Pakistan, và một phần nhỏ là thuộc Afghanistan, Iran và Ấn Độ), mở rộng về phía đông đến lưu vực sông Ghaggar-Hakra và ngược dòng vươn tới sông Hằng, sông Yamuna . Phía tây mở rộng tới bờ biển Makran thuộc Balochistan (Pakistan), phía nam đến làng Daimabad, tỉnh Maharashtra, Ấn Độ.

Nền văn minh sông Hằng gắn với công cuộc hoạt động truyền bá Đạo Phật của Thích Ca Mâu Ni vào thế kỷ thứ 7 và thứ 6 Trước CN.

Bản đồ Ấn Độ thời Đức Phật

Văn minh Hoàng Hà

Lưu vực sông Hoàng Hà miền Bắc TQ

Khởi phát nền văn minh Trung Quốc nằm cách không xa sông Hoàng Hà (song song với sông Trường Giang) do xung quanh khu vực tìm thấy nhiều di tích của thời Trung Quốc tiền sử. Các nền văn minh thời đại đồ đá mới tìm thấy được ở Trung Quốc là văn minh Bành Đầu Sơn (Pengtoushan) (sông Trường Giang) và văn minh Bùi Lý Cương (Kebudayaan Peiligang), tất cả chúng đều xuất hiện khoảng 7000 năm TCN hoặc sớm hơn. Giai đoạn văn hóa Bành Đầu Sơn, tại di chỉ này tìm thấy dấu tích của lúa gạo từ khoảng 7000 năm TCN. Tại di chỉ Giả Hồ (Jiahu) cổ đại tìm thấy vài bằng chứng về việc trồng lúa. Một khám phá quan trọng tại Giả Hồ là cây sáo cổ làm bằng ống xương có niên đại khoảng 7000-6000 năm TCN.

Cây sáo Giả Hồ làm bằng xương ống

Văn minh Bùi Lý Cương là một trong những nền văn minh lâu đời nhất tại Trung Quốc có sản xuất đồ gốm. Cả nền văn minh Bành Đầu Sơn và nền văn minh Bùi Lý Cương đều phát triển hoạt động trồng , chăn nuôi, lưu trữ và phân phối thực phẩm. Bằng chứng khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của các thợ thủ công, đày tớ. Lối chữ hình vẽ (Pictogram) được cho là khởi đầu của hệ thống chữ viết Trung Quốc bắt nguồn từ các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi tại Trung Quốc. Tại di chỉ Giả Hồ tìm thấy một số lối chữ hình vẽ, nó không được xem là có hệ thống chữ viết nhưng những ký hiệu đó là giai đoạn đầu dẫn đến hệ thống chữ viết tượng hình.

Văn minh Hy Lạp cổ đại

Trong hang động Franchthi, phía đông nam Argolis, Hy Lạp có bằng chứng về hoạt động nông nghiệp của Hy Lạp cổ đại. Gần 11000 năm TCN, canh tác ngũ cốc, các loạt hạt, lúa mì xảy ra đồng thời, trong khi yến mạch và đại mạch xuất hiện khoảng 10500 năm TCN; đậu Hà Lan và  thì khoảng 7300 năm TCN. Khu vực định cư thời đồ đá mới rải rác khắp Hy Lạp cùng với hoạt động nông nghiệp và sản xuất đồ gốm. Những địa điểm nổi tiếng như Sesklo và Dimini, đã có đường giao thông, quảng trường. Nó là một ví dụ về không gian thành phố cổ trong lục địa châu Âu. Một địa điểm quan trọng khác là Dispilio nơi phát hiện ra một phiến đá cổ xưa với đường nét như văn bản cổ.

Phiến đá Dispilio có chữ viết niên đại 5260 TCN

Văn minh Minoan là nền văn minh thời đại đồ đồng đầu tiên tại Hy Lạp. Nền văn minh phát sinh trên đảo Crete và phát triển mạnh mẽ khoảng 2700-1500 năm TCN, nhưng thời điểm khởi đầu phát triển của nó xảy ra rất xa trước đó.

Bản đồ Hy Lạp cổ 750 Trước CN

b/ Thời Trung cổ  

Là giai đoạn khoảng 1000 năm từ năm 501 – 1500 CN. Thời trung cổ là một giai đoạn lịch sử hơi đen tối tại Châu Âu, không còn thời kỳ huy hoàng của nền văn minh Hy Lạp- La Mã, xã hội có nhiều xáo trộn, dịch bệnh, giáo dục dựa hoàn toàn vào nhà thờ, khoa học chưa phát triển. Đây cũng là thời kỳ phát sinh nhiều quốc gia Âu Châu hiện đại như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha.

Thời kỳ trung cổ tại Ấn Độ được coi là thời hoàng kim với đế quốc Gupta. Sau khi vương triều Gupta diệt vong , vua Harsha của Kannauj đã thống nhất được miền Bắc Ấn Độ trong thế kỷ 7. Từ thế kỷ 7 đến 9, có 3 vương triều cạnh tranh nhau để làm bá chủ miền Bắc Ấn: Pratihara của Malwa và sau đó là Kannauj, Pala của Bengal, và Rashtrakuta của Deccan. Vương triều Sena sau đó cai trị vương quốc Pala, còn Pratiharas thì phân rã thành nhiều nhà nước nhỏ. Đây là những Rajputs đầu tiên, những vương quốc cố tồn tại dưới hình thức nào đó suốt gần một thiên niên kỷ cho đến khi Ấn Độ giành được độc lập từ người Anh.

Đây là thời kỳ mà nền nghệ thuật của Ấn Độ đã có những tác phẩm đẹp nhất, được xem là bản thu nhỏ của sự phát triển nghệ thuật kinh điển, và sự phát triển của các hệ thống tinh thần và triết học sẽ được tiếp tục trong Ấn giáo, Phật giáo.

Thời trung cổ tại Trung Quốc là một thời kỳ trải qua các triều đại lớn là Nhà Tùy (隋朝 561-619 CN), Nhà Đường ( 唐朝 618-907), Nhà Tống (宋朝 960-1279), Nhà Nguyên (元朝 1271-1368), Nhà Minh (明朝 1368-1644).

Thời Nhà Tùy, Thiền tông Ấn Độ bắt đầu truyền sang TQ với vị tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma菩提達磨bodhidharma đi thuyền đến miền nam TQ vào năm 520 đời Lương Võ Đế và có yết kiến ông vua này.

Nhà Đường là một trong những triều đại hưng thịnh nhất trong lịch sử TQ, thời kỳ hưng thịnh của  con đường Tơ Lụa ( 絲綢之路Silk Road) buôn bán giữa Châu Á và Châu Âu. Con đường tơ lụa được mở ra từ thời Nhà Hán, và phát triển mạnh thời Nhà Đường. Đây cũng là  thời hoàng kim của Thơ Đường.

Năm 1266, những người Châu Âu đầu tiên là cha của Marco Polo là Nicolai Polo và em trai của ông đã tới triều đình của đại hãn Hốt Tất Liệt tại Đại Đô (Khanbaliq), nay là Bắc Kinh, đánh dấu bước đầu giao lưu chính thức giữa Âu và Á Châu. Năm 1275, hai anh em Nicolai dẫn theo Marco Polo đến gặp Hốt  Tất Liệt lần thứ hai lúc đó đã trở thành hoàng đế Nhà Nguyên tức Nguyên Thế Tổ. Marco Polo sau đó viết sách ca tụng TQ là nước giàu có hùng mạnh nhất thế giới thời đó.

b/ Thời cận và hiện đại (khoảng sau năm 1500 cho đến nay)

Đó là thời kỳ phục hưng ở Âu Châu, khoa học phát triển, sức mạnh về kinh tế và quân sự của phương Tây tăng lên mạnh mẽ. Một số cường quốc Âu Châu nổi lên thành đế quốc, đi thám hiểm thế giới bằng thuyền. Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha bắt đầu đi biển tìm hiểu và chinh phục thế giới. Năm 1492, trên danh nghĩa là người đại diện cho vương triều Tây Ban Nha, Cristoforo Colombo đã vượt Đại Tây Dương khám phá ra Châu Mỹ và gọi đó là tân thế giới để phân biệt với Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, là cựu thế giới. Năm 1519 Magellan, người Bồ Đào Nha tổ chức một chuyến đi vòng quanh thế giới lần đầu tiên dưới sự bảo trợ của triều đình Tây Ban Nha. Ông tin rằng quả đất tròn nên để đi sang phương đông, mục đích là đến Ấn Độ, TQ, nhưng ông đã đi về phía tây, vượt qua eo biển hiểm trở ở cực nam Châu Mỹ mà ngày nay gọi là eo biển Magellan để qua Thái Bình Dương và đến được Philippines, đáng tiếc là ông đã tử trận tại đảo Mactan. Trong năm chiếc tàu của hạm đội, chỉ có một chiếc duy nhất là Victoria trọng tải 85 tấn trở về được tới Tây Ban Nha sau khi đi một vòng quanh thế giới.           

Nếu các cường quốc hang hải Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tổ chức các chuyến vượt biển để khám phá, chính phục thế giới và di dân sang tân thế giới nhất là Trung và Nam Mỹ trong các thế kỷ từ 13 tới 17, thì các đế quốc phát triển sau là Anh, Pháp, Hà Lan thống trị từ thế kỷ 18 tới đầu 20, tìm cách chiếm hữu thuộc địa tại Châu Phi, Châu Á, Châu Úc và Bắc Mỹ. Nhiều nước thuộc các châu lục này trở thành thuộc địa của họ như Ấn Độ, Miến Điện, Malaysia, Indonesia, Đông Dương, Philippines, một phần Trung Quốc, toàn bộ Châu Phi, Châu Úc.

Sau Thế Chiến thứ hai, hầu hết các nước thuộc địa đều giành được độc lập. Các đế quốc lừng lẫy một thời như Anh, Pháp mất thế lực, nước Mỹ nổi lên thành siêu cường, đối đầu với khối cộng sản do Liên Xô dẫn đầu, đó là thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Đến năm 1991 Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu hoàn toàn sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Tuy nhiên các nước cộng sản TQ, VN, Triều Tiên, Cu Ba không sụp đổ. TQ và VN tiến hành cải cách mở cửa, phát triển nhanh. Qua thế kỷ 21 thì TQ đã phát triển thành siêu cường mới, năm 2009 GDP của TQ vượt qua Nhật Bản, trở thành nước số hai về kinh tế. Đến năm 2014, GDP của TQ tính theo phương pháp ngang giá sức mua (PPP= Purchasing Power Parity) thực tế đã vượt qua Mỹ.

