Bảng tổng hợp mp3 giải đáp của Thầy Duy Lực và Mục lục

Bảng Tổng hợp các danh mục Audio mp3 Giải đáp của Thầy Duy Lực

Bảng Tổng hợp 2, Danh mục liệt kê các công bố của Duy Lực Thiền (tiếp)

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới

Thông Báo 28-02-2014  (thông báo này chỉ còn là dấu tích lịch sử, không còn khả dụng)

Do Microsoft đã có nhiều thay đổi về cách sử dụng Skydrive (nơi chứa các files âm thanh thuyết pháp của thầy Duy Lực) mà nay đã đổi tên thành OneDrive, nên muốn download các files âm thanh đó, không thể bấm trực tiếp vào các files cụ thể liệt kê trên trang Duy Lực Thiền, quý vị chỉ cần nhớ số thứ tự của file muốn download, hãy bấm vào hàng chữ : Mở thư mục âm thanh … …

Nó sẽ mở ổ đĩa OneDrive trên mạng theo số thư mục có ghi trên hàng chữ nói trên. Xin nhớ một điều, mỗi thư mục chứa tới 100 files trong khi mỗi bảng liệt kê trên Duy Lực Thiền chỉ kê 50 files. Do đó cần thiết phải nhớ số thứ tự thì mới dễ tìm. Bảng kê trên trang Duy Lực Thiền chỉ còn tác dụng nêu đại ý của file âm thanh với chữ có dấu nên dễ đọc. Còn bảng liệt kê trên OneDrive là tên file, chữ không có dấu nên khó đọc hơn. Nhớ số thứ tự thì dễ dàng tìm đúng file mình muốn download. Bấm vào tên file để download.

Quý vị có thể dùng computer, laptop, máy tính bảng hay smartphone đều có thể download được. Tốt nhất là dùng smartphone, vì nó là một phương tiện gần gũi nhất với mỗi người và rất tiện lợi để nghe bất cứ lúc nào rảnh rỗi. Tuy là files âm thanh nhưng một số files có hình của các nhân vật được đề cập, quý vị có thể thấy được hình khi nghe bằng máy nghe nhạc trên điện thoại.

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới.

Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Duy Lực dịch và trứ tác

01 Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải

02 Bá Trượng Ngữ Lục

03 Bá Trượng Quảng Lục

Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục – Hoài Hải Thiền Sư mp3

04 Bửu Tạng Luận – Tăng Triệu

Bửu Tạng Luận mp3

05 Cội nguồn truyền thừa và Phương pháp tu trì của Thiền tông

Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì Thiền Tông mp3

06 Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma

Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma mp3

07 Đại Huệ Ngữ Lục

Đại Huệ Ngữ Lục mp3

08 Đại Thừa Tuyệt Đối Luận – Nguyệt Khê Thiền sư

Đại Thừa Tuyệt Đối Luận mp3

09 Danh từ Thiền Học – Ngữ vựng Phật Học

10 Đường lối thực hành Tham Tổ Sư Thiền- Duy Lực

Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền mp3

11 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 2 mp3

12 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 2 mp3

13 Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết mp3

14 Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền

Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền mp3

15 Truyền Tâm Pháp Yếu – Hoàng Bá Hy Vận

Truyền Tâm Pháp Yếu- Hoàng Bá Hy Vận mp3

16 Kinh Kim Cang

Chư Kinh Tập Yếu : Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh mp3

17 Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già mp3

18 Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Kinh Thủ Lăng Nghiêm mp3

19 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Yếu chỉ

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

20 Kinh Viên Giác 

Kinh Viên Giác mp3

21 Lâm Tế Ngữ Lục 

Đường Lối Thực Hành Tổ Sư Thiền- Lâm Tế Ngữ Lục 1,2,3 mp3

22 Nam Tuyền Ngữ Lục

Nam Tuyền Phổ Nguyện Ngữ Lục mp3

23 Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng

Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng mp3

24 Phật Pháp với Thiền Tông – Duy Lực

Phật Pháp với Thiền Tông- Thiền Sư Đại Huệ mp3

25 Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp

Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp mp3

26 Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa thượng

Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa Thượng mp3

27 Tham Thiền Phổ Thuyết- Lai Quả Thiền Sư

Tham Thiền Phổ Thuyết – Thiền Sư Lai Quả mp3

28 Thiền Thất Khai Thị Lục – Lai Quả Thiền Sư

Thiền Thất Khai Thị Lục- Thiền Sư Lai Quả mp3

29 Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải- Trung Phong Hòa Thượng

30 Triệu Luận Lược Giải – Tác giả Tăng Triệu, Lược giải Hám Sơn

Triệu Luận Lược Giải – Tăng Triệu -Hám Sơn Chú Giải mp3

31 Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 – Duy Lực

Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 mp3

32 Yếu chỉ Kinh Hoa Nghiêm

33 Yếu chỉ Phật pháp – Duy Lực

34 Yếu chỉ Trung Quán Luận – Long Thọ Bồ Tát

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

Danh Sách Bài Viết chính của Blog Duy Lực Thiền

1 TÁNH KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO

2 TẠI SAO TÂM LÀ KHÔNG LẠI CÓ VÔ SỐ CÔNG DỤNG ?

3 Phật giáo hiểu biết gì về thế giới ?

4 Thiền và Sức khỏe

5 THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN PHẬT GIÁO

6 Sự Thật là gì ?

7 Liễu nghĩa của “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

8 ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI ?

9 Lời mở đầu

10 THỜI-KHÔNG LÀ GÌ ?

11 Thế giới ta đang sống là ứng dụng của Tâm bất nhị

12 LỰC HỌC THÍCH CA ĐỐI CHIẾU VỚI CƠ HỌC NEWTON VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI CỦA EINSTEIN

13 ĐẶC ĐIỂM CỦA BLOG DUY LỰC THIỀN

14 Cốt tủy của Phật pháp

15 Khi Vật lý gõ cửa Bản thể học

16 Lục căn, lục trần, lục thức = 18 giới

17 Thế lưu bố tưởng và các hiện tượng lạ thường

18 Tông chỉ chung của Đạo Phật là phá chấp

19 TẬP QUÁN (THÓI QUEN) CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ĐỐI VỚI VŨ TRỤ VẠN VẬT ?

20 Hướng dẫn tìm kiếm

21 AI LÀ NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI ?

21 Bis PHẬT PHÁP LÀ KHOA HỌC TÂM LINH CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO  NHÂN LOẠI

22 CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN TOÀN DỰA VÀO KHOA HỌC CHĂNG ?

23 NIẾT BÀN VÀ CHÁNH BIẾN TRI

24 CON NGƯỜI CÓ THỂ DU HÀNH TRONG THỜI GIAN CHĂNG ?

25 Từ David Bohm đến Kinh Lăng Nghiêm

26 TỨ PHÁP GIỚI CỦA KINH HOA NGHIÊM

27 Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

28 KHẮP KHÔNG GIAN, KHẮP THỜI GIAN VÀ VÔ SỐ LƯỢNG CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

29 NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

30 TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA CÁC PHÁP

31 Thiền sư và Nhà khoa học

32 PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG

33 ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO HẠNH PHÚC NHÂN LOẠI

34 PHẬT PHÁP VÀ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

35 VẠN PHÁP DUY THỨC CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

36 Ý NGHĨA RÕ RÀNG CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

37 SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

38 SỰ KẾT THÚC CỦA VẬT LÝ HỌC

39 SỰ KẾT THÚC CỦA SINH VẬT TIẾN HÓA LUẬN

40 SỰ BẮT ĐẦU CỦA KHOA HỌC TÂM LINH

41 THẦN THÔNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

42 CHỐT LẠI CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC

43 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN

44 NHỮNG KHÁI NIỆM ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

45 THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO

46 MỘNG VÀ THỰC KHÔNG DỄ PHÂN BIỆT

47 “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM” LÀ NGHĨA THẾ NÀO ?

48 Tìm hiểu về Tịnh Độ Tông

49 TU HÀNH THEO PHẬT PHÁP LÀ THẾ NÀO ?

50 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ KHÔNG GIAN CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG, KHÔNG PHẢI THẬT ?

51 THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ

52 Amit Goswami- Vật Lý Lượng Tử Nói Gì Về Bản Chất Của Thực Tại?

53 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ SỐ LƯỢNG VẬT CHẤT LÀ ẢO KHÔNG PHẢI THẬT ?

54 CÁC THÁNH TÍCH PHẬT GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

55 CÁC DẠNG THỨC THÔNG TIN

56 TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

57 PHẬT PHÁP VÀ THÁM HIỂM KHÔNG GIAN

58 SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VẬT LÝ VÀ TÂM LÝ

59 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ THỜI GIAN CHỈ LÀ ẢO ?

60 THÔNG ĐIỆP CỦA PHẬT GIÁO

61 VẬT CHẤT, NĂNG LƯỢNG CŨNG LÀ THÔNG TIN

62 NGŨ THỪA PHẬT GIÁO và TRƯỜNG A-LẠI-DA THỨC

63 BÀN THÊM VỀ CHÁNH BIẾN TRI

64 TRI THỨC CỦA NHÂN LOẠI ĐÃ TIẾN TỚI ĐÂU ?

65 MIỀN TẦN SỐ A-LẠI-DA THỨC

66 AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

67 TÂM VÀ VẬT TRONG PHẬT PHÁP

68 DANH VÀ SẮC ĐỀU LÀ GIẢ DANH

69 Phật giảng giải cho Ca Diếp về Thế Lưu Bố Tưởng

70 THẾ GIỚI LÀ DO THÓI QUEN TÂM LÝ TẠO RA

71 THUYẾT KIÊN BẠCH ĐỒNG DỊ CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ?

72 TÂM VÀ THỜI ĐẠI LƯỢNG TỬ

73  ẢO VÀ THẬT

74 NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

75 TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

76 ĐỐI CHIẾU VẬT LÝ VŨ TRỤ VÀ PHẬT PHÁP

77 CÁI TA THẬT RA LÀ CÁI GÌ ?

78 PHẬT GIÁO CÓ THỂ HƯỚNG DẪN GÌ CHO KHOA HỌC VÀ NHÂN LOẠI ?

Danh Sách Bài Viết phụ (Nhà sau) của Blog Duy Lực Thiền

1 Cầu bất đắc khổ

2 Giới thiệu chuyên mục Nhà sau

3 Nữ nhân thị lão hổ

4 Sống khổ : Thiên tai, Sóng thần Nhật Bản

5 Đăng Biện Giác Tự Thơ Vương Duy

6 Sống khổ : “Tôi không thể chịu đựng nổi cuộc sống” – Dalida

7 OÁN TẮNG HỘI KHỔ : ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA (DEVADATTA)

8 ÁI BIỆT LY KHỔ : HÒN VỌNG PHU VÀ MẠNH KHƯƠNG NỮ

9 Mối “vạn cổ sầu” của các nhà thơ

10 ĐÓN XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA

11 Chuyến viếng thăm chùa Cao Mân, Trung Quốc của Thầy Duy Lực

12 VĂN HÓA MÍNH ĐÀM

13 CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG VÀ THẾ GIỚI ẢO

14 CUỘC ĐỜI LÀ ẢO MỘNG

15 NGÔI LÀNG BÌNH YÊN

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

17 HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

18 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY QUẢ VỆ TINH BỊ CHÌM DƯỚI ĐÁY SÔNG

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

20 HẦU HI QUÝ – ĐẦU BỊ CHÉM ĐỨT NGƯỜI VẪN SỐNG- SÚNG BẮN KHÔNG BỊ THƯƠNG- THẤU THỊ

21 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY CON BÒ BỊ CHÌM DƯỚI LỚP BĂNG DÀY

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

23 LIÊU VĂN VĨ – NHẬN THỨC VỀ NHÂN THỂ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

24 Trương Bảo Thắng – Cảnh cáo nữ ảo thuật gia nước ngoài và nhà xã hội học bảo thủ

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

26 TRƯƠNG BẢO THẮNG- Thời thơ ấu gian khổ – Kết cục thành đạt

27 Trương Bảo Thắng trong trận động đất Đường Sơn khủng khiếp

28 Trương Bảo Thắng bị cha nuôi bỏ rơi, người đời bắt đầu phát hiện siêu nhân

29 Trương Bảo Thắng – Lần đầu được tiến dẫn về tỉnh Liêu Ninh, chưa được trọng thị

30 Hầu Hi Quý – Trị bệnh thần tốc, hô phong hoán vũ, nhận ra và đọc đúng âm của những chữ ông chưa từng học

31 Trương Bảo Thắng – Đản sinh kỳ lạ, tuổi thơ bất hạnh

32 CÁ NHÂN TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

33 Trương Bảo Thắng – Đi về nam, đến Quảng Châu, Thâm Quyến

34 Trương Bảo Thắng- Tranh cãi với cảnh sát và cảnh vệ

35 Trương Bảo Thắng- Tha tâm thông và dùng ý niệm di chuyển vật thể

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

37 CÁI NHÌN TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH

38 Hầu Hi Quý- những chuyện thần kỳ xảy ra năm 1979, sau “cách mạng văn hóa”

39 LIÊU VĂN VĨ- LỜI BẠT (SÁCH VỀ HẦU HI QUÝ)

40 Lời tác giả- Lời tựa- Lời bạt của sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng

41 Trương Bảo Thắng- Trị bệnh cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh

42 CÓ PHẢI ZÉNON (ZENO) NGỤY BIỆN KHÔNG ?

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

44 Hầu Hi Quý – Gặp gỡ những người nổi tiếng của Hong Kong

45 Hầu Hi Quý- Biến ra đô la Mỹ, cảnh cáo cô tiếp viên nhà hàng Tây Uyển

46 Những nhà ngoại cảm, họ là ai ?

47 MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ 2014

48 DUY TÂM – LƯƠNG KHẢI SIÊU

49 VÔ THƯỜNG MÙA WORLD CUP

50 CHÍNH TRỊ, CÔNG NGHIỆP VÀ TIN HỌC

51 Thí nghiệm của Maria Chekhova về rối lượng tử (quantum entanglement)

52 HIỆU ỨNG TU HÀNH

53 VẤN ĐỀ CỦA NỀN GIÁO DỤC THẾ GIỚI

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

55 MỸ NHÂN VÀ CHUYỆN TU HÀNH

56 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN TƯƠNG ĐỐI

57 Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

58 NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

59 ĐỨNG TRƯỚC THẾ GIỚI

60 THẦN THÔNG THỜI HIỆN ĐẠI

Một số video clips về Khoa học hỗ trợ để hiểu Tánh Không

Vạn Pháp Duy Thức

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 1 – Phụ đề Việt ngữ

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 4 – Ứng dụng Toàn Ảnh – Vũ Trụ Ảo – Phụ đề Việt ngữ

Universe 5 – Bộ Não Người Là Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 6 – Bộ não người và cơ chế tạo ra thực tại ảo

Universe 7 – Mỗi Người Có Vũ Trụ của Riêng Mình – Phụ đề Việt ngữ

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Universe 9 – Chúng ta thấy thế giới không đúng như nó là – Phụ đề Việt ngữ

Universe 10 – Niềm Tin Trong Đời Sống – Phụ đề Việt ngữ

Universe 11 – Cảm Nhận, Niềm Tin Có Thể Làm Thay Đổi Gen – Phụ đề Việt ngữ 

Universe 12 – Tâm Mang Tiền Đến Cho Bạn – Phụ đề Việt ngữ

Universe 13 – Tiếng Ồn Toàn Ảnh – Chúng Ta Có Thể Làm Gì – Phụ đề Việt ngữ

Não phản ánh Tâm đã quyết định trước Ý thức 6 giây

Nguoi choi Tro Choi Nhan Loai co the lam gi ?

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 1 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 2 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 3 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp – Tổng Kết – Việt dịch

Vũ Trụ Song Song – Bồ Tát Vô Trước

Advertisement
Đăng tải tại Thầy Duy Lực giải đáp (Audio mp3) | 2 bình luận

Tuần ký Thứ bảy 12-11-2022

Tuần ký là ký sự ghi mỗi tuần một lần. Vậy tuần ký chủ yếu nói về việc gì ? Nói về những cuộc hẹn hò chiều thứ bảy với bạn gái. Tôi đã 70 tuổi, vậy mà hàng tuần còn hẹn hò gặp gỡ với bồ nhí chăng ? Đúng mà không đúng. Đúng là tôi có gặp gỡ bạn gái vong niên, nhưng cô ấy không phải bồ nhí. Danh xưng bồ nhí chỉ dùng cho những cô gái khoảng hăm mấy trở lại, còn cô bạn tôi đã ngoài 40 khó có thể gọi là bồ nhí, đó là độ tuổi trung niên đã hiểu biết rất nhiều về cuộc đời. Cho nên đây là mối quan hệ do hữu duyên, có chút gì đó hơi ngoại lệ, không thường xảy ra trong đời.

Điều ngoại lệ đó là gì ? Đó là tôi đã già, tóc bạc, răng rụng, lại không có nhiều tiền, mà cô ấy còn khá trẻ lại rất xinh đẹp. Vậy cái gì kết nối hai người lại với nhau ? Chỉ có thể giải thích là do hữu duyên thôi.  

Theo Phật giáo thì tâm sắp xếp mọi việc. Phật giáo nói : Nhất thiết duy tâm tạo. Như vậy tâm không phải chỉ là ý thức của một con người như thông thường mọi người hiểu. Mà tâm là nguồn gốc của Vũ trụ vạn vật. Vậy tâm tương ứng với Trời trong Nho giáo hay Thượng đế trong Thiên Chúa giáo.

Khi tôi rơi vào hoàn cảnh tuổi già phải sống cô đơn một mình, không có vợ và con cháu bên cạnh. Thế nên tâm sắp xếp cho tôi quen thân với một phụ nữ để cho cuộc sống đỡ buồn tẻ. Tâm còn chiếu cố cho tôi quen với một phụ nữ còn khá trẻ và xinh đẹp. Việc đó cũng hơi giống như Chúa đã tạo ra Eva để làm bạn với Adam.

Cô bạn gái vong niên và con gái

Thế nên theo thông lệ hàng tuần tôi có cuộc hẹn với cô bạn vào chiều Thứ bảy. Và vài ba tuần  tôi viết tuần ký một lần. Chiều thứ bảy hôm nay, sau khi ăn trưa xong lúc 12:47 tôi nhắn tin :

-Chiều nay 3 giờ anh xuống nhé em.

Nàng bấm like bằng dấu hiệu quả tim đỏ của Zalo chứng tỏ đã đọc và chấp nhận. Lúc 14:58 tôi đến quán cà phê kế bên tiệm làm tóc của nàng, thấy đã có xe máy của nàng nên nhắn tin :

-Anh tới rồi. Anh qua ngay hay gọi nước uống một tí qua ?

-Anh qua em đi. Em đang rảnh. Sợ tí có khách.

-OK anh qua liền.

Tôi nói với tiếp viên quán cho tôi gởi xe ở đây, một lát sẽ trở lại gọi nước sau. Và đi qua tiệm làm tóc. Chiều thứ bảy nhưng không có nhiều khách.

Hôm kia nàng bị trúng gió, nặng đầu, trên cổ vẫn còn những vết bầm do bắt gió. Hôm kia hai đứa con nàng cũng bị bệnh, phải đưa đi bệnh viện khám. Tôi hỏi thăm :

-Các con em đã khỏe chưa ?

-Con trai đỡ rồi hôm nay đã đi học lại. Con gái thì còn ho.

Hôm qua tôi có kể chuyện có hai vị khách từ Đà Lạt xuống Cần Thơ ghé nhà thắp nhang cho thầy Duy Lực và từ giã tôi để trở về Thụy Sĩ. Tôi cũng nói qua một chút về việc cha tôi lúc sinh tiền có đi thuyết pháp ở nhiều nước như Mỹ, Canada, Pháp, Úc, Đài Loan và Việt Nam. Sau khi thầy tịch đệ tử có thu thập những lời thầy thuyết giảng soạn thành bộ Duy Lực Ngữ Lục, bản tiếng Việt phát hành tại VN còn bản tiếng Hoa phát hành tại Đài Loan. Tôi cũng có gởi cho nàng xem hình bìa của hai bộ sách đó.

Hôm nay nàng nhắc lại và khen :  

-Cha anh giỏi thật. Anh cũng được thơm lây.

-Cám ơn em. Cha anh là ông thầy mà.

Nàng còn hỏi cha tên gì, pháp danh là gì. Tôi trả lời xong, nàng nói pháp danh trùng với tên của chồng nàng.    

Lúc chia tay nàng gởi cho tôi 2 bịch chè. Một là chè khoai cao, bịch kia là chè đậu trắng bột báng. Cả hai đều có nước cốt dừa. Nàng hỏi :

-Lúc nãy anh chưa uống nước phải không ? Vậy anh ghé quán uống nước rồi hãy về.

-OK anh có nói với họ là một lát sẽ trở lại uống nước, anh vẫn còn để xe ở đó mà.

Thế rồi tôi trở qua quán gọi một ly cà phê sữa đá, ngồi uống nước và đọc báo mạng khoảng nửa tiếng sau mới về nhà.

Chiều tối ăn cơm xong lúc 19:05 tôi nhắn tin :

-Chiều nay anh về nhà ăn cơm xong, hâm bịch chè khoai cao ăn tráng miệng còn bịch kia thì để sáng mai ăn. Chè ngon lắm em. Cảm ơn em nhiều lắm nha!  

-Dạ, anh ăn ngon là em vui rồi. Bây giờ em đi rước con gái em học Anh văn ở Nhà văn hóa thiếu nhi về nhà luôn.

-Em đi rước con rồi về nhà thuận lợi nha.

-Dạ phải chờ 30 phút nữa.

Và trong khi chờ đợi nàng nhắn tin kể chuyện về tình hình con học ở trường cho tới tận 20 giờ.

-Thôi em trễ rồi. Em đi rước con. Lo nói chuyện mà quên luôn.

Tôi cũng giục :

-Thôi em đi đón con đi. Con em chờ đó. Cám ơn em.

Những buổi chiều và tối Thứ bảy thường trôi qua êm đềm như vậy. Cô bạn vong niên này thực tế đã góp phần rất đáng kể giúp cho cuộc sống của tôi đỡ buồn tẻ hơn rất nhiều.  

Đăng tải tại Bài viết | 4 bình luận

THẦN THỨC LÀ GÌ ?

Trước hết chúng ta tìm hiểu kinh điển nói về thần thức như thế nào.

神識指意識,概述神識小無內。所以佛說:“一杯水裏有八千萬衆生。”神識大無外,所以佛說“大千世界”。神識是衆生的心和識。普遍認爲指八識(眼、耳、鼻、舌、身、意、末那、阿賴耶等識)。

Thần thức là chỉ về ý thức. Nói khái quát thần thức nhỏ thì không có gì nhỏ hơn. Vì vậy Phật nói “Trong ly nước có 80 triệu chúng sinh” thần thức lớn thì không có gì lớn hơn, vì vậy Phật nói “Đại thiên thế giới” Thần thức là tâm và thức của chúng sinh, phổ biến là chỉ 8 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não, mạt-na, a-lại-da).   

Đại thiên thế giới nói đủ là Tam thiên đại thiên thế giới tức là vũ trụ có 1000 lũy thừa 3 tức 1 tỷ thế giới. Ngày xưa một tỷ là nhiều vô lượng đến mức người ta không có danh từ để gọi nên mới tạm nói là Tam thiên đại thiên 三千大千 . Còn con số 80 triệu chúng sinh trong ly nước cũng chỉ là số ước chừng thôi.

Thần thức và linh hồn khác nhau thế nào ?

Theo pháp sư Tịnh Không thì khi mê gọi là linh hồn còn khi giác ngộ thì gọi là thần thức. Như vậy thì linh hồn và thần thức chỉ khác nhau về tên gọi chứ bản chất chỉ là một.

Đứng trên quan điểm vô phân biệt trí thì nói như vậy cũng không sai bởi vì tất cả chỉ là một.

Nhưng đứng trên quan điểm phân biệt của thức thì linh hồn và thần thức có sự khác nhau. Chúng ta cần nhớ rằng Tâm Trí là vô phân biệt còn Thức Mê là có phân biệt. Vậy thì sự phân biệt đó như thế nào ?

Khi chúng ta nói linh hồn thì luôn có hàm ý rằng đó là phần hồn của một chúng sinh. Một chúng sinh thì có bản ngã riêng biệt, có tập khí, có mang theo nghiệp. Và cái nghiệp đó quyết định lúc lâm chung sẽ đi theo con đường nào trong 6 đường, 4 loài, 3 cõi. Cái nghiệp đó cũng quyết định tương lai của chúng sinh đó như thế nào, giàu sang sung sướng, khỏe mạnh hay nghèo khổ đói rách bệnh tật.

Như vậy linh hồn của một chúng sinh thì có giới hạn, đó là một cá thể đơn nhất, nghiệp của chúng sinh đó cũng có giới hạn.

Còn khi nói thần thức 神識 thì nghĩa thế nào ? Thần là tinh thần, thức là a-lại-da thức là cái thức bao trùm nhất trong 8 thức. Thực tế là a-lại-da thức bao gồm cả 8 thức trong đó. Như đoạn trích đầu bài đã nói thần thức siêu việt lớn nhỏ. Về mặt nhỏ thì không có cái gì nhỏ hơn, về mặt lớn thì không có cái gì lớn hơn. Vậy thần thức là vô lượng vô biên không có số lượng.

Chính vì a-lại-da thức là vô lượng nên thần thức của một chúng sinh trong vô lượng kiếp cũng bằng với thần thức của vô lượng chúng sinh trong vô lượng kiếp.

Như vậy sự khác nhau rõ ràng giữa linh hồn và thần thức là :

-Linh hồn là phần tinh thần, thức (mạt-na thức) của một chúng sinh riêng biệt.

-Thần thức là tinh thần, thức (a-lại-da thức) của vô lượng chúng sinh trong tam giới. 

Thần thức chứa vô lượng thông tin về nghiệp của vô lượng chúng sinh, nhưng khi đi đầu thai thì mỗi mạt-na thức chuyển hóa thành một kiếp sống mới của một chúng sinh trong một cảnh giới. Vô lượng mạt-na thức  sẽ chuyển hóa thành vô lượng kiếp sống mới của vô lượng chúng sinh trong vô lượng cảnh giới. Do đó mới khái niệm về vũ trụ song song. Mỗi chúng sinh sống trong một của nhiều vũ trụ song song đó.  

Chính vì vậy nên kinh điển Phật giáo nói vô lượng chúng sinh cũng chỉ từ một tâm mà ra. Một tâm biến hóa ra vô lượng chúng sinh.

Đa số các vị sư thầy chỉ nói chung chung về lý thuyết Phật giáo như vậy thôi chứ đa số là không có chứng minh. Nhưng ngày nay khi khoa học đã phát triển tiệm cận với Phật giáo thì lý thuyết đó có thể chứng minh được và trong thực tế khoa học đã có chứng minh.

Khoa học phải chứng minh rằng vũ trụ vạn vật, không gian, thời gian, số lượng chỉ là khái niệm ảo tưởng chứ không phải hoàn toàn chân thật. Vậy khoa học chứng minh như thế nào ?

Chúng ta biết rằng vật chất cấu tạo bằng 18 loại hạt cơ bản. Con số 18 hình như có liên quan tới 18 giới (lục căn, lục trần, lục thức) và Phật giáo có hình dung ra 18 vị La hán tương ứng với 18 giới đó.

Trong 18 hạt cơ bản này thì khoa học chỉ mới tận mắt nhìn thấy 17 hạt, còn hạt thứ 18 (graviton=hạt hấp dẫn) thì các nhà khoa học chưa thấy tận mắt nên họ chưa đưa vào Bảng mô hình vật lý hạt chuẩn (Standard model of particle physics table). Tuy nhiên năm 2016 các nhà khoa học đã phát hiện ra sóng hấp dẫn (gravitational waves). Sóng và hạt là hai hình thái vốn có của hạt, hễ có sóng thì ắt có hạt. Sẽ có ngày người ta tận mắt phát hiện ra hạt giaviton.      

Standard model of particle physics table với 17 hạt cơ bản của vật chất

Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement)

Thí nghiệm này vô hình trung sẽ chứng minh khái niệm về 8 thức mà chủ yếu là a-lại-da thức là hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Theo thí nghiệm của Nicolas Gisin và đồng sự tại Đại học Geneva Thụy Sĩ thực hiện năm 2008, họ tạo ra hai photon tách rời cách nhau 18 km, họ tác động lên photon này thì tức thời photon kia bị tác động theo, không mất chút thời gian nào. Năm 2012 Zeilinger có làm lại thí nghiệm quantum entanglement với khoảng cách xa hơn là 89 miles = 143 km. 89 dặm hay 143 km là khoảng cách của 2 photon liên kết trong thí nghiệm của Anton Zeilinger năm 2012, một hạt nằm trên đảo Santa Cruz de La Palma, hạt kia nằm trên đảo Tenerife, cả hai đảo nằm trong quần đảo Canary thuộc Đại Tây Dương ngoài khơi bờ biển phía tây bắc Phi Châu.

Zeilinger đã gởi một hạt photon từ đảo Santa Cruz (hạt A) đến đảo Tenerife cách xa 89 miles (hạt B), nhưng do 2 hạt photon ở hai đảo có sự liên kết nội tại, khi ông xoay hạt A muốn biết hạt B phản ứng như thế nào, ông không cần phải chờ tín hiệu của hạt B truyền qua 89 km biển mà chỉ cần xem hạt C ở kế bên hạt A bởi vì hạt C là một bản sao giống hệt hạt B nên có thể coi như hạt C thay thế cho hạt B. Giống như người thân của bạn gởi 1000USD từ Mỹ về VN, bạn không cần phải chờ số tiền đó đi qua hàng vạn km biển và đất liền, người ta có thể ngay tức thời đưa số tiền 1000USD có sẵn ở tại ngân hàng cho bạn bởi vì hai số tiền đó giống hệt nhau.

Hiện tượng này sẽ rất có ý nghĩa với những khoảng cách xa xôi trong vũ trụ. Thí dụ nếu ứng dụng được phương thức thông tin này thì để nhận tín hiệu từ Sao Mộc thay vì phải chờ 35 phút để tín hiệu vượt qua mấy trăm triệu km không gian, có thể nắm được tín hiệu tức thời không mất thời gian do liên kết lượng tử bởi vì nó không phải vượt qua bất cứ khoảng cách không gian nào.  

