Bảng tổng hợp mp3 giải đáp của Thầy Duy Lực và Mục lục

Bảng Tổng hợp các danh mục Audio mp3 Giải đáp của Thầy Duy Lực

Bảng Tổng hợp 2, Danh mục liệt kê các công bố của Duy Lực Thiền (tiếp)

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới

Thông Báo 28-02-2014  (thông báo này chỉ còn là dấu tích lịch sử, không còn khả dụng)

Do Microsoft đã có nhiều thay đổi về cách sử dụng Skydrive (nơi chứa các files âm thanh thuyết pháp của thầy Duy Lực) mà nay đã đổi tên thành OneDrive, nên muốn download các files âm thanh đó, không thể bấm trực tiếp vào các files cụ thể liệt kê trên trang Duy Lực Thiền, quý vị chỉ cần nhớ số thứ tự của file muốn download, hãy bấm vào hàng chữ : Mở thư mục âm thanh … …

Nó sẽ mở ổ đĩa OneDrive trên mạng theo số thư mục có ghi trên hàng chữ nói trên. Xin nhớ một điều, mỗi thư mục chứa tới 100 files trong khi mỗi bảng liệt kê trên Duy Lực Thiền chỉ kê 50 files. Do đó cần thiết phải nhớ số thứ tự thì mới dễ tìm. Bảng kê trên trang Duy Lực Thiền chỉ còn tác dụng nêu đại ý của file âm thanh với chữ có dấu nên dễ đọc. Còn bảng liệt kê trên OneDrive là tên file, chữ không có dấu nên khó đọc hơn. Nhớ số thứ tự thì dễ dàng tìm đúng file mình muốn download. Bấm vào tên file để download.

Quý vị có thể dùng computer, laptop, máy tính bảng hay smartphone đều có thể download được. Tốt nhất là dùng smartphone, vì nó là một phương tiện gần gũi nhất với mỗi người và rất tiện lợi để nghe bất cứ lúc nào rảnh rỗi. Tuy là files âm thanh nhưng một số files có hình của các nhân vật được đề cập, quý vị có thể thấy được hình khi nghe bằng máy nghe nhạc trên điện thoại.

Kể từ ngày 18-09-2017 phần thuyết giảng trực tiếp của Thầy Duy Lực đã được chuyển về trang Duy Lực Mp3 Mới.

Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Duy Lực dịch và trứ tác

01 Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải

02 Bá Trượng Ngữ Lục

03 Bá Trượng Quảng Lục

Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục – Hoài Hải Thiền Sư mp3

04 Bửu Tạng Luận – Tăng Triệu

Bửu Tạng Luận mp3

05 Cội nguồn truyền thừa và Phương pháp tu trì của Thiền tông

Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì Thiền Tông mp3

06 Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma

Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma mp3

07 Đại Huệ Ngữ Lục

Đại Huệ Ngữ Lục mp3

08 Đại Thừa Tuyệt Đối Luận – Nguyệt Khê Thiền sư

Đại Thừa Tuyệt Đối Luận mp3

09 Danh từ Thiền Học – Ngữ vựng Phật Học

10 Đường lối thực hành Tham Tổ Sư Thiền- Duy Lực

Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền mp3

11 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 2 mp3

12 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 2 mp3

13 Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết mp3

14 Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền

Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền mp3

15 Truyền Tâm Pháp Yếu – Hoàng Bá Hy Vận

Truyền Tâm Pháp Yếu- Hoàng Bá Hy Vận mp3

16 Kinh Kim Cang

Chư Kinh Tập Yếu : Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh mp3

17 Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già mp3

18 Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Kinh Thủ Lăng Nghiêm mp3

19 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Yếu chỉ

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

20 Kinh Viên Giác 

Kinh Viên Giác mp3

21 Lâm Tế Ngữ Lục 

Đường Lối Thực Hành Tổ Sư Thiền- Lâm Tế Ngữ Lục 1,2,3 mp3

22 Nam Tuyền Ngữ Lục

Nam Tuyền Phổ Nguyện Ngữ Lục mp3

23 Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng

Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng mp3

24 Phật Pháp với Thiền Tông – Duy Lực

Phật Pháp với Thiền Tông- Thiền Sư Đại Huệ mp3

25 Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp

Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp mp3

26 Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa thượng

Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa Thượng mp3

27 Tham Thiền Phổ Thuyết- Lai Quả Thiền Sư

Tham Thiền Phổ Thuyết – Thiền Sư Lai Quả mp3

28 Thiền Thất Khai Thị Lục – Lai Quả Thiền Sư

Thiền Thất Khai Thị Lục- Thiền Sư Lai Quả mp3

29 Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải- Trung Phong Hòa Thượng

30 Triệu Luận Lược Giải – Tác giả Tăng Triệu, Lược giải Hám Sơn

Triệu Luận Lược Giải – Tăng Triệu -Hám Sơn Chú Giải mp3

31 Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 – Duy Lực

Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 mp3

32 Yếu chỉ Kinh Hoa Nghiêm

33 Yếu chỉ Phật pháp – Duy Lực

34 Yếu chỉ Trung Quán Luận – Long Thọ Bồ Tát

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

Danh Sách Bài Viết chính của Blog Duy Lực Thiền

1 TÁNH KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO

2 TẠI SAO TÂM LÀ KHÔNG LẠI CÓ VÔ SỐ CÔNG DỤNG ?

3 Phật giáo hiểu biết gì về thế giới ?

4 Thiền và Sức khỏe

5 THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN PHẬT GIÁO

6 Sự Thật là gì ?

7 Liễu nghĩa của “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

8 ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI ?

9 Lời mở đầu

10 THỜI-KHÔNG LÀ GÌ ?

11 Thế giới ta đang sống là ứng dụng của Tâm bất nhị

12 LỰC HỌC THÍCH CA ĐỐI CHIẾU VỚI CƠ HỌC NEWTON VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI CỦA EINSTEIN

13 ĐẶC ĐIỂM CỦA BLOG DUY LỰC THIỀN

14 Cốt tủy của Phật pháp

15 Khi Vật lý gõ cửa Bản thể học

16 Lục căn, lục trần, lục thức = 18 giới

17 Thế lưu bố tưởng và các hiện tượng lạ thường

18 Tông chỉ chung của Đạo Phật là phá chấp

19 TẬP QUÁN (THÓI QUEN) CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ĐỐI VỚI VŨ TRỤ VẠN VẬT ?

20 Hướng dẫn tìm kiếm

21 AI LÀ NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI ?

21 Bis PHẬT PHÁP LÀ KHOA HỌC TÂM LINH CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO  NHÂN LOẠI

22 CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN TOÀN DỰA VÀO KHOA HỌC CHĂNG ?

23 NIẾT BÀN VÀ CHÁNH BIẾN TRI

24 CON NGƯỜI CÓ THỂ DU HÀNH TRONG THỜI GIAN CHĂNG ?

25 Từ David Bohm đến Kinh Lăng Nghiêm

26 TỨ PHÁP GIỚI CỦA KINH HOA NGHIÊM

27 Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

28 KHẮP KHÔNG GIAN, KHẮP THỜI GIAN VÀ VÔ SỐ LƯỢNG CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

29 NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

30 TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA CÁC PHÁP

31 Thiền sư và Nhà khoa học

32 PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG

33 ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO HẠNH PHÚC NHÂN LOẠI

34 PHẬT PHÁP VÀ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

35 VẠN PHÁP DUY THỨC CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

36 Ý NGHĨA RÕ RÀNG CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

37 SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

38 SỰ KẾT THÚC CỦA VẬT LÝ HỌC

39 SỰ KẾT THÚC CỦA SINH VẬT TIẾN HÓA LUẬN

40 SỰ BẮT ĐẦU CỦA KHOA HỌC TÂM LINH

41 THẦN THÔNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

42 CHỐT LẠI CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC

43 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN

44 NHỮNG KHÁI NIỆM ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

45 THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO

46 MỘNG VÀ THỰC KHÔNG DỄ PHÂN BIỆT

47 “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM” LÀ NGHĨA THẾ NÀO ?

48 Tìm hiểu về Tịnh Độ Tông

49 TU HÀNH THEO PHẬT PHÁP LÀ THẾ NÀO ?

50 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ KHÔNG GIAN CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG, KHÔNG PHẢI THẬT ?

51 THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ

52 Amit Goswami- Vật Lý Lượng Tử Nói Gì Về Bản Chất Của Thực Tại?

53 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ SỐ LƯỢNG VẬT CHẤT LÀ ẢO KHÔNG PHẢI THẬT ?

54 CÁC THÁNH TÍCH PHẬT GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

55 CÁC DẠNG THỨC THÔNG TIN

56 TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

57 PHẬT PHÁP VÀ THÁM HIỂM KHÔNG GIAN

58 SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VẬT LÝ VÀ TÂM LÝ

59 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ THỜI GIAN CHỈ LÀ ẢO ?

60 THÔNG ĐIỆP CỦA PHẬT GIÁO

61 VẬT CHẤT, NĂNG LƯỢNG CŨNG LÀ THÔNG TIN

62 NGŨ THỪA PHẬT GIÁO và TRƯỜNG A-LẠI-DA THỨC

63 BÀN THÊM VỀ CHÁNH BIẾN TRI

64 TRI THỨC CỦA NHÂN LOẠI ĐÃ TIẾN TỚI ĐÂU ?

65 MIỀN TẦN SỐ A-LẠI-DA THỨC

66 AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

67 TÂM VÀ VẬT TRONG PHẬT PHÁP

68 DANH VÀ SẮC ĐỀU LÀ GIẢ DANH

69 Phật giảng giải cho Ca Diếp về Thế Lưu Bố Tưởng

70 THẾ GIỚI LÀ DO THÓI QUEN TÂM LÝ TẠO RA

71 THUYẾT KIÊN BẠCH ĐỒNG DỊ CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ?

72 TÂM VÀ THỜI ĐẠI LƯỢNG TỬ

73  ẢO VÀ THẬT

74 NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

75 TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

76 ĐỐI CHIẾU VẬT LÝ VŨ TRỤ VÀ PHẬT PHÁP

77 CÁI TA THẬT RA LÀ CÁI GÌ ?

78 PHẬT GIÁO CÓ THỂ HƯỚNG DẪN GÌ CHO KHOA HỌC VÀ NHÂN LOẠI ?

Danh Sách Bài Viết phụ (Nhà sau) của Blog Duy Lực Thiền

1 Cầu bất đắc khổ

2 Giới thiệu chuyên mục Nhà sau

3 Nữ nhân thị lão hổ

4 Sống khổ : Thiên tai, Sóng thần Nhật Bản

5 Đăng Biện Giác Tự Thơ Vương Duy

6 Sống khổ : “Tôi không thể chịu đựng nổi cuộc sống” – Dalida

7 OÁN TẮNG HỘI KHỔ : ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA (DEVADATTA)

8 ÁI BIỆT LY KHỔ : HÒN VỌNG PHU VÀ MẠNH KHƯƠNG NỮ

9 Mối “vạn cổ sầu” của các nhà thơ

10 ĐÓN XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA

11 Chuyến viếng thăm chùa Cao Mân, Trung Quốc của Thầy Duy Lực

12 VĂN HÓA MÍNH ĐÀM

13 CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG VÀ THẾ GIỚI ẢO

14 CUỘC ĐỜI LÀ ẢO MỘNG

15 NGÔI LÀNG BÌNH YÊN

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

17 HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

18 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY QUẢ VỆ TINH BỊ CHÌM DƯỚI ĐÁY SÔNG