7/Địa Lý

Môn Địa Lý dạy về tình hình thực tế liên quan tới lãnh thổ, dân số, kinh tế, chính trị của các quốc gia. Điều kiện tự nhiên của đất đai, sông ngòi, núi non, thời tiết. Yếu tố chính tạo ra thời tiết mùa màng trong năm là do trục địa cầu nằm nghiêng một góc 23 độ 27 phút so với mặt phẳng hoàng đạo của Mặt trời. Tùy theo vị trí của quả đất quanh quỹ đạo Mặt trời mà tia sáng chiếu thẳng hay chiếu nghiêng xuống trái đất, từ đó gây ra hiệu ứng khác nhau về ánh sáng, nhiệt độ của bầu khí quyển địa cầu, tạo ra chênh lệch về áp suất, sinh ra gió, mưa, thời tiết, mùa màng.

Vị trí Trái Đất trên mặt phẳng hoàng đạo tạo ra bốn mùa

Trục trái đất nằm nghiêng còn tạo ra hiệu ứng các mùa khác nhau trong năm gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông và sự trái ngược về mùa tại Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Ví dụ tháng giêng ở nước Pháp thuộc Bắc bán cầu là mùa đông thì Argentina thuộc Nam bán cầu là mùa hè.

Thời gian trên Địa cầu cũng được qui ước. Người ta chia địa cầu ra 360 kinh tuyến, mỗi kinh tuyến tương ứng với một góc độ hình học. Kinh tuyến gốc 0 độ được xác định đi ngang qua đài thiên văn Hoàng gia Greenwich, Luân Đôn, nước Anh. Bên trái của kinh tuyến gốc là các kinh tuyến Tây, bên phải kinh tuyến gốc là các kinh tuyến Đông. Một ngày đêm có 24 giờ nên một múi giờ bao gồm 15 kinh tuyến. Đường xích đạo dài 40077 km,  nên trên xích đạo các kinh tuyến cách nhau 111,3 km, như vậy chiều rộng của một múi giờ trên xích đạo là 1670 km. Tại các vĩ tuyến càng gần cực địa cầu, thì chiều rộng của múi giờ càng nhỏ đi. Giờ giấc khi qua một múi giờ khác thì sẽ thay đổi. Địa cầu quay từ tây sang đông, những múi giờ ở về phía đông kinh tuyến gốc, xa nhất là vùng viễn đông, ở về phía tây kinh tuyến gốc, xa nhất là vùng viễn tây. Thủ đô Wellington của New Zealand có giờ +12 , đường đổi ngày nằm trên kinh tuyến 180 độ đông thuộc Thái Bình Dương có giờ là -12 .  Theo quy định, hễ đi ngang qua đường này, ngày trong tháng sẽ phải thay đổi. Đi từ Tây sang Đông qua đây phải thêm 1 ngày. Đi từ Đông sang Tây phải giảm đi 1 ngày. Quy ước này khiến cho những người sống trên bán đảo Kamchatka sẽ đón giao thừa sớm nhất thế giới, còn người sống tại Alaska lại phải đợi thêm 1 ngày đêm nữa mới được ăn Tết, trong khi họ chỉ cách nhau trong gang tấc.

Người ta cũng chia địa cầu ra 180 vĩ tuyến lấy xích đạo làm vĩ tuyến gốc, phía bắc xích đạo có 90 vĩ tuyến bắc, phía nam xích đạo có 90 vĩ tuyến nam. Các vĩ tuyến vuông góc với kinh tuyến. Xích đạo là vĩ tuyến 0 độ. Có 5 vĩ tuyến đặc biệt có tên riếng :

  • Bắc cực khuyên (66° 33′ 38″ vĩ bắc)
  • Hạ chí tuyến (23° 26′ 22″ vĩ bắc)
  • Xích đạo (0° vĩ bắc)
  • Đông chí tuyến (23° 26′ 22″ vĩ nam)
  • Nam Cực khuyên (66° 33′ 38″ vĩ nam)

8/Triết học

Triết học dạy học sinh nhận thức về thế giới một cách khái quát, theo một thế giới quan như thế nào còn tùy thuộc hệ thống , không có sự thống nhất.  Học sinh các nước theo nền giáo dục phương Tây  thì học cho biết triết học Hy Lạp cổ đại với các triết gia như Socrates, Aristotle, Plato.  Thời trung cổ thì họ học tư tưởng của Ki tô giáo. Thời cận và hiện đại thì có Francis Bacon (1561–1626),  René Descartes (1596-1650), Martin Heidegger (1889-1976), Jean Paul Sartre (1905-1980).

Ở các nước theo chủ nghĩa xã hội, học sinh được dạy kỹ về triết học Marx- Lenine . Hệ thống này khẳng định thế giới quan duy vật khách quan, phù hợp với vật lý học cổ điển nhưng không còn đúng với vật lý lượng tử hiện đại.

9/Văn học

Bộ môn Văn học dạy cho học sinh biết những tác phẩm văn học, thi ca tiêu biểu của từng thời kỳ lịch sử. Các tác phẩm của thời xưa gọi là Cổ văn, còn các tác phẩm hiện đại gọi là Kim văn.

Tác phẩm văn học phản ánh đời sống của con người và xã hội trong hoàn cảnh cụ thể của các cá nhân, thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng. Tác phẩm văn học xuất hiện sớm nhất tại TQ là Kinh Thi, là thi ca của dân gian sống cách nay 3000 năm, được sưu tầm và tập họp trong quyển sách. Sau khi được Khổng Tử tuyển chọn gọi là san thi (删诗)thì Kinh Thi còn lại 305 bài lưu truyền tới ngày nay.

Thơ Đường là một thể thơ thành tựu trong đời Đường trở thành tiêu biểu cho thơ TQ, rất hưng thịnh dưới triều đại này, có hàng vạn bài thơ với hơn 2000 thi nhân. Trần Thượng Quân biên soạn cuốn Toàn Đường Thi Bổ Biên ghi nhận con số 52800 bài thơ được sáng tác dưới triều Đường.

Ở Ấn Độ có hai bộ sử thi  Ramayana và Mahabharata. Ramayana (cử chỉ của chàng Rama) ra đời khoảng 1500 Trước Công nguyên. Mahabharata là  thiên sử thi dài nhất trên thế giới, gấp 7 lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad và Odyssey cộng lại.

Illiad nghĩa là Bài ca thành Ilium.  Odyssey (truyện kể cuộc hành trình trở về quê hương của Odysseus còn gọi là Ulysses sau khi đánh chiếm thành Troia). là sự kết tinh hoàn thiện của nghệ thuật sử thi Hy Lạp. Hai tác phẩm này được cho là của Homer. Theo nhà sử học Herodote thì nhà thơ cổ Hy Lạp Homer (tiếng Hy Lạp Hómēros sống trong thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên.  Hầu hết các học giả sau này đặt Homer vào giai đoạn lịch sử thế kỷ 8 hoặc 7 trước Công nguyên.

Nhiều tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của phương tây và phương đông cũng được trích giảng trong trường học, giới thiệu cho học sinh, và đưa cả lên mạng internet dưới nhiều hình thức, từ phim truyện tới văn bản và sách nói dưới dạng âm thanh mp3.

10/Nghệ thuật

Các bộ môn nghệ thuật như nhạc, họa, cờ, kịch, điêu khắc, nặn tượng, chụp hình, quay phim, múa, hát, v.v… chủ yếu giúp cho học sinh có chút kiến thức để có thể thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật. Những học sinh có năng khiếu có thể tiếp tục tiến xa hơn trên con đường làm nghệ thuật. Khác với thời xưa, lúc một số bộ môn nghệ thuật bị rẻ rúng do quan niệm xướng ca vô loại. Ngày nay các bộ môn nghệ thuật rất được xã hội xem trọng, nhất là chụp hình, quay phim, múa, hát. Lý do là cuộc sống xã hội được nâng cao, cùng với sự phổ biến của tivi, điện thoại di động thông minh, bất cứ ai nếu muốn đều có thể có phương tiện để xem phim, chụp ảnh, quay video, nghe ca nhạc.

11/Ngoại ngữ    

Trong thời hiện đại, sự giao lưu giữa nhân dân các nước qua kinh tế, thương mại, du lịch, học tập, ngày càng phổ biến, nên việc học ngoại ngữ cũng trở nên thịnh hành. Mặt khác internet là một phương tiện giao lưu mới giúp cho người biết ngoại ngữ có nhiều cơ hội sử dụng hơn trước rất nhiều.

Những ngôn ngữ được nhiều người sử dụng hiện nay trên thế giới là tiếng Anh, Hoa, Ả Rập (422 triệu người nói), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hindi (Ấn Độ 260 triệu người nói) Nga, Nhật, Pháp, Đức, Hàn.

Tiếng Anh chiếm địa vị gần như độc tôn, là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới, do mức độ phổ biến, dễ học, là một ngôn ngữ để làm việc trong các hội nghị. Còn tiếng Hoa thì lại là ngôn ngữ có số người sử dụng đông đảo nhất trên thế giới. Chữ Hán do sự thống nhất văn tự dưới đời Tần Thủy Hoàng cách nay 2200 năm, khiến cho tất cả 1,4 tỷ người Hoa tại TQ đại lục và khắp nơi trên thế giới đều thống nhất sử dụng cùng một thứ văn tự mặc dù ngôn ngữ nói của họ có thể khác nhau. Tiếng phổ thông (Quan Thoại) TQ, tiếng Ngô (Thượng Hải), tiếng Khách Gia hay Hẹ (hakka), tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến, và một số tiếng địa phương TQ khác, nói khác nhau nghe không hiểu nhưng chữ viết thì vẫn giống nhau dễ dàng đọc hiểu.

Hai thứ ngôn ngữ có đông người sử dụng nhất trên internet cũng là tiếng Anh và tiếng Hoa.

Top Spoken Languages By Internet Users (2015): Top 10 ngôn ngữ được dùng hàng đầu trên internet năm 2015 như sau :

Đơn vị tính : triệu người

English – Tiếng Anh        565 Million Users – 33%

Chinese – Tiếng Hoa        509 Million Users – 30%

Spanish – Tây Ban Nha    164 Million Users – 10%

Japanese – Tiếng Nhật     100 Million Users –   6%

Portuguese – Bồ Đào Nha  83 Millions Users – 5%

German – Tiếng Đức          75 Million Users –  4%

Arabic – Tiếng Ả Rập         65 Million Users –  4%

Russian – Tiếng Nga           60 Million Users –  3%

French – Tiếng Pháp           60 Million Users –  3%

Korean – Tiếng Hàn Quốc  40 Million Users –  2%

12/Các môn học khác

Trong nền giáo dục phổ thông còn có một số môn học phụ khác như :

Công dân giáo dục : dạy về ý thức, cách ứng xử của một công dân tốt trong xã hội.