Lúc sinh thời Einstein có biết hiện tượng này, nhưng ông rất bối rối không hiểu được, nên phát biểu rằng đó là tác động ma quái từ xa (Spooky action at a distance). Hiện tượng này còn biểu lộ những tính chất rất lạ lùng mà Einstein không thể nào chấp nhận nổi : đó là vật không có tự tính, cụ thể là hạt photon không có số spin sẵn, mà đó chỉ là số đo do con người gán cho nó lúc đo đạc. Photon không có định xứ (nonlocality) tức vị trí nhất định, định xứ cũng là do con người gán cho. Số lượng hai photon cũng không thực có, con người thấy là hai nhưng thực tế không phải là hai. Gần đây Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow vừa tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu với nhau. Như vậy con số hai photon, 100.000 photon, hay vô cực photon là do con người tạo ra, cảm thấy. Số lượng là do ý thức của con người tạo ra. Mặt khác khái niệm về khoảng cách không gian (18 km trong thí nghiệm của Gisin, 143 km trong thí nghiệm của Zeilinger) hay thời gian (không mất thời gian hay mất bao lâu) đều là do con người tạo ra. Các nhà duy thức đã thấu hiểu tất cả những điều này nên họ mới tổng kết một câu xanh dờn trong Thành Duy Thức Luận : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Họ biết tất cả những phân biệt về tánh tướng, về thiện ác đều chỉ là giả lập, là ảo chứ không phải thật (Liễu cảnh vi tánh tướng, Thiện, bất thiện câu phi 了境為性相,善不善俱非 hiểu rõ cảnh chỉ là tánh và tướng- thông tin- thiện và bất thiện đều không có thật).

Einstein đã cố chống lại thuyết lượng tử, năm 1935, ông cùng với Podolsky và Rosen đưa ra một giả thuyết để bác bỏ thuyết lượng tử mà sau này giới khoa học thường gọi là nghịch lý EPR (EPR paradox). Năm 1964, tức 11 năm sau khi Einstein qua đời, John Bell có sáng kiến lập ra bất đẳng thức mang tên ông, dựa theo các tính chất mà nhóm EPR cho là đúng, để kiểm chứng giả thuyết EPR. Tất cả các thí nghiệm đều cho thấy bất đẳng thức Bell bị vi phạm, điều đó chứng tỏ giả thuyết của nhóm Einstein là sai lầm.

Như vậy qua thí nghiệm liên kết lượng tử, khoa học đã chứng minh được 3 điều :

-Vật chất (hạt photon hay hạt electron…) là không có thật (non realism) chỉ là do tâm niệm tạo ra (thấy rõ qua thí nghiệm 2 khe hở)

-Không gian và thời gian đều không có thật do tính chất bất định xứ (non locality) của hạt. Hạt photon hay hạt electron ở dạng sóng thì ở khắp nơi không có vị trí nhất định.

-Số lượng không có thật (non quantity) tất cả các hạt đều là ảo vì một hạt photon cũng là 2 hạt, 100.000 hạt hay vô lượng hạt. Không có hạt nào là thật cả.

Như vậy thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) đã chứng tỏ thần thức tức a-lại-da thức là vô sở trụ (không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, chỉ là ảo cảnh không có thật, bản chất của nó chỉ là thông tin vô định hình (chưa có phân biệt).  

Thế nào là thông tin vô định hình ?

Thông tin ở dạng số nhị phân mà chúng ta hiện nay rất quen thuộc đều là thông tin vô định hình, chỉ là những con số vô nghĩa, chưa có phân biệt, chưa có nghĩa lý gì cả. Vậy khi nào thì thông tin đó mới được định hình, mới có nghĩa lý ? 

Thông tin đó chỉ được định hình khi chúng ta gán ghép cho mỗi con số một đặc điểm, một ý nghĩa chủ quan nào đó. Nhưng để cho mọi người đều thấy như nhau, thì người ta phải đưa ra một quy ước thống nhất. Chẳng hạn chữ @ được gán cho số 0, chữ A được gán cho số 1, chữ B được gán cho số 2, dấu ! được gán cho số 33, dấu & được gán cho số 38 v.v…đó là bảng ký tự ASCII.   

Sau khi được gán ghép thì cả dãy số nhị phân sẽ biến thành văn bản có ý nghĩa. Thí dụ :

010011100011111101101110011001110010000001101100001111110010000001101101001111110111010000100000011000110011111100100000011001110011111101101001001000000111100001101001011011100110100000100000001111110011111101110000

Trên đây là một dãy số nhị phân vô định hình, vô nghĩa. Nhưng khi gán ghép các ký tự của bảng mã ASCII vào thì nó trở nên có ý nghĩa. Ý nghĩa đó là :

Nàng là một cô gái xinh đẹp

Nhưng để chuyển đổi hàng hàng lớp lớp những con số nhị phân của một bài báo trong đó có chữ viết, có hình ảnh, âm thanh, video…thì phải cần một bộ vi xử lý (processor) cực nhanh, một giây có thể thay thế hàng tỷ đặc điểm cho hàng tỷ con số thì màn hình và loa mới hiện ra những văn bản, hình ảnh, âm thanh, video mà chúng ta thấy.

Chính vì vậy chúng ta mới cần những con chip cực mạnh, mỗi milimét vuông chứa hàng tỷ transitors để xử lý thông tin. Điện thoại di động là một loại thiết bị rất nhỏ gọn có thể nằm trọn trong lòng bàn tay nhưng có khả năng rất lớn. Chính vì không gian của chiếc điện thoại di động rất giới hạn mà cần khả năng xử lý rất lớn nên đòi hỏi con chip phải rất nhỏ để không tốn chỗ mà phải rất mạnh. Chip mạnh nhất hiện nay đã thương mại hóa là Snapdragon 8+Gen1 của hãng Qualcomm Mỹ thiết kế, với tiến trình 4nm do hãng TSMC Đài Loan sản xuất.

Hãng SMIC của TQ thì lạc hậu hơn hãng TSMC chỉ mới sản xuất được con chip với tiến trình 7nm với tên tạm gọi là SMIC’s N+2 chip. Chỉ số nm càng nhỏ thì càng khó sản xuất nhưng càng hiệu quả, càng nhanh và ít tốn pin.

Chip 7nm của SMIC TQ

Kết luận

Chúng ta đọc thấy trong kinh điển nói rằng khi một người mới chết thì thần thức chưa đầu thai tái sinh ngay trong một thân thể khác, trong một cảnh giới khác mà còn ở giai đoạn thân trung ấm. Bộ máy cơ thể đã ngừng hoạt động, tim ngừng đập, não ngừng xử lý thông tin, nhưng đó chỉ mới có sắc uẩn ngừng hoạt động, các uẩn còn lại là thọ, tưởng, hành, thức, vẫn tiếp tục hoạt động và vẫn còn dính dáng với thân ngũ ấm nên gọi là thân trung ấm.

Những người có tập khí nghiệp thiện ác rõ ràng phân minh có thể sớm đầu thai qua thân ngũ ấm mới, cảnh giới mới. Còn người nghiệp thiện ác gần bằng nhau nửa thiện nửa ác thì phân vân lâu hơn, lâu nhất là 49 ngày mới đi qua cảnh giới mới.

Thế nhân gọi là linh hồn đi đầu thai, nhưng Phật pháp gọi là thần thức, nó cũng tức là a-lại-da thức chứa đủ mọi chủng tử của vô lượng chúng sinh nhưng đều là tâm (vô phân biệt) hay thức (có phân biệt). Tâm là thông tin vô định hình, còn thức là thông tin đã định hình tức là đã gán ghép các đặc điểm, đặc tính vào tâm. Sự gán ghép này là do tập khí tức thói quen quyết định.

Thí nghiệm hai khe hở đã chứng minh rằng chính tâm niệm của người quan sát đã làm sụp đổ sóng tiềm năng và biến sóng thành hạt cơ bản. Điều đó cũng có nghĩa là tâm thức đã tạo ra vật chất. Vật chất như hạt photon, hạt electron hay các hạt cơ bản khác, bản chất cũng chỉ là thông tin. Thông tin đó chứa trong a-lại-da thức và khi một chúng sinh lâm chung còn trong tình trạng thân trung ấm, khi sắc thân đã ngừng hoạt động nhưng thức chưa chuyển sang một kiếp sống mới thì gọi là thần thức.

Dân gian gọi nó là linh hồn hàm ý rằng nó có bản ngã, cái ta riêng biệt và cái ta đó mãi trôi lăn sinh tử trong lục đạo luân hồi. Người chấp cho rằng linh hồn có thật, linh hồn đi đầu thai thì sẽ không bao giờ giác ngộ vì chấp ngã và chấp pháp. Hễ chấp là tà kiến, người chấp đi theo tà đạo.  

Còn Kinh điển gọi nó là thần thức, nó vô ngã vì bao gồm tất cả chúng sinh, thông tin chứa trong đó vô cùng lớn vì là thông tin của vô lượng chúng sinh trong vô lượng kiếp nên gọi là a-lại-da thức hay tàng thức, nhưng thông tin hay chủng tử quyết định của thần thức hay thân trung ấm đương cơ lại do mạt-na thức tức là thức chấp ngã quyết định. Mạt-na thức trong thần thức mới thực sự tương ứng với linh hồn theo quan niệm dân gian. Mà hễ chấp ngã thì tất nhiên là phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi. Phá ngã chấp và pháp chấp mới đúng là tu hành chân chính theo Phật pháp.   

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

PHÁP THÂN PHI TƯỚNG

Trong Phật pháp có thuyết Tam Thân 三身 tức là 3 hình thái của Như Lai Phật :

Pháp thân 法身,  (dharmakāya) tức là bản thể của Phật cũng như của tất cả chúng sinh, bản thể này vốn đồng, chúng sinh cũng là Phật. Pháp thân thì vô hình, vô tướng, vô thể. Nó giống như hư không nhưng không phải hư không vì nó bao hàm vô lượng thông tin vô định hình nghĩa là chưa phân cực thành nhị nguyên, chưa thành những cặp phạm trù đối lập nhau như âm dương, sáng tối, tốt xấu, thiện ác, Phật chúng sinh v.v… 

Báo thân  報身,  (saṃbhogakāya) là cái thân do nghiệp tạo thành. Các vị Phật, Bồ Tát do công phu tu tập thiện nghiệp nên có thân thể tốt đẹp với 32 tướng tốt, có trí tuệ, có sự nghiệp sáng chói, chẳng hạn Đức Phật Thích Ca là người sáng lập Đạo Phật, ngài có thể lực phi phàm, trí tuệ siêu việt. Còn chúng sinh thì thường điên đảo mộng tưởng, mê muội; người khéo tu thì có phước báo, người vụng tu tạo nghiệp không tốt thì gặp nghịch cảnh, trôi lăn trong 6 nẻo luân hồi.

Ứng thân  應身, (nirmāṇakāya), cũng được gọi là Hoá thân 化身. Phật, Bồ Tát hay các vị giác ngộ triệt để có thần thông có thể biến hóa theo ý muốn, sinh tử tự do, có thể đến cảnh giới nào cũng được. Chẳng hạn ngài Động Sơn Lương Giới 洞山良价(807-869 CN) hay Ngộ An thiền sư 遇安禅师 (924-995) muốn sống hay muốn chết lúc nào cũng được. Còn chúng sinh mê muội thì không tự làm chủ được nên chưa có khả năng hóa thân.

Sau khi hiểu sơ về Tam Thân chúng ta mới bàn về Pháp thân phi tướng là thế nào. Pháp thân thì vô hình vô thể nên không có tướng, nhưng đó mới là căn bản của tất cả Phật và chúng sinh, của toàn thể pháp giới vô biên. Kinh Kim Cang có đề cập tới vấn đề này trong bài kệ :

Nhược dĩ sắc kiến ngã, 若以色見我 Nếu dựa vào hình tướng vật chất để thấy ta

Dĩ âm thanh cầu ngã,    以音聲求我 Lấy âm thanh để tìm cầu ta

Thị nhân hành tà đạo,   是人行邪道 Người đó là đang hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai.  不能見如來 Không thể thấy được Như Lai        

Nhược dĩ sắc kiến ngã là sao ? Đó là những người ham thích hình tướng với 32 tướng tốt của Phật, vẽ hình Phật treo khắp nơi, tạc tượng Phật khắp các hang núi, xây dựng thật nhiều chùa chiền với hàng lô hàng lốc tượng Phật, đưa hình Phật, Bồ Tát lên khắp các trang mạng, thường xuyên đi chùa lạy tượng Phật…

Dĩ âm thanh cầu ngã là sao ? Đó là những người ưa thích đọc tụng kinh Phật, một ngày mấy thời tụng kinh, mở miệng ra là Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, nghe không biết bao nhiêu băng giảng, video clip thuyết pháp. Có người còn chép bao nhiêu bài thuyết pháp trong điện thoại để nghe tới nghe lui cầu giác ngộ.

Vậy những người đó có thấy được Như Lai tức là giác ngộ giải thoát không ? Câu trả lời là không. Tuyệt đại đa số là không thể giác ngộ. Chỉ có một số cực kỳ ít sau một thời gian dài lạy tượng Phật và tụng kinh, tu theo giáo môn rồi sau đó họ chuyển sang thiền định, chẳng hạn ngài Vĩnh Gia Huyền Giác cuối cùng phải bỏ giáo môn, bỏ tướng mới giác ngộ mới hiển tánh được.

Tại sao tuyệt đại đa số không thể giác ngộ ? Bởi vì như đoạn kinh trên đã nói, đó là  hành tà đạo tức là đi sai đường nên không thể đến đích được.

Tà đạo là gì ? đó là con đường cong, con đường xiên lệch. Hành tà đạo là đi con đường lệch lạc nên chắc chắn là không thể đến đích. Chẳng hạn một người mê thích hình tướng Phật, ngày nào cũng vào chùa lạy tượng Phật. Hoặc một người khác mê thích tụng kinh, ngày nào cũng tụng Bát Nhã Tâm Kinh suốt đời thì có thể giác ngộ không ? Tụng kinh suốt đời cũng không thể giác ngộ.      

Thế nào là tà đạo ? Tà đạo là biên kiến, cái thấy lệch một bên. Chẳng hạn một người suy nghĩ thiện làm điều thiện, đó cũng là lệch một bên, rồi thiện sẽ biến thành ác. Một người khác suy nghĩ ác, làm điều ác, đó cũng là lệch một bên. Làm thiện hay làm ác đều là do biên kiến (cái thấy lệch một bên) và đều là hành tà đạo nên không thể giác ngộ. Ắt có người hỏi : Vậy không nên làm thiện sao ? Không hẳn thế, làm thiện hay làm ác, đó là việc tùy duyên. Chẳng hạn đi đường gặp người đói thì nên bố thí chút thực phẩm hoặc tiền. Trong trường hợp thấy một kẻ đang xả súng bắn giết bừa bãi, nếu có thể làm ác bắn hạ kẻ đó để cứu nhiều người khác thì cũng nên làm.  Còn biến việc làm thiện hay làm ác thành một chủ trương và làm hoài làm mãi thì cũng sẽ không đi tới đâu, không thể đi tới giác ngộ giải thoát. Ví dụ sau một trận thiên tai có nhiều người đói khổ, mất nhà cửa, thì chúng ta nên cứu trợ giúp đỡ nạn nhân qua cơn bĩ cực. Nhưng nếu chúng ta thích làm từ thiện tự nguyện đem cả cuộc đời mình đi cứu giúp những người khổ sở thì cũng sẽ không đi tới đâu, người khổ sẽ còn hoài, hết thiên tai này tới nhân họa nọ, không thể chấm dứt được. Và việc làm của mình trở thành tà đạo vì xuất phát từ biên kiến, rốt cuộc mình cũng không thể giác ngộ.       

Chính vì để tránh biên kiến nên Long Thọ Bồ Tát đã soạn ra Trung Quán Luận, khuyên hành giả nên theo Trung Đạo thay vì rơi vào biên kiến.

Trung Quán Luận của Long Thọ Nàgàrjuna Bồ Tát là một bộ luận rất dài gồm 27 phẩm (chương) với tất cả 446 bài kệ, mỗi bài 4 câu, mỗi câu 5 chữ, tổng cộng 1784 câu. Bộ kinh này đã được Cưu Ma La Thập 鳩摩羅什 Kumārajīva (344-413CN) dịch ra Hán văn. Lý luận rất trừu tượng khó nắm bắt. Vì vậy các vị đại luận sư Ấn Độ sau Long Thọ giải thích Trung Quán Luận với rất nhiều bất đồng làm rối trí hàng hậu học. Chúng ta chỉ nên bàn về yếu chỉ của bộ luận.

Yếu chỉ là muốn nói chỉ nêu phần cốt yếu mà thôi chứ không trình bày hết toàn bộ Trung Quán Luận bởi vì bộ luận quá dài dễ làm phân tâm rối trí người đọc.

Ngay cả 446 bài kệ nguyên tác của Long Thọ cũng không cần thiết phải đọc hết, điều quan trọng là nắm được yếu chỉ. Sự việc cũng giống như người học Phật không cần phải đọc hết Đại Tạng Kinh, điều cần thiết là nắm được yếu chỉ của Phật pháp. Thay vì đọc hết Đại Tạng Kinh, người học Phật chỉ cần hiểu cho thật rõ ràng 4 chữ thôi : Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空 thì tốt hơn nhiều. Do đó đọc Trung Quán Luận cần nắm được yếu chỉ của tác phẩm hơn là đọc hết 446 bài kệ.

Thật ra, chỉ một bài kệ thứ nhất thôi cũng đủ bao quát toàn bộ yếu chỉ của Trung Quán Luận. Tôi nhận thấy cần phải kết hợp với khoa học hiện đại để hiểu thật rõ ý nghĩa của các bài kệ.

Phẩm thứ nhất : Phá Nhân Duyên

Bài này phá cái ý chấp thật về vũ trụ, về nhân duyên, về vật chất, về các pháp

不生亦不滅 Bất sinh diệc bất diệt           Không sinh cũng không diệt

不常亦不斷 Bất thường diệc bất đoạn   Không tồn tại mãi cũng không tiêu mất

不一亦不異 Bất nhất diệc bất dị             Không đồng nhất cũng không khác nhau

不來亦不出 Bất lai diệc bất xuất              Không đến cũng không đi

諸法不自生 Chư pháp bất tự sinh           Các pháp không tự sinh ra

亦不從他生 Diệc bất tòng tha sinh           Cũng không phải do vật khác sinh ra

不共不無因 Bất cộng bất vô nhân           Không phải cộng sinh cũng không phải tự nhiên mà có

是故知無生 Thị cố tri vô sinh                  Vì vậy biết là vô sinh

Bài kệ này mô tả khái quát vũ trụ vạn vật điển hình là cõi thế gian. Vũ trụ không có sự sinh thành cũng không có sự tiêu vong. Thuyết Big Bang của khoa học mô tả sự sinh thành của vũ trụ, nhưng đó chỉ là mô tả, không phải thực tế, mô tả đó chỉ là vọng tưởng của bộ não con người không phải là tất cả sự thật. Bài kệ nói về thắng nghĩa của vũ trụ vạn vật, nó không tự sinh ra cũng không mất đi, cũng không phải do vật khác sinh ra, cũng không phải do nhân duyên hòa hợp giữa hai vật mà thành (cộng sinh), cũng không phải tự nhiên mà có (vô nhân). Vì vậy nên biết là vô sinh tức chỉ là ảo tưởng không có thật.

Vô sinh là một yếu chỉ quan trọng trong Phật pháp. Ý tưởng vô sinh được đúc kết trong thuật ngữ vô sinh pháp nhẫn 無生法忍.

Kinh Đại Bát Nhã giải thích vô sinh pháp nhẫn như sau :

《大般若經》 卷四四九〈轉不轉品〉雲(大正7•264b):‘如是不退轉菩薩摩訶薩,以自相空,觀一切法,已入菩薩正性離生,乃至不見妙法可得。不可得故,無所造作。 無所造作故,畢竟不生。畢竟不生故,名無生法忍, 由得如是無生法忍故,名不退轉菩薩摩訶薩。’此謂菩薩觀諸法空,入見道初地,始見一切法畢竟不生之理,名無生法忍

(Đại Bát Nhã Kinh, quyển 449, “Chuyển bất chuyển phẩm” vân (Đại Chánh 7.264b) : “Như thị bất thoái chuyển Bồ Tát Ma Ha Tát, dĩ tự tướng không, quán nhất thiết pháp, dĩ nhập Bồ Tát chánh tánh ly sanh, nãi chí bất kiến diệu pháp khả đắc. Bất khả đắc cố, vô sở tạo tác. Vô sở tạo tác cố, tất cánh bất sanh. Tất cánh bất sanh cố, danh vô sanh pháp nhẫn. Do đắc như thị vô sanh pháp nhẫn cố, danh bất thoái chuyển Bồ Tát Ma Ha Tát. Thử vị Bồ Tát quán chư pháp không, nhập kiến đạo sơ địa, thủy kiến nhất thiết pháp tất cánh bất sanh chi lý, danh vô sanh pháp nhẫn).

Dịch nghĩa : Đại Bát Nhã Kinh, quyển 449, “phẩm Chuyển Bất Chuyển” nói (trích Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, trang 7.264b) : “Bồ Tát Ma Ha Tát (Ma Ha Tát Mahasattva phiên âm đầy đủ là Ma Ha Tát Đỏa 摩诃萨埵 là đại sĩ, người có nguyện lực rộng lớn) bất thoái chuyển như thế, lấy tự tướng “không” để xem xét tất cả các pháp, đã vào được cảnh giới không còn sanh diệt của Bồ Tát, đến mức không còn thấy có diệu pháp để đắc. Vì không thể có đắc nên không có cái để tạo tác. Vì không có cái tạo tác, nên tất yếu là bất sanh. Vì tất yếu là bất sanh nên gọi là vô sanh pháp nhẫn (trạng thái bản lai không có sanh diệt). Người chứng được vô sanh pháp nhẫn như thế gọi là Đại Bồ Tát bất thoái chuyển (không lui sụt). Đó gọi là Bồ Tát thấy các pháp là không, nên vào được sơ địa của con đường giác ngộ, bắt đầu thấy cái lý tất yếu bất sanh của tất cả các pháp, gọi là vô sanh pháp nhẫn.

Tại sao biết thế giới không có thật ? Vì vật không có tự tính, một hạt proton hay hạt neutron hoặc hạt electron đều không có thuộc tính (properties) gì cả, những thuộc tính như số đo spin, vị trí, khối lượng, điện tích của hạt, đều là do người khảo sát đo đạc gán ghép cho hạt, chứ nó không có sẵn, không chắc chắn có (uncertainty). Nhận thức này do nhà khoa học Niels Bohr đưa ra và một nhà khoa học khác là Alain Aspect kiểm chứng năm 1982 tại Paris trong thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement). Thí nghiệm đó rút ra hai kết luận quan trọng :

Một là vật không hiện thực (non realism) tức vật chỉ là tưởng tượng không có thật. Hai là vật không có vị trí nhất định (non locality=vô sở trụ). Một vật ổn định và có vị trí và các thuộc tính xác định trong không gian và thời gian, chỉ là tưởng tượng của bộ não.

Chính vì những hạt cơ bản (elementary particles) chỉ là hạt ảo không có thật, quark, proton, neutron và electron đều là hạt ảo nên nguyên tử do chúng cấu tạo cũng là ảo, nguyên tử không phải là một vật có thật. Niels Bohr nói : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập (tách khỏi người quan sát) là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Một nhà khoa học khác là Werner Heisenberg nói : “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).

Vạn vật trong vũ trụ đều do nguyên tử cấu tạo mà nguyên tử chỉ là vật ảo nên vạn vật cũng chỉ là ảo. Vũ trụ vạn vật là do tưởng tượng có điều kiện. Điều kiện đó Phật pháp gọi là nhân duyên hay duyên khởi. Bởi vì các hạt cơ bản vốn là ảo, nguyên tử không phải là vật thật nên Long Thọ mới phá sự chấp thật về nhân duyên.

Bởi vì vạn vật trong vũ trụ, trong thế gian chỉ là ảo hóa nên kinh điển nói là vô sinh, vạn vật chỉ là tưởng tượng. Mô tả Big Bang của khoa học về sự thành lập vũ trụ cũng chỉ là tưởng tượng của bộ não. Đã là tưởng tượng thì sự sinh, diệt, thường hay đoạn của vũ trụ chỉ là hý luận, không có thực chất. Đó cũng là yếu chỉ của Trung Quán Luận. Tuy nhiên Long Thọ cũng không phủ nhận thế giới, đó chính là ý nghĩa cốt lõi của Trung Quán, phá chấp thật chứ không phải phủ nhận, có nghĩa là nên hiểu rằng cuộc sống của con người diễn ra trong thế giới ảo. Vũ trụ là ảo hóa, vũ trụ là số (digital universe).

Vũ trụ chỉ là tưởng tượng, là ý niệm chứ không có thực chất, các cặp phạm trù mâu thuẫn như Có-Không, Tốt-Xấu, Thiện-Ác…chỉ là khái niệm tương đối không có nghĩa thật. Vì vậy hành giả phải theo trung đạo chứ không theo biên kiến, bởi vì biên kiến là tà đạo. Trung đạo cũng không phải là con đường ở ngay chính giữa, mà ý nghĩa đích thực của Trung đạo là Vô sở trụ tức không có chỗ trụ (non locality).

Vô sở trụ là thế nào ?

Trong thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) tiến hành năm 2008 do nhà khoa học Nicolas Gisin của đại học Geneva Thụy Sĩ thực hiện, cung cấp cho chúng ta một khái niệm rõ rang về vô sở trụ.

Nicolas Gisin

Ông dùng một cái máy có khả năng cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai nơi cách xa nhau 18km. Chúng ta tạm gọi là vị trí A và vị trí B. Khoảng cách A-B là 18km. Khi tác động vào A, thí dụ xoay A theo chiều kim đồng hồ thì lập tức B xoay ngược lại mà không mất chút thời gian nào. Khoảng cách 18km là khá lớn, dù tín hiệu truyền đi nhanh bằng vận tốc ánh sáng thì người ta vẫn nhận biết và đo đạc được vì kỹ thuật hiện đại đã đạt tới độ tinh vi. Nhưng thực tế là không có sự truyền tín hiệu. Người ta rút ra được những kết luận vô cùng cơ bản và đáng kinh ngạc.

1/Vật (hạt photon) là không có thật (non realism) bởi vì người ta có thể tạo ra một hoặc rất nhiều hạt khác xuất hiện đồng thời tại nhiều vị trí khác nhau.

2/Vị trí của hạt là vô sở trụ (non locality) bởi vì hạt có thể đồng thời xuất hiện tại hai hoặc vô số vị trí khác nhau. Do đó khoảng cách 18km cũng chỉ là ảo tưởng chứ không phải có thật. Chính vì khoảng cách không gian không có thật nên sự di chuyển cũng không có thật, không có sự truyền tín hiệu và tác động không mất thời gian. Nếu người ta thực hiện được vô sở trụ thì có thể trong tích tắc từ Địa Cầu đi tới Hỏa Tinh chứ không phải mất 7 tháng đi phi thuyền không gian như hiện nay.

3/Số lượng của vật (hạt photon) là không có thật (non quantity) vì người ta có thể cho hạt xuất hiện đồng thời ở rất nhiều vị trí khác nhau, cũng có nghĩa là một hạt tức là nhiều hạt. Năm 2012 Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow đã tạo ra những trạng thái lượng tử chứa tới 100.000 photon, và tất cả chúng đều bị vướng víu với nhau.

Maria Chekhova của đại học Moscow

100.000 photon ở trạng thái vướng víu (entangled) nghĩa là gì ? Nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau trong không gian. Số lượng vị trí xuất hiện có giới hạn không ? Câu trả lời là không. Bằng chứng ở đâu ? Bằng chứng là thuyết Big Bang. Theo thuyết này, sau vụ nổ, thời gian và không gian đầu tiên xuất hiện như sau : thời gian bằng 10-43 (mười lũy thừa trừ 43) giây, vũ trụ chỉ là một hạt lượng tử có kích thước bằng 10-33(mười lũy thừa trừ 33) cm. Còn trước đó là bức tường Planck, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng vật chất gì cả. Người ta tưởng tượng tại bức tường, thời gian là 10-44 (mười lũy thừa trừ 44) giây, đó chỉ là suy luận thôi, thực tế là không có gì cả, vũ trụ chưa bắt đầu hình thành. Sau vụ nổ, vũ trụ mới bắt đầu xuất hiện, bắt đầu có không gian, thời gian và số lượng vật chất, số lượng bắt đầu với chỉ một hạt lượng tử, sau đó xuất hiện khắp vũ trụ với vô lượng vô biên vị trí khác nhau, hình thành nên thiên hà, ngôi sao, mặt trời, hành tinh, trái đất, mặt trăng, vạn vật, con người.

Kết luận                

Pháp thân phi tướng nghĩa là pháp thân của Phật và của chúng sinh vốn là không có hình tướng nhất định, nó còn có tên gọi khác là Tâm. Toàn thể Tam giới cũng chỉ là tâm niệm, Phật, chúng sinh, vũ trụ vạn vật đều là tâm niệm. Vật chất, không gian, thời gian, số lượng, mặt trời, trái đất, mặt trăng, con người, cũng đều là tâm niệm không có thực thể. Hành giả tu tập theo Phật pháp phải ngộ được tánh không không có thực thể này mới có thể giải thoát khỏi tập khí muôn đời vạn kiếp chấp ngã và chấp pháp từ đó mới có thể đạt được tự do tự tại mà không cần tới một chính quyền hay một thể chế chính trị nào ban phát, thậm chí còn đạt được sinh tử tự do như các vị thiền sư Động Sơn Lương Giới hay Ngộ An của thời xưa. Còn nếu cứ chấp vào âm thanh, hình tướng thì không thể giác ngộ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 1 bình luận

TÁNH KHÔNG LÀ GÌ ?

Tâm là tánh không, thông tin dạng sóng hay con số vô định

Những người có nghiên cứu tìm hiểu về Phật giáo ắt biết qua thuật ngữ tánh không. Tánh không được đề cập tập trung trong Bát nhã ba-la-mật-đa Tâm Kinh (般 若 波 羅 蜜 多 心 經 Prajnaparamitahridaya Sutra)

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Thấy 5 uẩn (5 tập hợp : sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều là không nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Chỉ cần thấy, nhận ra thôi chứ không cần làm gì cả thì đã giải thoát được tất cả mọi khổ nạn. Tại sao thần kỳ thế ? Bởi vì nhận ra rằng tất cả mọi khổ nạn đều là không, không có thật, không có thực thể, chỉ là tâm tưởng tượng ra thôi thì làm gì có khổ nạn. 

Thế nhưng để thấu hiểu tánh không nghĩa là gì thì cũng không phải đơn giản. Tại sao không đơn giản ? Thân ngũ uẩn của ta không có thật sao ? nhà cửa xe cộ, quần áo, đồ dùng của ta không có thật sao ? sông núi đất đai của tổ quốc ta không có thật sao, địa cầu, mặt trời, mặt trăng, vũ trụ không có thật sao ? Trả lời những câu hỏi này không hề dễ dàng.