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

20 HẦU HI QUÝ – ĐẦU BỊ CHÉM ĐỨT NGƯỜI VẪN SỐNG- SÚNG BẮN KHÔNG BỊ THƯƠNG- THẤU THỊ

21 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY CON BÒ BỊ CHÌM DƯỚI LỚP BĂNG DÀY

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

23 LIÊU VĂN VĨ – NHẬN THỨC VỀ NHÂN THỂ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

24 Trương Bảo Thắng – Cảnh cáo nữ ảo thuật gia nước ngoài và nhà xã hội học bảo thủ

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

26 TRƯƠNG BẢO THẮNG- Thời thơ ấu gian khổ – Kết cục thành đạt

27 Trương Bảo Thắng trong trận động đất Đường Sơn khủng khiếp

28 Trương Bảo Thắng bị cha nuôi bỏ rơi, người đời bắt đầu phát hiện siêu nhân

29 Trương Bảo Thắng – Lần đầu được tiến dẫn về tỉnh Liêu Ninh, chưa được trọng thị

30 Hầu Hi Quý – Trị bệnh thần tốc, hô phong hoán vũ, nhận ra và đọc đúng âm của những chữ ông chưa từng học

31 Trương Bảo Thắng – Đản sinh kỳ lạ, tuổi thơ bất hạnh

32 CÁ NHÂN TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

33 Trương Bảo Thắng – Đi về nam, đến Quảng Châu, Thâm Quyến

34 Trương Bảo Thắng- Tranh cãi với cảnh sát và cảnh vệ

35 Trương Bảo Thắng- Tha tâm thông và dùng ý niệm di chuyển vật thể

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

37 CÁI NHÌN TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH

38 Hầu Hi Quý- những chuyện thần kỳ xảy ra năm 1979, sau “cách mạng văn hóa”

39 LIÊU VĂN VĨ- LỜI BẠT (SÁCH VỀ HẦU HI QUÝ)

40 Lời tác giả- Lời tựa- Lời bạt của sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng

41 Trương Bảo Thắng- Trị bệnh cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh

42 CÓ PHẢI ZÉNON (ZENO) NGỤY BIỆN KHÔNG ?

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

44 Hầu Hi Quý – Gặp gỡ những người nổi tiếng của Hong Kong

45 Hầu Hi Quý- Biến ra đô la Mỹ, cảnh cáo cô tiếp viên nhà hàng Tây Uyển

46 Những nhà ngoại cảm, họ là ai ?

47 MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ 2014

48 DUY TÂM – LƯƠNG KHẢI SIÊU

49 VÔ THƯỜNG MÙA WORLD CUP

50 CHÍNH TRỊ, CÔNG NGHIỆP VÀ TIN HỌC

51 Thí nghiệm của Maria Chekhova về rối lượng tử (quantum entanglement)

52 HIỆU ỨNG TU HÀNH

53 VẤN ĐỀ CỦA NỀN GIÁO DỤC THẾ GIỚI

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

55 MỸ NHÂN VÀ CHUYỆN TU HÀNH

56 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN TƯƠNG ĐỐI

57 Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

58 NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

59 ĐỨNG TRƯỚC THẾ GIỚI

60 THẦN THÔNG THỜI HIỆN ĐẠI

Một số video clips về Khoa học hỗ trợ để hiểu Tánh Không

Vạn Pháp Duy Thức

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 1 – Phụ đề Việt ngữ

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 4 – Ứng dụng Toàn Ảnh – Vũ Trụ Ảo – Phụ đề Việt ngữ

Universe 5 – Bộ Não Người Là Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 6 – Bộ não người và cơ chế tạo ra thực tại ảo

Universe 7 – Mỗi Người Có Vũ Trụ của Riêng Mình – Phụ đề Việt ngữ

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Universe 9 – Chúng ta thấy thế giới không đúng như nó là – Phụ đề Việt ngữ

Universe 10 – Niềm Tin Trong Đời Sống – Phụ đề Việt ngữ

Universe 11 – Cảm Nhận, Niềm Tin Có Thể Làm Thay Đổi Gen – Phụ đề Việt ngữ 

Universe 12 – Tâm Mang Tiền Đến Cho Bạn – Phụ đề Việt ngữ

Universe 13 – Tiếng Ồn Toàn Ảnh – Chúng Ta Có Thể Làm Gì – Phụ đề Việt ngữ

Não phản ánh Tâm đã quyết định trước Ý thức 6 giây

Nguoi choi Tro Choi Nhan Loai co the lam gi ?

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 1 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 2 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 3 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp – Tổng Kết – Việt dịch

Vũ Trụ Song Song – Bồ Tát Vô Trước

Advertisements
Đăng tải tại Thầy Duy Lực giải đáp (Audio mp3) | 2 phản hồi

CẢNH GIỚI VÀ TẬP KHÍ

Khái niệm về Cảnh giới và Tập khí

Cảnh giới景界 (phenomenal world bao gồm vật cảnh物景material world và tâm cảnh心景spirit world) là thế giới mà chúng ta sống trong đó. Cảnh giới có hai hình thái khác nhau : cảnh giới tinh thần, nội tâm, bao gồm tâm tư, tình cảm, cảm xúc, tư tưởng…; cảnh giới vật chất bên ngoài bao gồm thân thể, nhà cửa, kiến trúc, đồ vật, sinh vật, sông núi, phong cảnh…

Tập khí 習氣 (habit) là thói quen. Chữ tập 習 là học đi học lại, lặp lại nhiều lần như học tập, từ đó mà thành thói quen. Chữ khí 氣 (gas) nghĩa gốc là hơi thở, không khí, chất khí. Trong trung y, khí còn dùng để chỉ một vật hay đối tượng mà mắt thường không nhìn thấy được, nó là một loại kinh lạc 經絡 (meridian) trong cơ thể mà chỉ có người có đặc dị công năng như các vị danh y thời xưa hay Trương Bảo Thắng thời nay mới thấy được, đó là khí trong danh từ khí công 氣功 tiếng Phạn gọi là prana. Tập khí là một thói quen lâu đời và có ảnh hưởng lớn đến mức chúng ta không còn nhận ra rằng chính nó tạo ra cảnh giới.

Ví dụ khi chúng ta đọc một bản văn, chính thói quen văn hóa giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của bản văn đó, từng chữ, từng lời và hiểu khái quát bản văn đó nói gì. Nếu chúng ta chưa tạo được thói quen thì sẽ không hiểu. Ví dụ ta đọc một bản văn bằng ngoại ngữ, tại sao không hiểu ? Vì chưa tạo được thói quen, nghĩa là chưa quen với từ ngữ, câu cú trong đó. Nếu chúng ta đã học ngoại ngữ đó nhiều năm rồi, nghĩa là đã tạo được thói quen rồi thì sẽ hiểu bản văn ngoại ngữ đó. Có những đứa trẻ thần đồng chưa học tiếng nói và chữ viết của một ngôn ngữ nhưng vẫn hiểu được, đó là vì nó đã học tập đã quen thuộc ngôn ngữ đó từ tiền kiếp.

Như vậy văn bản có thể tạo ra tưởng tượng từ thói quen ngôn ngữ. Nếu một quyển tiểu thuyết được dựng thành phim thì tưởng tượng càng rõ ràng hơn, thấy hình ảnh và nghe được tiếng nói. Nếu cuốn phim được phóng hiện ra không gian ba chiều thì sẽ thành cuộc sống đời thường nơi các nhân vật trong đó có thể tương tác với đầy đủ các giác quan mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân thể tiếp xúc, bộ não ghi nhớ, tưởng tượng, tái hiện.

Vấn đề sâu xa nhất mà chúng ta muốn đề cập là cảnh giới vật chất. Tại sao chúng ta nhận ra con trâu, con ngựa, con người ? Bởi vì chúng ta đã từng gặp, từng quen biết với những đối tượng đó rồi. Nếu chúng ta gặp một con vật hoàn toàn xa lạ thì sẽ không biết đó là con gì. Khi các nhà khoa học lần đầu tiên tiếp xúc với những hạt cơ bản của vật chất, họ không biết đó là hạt gì. Sau nhiều lần quan sát, đo đạc, đặt tên, họ mới có khái niệm về các loại hạt đó, như photon, electron, quark, higgs.

Các nhà văn dùng ngôn ngữ để diễn tả một câu chuyện, chẳng hạn Tây Du Ký, câu chuyện về 5 nhân vật gồm có Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng và Bạch Mã (con ngựa trắng) từ Trung Quốc đi về phía tây qua Thiên Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh. Qua diễn đạt của ngôn ngữ, chúng ta tưởng tượng được câu chuyện diễn ra như thế nào, bao nhiêu lần gặp yêu quái đều vượt qua được, cuối cùng đến được chùa Linh Sơn ở núi Linh Thứu (Gṛdhrakūṭa) thỉnh được kinh và đem về Trường An. Chúng ta từ thói quen về ngôn ngữ, có thể tưởng tượng ra câu chuyện ấy.

Rồi khi câu chuyện ấy được dựng thành phim, chẳng hạn bộ phim Tây Du Ký 1986 của đạo diễn Dương Khiết, mà phần lớn chúng ta đều rất quen thuộc, tưởng tượng của chúng ta về câu chuyện ấy càng rõ ràng cụ thể hơn.

Các thầy trò Đường Tăng

Tập khí tạo ra cảnh giới vật chất

Kinh điển Phật giáo còn đi xa tới tận cùng khi nói rằng chẳng những tập khí tạo ra thói quen về tâm lý, văn hóa, tinh thần, mà hơn nữa, chính tập khí tạo ra cảnh giới vật chất. Cảnh thế gian đời thường mà chúng ta đang sống chính là một loại tưởng tượng của tập khí mà thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng.