Thể dục : dạy rèn luyện cơ thể để bảo vệ sức khỏe.

Quân sự : dạy một số kỹ năng để sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ đất nước chống nội loạn, ngoại xâm.

III/ SỰ SONG HÀNH CẦN THIẾT CỦA HAI NỀN GIÁO DỤC

Nền giáo dục phổ thông bắt đầu khi đứa trẻ được 6 tuổi. Trước đó đứa trẻ cũng đã đi học mẫu giáo, nhưng trong thời mẫu giáo, đứa trẻ vừa học vừa chơi, việc học chưa được đặt nặng. Chỉ trong quá trình 12 năm học phổ thông, đứa trẻ được dạy dỗ các bộ môn như nêu trên.

Lên đến bậc đại học, học sinh học thêm một số chuyên ngành để có kỹ năng làm việc sau khi tốt nghiệp, chẳng hạn về kinh tế, tài chính, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, thủy sản, kiến trúc, văn khoa, ngoại ngữ, chính trị v.v…

Nền giáo dục phổ thông chú trọng dạy về kiến thức và kỹ năng khoa học trên cơ sở thế giới quan duy vật khách quan. Không phải chỉ có các nước xã hội chủ nghĩa mới xem trọng thế giới quan duy vật, ngay cả tại các nước dân chủ phương Tây, thế giới quan duy vật vẫn là chủ đạo. Thế giới quan duy vật cho rằng thế giới vật chất là có thật, là khách quan, là nền tảng của vũ trụ vạn vật. Hầu như tất cả mọi người đều xem trọng vật chất tiền bạc. Cả đời người chỉ lo kiếm tiền và hưởng thụ.

Song trong cuộc sống thực tế, một số người cảm thấy bất hạnh, không phải vì thiếu thốn tiền bạc vật chất, mà bởi vì cảm thấy cuộc sống mong manh, nhiều bệnh tật trong đó có nhiều bệnh nan y, nhiều biến cố xảy ra một cách vô thường như tai nạn máy bay, xe cộ, tàu thủy. Rồi bao nhiêu thiên tai, bão lụt, núi lửa, động đất, sóng thần, cuồng phong…khiến cho không thể an tâm hưởng thụ đời sống được. Ngoài ra còn chiến tranh, cướp bóc, nghèo đói, bất công, bạo loạn. Các quốc gia tranh giành nhau tài nguyên thiên nhiên, biển đảo, dẫn tới chiến tranh hoặc đe dọa chiến tranh. Ngay cả không phải tranh giành tài nguyên, chỉ là thể chế chính trị khác nhau, cũng đủ gây ra hiềm khích, thù địch. Một thời Chiến Tranh Lạnh chỉ vì chế độ chính trị khác nhau giữa hai phe Xã hội Chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và Tự do Dân chủ đứng đầu là Mỹ. Nước lớn mạnh thì muốn lật đổ chính quyền của nước nhỏ yếu thù địch. Nước nhỏ yếu thì cố gắng thắt lưng buộc bụng, mặc tình dân đói, cố gắng chế tạo tên lửa mang đầu đạn hạt nhân để tự vệ. Đó chính là tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Triều Tiên hiện nay, không ai chịu nhường ai và chưa biết sẽ dẫn tới đâu.

Chính vì những vấn nạn của cuộc sống như thế, một số người cảm thấy rằng nền giáo dục phổ thông không đủ mang lại hạnh phúc, an tâm cho con người. Thế nên họ phải hướng tới nền giáo dục của tôn giáo, coi trọng tâm linh hơn vật chất, tiền bạc.

Thế giới quan của tôn giáo, chẳng hạn Phật giáo, cũng khác hoàn toàn so với quan niệm phổ thông của tuyệt đại bộ phận trong nhân loại.

Thông thường con người, kể cả nhà khoa học lừng lẫy tiếng tăm là Einstein đều cho rằng vật chất là có thật, là khách quan. Không gian, thời gian, số lượng, đều là có thật. Nhưng PG nói rằng vật chất chỉ là chủ quan, là thế lưu bố tưởng, là vọng tưởng chứ không phải có thật. Chúa Giê su cũng đồng quan điểm này, chẳng những thế, ngài còn chứng tỏ bằng cách thực hiện phép mầu phân chia 5 ổ bánh và 2 con cá cho một vạn người ăn no. Điều đó chứng tỏ số lượng vật chất chỉ là ảo tưởng chứ không phải thật. Kinh Vô Lượng Thọ của Tịnh Độ Tông cũng nói rằng ở cõi Tây phương Cực lạc, khi chúng sinh ở đó muốn ăn hay cần vật dụng gì thì thực phẩm hay vật dụng đều hiện ra, ăn xong hoặc dùng xong thì mọi thứ đều tự biến mất.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Einstein đã bị chứng minh là sai lầm trong thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect thực hiện tại Paris năm 1982. Thí nghiệm đó chứng minh rằng hiện tượng liên kết lượng tử là có xảy ra, hạt photon không có sẵn bất cứ đặc trưng gì, chỉ khi có người quan sát, các đặc trưng đó mới xuất hiện, kết quả này trái với quan điểm duy vật khách quan của Einstein cho rằng các đặc trưng của hạt photon và hạt electron luôn luôn có sẵn. Điều đó chứng tỏ là hạt photon cũng như hạt electron và tất cả hạt cơ bản khác đều do con người tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Điều đó cũng tương ứng với hai câu trong kinh Hoa Nghiêm : Nhất thiết pháp vô tự tính (tất cả các pháp đều không tự có tính chất, đặc trưng gì cả). Và Nhất thiết duy tâm tạo (tất cả là do tâm tưởng tượng tạo ra).

Đức Phật từ hơn 2600 năm trước đã nhận ra cảnh giới thế gian chỉ là huyễn ảo không có thật. Nên ngài mới đi khắp nơi trong một địa bàn rộng khoảng 340 000 km2 của hai bang Uttar Pradesh, Bihar và một phần Nepal ngày nay để thuyết giảng về đạo giác ngộ, giải thoát con người khỏi mê lầm đau khổ một cách oan uổng.

Địa bàn hoạt động thuyết pháp của Đức Phật lúc sinh thời

Kết luận             

Ngay cả trong thời đại khoa học kỹ thuật rất phát triển, con người vẫn luôn luôn cần hai nền giáo dục trái ngược nhau để điều hòa cuộc sống. Nền giáo dục phổ thông dạy cho con người những kiến thức và kỹ năng tương ứng với một thế giới quan thông thường, phù hợp với nhận thức, cảm giác đời thường của con người. Nhưng những nhận thức đời thường đó mang tính chất vọng tưởng, mê muội, không đủ để đem đến cuộc sống an tâm, hạnh phúc cho con người. Vì vậy những người có hiểu biết một chút, cảm thấy sự cần thiết phải hướng tới nền giáo dục truyền thống của tôn giáo, nhất là Phật giáo, một nền giáo dục hướng tới sự giác ngộ, giải thoát tất cả khổ ách như Bát Nhã Tâm Kinh đã nêu :

āryāvalokiteśvarabodhisattvo

gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại (tức Quán Thế Âm) khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Giải thoát tất cả mọi khổ nạn vì thấu hiểu tất cả mọi cảnh giới đều là vọng tưởng của bộ não chứ không phải có thật. Giống như đêm nằm chiêm bao thấy nhà cháy, mất mát tài sản và người thân, lúc giật mình tỉnh dậy, biết rằng tất cả cảnh chiêm bao là không có thật, không cần phải lo âu, buồn rầu, sợ hãi, đau khổ.

Đức Phật đã chứng nghiệm, đã tuyên thuyết trong 2600 năm qua, rằng cảnh giới thế gian chỉ là huyễn ảo. Einstein mặc dù rất hâm mộ Phật giáo nhưng vẫn chưa hiểu điều đó. Sau khi ông qua đời, khoa học đã chứng minh rõ ràng rằng vật chất là chủ quan chứ không phải khách quan, các hạt cơ bản của vật chất, cụ thể là hạt electron không độc lập đối với ý thức. Thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ điều đó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Cho nên những lời dạy của Đức Phật ghi trong kinh điển vẫn còn nguyên giá trị.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 9 phản hồi

VŨ TRỤ VẠN VẬT VÀ NHÂN SINH

Mô tả của Khoa Học

Cuộc sống của con người trên thế gian gọi là nhân sinh. Cuộc sống diễn ra trên quả Địa cầu là hành tinh thứ ba của Thái dương hệ. Hệ mặt trời của chúng ta nằm trong thiên hà gọi là dải Ngân Hà tiếng Anh gọi là Milky Way hay còn gọi là Galaxy. Ngân Hà thì nằm trong Vũ Trụ mênh mông có đường kính khoảng 156 tỷ quang niên. Một quang niên bằng 9.460. 800.000.000 (chín ngàn bốn trăm sáu chục tỷ tám trăm triệu) km. Người ta tính cách nào để ra con số 156 tỷ quang niên ? Dựa vào tuổi của các vì sao và sự giãn nở của vũ trụ, các nhà khoa học xác định được tuổi của vũ trụ là 13,7 tỷ năm. Điều đó có nghĩa là một bức xạ phát ra từ “vũ trụ sơ khai” (lúc xảy ra vụ nổ Big Bang hình thành vũ trụ) đã đi được 13,7 tỷ năm. Theo tính toán, với tốc độ giãn nỡ của vũ trụ, 1 photon di chuyển trong 13,7 tỷ năm đang cách vị trí xuất phát của nó 78 tỉ năm ánh sáng. (bán kính của vũ trụ). Như vậy đường kính vũ trụ là 156 tỷ quang niên.

Con người bao gồm thân thể tứ đại của mỗi người, cùng với chim muông cầm thú, cây cối hoa cỏ, thủy hải sản, côn trùng, sơn hà đại địa, hành tinh, các vì sao, các hệ mặt trời, các thiên hà, các hố đen, các thiên thể trong vũ trụ, gọi chung là vũ trụ vạn vật.

Năm 1859 Charles Darwin xuất bản cuốn sách Nguồn Gốc Muôn Loài (On the Origin of Species) trong đó tác giả đưa ra thuyết Sinh vật tiến hóa. Ông là người đầu tiên dùng khái nhiệm biến dị cá thể để chỉ sự phát sinh những đặc điểm sai khác giữa các cá thể cùng loài trong quá trình sinh sản. Về nguồn gốc của sinh vật, ông cho rằng do sự tương tác ngẫu nhiên mà các nguyên tố C, H, O, N đã kết hợp thành acid amin là chất sống cơ bản đầu tiên của sinh vật. Nhà khoa học xuất sắc của Nga tên Dimitri Ivanovich Mendelev, một trong nhóm 6 nhà khoa học nghiên cứu về các nguyên tố hóa học, đã giới thiệu bảng tuần hoàn trong những năm 1860. Nhưng trước đó một nhà khoa học khác cũng trong nhóm 6 người này, một nhà địa chất học người Pháp tên Alexandre Emile Béguyer de Chancourtois đã khám phá ra bản chất hệ thống các nguyên tố hóa học, nhưng nhà xuất bản đã không thể in ấn sơ đồ bảng tuần hoàn phức tạp mà ông đã gửi kèm cùng bài viết. Kết quả là ông de Chancourtois chỉ có chút danh tiếng và nhiều người đã không biết đến ông.