Do đó có người cho rằng tánh không là rỗng rang, trống rỗng, không có gì cả. Câu trả lời này hình như cũng không thuyết phục. Bởi vì nếu tánh không là trống rỗng không có gì cả thì tại sao chúng ta có thân ngũ uẩn, rồi có nhà cửa xe cộ và bao nhiêu thứ vật chất khác ? Rồi không gian, thời gian là cái gì, chúng ta có nhiều tiền hay ít tiền ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mình.

Tất cả những câu hỏi này khiến chúng ta phải đặt lại câu hỏi tánh không là gì ?     

Trong bài viết này tôi sẽ trả lời câu hỏi này theo nhận thức của mình sau 50 năm nghiên cứu và thực hành Phật pháp.   

Theo tôi thấy, cái không mà Bát nhã tâm kinh nêu ra không phải là trống rỗng không có gì cả (hư không) mà chỉ là không có thực thể, không tuyệt đối có thật.

Thế nào là không có thực thể, có thể cho ví dụ được không ? Được, ví dụ con số là không có thực thể, có con số nhưng con số không có thực thể. Trừu tượng quá, có thể cho thêm ví dụ cho rõ nghĩa hơn không ?    

Ví dụ GDP của Mỹ, quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới, năm 2021 là 20 518 ngàn tỷ. Con số 20 518 ngàn tỷ là không có thực thể. Con số đó không có ý nghĩa gì cả nếu không có đơn vị tính là USD gắn vào. Và người ta phải biết 1 USD có thể mua được cái gì. Chẳng hạn giá xăng ngày 11-09-2022 tại Los Angeles, California là 4.57 dollars/gallon (1 galon = 3,79 lít) suy ra 1 USD (23700 vnđ) mua được 0,83 lít xăng, vậy 1 lít xăng tại Los Angeles giá 28550 vnđ (giá xăng Ron 95 cùng ngày tại VN là 24230 đ).   

Vậy một con số trơn không có đặc trưng, tức không gắn với đơn vị tính thì không có thực thể. Tánh không chính là những con số trơn như vậy. Có khái niệm về con số nhưng những con số trơn không có nghĩa lý gì cả.

Trong thời đại kỹ thuật số thì tất cả mọi thứ ở trên đời đều có thể biến thành con số (digital), kể cả vật chất và tinh thần; hành vi biến mọi vật thành con số gọi là số hóa (digitizing). Các con số được gán ghép rất nhiều đặc điểm vô cùng phong phú để trở thành thông tin. Hệ thống số đếm thuận lợi cho việc số hóa là hệ thống nhị phân (binary system) bởi vì nó chỉ cần 2 cơ số 0 và 1 để diễn tả tất cả mọi con số. Và từng con số 0 và 1 riêng lẻ gọi là bit thông tin. Người ta dùng từ 8 tới 10 bit để biểu diễn một ký tự (chữ cái hay ký hiệu và những đặc trưng đặc điểm khác của vạn vật) tập hợp đó gọi là Byte. Bội số của Byte là Kilobyte  viết tắt KB (1 KB= 1024 bytes) Một tấm ảnh của một nhân vật nào đó thí dụ ca sĩ Sylvie Vartan :

Tấm ảnh này của Sylvie Vartan cần 94 KB

Bội số của KB là Megabyte viết tắt là MB (1MB = 1024 KB). Các file video cần đến nhiều MB.

Ví dụ file video sau đây cần tới 59.7 MB

Từ thông tin về cái ví da có thể khôi phục cái ví thật 

Bội số của MB là Gigabyte viết tắt là GB (1GB = 1024 MB). Bội số của GB là Terabyte viết tắt là TB. (1TB = 1000GB)

Ổ cứng ROM trong điện thoại thông minh của chúng ta hiện nay có sức chứa thông tin ít nhất là 32GB, trung bình là 64GB, nhiều là từ 128 GB trở lên.

Các bạn có thể thắc mắc Tánh Không thì có liên quan gì đến kỹ thuật số ? Có liên quan rất nhiều đấy. Bởi vì tánh không có bản chất là thông tin. Thông tin thì không có thực thể nhưng thông tin được biểu diễn bằng vô số con số. Và thông tin có thể tạo ra vũ trụ vạn vật và con người chúng ta.

Kinh điển Phật giáo đều nói : Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức 三界唯心 萬法唯識 Ba cõi Dục giới, Sắc giới Vô sắc giới đều là tâm, tất cả các pháp đều là thức.

Tâm chính là tánh không, là thông tin, là sóng, là những con số vô định, chưa được gán ghép đặc trưng, đặc điểm, đơn vị tính, nên tâm là vô phân biệt, là bất nhị. Còn thức cũng là thông tin, cũng là những con số nhưng đã được gán ghép đặc trưng đặc điểm nên đã có phân biệt. Tâm thức phân biệt thành bát thức : 5 căn, tiền ngũ thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và căn thứ 6 (não bộ) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) phát sinh ra lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác thân thể, ý thức). Cộng chung lục căn, lục trần, lục thức thành 18 giới được hình tượng hóa thành 18 vị La Hán. Ngoài 6 thức đã nói còn 2 thức tổng hợp là thức thứ bảy (mạt-na thức) và thức thứ tám (a-lại-da thức). Mạt-na thức là tổng hợp thông tin của 18 giới của một chúng sinh trong vô lượng kiếp. A-lại-da thức là tổng hợp thông tin của tất cả mạt-na thức. Thức chấp ngã của một người là mạt-na thức. Thức tổng hợp của tất cả chúng sinh là A-lại-da thức.

Ở trong pháp giới vô lượng (không có số lượng, không có nhiều ít) thì Mạt-na thức của vô lượng kiếp cũng là A-lại-da thức, tất cả chúng sinh cũng chỉ là một tâm, tất cả các pháp cũng chỉ là một pháp, Phật giáo gọi là bất nhị. Để dễ hiểu hơn tôi xin cho ví dụ : Một năm có 365 ngày. Một năm chỉ có một ngày Tết dương lịch là ngày đầu năm thôi, còn lại là ngày thường. Câu hỏi là ngày tết nhiều hay ngày thường nhiều ? Thông thường thì chúng ta cho rằng ngày thường nhiều, ngày tết ít. Nhưng trong vô lượng thời  

gian thì ngày tết cũng  nhiều như ngày thường. Chứng minh bằng toán học :

Số ngày tết = vô cực

Số ngày thường = vô cực

Vậy số ngày tết bằng số ngày thường

Tương tự như vậy Mạt-na thức của vô lượng kiếp cũng chính là A-lại-da thức. Một chúng sinh trong vô lượng kiếp cũng chính là vô số chúng sinh trong vô lượng kiếp, tất cả chỉ là một tâm mà thôi.

Căn cứ vào nguyên lý bất nhị cũng như nguyên lý nhất thiết pháp vô tự tính, nhất thiết duy tâm tạo mà Đức Phật đã trình bày trong Vi Diệu pháp và các vị Tổ Sư đã triển khai pháp môn Tối thượng thừa trong các kinh điển Đại thừa, tập trung nhất là Bát Nhã tâm kinh,  Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh 大方廣佛華嚴經, Thành duy thức luận 成唯識論 , Kim cang bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh  金剛般若波羅密多經 … Và chúng ta có thể kết luận :

Tâm là tánh không, là thông tin. Tâm không có thực thể nên nó siêu việt không gian, thời gian, số lượng. Tam giới, tất cả vũ trụ vạn vật đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra nên có thể nói vạn pháp đều không có thực thể, không có thật, nhưng cũng không phải là hư không trống rỗng không có gì cả.

Thông tin có thể biến thành năng lượng và vật chất

Trong thế kỷ 20 các nhà khoa học đã chứng minh vật chất và năng lượng có thể chuyển hóa cho nhau theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein.

E= mc2 [E : năng lượng (energy), m : khối lượng (masse), c : vận tốc ánh sáng, là một hằng số (constant)].

Trong thế kỷ 21 có thể các nhà khoa học sẽ chứng minh được vật chất, năng lượng và thông tin có thể chuyển hóa cho nhau, nghĩa là thông tin có thể biến thành vật chất hay năng lượng.   

Dựa vào cơ sở nào để tin rằng vật chất có thể biến thành thông tin hay ngược lại ?      

Một hạt cơ bản của vật chất chẳng hạn hạt electron hay hạt photon, chúng là vật chất có đặc trưng đặc điểm như vị trí trong không gian, khối lượng, điện tích, độ xoay (spin). Nhưng chúng có thể hiện hữu ở hai hình thái rất khác nhau :

-Hình thái hạt có đặc trưng như nói trên

-Hình thái sóng không có sẵn bất cứ đặc trưng nào như nói trên. Đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát (được chứng tỏ qua thí nghiệm 2 khe hở – double slit experiment)

Như vậy đặc trưng chính là thông tin mà người quan sát gán ghép vào sóng hay con số khiến cho sóng biến thành hạt hoặc con số biến thành thông tin. Hiện tượng này khoa học gọi là sự sụp đổ chức năng của sóng (the collapse of the wave function).   

Các nhà khoa học duy vật không hiểu được hiện tượng này, họ chỉ giải thích loanh quanh mà không tin rằng chính sóng não của người quan sát hay sóng của thiết bị cảm biến có chức năng nhận thức tương tự như sóng não chính là nguyên nhân làm sụp đổ chức năng sóng, khiến cho sóng biến thành hạt.

Sự sụp đổ chức năng sóng chính là cơ chế tạo thiên lập địa, chính là vụ nổ big bang tạo ra vũ trụ vạn vật.

Chúng ta có thể diễn tả sự sáng thế (sáng tạo vũ trụ thế giới) như sau :

Khi chưa có con người với ngũ uẩn thì không có vũ trụ vạn vật gì cả, bởi vì trời đất là không có thật, không gian thời gian số lượng, cái gì cũng chưa có. Tâm thì có tất cả mọi thông tin vô định chưa có đặc trưng. Nhưng tâm có khả năng giác ngộ, hiểu biết thong suốt và mọi khả năng tưởng tượng như là Thượng đế, nên nó tạo mọi điều kiện để các thông tin trong Tàng thức (A-lại-da thức) tạo ra pháp giới, thiên hà, thái dương hệ, hành tinh, địa cầu, rồi các loài sinh vật trong đó có con người, nhưng tất cả đều là ở dạng tiềm thể chưa hiện hữu (dạng sóng). Đến khi có con người có ngũ uẩn rồi thì tiềm thể đó ở dạng sóng mới sụp đổ thành hạt, thành vật chất và hiển hiện thành vũ trụ vạn vật như chúng ta thấy hiện nay.

Nhiều nhà khoa học chẳng hạn Craig Hogan nghi ngờ rằng vũ trụ có bản chất là thông tin, cũng có nghĩa vũ trụ là số (digital universe).

Craig Hogan

Vài thông tin về vũ trụ giả lập  

Ngày nay có một số thông tin về vũ trụ giả lập. Nghĩa là vũ trụ có khả năng được giả lập bởi một loài người thông minh cực kỳ tiến bộ nào đó.    

Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì con người bắt đầu nghi ngờ về chính thế giới chúng ta đang sống, họ ngờ rằng đó không phải là một thế giới tự nhiên có thật. Khi mà nhiều nghiên cứu về vật lý vi mô và vĩ mô mới đã phủ nhận các lý thuyết cũ. Kết quả của các nghiên cứu mới về vật lý lượng tử đang làm lung lay niềm tin của chúng ta một cách căn bản về vũ trụ vạn vật. Bằng chứng chứng minh thế giới chúng ta đang sống là ảo ngày càng nhiều. Tờ French Tribune đưa tin các chuyên gia của Đại học Washington (Mỹ) nghiên cứu khả năng tạo lập thế giới này, và thậm chí cả vũ trụ, đó có thể là sự tưởng tượng của một trí thông minh nhân tạo cấp cao.

Morgada nói “mọi thứ chúng ta nhìn thấy là một ảo ảnh do bộ não chúng ta tạo ra. Tuy nhiên, đây là một ảo ảnh thực sự có chức năng giúp chúng ta thích nghi với thế giới.”Ngay cả tình yêu cũng là một ảo ảnh. Nó là ảo ảnh do các phân tử của bộ não chúng ta tạo ra”.

Hồi năm 2001, Nick Bostrom – một giáo sư giảng dạy tại trường Đại học Oxford danh tiếng, đã công bố nghiên cứu của mình về giả thuyết các hậu duệ, con cháu đời sau của chúng ta sử dụng siêu máy tính cực mạnh để chạy một giả lập chi tiết với quy mô tương đương thế giới hiện tại để tìm hiểu về tổ tiên của mình.

Nick Bostrom – cha đẻ của vũ trụ giả lập

Bostrom cho biết, cỗ máy siêu việt này sẽ có khả năng thực hiện 1042 phép tính chỉ trong vỏn vẹn có 1 giây, và nó có thể tạo ra toàn bộ lịch sử loài người (bao gồm cả những suy nghĩ, cảm xúc và ký ức của chúng ta) bằng cách sử dụng chưa đến 1/1.000.000 sức mạnh xử lý của nó.

Dựa trên lập luận này, toàn bộ con người cũng như các thực thể khác trong vũ trụ chỉ là những dòng dữ liệu được lưu trên ổ cứng của một super computer khổng lồ. Vị giáo sư này cũng đưa ra kết luận rằng: “Gần như chắc chắn rằng chúng ta chỉ là những nhân vật sống trong một trình giả lập máy tính.”

15 năm sau, Elon Musk – nhà sáng lập của Tesla và SpaceX, đồng thời được mệnh danh là Iron Man (Người Sắt) đời thực với bộ óc thiên tài và trí thông minh vượt trội, cũng tỏ ra đồng tình với quan điểm của Bostrom. Tại hội thảo Recode diễn ra vào năm 2016, Musk đã đưa ra một nhận định đáng chú ý: nếu tính theo tỷ lệ, khả năng mà chúng ta không sống trong một thế giới mô phỏng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, 1 trên hàng tỷ. Điều đó có thể hiểu rằng Elon Musk khá chắc chắn rằng chúng ta đang sống trong một trình giả lập.

Cho đến nay, bộ mô phỏng Uchuu là phiên bản mô phỏng lớn nhất và chi tiết nhất từng được tạo ra cho Vũ trụ. Nó chứa đến 2,1 nghìn tỷ “hạt” trong một không gian trải dài 9,6 tỷ năm ánh sáng. Bản mô phỏng này giả lập sự tiến hóa của Vũ trụ kéo dài trong suốt 13 tỷ năm qua. Nó không tập trung vào sự hình thành của các ngôi sao và các hành tinh, thay vào đó hướng tới các hành vi của vật chất tối bên trong sự mở rộng của Vũ trụ.

Mức độ chi tiết của Uchuu đủ lớn để nhóm có thể xác định mọi thứ, từ các cụm thiên hà cho đến các quầng vật chất tối bao quanh những thiên hà riêng lẻ. Do vật chất tối tạo nên phần lớn vật chất trong Vũ trụ, nó là động lực chính cho việc hình thành thiên hà và cụm thiên hà.

Để tạo ra một bản mô phỏng chi tiết đến như vậy, cần đến một sức mạnh tính toán và khả năng lưu trữ khổng lồ. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng hơn 40.000 nhân máy tính và 20 triệu giờ tính toán để tạo ra phiên bản mô phỏng của mình. Tổng cộng nó ngốn đến hơn 3 Petabyte dữ liệu, tương đương 3 triệu GB.

Tuy nhiên, nhờ sử dụng một giải pháp nén siêu mạnh, nhóm nghiên cứu có thể nén khối dữ liệu này xuống chỉ còn khoảng 100 TB, tương đương 100.000 GB bộ nhớ lưu trữ. Ổ đĩa Exadrive của hãng Nimbus là bộ nhớ thể rắn dạng 3,5 inch tiêu chuẩn, nhưng có dung lượng đến 100 TB. Tuy vậy ổ đĩa này có giá đến 40.000 USD (gần 1 tỷ đồng vn). Nhóm Uchuu lưu trữ dữ liệu thô của mình trên trang skiesanduniverses.org,  vì vậy bạn có thể khám phá vũ trụ ảo đó khi nào bạn muốn.   

Kết luận

Giới khoa học thì nghĩ rằng có thể vũ trụ mà chúng ta đang sống được giả lập bởi một loài người thông minh cực kỳ tiến bộ nào đó. Tôi nêu ra lập luận này chỉ để nói rằng nhiều nhà khoa học hiện đại nghĩ rằng thông tin là nền tảng của vũ trụ vạn vật. Điều đó có nghĩa rằng vật chất, năng lượng cũng chỉ là thông tin thôi, chỉ khác nhau ở chỗ vật chất và năng lượng cần một số lượng thông tin cực kỳ lớn so với hình ảnh, âm thanh và video mà chúng ta đã quen thuộc hiện nay.

Còn Phật giáo thì cũng đồng tình với khoa học ở điểm vũ trụ là thông tin (Phật giáo nói là Vạn pháp duy thức- thức chính là thông tin). Nhưng PG không nói vũ trụ là do một loài người thông minh giả lập ra, mà nói rằng vũ trụ là do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo). Tâm bản nguyên của chúng sinh gọi là vô sinh pháp nhẫn, tâm đó có tánh giác ngộ, cái gì nó cũng biết, nó có năng lực vô biên, nên nó có khả năng tạo ra tất cả mọi loại cảnh giới tùy thuộc cái niệm của chúng sinh. Chúng sinh có niệm thiện thì tâm tạo ra cảnh giới thiện chẳng hạn cõi giới Tây phương cực lạc do Phật A Di Đà thống lĩnh dành cho chúng sinh tu Tịnh Độ hướng tới một cõi giới an lành. Tâm càng kiên trì bao nhiêu thì cảnh giới càng vững chắc bền bĩ bấy nhiêu. Chúng sinh có niệm ác chẳng hạn sát sinh hại vật để ăn thịt hay hại người để có lợi cho mình, thì tâm tạo ra cảnh giới ác, chẳng hạn cõi giới địa ngục, ngạ quỷ. Những cảnh giới ác không phải ở đâu xa, ngay trên thế gian cũng có, chẳng hạn cảnh thiên tai, bão lụt, núi lửa, động đất, sóng thần; cảnh chiến tranh  hay bạo loạn do con người gây ra, chiến tranh Nga-Ukraina hiện nay là một ví dụ. Rồi cảnh tai nạn như máy bay rơi, tàu chìm, xe đụng, hỏa hoạn v.v…Những cảnh giới ác đó không phải tự nhiên có, mà nó do niệm ác và hành vi ác của chúng sinh tạo ra. Những cảnh giới thiện hay ác xuất hiện theo quy luật nhân quả. Làm thiện gặp lành, làm ác gặp dữ. Tuy nhiên bản chất của thiện ác cũng không phải là hai mà là do tâm của chúng sinh gán ghép cho là thiện, cho là ác. Chính là vì thiện ác cũng chỉ là chủ quan của chúng sinh, do đó thiện có thể biến thành ác và ngược lại.

Trường hợp thiện biến thành ác điển hình nhất mà chúng ta mới thấy gần đây. Đó là bà mẹ của hung thủ Yamagami Tetsuya là người đã bắn chết cựu thủ tướng Nhật bản Shinzo Abe, bà mẹ này là người chuyên tâm làm từ thiện, đã quyên góp cho tổ chức từ thiện có nguồn gốc Hàn Quốc, đó là Giáo hội thống nhất (Unification Church) một số tiền lớn là 720.000 USD khiến cho gia đình khánh kiệt, con cái phải sống vất vả khó khăn. Tetsuya cho rằng ông Abe ủng hộ Giáo hội này. Ban đầu anh ta định ám sát lãnh đạo giáo hội tại Nhật Bản. Nhưng trong cuộc vận động tranh cử cho một ứng viên của Đảng Dân chủ tự do (LDP) ở thành phố Nara, thủ phủ của tỉnh Nara, phía tây Nhật Bản, Tessuya chỉ gặp ông Abe lúc đó đang phát biểu trước công chúng nên hạ sát ông luôn. Như vậy một người theo đuổi ý tưởng về từ thiện đã dẫn đến kết quả ác là một người khác phải chết.

Còn trường hợp ác biến thành thiện, chẳng hạn cuộc chiến tranh VN do Đảng Cộng sản VN tiến hành kéo dài 15 năm (1960-1975). Chiến tranh khiến đất nước nhà cửa tan hoang, cả triệu người phải chết, rõ ràng chiến tranh là việc ác. Nhưng kết quả là thiện, đất nước thống nhất, nhân dân VN hiện nay đang được hưởng hòa bình, độc lập, kinh tế phát triển, nhân dân no ấm.

Chính vì vậy mới có Trung Quán Luận của Long Thọ Bồ Tát. Trung Quán tránh biên kiến tức không nghiêng về một bên, dù là thiện hay ác cũng đều là tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Nên hành giả phải giữ trung đạo và tùy duyên. Trung đạo tức là vô sở trụ mà kinh Kim Cang đề cập. 

Trong thế giới ngày nay thì bậc thức giả phải thấy rằng chế độ dân chủ tự do hay chế độ độc tài toàn trị đều là tà đạo, không thể ngã theo hoàn toàn được mà phải biết trung đạo và tùy duyên. Trung đạo cũng không phải ở ngay chính giữa mà trung đạo chính là vô sở trụ nên cũng không phải dễ xác định được. Hành giả phải câu thông (kết nối thông suốt) được với bản tâm bất nhị thì mới tránh được tà kiến và không rơi vào tà đạo thì mới sống với bình thường tâm thị đạo được. 

Tóm lại tánh không không phải là trống rỗng không có gì mà chỉ là cái không không có thực thể. Tánh không chính là tâm vô lượng bất biến bất nhị, vô phân biệt. Cái tâm đó có tánh giác ngộ, tánh biết, nên nó có khả năng vô biên không hạn chế có thể tưởng tượng ra mọi thứ từ vũ trụ vạn vật cho tới con người. Tánh không có vô lượng thông tin vô định hình, có thể hình dung là vô lượng vô biên con số chưa được gán ghép đặc trưng. Mỗi chúng sinh tùy theo nghiệp hay tập khí của mình mà gán ghép đặc trưng cho những con số hay sóng đó (tạo ra hiện tượng sụp đổ chức năng sóng, khiến cho sóng biến thành hạt vật chất và cũng từ đó mà tạo ra cảnh giới và số phận của chính mình.  

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT

Giác ngộ cũng tức là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, điên đảo mộng tưởng, giống như người đang nằm mơ chợt tỉnh dậy, hành giả biết là giấc mơ không có thật, những vui, buồn, giận ghét, hạnh phúc, đau khổ trong giấc mơ chỉ là ảo tưởng, là tưởng tượng chứ không phải thật.

Làm sao để giác ngộ ? Đây là câu hỏi muôn đời của thế nhân. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni 釋迦牟尼 (Shakyamuni , thế danh Siddhartha Gautama- Tất Đạt Đa Cồ Đàm 悉達多瞿曇 ) đã tạo ra hàng vạn pháp môn để giúp cho con người với hàng vạn căn cơ tâm địa rất khác nhau, được giác ngộ tỉnh thức, chấm dứt tất cả mọi đau khổ.    

A. Quá trình nhận thức

Những pháp môn cơ bản nhất mà Phật hướng dẫn là :

1/Tứ diệu đế 四妙諦 (còn gọi là Tứ thánh đế 四聖諦 catvāri āryasatyāni)

Tiếng Anh là Four Noble Truths nghĩa là 4 sự thật cơ bản) trích trong bài kinh Chuyển pháp luân (Dhammacakkappavattana) gồm :

Khổ đế (苦諦dukkha): thế gian cơ bản là đau khổ; sinh lão bệnh tử là đau khổ

Tập đế (集諦samudaya) : nguyên nhân, nguồn gốc của đau khổ là ái dục, bất cứ ham muốn nào cũng đều dẫn tới đau khổ

Diệt đế (滅諦 nirodha) : từ bỏ ái dục là cách cơ bản để chấm dứt đau khổ

Đạo đế (道諦 magga) : con đường đoạn trừ ái dục là tu đạo bao gồm bát chánh đạo)

Bát chánh đạo八正道 āryāṣṭāṅgamārga là :

-Chánh kiến正見 samyag-dṛṣṭi  là cái thấy đúng thực tế, ví dụ hạt cơ bản có sẵn đặc trưng hay không ? Einstein  trả lời Có, câu trả lời đó không phải chánh kiến mà chỉ là tà kiến, bởi vì hạt cơ bản vốn không có sẵn đặc trưng đúng như kinh điển nói : Nhất thiết pháp vô tự tính nghĩa là tất cả các pháp đều không tự có đặc trưng đặc điểm.

-Chánh tư duy 正思維samyak-saṃkalpa:  Không có chánh kiến thì không thể có chánh tư duy được bởi vì cái thấy đã lệch lạc ngay từ gốc, chẳng hạn người đời đều thấy thế gian là có thật, vật chất là có thật, không biết đó chỉ là mộng tưởng huyễn ảo nên không thể có chánh tư duy, phải hành thâm bát nhã như Quán tự tại Bồ Tát mới có chánh tư duy.

-Chánh ngữ正語 samyag-vāc : Lời nói đúng, phải thấy rằng mọi lời nói ra đều không có nghĩa thật, mọi lời nói ra đều chỉ là phương tiện, không phải chân lý nên không được cố chấp. Chánh ngữ là phương tiện thích hợp để dẫn dắt người mê, ví dụ ngón tay chỉ Mặt trăng, kinh điển Phật giáo là lời chỉ dẫn về hướng sự thật, kinh điển chỉ là phương tiện chứ không phải là chân lý. 

-Chánh nghiệp正業 samyak-karmānta : Nghiệp cũng chỉ là tâm niệm nên chánh nghiệp là tùy duyên để hành xử cho phù hợp với hoàn cảnh. Chẳng hạn Đức Phật ra đời là để hướng dẫn chúng sinh con đường giải thoát chứ không phải để làm vua, nên chánh nghiệp của Đức Phật là tự giác giác tha (tự mình giác ngộ và giúp người khác giác ngộ). Còn chánh nghiệp của mỗi cá nhân thì tùy tâm nguyện của mỗi người. Chánh nghiệp của vua A Dục là thống trị thiên hạ, nhưng sau khi đã chinh phục thiên hạ thì lại hồi tâm, quy y Phật pháp từ đó giúp cho Đạo Phật phát triển rộng khắp. Vậy chánh nghiệp của vua A Dục là phát triển Phật pháp. Nói chung chánh nghiệp của mỗi người mỗi khác không giống nhau.   

-Chánh mạng正命 samyag-ājīva  : tôn trọng sinh mạng của chúng sinh, không sát sinh hại vật, hại người là giữ cho đời sống của mình được an lành, đó là chánh mạng

-Chánh tinh tấn正精進 samyag-vyāyāma : Thực hành tứ niệm xứ quán thân, thọ, tâm, pháp tới mức thấy  ngũ uẩn giai không mới có thể đạt tới giác ngộ giải thoát. Chánh tinh tấn là phải quán cho tới thấy được tánh không, nếu không thấy tánh không thì tinh tấn mấy cũng là thất bại không thể giác ngộ.  

-Chánh niệm正念 samyak-smṛti : Lục Tổ Huệ Năng dạy : Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà nghĩa là cái niệm vô niệm mới là chánh. Niệm vô niệm là thấy, cảm nhận được tất cả mọi thứ nhưng không cho rằng đó là thật, không chấp thật. Còn niệm hữu niệm là thấy tất cả mọi pháp đều là thật, tin là có thật, tâm niệm chấp thật bất cứ là về việc gì đều là tà. Chính vì vậy trong Kinh Kim Cang phẩm 21 Phật nói với Tu Bồ Đề : “须菩提,汝勿谓如来作是念,我当有所说法。莫作是念。“何以故?“ 若人言如来有所说法,即为谤佛,不能解我所说故。须菩提,说法者,无法可说,是名说法。”

“Này Tu-bồ-đề! Ông chớ bảo Như Lai có làm ra niệm này, rằng  ta có thuyết pháp, đừng nghĩ thế”  “Tại sao thế” “Nếu có ai nói rằng Như Lai có thuyết pháp là phỉ báng Phật, là không hiểu vì sao ta thuyết pháp. Này Tu Bồ Đề, không có pháp để thuyết mới là thuyết pháp”   

-Chánh định正定 samyak-samādhi : Là nhận ra bản tâm vô sinh pháp nhẫn, bất nhị bất biến. Đó là chánh định, giác ngộ giải thoát. Vô sở trụ không còn bị vướng mắc vào không gian, thời gian, số lượng.

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

Con đường tu đạo bao gồm :

2/Tứ niệm xứ 四念處 smṛtyupasthāna còn gọi là Tứ niệm trụ 四念住

Là 4 phép quán trích từ kinh A Hàm 阿含經: Nó đề cập đến việc thiết lập nhận thức liên tục và ổn định từ bốn khía cạnh “thân thể”, “cảm giác”, “tâm trí” và “pháp”. Đó là quán sát thân (thân thể), thọ (cảm giác), tâm (tâm niệm), và pháp (vạn vật)  và cả những thành phần sau đây :

a/Ngũ cái 五蓋 (5 thứ che lấp) :

Tham dục cái 貪欲蓋(ra^ga-a^varan!a, lòng ham muốn chấp trước cảnh giới của ngũ dục từ đó che mờ bản tâm.

Sân khuể cái 瞋恚蓋(pratigha-a^varan!a)lòng thù hận do bất đồng, người khác không nghe theo mình thì tức giận.

Hôn trầm thùy miên cái 睡眠蓋惛沉(stya^na-middha-a^varan!a)sự mê mờ giống như ngủ mê khiến cho tâm trí mê muội, thân thể nặng nề.

Trạo cử ác tác cái 掉舉惡作蓋(auddhatya-kaukr!tya-a^va-ran!a)lòng ham vui tiếc nuối quá khứ khiến tâm xao động bị che mờ, thiền định bị ảnh hưởng không thể tinh tiến, không có chánh kiến, bị tà kiến sai sử.

Nghi cái 疑蓋(vicikitsa^-a^varan!a)lòng nghi ngờ nhưng đây không phải chánh nghi mà chỉ là nghi ngờ xằng bậy không phân biệt được thật giả, chánh tà, nên do dự không quả quyết thực hành thiền địnhnghiêm túc.  

Năm thứ che lấp đó gọi chung là ngũ cái gây trở ngại cho sự giác ngộ khám phá bản tâm. 

b/Ngũ uẩn 五蘊 pañca-skandha là 5 tập hợp :

Tạo thành cái ta của chúng sinh của con người, gồm có :

-Sắc  色 rūpa : vật chất, phần hữu hình của ngũ uẩn.

-Thọ 受 vedanā : cảm giác, thông tin do thân thể tiếp xúc với bên ngoài và cả bên trong cơ thể thể hiện bằng dòng điện tín hiệu.