Đây là điều mà con người chúng ta khó có thể hình dung nổi. Làm thế nào một thói quen lâu đời có thể tạo ra một cảnh giới, ví dụ một ngọn núi, một con sông ?

Các nhà khoa học thật sự vô cùng ngạc nhiên khi họ khám phá ra điều kỳ lạ của thí nghiệm hai khe hở. Nếu không có người quan sát thì từng hạt electron bắn qua tấm chắn có hai khe hở, làm xuất hiện ở màn hứng phía sau nhiều vạch, chứng tỏ rằng electron không phải là hạt mà là sóng, chính sóng giao thoa tạo ra hiệu ứng nhiều vạch. Nhưng nếu có người quan sát thì từng hạt electron bắn qua tấm chắn có hai khe hở làm xuất hiện ở màn hứng phía sau chỉ có hai vạch thôi tương ứng với hai khe hở, điều đó chứng tỏ electron là hạt. Vậy cái gì đã biến sóng thành hạt ? Chính là tâm niệm, thói quen tưởng tượng của con người.

Như vậy rõ ràng là chính người quan sát đã tạo ra hạt electron, chính tâm niệm, thói quen, nhất niệm vô minh của người đó tạo ra hạt electron. Đồng thời người đó cũng tạo ra hạt proton, neutron, nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất và cuối cùng là chất sống, cơ thể của sinh vật, thân thể người ta. Đó chính là ý nghĩa của câu Nhất thiết duy tâm tạo trong kinh điển Phật giáo. Khoa học cũng đã nghiên cứu vấn đề này.

Vạn Pháp Duy Thức

Các nhà khoa học nói về Tâm tạo ra vật chất         

Tiến sĩ vật lí lượng tử Amit Goswami, Giáo sư vật lý tại Đại học Oregon và là thành viên của Viện Khoa học lý thuyết, ông là một nhà cách mạng trong một cơ chế ngày càng tăng của các nhà khoa học cách mạng, những người gần đây đã tiến vào vào lĩnh vực tâm linh trong một nỗ lực để giải thích những phát hiện dường như không thể giải thích của các thí nghiệm khoa học … và để xác nhận trực giác của họ về sự tồn tại của một chiều kích tinh thần của cuộc sống.  

Tiến sĩ vật lý Amit Goswami

Ông là tác giả của quyển sách The Self-Aware Universe: How Consciousness Creates the Material World (Vũ trụ tự giác : Làm thế nào Tâm tạo ra thế giới Vật chất) trong đó ông đề ra những ý kiến rất mới về khoa học. Đoạn văn của ông rất trừu tượng và khó hiểu, do đó trước khi dịch, tôi xin trích nguyên văn để độc giả rộng đường tham khảo.

Advancing the work of Fritjof Capra in The Tao of Physics, the physicist Amit Goswami proposes that the paradoxes of quantum mechanics—nonlocality, action-at-a- distance, quantum uncertainty, and so on—can only be resolved through the hypothesis that consciousness, not matter, is the fundamental reality of the universe. Instead of a dualistic split between mind and matter, or subject and object, Goswami puts forth a philosophy that he calls “monistic idealism.” According to this position, “the consciousness of the subject in a subject-object experience is the same consciousness that is the ground of all being. Therefore, consciousness is unitive. There is only one subject-consciousness, and we are that consciousness,” he writes in his 1993 book, The Self-Aware Universe: How Consciousness Creates the Material World. Goswami posits a “brain-mind” system in which the physical brain functions as a measuring and recording device, following the rules of classical physics, while a “quantum component of the brain-mind…is the vehicle for conscious choice and for creativity.”    

Khai triển sâu hơn công trình của Fritjof Capra trong The Tao of Physics (Đạo của Vật Lý), nhà vật lý Amit Goswami đề xuất rằng những nghịch lý của cơ học lượng tử – phi vật chất, tác động ở khoảng cách xa, sự bất định lượng tử, v.v… – chỉ có thể được giải quyết thông qua giả thuyết rằng ý thức, chứ không phải vật chất, là thực tại cơ bản của vũ trụ. Thay vì phân biệt nhị nguyên giữa tâm trí và vật chất, hoặc chủ thể và đối tượng, Goswami đặt ra một triết lý mà ông gọi là “tâm bất nhị”. Theo nhận thức này, “Ý thức của chủ thể trong kinh nghiệm thực chứng bất nhị về chủ thể và đối tượng là cùng một ý thức (nghĩa là ý thức và vật chất đều là tâm), đó là nền tảng của mọi hiện hữu. Do đó, ý thức là duy nhất. Chỉ có một ý thức của chủ thể tự thức, và chúng ta là ý thức (tức là tâm) đó,” ông viết trong cuốn sách năm 1993 của ông, “Vũ trụ tự nhận thức: Ý thức tạo ra thế giới vật chất như thế nào”. Goswami mô tả một hệ thống “trí não” trong đó bộ não vật chất hoạt động như một thiết bị đo lường và ghi nhận, tuân theo các quy tắc của vật lý cổ điển, trong khi “thành phần lượng tử của trí não… là phương tiện cho sự lựa chọn có ý thức và sáng tạo. ”

It is the activity of consciousness, determining the “quantum collapse” of a wave-form into a particle, that brings the world into being. “Consciousness is the agency that collapses the wave of a quantum object, which exists in potential, making it an immanent particle in the world of manifestation,” Goswami writes. Our subjective awareness arises as a result of a “tangled hierarchy” in the brain, a closed loop of self-reference similar to the famous “liar’s paradox” (the man from Crete who insists, “All Cretans are liars”). Since quantum collapse can only occur through a physical brain, the ego is “an assumed identity that the free-willing consciousness done in the interest of having a reference point.” Esoteric disciplines and techniques of meditation teach us to observe our subjectivity, our ego-hood, with its continuous babble of thoughts and worries, from an outside perspective, a “witness consciousness.” By doing this, we jump out of our individually conditioned viewpoint, the self-referential circuit, and take the transcendent perspective. 

Chính là sự hoạt động của ý thức, xác định “sự sụp đổ lượng tử” của dạng sóng thành một hạt, làm cho thế giới thành hiện hữu. “Ý thức là cơ chế làm sụp đổ sóng của đối tượng lượng tử, tồn tại ở dạng tiềm năng, biến nó trở thành một hạt hữu hình trong thế giới biểu hiện,” Goswami viết. Nhận thức chủ quan của chúng ta phát sinh từ kết quả của “cơ chế rối” trong não, một vòng khép kín tự qui chiếu tương tự như “nghịch lý của anh chàng nói dối” nổi tiếng (người đàn ông từ Crete, người khẳng định, “Tất cả người Crete đều là kẻ nói dối”, điều đó đúng nhưng lại sai vì anh ta lại là người Crete nói thật). Vì sự sụp đổ lượng tử chỉ có thể xảy ra thông qua một bộ não vật chất, bản ngã là “một nhận thức giả định rằng ý chí tự do hình thành vì lợi ích của việc có một điểm tham chiếu (một chỗ dựa) .” Các môn học bí truyền và kỹ thuật thiền quán dạy chúng ta quan sát tính chủ quan, tình trạng cái tôi của mình với sự lải nhải liên tục tâm niệm và lo âu từ một viễn cảnh ở bên ngoài. Khi làm điều này, chúng ta nhảy ra khỏi quan điểm được qui định của cá nhân chúng ta, dòng chảy tự tham chiếu, và nắm lấy viễn cảnh xa rộng.

Tâm tạo ra vật chất hoặc điều khiển vật chất của các nhà thực nghiệm

Amit Goswami có nhắc tới Các môn học bí truyền và kỹ thuật thiền quán (Esoteric disciplines and techniques of meditation). Các môn học bí truyền của các nhà Yoga ở Ấn Độ hay Khí công hoặc Đặc dị công năng ở TQ cung cấp những chứng cứ thực nghiệm cho việc Tâm tạo ra vật chất hoặc dùng tâm điều khiển vật chất. Ví dụ trong sách Hành Trình về Phương Đông, đạo sư Visudha đã tạo ra mùi hương chỉ từ ánh sáng mặt trời cho giáo sư Mortimer và đoàn của ông xem.

– Bây giờ các ông hãy chọn một mùi hoa gì đặc biệt của xứ các ông mà không hề có tại xứ Ấn độ.

– Được lắm, tôi muốn mùi hoa uất kim hương (tulip).

Visudha mỉm cười dơ chiếc kính lúp lên ánh sáng mặt trời cho nó chiếu vào chiếc khăn và lần này mùi hoa uất kim hương lại thơm nồng khắp phòng. Phái đoàn vội vã yêu cầu những mùi hương lạ lùng và lần nào ông cũng làm họ hài lòng. Thậm chí đến cả những mùi thuốc hoá học, những mùi a-xít trong phòng thí nghiệm, ông cũng có thể làm được. Mọi người quan sát kỹ xem ông ta có dấu gì dưới lớp áo choàng không. Vishudha mỉm cười vén cao tay áo để chứng tó ông không hề làm trò ảo thuật hay cất dấu hương liệu gì đặc biệt trong người. 

… …

Vishudha đứng dậy bước đến bên một chậu hoa gần đó. Mặc dầu chậu nở đầy hoa, nhưng trong đó cũng có một số hoa đã tàn. Vishudha dơ chiếc kính lúp chiếu lên các hoa này. Trước cặp mắt kinh ngạc của mọi người, những hoa khô héo bỗng trở nên tươi tốt, thơm tho Mọi người nín thở, không ai nói nên lời. Vishudha dơ chiếc kính lên chiếu vào lòng bàn tay ông. Một chùm nho tươi tốt bỗng xuất hiện. Nên biết Ấn độ là xứ nhiệt đới, không trồng được nho, hơn nữa lúc đó đang vào mùa đông, các cây nho bên Âu châu đều khô héo. Có được chùm nho tươi tốt là một việc vô lý, lạ lùng. Vishudha đưa chùm nho cho giáo sư Allen xem và thản nhiên tuyên bố :

– Đây là giống nho Pajouti chỉ mọc ở miền nam nước Ý, không hề được xuất cảng. Mùi của nó thơm nhưng vị hơi chát.

Mọi người xúm lại xem chùm nho. Có người ngắt vài quả bỏ vào miệng ăn như sợ rằng đó chỉ là một ảo tưởng.