Phân tử chất sống cơ bản Acid Amin

Cấu trúc chung của một phân tử acid amin, với nhóm amin (-NH2) ở bên trái và nhóm acid cacbonxylic (-COOH) ở bên phải, cùng với một nhóm thay thế R (Replace). Nhóm R tùy vào từng acid amin cụ thể. Các nguyên tố chính của acid amin là carbon, hydro, oxy, và nitro, và một số nguyên tố khác có mặt trong nhóm thay thế của từng acid amin.

Acid amin tạo ra sinh vật đơn bào giản dị. Do sự tiến hóa và biến dị, sinh vật đơn bào phát triển thành sinh vật đa bào, rồi phát triển tiếp trong hàng tỷ năm để thành sinh vật biển như cá tôm, rồi thành con thú, con vượn và cuối cùng thành con người với đời sống vô cùng phong phú như hiện nay.

Mô tả giản lược từ con cá tiến hóa thành con người

Nhưng ngày nay, trong thế kỷ 21, thuyết Sinh vật tiến hóa của Darwin bị chỉ trích rất nhiều vì thiếu cơ sở khoa học với các lý do sau :

Xác xuất để các nguyên tố C, H, O, N ngẫu nhiên kết hợp thành acid amin tức chất sống đầu tiên là bằng 0 nghĩa là chẳng bao giờ xảy ra. Điều đó cũng giống như một đứa trẻ ngô nghê viết ngẫu nhiên bậy bạ không bao giờ tạo ra được một chương trình tin học hoàn chỉnh, một application cho smartphone chẳng hạn.

Sự kiện các vi khuẩn đơn bào tiến hóa thành những tế bào lớn hơn và phức tạp hơn chúng gấp trăm lần là một câu chuyện huyền thoại không có trong thực tế.

Các hóa thạch của sinh vật như con gián, con dế chứng tỏ không hề có biến dị qua hàng trăm triệu năm, tức là không có sự tiến hóa.

Người ta không tìm thấy hóa thạch các giai đoạn trung gian từ con vượn biến dị dần dần thành con người.

Kết luận rút ra là thuyết sinh vật tiến hóa của Darwin chỉ là một giả thuyết hoang đường không đúng thực tế, không thể chứng minh được.

Nói chung mô tả của khoa học về vũ trụ vạn vật và nhân sinh đại khái là như thế. Nhưng các nhà tôn giáo, chẳng hạn Kinh Thánh Thiên Chúa Giáo và Kinh điển Phật Giáo thì mô tả khác. Bên Đạo Thiên Chúa có thuyết Sáng Thế nghĩa là Đức Chúa Trời tạo ra Vũ trụ van vật. Còn bên Phật giáo thì nói rằng Nhất thiết duy Tâm tạo, nghĩa là Tâm tạo ra Vũ trụ vạn vật và nhân sinh. Trong bài này, tôi sẽ chủ yếu nói về vũ trụ vạn vật và nhân sinh theo mô tả của Phật giáo.

Phật giáo nói thế nào về vũ trụ vạn vật ?

Cái mà con người gọi là vũ trụ, chỉ là một phần nhỏ trong thế giới quan Phật giáo, kinh điển nói tới Tam giới là một khái niệm rộng lớn hơn vũ trụ vật chất của con người rất nhiều. Kinh điển PG đề cập Tam thiên đại thiên thế giới, nghĩa là một đại thiên thế giới gồm có một ngàn trung thiên thế giới, một trung thiên thế giới thì có một ngàn tiểu thiên thế giới, một tiểu thiên thế giới thì có một ngàn thế giới. Một thế giới là một hệ mặt trời trong đó có ít nhất một hành tinh có sự sống, ví dụ như Thái dương hệ của chúng ta là một thế giới. Vậy một Đại thiên thế giới bao gồm 10003 (một ngàn lũy thừa 3 thế giới), đó chính là mô tả về vũ trụ vật lý của chúng ta. Nhưng Tam giới bao gồm Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới, lại còn rộng lớn hơn nữa, đại khái như sau :

74/ NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

Kinh điển Đại Thừa Phật giáo mô tả thế giới, nhân sinh chỉ là tưởng tượng, không có thật, gọi là thế lưu bố tưởng, tức là tưởng tượng phổ biến đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp, thành tập quán. Chính cái tập quán đó, PG gọi là tập khí, đã được thay thế vào một cấu trúc ảo gọi là vô thủy vô minh, để thành vũ trụ vạn vật và nhân sinh, chứ nó không có thực chất.

Nguồn gốc của vũ trụ vạn vật là Tâm với 8 thức bao gồm lục căn, lục trần và lục thức gọi chung là 18 giới trong đó ý thức thống lĩnh 18 giới, phân biệt ra đủ thứ vật, đủ thứ cảnh giới. Nói chung vũ trụ vạn vật chỉ là thức, tức là thông tin, là một loại sóng vô hình không có thực thể, không thể khẳng định là Có, cũng không thể khẳng định là Không. Đối với một cá thể chúng sinh thì tất cả thông tin về cá thể đó được chứa trong một cái kho vô hình gọi là Mạt-na thức (Manas). Thông tin về tất cả chúng sinh khác, về phần còn lại của vũ trụ được chứa trong cái kho vô cùng lớn gọi là A-lại-da thức (Alaya). Alaya tất nhiên bao gồm tất cả Manas nghĩa là bao trùm cả 18 giới của tất cả Manas. Alaya cũng là một tên gọi khác của Tâm. Như vậy Manas tức là ngã và ngã sở của một chúng sinh. Còn Alaya là nguồn gốc của tất cả Manas, của toàn bộ vũ trụ vạn vật.

Bản chất của Alaya là sóng vô hình chứa đựng toàn bộ thông tin của vũ trụ vạn vật và nhân sinh, nó không có hình tướng, cũng không có nghĩa lý gì cả, không có không gian cũng không có thời gian, không có số lượng. Nhưng khi một chúng sinh, chẳng hạn một con người, khởi lên nhất niệm vô minh, nó liền thay thế tập khí tập quán của mình vào sóng vô hình đó, thì tức khắc sóng biến thành hạt, thành vật chất, có số lượng, có vị trí trong không gian và thời gian, có hình tướng, có màu sắc, có hương vị, có đủ các đặc tính mềm cứng trơn nhám của vật chất. Điều này đã được khoa học chứng tỏ rõ ràng trong thí nghiệm hai khe hở.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Cuộc tranh luận cực kỳ quan trọng, cực kỳ cơ bản về các đặc trưng của vật chất giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein trong thế kỷ 20 cũng đã kết thúc với phần đúng nghiêng về Bohr, kết quả của cuộc tranh luận này đã đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa duy vật khách quan, nó chứng tỏ vật chất là chủ quan chứ không phải khách quan, một điều mà Kurt Gödel, (1906-1978) nhà toán học người Áo  đã nhận định trong thập niên 1930 : Chủ nghĩa duy vật là sai lầm (Materialism is false). Đến năm 1982, sau khi Gödel đã qua đời, nhận định này đã được Alain Aspect chứng minh tại Paris trong thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement).

Chủ nghĩa duy vật là sai lầm theo nhận định của giới khoa học hàng đầu thế giới hiện nay : Materialism claims that everything is physical; everything can be exhaustively described and explained in principle by physics. For over half a century, challenges to materialism have focused on mental phenomena such as consciousness, reason, and value. … But there is reason to think that this assumption is false. (Chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng tất cả mọi thứ đều là vật chất; mọi thứ đều có thể được mô tả và giải thích một cách tường tận trong nguyên lý của vật lý học. Trong hơn nửa thế kỷ, các thách thức đối với chủ nghĩa duy vật đã tập trung vào những hiện tượng tâm linh như ý thức, lý lẽ và giá trị. … Nhưng có lý do để nghĩ rằng nhận định này là sai lầm.)  Đó là nhận định của William Jaworski trong bài viết công bố ngày 16-02-2016 trên tạp chí Triết học (The Philosophy) của Viện Triết học Hoàng gia (The Royal Institute of Philosophy- Anh Quốc).

Tại sao chủ nghĩa duy vật là sai lầm ?

Thứ nhất, vật chất không khách quan. Thí nghiệm hai khe hở cho thấy rõ hạt electron chỉ xuất hiện khi có người quan sát hoặc thiết bị theo dõi, chính người hay thiết bị này đã thay thế ý thức (của con người) hay sóng (phát ra từ sensor, tức bộ cảm biến của thiết bị) khiến cho electron từ dạng sóng vô hình biến thành dạng hạt hữu hình. Đó chính là cách mà vật chất xuất hiện, từ không biến thành có. Nếu không có người hay thiết bị quan sát, thì electron chỉ là sóng vô hình, không phải là vật chất, chỉ là Không (emptiness) mà thôi.

Khi electron là sóng vô hình, nó vô sở trụ (non locality) kể cả về mặt không gian và thời gian. Điều này thì người bình thường chúng ta ngày nay có thể dễ dàng trải nghiệm với chiếc smartphone của mình. Các thông tin trên internet hiện diện khắp mọi nơi, mọi lúc.

Chỉ khi electron trở thành hạt hữu hình thì nó xuất hiện trên màn hình điện thoại dưới dạng chữ viết (text), âm thanh (audio), hình ảnh (images) hoặc phim (video).

Điều đó chứng tỏ vật chất (hạt electron, hạt photon) chỉ là thức (conciousness) tức là một dạng thông tin, chính “thức” làm cho sóng vô hình biến thành hạt vật chất hữu hình. PG mô tả cái thức đó chính là nhất niệm vô minh xuất phát từ bộ não.

Thứ hai, vật chất không có sẵn đặc trưng. Thí nghiệm liên kết lượng tử của Alain Aspect năm 1982 tại Paris chứng tỏ rằng Einstein đã sai lầm khi cho rằng hạt photon hay hạt electron luôn luôn có sẵn những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Những đặc trưng này thật ra không có sẵn và chỉ xuất hiện khi có người quan sát, đo đạc. Như vậy chính hành vi quan sát, đo đạc, làm phát sinh hạt electron với các đặc trưng mà người ta đã đo đạc. Hay nói cách khác, chính nhất niệm vô minh làm phát sinh vật chất, nghĩa là vật chất là do tâm tạo. Nếu không có ai quan sát thì hạt electron chỉ là sóng vô hình và không phải là vật chất.