-Tưởng 想 saṃjñā : tưởng tượng, suy nghĩ, thông tin của 5 giác quan được bộ não tiếp thu và xử lý, phân biệt thành tưởng uẩn

-Hành 行 saṃskāra : chuyển động, di chuyển, hoạt động, vật chất hiện hữu là do chuyển động, cảm giác, suy tưởng cũng đều là do hoạt động của cả 5 uẩn

-Thức 識 vijñāna : phân biệt, nhận thức, sự hoạt động phối hợp của 5 uẩn đem lại khả năng phân biệt, nhận thức của con người về bản thân và thế giới chung quanh. Bản thân tức là ngã 我, thế giới chung quanh tức là pháp giới 法界Dharmadhātu      

c/ Mười tám giới 十八界 Astādaśa dhātavah :

Đây là 18 cảnh giới do ngũ uẩn ngã tạo ra, bao gồm :

-Lục căn 六根 Sadāyatana : 6 cơ quan cảm giác của con người gồm : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, bộ não

-Lục trần 六塵 ṣaḍbāhyāyatana (six gunas) : 6 đối tượng của 6 giác quan trên gồm : sắc (vật chất), thanh (âm thanh), hương (mùi thơm, thúi), vị (cảm giác của lưỡi : ngọt, mặn, cay, đắng, chua…), xúc (cảm giác do tiếp xúc của thân thể : trơn, nhám, êm, rát, nóng, lạnh…), pháp (nhận thức, phân biệt tổng hợp của não bao gồm tất cả mọi cảm giác, tâm niệm, tư tưởng)

-Lục thức 六識 ṣaḍ-vijñāna  : lục căn tiếp xúc với lục trần phát sinh ra lục thức là 6 loại nhận thức gồm : thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác của thân thể, nhận thức tổng hợp của bộ não.

d/Thất giác chi 七覺支  (chi支āṅga là nhánh , bộ phận).

Thất giác chi là 7 thành phần của giác ngộ trong Phật pháp.

-Niệm giác chi 念覺支 là tâm niệm giác ngộ, loại bỏ tạp niệm, duy trì chánh niệm

– Trạch pháp giác ch i擇法覺支 là lựa chọn pháp môn để tu tập, lấy chân bỏ ngụy, lấy chánh bỏ tà

-Tinh tấn giác chi 精進覺支 sau khi đã chọn được pháp môn thích hợp thì nỗ lực tu hành để đi đến giác ngộ

-Hỉ giác chi 喜覺支 kết quả tu tập là tâm luôn được vui tươi hoan hỉ

-Khinh an giác chi 輕安覺支 tâm và thân luôn được nhẹ nhàng an lạc

-Định giác chi 定覺支 tâm thân được an thì dẫn đến tâm định không còn điên đảo mộng tưởng

-Hành xả giác chi 行捨覺支 tâm định thì sáng suốt thấu hiểu, buông bỏ chấp trước, tà kiến, phiền não,khám phá bản tâm bất nhị tức là giác ngộ

 Tứ Diệu Đế, Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi, 18 Giới, Ngũ Uẩn Giai Không  v.v., là quá trình nhận thức để hiểu rõ sự sinh diệt , khổ, vui, ngũ uẩn ngã, đều là ảo hóa, vô thường, không phải chân thật. Thấu rõ bản chất của tất cả các pháp đều là không, thì biết rằng tất cả chỉ là ảo hóa, tạm bợ thì mới giải thoát tất cả mọi  khổ đau, như kinh Bát Nhã nói : Độ nhất thiết khổ ách. Vì biết rằng tất cả đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra, không phải có thật, tâm không tạo thì cái gì cũng không có : không có không gian thời gian, không có vật chất vũ trụ vạn vật, không có số lượng nhiều ít, xa gần, lớn nhỏ, không có Phật, không có chúng sinh, không có pháp, không có khổ vui v.v…   

B. Kết quả tu hành quán tưởng tham thiền

Hành giả quán tứ niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp) có đạt tới kết quả thấy được tất cả chỉ là không (emptiness) hay không ? Nếu không thấy được tánh không của tất cả các pháp thì không có kết quả, không thể giác ngộ, không thể giải thoát. Nếu chỉ nắm được các khái niệm mà tôi đã nêu ra một lô một lốc kể trên, dù cho có thuộc nằm lòng, có thể thuyết giảng thao thao bất tuyệt nhưng không thực sự thấy được tánh không cũng chỉ là vô ích không thể giác ngộ, giải thoát.

Tín đồ theo Đạo Phật trên thế giới có rất đông, có thể lên tới một tỷ người. Nhưng số người giác ngộ giải thoát khám phá được bản tâm vô sinh pháp nhẫn là bao nhiêu ? Có thể nói là cực kỳ ít, hầu như không có. Sau khi hòa thượng Nguyệt Khê ở chùa Vạn Phật Hong Kong kiến tánh để lại nhục thân bất hoại vào năm 1965, từ đó đến nay không nghe nói ai kiến tánh nữa.

Chúng ta vẫn nghe thấy các vị danh tăng viên tịch đều đều nhưng họ có kiến tánh hay không thì không ai dám chắc bởi vì không thấy những hành trạng chứng tỏ.  

Những hành trạng chứng tỏ là thế nào ? Các bậc giác ngộ thời xưa ngộ vô sở trụ đạt được sinh tử tự do. Dưới đây là những thí dụ :

Tam tổ Tăng Xán 僧璨 (529-606CN) 

Tam Tổ Tăng Xán 僧璨 thiền sư, tịch vào năm Tùy Đại Nghiệp thứ hai (606CN) trong triều đại nhà Tùy. Trước khi nhập diệt, Thiền sư Tăng Xán đã từng nói với đại chúng: “Mọi người đều quý ngồi mà tịch cho là chuyện lạ, ta nay đứng mà tịch, thể hiện sinh tử tự do. (Người khác ngồi mà nhập diệt xem rất nghiêm túc, chorằng ra đi như vậy là chuyện hi hữu khó được, ta thì không như thế, hôm nay ta đứng mà tịch để thị hiện cho đại chúng thấy sinh tử tự do, không câu nệ hình thức). ” Nói xong, ông dùng tay vịn vào cành cây tức thì nhập diệt. Về sau được vua Đường Huyền Tông ban Thụy hiệu  là “Giám Trí Thiền sư 鉴智禅师”

Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường)

Câu chuyện nổi tiếng về gia đình Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường) người ở Tương Châu 襄州 nay  là thành phố Tương Dương  襄陽 tỉnh Hồ Bắc 湖北 cũng chứng tỏ sinh tử tự do, không bị trói buộc. Sự trói buộc chỉ là thế lưu bố tưởng (thói quen tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời) chứ không phải tuyệt đối chân thật. 

Bàng Uẩn là một người giàu có, có vợ cùng với một gái tên Linh Chiếu 靈照 và một trai tên Bàng Đại 龐大. Ông cảm thấy tài sản là trói buộc, giống như cục nợ, nên đã đem toàn bộ tài sản đổ hết xuống sông Tương, không giữ lại chút gì, hàng ngày chẻ tre đan sáo cho con gái đem ra chợ bán sống qua ngày. Suy nghĩ của ông thật khác với thói quen trọng tiền bạc, vật chất của con người thời nay. Cả gia đình bốn người đạt được sinh tử tự do, hãy nghe thầy Duy Lực kể trong link dưới đây.

Bàng Uẩn và con gái là Linh Chiếu

Thầy Duy Lực cũng có kể những câu chuyện về sinh tử tự do :

1194 Thiền sư kiến tánh sinh tử tự do, không sợ uy quyền của vua

1128 Người tại gia cũng có thể kiến tánh- Kể chuyện gia đình Bàng Uẩn

Thiền sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价(807-869 CN)

sống vào đời Đường ở tại Hội Kê Chư Tế 会稽诸暨 nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, thọ cụ túc giới năm 21 tuổi. Sư từng gặp Nam Tuyền Phổ Nguyện 南泉普願, thiền sư lĩnh hội ý chỉ Thiền.

Thiền sư Động Sơn Lương Giới

Vào cuối năm Đại Trung (847-860 Công nguyên là niên hiệu của Đường Tuyên Tông Lý Thầm, 唐宣宗李忱) sư thực hành thiền pháp tại Nông Sơn. Ngày 21 tháng 3 năm Hàm Thông咸通thứ 10 (Hàm Thông 860-874CN là niên hiệu của Đường Ý Tông Lý Thôi 唐懿宗李漼), sư bảo đệ tử cạo tóc đắp y cho sư và đánh chuông tập họp đồ chúng. Khai thị xong, sư ngồi kiết già nhập định và lặng lẽ viên tịch. 

Thấy vậy các đệ tử khóc lóc không ngớt. Sư Lương Giới bỗng nhiên mở mắt ngồi dậy nói với họ : “Một người xuất gia tâm lý phải thuần tĩnh không phiền tạp, siêu nhiên không ngưng trệ ở một vật mới đúng là người tu hành chân chính. Bây giờ ta muốn đi mà các ngươi tỏ ra bi ai thảm thiết như thế, chẳng phải quá phàm tục sao ?” Nói xong ông bèn gọi vị tăng chủ sự lại, bảo ông ta chuẩn bị cơm chay. Một lát sau cơm chay được dọn ra, sư mời các đệ tử cùng dùng bữa. Rồi sư lại nói : “Ăn cơm chay xong ta lại đi các ngươi đừng có kh óc nha !”  

Nhưng tâm lý của mọi người vẫn ái mộ sư Lương Giới, mọi người đồng lòng cầu xin sư một cách khổ não bi ai, xin sư sống thêm một thời gian. Sư miễn cưỡng trước sự cầu xin bi thiết đó nên ở lại bảy ngày. Sau bảy ngày sư Lương Giới lại bảo chủ sự chuẩn bị cơm chay đãi tiệc đồ chúng. Tại bàn ăn sư chỉ vào thức ăn chay nói lớn : “Bữa tiệc chay này gọi là bữa cơm chay ngu si ” Trong lời nói có ý trách đồ chúng không lo tu hành đạt tới trí bát nhã, không thâm ngộ giáo pháp của Như Lai, rằng không thật có sanh tử, không đi không đến.

Qua ngày thứ tám sư Lương Giới lại tắm rửa sạch sẽ, ngồi ngay ngắn mà tịch.

Đó là câu chuyện sinh tử tự do, tùy ý sống chết của thiền sư Động Sơn Lương Giới chứng tỏ sự giác ngộ giải thoát.  

Ngộ An thiền sư 遇安禅师(924-995)

Ngộ An thiền sư

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên 五灯会元 quyển 7 kể về Ngộ An thiền sư 遇安禅师 ở chùa Thụy Lộc 瑞鹿寺 chuyện xảy ra vào đời Bắc Tống năm 995 Công nguyên.

Ngộ An không rõ tục danh, ông là thiền sư người Phúc Châu, là một tu sĩ thuộc phái Pháp Nhãn thời Bắc Tống, là người kế thừa của Đức Thiều quốc sư 德韶国师, ông có sự khai ngộ  rất đặc biệt, rất hữu duyên với Kinh Lăng Nghiêm. Ông được xưng tụng là người “Đọc kinh Lăng Nghiêm mà giác ngộ”.

Ngộ An thiền sư trước khi lâm chung tự mình tắm rửa thật sạch sẽ, thay quần áo sạch. Sau khi tĩnh tọa một hồi bèn tự mình vào nằm trong quan tài, đậy nắp lại. Qua ba ngày, các đệ tử muốn tưởng niệm sư phụ bèn mở nắp áo quan, thấy sư phụ đã chết rồi, mọi người đau buồn khóc lên thống thiết. Lúc đó bỗng nhiên sư phụ ngồi dậy rồi thăng đường nói với đại chúng : “ Nếu lần sau mà có người nào còn lén mở nắp áo quan thì không phải là đệ tử của ta” Nói xong lại tự vào trong áo quan nằm và lần này thì viên tịch thật. Sư Ngộ An không chỉ đạt được sinh tử tự tại, tức muốn đi lúc nào thì đi, mà còn có khả năng sau khi nhập quan ba ngày, vẫn có thể tùy ý sống lại, điều đó chứng tỏ sống chết chỉ là hiện tượng giả tạo không phải có thật.

Kết luận

Phật hướng dẫn ban đầu cho những người sơ cơ chưa biết gì về thế giới về Phật pháp, họ sống trong mê muội, điên đảo mộng tưởng, nên phải dùng lời nói để thuyết. Người đời sau ghi chép lại lời Phật thuyết thành kinh điển văn tự. Khi ghi chép như vậy thì vướng vào văn tự, ngữ nghĩa của văn tự chỉ có một chiều là xác định trong khi thực tế là bất định (vô sở trụ). Còn diễn đạt theo kiểu hai chiều, ví dụ “Thuyết pháp giả, vô pháp khả thuyết, thị danh thuyết pháp” hoặc “Chúng sanh, tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh” người đời không thể hiểu nổi.

Còn diễn đạt theo kiểu nhiều chiều như Tứ liệu giản 四料簡 hoặc 四料揀 của Lâm Tế Nghĩa Huyền thì càng rắc rối hơn nữa. Nhưng thực tế vốn dĩ là phức tạp như vậy chứ không đơn giản như các vị sư giảng về Phật pháp cho đám đông tín đồ nghe. Đám đông đó không bao giờ có thể giác ngộ được vì rơi vào biên kiến (lệch một bên) mà biên kiến tức là nhị nguyên, là tà kiến thì làm sao giác ngộ được. Cho nên cuối cùng tín đồ phải buông giáo môn và chuyển qua thiền môn thì mới có thể giác ngộ kiến tánh.

Các nhà khoa học lượng tử ngày nay đã hiểu được thực tế là phức tạp đa đoan. Lượng tử là vô sở trụ, nó không trụ ở 0, không trụ ở 1, không phải vừa 0 vừa 1, cũng không phải phi 0 phi 1, nó là vô sở trụ giống như Tứ liệu giản của Lâm Tế. Họ sáng chế ra bit lượng tử (qubit), chế tạo máy tính lượng tử, ứng dụng tính vô sở trụ của lượng tử và đạt được ưu thế lượng tử (quantum advantage còn gọi là quantum supremacy) vô cùng ấn tượng so với máy tính điện tử.  

Tháng 10-2019 Máy tính lượng tử Sycamore của Google đạt được ưu thế lượng tử so với máy tính điện tử, nó có thể giải quyết một vấn đề toán học hóc búa trong vỏn vẹn 200 giây, bài toán khó đến mức siêu máy tính Summit nhanh nhất thế giới của IBM phải mất 10.000 năm mới giải được.

Tháng 10-2021 TQ đã công bố máy tính lượng tử Tổ Xung Chi (Zuchongzhi 祖沖之) lấy theo tên một nhà toán học TQ thời Nam Bắc Triều. Nó sở hữu hệ thống 66 qubit nếu so với 54 qubit của siêu máy tính lượng tử Sycamore của Google. Đồng thời các qubit của Zuchongzhi cũng có phần khác biệt so với của Sycamore khi nó sử dụng qubit quang tử thay vì qubit siêu dẫn (phải đặt hệ thống ở nhiệt độ âm 273 độ C), điều này giúp nó có sức mạnh và lợi thế tốt hơn. Khả năng của Tổ Xung Chi nhanh gấp 10 triệu lần siêu máy tính nhanh nhất thế giới năm 2021 là Fugaku của Nhật.

Ngoài ra tờ South China Morning Post ngày 26-10-2021 dẫn thông tin từ nhóm nghiên cứu cho biết máy tính lượng tử Cửu Chương-2 (Jiuzhang-2 九章二号) sử dụng 113 qubit có thể thực hiện một phép tính lượng tử được gọi là lấy mẫu boson Gaussian quy mô lớn (GBS) nhanh hơn 1 triệu tỉ tỉ lần (1 septillion = 1.000.000.000.000.000.000.000.000) so với siêu máy tính nhanh nhất thế giới năm 2021 Fugaku của Nhật.

Tóm lại về mặt tâm linh thì tánh không vô sở trụ là giác ngộ giải thoát đạt được sinh tử tự do như các vị thiền sư kiến tánh đã chứng tỏ. Về mặt khoa học kỹ thuật thì tánh không vô sở trụ đem lại những hiệu ứng to lớn trong đời sống thực tế hàng ngày chẳng hạn máy tính lượng tử là niềm hy vọng để đạt tới viễn tải lượng tử (quantum teleportation) đi xa không giới hạn và không mất thời gian. Hoặc chế tạo máy in 3D lượng tử có thể in ra lương thực thực phẩm và tất cả mọi thứ hàng tiêu dùng của con người. Phật pháp và Khoa học cũng là bất nhị chứ không phải Phật pháp chỉ là tâm linh còn Khoa học là duy vật, hai con đường khác nhau và không thể gặp nhau như nhiều người suy nghĩ. Suy nghĩ như vậy là trái với nguyên lý bất nhị của Phật pháp.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

THÔNG TIN VÀ VẬT CHẤT ĐỒNG HAY KHÁC ?

Thông tin (information) và vật chất (material) là cùng một thứ hay là hai thứ hoàn toàn khác nhau ? Câu trả lời có lẽ cũng giống như giữa vật chất và năng lượng (energy).

Tương quan giữa vật chất và năng lượng

Trước khi Einstein xác định được công thức chuyển đổi giữa vật chất và năng lượng :

E= mc2  

Thì người ta nghĩ rằng vật chất và năng lượng là hai thứ khác nhau, chúng không thể chuyển hóa cho nhau được. Nhưng sau khi đã khám phá ra công thức chuyển hóa thì người ta mới biết rằng chúng không hoàn toàn khác nhau, bản thể chúng chỉ là một thôi.

Niềm tin của nhân loại càng được củng cố khi người ta tạo ra được vụ nổ nguyên tử tức là bom nguyên tử. Mỹ là quốc gia đầu tiên chế tạo được bom nguyên tử, người Mỹ liền sử dụng nó ngay, họ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản để buộc nước này đầu hàng, kết thúc Thế chiến thứ hai.

Sau này người ta tìm cách kiểm soát phản ứng dây chuyền của nguyên tử để chế tạo ra nhà máy điện nguyên tử. Nhà máy điện nguyên tử gồm có một số lò phản ứng hạt nhân có kiểm soát để biến năng lượng nguyên tử thành điện năng để phục vụ cho sản xuất và đời sống. Bản chất của nhà máy điện nguyên tử là biến vật chất, cụ thể là uranium thành năng lượng, cụ thể là biến ra điện năng phục vụ cho đời sống con người.

Trong thực tế là người ta không biến đổi hoàn toàn vật chất thành năng lượng mà chỉ biến nguyên tố uranium 235 thành uranium 236, krypton và barium, giải phóng được một phần năng lượng và biến nó thành điện năng.

Đây là phản ứng phân hạch

Phản ứng phân hạch chỉ giải phóng được một phần của năng lượng vật chất, do đó người ta vẫn còn phải sử dụng một số lượng uranium đáng kể để làm nhiên liệu ban đầu và chất thải hạt nhân còn rất nhiều trở thành một vấn đề khó giải quyết và nguy hiểm. Bởi vì phản ứng phân hạch sản sinh ra rất nhiều tia phóng xạ nguy hiểm cho con người.

Một số tai nạn của các nhà máy điện nguyên tử đem lại thảm họa cho môi trường và con người. Điển hình là thảm họa hạt nhân của nhà máy điện nguyên tử Chernobyl năm 1986 tại Ukraina và tai nạn của nhà máy điện nguyên tử Fukushima tại Nhật Bản năm 2011.

Hiện nay người ta tìm cách giải phóng năng lượng từ vật chất bằng một cách khác thay vì bằng cách phân hạch, người ta tạo phản ứng hợp hạch còn gọi là tổng hợp nhiệt hạch, cụ thể người ta cho hai nguyên tử đồng vị của hydrogen là deuterium 2H và tritium 3H kết hợp với nhau sẽ cho ra helium 4He và giải phóng rất nhiều năng lượng. Nhưng điều kiện cho phản ứng hợp hạch là nhiệt độ cực cao vì vậy phản ứng này còn gọi là tổng hợp nhiệt hạch (thermonuclear fusion), nó giống như phản ứng xảy ra bên trong Mặt trời. Đó là phản ứng hợp hạch, nó không sản sinh ra những tia bức xạ nguy hiểm. Nhiệt độ ở trung tâm Mặt trời vào khoảng 15 triệu độ C nhưng dưới áp lực rất lớn do khối lượng của Mặt trời là rất lớn. Trên Trái đất người ta không thể tạo được áp lực lớn như vậy, do đó người ta phải tăng nhiệt độ lên gấp bội so với Mặt trời để cho phản ứng xảy ra.

Đây là phản ứng hợp hạch

Ngày 31-12-2021, Tân Hoa xã cho biết lò phản ứng Tokamak siêu dẫn tiên tiến thử nghiệm (EAST= Experimental Advanced Superconducting Tokamak), còn gọi là “mặt trời nhân tạo” của Trung Quốc, đã duy trì được nhiệt độ 70 triệu độ C trong 1.056 giây, tức là 17 phút 36 giây. Đây là thời gian duy trì lâu nhất trong lò phản ứng tổng hợp nhiệt hạch so với tất cả các lò Tokamak trên thế giới.

Khi lò phản ứng tổng hợp nhiệt hạch được thương mại hóa thành công thì sẽ đem lại nguồn năng lượng an toàn cho con người. Khó khăn hiện nay là vì phản ứng đòi hỏi nhiệt độ cực cao nên nguồn năng đầu vào còn lớn hơn nguồn năng lượng đầu ra nên chưa đem lại hiệu quả.

Tương quan giữa thông tin và vật chất

Sự khác nhau giữa thông tin và vật chất còn lớn hơn giữa năng lượng và vật chất. Thông tin là thức, nhận thức, sự hiểu biết. Nó thuộc lĩnh vực tinh thần hoàn toàn khác hẳn với lĩnh vực vật chất nên rất khó hình dung rằng hai thứ này đồng bản chất. Do đó trong giới khoa học rất ít ai nghĩ rằng thông tin và vật chất là đồng.

Nhưng trong giới tôn giáo thì lại khác. Phật giáo từ lâu đã nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo. Tâm vốn là tinh thần, là thông tin. Tâm tạo ra vật chất, điều này cũng có nghĩa là vật chất tức là tâm. Vũ trụ là tâm, Mặt trời mặt trăng là tâm, Trái đất là tâm, sơn hà đại địa là tâm, vạn vật là tâm, ngũ uẩn của chúng ta là tâm. Mà tâm cũng là thức, là thông tin. Phật giáo cũng đã nói Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, tất cả đều là tâm, do tâm tạo. Vậy rõ ràng Phật giáo nói thông tin là vật chất. Vật chất là tâm, thông tin cũng là tâm. Vậy vật chất là thông tin, quá rõ ràng phải không ?      

Hiện nay rất nhiều nhà khoa học chưa công nhận thông tin là vật chất. Họ cho rằng hai thứ đó hoàn toàn khác nhau, không thể là một được. Nhưng trong Phật giáo có một nguyên lý rất cơ bản rất nền tảng cho mọi nhận thức mà có nhiều Phật tử đã nghe nói. Đó là nguyên lý bất nhị. Nhưng có lẽ nhiều người không hiểu, không thể hiểu, không thể tin vào nguyên lý bất nhị, kể cả nhà khoa học số 1 thế giới là Einstein cũng không hiểu không tin. Tại sao tôi dám nói như vậy ? Bởi vì Einstein đã tuyên bố rõ ràng không thể nhầm lẫn được. Ông tuyên bố 2 câu :

1/Trong một bức thư năm 1945, Einstein viết (nguyên văn) “God tirelessly plays dice under laws which he has himself prescribed.” (Chúa chơi xúc xắc không mệt mỏi theo luật mà chính Ngài đã lập ra)

2/ “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Câu thứ nhất cần giải thích thêm, câu nguyên văn của Einstein nói Chúa có chơi xúc xắc nhưng theo một quy luật xác định do ngài lập ra. Vậy ý của ông là thế giới vẫn là xác định, còn việc Chúa chơi xúc xắc chỉ là xác suất thống kê thôi, chứ ông không đồng ý với một số nhà khoa học khác nhất là Niels Bhor. Theo quan điểm của Bhor, thế giới là bất định. Hạt cơ bản khi bị cô lập thì trừu tượng. “Isolated material particles are abstractions” (Niels Bohr). Bị cô lập tức là tách khỏi sự nhận thức của chủ thể, của con người. Thí nghiệm hai khe hở (Double slit experiment) nổi tiếng đã chứng tỏ cho sự nhận định này của Bhor.   

Để minh bạch hơn nữa, chúng ta cần biết Einstein và Bhor có một cuộc tranh luận lớn nhất thế kỷ 20 về vấn đề hạt cơ bản của vật chất luôn luôn có sẵn đặc trưng đặc điểm hay nó không có sẵn, chỉ khi có người quan sát, đặc trưng mới xuất hiện.

Quan điểm của Bhor nói rằng hạt cơ bản không có sẵn đặc trưng, chỉ khi nào có người quan sát thì đặc trưng mới xuất hiện, đó là quan điểm cho rằng thế giới là bất định.

Quan điểm của Einstein là hạt cơ bản như photon hay electron luôn luôn có sẵn đặc trưng. Quan điểm đó muốn nói thế giới là xác định, là khách quan. Câu tuyên bố thứ 2 của Einstein nói về Mặt trăng nói rõ lập trường của Einstein, ông cho rằng Mặt trăng là vật thể khách quan. Chính vì lập trường của Einstein thiên về quan điểm cho rằng thế giới là xác định nên các nhà khoa học đã chỉnh sửa câu tuyên bố số 1 của ông thành “God does not play dice with the universe.” (Chúa không chơi trò xúc sắc với vũ trụ) để cho lời nói và quan điểm của ông nhất quán với nhau. Video sau đây của nhà vật lý Brian Greene chứng tỏ lập trường của Einstein cho rằng thế giới là xác định.  

Einstein giải thích sự liên kết lượng tử bằng lý luận về đôi găng tay

Có lẽ tất cả chúng ta, tuyệt đại đa số nhân loại đều cho rằng lập trường của Einstein là đúng đắn, Mặt trăng là vật thể khách quan. Nhưng con người không ngờ rằng đến năm 1982 lúc cả Einstein và Bohr đều đã qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962) thì tại Paris, Alain Aspect đã tiến hành cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử, lần đầu tiên chứng tỏ cho thế giới thấy rằng  lập trường của Einstein là sai, Bohr mới đúng. Đặc trưng của hạt cơ bản chỉ xuất hiện khi có người quan sát, Thế giới bề ngoài thấy có vẻ xác định nhưng bản chất thật sự là bất định. Tiến sĩ vật lý Amit Goswami cũng đã chỉ rõ khi nào thì hạt electron mới xuất hiện và xác định được vị trí trong video sau :

Tiến Sĩ Amit Goswami Nói Về Tính Chất Electron

Vô hình trung quan điểm của Bohr phù hợp với Phật giáo. Vũ trụ vạn vật là do tâm tạo, tùy theo thói quen của tâm (tập khí) thế nào thì thế giới sẽ hiện ra thế ấy. Điều đó cũng giải thích tại sao cảnh giới tùy theo nghiệp (tập khí) mà xuất hiện.     

Vũ trụ bao gồm không gian, thời gian, số lượng, vật chất, đều là do tâm tạo. Tâm không tạo thì không có vũ trụ.

Thế giới, cả vật chất và tinh thần đều là tâm, là thức, thì hiển nhiên vật chất là thông tin, thông tin là vật chất, hai thứ này có thể chuyển hóa cho nhau, cũng tương tự như sự chuyển hóa giữa vật chất và năng lượng.

Từ Thông tin về Cái Ví Da có thể Phục hồi Cái Ví Da Vật chất

Thí dụ về cái ví da ném vào hố đen của nhà khoa học Brian Greene là một lập luận cho rằng một vật thể bằng vật chất có hai hình thức hiện hữu, một là hình thái vật chất trong không gian 3 chiều mà chúng ta đã quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của con người, hai là hình thái thông tin tương tự như thông tin trong các thiết bị tin học mà con người cũng đã bắt đầu quen thuộc từ cuối thế kỷ 20, thông tin thuộc không gian 2 chiều tức nằm trong mặt phẳng. Ông tin rằng từ hình thái thông tin này vật thể có thể hoàn toàn khôi phục hình thái vật chất. Quan điểm của Brian Greene phù hợp với nguyên lý bất nhị của Phật giáo.

Hiện nay khoa học chưa chuyển hóa được giữa thông tin và vật chất. Đó là việc chưa làm được vào lúc này chứ không phải vĩnh viễn không thể làm được. Lý do chưa làm được là vì số lượng thông tin của một vật thể vật chất cực kỳ lớn, vượt xa khả năng xử lý của máy tính điện tử hiện nay. Ngoài ra người ta cũng nhận ra rằng thông tin về một vật thể có dạng giống như một toàn ảnh (holography). Và vũ trụ mà chúng ta sống trong đó cũng là một vũ trụ toàn ảnh (the holographic universe).

Tuy vậy hiện nay cũng đã có một số mầm mống cho thấy có sự chuyển hóa ở mức độ hạt cơ bản. Đó là sự kiện viễn tải lượng tử (quantum teleportation). Chúng ta biết rằng hạt photon và hạt electron, đó cũng chính là vật chất. Những hạt đó có thể chứa đựng thông tin hoặc chúng ta có thể nói rằng bản thân chúng là thông tin cũng được.

Chúng có thể chứa bất cứ đặc trưng đặc điểm gì mà chúng ta muốn gán ghép đều được cả. Các nhà khoa học hiện nay có thể lợi dụng chúng để tạo ra chip bán dẫn. Chip bán dẫn có diện tích bằng cái móng tay nhưng chứa hàng tỷ bóng bán dẫn (transistor). Chúng tạo thành thông tin dưới dạng số nhị phân. Hệ thống số nhị phận chỉ có 2 số cơ bản thôi, đó là 0 và 1. Khi mạch hở, không có dòng điện (electron) chạy qua được gán là số 0. Khi mạch đóng, có dòng điện chạy qua được gán là số 1. Tất cả mọi đặc trưng đặc điểm của vũ trụ vạn vật đều được gán cho một con số (digital), đó là số hóa (digitizing). Tập hợp của tất cả mọi con số hình thành nên một vật chính là thông tin và thông tin có thể gởi đi xa dễ dàng qua các đường cáp quang hoặc các loại sóng vô tuyến. Ví dụ thông tin về một hình ảnh của một bức họa có thể chuyển từ bên Bắc Mỹ về VN chỉ trong tích tắc dưới dạng số. Khi đến nơi thông tin dạng số có thể nhanh chóng biến thành hình ảnh với đầy đủ đặc điểm qua một app giải mã. Ví dụ :

Cảnh lá phong mùa thu ở Canada

Trong thí nghiệm về liên kết lượng tử, người ta còn thấy có một phương thức chuyển thông tin đi xa thần kỳ hơn nữa, lợi dụng sự liên kết nội tại của lượng tử cũng tức là của hạt cơ bản, của vật chất, người ta có thể dùng cách thay thế để chuyển một hạt photon đi xa mà không mất thời gian, thực chất là không có di chuyển. Chẳng hạn video này mô tả cách làm đó như sau :

Lý luận dựa trên thực nghiệm và viễn ảnh của viễn tải lượng tử

Để cho viễn tải lượng tử trở thành hiện thực, con người cần chế tạo máy tính lượng tử có tốc độ kinh hồn nhanh gấp hàng tỷ tỷ tỷ lần so với máy tính điện tử hiện nay.