Nếu chúng ta cho rằng câu chuyện kể trong sách Hành Trình Về Phương Đông đã khá xa xưa, có thể chỉ là chuyện hoang đường, thì hãy xem những nhà đặc dị công năng thời hiện đại. Trương Bảo Thắng (sinh năm 1958, hiện vẫn còn đang sống) đã biểu diễn dùng tâm điều khiển vật chất tại Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh vào năm 1982.

Biểu diễn bắt đầu. Trong một thùng sắt, bỏ vào hai trái táo (apple), đậy nắp, dùng que hàn điện hàn kín. Người chủ trì để cho Trương Bảo Thắng dùng ý niệm lấy trái táo ra. Chỉ thấy anh im lặng, không gây tiếng động, trấn định tự tâm. Mọi con mắt nhìn chăm chăm vào người anh, quan sát nhất cử nhất động của anh. Một phút, hai phút, năm phút rồi mười phút trôi qua, đến khi bức màn trong não của anh xuất hiện một quả táo, anh mới dùng ý niệm mang trái táo đặt ở một góc của vũ đài. Lúc đó trên bức màn nhỏ trong não của anh không còn trái táo. Theo kinh nghiệm của anh, anh tin rằng một trái táo trong thùng sắt đã đi ra ngoài, trái kia vẫn còn trong thùng. Anh nói với mọi người : “một trái táo đã ra ngoài”. Nhiều người không tin, bởi vì họ thấy Trương Bảo Thắng trước sau vẫn đứng cách thùng sắt hơn một mét, anh hoàn toàn không chạm vào thùng sắt, trái táo làm sao ra ngoài được chứ ? Người chủ trì ra lệnh cho người mở nắp thùng sắt, mọi người đều phát hiện thiếu mất một quả táo. Bảo Thắng nói với mọi người, trái táo lấy ra đang nằm ở một góc vũ đài, người ta theo chỉ dẫn của anh, quả thật tìm thấy quả táo.

Chính lúc mọi người bàn luận sôi nổi, có người khen ngợi, có người hoài nghi, muốn tìm một khuyết điểm nào đó, một vị lãnh đạo thuộc Ban bí thư, nói : “Tôi được lãnh đạo ủy thác đến tham gia trắc nghiệm, cuộc biểu diễn vừa rồi tôi xem không rõ lắm, tôi hi vọng có thể làm một thí nghiệm ngay trên người mình”, tiếp đó ông dùng tay chỉ chiếc huy chương trên ngực mình, nói : “mời Trương Bảo Thắng dùng ý niệm mang nó đi, được không ?” Người chủ trì biết đây là người muốn vạch khuyết điểm, nên hướng về Bảo Thắng nói : “Anh thấy được không ?”. Bảo Thắng gật đầu. Chỉ thấy anh nhìn một chút chiếc huy chương trên ngực ông bí thư, mà không thấy anh đi lại gần ông ta, cự ly giữa hai người khoảng vài mét. Khán giả tại hiện trường có người nhìn ông bí thư, có người nhìn Trương Bảo Thắng, mọi người chờ đợi anh lên tiếng trả lời. Ông bí thư cũng đắc ý chờ đợi Bảo Thắng lên tiếng trả lời “được” hoặc “không được”. Không ngờ Trương Bảo Thắng không trả lời câu hỏi, chỉ nói : “di chuyển rồi”. Ông bí thư như đang mơ chợt tỉnh, vội dùng tay sờ vào trước ngực, nhưng cái huy chương đã biến đâu mất từ lúc nào, ông hoảng hốt tìm kiếm, trên dưới đều không thấy. Trương Bảo Thắng chỉ nói một câu : “huy chương đã ở trên thân người khác rồi” Không ít người lật đật mò tìm túi trên túi dưới của mình. Trong đám đông có người kêu lên : “trên người tôi có một chiếc huy chương, nó làm sao mà đeo vào được ?” Khi chiếc huy chương được chuyền đến tay ông bí thư, ông nhận ra nó ngay, đó chính là chiếc huy chương ông vừa mới đeo trên ngực. Ông bí thư bị á khẩu không nói nên lời. Người tại hiện trường còn chưa hết ý, đều hứng thú vây quanh Trương Bảo Thắng, nhiệt tình hỏi anh về cảm giác và công năng. 

Còn về kinh nghiệm thiền quán thì Bát Nhã Tâm Kinh đã tóm tắt cái thấy của hành giả mà trong kinh nói là Quán Tự Tại Bồ Tát, cũng tức là Quán Thế Âm Bồ Tát.

Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh 般若波羅蜜多心經 (phiên latinh từ Phạn ngữ : Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra nghĩa là Quyển Kinh về Tâm Giác Ngộ đến bờ bên kia. Bờ bên kia nghĩa là gì ? Ngày nay khoa học đã giúp chúng ta khám phá rất cụ thể, bờ bên kia tức là Miền tần số (Frequency Domain),  nơi chưa có sự phân biệt nhị nguyên giữa các cặp phạm trù mâu thuẫn như đúng sai, sáng tối, sóng hạt, âm dương v.v…hoặc một tên gọi khác là Trường Thống Nhất (Unified Field) Trong Duy Thức Học thì bờ bên kia là A-lại-da thức (Alaya). Còn bờ bên này là Mạt-na-thức (Manas).

Bờ bên kia hay Alaya chỉ là thông tin đơn thuần, chưa có bất cứ đặc điểm, đặc trưng gì, không có tính chất gì cả, thông tin đó có dạng sóng vô hình, phi vật chất, vì vậy khoa học gọi là miền tần số. Còn bờ bên này là thông tin đã được gán ghép các tính chất, đặc điểm để phân biệt, để hiển thị theo một chiều hướng quen thuộc nào đó của tập quán.

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.   

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vật chất không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là không, không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.   

Như vậy kinh nghiệm thiền quán của Bồ Tát Quán Thế Âm được mô tả trong Bát Nhã Tâm Kinh là : Tâm chỉ là Tánh Không, không có đặc điểm, không có nghĩa lý gì cả, nhưng Tâm có khả năng tạo ra vô lượng vô biên cảnh giới vật chất (Sắc) và tinh thần (Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Tất cả mọi cảnh giới đều chỉ là ảo tưởng không có thật.

Tập khí và luân hồi tái sinh

Tập khí của mỗi chúng sinh trải qua vô lượng kiếp có những biến thiên rất lớn. Nếu bản thân chúng sinh không làm chủ được thì nghiệp sẽ dẫn dắt thần thức đầu thai chuyển kiếp theo dòng nhân quả luân hồi rất là vô thường và không ngừng nghỉ.

Tập khí có thể tạo ra cảnh giới vật chất, do đó nó có thể tạo ra luân hồi tái sinh. Theo những gì mà nhân loại biết được, luân hồi tái sinh là sự tương tục của thần thức, dòng thông tin của mạt-na thức tức ý thức chấp ngã mà người bình dân hiểu một cách đại khái là linh hồn. Bởi vì mạt-na thức chấp ngã, giống như một ổ đĩa cứng, nó khu biệt với những ổ đĩa cứng khác và khu biệt với internet. Đó là do nó tự khu biệt, phân biệt để mà tương tác với nhau một cách chính xác và thuận tiên. Một ổ cứng có thể chứa thông tin khác với những ổ cứng khác, chẳng hạn những softwares, bản nhạc, video clips…nhưng về cơ bản, về bản chất của thông tin, nó không hề khác với những ổ cứng khác, cũng cấu tạo bằng những bit thông tin 0 và 1. Thế nhưng khả năng làm việc và biểu hiện của nó lại rất khác, là do softwares, chương trình của nó khác, những files văn bản, âm nhạc, video clips của nó khác.

Vì vậy mạt-na không có bản sắc cố định, tùy nghiệp hay tập quán của nó chứa chấp mà kiếp lai sinh của nó có thể thay đổi rất lớn. Nó không có bản sắc, từ người nữ có thể biến thành người nam. Chẳng hạn trường hợp của Huỳnh Đình Kiên. Kiếp trước ông là một người nữ không có chồng, có một bà mẹ, đến năm 26 tuổi thì qua đời và tái sinh thành Huỳnh Đình Kiên là người nam. Câu chuyện có thật xảy ra vào đời Tống ở TQ.

Giai thoại về nhà văn đời Bắc Tống Huỳnh Đình Kiên           

Một trường hợp tái sinh khác cũng xảy ra ở TQ thời hiện đại. Một người đàn ông ở thôn Mã Gia Than 马家滩 thuộc tỉnh Hà Bắc tên là Trương Phúc Đại 张福大 có vợ và sinh được 2 con, 1 trai, một gái, con trai cả tên là Trương Cát Lâm 张吉林 là công nhân mỏ than tại núi Thạch Thiên.  Ngày 29-11-1977 ông Đại qua đời vào lúc 57 tuổi và tái sinh thành bé gái Chiết Quốc Nga折国娥 ra đời tháng 3-1978 tại huyện Mỗ某县thôn Đông Tháp东塔. Cô Nga kể lại :  kiếp trước ông Đại chết, thấy người ta liệm thi thể mình, sau đó không thể đi đâu được, chỉ quanh quẩn trong thôn. Bốn tháng sau vào một buổi tối, ông thấy mình ngồi lên một chiếc xe quá giang đến thôn Đông Tháp, bất giác không tự chủ đi vào nhà họ Chiết, đúng vào lúc bà Chiết sinh con, thế là ông chuyển kiếp thành con gái là Chiết Quốc Nga. Năm 1989, Chiết Quốc Nga 11 tuổi, vào ngày sinh nhật con của Trương Cát Lâm, Nga bận đi học không thể đến dự được, bèn làm một cái vòng bằng chỉ hồng để chúc lành và nói : “Ông cho con chiếc vòng, chúc cháu nội của ta sức khỏe bình an” và nhờ người cậu chuyển quà tặng.

1/Chiết Quốc Nga và con trai đời trước Trương Cát Lâm, 2/Trương Phúc Đại, 3/Chiếc Quốc Nga lúc 24 tuổi 

Con người cũng có thể biến thành con vật. Trong lịch sử có ghi chép. Bạch Khởi (白起; ? – 257 TCN) là danh tướng vô địch của nước Tần trong thời Chiến Quốc, lập nhiều công lao, góp phần lớn chiến tích trong việc thống nhất Trung Quốc của nước Tần, được phong tước Vũ An quân (武安君), giữ chức Đại lương tạo, chức quan coi hết việc quân lương của nước Tần.