Tại sao sóng tiềm năng (nói tiềm năng là bởi vì nó chưa thành hiện thực của hạt) của photon hoặc electron không phải là vật chất ? Bởi vì sóng đó là vô hình, là thông tin, là ý thức, là tinh thần, là tâm, chứ không phải là vật chất. Chính loại sóng vô hình đó mới là nền tảng của vũ trụ vạn vật và nhân sinh chứ không phải các hạt cơ bản của vật chất là nền tảng. Các hạt cơ bản (elementary particles) thực ra không có thực chất, bản chất của chúng chính là sóng vô hình, là thông tin, là ý thức, là tinh thần. Nói một cách rõ ràng hơn nữa, 18 loại hạt cơ bản của mô hình chuẩn vật lý hạt hiện đại chỉ là hạt ảo, không có thực chất, chúng chỉ trở thành vật chất cứng, đặc, rắn chắc với nhiều đặc trưng khác khi bị quan sát, bị đo đạc. Tất cả mọi đặc điểm, mọi cảnh giới vật chất chỉ là tưởng tượng của tâm bao gồm 8 thức đã trình bày ở trên.

Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) gồm có 18 hạt cơ bản : 6 leptons, 6 quarks, 1 higg và 5 forces (photon, gluon, Z boson, W boson, graviton). Trong mô hình này còn thiếu hạt graviton là hạt mới được khám phá năm 2016.

Nếu không có “thức” thì các hạt cơ bản chỉ là trừu tượng, như Bohr đã nhận định : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Các hạt cơ bản của vật chất cũng như cấu trúc nguyên tử, phân tử của chúng chỉ là Tánh Không như Phật giáo đã thuyết trong Bát Nhã Tâm Kinh. Video sau đây là nhận định của các nhà vật lý học hiện đại.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Thứ ba, vật chất không có vị trí nhất định. Thí nghiệm về liên kết lượng tử do Nicolas Gisin của Đại học Geneva tiến hành tại Thụy Sĩ năm 2008 với những điều kiện hiện đại và chính xác hơn những thí nghiệm trước đó, do đã có sự hỗ trợ của internet và tin học hiện đại, đã chứng minh chắc chắn rằng một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, cách xa nhau 18km, khi photon ở vị trí này bị tác động thì ngay tức khắc photon ở vị trí kia bị tác động theo, cụ thể là spin của photon này xoay theo chiều kim đồng hồ thì spin của photon kia chắc chắn xoay theo chiều ngược lại, không mất chút thời gian nào. Người ta thử tính, nếu giả sử có tín hiệu truyền đi qua khoảng cách 18km giữa hai vị trí, thì tốc độ truyền phải gấp hơn 10 triệu lần tốc độ ánh sáng, một điều hoàn toàn không thể có, vì theo định đề của Einstein, không thể có vật chất hay tín hiệu nào đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Vậy chỉ có thể kết luận rằng khoảng cách không gian chỉ là biểu kiến, là tưởng tượng của tâm chứ không có thật. Vật chất thật ra không có vị trí nhất định. Không phải chỉ có hạt cơ bản như photon, electron, không có vị trí nhất định, mà cả những cố thể vật chất cũng không có vị trí nhất định, Phật giáo gọi là vô sở trụ. Năm 1979, kỳ nhân Hầu Hi Quý đã dùng tâm niệm lấy một gói thuốc lá ở khoảng cách xa 1600 km là một sự chứng tỏ.

43/ Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

Thứ tư, vật chất không có số lượng. Năm 2012, với thí nghiệm tạo được liên kết lượng tử giữa 100.000 photon của Maria Chekhova của đại học Moscow càng khiến cho nhận thức của nhân loại tiến xa thêm một bậc nữa.

Maria Chekhova tiến sĩ vật lý Đại học Moscow

Ý nghĩa triết học của thí nghiệm này là số lượng không có thật (non quantity). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau hoặc nhiều hơn nữa, đến mức vô lượng vô biên, điều đó cho phép suy ra rằng bản ngã của cá thể là không có thật. Một trăm ngàn photon xuất hiện đồng thời tại một trăm ngàn vị trí khác nhau, mỗi photon không hoàn toàn giống các photon khác, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau, chẳng hạn vị trí khác nhau, số đo spin khác nhau. Như vậy một photon đã đồng thời biến thành 100.000 photon khác nhau. Số lượng vật chất chỉ là ảo chứ không phải thật.

Kinh Vô Lượng Thọ mô tả cuộc sống ở cõi Tây phương Cực lạc dựa trên nguyên lý vật chất là ảo, không có số lượng như sau :

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Những nhận thức của các nhà vật lý học hiện đại gây kinh hoàng cho giới khoa học và triết học vì nó làm sụp đổ tất cả mọi niềm tin về một thế giới vật chất khách quan. Do đó, một số người đã đề cập tới sự khủng hoảng của Khoa Học.

37/ SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

Song số người thực sự hiểu được ý nghĩa khoa học và triết học của những nhận thức mới này còn rất ít, tuyệt đại đa số mọi người, kể cả một số nhà khoa học vẫn còn mê ngủ, không hiểu rằng họ đang nằm mơ giữa ban ngày tức là đang mở mắt chiêm bao.

Thật ra những nhận thức này chỉ là mới mẻ đối với các nhà khoa học, chứ đối với tôn giáo như Đạo Phật chẳng hạn thì chẳng có gì mới, chúng đã được ghi trong kinh điển hàng ngàn năm trước. Chẳng qua là vì có rất ít người hiểu nên chúng bị quên lãng, hoặc có được lặp đi lặp lại cũng chẳng mấy ai hiểu, chẳng mấy ai tin. Chẳng hạn Kinh Kim Cang có bài kệ :

一切有為法,Nhất thiết hữu vi pháp        Tất cả pháp hữu vi

如夢幻泡影,Như mộng huyễn bào ảnh   Như mộng huyễn bọt bèo

如露亦如電,Như lộ diệc như điện           Như sương mai điện chớp

應作如是觀.  Ưng tác như thị quán           Nên xem thấy như thế

Thế giới là mộng huyễn, thực tế là mộng ảo chẳng phải có thật.

Đến khi chúng ta xem lại kinh điển Phật giáo thì vấn đề trở nên rõ ràng. Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng :

一切法無自性  Nhất thiết pháp vô tự tính  Tất cả các pháp đều không có tự tính

一切唯心造      Nhất thiết duy tâm tạo       Tất cả đều là do tâm tạo

Tất cả các pháp không có tự tính, điều đó có nghĩa rằng hạt electron, photon, quark và tất cả các hạt cơ bản khác đều không có đặc trưng đặc điểm gì cả.

Tất cả đều là do tâm tạo có nghĩa rằng tất cả mọi đặc điểm, đặc trưng của vật chất đều là do Tâm tưởng tượng ra, cụ thể là Mạt-na thức của mỗi chúng sinh đều lấy tập khí, tập quán của mình thay thế vào cấu trúc ảo của vật chất từ đó tưởng tượng ra nhiều cảnh giới khác nhau, nhưng tự mình không làm chủ được, hễ hợp ý thì vui, trái ý thì khổ, chẳng có gì gọi là khách quan cả. Khách quan chỉ là sự hiểu nhầm do nhiều người có tưởng tượng gần giống nhau mà thôi.

Cuộc sống con người tức nhân sinh nên như thế nào ?           

Điều đó hoàn toàn tùy thuộc cá nhân mỗi người, không có một công thức chung nào. Trong Thập Mục Ngưu Đồ, các bức tranh chăn trâu được sáng tạo từ thời nhà Tống ở Trung Quốc (960 – 1279). Ngay từ ban đầu nó đã được xem như là những bức họa tiêu biểu, trình bày về tinh hoa Phật giáo Thiền tông – Trung Hoa. Mười bức tranh Thập mục Ngưu đồ của Thiền tông tương ứng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt đến sự giác ngộ và bên trong nó ẩn giấu những tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Trong bức tranh thứ mười, mô tả hành giả đã giác ngộ thì : Nhập triền thùy thủ 入廛垂手 (buông tay vào chợ). Chợ là nơi hỗn tạp, lẫn lộn kẻ tốt người xấu, thiện ác gì cũng có. Đó không phải là nơi thanh tịnh. Vậy hành giả vào đó làm gì ? Có thể là đi mua đồ cần dùng, có thể là đi du hí, làm bạn với cả kẻ tốt người xấu.

吉州青原惟信禪師,上堂:「老僧三十年前未參禪時,見山是山,見水是水。及至後來,親見知識,有箇入處。見山不是山,見水不是水。而今得箇休歇處,依前見山祇是山,見水祇是水。大眾,這三般見解,是同是別?有人緇素得出,許汝親見老僧。Sư Thanh Nguyên Duy Tín ở Cát Châu, (Sách Chỉ Nguyệt Lục《指月录》chép Duy Tín thiền sư ở Cát Châu là đệ tử đời thứ 15 của Lục Tổ Huệ Năng) lên giảng đường, nói : “Lão tăng 30 năm trước lúc chưa tham thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Về sau, khi đã vào cửa thiền, có chút tri thức, thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước. Nay đã tới chỗ nghỉ ngơi, thì giống như trước, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước. Này mọi người, ba giai đoạn kiến giải đó là đồng hay khác ? Nếu có ai ngộ ra điều trắng đen gì, xin hãy đến gặp lão tăng.”  (Trích trong Ngũ Đăng Hội Nguyên đời Tống  宋代《五燈會元》)

Thiền sư Duy Tín muốn nói điều gì ? Ngộ và chưa ngộ, cảnh thì cũng chẳng có gì khác nhau, chỉ có tâm không còn chấp thật, ngã và pháp đều không chấp. Tất cả mọi cảnh giới đều là vọng tưởng như Phật đã từng nói với Ca Diếp : bậc thánh nhân giác ngộ cũng có thế lưu bố tưởng như mọi người khác, nghĩa là thấy trâu là trâu, thấy ngựa là ngựa, cũng giống như Duy Tín, thấy núi là núi, thấy nước là nước, nhưng không sinh ra trước tưởng nên không còn khổ nữa, dù có thiếu thốn vật chất, tiền bạc hay bệnh tật, tai nạn hay cái chết, trong lòng cũng không xao xuyến, uy quyền của vua cũng không thể áp bức được. Như clip thuyết giảng của thầy Duy Lực :

1194/ Thiền sư kiến tánh sinh tử tự do, không sợ uy quyền của vua

Đối diện với tình hình xã hội và thế giới 

Hành giả vẫn có thể sống cuộc sống bình thường. Cuộc sống trong gia đình, nghĩa vụ đối với chồng, vợ, con cái và xã hội cũng không có gì thay đổi. Vẫn cứ tiếp tục làm việc, ai thích nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nghệ thuật hay tin học thì vẫn cứ tiếp tục. Cuộc sống, làm việc và sản xuất, buôn bán vẫn như cũ, chỉ có tâm thái là thoáng, không còn quá cố chấp vào một cái gì, dù đó là cái tôi, lòng tự ái hay ngã sở, những cái thuộc về tôi, không còn cố chấp cái gì là chân lý mặc dù vẫn sống một cách đàng hoàng, trật tự. Hành giả vẫn có thể theo dõi cuộc đấu khẩu nảy lửa giữa Donald Trump và Kim Jong Un, họ lên tiếng đe dọa hủy diệt lẫn nhau bằng vũ khí hạt nhân, hành giả chỉ mỉm cười mà không có chút lo âu sợ hãi nào, bởi vì hiểu rằng bọn họ chỉ là diễn viên của đại hí trường cuộc đời, họ chỉ khoác lác chứ không ai dám khơi mào chiến tranh. Mà nếu chiến tranh có thực sự xảy ra thì đó là cộng nghiệp của loài người, phải chấp nhận thôi, còn nếu nghiệp chưa tới thì nó sẽ không xảy ra.