Gần đây nhân loại đã có tiến bộ trong việc chế tạo máy tính lượng tử.

Tháng 10-2019 Máy tính lượng tử Sycamore của Google đạt được ưu thế lượng tử so với máy tính điện tử, nó có thể giải quyết một vấn đề toán học hóc búa trong vỏn vẹn 200 giây, bài toán khó đến mức siêu máy tính Summit nhanh nhất thế giới của IBM phải mất 10.000 năm mới giải được.

Tháng 10-2021 TQ đã công bố máy tính lượng tử Tổ Xung Chi (Zuchongzhi 祖沖之)lấy theo tên một nhà toán học TQ thời Nam Bắc Triều. Nó sở hữu hệ thống 66 qubit nếu so với 54 qubit của siêu máy tính lượng tử Sycamore của Google. Đồng thời các qubit của Zuchongzhi cũng có phần khác biệt so với của Sycamore khi nó sử dụng qubit quang tử thay vì qubit siêu dẫn (phải đặt hệ thống ở nhiệt độ âm 273 độ C), điều này giúp nó có sức mạnh và lợi thế tốt hơn. Khả năng của Tổ Xung Chi nhanh gấp 10 triệu lần siêu máy tính nhanh nhất thế giới năm 2021 là Fugaku của Nhật.

Máy tính lượng tử Tổ Xung Chi

Ngoài ra tờ South China Morning Post ngày 26-10-2021 dẫn thông tin từ nhóm nghiên cứu cho biết máy tính lượng tử Cửu Chương-2 (Jiuzhang-2九章二号) sử dụng 113 qubit có thể thực hiện một phép tính lượng tử được gọi là lấy mẫu boson Gaussian quy mô lớn (GBS) nhanh hơn 1 triệu tỉ tỉ lần (1 septillion = 1.000.000.000.000.000.000.000.000) so với siêu máy tính nhanh nhất thế giới năm 2021 Fugaku của Nhật.

Máy tính lượng tử Cửu Chương-2

Chỉ những máy tính lượng tử có tốc độ nhanh khủng khiếp như thế mới có hy vọng biến vật chất thành thông tin và chuyển đi xa không giới hạn và không mất thời gian bằng phương thức viễn tải lượng tử. 

Kết luận

Từ xa xưa Phật giáo đã nêu lên một nguyên lý gọi là bất nhị, ý nói rằng toàn thể vũ trụ vạn vật đều xuất phát từ cùng một nguồn gốc là tâm bản nguyên gọi là vô sinh pháp nhẫn. Như vậy toàn thể vũ trụ vạn vật với thiên hình vạn trạng đều có cùng một nguồn gốc nên mặc dù bề ngoài thấy thông tin và vật chất là vô cùng khác nhau nhưng bên trong bản chất của chúng lại là một.

Thế nên khi chúng ta nói thông tin và vật chất là đồng (giống nhau) hay dị (khác nhau) cũng đều là không đúng. Bởi vì như kinh Bát Nhã nói Sắc bất dị Không. Sắc là vật chất, là hữu thể, là Có. Còn Không là trống không, là vô thể, là Không Có. Vậy làm sao mà chúng đồng được, nhưng chúng cũng không phải là dị, bởi vì chúng có thể chuyển hóa cho nhau.

Về mặt khoa học thì các nhà vật lý đã biết tất cả mọi hạt cơ bản đều có lưỡng tính sóng hạt. Sóng thì ở khắp mọi nơi không có vị trí nhất định, không có số lượng, không có thời gian. Còn hạt thì trái ngược lại, có vị trí, có số lượng, có thời gian.

Tất cả chúng ta đều chấp vào hạt (chấp có) nên bị vướng mắc, sự vướng mắc này là nguồn gốc của đau khổ. Đời là bể khổ, đó là miêu tả của Tứ diệu đế. Thật ra miêu tả đó là biên kiến, chỉ đúng một nửa thôi. Không phải thế gian là khổ mà chính thói quen chấp thật (tập khí chấp có) mới là khổ. Khi một hành giả đã phá được chấp ngã, phá được chấp pháp thì có thể vẫn sống trên thế gian mà không còn khổ nữa. Bát Nhã Tâm Kinh có câu :

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại (tức Quán Thế Âm) khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Bên Thiền cũng có một câu chuyện nói về bất nhị, đối đáp giữa thiền sư Quế Sâm và Pháp Nhãn Văn Ích.

Khi Văn Ích trình bất cứ kiến giải nào sư Quế Sâm cũng đều đưa 2 ngón tay ý nói đó là nhị chưa phải giác ngộ.

Công án Thiền giữa Quế Sâm và Pháp Nhãn Văn Ích

Cuối cùng khi Quế Sâm nói : Tất cả đã sẵn sàng thì Văn Ích chợt liễu ngộ. 

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

HIỂU THẾ GIỚI NHƯ THẾ NÀO ?

Sự hiểu biết thông thường về thế giới

Thông thường chúng ta hiểu thế giới là quả Địa cầu còn gọi là Trái đất. Nó là một hành tinh trong Thái dương hệ gồm có 8 hành tinh chính thức (Kể từ năm 2006 hành tinh xa mặt trời nhất là Diêm Vương Tinh không được coi là hành tinh nữa). Địa cầu là hành tinh thứ ba tính từ mặt trời ra phía ngoài. Hành tinh thứ tư là Hỏa Tinh đang được con người khám phá, hiện nay có hai quốc gia có xe tự hành đang hoạt động trên bề mặt Hỏa Tinh là Mỹ và TQ. Thái dương hệ thì nằm trong Dải Ngân Hà. Dải Ngân Hà là một thiên hà có đường kính khoảng 100.000 năm ánh sáng. Các nhà khoa học ước tính trong vũ trụ có khoảng 2 ngàn tỷ thiên hà, Dải Ngân Hà chỉ là một trong số đó, nó có khoảng từ 100-400 tỷ ngôi sao, mỗi ngôi sao tương tự như Mặt trời của chúng ta và cũng có những hành tinh quay xung quanh.

Vũ trụ rộng bao nhiêu ? Theo tính toán của các nhà thiên văn đường kính của vũ trụ là khoảng 93 tỷ năm ánh sáng. Tuổi của vũ trụ hiện nay là bao nhiêu ? Các nhà thiên văn nói rằng vũ trụ khởi đầu từ một vụ nổ lớn gọi là Big Bang, và từ đó đến nay là khoảng 13,8 tỷ năm.

Đó là những tri thức cơ bản về vũ trụ mà con người đang sống trong đó. Cái vũ trụ đó gọi là vũ trụ vật lý. Nó được hình thành trên cơ sở vật chất, không gian và thời gian. Vật chất được cấu tạo bằng những hạt cực kỳ nhỏ gọi là hạt cơ bản của vật chất (fundamental-hoặc basic hay elementary- particles of matter). Rồi các hạt cơ bản lại cấu tạo thành nguyên tử, phân tử, vật thể, thiên thể, chất sống, sinh vật, con người. Không gian là cái khoảng trống trong đó có chứa các hạt cơ bản và các loại vật thể. Thời gian là đại lượng để đo khoảng cách không gian và sự chuyển động. Ví dụ thời gian để Trái đất đi giáp một vòng chung quanh Mặt trời là 365 ngày đêm. Một ngày đêm là thời gian Trái đất xoay được một vòng quanh trục của nó và có thể tính bằng một đơn vị nhỏ hơn là giờ, một ngày đêm bằng 24 giờ. Thời gian để máy bay đi từ Sài Gòn ra Hà Nội hoặc ngược lại trung bình là 1 giờ 45 phút. Thời gian truyền tín hiệu từ Trái đất đến Hỏa tinh ở khoảng cách ngắn nhất (56 triệu  km) là 186 giây (3 phút 6 giây)

Thời gian truyền tín hiệu từ Trái đất đến Hỏa tinh ở khoảng cách xa nhất (225 triệu  km) là 750 giây.

Nhưng thực tế không truyền được vì tín hiệu không thể đi xuyên qua Mặt trời (Sun), do đó phải đợi lúc đường thẳng nối liền Trái đất và Hỏa tinh không đi xuyên qua Mặt trời (lệch khỏi sự giao hội –conjunction) thì mới liên lạc được.

Do đó thời gian truyền tín hiệu sẽ nhỏ hơn 750 giây (12 phút 30 giây). Tóm lại muốn truyền tín hiệu từ Trái đất (Earth)  tới Hỏa tinh (Mars), phải mất thời gian từ 3 phút 6 giây tới khoảng 12 phút tùy thuộc vào vị trí tương đối của hai thiên thể này. Nói tròn theo thực tế là từ 4 phút tới 13 phút.

Thế giới bao gồm các châu lục như Á châu, Âu châu, Mỹ châu, Phi châu, Úc châu, Nam Cực châu. Và các đại dương Thái bình dương, Ấn độ dương, Đại tây dương, Bắc băng dương. Thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng dân số hiện nay là 7,8 tỷ người. Các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ lớn hoặc có sức mạnh kinh tế kỹ thuật hoặc xuất khẩu có ảnh hưởng nhiều tới thế giới là Mỹ, 330 triệu dân, TQ 1,4 tỷ dân, Ấn Độ 1,35 tỷ dân, Indonesia 280 triệu dân, Brazil 216 triệu dân, Nga 146 triệu dân, Nhật 125 triệu dân, Việt Nam 99 triệu dân, Hàn Quốc 51 triệu dân,  Đài Loan 24 triệu dân,  v.v…

Tất cả những tri thức trên là sự hiểu biết thông thường về thế giới. Tất cả chỉ là khái niệm mà thôi chứ không phải là chân lý.

Chân lý phải như thế nào ?

Chân lý là cái bất biến, không thay đổi trong bất cứ hoàn cảnh nào. Các định lý (toán học) hoặc các định luật (vật lý học) có phải chân lý không ? Hoặc vật chất có phải là chân lý không ?

Câu trả lời là không phải, vật chất hay các định lý, định luật, cũng không phải là chân lý bởi vì chúng vẫn có thể biến đổi.

Vật chất không phải là chân lý bởi vì các hạt cơ bản có thể biến đổi với hai hình thái rất khác nhau. Hình thái sóng không thể xác định vị trí không gian, thời gian hay số lượng, không có đặc trưng đặc điểm. Hình thái hạt, có thể xác định vị trí không gian, thời gian hay số lượng, có đặc trưng đặc điểm. Ví dụ khi sóng electron đã biến thành hạt electron thì người ta có thể xác định vị trí của nó, số lượng, điện tích, số đo spin v.v…Nhưng khi nào thì sóng biến thành hạt ? Khi có người quan sát, có tâm niệm hay có cảm biến (sensor) thì sóng biến thành hạt. Hiện tượng này khoa học gọi là sự sụp đổ của của chức năng sóng (the collapse of the wave function).

Sóng biến thành hạt khi có người quan sát

Không có người quan sát thì sóng vẫn là sóng, qua 2 khe hở sóng giao thoa tạo ra nhiều vạch trên màn hứng. Có người quan sát thì sóng sụp đổ thành hạt, màn hứng chỉ có 2 vạch tương ứng với 2 khe hở. 

Định lý toán học cũng không phải là chân lý. Ví dụ tổng số 3 góc của một tam giác bằng 180 độ theo hình học phẳng nhưng qua hình học không gian cong thì tổng 3 góc của một tam giác lớn hơn 180 độ. Công thức số học 1+1=2  chỉ đúng trong quan điểm thông thường. Còn trong lĩnh vực lượng tử, hạt trở thành ảo, không có thật, nên không có số lượng. Trong thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) một hạt photon có thể xuất hiện ở vô số vị trí khác nhau, khoảng cách không gian hay thời gian giữa các vị trí là không có thật, sự di chuyển cũng là không có thật. Năm 2017 TQ đã tiến hành thí nghiệm về liên kết lượng tử sau khi họ đã phóng vệ tinh lượng tử Mặc Tử lên không gian một năm trước đó, họ đã tạo được liên kết giữa hai vị trí cách xa nhau 1200 km, có nghĩa là tạo được hiệu ứng giống như hạt photon đã di chuyển tức thời 1200 km mà không mất thời gian (thực tế là không có di chuyển). Thí nghiệm này chứng tỏ một điều vô cùng quan trọng, đó là không gian, thời gian, chỉ là khái niệm, là tâm niệm chứ không có thực. Do đó công thức 1+1=2  không còn đúng nữa, hai hạt photon ở cách nhau 1200km cũng chỉ là một hạt mà thôi. Nó biến mất ở vị trí A và xuất hiện ở vị trí B cách đó 1200 km nhưng không có di chuyển , bởi vì khoảng cách 1200km là không có thật, nó chỉ là tưởng tượng mà thôi. Mà nó cũng là đồng thời xuất hiện ở hai vị trí A và B. Phật giáo gọi đó là bất nhị (không phải hai mà cũng không phải một, là bất định, không có số lượng). Điều này ngày nay trở nên rất quen thuộc, một hình ảnh có thể xuất hiện đồng thời ở vô số chiếc điện thoại. Còn một vật thể lớn chẳng hạn  cái bàn của ông tỷ phú Hong Kong Lý Gia Thành thì biến mất ở nhà ông ấy rồi xuất hiện ở văn phòng làm việc của ông ấy chứ không có di chuyển giữa hai nơi nhà và văn phòng.

Ngày nay người ta ứng dụng nguyên lý bất nhị để chế tạo máy tính lượng tử, dùng khái niệm qubit (bit lượng tử) qubit là bất định (không phải 0, không phải 1, không phải vừa 0 vừa 1, cũng không phải không 0, không 1) tương ứng với tứ liệu giản 四料簡 của thiền sư Lâm Tế 臨濟   

Ứng dụng của Tứ liệu giản

四料簡 臨濟義玄 Tứ liệu giản Lâm Tế Nghĩa Huyền

奪人不奪境 Đoạt nhân bất đoạt cảnh Bỏ người không bỏ cảnh

奪 境不奪人 Đoạt cảnh bất đoạt nhân Bỏ cảnh không bỏ người

人境俱奪 Nhân cảnh câu đoạt Người và cảnh đều bỏ

人境俱不奪 Nhân cảnh câu bất đoạt Người và cảnh đều không bỏ

Liệu 料 nghĩa đen là vật liệu chất liệu. Nghĩa bóng là cân nhắc liều lượng

Giản 簡 nghĩa đen là cái thẻ tre. Nghĩa bóng ở đây là chọn lựa (đồng nghĩa với giản 揀chọn lựa)

Vậy tứ liệu giản là 4 cách cân nhắc chọn lựa cho phù hợp với người học đạo từ thấp tới cao. Người đưa ra bài kệ tứ liệu giản là thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, ông tùy theo căn cơ của người học mà có lời chỉ giáo không giống nhau nhưng mục tiêu cuối cùng cũng là giác ngộ. Đó là nói về phương diện tâm lý.

Còn về phương diện vật lý, lượng tử có 4 cách hành xử giống như tứ liệu giản , không nhất định phải theo cách nào, tức là nó không phải luôn luôn xác định.

Ngày 23-10-2019 Google đã cho ra đời máy tính lượng tử mang tên Sycamore. Theo Google thì máy tính lượng tử Sycamore của họ có thể giải quyết một vấn đề toán học hóc búa trong vỏn vẹn 200 giây, bài toán khó đến mức siêu máy tính điện tử nhanh nhất thế giới Summit của IBM phải mất 10.000 năm mới giải xong.

Máy tính lượng tử khi đạt tới tốc độ gấp hàng tỷ tỷ tỷ lần so với máy tính điện tử thì có thể sẽ được dùng để gởi vật thể đi xa chẳng hạn gởi một gói hàng, thậm chí gởi một con người đi xa trong tích tắc. Cái này gọi là viễn tải lượng tử (quantum teleportation). Vài nhà vật lý đã làm phim minh họa viễn cảnh di chuyển một người đi xa bằng phương thức viễn tải lượng tử.

Như thế thì một người có thể đi từ New York qua Paris chỉ trong tích tắc mà thôi bởi vì không gian và thời gian là không có thật, chỉ một niệm là tới. Khoa học có thể ứng dụng Tứ liệu giản của Lâm Tế để thực hiện một cảnh giới giác ngộ thoát khỏi sự ràng buộc của thời không (space-time).

Tóm lại chân lý thì không thể khẳng định được. Kinh Kim Cang gọi là vô sở trụ. Những cái gì, điều gì mà con người khẳng định được, nắm bắt được thì không phải chân lý.

Các định luật vật lý cũng chỉ có tác dụng giới hạn trong một môi trường nhất định nào đó thôi. Ví dụ định luật về trọng trường. Sở dĩ các vật thể bị rơi xuống mặt đất vì Trái đất có lực hút gọi là lực hấp dẫn (gravitational force). Vật bị rơi càng lúc càng nhanh theo một gia tốc là :

g ≈ 9,8 m/s2

Tuy nhiên ở một khoảng cách khá xa mặt đất, khoảng 400 km thì vật không còn bị rơi xuống nữa, trạng thái đó là không trọng lực khi gia tốc trọng trường g gần bằng 0, hoặc trọng lực rất nhỏ gọi là vi trọng lực (microgravity). 

Phi hành gia trên trạm không gian có thể bay lơ lững trong phòng không bị rơi xuống sàn

Một ví dụ khác là định luật Archimèdes. Nhúng một vật vào chất lỏng, hay chất khí, ta sẽ thấy vật đó bị lưu chất đẩy thẳng từ dưới lên trên bằng một lực có độ lớn đúng bằng trọng lượng của phần chất lỏng hay chất khí mà vật chiếm chỗ. Lực đó được gọi là lực đẩy Archimèdes. Lực này được ứng dụng rất nhiều trong tàu thuyền và khinh khí cầu. Tàu thuyền bằng sắt vẫn có thể nổi trên mặt nước dù sắt nặng hơn nước nhưng con tàu sắt vẫn nổi vì trọng lượng của khối nước mà tàu chiếm chỗ vẫn lớn hơn trọng lượng của chiếc tàu, lực đẩy do khối nước đó tạo ra giúp nâng con tàu lên mặt nước. Khinh khí cầu có thể giúp con người bay lơ lững trong không khí. Đèn trời có thể bay trong bầu khí quyển vì ngọn lửa bên trong túi đèn đốt nóng không khí bên trong khiến nó nhẹ hơn không khí bên ngoài, lực đẩy Archimèdes đẩy ngọn đèn bay lên.

Tuy nhiên ở trong môi trường không gian thì lực đẩy Archimèdes không có tác dụng vì không gian không có không khí. Nhưng vật vẫn có thể lơ lững vì không có lực trọng trường hay nói cho đúng là lực trọng trường rất nhỏ (vi trọng lực- microgravity). 

Còn thế giới thực tế có hoàn toàn giống như cái hiểu biết thông thường của chúng ta không ?

Thế giới thực tại  

Thế giới thực tại cũng là thế giới ảo hóa do tâm niệm tạo ra thôi. Nó cũng dựa trên vật chất, không gian và thời gian theo như tâm niệm của con người. Chúng ta vẫn phải dựa vào thế giới đó để ứng xử nhưng với thái độ thức tỉnh, không quá điên đảo mộng tưởng, không quá cố chấp. Nên có một sự điều hòa nhất định, không thái quá, không bất cập. Dưới đây là luận giải vì sao phải ứng xử như vậy.

Chúng ta hiểu rằng cộng nghiệp chi phối thế giới còn biệt nghiệp chi phối bản thân mình.

Chúng ta rất khó thay đổi cộng nghiệp của một quốc gia hay một xã hội vì nó bị tác động bởi số đông, sức của ta khó lòng can thiệp được. Ta chỉ có thể thay đổi tâm niệm của mình để dần dần thay đổi biệt nghiệp. Ví dụ tâm ta bớt cố chấp hơn, bớt xung khắc với những người chung quanh thì cảnh giới của ta trở nên hòa bình yên tĩnh hơn. Bớt cố chấp, bớt bất đồng thì kết quả tất nhiên là sẽ bớt xung khắc, bớt xung đột, bớt cãi vã. Khi ảnh hưởng đó lan rộng ra xã hội, quốc gia, quốc tế, thì hy vọng là thế giới sẽ hòa bình hơn.

Hành động của chúng ta cũng sẽ phải dựa trên các nguyên lý. Các nguyên lý phổ quát thì có tầm ảnh hưởng rộng lớn hơn các định lý và các định luật.    

Phật giáo có nêu ra một số nguyên lý còn ghi chép trong các kinh điển. Xin nêu ra một vài nguyên lý như sau :

Trong Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Hạt electron không hề có sẵn các đặc trưng như vị trí (position), khối lượng (mass), điện tích (electric charge), số đo mức độ xoay (spin). Chính vì vậy ở dạng sóng thì electron là bất định, không có vị trí nhất định trong không gian. Vậy khi nào thì các đặc trưng mới xuất hiện ?

Phật giáo nêu ra nguyên lý thứ hai :

Kinh Hoa Nghiêm trả lời cho câu hỏi trên: Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造 Khi có người quan sát thì các đặc trưng mới xuất hiện, hạt electron mới có vị trí nhất định trong không gian. Do đó diễn tả một cách cơ bản hơn, chính xác hơn, rõ ràng hơn, thì phải nói rằng : Chính tâm của người quan sát tạo ra hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác và từ đó tạo ra nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, chất sống, sinh vật, con người, vũ trụ vạn vật. Điều đó cũng có nghĩa là tâm tạo ra không gian, thời gian và số lượng, tạo ra vật chất, vũ trụ vạn vật.

Chính từ nhận thức đó nên Bát Nhã Tâm Kinh đã nêu ra nguyên lý thứ ba :

Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm uẩn đều không có thật. Chữ uẩn 蘊 (skandha) còn gọi là ấm 陰 Uẩn là nhóm hay tập hợp hoặc tích hợp. Ngũ uẩn bao gồm : Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, imagination, suy nghĩ, thought ) ; Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, consciousness, alaya, discrimination).

Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng tức là tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời ở thế gian. Nguyên lý của vấn đề này nằm ở chỗ kinh điển gọi là tất cả các pháp đều không có tự tính, tất cả mọi tính chất của pháp là do tưởng tượng gán ghép của con người. Dễ thấy nhất là ngôn ngữ, từ ngữ của của bất cứ ngôn ngữ nào đều không có sẵn ý nghĩa, mọi ý nghĩa đều là do con người gán ghép cho từ ngữ theo thói quen. Tương tự như vậy, tất cả mọi vật trong vũ trụ đều không có thực chất, mọi tính chất đều do chúng sinh gán ghép cho vật. Đó cũng chính là ý nghĩa của ngũ uẩn giai không. Khoa học thế kỷ 20 đã xác minh vấn đề này qua cuộc tranh luận thế kỷ giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới, là Niels Bohr và Albert Einstein mà tôi đã nhiều lần đề cập.

Sắc không có thật, có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật , toàn bộ thế giới mà con người chúng ta đang sống trong đó, không phải tuyệt đối có thật.

Như vậy thì chúng ta nên ứng xử như thế nào. Phật giáo dạy rằng con người nên ứng xử tùy duyên.

Ví dụ khi xảy ra một thiên tai, nhiều người đang gặp nạn. Vậy thì cần thiết phải có hoạt động cứu trợ. Hội Chữ Thập Đỏ, các tổ chức từ thiện cùng nhau quyên góp tiền bạc, vật tư, lương thực thực phẩm để cứu giúp các nạn nhân.

Nhưng nếu có những người cảm thấy ưa thích các hoạt động từ thiện, họ nghĩ đến việc dành toàn bộ cuộc đời mình để theo đuổi hoạt động từ thiện, như vậy có thích đáng không ? Câu trả lời là không, hoạt động đó chẳng đi tới đâu cả. Thế giới sẽ không vì có nhiều người làm từ thiện mà trở nên tốt đẹp hơn. Hội Chữ Thập Đỏ có mục đích duy nhất là nhân đạo, dựa trên các nguyên tắc căn bản vô tư. Kể từ khi thành lập vào năm 1863, mục tiêu duy nhất của ICRC (International Committee of the Red Cross) là để đảm bảo, bảo vệ và hỗ trợ cho các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang.

Hội đã hoạt động cứu trợ rất nhiều nhưng thế giới cũng không hề tốt đẹp hơn.

Liên Hợp Quốc (United Nations) là một tổ chức liên chính phủ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, thực hiện sự hợp tác quốc tế, làm trung tâm điều hòa các nỗ lực quốc tế và các mục tiêu chung.

Liên Hợp Quốc được thành lập từ năm 1945 đến nay có 193 quốc gia thành viên nhưng cũng không làm được gì nhiều trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia.

Nói tóm lại là kể từ khi LHQ được thành lập đến nay, thế giới cũng không hề hòa bình tốt đẹp gì hơn. Chẳng hạn trong cuộc chiến tranh Nga-Ukraina hiện nay LHQ chẳng làm được gì ngoài việc họp bàn đả kích lẫn nhau, bỏ phiếu theo ai chống ai, chẳng đi tới đâu.

Tại sao ?

Con người đa số không hiểu được bản chất của thế giới chỉ là tâm niệm mà thôi. Thiện là tâm niệm, Ác cũng là tâm niệm, cả hai có cùng bản chất. Nên Thiện có thể biến thành Ác. Ác cũng có thể biến thành thiện. Bát Nhã Tâm Kinh nói : Sắc tức thị Không (vật chất tức là trống rỗng) từ đó chúng ta suy ra Thiện tức là Ác; Ác tức là Thiện. Suốt đời làm thiện cũng sẽ không đi tới đâu, không thể giác ngộ. Suốt đời làm ác thì cũng thế, không đi tới đâu cả.

Tôi thử nêu ra vài ví dụ để chứng minh.

Thí dụ về Thiện tức là Ác

Chế độ dân chủ tự do của Mỹ và phương Tây là thiện, tốt đẹp, tôn trọng nhân quyền, tự do cá nhân. Người dân sống dưới chế độ này cảm thấy rất thoải mái. Nhưng chế độ tự do cá nhân mang súng đạn trở thành ác, trở thành một thảm họa, chà đạp nhân quyền rất khủng khiếp. Quyền tự do sống bình an, đó là nhân quyền quan trọng nhất của con người, bị chà đạp khi dung túng cho những kẻ mang súng đạn, xả súng bừa bãi giết hại học sinh và giáo viên, thậm chí là học sinh mẫu giáo. Có hành vi chà đạp nhân quyền nào tồi tệ hơn ? Thế nhưng những kẻ nắm quyền lực của nước Mỹ không làm gì cả, họ vẫn bênh vực quyền mang súng, duy trì quyền lợi của những  công ty sản xuất vũ khí. Trong năm 2020 có hơn 45.000 người Mỹ chết vì các sự cố liên quan tới súng đạn, hơn một nửa là tự sát. Tỉ lệ các vụ giết người bằng súng ở mức cao nhất kể từ năm 1994. Ở nước Mỹ người ta sẽ không bao giờ cấm được người dân mang súng như tại các quốc gia khác và những vụ xả súng giết hại người vô tội vẫn tiếp tục xảy ra.

Thí dụ về Ác tức là Thiện

Vụ đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn ngày 04-06-1989 rõ ràng là ác. Chính quyền đưa xe tăng, vũ khí đến bắn giết đám sinh viên biểu tình đang tụ tập ở đó khiến hàng ngàn người chết. Truyền thông phương Tây cho đến nay vẫn còn cực lực đả kích vụ thảm sát đó. Thế nhưng kết quả sau đó thế nào ? Sau vụ thảm sát đó, TQ đã tiếp tục phát  triển rất nhanh và ổn định, cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân, đưa đất nước từ quốc gia nghèo nàn lạc hậu trở thành cường quốc số 2 thế giới.

Kết luận

Chúng ta đang sống trong vũ trụ, trong thế giới, bị cảnh giới vật chất trói buộc. Thế nhưng nếu chúng ta hiểu thế giới đó chỉ là tâm niệm (Tam giới duy tâm) không phải tuyệt đối có thật, thì chúng ta có thể tìm thấy chút ít tự do đích thật. Chẳng hạn chúng ta không còn đem mình đi so sánh với người chung quanh xem ai giàu hơn, ai giỏi hơn. Chúng ta sẽ tránh được tình trạng của các quan tham hiện giờ phải vào lò của bác Trọng bởi vì họ theo đuổi những việc kiếm tiền bất chính, tham nhũng và cuối cùng sa lưới.

Chúng ta cũng có thể tránh được tình trạng nhẹ dạ vì thiếu hiểu biết của dân Ukraina, sùng bái theo đuổi tự do dân chủ của phương Tây mà không biết tình thế thực tế của đất nước mình như thế nào. Nên kết quả dân chủ tự do chưa được bao nhiêu thì đất nước đã tan tành, hàng triệu người phải chạy ra nước ngoài lánh nạn.

Người Mỹ và người phương Tây cũng đang sống với ảo tưởng khi họ nghĩ rằng họ có thể trừng phạt kinh tế nước Nga thật nặng nề để không còn sức kiếm chuyện nhưng khi Nga phản công thì chính họ bị lao đao. Thế nhưng họ vẫn còn mang quán tính tâm lý cho rằng phương Tây vẫn còn sức mạnh thống trị thế giới. Chính quyền phương Tây và Nhật Bản vẫn còn ngây thơ tới mức họ nghĩ rằng họ có thể ngăn cản TQ thống nhất với Đài Loan. Tại sao họ không thấy rằng trật tự thế giới đã thay đổi rất nhiều ?

Trật tự thế giới mới là thể nào ? Đó là thế giới có nhiều cực (đa cực) Mỹ không còn là siêu cường duy nhất có khả năng làm mưa làm gió trên thế giới. Mỹ dựa vào sức mạnh của đồng đô la gắn với dầu mỏ (Petro dollars), Mỹ buộc tất cả các quốc gia mua bán dầu mỏ phải thanh toán bằng đồng đô la. Và Mỹ là nước duy nhất có quyền in ra tiền đô la. Thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ áp dụng nguyên tắc này tại thế giới tự do mà Mỹ lãnh đạo.