Ông được đánh giá là vị tướng lĩnh tài năng nhất trong bốn vị đại tướng thời Chiến Quốc, 3 người còn lại là Vương Tiễn, Liêm Pha và Lý Mục. Vì khi sống Bạch Khởi giết nhiều người nên người đương thời gọi ông là Nhân đồ (人屠 đồ tể giết người). Năm 279 TCN, sau khi hai nước Tần, Triệu ký kết hòa ước không xâm phạm lẫn nhau, vua Tần dốc hết quân đi đánh nước Sở, cho Bạch Khởi làm chủ tướng dẫn quân xuống phía Nam, đánh bại quân Sở, chiếm đất Yên (nay là Yên Lăng, tỉnh Hà Nam), đất Lăng (nay thuộc vùng Tây Bắc Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc). Trong trận này ông sai người dẫn nước từ phía tây Yên Thủy chảy vào Yên thành, phá hủy hết công sự, dìm chết hơn mấy mươi vạn quân dân nước Sở. Nước cuốn xác chết người và vật trôi từ tây sang đông, nhân trời đang lúc hè, thời tiết nóng bức, xác chết trương sình lên rồi bốc mùi, người thời đó gọi là “ao nước thối”. Trong trận Trường Bình, trước sau quân Tần hoặc chém hoặc bắt sống tổng cộng 45 vạn quân Triệu, kể cả những quân Triệu đầu hàng Vương Hạt trước, đều bị giết sạch cả, chỉ còn 240 người ít tuổi được thả về Hàm Đan để tuyên dương cái oai của nước Tần. Vụ chôn sống quân Triệu là một trong những vụ thảm sát lớn nhất thời cổ đại của lịch sử Trung Quốc.

Vì giết quá nhiều người nên Bạch Khởi kiếp sau đầu thai làm con trâu. Con trâu cũng chẳng được yên, bị sét trời đánh chết, trên bụng con trâu hiện ra chữ Bạch Khởi.

Tướng nước Tần, Bạch Khởi đầu thai thành con trâu bị sét đánh chết

Kết luận

Cảnh giới vật chất và tinh thần là một thể thống nhất, tuy chúng ta cảm nhận đó là hai hình thái rất khác nhau nhưng theo Phật pháp, vật chất và tinh thần là cùng một bản chất mà Phật giáo gọi là tâm bất nhị. Tâm này là tánh giác ngộ tức trí tuệ bát nhã không thể nghĩ bàn mà kinh sách PG gọi là Phật, hay Chánh biến tri, Thiên Chúa giáo gọi là Thượng Đế (God), Nho Giáo gọi là Trời (Thiên 天). Tâm bất nhị có khả năng tạo ra vô số cảnh giới bằng cách phân cực thành những cặp phạm trù đối lập mà tiêu biểu nhất, cơ bản nhất là cặp chủ thể (subject) và đối tượng (object). Chủ thể biểu hiện thành mạt-na thức hay cái tôi (ngã). Đối tượng biểu hiện thành cảnh giới vật chất (matter) hay tinh thần (moral, intellectual). Cảnh giới thế gian chính là thế giới của các chủ thể (chúng sinh) và đối tượng (vật cảnh và tâm cảnh) của chúng. Thế giới đó là chủ quan do tâm tạo nhưng vì nhiều người cùng thấy tương tự như nhau nên cho rằng khách quan. Thế giới đó do tập khí hình thành. Tập khí là tâm niệm lặp đi lặp lại và có khả năng tạo ra cảnh giới vật chất, cũng là động lực của luân hồi tái sinh mà thuật ngữ PG gọi là thế lưu bố tưởng (Imagination spreads through generations). TQ có câu tục ngữ Tâm tưởng sự thành 心想事成 (Mind has wishes which will come true)cũng là nói về việc này. Tóm lại Nhất thiết pháp vô tự tính (All things are free of self natures) và Nhất thiết duy tâm tạo (Everything is built by mind) là thông điệp cơ bản của Phật giáo hướng dẫn nhân loại biết cách giải thoát đau khổ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 7 phản hồi

PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN PHÁP

Tại sao Phật pháp không thể rời khỏi thế gian pháp ? Bởi một lẽ đơn giản là Phật pháp và Thế gian pháp chỉ là hai khái niệm của con người gán ghép vào hai pháp có hình tướng khác nhau chứ thực sự thì hai pháp ấy không có thực thể, không có tự tính, sự phân biệt ấy chỉ là vọng tưởng của con người. Và hai pháp đó không khác nhau. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, mệnh đề Sắc Bất Dị Không nói lên ý ấy. Sắc (vật chất) là thế gian pháp. Không (bản thể bất nhị) là Phật pháp.

Tuy nhiên về mặt tương đối thì Phật pháp và Thế gian pháp khác nhau về hình tướng. Trong bài này chúng ta sẽ phân tích sự khác nhau đó như thế nào và vì những dính líu chặt chẽ như thế nào mà chúng không thể tách rời nhau. Lục Tổ Huệ Năng có bài kệ.

佛法世间  Phật pháp tại thế gian     Phật pháp trên thế gian

不离世间觉  Bất ly thế gian giác         Không thể rời thế gian giác ngộ

离世觅菩提  Ly thế gian mịch bồ đề    Rời thế gian tìm giác ngộ

恰如求兔角 Kháp như cầu thố giác    Giống như tìm sừng thỏ

Ý bài kệ muốn nói rằng không có cái pháp xuất thế gian hay Phật pháp riêng biệt ở ngoài pháp thế gian. Cố gắng tìm kiếm sự giác ngộ ở ngoài thế gian chỉ là tốn công vô ích giống như tìm sừng thỏ. Thỏ không bao giờ có sừng nên tìm sừng thỏ chỉ là phí công vô ích.

Chẳng hạn tham thiền đi tới các cảnh giới như Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền hay thậm chỉ tới cảnh giới cao hơn nữa thuộc cõi vô sắc như Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng không thể giác ngộ.

Ví dụ trong Niết Bàn Kinh 涅槃經có kể chuyện về sư Uất Đầu Lam Phất 郁头蓝弗như sau :

有个郁头蓝弗天人,他在山中习定,他在定中,山里头那些鸟鸣,叫唤的声音动了他的心了,他有一念瞋恨心,他说“变成飞狸,把你们都吃掉”。就这一念瞋恨心,但是他修的功果一直到生天,在天上生到非想非非想天,那这时间就很长了。但是在他修定的时候,起了这么一念的瞋恨心,天福尽了,下到人间,他就变了飞狸,专门吃飞鸟。一念恶念,这是佛讲的这么个故事。

Dịch nghĩa

Có một người cõi trời tên là Uất Đầu Lam Phất (Udraka Rāmaputra), ông ta ở trên núi tập thiền định, trong lúc thiền, trên núi có tiếng chim kêu inh ỏi ảnh hưởng tới tâm lý ông ta, ông bèn nổi sân hận, nói, “ta sẽ biến thành loài chồn bay (phi ly 飞狸) ăn thịt hết chúng bây”. Đó là một niệm sân hận, nhưng ông ta tu có thành quả được sinh ở cõi trời. Ông ta được sinh ở cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng (cõi trời cao nhất thuộc vô sắc giới), thời gian ở đó rất lâu dài. Nhưng vì lúc ông ta tu thiền định có khởi niệm sân hận, nên khi tuổi thọ ở cõi trời hết, trở lại thế gian, ông ta biến thành con chồn bay, chuyên bắt chim ăn thịt. Đó là Phật kể câu chuyện về một ác niệm.    

Còn việc giác ngộ thì ngay trong cõi thế gian ô trược này cũng có thể giác ngộ như Thích Ca, các vị Tổ Sư, các Thiền sư. Trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc có liệt kê hơn 5000 người kiến tánh, sau Huệ Năng có rất nhiều người kiến tánh chia làm 5 phái lớn : Tào Động tông (曹洞宗, do Động Sơn Lương Giới 洞山良价 và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch 曹山本寂 khai sáng); Vân Môn tông (雲門宗, do Vân Môn Văn Yển 雲門文偃 và pháp tử là Tuyết Phong Nghĩa Tồn 雪峰義存 khai sáng); Pháp Nhãn tông (法眼宗, do Pháp Nhãn Văn Ích 法眼文益 khai sáng); Quy Ngưỡng tông (潙仰宗, do Quy Sơn Linh Hựu 潙山靈祐và đệ tử là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch 仰山慧寂sáng lập), Lâm Tế tông ( 臨濟宗 do Lâm Tế Nghĩa Huyền 臨濟義玄 khai sáng).

Những người giác ngộ kiến tánh đó đều sống trên thế gian, hàng ngày họ cũng chỉ mặc áo ăn cơm, gánh nước bửa cũi, cuốc đất trồng rau như người bình thường, thậm chí không nhất thiết phải ngồi thiền như bài kệ của Huệ Năng.

生来坐不卧  Sinh lai tọa bất ngọa     Khi sống ngồi không nằm

死去卧不坐  Tử khứ ngọa bất tọa      Lúc chết nằm không ngồi

原是臭骨头  Nguyên thị xú cốt đầu   Đó vốn là mục xương

何为立功过  Hà vi lập công quá       Chứ có công tích gì

Con người thường hay phân biệt hai loại hình tướng mà họ cho rằng hoàn toàn khác nhau, một loại là Phật pháp, Một loại là Thế gian pháp.

Ví dụ : Chùa cảnh, sư ni, kinh kệ, giáo pháp của Phật, Tổ, tụng kinh niệm Phật, giảng kinh thuyết pháp, ngồi thiền, bố thí trì giới, tu hành chứng quả…đó là Phật pháp.

Nhà cửa, bến cảng, phi trường, đường sá, nam nữ, tình cảm, văn nghệ, tiểu thuyết, ăn uống, giải quyết sinh lý, sản xuất, thương mại, xây dựng, chiến tranh, cướp bóc, lừa đảo v.v… là Thế gian pháp.

Hoặc trừu tượng hơn, tu hành chứng quả là Phật pháp, ăn chơi, tìm kiếm sự thỏa mãn các nhu cầu của cuộc sống là Thế gian pháp.

Sự phân biệt như thế chỉ là vọng tưởng của tâm mê muội chấp trước chứ cả hai loại hình tướng đó đều không có thực chất, bởi vì có một nguyên lý chi phối cả hai loại hình tướng đó. Đó là nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính. Các pháp đã không có tự tính thì sự phân biệt chỉ là gán ghép tâm niệm, quan điểm của một người hay một nhóm người vào đó mà thôi. Nghĩa là chúng ta gán cho cái này là Phật pháp, gán cho cái kia là Thế gian pháp.