Hành giả vẫn có thể theo dõi TQ với thái độ hết sức bình tĩnh. Nước này đang muốn kiểm soát Biển Đông, đẩy Mỹ ra xa khỏi khu vực, nên xây dựng các đảo nhân tạo, bố trí các đường băng cho các loại máy bay cỡ lớn có thể lên xuống, đặt các radar và tên lửa để phòng thủ và kiểm soát. Năm 2014, họ giả vờ khoan dầu trong vùng biển tranh chấp với VN bằng giàn khoan khổng lồ 981 để thu hút tất cả chú ý của thế giới, trong khi đó thì họ ráo riết bồi đắp bảy đảo nhân tạo trong một thời gian rất ngắn. Khi thế giới quay lại nhìn thì việc đã rồi. Khi Mỹ đem tàu chiến đến thực thi quyền tự do hàng hải thì họ có lý do để xây dựng các nhà chứa máy bay cỡ lớn, radar và tên lửa. Họ có rất nhiều tiền và một năng lực sản xuất hiện nay đã vượt qua Mỹ, nên đề ra những kế hoạch cực lớn gọi là Vành đai và con đường (nhất đới nhất lộ) cần số tiền đầu tư lên đến hàng ngàn tỷ đô la để tìm cách xây dựng một trật tự thế giới mới mà Mỹ và phương tây không còn giữ thế thượng phong.   Hành giả vẫn có thể theo dõi phương tây, cụ thể Mỹ và Tây Âu, những nước tự hào về nền dân chủ lâu đời, những nước đi trước về khoa học kỹ thuật, kinh tế, quân sự, từ thế kỷ 18 cho tới đầu thế kỷ 21, thống trị thế giới, lập ra một trật tự thế giới do họ chủ đạo. Họ có nền văn hóa nhân bản, lãng mạn, tôn thờ tự do cá nhân, quyền của con người. Nhưng phương tây hiện đang đối mặt với những thách thức chưa từng có, khi nền dân chủ thể hiện bằng quyền bầu cử của người dân, nhưng không chọn ra được những nhà lãnh đạo tài giỏi nhất. Chẳng hạn cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 chỉ chọn ra được một vị tổng thống nóng nảy, chủ quan, không có một chính sách đúng đắn, thông minh, tinh tế. Nhà lãnh đạo này có vẻ không đem lại cho nước Mỹ sự đoàn kết nhất trí để giữ vững được vị trí của mình trên thế giới, mà thực tế lại tạo cơ hội cho các nước mới nổi giành lấy ưu thế. Ví dụ Mỹ đã rút ra khỏi hiệp ước TPP ( viết tắt của từ ngữ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia ven Thái Bình Dương. Điều đó khiến cho các nước đó dù muốn dù không cũng ngã về phía TQ. Một ví dụ khác là Mỹ cũng đã rút ra khỏi hiệp ước chống biến đổi khí hậu toàn cầu của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là COP 21- Conference of the Parties, referring to the countries that have signed up to the 1992 United Nations Framework -Hội nghị của Các bên tham gia liên quan đến các nước đã ký Công ước khung Kyoto 1992 về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc, lần thứ 21-tại Paris ). Như vậy vô hình trung Mỹ đã nhường vị trí lãnh đạo thế giới cho TQ. Mỹ đã co cụm lại, rút lui khỏi những hiệp ước quốc tế quan trọng. Mỹ cũng không có kế hoạch gì to tát có thể làm đối trọng với kế hoạch Nhất đới nhất lộ vĩ đại của TQ bởi vì Mỹ không còn năng lực mạnh về tài chính mặc dù Mỹ là nước làm chủ đồng đô la và có quyền in tiền. Tình hình thế giới hiện nay cho thấy Mỹ và phương tây đã suy yếu rõ ràng. Họ rất muốn ủng hộ phe phiến loạn nhằm lật đổ chính phủ hợp pháp của Syria, nhưng rõ ràng không đủ sức. Bây giờ ngay cả một nước nhỏ bé nghèo nàn như Triều Tiên cũng dám lớn tiếng thách thức Mỹ, mà nước Mỹ của Trump có vẻ bất lực, không thể làm gì được ngoài những lời đe dọa có tính chất hiếu chiến, ví dụ như phát biểu đe dọa xóa sổ hoàn toàn quốc gia Triều Tiên của Trump tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 19-09-2017. Kim Jong Un đã phản pháo bằng cách đe dọa cho nổ bom nhiệt hạch trên Thái Bình Dương. Sự bất lực của Mỹ và phương tây thể hiện ở chỗ họ cứ muốn tăng cường cấm vận trong khi biết rõ rằng cấm vận không hề có chút hiệu quả nào, còn biện pháp quân sự thì không dám thực hiện, bởi vì TQ đã lên tiếng rằng nếu Mỹ tấn công Triều Tiên trước, TQ sẽ can thiệp, như vậy cuộc chiến sẽ trở nên vô vọng, chắc chắn sẽ tệ hại hơn cuộc chiến hồi 1950-1953 lúc TQ còn hết sức lạc hậu, nhưng đã can thiệp, và Mỹ đã không thể giành chiến thắng, trong khi TQ hiện nay đã hùng mạnh hơn rất nhiều. Ký ức về cuộc bại trận năm 1975 trong chiến tranh VN vẫn còn đó. Không lật đổ nổi chính quyền Assad tại Syria sau 7 năm chiến tranh khốc liệt chứng tỏ Mỹ đã suy yếu như thế nào. Triều Tiên không cần sử dụng tới vũ khí hạt nhân, Mỹ cũng không thể thay đổi được chế độ Bình Nhưỡng, đó là điều quá rõ ràng khiến Mỹ không thể sử dụng biện pháp quân sự.

Trong cuộc sống cá nhân của hành giả tu thiền, mọi việc đều có thể diễn ra như bình thường, chỉ có tâm thái là khác thôi. Ai đi làm việc cho nhà nước, cho công ty, xí nghiệp, nhà máy, công trường, thì vẫn đi làm như cũ. Nhưng vì không còn quá chấp ngã, chấp pháp nên tâm tư lúc nào cũng nhẹ nhàng, sống không lo sợ, không thù hằn. Hành giả chỉ cần tránh những ác nghiệp như sát sinh, hại vật, trộm cướp, dối gạt hại người, rượu chè be bét, tà dâm v.v…Đó là 5 giới cơ bản của Phật giáo. Hành giả cũng có quyền lựa chọn ăn chay hay không ăn chay. Ăn chay để tránh hại mạng của sinh vật. Ăn mặn, thí dụ ăn tôm tép, thịt cá, cua ghẹ… là vay nợ mạng sống của chúng sinh khác, nhưng nếu không sợ, sẵn sàng trả nợ, thì cứ ăn. Các giới khác cũng vậy, mọi hành vi đều bị chi phối bởi luật nhân quả, nếu không sợ nợ vay thì cứ vay. Nhưng cần phải hiểu rõ, lúc nghiệp tới thì phải chấp nhận, không thể mở miệng kêu trời, kêu khổ. Những trường hợp thương tâm xảy ra hàng ngày trong xã hội, nên hiểu rằng đó là lúc nghiệp tới, không phải ngẫu nhiên trời giáng họa. Hành giả cũng không cần phải lấy mũ ni che tai hay phải nhắm mắt để khỏi nghe thấy những điều trái tai gai mắt trong đời sống xã hội. Chỉ cần hiểu rằng tất cả mọi cảnh giới đều vô thường, dù là thuận duyên phước báo hay nghịch duyên ác báo. Các cảnh đó đều là ảo hóa, tâm không cần phải quá hoan hỉ hay bi ai. Gặp nghịch cảnh không cần phải quá buồn rầu đau khổ. Gặp thuận cảnh cũng không nên quá vui mừng kiêu hãnh. Bởi vì các cảnh giới đều là vô thường và chỉ là ảo hóa. Hành giả cư sĩ hàng ngày vẫn có thể xem tivi, xem video trên mạng, thưởng thức ca nhạc, xem phim thời sự, phim tài liệu, phim truyện v.v…tức là vẫn nắm được mọi thông tin, mọi tình hình trong nước và thế giới, nhưng với tâm thái thoáng, nghĩa là không bị tác động tuyên truyền hay ảnh hưởng của những thông tin đó. Tại sao không bị ảnh hưởng ? Bởi vì tâm thái cởi mở, thoáng nên không bị vướng mắc, không phát sinh ý nghĩ ưa ghét, tôn sùng hay thù hận. Hành giả không phát sinh ý nghĩ thù ghét Kim Jong Un vì cho rằng ông ta đe dọa an ninh của các nước chung quanh và cho cả thế giới. Ông ta quyết tâm phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa là nhằm mục đích tự vệ chống Mỹ bởi vì thấy tấm gương Mỹ đã lật đổ Saddam Hussein của Iraq, đã lật đổ Gaddafi của Lybia, và muốn lật đổ Assad của Syria nhưng bất thành. Nhưng ông ta cũng không dại gì dùng vũ khí hạt nhân để tấn công các nước khác, bởi vì sẽ bị phản công hạt nhân từ nước Mỹ khiến Triều Tiên bị xóa sổ. Hành giả cũng không thù hận bọn IS dù cho chúng tàn bạo vô lương tâm, đi đánh bom hoặc dùng xe tải cán chết người dân của các thành phố nhiều nơi trên thế giới, nhất là Châu Âu. Bởi vì bọn chúng là nhân họa, nhân họa thì cũng chẳng khác gì thiên tai, đó là do cộng nghiệp của nhân loại. Những chuyện xảy ra trên thế giới là một chuổi nhân quả do mê muội lầm lạc chứ chẳng phải là ngẫu nhiên. Và tất cả mọi điều diễn ra trên thế giới giống như một vở kịch lớn. Thế giới là một đại hí trường, mọi người đều là diễn viên của vở đại hí kịch, có người đóng vai chính diện, tích cực chuyên làm việc thiện, cũng có người đóng vai phản diện, tiêu cực, chuyên làm việc xấu ác.Hành giả vẫn sống cuộc sống gia đình bình thường, làm tròn nghĩa vụ của vợ, chồng, cha mẹ, con cái. Hang ngày vẫn làm việc kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình. Nghĩa là vẫn có thể tiến hành mọi việc một  cách bình thường nhưng với tâm thái thoải mái nhẹ nhàng, không phải nặng trĩu lo âu về bất cứ vấn đề gì vì giác ngộ tánh không của vũ trụ vạn vật, thấu triệt tam pháp ấn của Phật giáo : vô thường là bản chất ảo hóa của thế giới. Vô thường tất nhiên sẽ dẫn đến khổ. Nhưng khổ cũng không có thật, và phương thuốc để trị khổ là giác ngộ tính vô ngã, không có thật của vạn hữu. Tóm lại khổ là một chứng bệnh giả, và Phật pháp là phương thuốc giả để trị chứng bệnh giả ấy. Tóm lại không có cái gì là thật, là chân lý cả. Xin hãy nghe thầy Duy Lực thuyết.