Sau khi Liên Xô sụp đổ Mỹ trở thành siêu cường duy nhất  và áp dụng điều này trên toàn thế giới. Nhưng hiện nay sức mạnh của Mỹ đã suy giảm, Mỹ không còn khả năng buộc thế giới phải theo sự sắp xếp của mình. Cuộc chiến Nga- Ukraina là màn dạo đầu của trật tự thế giới mới đa cực . Thế giới hiện nay đang hình thành 4 cực : Mỹ, TQ, Nga, Âu Châu. Những nước khác sẽ ngã theo một trong 4 cực đó hoặc sẽ độc lập giao thiệp với cả 4 cực mà không ngã hẳn về cực nào. VN là một quốc gia điển hình theo xu hướng độc lập đó.

Người trí thì nên hiểu việc gì sẽ phải xảy ra. 330 triệu người Mỹ khó có thể đương đầu với 1,4 tỷ dân TQ khi trình độ khoa học kỹ thuật của Mỹ không còn giành ưu thế bao nhiêu trước TQ, tốt nhất là nên hợp tác, tránh đối đầu nhất là về quân sự, và tâm lý nên sẵn sàng chấp nhận trật tự thế giới mới.    

Người Mỹ nên biết phá ngã chấp không nên coi mình lúc nào cũng là nhất. Nếu chỉ nhận ra điều đó sau một cuộc chiến tranh thất bại với TQ là điều đáng tiếc. Họ đã đụng độ trực tiếp với TQ từ chiến tranh Triều Tiên và đã không giành được thắng lợi lúc quân đội TQ còn rất lạc hậu và cũng cần nhớ rằng lúc đó Mỹ lãnh đạo 28 nước LHQ đánh nhau với TQ. Bây giờ nếu lại đụng độ ở eo biển Đài Loan thì họ lại giành được thắng lợi sao, kể cả khi họ được Nhật, Úc, Ấn (Bộ tứ Quad= Quadrilateral Security Dialogue= Đối thoại an ninh 4 bên) giúp sức ? 

Bây giờ trong cuộc chiến tranh Ukraina, TQ chỉ làm cái bóng, họ không trực tiếp giúp gì nhiều cho Nga, chỉ mua dầu mỏ, mua khí đốt của Nga thôi, nhưng cái bóng lớn của TQ cũng đủ giúp Nga yên tâm giành thắng lợi.

Sau này nếu xảy ra cuộc chiến tại eo biển Đài Loan, chỉ cần Nga đứng sau lưng hỗ trợ tinh thần cũng đủ giúp TQ đánh bại liên minh Mỹ Nhật Ấn Úc bởi vì Đài Loan rất gần TQ, nếu chiến tranh kéo dài liệu liên minh đó có chịu đựng nổi không ? Khả năng cao là Mỹ sẽ không dám can thiệp vì rủi ro là quá lớn. Bởi vì hiện giờ Mỹ và phương Tây đã không dám đụng độ trực tiếp với Nga. Trong khi đó dân số TQ đông gấp 10 lần Nga, GDP cũng gấp 10 lần Nga, vũ khí cũng xấp xỉ Nga, họ dám đụng độ với một quốc gia mạnh gấp 10 lần Nga sao ?  

Cho nên chính quyền Đài Loan nên rút kinh nghiệm Ukraina, không nên đặt niềm tin vào việc Mỹ sẽ bảo vệ họ chống lại TQ. Họ tuyên bố rằng Đài Loan không phải là một phần của TQ, đó là một ý tưởng nguy hiểm mặc dù thực tế hiện nay Đài Loan gần như là một quốc gia độc lập, có ngoại giao và quân đội riêng. Nhưng họ phải hiểu rằng họ không đủ sức chống lại TQ, Mỹ cũng không đủ sức bảo vệ họ. Nên tốt nhất là thương lượng với TQ để thống nhất hòa bình, họ là một vùng lãnh thổ tự trị nhưng quyền đối ngoại và an ninh do TQ đảm trách, đó là một giải pháp tốt hơn là cố trở thành một quốc gia độc lập để rồi cuối cùng bị TQ thôn tính bằng vũ lực.

Tóm lại con người không nên quá chấp thật, trong vấn đề tương tác lẫn nhau, mọi người nên hiểu đúng tình hình thế giới và nên chọn giải pháp thương lượng hòa bình, không nên quá cố chấp để tránh dẫn tới xung đột vũ trang, mất mát đau thương , đất nước tan tành như Ukraina hiện nay.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC NGÀY NAY

Phật giáo (PG) ngày nay thì có khác gì với Phật giáo ngày xưa ? Khác lắm chứ ! Ngày trước có quan điểm cho rằng PG thuộc lĩnh vực tâm linh, tinh thần, nó đi một con đường khác. Còn khoa học (KH) kỹ thuật là thuộc lĩnh vực vật chất, đi theo một con đường khác. Đường ai nấy đi không có gặp nhau.

Nhưng ngày nay khoa học đã phát triển tới một mức độ tiệm cận với PG. Hai bên không phải là hai con đường song song không bao giờ gặp nhau, mà đã thấy có những điểm chung, điểm gặp nhau rất quan trọng. Thế điểm chung đó là điểm nào ? Phật giáo từ lâu đã nói Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 Năm 1927 nhà khoa học người Đức Werner Heisenberg cũng khám phá ra nguyên lý bất định. Nguyên lý này tương hợp với thuyết tánh không của nhà Phật. Ý nghĩa sâu xa của nguyên lý này là các hạt cơ bản của vật chất (fundamental particles of matter) như photon, electron… đều có lưỡng tính sóng hạt. Ở dạng sóng thì không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, không có đặc trưng, không có gì là thật cả. Còn khi có người quan sát, có tâm niệm nổi lên thì sóng mới biến thành hạt, thành nguyên tử phân tử, thành vũ trụ vạn vật, thành con người, thành cha mẹ, con cái như những khái niệm quen thuộc của chúng ta. Nhưng tuyệt đại đa số mọi người đều thiên lệch một bên mà Phật giáo gọi là chấp thật, đó chính là nguồn gốc của sinh lão bệnh tử và tất cả mọi đau khổ khác như yêu ghét, tranh giành, chiến tranh. Để giải thoát khỏi tất cả mọi đau khổ thì Phật giáo dạy mọi người phải phá chấp thật bằng thuyết lý về tánh không. Chỉ là phá chấp thôi, không chấp Có cũng không chấp Không mới là giác ngộ.

Tuy mục đích của hai bên là khác nhau. PG muốn đưa mọi người tới giác ngộ, giải thoát tất cả mọi đau khổ, kể cả vấn đề sinh tử. Còn KH nhắm mục đích hiểu thế giới là gì, nắm được các quy luật của nó và tìm cách cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của con người. Thật ra chúng ta thấy rằng mục đích của hai bên cũng không phải hoàn toàn khác nhau, chỉ khác về phương pháp thực hành thôi. PG theo con đường tâm linh, dùng tu tập thiền định để đi tới giác ngộ giải thoát. Còn KH đi theo con đường ứng dụng khoa học kỹ thuật để cải thiện đời sống vật chất rồi cũng cải thiện đời sống tinh thần, từ một nhận thức chung thì sớm muộn gì cũng sẽ đi tới cùng một cứu cánh. Đường đi có khác nhau nhưng đích đến có thể tương đồng.

Vậy điểm nhận thức chung giữa KH và PG là gì ? Đó là nhận thức chung về tánh không. Từ cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) năm 1982 tại Paris do Alain Aspect thực hiện, các nhà khoa học đã rút ra được những kết luận tương đồng với tánh không của PG :

-Hạt cơ bản của vật chất không có thật (non realism)

-Không gian và thời gian không có thật (non locality)

-Số lượng hạt không có thật (non quantity)

Các hạt cơ bản của vật chất khi bị cô lập tức tách rời khỏi sự quan sát của con người hoặc của thiết bị cảm biến thì chỉ là trừu tượng chứ không phải có thật “Isolated material particles are abstractions” (Niels Bohr)

Các kết luận cơ bản ở trên dẫn tới một nhận thức là thế giới vật chất mà chúng ta đang sống trong đó không phải hoàn toàn có thật. Vật chất không có thực thể bởi vì những hạt cơ bản cấu tạo nên vật chất chỉ là hạt ảo, trừu tượng, không có thật. Đến đây thì các nhà khoa học đã hiểu tại sao PG nói Nhất thiết duy tâm tạo, Tất là do tâm tưởng tượng ra thôi. Sự tưởng tượng này đã trải qua vô lượng kiếp nên đã trở thành phổ biến, kiên cố, không dễ gì trừ bỏ được, Phật, Bồ Tát, bậc thánh cũng có tưởng tượng như vậy, kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 đó là điều bình thường nhưng bậc thánh không cho là thật nên không bị rơi vào điên đảo tưởng tức là cái tưởng tượng trái ngược với sự thật nhưng mình vẫn tưởng là thật. Nhưng chúng sinh thì cho là cảnh giới ảo hóa của thế gian là thật nên rơi vào điên đảo tưởng PG gọi là chấp trước tưởng 执著想 Chính cái chấp trước tưởng này mới là nguồn gốc của tất cả mọi đau khổ trên đời.

Tóm lại như Kinh Kim Cang của PG nói về Vô sở trụ, KH ngày nay đã ứng dụng được phần nào vô sở trụ đem lại tiện ích trong cuộc sống hàng ngày của con người, đại khái như sau :

Đa số Phật tử đều biết câu nói trong Kinh Kim Cang : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應 無 所 住 而 生 其 心 Vô sở trụ là không có chỗ trụ (non locality). Tại sao ? Bởi vì không  gian, thời gian, số lượng vật chất không tuyệt đối có thật nên không có chỗ trụ. Ưng 應 là điều kiện cách (conditional mood) của câu nói. Nhi 而 là liên từ (conjunction) có nghĩa là thì, mà. Sinh 生 ở đây chúng ta phải hiểu theo nghĩa thoáng là xuất hiện. Kỳ tâm 其 心 là cái tâm ấy. Cái tâm ấy đã có sẵn rồi chứ không phải do cái gì sinh ra, chỉ là bị che khuất, ví dụ đám mây đen che khuất mặt trời, khi mây tan thì mặt trời xuất hiện chứ không phải mặt trời mới được sinh ra. Cái tâm ấy là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 dịch từ tiếng Phạn anutpattika-dharma-kṣānti  để hình dung cái tâm bản nguyên, là tánh giác, tánh biết của ta, của tất cả mọi chúng sinh. Cái tâm ấy vô hình, vô thể, bất biến, bất nhị, bất sinh bất diệt.

Huệ Năng nghe được câu ấy thì giác ngộ và xin được ở lại phương trượng của ngũ tổ Hoằng Nhẫn tu tập. Cuối cùng được ngũ tổ Hoằng Nhẫn 弘忍 trụ trì tại núi Đông Sơn 東山 thuộc huyện Hoàng Mai 黄梅 Kỳ Châu 蕲州 tỉnh Hồ Bắc truyền y bát làm Tổ thứ sáu của Thiền tông TQ.   

Các bậc giác ngộ thời xưa ngộ vô sở trụ đạt được sinh tử tự do. Ví dụ trong Ngũ Đăng Hội Nguyên 五灯会元 quyển 7 kể về Ngộ An thiền sư 遇安禅师 ở chùa Thụy Lộc 瑞鹿寺 chuyện xảy ra vào đời Bắc Tống năm 995 Công nguyên.

Ngộ An thiền sư trước khi lâm chung tự mình tắm rửa thật sạch sẽ, thay quần áo sạch. Sau khi tĩnh tọa một hồi bèn tự mình vào nằm trong quan tài, đậy nắp lại. Qua ba ngày, các đệ tử muốn tưởng niệm sư phụ bèn mở nắp áo quan, thấy sư phụ đã chết rồi, mọi người đau buồn khóc lên thống thiết. Lúc đó bỗng nhiên sư phụ ngồi dậy rồi thăng đường nói với đại chúng : “ Nếu lần sau mà có người nào còn lén mở nắp áo quan thì không phải là đệ tử của ta” Nói xong lại tự vào trong áo quan nằm và lần này thì viên tịch thật. Sư Ngộ An không chỉ đạt được sinh tử tự tại, tức muốn đi lúc nào thì đi, mà còn có khả năng sau khi nhập quan ba ngày, vẫn có thể tùy ý sống lại, điều đó chứng tỏ sống chết chỉ là hiện tượng giả tạo không phải có thật.

Câu chuyện nổi tiếng về gia đình Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường) người ở Tương Châu 襄州 nay  là thành phố Tương Dương  襄陽 tỉnh Hồ Bắc 湖北 cũng chứng tỏ sinh tử tự do, không bị trói buộc. Sự trói buộc chỉ là thế lưu bố tưởng (thói quen tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời) chứ không phải tuyệt đối chân thật. 

Bàng Uẩn và con gái là Linh Chiếu

Các bậc giác ngộ đời xưa ứng dụng được vô sở trụ đạt được sinh tử tự do, đạt được về chiều sâu nhưng lại không có thói quen phân tích khoa học, chưa chế tạo được chip bán dẫn nên chưa giúp cho lý vô sở trụ được phổ biến trên diện rộng, điều mà khoa học ngày nay ứng dụng được.

Năm 1927 Werner Karl Heisenberg (1901-1976) người Đức, khám phá ra nguyên lý bất định, các nhà khoa học hiểu chưa đủ sâu nên mô tả còn bị hạn chế chỉ nói rằng“Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác”.  

Thật ra đó chính là vô sở trụ, không gian, thời gian, số lượng của hạt không phải tuyệt đối có thật. Sau này nhiều nhà khoa học đã làm thí nghiệm cho thấy có hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Hiện tượng này về sau được khoa học xác định rõ ràng chính xác hơn thời của Einstein nhờ vào những công cụ hiện đại hơn:  Năm 1967 John Clauser người Mỹ chế tạo được cái máy nó có thể làm cho một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau với khoảng cách xa. Năm 1982 Alain Aspect dùng cái máy đó làm thí nghiệm tại Paris, ứng dụng bất đẳng thức của John Bell, người Ireland, đã chứng minh hiện tượng liên kết lượng tử là có xảy ra thật. Năm 2008 Nicolas Gisin ở tại đại học Geneva Thụy Sĩ làm lại thí nghiệm với hai photon cách xa nhau 18km, kết quả vẫn đúng. Năm 2016, TQ đã phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên trên thế giới mang tên Mặc Tử (Micius)và năm 2017 họ làm lại thí nghiệm này với hai hạt photon cách xa nhau 1200km, kết quả vẫn đúng như vậy. Hiện tượng này cho thấy rõ không gian, thời gian, số lượng, đều không phải tuyệt đối chân thật.       

Và khoa học đã ứng dụng nguyên lý này để chế tạo ra máy vi tính, mạng internet, điện thoại thông minh (smartphone). Các công cụ này giúp chúng ta triệt tiêu được khoảng cách không gian, không bị hạn chế về thời gian và số lượng . Nghĩa là thế nào ?

Tôi có thể nhìn thấy và nói chuyện được với các con tôi ở bên Anh bất cứ lúc nào miễn là có thời gian rảnh để trò chuyện. Những cuộc hội họp trực tuyến, nhiều người có thể đồng thời giao tiếp với nhau, không bị hạn chế về số lượng, không có khoảng cách không gian, mọi người ở đâu không thành vấn đề . Một bài viết của tôi, có thể hàng trăm, hàng ngàn người trên thế giới cùng xem một lúc không bị hạn chế về số lượng. Và họ có thể xem vào bất cứ lúc nào không hạn chế về thời gian.       

Khoa học chỉ mới ứng dụng một phần rất nhỏ của vô sở trụ nhưng đem lại hiệu quả cũng khá lớn. Ví dụ chúng ta chỉ ở nhà thôi nhưng có thể đi khắp thế giới giải trí. Chẳng hạn bây giờ nhiều người chơi Tiktok có thể xem những video clip ngắn có tính hài hước như thế này :

So sánh giữa vợ và bồ

Hoặc xem một video ca nhạc trên nền tảng Youtube, thả hồn vào cõi thiên thai :

Hoàng Oanh- Thiên Thai- Văn Cao, khung cảnh huyền ảo   

Hoặc chúng ta có thể tình cờ đi vào một cảnh giới xa lạ ở nước ngoài nghe những ca sĩ ngoại quốc hát nhưng chúng ta có thể đã quen biết họ trong những thập niên trước đây, bây giờ bỗng nhiên nghe thấy tiếng họ hát

Enrico Macias và Julie Zenatti- Adieu Mon Pays- Hiển thị lời ca

Thời trước, khi chúng ta muốn nghe nhạc, phải mua băng cassette về nhà và dùng máy thường có dạng Radio Cassette để phát. Sau đó tới thời của đĩa CD và DVD. Nhưng bây giờ phần lớn người ta nghe nhạc trên mạng, trên Youtube hoặc các Music Player lớn, nó quản lý âm nhạc gần như của toàn thế giới, ví dụ Zing mp3, Nhaccuatui của VN, Spotify của Thụy Điển, Apple Music của Mỹ. QQMusic của TQ, Tidal của Na Uy chuyên về âm nhạc lossless (không bị giảm chất lượng)…   

Chúng ta có thể vừa nghe nhạc vừa theo dõi lời ca, điều này hữu ích khi nghe nhạc ngoại. Khi mở nhạc, dù là bài hát nằm trong điện thoại của mình, music player sẽ tự tìm ca từ để hiển thị với điều kiện là trong file nhạc đó có chèn sẵn thông tin về tên bài hát, tên ca sĩ bằng tên gốc thì nhiều khả năng nó sẽ tìm được ca từ để hiển thị. Tên đó không hẳn là tên file mà là thông tin được tích hợp luôn vào file âm thanh (mp3 hoặc flac) có thể bằng app mp3tag. Chẳng hạn chúng ta có thể biên tập thông tin về bài hát bằng Mp3tag như thế này :

Khi đưa một bài hát đã có chứa thông tin vào điện thoại và dùng một music player để mở chẳng hạn dùng QQMusic thì nó sẽ phát bài hát đồng thời tự tìm lời ca và hiển thị đồng thời với tiếng hát, ví dụ bài Tilll All The Rivers Run Dry do Nana Mouskouri thể hiện.  

Nana Mouskouri- Till All The Rivers Run Dry                 

Chúng ta sẽ có cảm giác thích thú khi mở một music player trên điện thoại chẳng hạn QQMusic để nghe nhạc Hoa và nhìn thấy một ca sĩ ưa thích chẳng hạn Đặng Lệ Quân và tìm thấy cả bài hát ưa thích là Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu. Bài hát này vốn là một bài thơ của một đại văn gia đời Tống là Tô Thức được phổ nhạc. Tôi quay video màn hình trên điện thoại Xiaomi thể hiện bài hát có lời ca đi kèm, có vài câu dài hơi bị mất chữ chút xíu. Còn quay video màn hình trên điện thoại Huawei thì không bị mất chữ.

Đặng Lệ Quân- Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu- Xiaomi

Đặng Lệ Quân- Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu- Huawei

Hoặc chúng ta có thể nghe thuyết pháp về Tổ Sư Thiền của thầy Duy Lực

Không gian, thời gian, số lượng, không có bản thể

Chúng ta gần như có thể tìm thấy mọi thứ trên internet : thông tin về thời sự chính trị, kinh tế văn hóa, thể thao du lịch, phim ảnh, ca nhạc, mỹ nữ, mỹ nam…Chúng ta có thể không rời khỏi nhà mà hiểu biết cả thế giới. Trong tương lai khi khoa học phát triển hơn nữa, có thể không phải chỉ có tín hiệu thông tin được truyền đi xa mà kể cả vật thể, con người, cũng có thể truyền đi xa với tốc độ của ý niệm. Từ Địa Cầu tới Hỏa Tinh thay vì phải đi bằng phi thuyền mất 7 tháng, ứng dụng vô sở trụ, cái mà khoa học mô tả là liên kết lượng tử (quantum entanglement) chỉ cần một niệm, một tích-tắc là tới. Như mô tả của video sau đây gọi là viễn tải lượng tử (quantum teleportation) :

 Viễn Tải Và Máy Tính Lượng Tử – Quantum Teleportation And Computer

Tóm lại vô sở trụ là một đạo lý mà người xưa đã tìm thấy và đã sống với nó hàng ngàn năm. Đạo lý vô sở trụ ngày nay lại được khoa học ứng dụng trong đời sống hàng ngày dành cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ có bậc tài giỏi xuất chúng mới đạt tới. Chúng ta phải hiểu đạo lý vô sở trụ, ngũ uẩn giai không và ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày đem lại hạnh phúc cho chính mình và mọi người chung quanh, tránh những chuyện tranh giành cố chấp ngu muội dẫn đến chiến tranh loạn lạc như đang diễn ra tại Châu Âu hiện nay.

Có nhiều người ngộ nhận cho rằng PG có khuynh hướng xuất thế gian, ví dụ cửa Phật gọi là Không Môn (cửa không). PG khuyên mọi người tu đạo lìa bỏ thế gian, hướng về tánh không khiến nhiều người chỉ muốn ăn chay niệm Phật, không lấy vợ lấy chồng, không sinh con đẻ cái, hướng về sự tịch diệt, khiến cho xã hội không phát triển, lấy mô hình của bộ lạc Kogi làm chuẩn. Sự thật không phải như vậy. PG có nhiều mức độ, có Ngũ thừa thể hiện sự tu tập tùy theo khả năng nhận thức của hành giả, thích hợp với căn cơ của từng người. Ngũ thừa từ thấp lên cao như sau :

-Nhân thừa dành cho hành giả phổ thông, dạy làm lành lánh dữ, giữ 5 giới cơ bản, tích lũy phước đức để kiếp sau tiếp tục làm người có phước báo.

-Thiên thừa dành cho người muốn được trường thọ sống hàng ngàn năm, mục đích hơi giống người tu tiên bên Đạo giáo (Lão giáo), chỉ khác về phương pháp tu tập. Bên PG tu thập thiện để đạt mục đích. Còn bên Đạo giáo tập luyện khí : luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Tinh là cái tinh hoa tinh túy trong nhân thể. Khí là một dạng năng lượng vô hình, khi tập trung được thì có sức mạnh lớn, có thể đánh ngã một đối thủ ở khoảng cách vài mét. Luyện thần hoàn hư là trở về với Đạo vốn là vô hình vô thể giống như hư không.

Thi đấu khí công giữa nhà khí công TQ và võ sư Nhật Bản     

Nhà khí công TQ Ngộ Lạc 悟乐 dùng khí công đánh ngã một võ sư Nhật Bản. Đoạn video này là của thầy giáo Tạ Vi Tập 謝為集 dạy tiếng Hoa tại Nhật ghi lại khoảng năm 2011 trong một show truyền hình của Nhật Bản.

-Thanh Văn, Duyên Giác thừa, đây là kết quả của những người tu tập theo Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên mà phá được ngã chấp, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Ngoài ra còn một loại người không biết Phật pháp nhưng tự mình khải ngộ, phá được ngã chấp gọi là Độc giác.

-Bồ Tát thừa, những người tu Lục độ Ba la mật, phát đại nguyện cứu độ tất cả chúng sinh không chừa một chúng sinh nào, trải qua thập địa tức 10 cấp bậc mới đạt tới cứu cánh thành Phật.

-Phật thừa. Không phân biệt cấp bậc, bởi vì mọi cấp bậc cũng chỉ là tương đối. Bất cứ hành giả nào phá được ngã chấp và pháp chấp, ngộ được vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Sanskrit:anutpattika- dharma- kṣānti)là kiến tánh thành Phật, giải thoát tất cả mọi khổ ách, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Giải thoát vì ngộ tất cả mọi cảnh giới chỉ là huyễn ảo do tâm tạo chứ không phải có thật 100% , mọi cảnh giới đều do tập khí, thói quen nhận thức do nghiệp lực tạo ra chứ không phải chân thật. Khi đã ngộ thì chỉ cần một thời gian hữu hạn để điều chỉnh tập khí gọi là bảo nhậm 保任 Ví dụ Huệ Năng cần 15 năm bảo nhậm trước khi thực sự truyền pháp Tổ Sư Thiền.

Chúng ta xem qua ngũ thừa PG thì thấy cứu cánh thật sự của Phật pháp là giác ngộ, giải thoát khỏi những tập khí mê muội để sống bình thường tâm thị đạo, hoàn toàn tự do, kể cả sinh tử luân hồi cũng không bị trói buộc. Sinh tử là cái mà người đời cho rằng là quy luật tuyệt đối không ai thoát khỏi. Còn bậc giác ngộ thì biết rằng sinh tử cũng chỉ là ảo chứ không phải thật.

Người giác ngộ không bị cái gì ràng buộc, sống cuộc sống bình thường tùy duyên chứ không nhất thiết phải sống như tu sĩ, không nhất thiết phải sống đơn độc một mình, không vợ chồng không con cái. Họ vẫn có thể tham gia vào các hoạt động xã hội, hoạt động kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Họ vẫn sống như người bình thường chỉ là không còn quá chấp thật một cách kiên cố mà thôi.               

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bình luận về bài viết này

SAI LẦM LỚN NHẤT CỦA EINSTEIN LÀ GÌ ?

Chúng ta đều biết rằng Albert Einstein là nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Ông là tác giả của một phương trình thế kỷ tuy rất đơn giản nhưng vô cùng nổi tiếng :

Đây là phương trình thế kỷ  E=mc2 thể hiện mối tương quan giữa năng lượng và vật chất, là khởi đầu của bom nguyên tử cũng như của các nhà máy điện nguyên tử. Ông cũng từng đoạt giải Nobel về Vật Lý  năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện”. Công trình về hiệu ứng quang điện của ông mang tính bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử. Nó chứng minh rằng ánh sáng vừa là sóng vừa là hạt, khi ánh sáng là hạt nó tạo ra hiệu ứng quang điện, tức tạo ra sự chuyển động của hạt electron, tạo ra dòng điện. Các tấm pin mặt trời là ứng dụng của hiệu ứng này.  

Ngoài ra ông có những công trình khoa học rất nổi tiếng, đó là Thuyết Tương Đối Hẹp (Theory of Special Relativity 1905), Thuyết Tương Đối Rộng (The General Theory of Relativity 1916). Ông có những tiên đoán chính xác mà về sau khoa học xác nhận như : Tia sáng bị cong khi đi qua vùng có lực hấp dẫn mạnh, chẳng hạn tia sáng đi qua gần mặt trời thì bị cong.

Ông cũng dự đoán có sự hiện hữu của sóng hấp dẫn (gravitational waves) mà mãi 100 năm sau khoa học mới thực sự phát hiện ra sóng hấp dẫn vào năm 2016.

Trong Thuyết tương đối rộng năm 1916, ông nói những tác động hấp dẫn có được là do không-thời gian (thời gian và không gian được Einstein gộp chung lại thành không-thời gian trong thuyết Tương đối hẹp năm 1905) bị uốn cong thay vì nó là một lực.

Dự án của LIGO quy tụ 900 nhà khoa học đến từ 15 quốc gia trên thế giới. Các cơ sở thí nghiệm hiện đại nhất của nó được đặt tại Hoa Kỳ với sự đầu tư cả tỷ USD đến từ Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) tìm kiếm sóng hấp dẫn.

Tháng 2 năm 2015, hai trạm quan trắc của LIGO tại Louisiana và Washington được đưa vào chạy thử nghiệm trở lại sau quá trình nâng cấp. Họ thu nhận những dao động đến từ sự kiện hai hố đen sáp nhập trong khoảng thời gian 1,3 tỷ năm về trước.

Các dữ liệu không lâu sau đó được phân tích vào ngày 14 tháng 9 năm 2015 bởi Marco Drago, một nghiên cứu sinh người Ý đã khiến anh trở thành người đầu tiên phát hiện ra sóng hấp dẫn.

Marco Drago khi đó đã ngay lập tức thông báo tới các chuyên gia trong dự án LIGO. Cùng với đó là nhiều tin đồn rò rỉ trong giới nghiên cứu vật lý và thiên văn học rằng cuối cùng sóng hấp dẫn cũng được tìm ra.

Các nhà khoa học tại LIGO quyết định giữ bí mật thông tin để kiểm tra lại nhiều lần thí nghiệm của họ. Cuối cùng, dấu mốc lịch sử được chốt lại trong cuộc họp báo ngày 11 tháng 2 năm 2016 tại Hoa Kỳ.

Thưa quý vị, chúng tôi đã phát hiện trực tiếp sóng hấp dẫn. Chúng tôi thực sự đã làm được”, David Reitze, Giám đốc điều hành Phòng thí nghiệm LIGO tại Viện công nghệ California tuyên bố.

Sự phát hiện ra sóng hấp dẫn mà Einstein đã tiên đoán từ năm 1916 tức 100 năm trước khiến cho danh tiếng của ông càng nổi bật.

Tuy nhiên trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình Einstein cũng phạm phải khá nhiều sai lầm. Người ta có cả một danh sách liệt kê 23 sai lầm của Einstein. Nhưng ở đây tôi chỉ nêu ra vài sai lầm lớn nhất của ông mà thôi.

Sai lầm lớn thứ nhất là Einstein cho rằng không gian vũ trụ là tĩnh không thay đổi. Einstein đã đưa một hằng số vũ trụ vào các phương trình của mình, điều này làm “đóng băng” trạng thái của vũ trụ. Trực giác của Einstein khiến ông lạc lối.

Năm 1919, nhà thiên văn học Mỹ Edwin Hubble (1889 – 1953) khi ấy đến làm việc tại Đài thiên văn Wilson ở California. Bằng quan sát tỉ mỉ của mình qua kính viễn vọng Hooker 100 inch – loại kính viễn vọng mạnh nhất thế giới vừa được chế tạo khi đó – Edwin Hubble đã khiến cả thế giới kinh ngạc với phát hiện: Vũ trụ đang giãn nở công bố vào năm 1929. Ông đã chụp những bức ảnh đẹp nhất có thể về tinh vân, cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng ít nhất một số trong số chúng vượt xa Dải Ngân Hà của chúng ta. Bằng cách khám phá các thiên hà khác, Edwin Hubble đã mở rộng vũ trụ 100 lần.    

Khám phá này khiến chính Einstein cũng ngạc nhiên tột cùng và buộc phải ‘tâm phục khẩu phục’ thừa nhận rằng ông đã phạm phải sai lầm lớn nhất của mình. Tên của Edwin Hubble về sau được NASA lấy để đặt cho Kính viễn vọng không gian Hubble.

Sai lầm lớn thứ hai của Einstein

Giới khoa học dường như không có mô tả rõ ràng về sai lầm lớn thứ hai của Einstein, đây mới đích thật là sai lầm lớn nhất của ông. Tại sao họ không có mô tả rõ ràng ? Bởi vì bản thân giới khoa học vẫn còn mơ hồ. Khởi đầu là vào năm 1927 Werner Karl Heisenberg nêu ra nguyên lý bất định (uncertainty principle). Nguyên lý này phát biểu rằng: “Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác”.

Phát biểu của Heisenberg rất cụ thể và rõ ràng tuy nhiên nó không nói lên được bản chất của vấn đề. Muốn hiểu được bản chất của vấn đề chúng ta cần tới ánh sáng của một bậc giác ngộ là Đức Phật, ngài đã nêu lên từ xa xưa trong kinh điển Phật giáo.