Giống như nhà khoa học gán ghép : đây là hạt electron, nó có các đặc điểm sau :

Thật ra hạt electron không có sẵn những đặc điểm đó, chỉ khi nhà khoa học tiến hành khảo sát, đo đạc thì những đặc điểm đó mới xuất hiện như thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris chứng tỏ. Hạt electron còn một đặc điểm nữa là vị trí mà nhà khoa học không thể xác định, từ đó nhà vật lý Đức Werner Heisenberg mới nêu ra nguyên lý bất định (principle of uncertainty), bởi vì nó có thể ở bất cứ chỗ nào, cũng tức là không ở một chỗ cố định nào, điều này kinh điển Phật giáo gọi là vô sở trụ mà ngày nay danh từ khoa học gọi là non locality. Nguyên lý này được ứng dụng thành công trong điện thoại di động. Từ hạt electron, nhà khoa học tạo ra bit thông tin với hai trạng thái : đóng mạch ký hiệu bằng số 1, ngắt mạch ký hiệu bằng số 0. Từ hai cơ số 0 và 1 này người ta tạo ra công nghệ thông tin, tiêu biểu là mạng internet và điện thoại di động, nơi thông tin có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu miễn có internet và điện thoại di động.

Như vậy chúng ta thấy rõ ràng là Phật pháp (vô sở trụ) không tách rời khỏi thế gian pháp (internet và điện thoại di động, liên kết lượng tử- quantum entanglement).

Quantum entanglement là hiện tượng một hạt photon có thể đồng thời xuất hiện ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau trong không gian. Khi hạt photon tại một vị trí bị tác động thì các vị trí kia cũng bị tác động theo một cách tức thời không mất chút thời gian nào, bất kể các vị trí cách nhau bao xa dù là 1m, 1000km hay một quang niên cũng thế. Hiện nay thì vệ tinh lượng tử của TQ đã thực hiện được hiệu ứng đó với khoảng cách xa nhất tới thời điểm bây giờ là 1200km. Có nghĩa là tín hiệu vượt qua 1200km không mất chút thời gian nào, hay nói cho đúng thì tín hiệu không cần vượt qua 1200km, bởi vì khoảng cách đó không có thật, thời gian cũng không có thật, số lượng photon ở các vị trí khác nhau trong không gian cũng không có thật.

Chúng ta hãy nghe thầy Duy Lực thuyết về vấn đề này :

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

Nếu trong tương lai, con người thực hiện được viễn tải lượng tử (teletransport) ở mức độ cố thể vật chất thì ý tưởng vô sở trụ được thực hiện hoàn toàn, có nghĩa là chỉ cần một niệm chúng ta có thể đi đến bất cứ nơi nào trên địa cầu hoặc trong vũ trụ.

Video minh họa ý tưởng di chuyển người bằng viễn tải lượng tử

Và như vậy giữa Phật pháp và Thế gian pháp không còn khoảng cách cũng tức là Phật pháp bất ly Thế gian pháp.

Chúng ta còn một ý tưởng vô cùng quan trọng khác để nói về Phật pháp bất ly thế gian pháp. Chúng ta hãy xem lại Kinh Vô Lượng Thọ, phần nói về chúng sinh cõi Tây phương cực lạc có thể tạo ra vật dụng như quần áo, chén dĩa và các thứ thực phẩm tùy thích.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Phật pháp nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo. Chúng sinh cõi cực lạc có thể theo tâm nguyện tạo ra vật dụng và thực phẩm. Câu hỏi đặt ra là trên cõi thế gian, có thể thực hiện điều đó không ? Theo ý tưởng của nhà khoa học Craig Hogan thì vũ trụ vạn vật cũng chỉ là thông tin. Ý tưởng viễn tải lượng tử trong video trên cũng dựa trên cơ sở vật chất là thông tin. Như vậy nếu con người có những máy tính lượng tử cực mạnh, trong một giây có thể xử lý hàng tỷ tỷ tỷ phép tính thì có khả năng dùng máy in 3D để tạo ra bất cứ vật gì con người muốn một cách nhanh chóng dễ dàng tương tự như ở cõi Tây phương.

Nên nhớ rằng siêu máy tính nhanh nhất thế giới hiện nay là Sunway TaihuLight (Thần Uy Thái Hồ Chi Quang神威太湖之光) chỉ mới thực hiện được 93 triệu tỷ phép tính trong một giây. Nhật Bản đang có kế hoạch cho ra đời siêu máy tính làm được 130 triệu tỷ phép tính một giây. Trong khi đó TQ cũng đã có kế hoạch xây dựng siêu máy tính làm được một tỷ tỷ phép tính một giây.

Bây giờ chúng ta hãy xem khả năng in 3 D của thế giới hiện nay :

Tephen Nigro, chủ tịch của công ty 3DP của HP, tuyên bố rằng công ty này đã tạo ra một “phương pháp tiếp cận in 3D kim loại mới” sẽ xuất hiện vào năm 2018. Nếu đúng vậy thì kim loại cũng có thể làm nguyên liệu in 3D, đó là một bước tiến lớn của nhân loại.

Những viên thuốc được sản xuất thông qua quy trình những lớp in 3D, những viên thuốc sẽ được hòa tan khi gặp chất lỏng. Aprecia Pharmaceutical cho biết hệ thống in có thể tạo ra một liều 1,000 milligrams chỉ trong một viên thuốc. Ngoài ra  chúng rất dễ tan trong chất lỏng giúp bệnh nhân sử dụng dễ dàng. Công ty kỳ vọng ra mắt thuốc Spitam tiếp thị vào quý I năm 2016.

Tuy nhiên không chỉ dừng ở đó, công nghệ in ấn 3D hiện còn xâm lấn cả vào lĩnh vực Y tế trở thành cánh tay đắc lực cho các bác sĩ trong việc tạo ra nội tạng trên cơ thể người . Trong tương lai gần các nhà khoa học sẽ dùng nguyên liệu in là tế bào sống của chính bạn để “in ấn” nội tạng trực tiếp (hãy lưu ý là máy in ấn trực tiếp nội tạng bên trong cơ thể bạn)

Nhà ở đầu tiên bằng in 3D được xây dựng bởi công ty mới khởi nghiệp Apis Cor, mất ít hơn một ngày để xây dựng một ngôi nhà và chi phí dưới 11.000 đô la để hoàn thành. Một máy in 3D di động đã tạo ra các bức tường bê tông và chúng được liên kết với nhau thành một cấu trúc hoàn chỉnh

Ngôi nhà xây dựng bằng kiểu in 3D chỉ trong 24 giờ

Nikita Chen-yun-tai, người sáng lập và phát minh ra máy in di động của Apis Cor, nói: “Chúng tôi muốn giúp mọi người trên thế giới cải thiện điều kiện sống của họ. “Đó là lý do tại sao quá trình xây dựng cần phải trở nên nhanh chóng, hiệu quả và chất lượng cao. Để điều này xảy ra, chúng ta cần phải ủy thác tất cả những công việc khó khăn cho các máy móc thông minh.”

Ngôi nhà ấm cúng, rộng 37 mét vuông với một hình dạng cong đặc biệt. Thiết kế cong của ngôi nhà đã được chọn để chứng minh khả năng của máy in 3D có thể in các vật liệu xây dựng dưới bất kỳ hình dạng nào, theo Apis Cor.

Apis Cor ước tính rằng tổng chi phí xây dựng của ngôi nhà mẫu trưng bày là  275 USD cho mỗi mét vuông. Trong tổng số 10.134 USD chi phí xây dựng ngôi nhà, cửa sổ và cửa ra vào là những bộ phận đắt tiền nhất, công ty cho biết.

Những thành quả của công nghệ in 3D hiện nay cho phép con người dự phóng một thời đại mới của nhân loại như sau :

Chuyển từ công nghiệp hóa sản xuất sang tin học hóa sản xuất

Đại ý là chuyển nền sản xuất, lưu thông cũng như thông tin của nhân loại từ công nghiệp hóa sang tin học hóa.

Lãnh vực chuyển đổi trước tiên là thông tin. Thông tin đã chuyển từ hình thức sách báo in trên giấy sang mạng internet và điện thoại di động. Báo in ngày càng ít người đọc, nhiều tờ báo lớn có hàng trăm năm tuổi phải thu hẹp số ấn bản hoặc ngưng in báo giấy.

Nhà tài phiệt truyền thông Rupert Murdoch, chủ tịch đồng thời là giám đốc điều hành News Corp, Tập đoàn này sở hữu các báo The Sun, Times, Wall Street Journal và New York Post, cùng các thương hiệu Fox và Sky, đã đóng cửa tờ báo London Paper khá sớm vào năm 1995 và tuyên bố tập đoàn báo giấy của ông sẽ chuyển sang làm tin tức online.

Tờ Post-Intelligencer (P-I) ở thành phố Seattle ra  đời vào năm 1863 của Mỹ vừa quyết định ra số báo in cuối cùng vào ngày thứ Ba, 17/3/2009, và chỉ tiếp tục hoạt động với tư cách một tờ báo mạng.

Tờ báo The New York Times thực sự bị đóng cửa vào năm 2015, tương lai ngành báo in tại Mỹ đang rất u ám, bởi tờ báo ra đời từ năm 1851 này là một trong những tờ báo hàng đầu không chỉ ở nước Mỹ mà còn có sức ảnh hưởng rộng lớn trên phạm vi toàn cầu, nhưng nay phải đóng cửa.

Tờ báo lâu đời của Anh, Financial Times thành lập năm 1888, đã bị bán lại vào tay ông Tsuneo Kita từ ngày 23-07-2015, vị chủ tịch đầy quyền lực của nhà xuất bản Nikkei (Nhật Bản), với lời đề nghị hấp dẫn khó cưỡng: 844 triệu Bảng Anh (tương đương 1,32 tỷ USD) bằng tiền mặt.

The Independent – một trong những tờ báo uy tín nhất ở Anh – cũng ngừng xuất bản báo giấy, và ấn phẩm cuối cùng đã được ra mắt vào 26/3/2016. The Independent chỉ còn tập trung vào phát triển phiên bản điện tử.