0565 Phật pháp là thuốc giả để trị bệnh giả. Ngài Nguyệt Khê nói Tư tưởng tức là Tang vật

Mặc dù hoạt động của bộ não là vọng tưởng tạo ra sự ảo hóa chẳng có gì chân thật, nhưng trong cảnh thế gian tương đối, bộ não người là một công dụng rất lớn của tâm, nó có thể tạo ra thiên đường, địa ngục, khoa học, nghệ thuật, văn hóa, cảnh đẹp, người đẹp. Vậy hành giả nên có thái độ thế nào ?

Khoa học của bộ não tuy bị hạn chế không thể giải quyết được vấn đề sinh tử luân hồi, vấn đề giác ngộ, nhưng nó có năng lực lớn để giúp cuộc sống của con người trên thế gian thoải mái hơn. Chẳng hạn công việc giặt quần áo cho cả gia đình là nặng nhọc, nay khoa học chế tạo ra máy giặt giúp cho việc này được giảm nhẹ rất nhiều. Thân nhân trong một gia đình hiện nay có thể ở tứ tán khắp nơi trên thế giới, nếu không có thân nhân bạn bè ở nước ngoài thì cũng có thân hữu ở nơi xa trong nước. Trước đây vài chục năm, sự liên lạc rất khó khăn khi phải dùng thư giấy gởi qua bưu điện. Nay đã có điện thoại và smartphone, rõ ràng đem lại sự thuận tiện rất lớn cho mọi người. Chúng ta có thể gởi tin nhắn, thư, hình ảnh, video, siêu văn bản (hypertext) rất tiện lợi và ít tốn tiền. Smartphone ứng dụng được mệnh đề “Ưng vô sở trụ” trong Kinh Kim Cang, bởi vì dù chúng ta ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể liên lạc với thân nhân, bạn bè trên khắp thế giới miễn là kết nối được internet qua các ứng dụng Email, Facebook, Messenger và OTT (Over The Top) như Zalo, Viber, Whatsapp, …Ví dụ nếu có thân nhân đi du lịch ở Sicily, chúng ta ở nhà vẫn có thể thấy toàn cảnh của thành phố Palermo trên đảo Sicilia của Italy qua tin nhắn ảnh.

Nhờ có khoa học chúng ta được hưởng những tiện nghi vật chất như điện, nước, gaz dẫn đến tận nhà, thông tin liên lạc với bất cứ nơi đâu có internet trên thế giới. Khi cần đi đâu thì có xe máy, xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu thủy v.v…thật là tiện lợi. Dù muốn dù không thì chúng ta cũng đã thừa hưởng những tiện nghi do khoa học đem lại. Chúng ta không cần phải phủ nhận hay chối bỏ những tiện nghi đó. Chỉ cần hiểu khả năng của khoa học là có hạn, nó không thể giúp con người giác ngộ, nhận ra bản lai diện mục và thoát khỏi luân hồi sinh tử. Muốn làm được điều đó thì phải tu tập công phu, kết nối được với bản tâm của mình.

Bộ não tuy mê muội, lầm lẫn nhưng nó có khả năng sáng tạo rất lớn bởi vì nó là một ứng dụng tuyệt vời của bản tâm. Những sáng tạo của nó về mặt văn hóa nghệ thuật cũng đem lại một sự giải trí thư giãn phong phú cho đời sống con người sau một ngày lao động vất vả kiếm sống. Sáng tạo về mặt triết học tư tưởng, điển hình là Phật giáo, cung cấp một nhãn quan phi thường về thế giới quan, hướng dẫn con người giác ngộ, thoát khổ. Sáng tạo về mặt âm nhạc đem lại những phút giây giải trí sâu lắng, nhàn tĩnh. Chẳng hạn những bài hát sau đây mang hương vị giải thoát :

117/ Bài Ca Tánh Không – Huệ Phổ Pháp Sư – Việt dịch

Hoặc bài hát phổ nhạc bài kinh tụng hàng ngày của giới tu sĩ Phật giáo.

146/ Bát Nhã Tâm Kinh- VD- Tôn Lộ

Trong kinh điển Phật giáo cũng có đề cập tới mỹ nhân, ví dụ Ma Đăng Già và Liên Hoa Sắc. Mỹ nhân hay mỹ cảnh cũng đều là sáng tạo của Tâm. Chẳng hạn :

Truyện Ma Đăng Già Nữ

Ma Đăng Già Nữ摩登遮女(Matàngi) là một dâm nữ quyến rũ ngài A Nan Đà. A Nan sau khi thoát nạn, kể lại cho Phật nghe : “Hôm qua, lúc con đi khất thực, thấy bên bờ sông có một thiếu nữ đang gánh nước, con mới theo cô ta xin nước. Uống nước xong, sau đó, con lại về đến chỗ Phật. Đến sáng nay thì có một người nữ muốn thỉnh con về nhà để dùng cơm. Nhưng đến khi sắp ra về, bà mẹ và cô con gái bắt con ở lại bà mẹ muốn đem con gái của mình để gả cho con. Con nói: “Tôi giữ giới của Phật không thể lấy vợ”. Ma Đăng Già nữ dùng 《Sa-tì-cà-la Tiên Phạm Thiên chú》mê hoặc A Nan, đưa vào buồng riêng, dựa kề vuốt ve, làm cho ông suýt phá giới, sắp vầy cuộc ái ân thì Phật đã kịp thời sai Văn Thù cầm Phật Đảnh thần chú đến giải cứu.

Sáng hôm sau, Ma Đăng Già đi đến tịnh xá đòi Phật phải trả A Nan lại cho nàng. Nhưng may quá, dọc đường nàng thấy A Nan đang đi khất thực. Ma Đăng Già bèn lẻo đẻo theo sau. Thế là nàng nhìn xuống chân, rồi nhìn lên mặt A Nan. Tôn giả A Nan mắc cỡ lảng tránh đi, nhưng nàng Ma Đăng lại đi theo mãi không thôi. Cuối cùng, A Nan trở về được chỗ Phật ngự. Ma Đăng lại đón giữ ngay cửa, vì chờ lâu quá không thấy A Nan ra nên nàng khóc và cuối cùng đành bỏ về. Phật biết Ma Đăng Già có duyên được độ nên cho gọi nàng đến. Phật bảo nàng hãy cắt hết tóc thì sẽ cho phép A Nan lấy nàng. Bà mẹ không muốn cắt tóc con gái nhưng nàng quyết tâm xuống tóc, bà mẹ đành gạt nước mắt làm theo thỉnh cầu. Xuống tóc xong nàng trở lại chỗ Phật.

Phật nói: “Ngươi nói yêu A Nan, vậy ngươi yêu ở chỗ nào?”.

Nàng nói: “Con yêu đôi mắt A Nan, yêu lỗ mũi A Nan, yêu miệng A Nan, yêu tai A Nan, yêu giọng nói A Nan và yêu từng bước đi của A Nan”.

Phật nói: “Trong mắt A Nan chỉ có nước mắt, mũi A Nan chỉ có nước mũi, trong miệng A Nan chỉ có nước miếng, trong tai A Nan chỉ có cáu bẩn, còn trong thân thì chỉ có máu me, phân và nước tiểu, toàn là những thứ bất tịnh, hôi thối. Cho dù có được làm chồng vợ của nhau đi nữa thì chỉ có phơi bày sự xấu xa, bất tịnh. Trong sự phơi bày xấu xa ấy, con cái được sinh ra. Khi đã có con rồi thì có sự chết, đã có chết thì liền có sự khóc lóc. Thế thì thân nầy có ích gì đâu?!”.

Ma Đăng Già nghe Phật nói xong, liền tự ngẫm nghĩ về sự ô uế của thân thể, nàng tự mình giữ tâm chân chánh. Sau đó chứng được quả A La Hán. Phật biết nàng đã chứng quả A La Hán, liền bảo: “Thôi! Ngươi hãy đến chỗ A Nan đi!”.

Cô cảm thấy e thẹn, gục đầu xuống, quỳ trước Phật và bạch rằng: “Con trước đây thật ngu si nên đeo đuổi theo A Nan. Hôm nay, tâm con đã được khai ngộ, giống như trong chốn tối tăm có đèn sáng, như người đi thuyền gặp lúc thuyền đắm  được nương tựa vào bờ, như người mù được sự dìu dắt, như người già được gậy. Hôm nay, Đức Phật nói đạo lý vô thượng, khiến cho tâm con được tỏ ngộ”. Về sau nàng gia nhập hàng ngũ tăng già làm tỳ kheo ni, trong đoàn thể ni giới do bà Mahā Pajāpatī Gotamī (Ma-ha ba-xà ba-đề Kiều-đàm-di) làm Ni trưởng.

Các tỳ kheo hỏi Phật: “Mẹ của người nữ đó theo con đường xấu ác, vì duyên cớ gì mà cô ta được quả A La Hán?”.

Phật hỏi lại: “Này các tỳ kheo, các ông muốn hiểu biết thêm về người nữ đó không?”. Các thầy tỳ kheo bạch: “Chúng con xin vâng”.