Trong Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Hạt electron không hề có sẵn các đặc trưng như vị trí (position), khối lượng (mass), điện tích (electric charge), số đo mức độ xoay (spin). Chính vì vậy ở dạng sóng thì electron là bất định, không có vị trí nhất định trong không gian. Vậy khi nào thì các đặc trưng mới xuất hiện ?

Kinh Hoa Nghiêm trả lời : Nhất thiết duy tâm tạo切唯心造 Khi có người quan sát thì các đặc trưng mới xuất hiện, hạt electron mới có vị trí nhất định trong không gian. Do đó diễn tả một cách cơ bản hơn, chính xác hơn, rõ ràng hơn, thì phải nói rằng : Chính tâm của người quan sát tạo ra hạt electron cũng như tất cả các hạt cơ bản khác và từ đó tạo ra nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, chất sống, sinh vật, con người, vũ trụ vạn vật. Điều đó cũng có nghĩa là tâm tạo ra không gian, thời gian và số lượng, tạo ra vật chất, vũ trụ vạn vật.

Vậy sai lầm lớn nhất của Einstein là gì ? Đó là ông tin rằng các hạt cơ bản như photon, electron là có thật, chúng luôn luôn có sẵn đặc trưng, có một thế giới vật chất khách quan nằm ngoài nhận thức suy nghĩ của con người. Einstein diễn tả niềm tin của mình bằng hai phát biểu sau :

1/ “Chúa Trời không chơi trò súc sắc với vũ trụ” ý ông nói rằng các hạt cơ bản là khách quan, có thật, luôn luôn có sẵn đặc trưng, luôn luôn xác định, chứ không phải là ngẫu nhiên, bất định như trò chơi súc sắc. Ý của Einstein hạt cơ bản là có thật, là xác định, thế giới là khách quan nằm ngoài tâm niệm, là xác định chứ không phải bất định.    

2/Ông đưa ra quan điểm về Mặt trăng :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Ý ông muốn nói rằng Mặt trăng là có thật, là khách quan, dù ông có nhìn hay không nhìn thì nó vẫn tồn tại. Và đây chính là sai lầm lớn nhất của Einstein cũng như của toàn thể nhân loại.

Quan điểm này trái với sự giác ngộ của Đức Phật, của các vị Tổ Sư Thiền và của cả các nhà khoa học lượng tử  hiện đại của nhân loại. Bởi vì Mặt trăng hay thế giới vật chất không nằm ở đâu khác ngoài nhận thức của bộ não con người. Khi bộ não ngừng hoạt động thì không có cái gì là thật cả. Cái thấy này được khoa học trình bày trong video clip sau :

Vạn Pháp Duy Thức

Chính vì vậy mà Thiền nói rằng ban ngày thì chúng ta “mở mắt chiêm bao” còn ban đêm thì chúng ta “nhắm mắt chiêm bao” Nghĩa là con người lúc nào cũng sống trong chiêm bao, không biết rằng Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空 nghĩa là năm tập hợp sau đây đều không có thật. Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (nhận thức, phân biệt). Năm tập hợp đó chính là cái tôi và cái của tôi (ngã và pháp) đều không có thật, chỉ là tưởng tượng phổ biến trải qua nhiều đời nhiều kiếp, in sâu vào tiềm thức mà thôi, gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想             

Kết luận

Sai lầm của Einstein là đại biểu cho sai lầm của toàn thể nhân loại. Sai lầm đó phải chịu trách nhiệm cho tất cả nỗi đau khổ bất hạnh mà nhân loại hiện nay phải gánh chịu. Đó là sai lầm về chấp thật. Đó là sai lầm cho rằng không gian, thời gian và số lượng là có thật, vật chất là có thật, tất cả mọi cảnh giới vật chất và tinh thần là có thật. Những nỗi đau khổ mà con người đang phải gánh chịu bao gồm :

Đau khổ cơ bản : Sinh lão bệnh tử là 4 nỗi khổ cơ bản mà tất cả mọi người đều phải chịu. Mọi người đều cho rằng đau khổ cơ bản này là phải chấp nhận không thể thoát khỏi. Đau khổ này là nỗi khổ về chấp ngã và chấp pháp, tức là cho rằng ta là có thật, tất cả các pháp là có thật.

Kế đó là đau khổ vì hoàn cảnh không thuận lợi, chẳng hạn thiên tai bão lũ , núi lửa, động đất, sóng thần dẫn tới mất mùa đói kém, không đủ lương thực thực phẩm để ăn.  

Sự chấp ngã dẫn tới tranh giành làm hại lẫn nhau. Anh chị em trong nhà tranh giành tài sản. Người trong xã hội tranh giành tiền tài, danh vọng, địa vị. Các quốc gia tranh giành đất đai, tài nguyên, biển đảo, thế lực, dẫn tới chiến tranh. Chiến tranh Nga-Ukraina hiện nay là một thí dụ.   

Những đau khổ về tinh thần. Ngoài 4 nỗi khổ về sinh lão bệnh tử, con người còn có những nỗi khổ tâm mà Phật giáo đã tổng kết gồm :

5/Ái biệt ly khổ 爱别离苦 Nếu yêu thương ai đó mà không được ở gần phải sống xa nhau, chẳng hạn nam nữ yêu nhau mà không được lấy nhau thì cảm thấy đau khổ.

6/Oán tắng hội khổ 怨憎会苦 Ghét nhau mà phải sống gần nhau phải gặp nhau hoài, có chuyện với nhau hoài thì cũng khổ. Chẳng hạn người Nga và người Ukraina không ưa nhau mà phải ở bên cạnh nhau, bây giờ chiến tranh tàn khốc với nhau, thật là đau khổ.

7/Cầu bất đắc khổ 求不得苦 Mong cầu mà không được thì khổ. Chẳng hạn yêu ai đó mà không được yêu lại thì khổ. Mong thi đậu mà cứ bị thi rớt mãi thì khổ. Chẳng hạn Tú Xương đã từng than thở vì thi mãi không đậu.

Bụng buồn còn muốn nói năng chi,

Đệ nhất buồn là cái hỏng thi!      

Một việc văn chương thôi cũng nhảm,

Trăm năm thân thế có ra gì?      

Được gần trường ốc vùng Nam Định,

Thua mãi anh em cánh Bắc Kỳ.

Rõ thực nôm hay mà chữ dốt,

Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy.

8/Ngũ ấm xí thạnh khổ 五阴炽盛苦 Ngũ ấm 五阴 cũng tức là ngũ uẩn 五蘊 là 5 tập hợp bao gồm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, đã nói ở trên. Xí thạnh 炽盛 hình dung ngọn lửa bùng cháy (flaming) hoặc sự hưng vượng (flourishing). Nghĩa bóng chỉ sự ham muốn mãnh liệt không kềm chế nổi. Khi một con người trưởng thành, thân thể tâm sinh lý đều hoạt động mạnh mẽ thì đòi hỏi nhiều thứ, chẳng hạn : tiền tài, danh vọng, ham muốn đối với người khác giới, ham muốn được yêu đương, được làm tình v.v…Nếu đòi hỏi của tâm sinh lý đó không được đáp ứng thì phát sinh khổ : ví dụ nghèo, đói rách là khổ, thất nghiệp không kiếm được tiền là khổ, trai không tìm được vợ, gái không tìm được chồng là khổ. Tất cả mọi tệ nạn xã hội như tham nhũng, buôn bán làm ăn gian dối, xì ke, ma túy cho tới cướp bóc, chiến tranh đều từ đây mà ra.

Phật pháp đã đề ra những con đường (Đạo) để giải quyết vấn đề đau khổ của con người như :

Tứ Diệu Đế (khổ, tập, diệt, đạo); Tứ Niệm Xứ (thân, thọ, tâm, pháp); Bát Chánh Đạo; Thập Nhị Nhân Duyên…rồi tới các pháp môn khác như Luật tông (hành trì giới luật), Tịnh Độ tông (niệm Phật), Mật tông (trì chú), Thiền tông (Như Lai Thiền dùng cái biết để tu, Tổ Sư Thiền dùng cái không biết để tu).

Tất cả các pháp môn của Phật giáo đều là phương tiện để phá chấp thật, hướng dẫn mọi người nhận ra bản tâm vô sinh pháp nhẫn của mình, thức tỉnh, giác ngộ, không còn chấp thật nữa. Giác ngộ tức là kiến tánh thành Phật (Phật chỉ là giác giả, là người giác ngộ chứ không phải một đấng thần linh).

Bát Nhã Tâm Kinh nêu ra cứu cánh giác ngộ là : CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỔ ÁCH  (Soi thấy 5 uẩn đều là không, thoát khỏi tất cả mọi khổ nạn)

Tất cả mọi khổ nạn đều là do chấp thật, là tưởng tượng cái ta là có thật, các pháp, vũ trụ vạn vật là có thật, đó chính là nguồn gốc của mọi đau khổ. Thấu suốt tất cả chỉ là tánh không huyễn ảo, chẳng có gì là thật, thì chẳng còn lý do gì để mà khổ nữa. Chính vì vậy Kinh Bát Nhã nói : Soi thấy 5 uẩn đều là không, Thoát khỏi tất cả mọi khổ nạn.  

Vậy chúng ta phải làm gì ? Chúng ta vẫn cứ sống bình thường trong cõi thế gian tạm bợ nhưng không quá chấp thật nữa. Nhà cửa, tài sản, vợ con, người yêu, đều là tùy duyên. Khi duyên đến thì tạm có, khi hết duyên thì tạm không, chẳng có gì là tuyệt đối chân thật, sống chết cũng không thành vấn đề nữa.

Sư Huệ Năng có một bài kệ nổi tiếng và sau khi làm bài kệ này ông đã được Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát để làm Tổ Thứ Sáu của Thiền tông TQ.

Bài này gần như mọi hành giả Thiền tông đều biết nên chỉ cần phiên âm :

Bồ đề bổn vô thọ

Minh kính diệc phi đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai

Ý bài kệ nói rằng Tam giới chẳng có cái gì là tuyệt đối chân thật, kể cả sinh lão bệnh tử, kể cả vũ trụ vạn vật, kể cả thánh phàm phật và chúng sinh. Hành giả chẳng phải làm gì cả, mọi việc làm đều là hữu vi sinh diệt, tất cả đã sẵn sàng, chỉ trực há thừa đương 直下承當 nhìn xuống là thấy, nhận ra bản tâm vô sinh pháp nhẫn. Giác ngộ chỉ đơn giản như vậy thôi. Rắc rối chính là tập khí của con người, cái thói quen cho rằng phải thế này mới đúng, phải thế kia mới được, tất cả tập khí đó chỉ là vọng tưởng mà thôi.

Tuy vậy con người bị trói buộc rất nặng nề vào tập khí không thoát ra được nên bị tập khí chi phối. Cho nên bậc giác ngộ như Huệ Năng cũng cần một thời gian hữu hạn là 15 năm để buông bỏ tập khí mà kinh điển gọi là bảo nhậm 保任 Bảo nghĩa là giữ cho tâm không còn bị tập khí trói buộc nữa, chẳng hạn ưng vô sở trụ là nhận ra không gian, thời gian, số lượng, vật chất, cảm thọ, suy tư, chuyển động, phân biệt, đều là không có thật. Thế nên hành giả có khả năng sinh tử tự do giống như gia đình Bàng Uẩn đã thể hiện. Nhậm là nhận một nhiệm vụ chẳng hạn Huệ Năng nhận nhiệm vụ làm Lục Tổ của Thiền tông để truyền dạy cho nhiều người khác giác ngộ.    Còn một hành giả thông thường thì bảo nhậm là buông bỏ tập khí để sống bình thường tâm thị đạo.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 bình luận

KẾT THÚC MỘT THỜI KỲ HƯNG THỊNH CỦA ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

Những người chú ý tới đặc dị công năng mà ngày xưa gọi là thần thông có lẽ đều biết qua ba nhân vật nổi tiếng nhất của đặc dị công năng thời hiện đại của TQ. Đó là Hầu Hi Quý, Nghiêm Tân và Trương Bảo Thắng. Ngoài 3 nhân vật nổi cộm này, còn rất nhiều nhân vật khác nữa nhưng ít nổi tiếng hơn. Trong bài viết này tôi tóm tắt đại lược về 3 nhân vật vừa kể có bổ sung thêm một ít tư liệu mới. Cho đến nay 2022, thì 2 trong số 3 người đã qua đời.

Từ thời của Đức Phật con người đã biết tới thần thông, nhưng Phật không coi trọng thần thông, thậm chí còn cấm đệ tử biểu diễn thần thông vì biết rằng thần thông chỉ có giá trị tạm bợ và không thể thắng được nghiệp. Mục Kiền Liên là một trong các đại đệ tử của Phật, ông nổi tiếng có thần thông quảng đại nhưng cuối cùng vẫn bị ngoại đạo lăn đá trên núi xuống đè chết. Theo kinh nghiệm của người xưa thì người có thần thông thường không sống thọ, thần thông hay công năng đặc dị cũng không tồn tại suốt đời của họ, có lúc họ mất hết công lực. Sự kiện Hầu Hi Quý và Trương Bảo Thắng mất khá sớm chỉ trên dưới 60 tuổi là điều chứng tỏ. Như vậy giá trị của thần thông là nó chứng tỏ nguyên lý bất nhị của Phật pháp, vật chất và tinh thần không phải là hai, những người theo chủ nghĩa khoa học duy vật cũng là biên kiến (lệch một bên), những người phủ nhận khoa học cũng là tà kiến.

Hầu Hi Quý (侯希貴 1946-2007)

Hầu Hi Quý và ca sĩ Hồ Nhạn là vợ thứ hai của ông

Hầu Hi Quý, một nhà đặc dị công năng và nhà từ thiện nổi tiếng đến từ Hồ Nam, người đã trải qua 61 năm cuộc đời, đã qua đời vào tháng 9 năm 2007 tại bệnh viện số 2  Tương Nhã 湘雅二医院 vì bệnh ung thư phổi. Các tầng lớp nhân dân lần lượt đến nhà tang lễ huyện Đào Nguyên tỉnh Hồ Nam để tiễn đưa ông Hầu Hi Quý  đến nơi an nghỉ cuối cùng.       

Hầu Hi Quý, quê ở huyện Hán Thọ, tỉnh Hồ Nam, sinh tháng 8 năm 1946. Ông định cư tại Hồng Kông vào năm 1991 và là chủ tịch của nhiều công ty bao gồm Dehui International (Group) Co., Ltd. (Đức Huy 德辉 Quốc Tế (Tập Đoàn) Hữu hạn Công ty)  và Xigui Investment Co., Ltd. (Hi Quý Đầu tư Hữu hạn Công ty) Năm 6 tuổi, ông đã được cha dạy nghề hát và học diễn kịch. Ông đã biểu diễn ở nhiều nơi khác nhau như huyện Công An tỉnh Hồ Bắc, huyện Đồng Nhân, tỉnh Quý Châu, huyện Hán Thọ, Thường Đức, Từ Lợi, Đào Nguyên tỉnh Hồ Nam v.v… Năm 1968, Đoàn ca kịch Đào Nguyên bị giải tán, cả gia đình không còn kế mưu sinh, họ chuyển về huyện Hán Tho, quê hương ban đầu, ông cùng cha mẹ tham gia sản xuất nông nghiệp. Năm 1972, ông đi tha hương ra ngoài kiếm sống. Ông đã biểu diễn trong Đoàn ca kịch Đồng Nhân Quý Châu, Đoàn hát tạp kỹ Bình Hương và Hoa Cổ Kịch Đoàn tại Du Huyện 攸县. Ông định cư tại Trường Sa tỉnh Hồ Nam từ năm 1976.    

Năm 1987, ông đi về phía Nam tới Quảng Đông, và liên tiếp giữ chức Đại đội Phó và Đại đội Trưởng  Cảnh sát Hình sự thị trấn Bảo An và Bố Cát của Thâm Quyến, rồi Cục Phó kế đến Cục Trưởng Chi nhánh Củng Bắc 拱北thuộc Sở Công an Chu Hải. Ông sở hữu những công năng tuyệt kỹ và khí công cao cường, không chỉ được biết đến rộng rãi ở đại lục mà còn nổi tiếng ở Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao. Phó Chủ tịch nước Vương Chấn 王震, Nguyên soái Từ Hướng Tiền 徐向前, Ủy viên Ủy ban Thường vụ, Cố vấn Trung ương Dư Thu Lý 余秋里, và Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc Diệp  Tuyển Bình 叶选平đều đã liên tiếp gặp gỡ ông. Phổ Kiệt 溥杰 (em trai của hoàng đế Phổ Nghi) đã viết cho ông một dòng chữ: “Kim thằng khai giác lộ, bảo phiệt độ mê xuyên, tướng tướng đăng thọ vực, tứ hóa cộng tiên tiên 金绳开觉路,宝筏度迷川,将相登寿域,四化共先鞭 (Sợi dây vàng mở đường giác ngộ, bè báu đi qua sông mê,  tướng võ tướng văn được trường thọ, cùng vung roi đẩy mạnh 4 hiện đại hóa.”

Phổ Kiệt (em trai hoàng đế Phổ Nghi) và vợ là Saga Hao

Người đời khen ông là  “Giang Nam nhất tuyệt (một người tuyệt vời ở Giang Nam)”. Người giàu nhất Hong Kong Li Ka-shing (Lý Gia Thành), vua tàu biển thế giới Bao Ngọc Cương 包玉刚, chủ tịch công ty điện ảnh và truyền hình nổi tiếng một thời TVB (Television Broadcasts Limited) Hong Kong Thiệu Dật Phu 邵逸夫 và nhiều ngôi sao văn học ca nhạc điện ảnh như Kim Dung, Lý Cốc Nhất, Châu Nhuận Phát rất ngưỡng mộ ông. Thậm chí ca sĩ Hồ Nhạn 胡雁 còn lấy ông làm chồng vào năm 2002. Ông từng được Thủ tướng Chu Dung Cơ tiếp kiến.

Biểu diễn tiêu biểu : cách không di chuyển cái bàn mạ vàng của ông Lý Gia Thành

Đó là một ngày mùa xuân rộn rịp năm 1991, Hầu Hi Quý đi chúc tết ông Lý Gia Thành, chủ khách sau một hồi hàn huyên thăm hỏi, bèn nói chuyện một cách thoải mái không có gì câu thúc.

“Đã sớm nghe đại danh của Hầu tiên sinh, hôm nay mới gặp, quả nhiên là tướng mạo đường đường.” Lý Gia Thành ngồi trên sofa, cúi mình cười nói, “nhưng công phu phi phàm của ông, tôi chưa được xem qua, chẳng hay ông có vui lòng cho xem không ?”

Hầu Hi Quý cũng cúi mình, nói : “Không biết Lý tiên sinh muốn xem loại công phu nào ?”

“Tôi có một thỉnh cầu hơi bất thường, không biết Hầu tiên sinh có đáp ứng không ?” Lý Gia Thành muốn thử xem công phu của Hầu Hi Quý cao thấp, nên bỗng nhiên phát sinh chủ ý, ông nói với Hầu Hi Quý, “Ông đã từng đến nhà tôi ăn cơm, chắc còn nhớ trong phòng ăn của tôi có một cái bàn được bao bọc bằng vàng. Nếu như ông có thể đem cái bàn bọc vàng đó đến phòng làm việc của tôi, thì thật là thần diệu đó.”

Hầu Hi Quý nhướng mày hai cái, ông biết cái bàn bọc vàng đó rất nặng, “di chuyển” nó đi hao phí công phu rất lớn, nhưng để cho ông Lý chân thành kính phục, ông đáp ứng. Hầu Hi Quý yêu cầu ông Lý cung cấp tấm drap giường, lập tức có người đi ra giao cho ông. Ông trải tấm drap dưới đất, kéo cho bằng phẳng, sau đó cởi áo ngoài, mặt hướng về phía cửa, đứng ngưng thần, thời gian chốc lát, chỉ thấy bụng của Hầu Hi Quý từ từ hóp vào, mặt đỏ lên, tiếp đó liên tiếp kêu to : “bàn vàng mau đến! bàn vàng mau đến !” Năm ba phút trôi qua, tấm drap dưới đất bỗng đột ngột nổi lên, lúc kéo tấm drap ra, cái bàn vàng to lớn với ánh vàng óng ánh đã ở đó.

Ông Lý Gia Thành kinh ngạc chưa từng thấy, mắt trừng trừng nhìn cái bàn bọc vàng như muốn chứng thực rằng đây không phải là huyễn ảnh mà là sự thật sống động.

Lúc nhìn Hầu Hi Quý, thấy mồ hôi đầm đìa, mắt lờ đờ, ho nhẹ một tiếng, miệng thổ ra hai búng máu tươi.

Lý Gia Thành nghe tiếng kinh hô, bèn sực tỉnh, thấy Hầu Hi Quý miệng thổ máu tươi, cuống lên, vội kêu người đưa Hầu Hi Quý vào bệnh viện.

“Không cần phải khẩn cấp, không cần phải khẩn cấp.” Hầu Hi Quý xua xua bàn tay to lớn của mình, đặt mông ngồi xuống sofa, nói, “ Lý tiên sinh muốn tôi làm, tôi không thể không làm…có hơi mệt một chút, sẽ khỏe ngay thôi, không cần khẩn cấp.”

Ông Lý Gia Thành lắc đầu nhè nhẹ tỏ vẻ áy náy, cầm bút lên, lập tức ký một tờ chi phiếu 100 vạn nhân dân tệ tặng cho Hầu Hi Quý, rồi cùng với Hầu Hi Quý tay khoác tay chụp hình để ghi nhớ kỷ niệm.

Lý Gia Thành và Hầu Hi Quý

Tháng 3 năm 1998, Hầu Hi Quý được bầu làm Ủy viên Ủy ban Toàn quốc của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Báo “Nhân dân Trung Hoa” của Bắc Kinh, tạp chí “Nghĩa Ô” của Đài Loan và Đài truyền hình Châu Á của Hồng Kông đều đã giới thiệu những việc làm của ông.

Năm 2001, ông cũng đã đầu tư 600.000 nhân dân tệ để ủng hộ Bắc Kinh đăng cai tổ chức Thế vận hội Olympic 2008, tặng hai chiếc xe hơi làm phương tiện đi lại. 

Trong 11 năm trước khi ông mất, Hầu Hi Quý đã quyên góp hơn 90 triệu nhân dân tệ cho xã hội, quê hương và con người tại Đại lục, với mức trung bình gần 10 triệu nhân dân tệ mỗi năm, tạo nên kỷ lục cao nhất về các khoản đóng góp của cá nhân trong nước cho xã hội, quê hương và người dân.

Nghiêm Tân (嚴新 1950- Nay còn sống)

Nghiêm Tân là một bác sĩ và nhà khí công cao cấp có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc từ giữa những năm 1980 đến đầu những năm 1990. Ông đã đi tiên phong trong phương pháp khí công, đới công 带功 với các báo cáo, cho phép hàng nghìn người  luyện công trên các bãi đất trống cùng một lúc, và khiến một số người tự công bố phản ứng sinh lý đặc biệt. Vào cuối những năm 1990, Nghiêm Tân Khí Công đã trở thành phong trào tập luyện Khí công đầu tiên được Tổng cục Thể thao Nhà nước phê duyệt và đăng ký.  Ông đã hợp tác với  Viện Khoa học Trung Quốc và Đại học Thanh Hoa để thực hiện nghiên cứu về ứng dụng của Khí công trong vật lý và hóa học.

Từ ngày 6 tháng 5 đến ngày 2 tháng 6 năm 1987, một đám cháy rừng đã bùng phát ở khu Đại Hưng An Lĩnh của tỉnh Hắc Long Giang. Sau khi đám cháy kết thúc, Nghiêm Tân nói rằng ngọn lửa đã được ông phát công dập tắt. Sau đó, ông Hà Tộ Hưu 何祚庥 đã đăng một bài báo, trong đó có đề cập: “Nghiêm Đại Sư không dập lửa vào buổi sáng, mà ông ấy dập lửa vào ban đêm, khi ngọn lửa sắp đốt cháy nhiều khu rừng nhưng ông ấy đã làm hết sức mình để dập lửa”.

Gần đây, khoảng năm 2020 có một số tin đồn trên mạng là Nghiêm Tân đã qua đời. Nhưng một người hâm mộ khí công tên là Trương Binh张兵 đã đăng lên mạng vào ngày 25-02-2020 để phản bác :

“Gần đây, tôi thường đọc tin tức về cái chết của đại sư Khí công Nghiêm Tân trên Internet, tất nhiên là một người đam mê Khí công, tôi cảm thấy rất buồn mỗi khi nghe tin như vậy. Để xác thực sự việc này, tôi đã liên hệ với nhiều bạn bè và xin báo lại sự thật cho mọi người.

Trên thực tế, ngay từ những năm 1990, đã có những kẻ vu cáo ác ý, và đủ loại báo cáo sai sự thật rằng đại sư khí công Nghiêm Tân qua đời . Nhưng sau đó, người có tâm đã tung đoạn video về cuộc đời của ông Nghiêm Tân, đập tan tin đồn bịa đặt là “ông đã chết”. 

Năm 2014, cũng có một nhóm người đưa tin về cái chết của ông Nghiêm Tân, sau đó, một người bạn vì quá bất bình nên đã đăng một bài báo về tình hình sức khỏe và cuộc sống của ông Nghiêm Tân tại Hoa Kỳ, và đính kèm bức ảnh của ông. Câu chuyện và bức ảnh của Nghiêm Tân cũng không khiến dư luận thay đổi, nhiều bạn bè của tôi cũng cho rằng đại sư Nghiêm Tân đã qua đời.

Cách đây không lâu, tôi thấy có người đăng tin về cái chết của đại sư khí công Nghiêm Tân trên các nền tảng thông tin mạng khác nhau, tôi cũng kêu gọi mọi người đừng tin những lời vu khống ác ý của những người có động cơ phỉ báng.  

Vào giữa những năm 1990, ông Nghiêm Tân định cư ở Hoa Kỳ và bắt đầu một cuộc sống tương đối ẩn dật, có nghĩa là kể từ đó, ông Nghiêm Tân liên tục bị bóp méo bởi các phương tiện truyền thông sai sự thật, và những tin tức như cái chết của đại sư khí công Nghiêm Tân đã tiếp tục nổi lên. 

Tháng 3 năm 2019, một người đam mê khí công tên Sơn Nhân đã đến thăm Sư phụ Nghiêm Tân ở California, Hoa Kỳ. Ông mô tả về đại sư Nghiêm Tân, đã gần 70 tuổi: “Cách đó không xa, xuất hiện một người đàn ông gầy còm, ngồi bất động như một tác phẩm điêu khắc đá, nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên là làn da của ông không phải vì gầy mà nhăn nheo. Trái lại, các nếp gấp ít, tươi sáng và đàn hồi, không giống như da của một người ở độ tuổi gần 70 ”.

Trước đây khi nhìn thấy ông, ông luôn đeo kính, nhưng lần này thì không có. Hốc mắt hơi sâu. Tôi không biết diễn tả đôi mắt đó như thế nào, có thần khí sáng sủa chăng, ánh mắt như ngọn đuốc thu phục lòng người chăng. Cảm giác có thể là không chính xác, bởi vì tất cả những từ ngữ này mô tả sự quyến rũ trong mắt của người thường, nhưng chúng lại thiếu đi sự sâu sắc và tĩnh lặng mà những hành giả vĩ đại xuất thế ly tục có được do sự di dưỡng tinh thần vượt ngoài đời thường, an hòa siêu nhiên tam giới. “

Theo lời giới thiệu của Sơn Nhân, Sư phụ Nghiêm Tân luôn muốn Khí công được chính danh, và không ngừng tìm kiếm người để kế thừa, nhưng tình hình đã thay đổi, vì vậy ông chỉ thuận theo tự nhiên, thuận theo thời thế, tùy thời mà nghỉ ngơi và ông cũng có cơ hội để nghỉ ngơi thật tốt.

 Thông tin này về đại sư Nghiêm Tân đã trực tiếp phá vỡ các báo cáo ác ý về “cái chết của đại sư khí công Nghiêm Tân”.

“Trên thực tế, dù sống ở Mỹ nhưng việc nghiên cứu khoa học của ông Nghiêm Tân vẫn chưa dừng lại, và tôi vẫn thường xuyên xem các bài báo cáo thí nghiệm của ông Nghiêm Tân mà bạn bè chuyển từ Mỹ về, đọc xong thấy tôi rất phấn khởi.”

Ông Nghiêm Tân sinh năm 1950, quê ở làng Đông An, thành phố Giang Du 江油, tỉnh Tứ Xuyên, năm nay (2020) ông 70 tuổi.

Ông Nghiêm Tân từng là bác sĩ ở Tứ Xuyên, sau đó đến Trường Cao đẳng Y học Cổ truyền Trung Quốc Thành Đô để học thêm, và sau đó giảng dạy tại  Miên Dương Trung Y Học Viên Tứ Xuyên, và được chọn tham gia công tác nghiên cứu lâm sàng tại Trùng Khánh Trung Y Nghiên cứu Sở. Vì đã học khí công từ nhỏ nên ông Nghiêm Tân đã theo học với hơn 20 thầy nổi tiếng về khí công, y học và võ thuật.

Vào mùa hè năm 1974, Nghiêm Tân phụng mệnh “xuống núi”, và từ đó ông bắt đầu thực hành các môn khí công ứng dụng thực tiễn của mình, chẳng hạn như chữa bệnh và cứu người, dạy các bài tập và làm thí nghiệm khoa học. Ông không tính phí trị bệnh và giảng dạy, và sống một cuộc sống giản dị, khiêm tốn và thận trọng. Ông cống hiến vô tư và được mọi người tôn kính Những bài giảng của ông về thực hành khí công ở hàng trăm nơi đã phổ biến kiến ​​thức về khí công trên diện rộng. Việc làm đó đã thúc đẩy sự nghiệp Khí công phát triển.

Ông đã hợp tác với các nhà khoa học để thực hiện hàng loạt thí nghiệm khoa học thành công, được nhà khoa học Tiền Học Sâm đánh giá rất cao, coi đó là “bước đột phá lớn trong nghiên cứu khoa học nhân thể”, “phát hiện mới của khoa học và là tiền thân của cách mạng khoa học.” Năm 2000, đại sư khí công Nghiêm Tân có gặp và chụp ảnh chung với Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Trước đó ông cũng có chụp hình với tổng thống Mỹ Bush (cha)

Với việc Nghiêm Tân được mời đến thăm Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ, Canada, Mexico và các quốc gia khác, Nghiêm Tân Khí Công đã truyền bá ra nước ngoài. Hiệp hội Khoa học Khí công Nghiêm Tân Quốc tế đã được thành lập và vài chục quốc gia đã thành lập các chi nhánh, để Khí công, báu vật của TQ, sẽ tỏa sáng rực rỡ hơn trên thế giới.