Sách in cũng rơi vào tình trạng tương tự, các nhà sách, các thư viện thưa thớt độc giả. Bất kì trưòng THCS hay THPT nào cũng đều có thư viện. Tuy nhiên công suất sử dụng thư viện ở trường học còn rất nhiều hạn chế. Vào những ngày thường, số lượng học sinh lên thư viện chỉ đếm trên đầu ngón tay, và số lượng chỉ đông hơn khi gần tới kỳ thi. Hầu hết học sinh bây giờ, nếu em nào có ý thức học tập thì thường ôn bài ở các lớp học thêm do các thầy cô tổ chức mà ít lên thư viện trường để ôn bài. Ngày nay, internet ngày càng phát triển thì việc tiếp cận thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Chỉ cần một cú click chuột là có thể tìm được nhanh chóng thông tin mình cần. Và lẽ dĩ nhiên nhiều người sẽ chọn cách này hơn là cất công lên thư viện, rồi phải làm thẻ, tra cứu sách,… Có lẽ bởi vậy mà học sinh ngày càng thờ ơ với thư viện, không thích cách đọc sách báo, tìm kiếm thông tin theo cách truyền thống. Bởi vì quá lâu lắc mất thì giờ và bất tiện, khi tìm được thông tin rồi muốn đưa thông tin đó vào bài viết cũng rất khó, không dễ dàng như copy và dán trên văn bản điện tử.

Người ta ngày càng đọc sách báo nhiều trên điện thoại. Một lý do khác khiến người ta chuyển sang đọc sách trên điện thoại là do kích thước và độ sắc nét của màn hình trên những chiếc smartphone đời mới, khiến cho việc trải nghiệm đọc trở nên tốt hơn. Kích cỡ trung bình của smartphone năm 2014 là 5,1 inch, tăng đáng kể so với mức 3,9 inch hồi năm 2011 theo số liệu từ eMarketer. Khi Apple ra mắt iPhone 6 và iPhone 6 Plus, hãng cũng ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể về số lượng sách được tải về.

Lĩnh vực sản xuất và lưu thông chuyển sang tin học hóa là thế nào ?

Vấn đề cốt lõi là nguyên liệu cho sản xuất hàng hóa vật chất là thông tin chứ không phải nguyên vật liệu vật chất. Đây là sự thay đổi tận gốc của thói quen và quan niệm của con người. Tất cả vật chất, tất cả nguyên tố của bảng phân loại tuần hoàn Mendeleev đều có thể quy về lượng tử, kể cả các hạt cơ bản như photon, electron, quark cũng đều quy về lượng tử. Và từ lượng tử có thể biến trở lại thành đủ loại vật chất, thực phẩm, sinh vật, con người. Đây chính là nền tảng của viễn tải lượng tử và tin học hóa cấp độ hậu công nghiệp.

Hậu công nghiệp có nghĩa là sau thời đại công nghiệp, nền sản xuất xây dựng của con người chuyển sang tin học hóa, lương thực thực phẩm hàng tiêu dùng, phục vụ cho mọi nhu cầu của con người đều là sản phẩm của tin học, mà nguyên liệu của chúng là lượng tử. Hình thức cơ bản của lượng tử là sóng vô hình phi vật chất, sóng của trường thống nhất (unified field) hoặc của lý thuyết dây (string theory). Sóng đó được biến thành hạt cơ bản, con người chỉ cần mấy loại hạt cơ bản thôi : quark up và quark down để tạo ra proton và neutron làm hạt nhân nguyên tử, cộng thêm electron để làm thành nguyên tử, ngoài ra cần một số hạt để làm lực tương tác kết dính, truyền dẫn như photon, gluon, boson w, boson z, graviton, higgs boson.

Điều quan trọng cốt lõi là người ta biết cách điều khiển các hạt để tạo ra bất cứ nguyên tử hay phân tử cần dùng nào. Người ta sẽ sử dụng các máy tính lượng tử cực mạnh để làm được điều này. Việc sản xuất vật chất bằng tin học sẽ trở nên dễ dàng, nhanh chóng, không có chất thải, không gây ô nhiễm môi trường như phương pháp công nghiệp.

Việc lưu thông hàng hóa cũng như đi lại của con người sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng bằng phương thức viễn tải lượng tử. Những sản phẩm nhỏ như bánh mứt, trái cây, vật dụng sinh hoạt nhỏ v.v…có thể sản xuất tại nhà của mỗi cá nhân. Chỉ những sản phẩm lớn như nhà cửa, xe hơi, tàu thuyền mới cần tới công ty, xí nghiệp.

Khi cần vận chuyển đi xa hàng ngàn km trở lên thì người ta dùng viễn tải lượng tử. Còn chỉ di chuyển 5, 10 hay vài chục km trong thành phố thì người ta vẫn dùng xe hơi, xe máy hay tàu thuyền là những phương tiện truyền thống.

Như vậy chúng ta hãy tưởng tượng. Hiện nay chúng ta đã có thể nói chuyện và nhìn thấy bạn bè hay người thân ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Trong tương lai khi đã thực hiện được viễn tải lượng tử, chúng ta còn có thể trao đổi bánh trái, ly bia, đồ dùng, hay gặp trực tiếp đối tượng một cách dễ dàng bằng cách bước vào phòng hạt ở Việt Nam và bước ra tại một phòng hạt khác bên Mỹ chẳng hạn sau vài chục giây. Vài chục giây là thời gian để biến đổi thân thể con người thành lượng tử chứ di chuyển thì không mất chút thời gian nào để đi xa khoảng 20.000 km từ VN đến Mỹ.

Tóm lại Phật pháp  (vô sở trụ, pháp giới hoa nghiêm sự sự vô ngại v.v…) và Thế gian pháp (sản xuất lương thực thực phẩm, đồ dùng, bằng tin học, viễn tải lượng tử v.v…) không tách rời nhau. Phật pháp không phải là chuyện đàm huyền luận diệu một cách vô bổ mà thực tế có ứng dụng trong đời sống hàng ngày của thế gian.

Làm thế nào để hành giả ứng dụng Phật pháp khiến cho tâm lúc nào cũng bình an, thơ thới, sống an lạc không bệnh tật, không lo âu trong cuộc sống đời thường hàng ngày, đó chính là ý nghĩa của câu Phật pháp bất ly thế gian pháp. Hành giả thực hiện đúng phương châm Vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ (úy) bởi vì không còn chấp ngã, không còn chấp pháp, sống giác ngộ và bình an.

Kết luận       

Phật pháp bất lý thế gian pháp biểu hiện ở cả hai mức độ :

Mức độ thường nghiệm

Mức độ này về mặt khoa học tương ứng với vật lý cổ điển của Newton phù hợp với nhận thức thông thường của con người sống trong đời thường có không gian, có thời gian, có số lượng. Về mặt kinh điển thì Phật pháp ở mức độ này tương ứng với kinh bất liễu nghĩa như : Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên. Con người có tu hành có chứng quả vì còn chấp ngã và chấp pháp tức là cho rằng cái ta có thật, các pháp thế gian cũng như Phật pháp là có thật.

Ở các nước theo giáo lý Nam truyền như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, ở tuổi mới lớn, thanh niên phải xuất gia tu học một thời gian ở các tu viện gần nhất để đào luyện nhân cách đạo đức và cũng để đáp đền hiếu ân đối với cha mẹ, đó là điều mà ở các nước có truyền thống Phật giáo Nam tông mặc định là điều thiết yếu phải làm. Đặc biệt tại Thái Lan, văn hóa này đã bén rễ sâu dày trong đời sống gia đình và xã hội – có thể dễ dàng bắt gặp mỗi năm tại các dịp lễ hội lớn có tới hàng trăm cho đến hàng chục ngàn người là người trẻ, thanh thiếu niên làm lễ thế phát đồng loạt tại các tu viện để trở thành nhà sư như : lễ hội hoa đăng – Loy Krathong, lễ té nước Songkran, lễ hội Asarnha Bucha, lễ hội mùa chay, lễ hội Wan Khao Phansa, ngày của Mẹ (Wan Mae – Mother’s Day).  Năm 2015 luật sư Trịnh Hội, một người khá nổi tiếng với những khán giả của Paris By Night bởi vì là anh là chồng cũ của Mc Kỳ Duyên, đã xuống tóc xuất gia trong 3 tuần lễ tại một ngôi chùa ở Bhutan. Anh đã trả lời phỏng vấn như sau về trải nghiệm đó.

Câu hỏi: Những điều khác biệt (nếu có) của Trịnh Hội trước và sau khi dự khóa tu học nầy ? Có những khuyến nghị gì không cho mọi người ? (Việt)

Trả lời: Chào Việt. Cũng có thể cho là mình đã học được một số điều. Xuống tóc, đi tu, dù chỉ là trong một thời gian ngắn 3 tuần như mình, hoàn toàn không phải là một điều dễ dàng nhất là đối với riêng mình. Nhưng cũng nhờ đó mà mình đã nghiệm được một số điều cho chính bản thân. Đó là ai cũng cần một thời gian tĩnh lặng, để biết mình là ai, giá trị nào đối với mình là quan trọng. Và chúng ta ai cũng có thể tốt hơn, kể cả đối với những người đã từng làm mình đau khổ. Khuyến nghị duy nhất của mình là ít nhất vài năm một lần, ai trong chúng ta cũng nên dành một quãng thời gian tĩnh lặng để tự tìm về bản ngã của chính mình.

Mức độ siêu nghiệm

Mức độ này về mặt khoa học tương ứng với vật lý lượng tử. Về mặt nhận thức thì những quan niệm về không gian, thời gian và số lượng đã bị sụp đổ. Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) thể hiện những bí mật không tưởng tượng nổi của con người, nó chứng tỏ không gian, thời gian, số lượng đều không có thật. Về mặt Phật pháp thì nhận thức ở mức độ này tương ứng với kinh điển đại thừa liễu nghĩa như Bát Nhã Tâm Kinh. Để hiểu nhận thức này, hãy xem một thí dụ :

Khoảng cách theo đường thẳng từ Sài Gòn đến Hà Nội là 1146 km. Muốn đi từ SG ra HN thì phải đi máy bay mất gần hai giờ hoặc đi xe lửa nhanh nhất mất 36 giờ. Ai cũng thấy đó là một sự thật, nhưng Phật pháp liễu nghĩa và vật lý lượng tử biết đó không phải hoàn toàn là sự thật, đó chỉ là vọng tưởng của con người thôi.

Cốt lõi của Phật pháp là Tánh Không. Tánh Không thể hiện ở cả ba đại lượng cơ bản nhất của thế gian, đó là không gian không có thật, thời gian không có thật, số lượng không có thật.

Hiện nay vệ tinh lượng tử của TQ đã chứng tỏ không gian không có thật bằng cách chuyển một hạt vật chất cơ bản là photon đi xa 1200 km mà không mất chút thời gian nào. Sự kiện đó chứng tỏ rằng khoảng cách 1200km là không có thật nên đã không mất chút thời gian nào. Thực tế là hạt photon đến được vị trí cách xa điểm xuất phát 1200 km mà không cần di chuyển qua quãng đường 1200km chứng tỏ rõ ràng là không gian không có thật, thời gian cũng không có thật. Một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai vị trí cách xa nhau hoặc ở 100.000 vị trí cách xa  nhau trong không gian (theo thí nghiệm của Maria Chekhova năm 2012) chứng tỏ rằng số lượng cũng không có thật.