Phật nói: “Nàng Ma Đăng Già này 500 đời trước đã từng làm vợ A Nan. Vì trong 500 đời ấy, họ từng kính mến, tôn trọng, say đắm và yêu thương nhau. Thế nên hôm nay, hai người vừa gặp nhau thì giống như đã quen biết mến mộ nhau từ lâu rồi”. Vì họ đã từng tu tập nhiều đời trong giáo pháp của ta nên hôm nay được chứng quả.

Truyện Liên Hoa Sắc

Liên Hoa Sắc 蓮華色 (Utpalavarṇā) là một tuyệt thế giai nhân mà cuộc đời chìm đắm trong nỗi truân chuyên vô cùng éo le. Nàng là con gái yêu của một vị trưởng giả thành Taxila, sống cùng thời với Đức Phật Thích Ca. Dĩ nhiên nàng được ăn học tử tế như bao cô gái khuê các khác, rồi đến năm mười sáu tuổi thì được cha gả cho một anh chàng đẹp trai cân xứng, môn đăng hộ đối, chẳng bao lâu nàng có bầu. Cuộc đời như nở hoa ấy bỗng đất bằng dậy sóng. Do Ấn Độ có tập tục, phụ nữ phải về nhà mẹ ruột sinh con, chồng của Liên Hoa Sắc liền đưa nàng về nhà mẹ ruột chờ sinh. Trong thời gian nàng sinh con, người chồng không tránh khỏi cảm giác trống vắng, thiếu thốn nên tư thông với mẹ của nàng. Liên Hoa Sắc phát hiện, đau đớn vô cùng, nhưng vì đứa con, nên đành nhẫn nhục sống qua ngày, đến khi đứa con được 8 tuổi, nàng mới lặng lẽ bỏ đi. Nàng Liên Hoa Sắc được thừa hưởng nhiều gen di truyền của mẹ nàng, vừa đẹp lại vừa dâm nên đã tạo thêm ra rất nhiều nghiệp chướng. Nàng lang thang đến thành Ba La Nại kiếm sống qua ngày. Thời gian sau nàng gặp được một ông trưởng giả giàu sang, yêu thương và cưới nàng làm vợ chánh thất. Họ sống rất hạnh phúc trong khoảng mười năm, rồi nghiệp quả lại giáng xuống đầu nàng một lần nữa khi chồng nàng, sau thời gian dài đi buôn bán phương xa, đã mang về một người tỳ thiếp trẻ mà ông đã bỏ ra rất nhiều tiền để mua. Nàng cũng rất rộng lượng sẵn sàng đón nhận người vợ lẽ của chồng, nhưng oan nghiệt thay ngay lần đầu gặp mặt nàng đã nhận ra cô gái trẻ chính là đứa con gái bị bỏ rơi của nàng.  Nàng Liên Hoa Sắc trong cơn tuyệt vọng, rời bỏ vị trưởng giả bắt đầu sống cuộc sống phóng túng, buông thả, chỉ cần chàng trai nào bỏ ra 500 đồng vàng, đều có thể qua đêm với  nàng. Không lâu sau, nàng Liên Hoa Sắc được ngài Mục Kiền Liên hóa độ, trở nên tỉnh ngộ. Lúc ấy, nàng nghe nói Đức Phật đang tuyên thuyết pháp giải thoát trên núi Linh Thứu, tâm khởi lên lòng cầu pháp. Nàng liền tới núi Linh Thứu tìm Phật. Đi đến giữa đường, cảm thấy khát nước, nàng xuống một con suối, uống nước rửa tay. Bấy giờ, nàng soi thấy hình bóng diễm lệ của mình trong nước, liền sinh khởi tâm ái niệm: “Ta vì sao lại phải xả bỏ khuôn mặt đẹp đẽ này mà xuất gia làm Sa môn?” Nàng do dự muốn quay về. Phật dùng thiên nhãn quán biết Liên Hoa Sắc cần phải được hóa độ, bèn hóa thành một vị phu nhân đẹp tuyệt trần, đẹp hơn cả Liên Hoa Sắc, bước đến bên cạnh nàng. Liên Hoa Sắc chợt thấy người phụ nữ đó, tưởng là người trời, hai người làm bạn chuyện trò vui vẻ. Đi một đoạn đường, cả hai đều hơi mệt, bèn ngồi nghỉ ngơi bên suối, người phụ nữ ngủ thiếp gối đầu lên đùi của Liên Hoa Sắc. Bỗng nhiên, người phụ nữ dường như ngừng thở, chẳng bao lâu thi thể sình lên hôi thối, giòi bọ bò lổm ngổm, răng rời ra từng cái, tóc tơi tả bay rụng, da thịt trên thân thể tan rã, hình dạng hết sức ghê tởm đáng sợ. Khi đó Liên Hoa Sắc vô cùng kinh ngạc, nghĩ thầm: “Làm sao một người đang khỏe mạnh, bỗng nhiên lại lăn ra chết vậy? Mà sao một người đẹp tuyệt trần, sau khi chết rồi lại trở nên ghê tởm đến vậy, rồi mình tương lai cũng thế mà thôi” Dứt niệm, nàng vội vã quay lại, hướng lên núi Linh Thứu, quyết ý cầu pháp với Đức Phật. Sau đó nàng tu hành chứng được thánh quả A La Hán.

Kết luận

Các câu chuyện này biểu trưng cho thái độ của Phật giáo đối với mỹ nhân. Đó là vô thường luôn đe dọa, thân thể là bất tịnh. Bà mẹ của Tất Đạt Đa cũng là mỹ nhân, vợ vua Tịnh Phạn, Bà là hoàng hậu Ma Da摩耶 (Mayadevi) lúc gần ngày sinh, đi về quê mẹ để chuẩn bị sinh con theo truyền thống, dọc đường đến vườn Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) thì hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa. Bảy ngày sau khi hạ sinh thì bà qua đời. Nếu không chết bất đắc kỳ tử như Bà Ma Da, thì cũng gặp chuyện éo le oan trái như nàng Liên Hoa Sắc. Hoặc nhận thức cơ thể ô uế bất tịnh chẳng có gì là đẹp như hai câu chuyện liên quan đến hai mỹ nhân nói trên. Điều đó gần giống như thuyết hồng nhan bạc mệnh của bên Á Đông mà Nguyễn Du từng mô tả trong Truyện Kiều :

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Trời ganh với vẻ đẹp của hồng nhan, hay nói cho chính xác hơn, trời đã cho phụ nữ vẻ đẹp yêu kiều thì cũng đồng thời cho họ một số mệnh bất hạnh như nàng Liên Hoa Sắc để cho cân bằng.

Song đó chỉ là một cách diễn đạt để khuyến khích người ta tu hành giải thoát. Chứ chính trong Phật giáo cũng nói rất rõ rằng phàm là lời nói đều không có nghĩa thật. Thiện ác, tốt xấu, bền vững hay mau biến đổi đều chỉ là vọng tưởng của con người, không có gì là thật cả. Kinh Kim Cang nói : Nhược nhân ngôn Như Lai hữu sở thuyết pháp tức vi báng Phật, bất năng giải ngã sở thuyết cố 若人言如來有所說法,即為謗佛,不能解我所說故 (Nếu có ai nói Như Lai có pháp để thuyết là phỉ báng Phật, không hiểu vì sao ta thuyết).  

Trong cuộc sống nhân sinh thực tế thì người ta luôn có khuynh hướng về chân thiện mỹ. Mỹ nhân là một người đẹp mà bất cứ xã hội nào cũng trọng vọng. Mỹ nhân theo quan niệm xưa cũng không nhất thiết là phụ nữ, mà có thể là nam nhân có tư cách đẹp, cao thượng hoặc là bậc tôn quý. Ví dụ bài Sở từ trích trong Cửu Ca của Khuất Nguyên mà Tô Thức đã trích lại trong bài Tiền Xích Bích Phú của mình :

桂棹兮蘭槳          Quế trạo hề lan tương                Chèo quế hề dầm lan

擊空明兮泝流光 Kích không minh hề tố lưu quang Bơi trong vắng lặng hề ngược ánh trăng

渺渺兮予懷          Miểu miểu hề dư hoài                  Man mác hề lòng ta nhung nhớ

望美人兮天一方  Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương  Ngóng mỹ nhân hề một phương trời

Khuất Nguyên làm bài từ này khi ông bị Sở Tương Vương đày xuống Giang Nam, vùng sông Tương, sông Mịch La. Mỹ nhân mà ông hướng về, trông đợi, là Sở Hoài Vương đã đi xa rồi, đã khuất núi rồi.

Chân trong cõi thế gian tương đối là những quy luật quy tắc chi phối sự vận động của vật chất và ý thức. Ví dụ các nguyên lý cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật như : nguyên lý nhân quả, nguyên lý nhân duyên hay duyên khởi, nguyên lý bất định, nguyên lý bất toàn, nguyên lý thay thế. Rồi đến các định luật vật lý, các quy tắc về thiện ác, đạo đức, về ứng xử trong xã hội v.v…

Thiện là việc tốt lành, chân chính, tử tế, đem lại sự an vui cho mọi người. Ví dụ như từ bi, bố thí, từ thiện, công bằng, vô tư, không vụ lợi. Thiện cũng là những việc ích nước, lợi dân, quan lại thanh liêm, mình vì mọi người, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no cho dân chúng.

Mỹ là cái đẹp, vẻ đẹp của phong cảnh thiên nhiên, vẻ đẹp của hình thể con người, vẻ đẹp của văn minh như đô thị, đường sá, cầu kiều, phi trường, bến cảng, sản phẩm vật chất do con người sản xuất ra, hay sản phẩm văn hóa tinh thần phi vật thể do con người làm ra.

Tất cả những việc chân thiện mỹ nói trên, hành giả tu hành theo Phật pháp đều có thể ai theo nghiệp nấy, không có cái gì phải bỏ cả, nhưng cũng không cố chấp, chỉ tùy duyên thôi. Tóm lại, Phật pháp bất ly thế gian pháp, hành giả chỉ cần giác ngộ thay đổi tâm thái để tự mình làm chủ cuộc đời mình, làm chủ hoàn cảnh, làm chủ thế giới, làm chủ vũ trụ vạn vật, không phải bằng cách dựa vào cái ngã của mình, chiếm đoạt xâm phạm những cái không phải của mình. Vậy cái gì là của mình ? Đó là bản tâm, bản lai diện mục sẵn có trước khi cha mẹ chưa sinh ra, chỉ cần nhận ra và thể nhập. Khi ta dùng lời nói diễn tả thì đã không đúng vì đã chia ra có năng sở (chủ thể và đối tượng). Với các bậc kiến tánh giác ngộ thì  bản tâm là chánh biến tri, tự biết chứ không còn năng sở.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 62 phản hồi