Biểu diễn tiêu biểu tại Nhật Bản

Trong lần đến thăm Nhật Bản, Nghiêm Tân đã có cuộc thi đấu khí công ngoài dự định với một nhà khí công Nhật Bản và đã giành thắng lợi.

Hôm đó vào buổi tối ngày 17-11-1986, tại khách sạn Ðại Tân Cốc Tokyo, giới đồng nghiệp Nhật mở tiệc chiêu đãi các bạn Trung Quốc. Giữa tiệc, ông Kusudu, Chủ tịch Hội nghiên cứu khoa học khí công của Nhật Bản phàn nàn với trưởng đoàn Trung Quốc Trương Chấn Hoàn về nỗi khổ do bệnh đau khớp khuỷu tay đã nhiều năm chữa trị nhưng vô hiệu của mình và ông muốn nhờ một nhà khí công nào trong đoàn Trung Quốc chữa trị giúp. Trương Chấn Hoàn đã giao nhiệm vụ này cho Nghiêm Tân và đề nghị Nghiêm Tân sẽ nâng năm ly rượu lên Kusudu. Khi dâng rượu sẽ phát công chữa bệnh. Phương án trị liệu giàu kịch tính này làm người bạn Nhật Bản rất khoái. Kusudu vốn là bậc lão thành trong giới khí công Nhật, công lực không phải loại thường. Hơn nữa ông ta tửu lượng hơn người, từng có kỷ lục tối cao: uống liền mười tám chai rượu mạnh mà không say, có biệt hiệu “Hũ rượu đại”. Khi nhận nhiệm vụ, Nghiêm Tân ngầm phát công lực thăm dò biết rằng, dây chằng khớp của Kusudu bị tổn thương ở dạng mãn tính, ông rót một ly rượu nhỏ Mao Ðài, dùng hai tay nâng cho Kusudu, Kusudu đứng lên nhận lấy, rồi uống một hơi cạn. Lúc Nghiêm Tân định nâng tiếp ly thứ hai thì đâu ngờ vị “Hũ rượu đại” này có vẻ chuếch choáng nói: “Thôi, đổi uống bia”, rồi lại đòi chia cốc bia ít nồng độ này thành 4 lần uống, gọi là cho đủ năm ly. Sau khi Kusudu nhăn nhó uống hết chỗ bia cuối cùng thì kỳ tích lập tức xuất hiện: với một bộ mặt đỏ gay, Kusudu giơ cao cánh tay đau của mình, co duỗi một lúc rồi vui sướng nói: “Hết đau rồi, không còn chút đau nào nữa! Công phu của Nghiêm tiên sinh quả thật cao siêu!”. Ông ta là người trong nghề, ông hiểu rằng chỗ rượu ấy đã được Nghiêm Tân xử lý bằng công lực, chỗ đau nơi khuỷu tay mình cũng đã được Nghiêm Tân phát khí chữa trị.

Trong giới khí công của Nhật Bản cũng không thiếu những người không tin phục. Một hôm các đồng nghiệp hai nước Trung – Nhật đang vui vẻ toạ đàm, thì một nhà khí công Nhật Bản tên là Sukitari, thông qua phiên dịch đề nghị được đấu “khí lực” để phân thắng bại với Nghiêm Tân. Không hiểu là do không nghe thủng ý của Sukitari hay do không hiểu sâu tính cách võ sĩ đạo của một số cao thủ trong giới khí công Nhật Bản, mà người phiên dịch sợ khi chuyển ngữ quá thẳng sẽ làm tổn thương đến tình hữu hảo giữa đôi bên, nên ông đã dịch cho Nghiêm Tân là để “học hỏi lẫn nhau”.

Nghiêm Tân vui vẻ nhận lời, nhưng khi nhìn sang đối phương Nghiên Tân cảm thấy sững sờ. Là một người đã luyện công, tập võ hơn ba mươi năm, hơn nữa lại có trong người những công năng đặc dị thần kỳ, Nghiêm TÂn nhận ra ngay “học hỏi lẫn nhau” ở đây bao hàm ý nghĩa gì. Sang Nhật lần này là một cuộc viếng thăm hữu nghị, Nghiêm Tân không hề chuẩn bị thi thố, đọ sức với bạn, nay họ đã chiếu thư, mà xem ra không phải là do ngẫu hứng nhất thời. Vừa rồi mình đã nhận lời, nếu làm thật, Nghiêm Tân tự hiểu công lực của mình có thể làm tổn thương đến đối phương, thậm chí có thể hủy các lục phủ ngũ tạng, như vậy không phù hợp với đạo đức trong võ lâm, không lợi cho tình hữu nghị giữa hai nước. Nhìn lại đối phương, rõ ràng không phải cỡ tầm thường, nếu có sơ suất, hậu quả khôn lường. Ngồi ở chỗ mình nhìn bên ngoài Nghiêm Tân có vẻ trấn tĩnh khác thường, nhưng trong đầu đã suy tính cân nhắc nhanh chóng. Sukitari không chút nể nang, lấy thế, vận khí, phát công lực mạnh nhằm thẳng vào mặt Nghiêm Tân. Mọi người nên hiểu đó là một nhà khí công có hạng của nước Nhật, châm cứu, điểm huyệt đều vào loại thượng thặng. Khi Sukitari vận đủ đan điền khí phát mạnh công vào Nghiêm Tân, thần lực đó hết sức lợi hại, nhưng Nghiêm Tân không hề cảm nhận chút nào, vẫn nói cười bình thường với mọi người, thản nhiên như không.

Thấy luồng khí phủ đầu phát ra không có tác dụng gì, Sukitari liên tục tăng lực phát công, mồ hồi trên trán vã ra nhưng Nghiêm Tân vẫn ngồi ngay ngắn vững chãi. Thấy không ổn, Sukitari dùng khí thu công, đề nghị được thay đổi phương hướng phát khí từ sau lưng Nghiêm Tân, Nghiêm Tân ưng thuận thoải mái. Sukitari lại lấy thế, liên hồi vận khí, nhằm đúng lưng Nghiêm Tân phát công ác liệt, nhưng vẫn vô hiệu, anh ta ướt đẫm mồ hôi, trong lòng cảm thấy lạ lắm. Chính diện tấn công không thấy nhúc nhích, phát công từ sau lưng cũng không thấy suy chuyển, hay là do cự ly quá xa? Sukitari liền đến sát bên Nghiêm Tân, áp bàn tay vào lưng ông, vận toàn lực phát khí, dùng cả cơ cánh tay đẩy mạnh vào lưng Nghiêm Tân. Không ngờ cứ như bị va phải một hòn đó to, anh ta mệt mỏi thở gấp, mồ hôi vã ra như tắm, mặt đỏ gay. Nghiêm Tân vẫn ngồi như không có việc gì xảy ra. Sukitari hiểu rằng hôm nay đã gặp phải cao thủ. Nếu như chỉ dựa vào phát lực khí công và cậy sức húc bừa bãi thì chỉ có thất bại thảm bại. Anh ta đưa hai tay điểm luôn xuống huyệt Bách hội trên đỉnh đầu Nghiêm Tân. Ðây không phải là trò đùa, nếu huyệt này bị cao thủ điểm trúng thì chí ít cũng bị ngây ra như gỗ. Nhưng Nghiêm Tân vẫn vững như Thái Sơn, an toạ bật động, không hề cảm thấy gì khác thường. Lúc này nhìn bại cục đã định, Sukitari mồ hôi đầm đìa, thở hổn hển, trợn tròn hai mắt, bất ngờ vung ra đòn hiểm độc cuối cùng, giơ ngón tay bắt mạnh vào động mạch họng của Nghiêm Tân. Tóm bắt mạch vào động mạch họng là ngón đòn hiểm độc nhất. Người bị bắt trúng nếu không chết ngay thì sẽ bị tổn thương. Tuy vẫn ngồi yên thản nhiên, nhưng Nghiêm Tân hiểu rõ tính chất leo thang nâng cấp trong các động tác mà đối phương tung ra. Nhanh như cắt, khi tay đối phương vung tới, Nghiêm Tân không né tránh, cũng không trả đòn mà ông quay hẳn đầu lại để cho Sukitari tóm bắt “ngon lành”. Kết quả là Nghiêm Tân vẫn bình an. Ðến nước này, nguyên khí trong người Sukitari mất sạch, chân tay bủn rủn, toàn thân rã rời, mới biết vị khí công danh sư trước mặt mình này quả là “danh bất hư truyền.” Ông ta cúi mình nhận thua tại chỗ và nói thành khẩn: “Công phu của ngài quả là lợi hại, cao siêu! Xin bái phục.” Rồi gọi người con trai đến, hai cha con cùng khẩn cầu bái Nghiêm Tân là sư phụ. Cuộc đọ võ hấp dẫn này làm cho người Nhật Bản vô cùng thán phục tài nghệ của Nghiêm Tân. Kế hoạch dự định sẽ có một cuộc đọ quyền giữa một quyền sư Nhật Bản với Nghiêm Tân, và một nhà kiếm thuật đọ kiếm với Nghiêm Tân được đối phương chủ động xin hủy bỏ.   

Nhân tiện đây tôi cũng xin nói thêm về  một video tỷ thí khí công giữa một nhà khí công TQ (Ngộ Lạc悟乐) và một nhà khí công Nhật Bản (Kawasaki) được thu từ một chương trình truyền hình Nhật Bản như sau : Ngộ Lạc đại sư cách không kích đảo Nhật Bản võ sư 悟乐大师隔空击倒日本武师. (2009-12-18 15:47:07)

Thi đấu khí công giữa TQ và Nhật Bản

Đại sưkhí công TQ Ngộ Lạc cách không đánh ngã cao thủ khí công  Nhật Bản Kawasaki là người của hãng xe mô tô Kawasaki

Đoạn video này là của thầy giáo Tạ Vi Tập 謝為集ghi lại hơn mười năm trước. Nó được ghi lại từ TV Nhật Bản khi ông đi dạy ở Nhật Bản. Nội dung như sau. Khi đó, nhà khí công người Nhật cách không quật ngã một chàng trai người Mỹ. Lúc đó nhà khí công Nhật khiêu chiến nói muốn đánh ngã đại sư Ngộ Lạc, và đại sư Ngộ Lạc đã trả lời: “Hôm nay tôi sẽ cho các bạn biết năm nghìn năm văn hóa Trung Quốc là như thế nào!” Thế là đã xảy ra cuộc tỷ thí mà video trên đã ghi lại.
Tuy nhiên, sau đó ông ấy đã mời một chuyên gia khí công (không rõ quốc tịch), và kung fu của ông ấy rất giỏi. Ông đang ngồi thiền trên mặt đất, ba người đàn ông to lớn người Mỹ cùng lúc tấn công, cách ông hai mét, họ lần lượt ngã xuống đất, không thể đến gần, thậm chí không thể bò dậy được. Vừa định đứng dậy, vị cao nhân nhẹ nhàng vẫy tay, tay chân mà mấy người đàn ông dùng sức chống đỡ liền tê liệt rơi xuống đất, dùng hết sức giãy dụa nhưng không đứng lên được.

TV giới thiệu rằng cha mẹ của vị cao nhân này là một người Trung Quốc và một cụ bà 80 tuổi. Không hiểu vì lý do gì mà đài truyền hình lại không sắp xếp để vị võ sư này giao đấu với đại sư Ngộ Lạc, có lẽ vì họ là đồng hương. Telekinesis (cách không di chuyển vật) rất phổ biến ở Hoa Kỳ, và huấn luyện viên là một người Trung Quốc ẩn danh (người đó có thể là Nghiêm Tân). Thật không may, các đoạn trích rất ngắn, khiến một số cư dân mạng thiếu  hiểu biết có thể bị mù tịt.

Trương Bảo Thắng (張寶勝 1958-2018)

Sáng sớm ngày 3/8/2018, Trương Bảo Thắng, “nhân vật đệ nhất đặc dị công năng”, đã qua đời tại Bắc Kinh, hưởng thọ 60 tuổi (1958-2018). Người đàn ông kỳ lạ này, người nổi tiếng khắp Trung Quốc vào thời điểm thập niên 1980 và được phụ nữ và trẻ em biết đến. Tin tức về cái chết của ông ấy lan tràn trên mạng xã hội. Ngoài ra, không có sự chú ý của giới truyền thông chính thống. Nhưng có rất nhiều người theo dõi Trương Bảo Thắng. Trên tài khoản công khai của ông “Zhang Baosheng Supernatural Research Association= Hội Nghiên cứu Siêu nhiên Trương Bảo Thắng” có một bài báo “Tôi cầu chúc Bảo Thắng một cuộc hành trình tốt” số người xem sớm đạt 10 vạn view chứng tỏ công chúng độc giả vẫn còn hoài niệm ông. Một người trong số họ đã để lại lời nhắn ngay sau khi dự đám tang của ông ấy : “Bảo Thắng vẫn còn chữa bệnh cho mọi người hồi tháng 6-2018, và anh ấy nhất định sẽ chúc phúc cho mỗi chúng ta.” Trên thực tế, sau màn trình diễn thất bại vào năm 1995, vị đại sư này đã biến mất khỏi công chúng. Nhưng chủ nhân vẫn chưa đi xa, và mảnh đất nơi chủ nhân sống cũng rất phong phú và màu mỡ.

Hai mươi năm sau màn trình diễn thất bại, Trương Bảo Thắng vẫn được đãi ngộ tương đương cấp trung đoàn trưởng. Ông có hai vệ sĩ riêng và sống ẩn dật trong ngôi nhà thuộc Viện Nghiên cứu Bí ẩn và Siêu nhiên Trung Quốc.

Khu nhà nơi ông sinh sống nằm ở số 1A, đường Viên Minh Viên Tây Bắc Kinh. Đây là một khu cộng đồng dân cư nhiều tầng kiểu cũ. Lối vào được bảo vệ rất chặt chẽ và cấm ra vào nếu không có giấy tờ.

Khu nhà nơi Trương Bảo Thắng ở, phía tây Bắc Kinh 

Ông đã ly hôn với vợ cũ và lấy một cô vợ trẻ hơn, nhưng ông chán nản và rượu chè suốt ngày, vợ ông hết lần này đến lần khác đưa bạn bè cũ đến an ủi ông.

Năm trước, ông từ chối gặp gỡ các phóng viên, và khá thận trọng về ý định đến thăm của các phóng viên, và thỉnh thoảng hỏi các phóng viên về mục đích phỏng vấn. Vào thời điểm đó, Vương Lâm, một cao thủ đặc dị công năng giống như ông, đã chết vì bệnh trong bệnh viện sau khi bị giam giữ. Chỉ đến lúc đó mọi người mới nhớ tới vị siêu cấp sư phụ từng là toàn năng một thời. Những người theo dõi Trương Bảo Thắng nói: “Nhà nước đã giấu ông ấy và giữ bí mật cho ông ấy, và Trương Bảo Thắng chắc chắn sẽ được sử dụng khi đất nước gặp khó khăn. Một số cư dân trong tiểu khu chế giễu và nói: “Đó là một kẻ nói dối, tại sao lại đề cập đến ông ta?” Không biết bộ não vốn thường xuyên bị rượu gây mê của Trương Bảo Thắng có hồi tưởng lại những khoảnh khắc huy hoàng thời trước của ông.

Trương Bảo Thắng nhất định có thể gọi là đại sư của thế hệ trước, ông là một nhân vật bí ẩn của quốc gia, hành trạng của ông  cũng trải qua  rất nhiều tranh cãi. Một số người khẳng định đặc dị công năng của ông, một số người nói rằng ông là một kẻ dối trá.

Tuy nhiên, ông không chết trong tù, ông chết ở một nơi bí ẩn, có liên quan đến một số cơ chế bí ẩn của đất nước. Nhà ngoại cảm nổi tiếng Trương Bảo Thắng chết đột ngột vì đau tim và không được báo chí đưa tin nhiều, ông đã đóng góp rất nhiều cho đất nước, nhưng cho đến nay thế giới vẫn tiếp tục hiểu lầm và chế giễu ông.

Có người nói rằng ông đã lừa dối Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, nhưng cũng có người nói rằng ông đã tham gia vào việc cấp cứu Diệp Nguyên soái bằng cách sử dụng đặc dị công năng của mình.

Nếu Vương Lâm (王林1952-2017 sinh tại huyện Lư Khê芦溪tỉnh Giang Tây, ông nổi tiếng ở môn khí công) có thể được gọi là cao thủ, thì không nghi ngờ gì nữa, Trương Bảo Thắng là bậc thầy của một thế hệ đặc dị công năng.

Vào mùa hè năm 1957, một gia đình trò chuyện sau bữa tối ở ngoại ô Nam Kinh, tỉnh Giang Tô. Bỗng có sấm chớp, mưa to, một quả cầu lửa màu xanh từ trên trời rơi xuống, sà vào nhà quay đi quay lại, sau tiếng lạch cạch, quả cầu lửa vụt tắt. Năm sau, người vợ sinh được một bé trai. Vì nhà nghèo và không thể nuôi dạy được, cậu bé được giao cho một gia đình người dì, chị của mẹ, ở Bản Khê, tỉnh Liêu Ninh, và đặt tên là Trương Bảo Thắng.

Trương Bảo Thắng, sinh năm 1958 tại thành phố Bản Khê, tỉnh Liêu Ninh. Học vấn sơ trung, thợ tạp dịch ở mỏ chì Hoàn Nhân thành phố Bản Khê, tỉnh Liêu Ninh. Ông có công năng nhận ra chữ bằng ” lỗ tai”, Trương Bảo Thắng khai rằng ông có khả năng “nhìn không phải bằng mắt” và có thể biểu diễn “chuyển vật thể đi  và nhận vật thể đến bằng tâm niệm”. Ông đã từng biểu diễn nhiều đặc dị công năng, v.v., và sau đó ông bị chỉ trích và bài bác vì người ta cho rằng ông có hành vi gian lận.  

Khi còn nhỏ Trương Bảo Thắng đã phải chịu đựng rất nhiều gian khổ vì không hiểu được thế giới quan của hầu hết mọi người trên đời. Vì ông dựa vào một số kinh nghiệm của mình, những gì mình đã thấy, đã cảm nhận, những sự việc người khác không thể hiểu, ông đã nói ra, và thậm chí đã làm một số việc dị thường, và phải chịu đựng rất nhiều bôi bác.

Vào tháng 5 năm 1982, ông được chuyển đến Bắc Kinh bởi Tổ chức Khí công đặc dị công năng. Quay lại những năm 1980, khi mà thông tin còn tương đối khép kín, và có rất nhiều tài năng đặc dị khắp nam bắc.

Được sự chấp thuận của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp Quốc phòng, ngày 2 tháng 6 năm 1983, Trương Bảo Thắng chính thức được chuyển đến Viện 507. Kể từ đó, dấu chân của Trương Bảo Thắng đã trải dài khắp các đơn vị bao gồm 11 cơ quan kể cả chính phủ, quan chức hay nơi ở của gia đình. Qua các buổi  biểu diễn, anh đã giành được giải thưởng. “Thần Nhân神人”, “Trung Quốc Thánh Nhân中国圣人”, “Bảo vật quốc gia và khí công sư国宝级气功师”, “Phật sống Bồ tát活佛菩萨”, v.v., và đã được cấp chuyên xa, nhà riêng, có người phục vụ riêng, trở thành bảo vật quốc gia được lãnh đạo trung ương đặc biệt coi trọng.

Biểu diễn tiêu biểu của Trương Bảo Thắng tại Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh

Bắc Kinh Nhân Dân Đại Hội Đường, trang nghiêm, vĩ đại, là nơi hội họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (tức Quốc Hội Trung quốc) là nơi làm việc của Thường vụ Ủy viên Hội. Các hoạt động trọng đại của cả nước thường được cử hành tại đây. Các vị lãnh đạo Trung ương tiếp kiến khách nước ngoài và hội kiến với những nhân vật quan trọng đều tiến hành tại đây. Phàm những hoạt động được tổ chức tại đây đều có tính chất trọng yếu và quyền uy. Hôm nay tại đại sảnh đường của Bắc Kinh Nhân Dân Đại Hội Đường, đèn hoa chiếu sáng, các nhà nhiếp ảnh, quay phim, ảo thuật gia, nhiều vị lãnh đạo và rất đông khán giả đều có mặt. Có người đến vì lòng hiếu kỳ, có người mang ánh mắt nghi ngờ, có người mang tâm lý vận động bài trừ, có người mang ánh mắt phủ định…tất cả vây quanh vũ đài, đợi Trương Bảo Thắng biểu diễn.

Trương Bảo Thắng cảm thấy rằng lần biểu diễn này tại Bắc Kinh không giống lần trước. Lần trước là biểu diễn hội báo, không khí hài hòa, nhưng chỉ là biểu diễn tương đối dễ dàng như thấu thị, dùng mũi nhận chữ. Còn lần này trong điều kiện cực kỳ nghiêm túc để giám định công năng của anh là thực hay giả, huống chi tại hiện trường rất nhiều người đang chuẩn bị “tìm cách phá bĩnh” nữa. Nhiều máy quay phim đặt ở các vị trí trên, dưới, bên phải, bên trái, mọi góc độ, sẵn sàng theo dõi mọi động tác của anh. Không khí thật là khẩn trương . Hạng mục biểu diễn là dùng “ý niệm di chuyển vật” Ngay cả những người tin tưởng sự tồn tại của đặc dị công năng cũng mướt mồ hôi trán thay cho Bảo Thắng, trong lòng suy nghĩ : anh ấy có làm được không ?

Biểu diễn bắt đầu. Trong một thùng sắt, bỏ vào hai trái táo (apple), đậy nắp, dùng que hàn điện hàn kín. Người chủ trì để cho Trương Bảo Thắng dùng ý niệm lấy trái táo ra. Chỉ thấy anh im lặng, không gây tiếng động, trấn định tự tâm. Mọi con mắt nhìn chăm chăm vào người anh, quan sát nhất cử nhất động của anh. Một phút, hai phút, năm phút rồi mười phút trôi qua, đến khi bức màn trong não của anh xuất hiện một quả táo, anh mới dùng ý niệm mang trái táo đặt ở một góc của vũ đài. Lúc đó trên bức màn nhỏ trong não của anh không còn trái táo. Theo kinh nghiệm của anh, anh tin rằng một trái táo trong thùng sắt đã đi ra ngoài, trái kia vẫn còn trong thùng. Anh nói với mọi người : “một trái táo đã ra ngoài”. Nhiều người không tin, bởi vì họ thấy Trương Bảo Thắng trước sau vẫn đứng cách thùng sắt hơn một mét, anh hoàn toàn không chạm vào thùng sắt, trái táo làm sao ra ngoài được chứ ? Người chủ trì ra lệnh cho người mở nắp thùng sắt, mọi người đều phát hiện thiếu mất một quả táo. Bảo Thắng nói với mọi người, trái táo lấy ra đang nằm ở một góc vũ đài, người ta theo chỉ dẫn của anh, quả thật tìm thấy quả táo.

Chính lúc mọi người bàn luận sôi nổi, có người khen ngợi, có người hoài nghi, muốn tìm một khuyết điểm nào đó, một vị lãnh đạo thuộc Ban bí thư, nói : “Tôi được lãnh đạo ủy thác đến tham gia trắc nghiệm, cuộc biểu diễn vừa rồi tôi xem không rõ lắm, tôi hi vọng có thể làm một thí nghiệm ngay trên người mình”, tiếp đó ông dùng tay chỉ chiếc huy chương trên ngực mình, nói : “mời Trương Bảo Thắng dùng ý niệm mang nó đi, được không ?” Người chủ trì biết đây là người muốn vạch khuyết điểm, nên hướng về Bảo Thắng nói : “Anh thấy được không ?”. Bảo Thắng gật đầu. Chỉ thấy anh nhìn một chút chiếc huy chương trên ngực ông bí thư, mà không thấy anh đi lại gần ông ta, cự ly giữa hai người khoảng vài mét. Khán giả tại hiện trường có người nhìn ông bí thư, có người nhìn Trương Bảo Thắng, mọi người chờ đợi anh lên tiếng trả lời. Ông bí thư cũng đắc ý chờ đợi Bảo Thắng lên tiếng trả lời “được” hoặc “không được”. Không ngờ Trương Bảo Thắng không trả lời câu hỏi, chỉ nói : “di chuyển rồi”. Ông bí thư như đang mơ chợt tỉnh, vội dùng tay sờ vào trước ngực, nhưng cái huy chương đã biến đâu mất từ lúc nào, ông hoảng hốt tìm kiếm, trên dưới đều không thấy. Trương Bảo Thắng chỉ nói một câu : “huy chương đã ở trên thân người khác rồi” Không ít người lật đật mò tìm túi trên túi dưới của mình. Trong đám đông có người kêu lên : “trên người tôi có một chiếc huy chương, nó làm sao mà đeo vào được ?” Khi chiếc huy chương được chuyền đến tay ông bí thư, ông nhận ra nó ngay, đó chính là chiếc huy chương ông vừa mới đeo trên ngực. Ông bí thư bị á khẩu không nói nên lời. Người tại hiện trường còn chưa hết ý, đều hứng thú vây quanh Trương Bảo Thắng, nhiệt tình hỏi anh về cảm giác và công năng.

Ông đã được nhiều nhân vật lãnh đạo cao cấp của nhà nước TQ tiếp kiến trong đó có Phó Thủ tướng Bạc Nhất Ba là người cùng thế hệ và là đồng chí với Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Kết luận

Thời gian đã bước sang thập kỷ thứ ba của thế kỷ 21, thế giới không còn cần bất cứ đặc dị công năng nào nữa, dù cho có đặc dị công năng tồn tại, xã hội chúng ta cũng không chịu thừa nhận, chúng ta tuyệt đại đa số là những người theo chủ nghĩa duy vật.

Mọi thứ đều có thể giải thích được bằng khoa học, và những thứ không thể giải thích được bằng khoa học thì không được phép tồn tại. Lý luận Logic này về cơ bản là ý đồ lớn của chúng ta, bất chấp là nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại thế kỷ 20 là Albert Einstein đã bị chứng tỏ là sai lầm hết sức cơ bản. Vậy Einstein sai lầm ở chỗ nào ?  

Sai lầm lớn nhất và cơ bản nhất của Einstein là ông cho rằng có một thế giới khách quan có thật nằm ngoài tâm niệm của con người. Quan niệm của ông được minh họa bằng hình ảnh Mặt trăng.

Einstein nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn tồn tại ở đó ngay cả khi tôi không đang nhìn nó”

Thật tế là Mặt trăng cũng như tất cả mọi vật chỉ là thức, là tâm niệm của con người, chứ vật chất không có thực thể, kể cả không gian, thời gian đều không có thực thể. Điều này đã được Niels Bohr nêu lên khi ông còn sống. Và đến năm 1982 tại Paris, Alain Aspect đã chứng tỏ quan điểm của Niels Bohr là đúng, quan điểm của Einstein là sai.

Bohr nói :“Mọi thứ chúng ta gọi là có thực được cấu tạo bằng những thứ không được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây shock một cách sâu sắc cho bạn thì có nghĩa là bạn chưa hiểu gì về nó.”

Chính vì lẽ đó Phật giáo từ thời xa xưa đã nói rằng Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

Nhưng tại sao quan điểm sai lầm của Einstein lại được tuyệt đại đa số mọi người chấp nhận còn quan điểm của Bohr lại chẳng được mấy ai để ý ? Ngay cả hàng tỷ Phật tử mặc dù miệng họ nói “Tất cả là do tâm tạo” mà họ đã quen tụng đọc trong kinh điển nhưng thực tế là họ chẳng hiểu chút gì thế nào là do tâm tạo, họ vẫn ham mê vật chất, ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, như bao nhiêu người khác. Bởi vì cái thói quen đã ăn sâu vô cùng thăm thẳm trong tâm khảm của họ mà kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng. Chỉ có một số rất ít bậc giác ngộ nhận ra pháp giới chỉ là tâm niệm, là thức, chứ không phải là thực thể khách quan. Cái mà mọi người và cả Einstein gọi là khách thể, khách quan (object, objective) thật tế chỉ là chủ quan tập thể (collective subjectivity)    

Các nhà đặc dị công năng như Hầu Hi Quý, Trương Bảo Thắng đã qua đời, một thời đại đã kết thúc, cái gọi là siêu năng lực chỉ còn tồn tại trong truyền thuyết và ký ức, từ nay về sau, thế giới không còn cần những thứ này tác động đến thế giới quan của con người nữa. Song đó chỉ là quan điểm của những người thiển cận. Các nhà khoa học thấu hiểu cơ học lượng tử như Niels Bohr, Amit Goswami, Brian Greene hiểu rằng đặc dị công năng không hề trái với khoa học và cũng không phải là không giải thích được bằng khoa học.

Những biểu diễn của Trương Bảo Thắng về cách không di chuyển vật, dùng tâm niệm di chuyển vật, các nhà khoa học này nghĩ rằng trong tương lai nhân loại sẽ đi tới thời đại đó và phương thức di chuyển đó gọi là viễn tải lượng tử (quantum teleportation)

Trương Bảo Thắng đã thực nghiệm phương thức di chuyển đó bằng tâm linh còn trong tương lai thì con người sẽ thực hiện bằng khoa học. Viễn kiến đó được hình dung trong video clip sau :

Đi xa không giới hạn trong tích tắc bằng viễn tải lượng tử  

Hiện nay nhân loại cũng đang chế tạo những máy tính lượng tử có tốc độ nhanh hơn siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay hàng tỷ lần.

Tờ South China Morning Post ngày 26-10-2021 dẫn thông tin từ nhóm nghiên cứu cho biết máy tính lượng tử Jiuzhang 2 (九章二号Cửu Chương 2) có thể tính toán một vấn đề trong một phần nghìn giây thay vì 30 nghìn tỷ năm nếu dùng máy tính thông thường. Trong nghiên cứu công bố trên hai tạp chí Physical Review Letters và Science Bulletin, trưởng nhóm Pan Jianwei (潘建伟 Phan Kiến Vĩ)cho biết Zuchongzhi 2 (祖冲之二号 Tổ Xung Chi-2) , máy tính lượng tử này sử dụng qubit photon lập trình 66 qubit, nhanh gấp 10 triệu lần siêu máy tính nhanh nhất thế giới Fugaku của Nhật Bản và mạnh hơn hẳn so với máy tính lượng tử Sycamore 55 qubit của Google ra đời năm 2019.

Cửu Chương-2 có 76 qubit. Các nhà nghiên cứu đã tăng số lượng qubit từ 76 lên 113 để nó càng nhanh hơn nữa. Máy tính lượng tử có tốc độ kinh hồn như vậy mới có khả năng thực hiện viễn tải lượng tử. Nhưng viễn tải lượng tử cũng còn là tương lai xa đối với nhân loại.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 4 bình luận