Như vậy khoảng cách 1146 km giữa SG và HN cũng không có thật, con người chỉ cần bước hai bước là tới. Bước thứ nhất là bước vào phòng hạt ở SG. Bước thứ hai là từ phòng hạt ở HN bước ra ngoài. Con người có thể đi qua quãng đường 1146km mà không mất chút thời gian nào bởi vì khoảng cách đó là không có thật. Hiện nay con người chỉ mới làm được với hạt photon, còn cả một cố thể vật chất lớn là con người thì chưa làm được. Nhưng trong tương lai có thể sẽ làm được theo dự phóng của video sau đây :

Video minh họa ý tưởng di chuyển người bằng viễn tải lượng tử

Tóm lại Phật pháp bất ly Thế gian pháp ở cả hai mức độ thường nghiệm trong cuộc sống đời thường và siêu nghiệm cũng ngay trong cuộc sống thế gian. Chẳng phải hiện nay chúng ta đã có thể dùng các softwares như Viber, Zalo, Skype trên điện thoại để thấy nhau và nói chuyện với thân nhân bè bạn ở tận bên kia bờ Thái Bình Dương sao ?

Truyền Bình

 

Đăng tải tại Bài viết | 52 phản hồi

HAI THỨ TỰ DO TRONG CUỘC ĐỜI

Có nhiều nhà đấu tranh cho tự do dân chủ, họ đấu tranh quyết liệt, chấp nhận rơi cả vào vòng lao lý cho một lý tưởng về tự do dân chủ. Nhưng theo quan điểm Phật pháp, cái tự do đó còn đầy trói buộc và rất hạn chế. Hành giả Đạo Phật phấn đấu cho một cái tự do rộng lớn và thực chất hơn nhiều.

Tự do của các nhà đấu tranh đương nhiên là chỉ là ảo tưởng, vấn đề không cần phải bàn, bởi vì trên thế gian tất cả mọi sự kiện (all events), tất cả mọi hiện tượng (all phenomena) đều chỉ là thế lưu bố tưởng (common imaginations over many generations). Thế thì tự do cũng chỉ là ảo tưởng thôi. Theo triết lý Ngũ uẩn giai không (the five aggregates including: material, perception, imagination, motion, consciousness, are all empty) thì tự do cũng chỉ là ý thức, là tưởng tượng.

Thế nào là tự do ?

Nhưng trên diễn đàn này, chúng ta cũng cần phân tích cho rõ ngọn nguồn để mọi người thấy rõ hơn, từ đó tin vào tự tâm hơn là tin vào những hình thức phù phiếm bên ngoài.

Nhiều nhà tranh đấu cho tự do dân chủ rất được truyền thông phương Tây cổ súy, chẳng hạn Lưu Hiểu Ba刘晓波, người từng được trao giải hòa bình Nobel năm 2010. Ông được ủy ban giải Nobel hòa bình trao giải vì “cuộc đấu tranh trường kỳ bất bạo động vì quyền con người ở Trung Quốc”. Cựu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon cho rằng giải thưởng dành cho Lưu Hiểu Ba là “sự công nhận rằng thế giới ngày càng đồng thuận trong việc cải thiện quyền con người”. Phát ngôn viên của chính phủ Đức Steffen Seibert tuyên bố chính phủ Trung Quốc nên thả Lưu Hiểu Ba để ông ta có thể tham gia lễ nhận giải. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Bernard Kouchner cũng hoan nghênh giải thưởng và cũng kêu gọi Trung Quốc thả ông Lưu.

Tại TQ có nạn tham nhũng trầm trọng, có áp bức bất công, nhũng nhiễu lạm quyền của các quan tham, nên Lưu Hiểu Ba có lý do đứng lên tranh đấu. Nhưng chính quyền TQ cũng đang cố gắng chống tham nhũng, xây dựng dựng kinh tế đời sống, đường sá, bến cảng, phương tiện giao thông và nhiều mặt khác cho đời sống nhân dân tốt đẹp hơn. Chẳng hạn như video sau đây minh họa.

Các sáng tạo mới của TQ 5 năm gần đây

Họ thấy ông soạn ra hiến chương 08 cổ súy dân chủ theo mô hình phương Tây và được phương Tây hết sức ủng hộ, kích động nhân dân ngã theo chiều hướng đó, trong khi Đảng Cộng sản và Nhà nước TQ lại muốn tạo ra một mô hình riêng mang đặc sắc TQ, không theo phương Tây, nên họ cũng có lý do để bắt giam ông vì chủ trương của ông đi trái với đường lối của họ. Ở phương Tây, người dân có thể chủ trương đối lập với đảng cầm quyền nhưng ở TQ thì không, họ không cho phép người dân có chủ trương đi ngược với đảng cầm quyền, cũng không có một đảng đối lập để người dân ủng hộ nhằm chống lại đường lối của nhà nước.

Ở đây chúng ta không bình luận về việc tranh đấu của ông Lưu Hiểu Ba đúng hay sai hoặc chính phủ TQ bắt giam ông ta là đúng hay sai. Chúng ta sẽ nói về những điều sâu xa hơn nhiều.

Con người thường tranh đấu để đạt được tự do sinh hoạt, tự do đi lại, tự do tư tưởng ngôn luận, tự do bầu cử chính quyền v.v…những cái đó gọi chung là nhân quyền, mọi người sinh ra trên đời đều ắt cần phải có, nếu nhân quyền bị cản trở thì các nhà tranh đấu sẽ đứng lên đòi hỏi.

Đó là một số hình thức tự do, nhưng không phải là tất cả tự do, cũng không hẳn là những tự do thiết yếu nhất của cuộc đời. Tại sao ?

Tại sao ta không sinh ra trong một gia đình giàu có, cởi mở, tại một quốc gia phồn thịnh, tôn trọng nhân quyền ? Tại sao ta không được tự do chọn hoàn cảnh không gian và thời gian nơi mình sinh ra ? Tại sao ta không muốn nghèo mà lại sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, tại một quốc gia chậm tiến, chiến tranh loạn lạc, có nạn áp bức bất công ? Tại sao ta không muốn già mà cơ thể cứ ngày càng già yếu, ta không muốn bệnh mà cơ thể cứ bệnh, ta không muốn chết mà không thể thoát chết được, ta không muốn bị thiên tai, chiến tranh, nhân họa mà vẫn cứ bị ? Nói chung, ta không có sinh tử tự do, không làm chủ được cuộc sống của mình. Những thứ tự do này thiết yếu hơn rất nhiều so với những tự do mà có một số người tranh đấu.

Theo Phật pháp, tất cả chúng sinh đều có đủ Tam thân tức là ba loại thân thể gồm : Pháp thân tức là cái thể chung cho tất cả chúng sinh, kể cả Phật, Bồ Tát và phàm phu. Ứng thân là cái thân thể mà các vị Bồ Tát theo ý nguyên của mình, sinh vào bất cứ cõi giới nào nhằm tiếp cận và cứu độ chúng sinh. Báo thân là cái thân thể do nghiệp lực chi phối, có phước báo thì sinh vào cõi an lành tốt đẹp hưởng phước, có ác báo thì sinh vào cõi xấu nhiều đau khổ, bị quả báo. Phàm phu không làm chủ được mình nên trôi lăn trong luân hồi sinh tử, lục đạo (trời- deva, thần- asura, người- manussa, súc sinh- tiracchānayoni, ngạ quỹ- petta, địa ngục- niraya). Phật, Bồ Tát là bậc giác ngộ, tự do, vận dụng được pháp thân và ứng thân một cách tự chủ để giúp đỡ, giáo hóa chúng sinh. Ví dụ, Thích Ca sinh ra ở cõi thế gian để chỉ cho con người nguyên nhân và cách thoát khổ. A-Di- Đà tạo ra cõi Tây phương cực lạc để tiếp dẫn những chúng sinh quyết tâm tu Tịnh Độ. Bồ Tát Quán Thế Âm thường xuất hiện cứu giúp chúng sinh gặp hoạn nạn.

Vân Sơn- Kristine Sa – Thấy Quán Thế Âm Bồ Tát

Còn phàm phu không làm chủ được mình, bị chi phối bởi nghiệp lực, không vận dụng được pháp thân và ứng thân, chỉ bị trói buộc bởi báo thân, phải cực nhọc kiếm miếng cơm manh áo, đồ dùng, hay bị hoạn nạn, áp bức bất công, chiến tranh loạn lạc. Trong hoàn cảnh đó, một số người đứng lên tranh đấu cho tự do dân chủ, một thứ tự do rất hạn chế, đôi khi không có thực chất. Thí dụ người dân Mỹ có tự do bầu cử, nhưng chọn được một tổng thống có ít phiếu phổ thông hơn mà vẫn đắc cử. Tự do sở hữu súng đạn ở Mỹ gây ra rất nhiều thảm họa bắn giết bừa bãi khiến nhiều người dân thường và học sinh, giáo viên bị chết tức tưởi và không có cách nào khắc phục được.

Các Phật tử hay các hành giả của Phật giáo nói chung phấn đấu để giải quyết vấn đề sinh tử tự do, vấn đề làm sao làm chủ được số phận của mình, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh nào, chứ không coi những cái gọi là nhân quyền nói trên là quá quan trọng, đó chỉ là một số hình thức tự do bề ngoài có thể không phải là cốt lõi nhất.

Người dân của những nước tự do dân chủ phương Tây, họ đang có những thứ mà Lưu Hiểu Ba tranh đấu, nhưng những tự do đó có thực chất không hay cũng chỉ là ảo tưởng ? Để hiểu rõ việc này, chúng ta hãy xem xét coi :

Thế nào là ảo ?        

Đa số mọi người chúng ta tưởng là đã hiểu thế nào là ảo, song có thể chưa thật sự hiểu, vì vậy ở đây xin được phép giải thích rõ hơn.

Ảo là không có thật, không có thực chất, chỉ là tưởng tượng. Thí dụ trò ảo thuật. Copperfied từng biểu diễn đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành. Nhưng thực tế ông ta không có thực sự đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành mà chỉ tạo ra một ảo giác thị giác là ông ta đi xuyên qua.

Tất cả những trò ảo thuật đó đều chỉ là đánh lừa thị giác của người xem. Diễn viên cần có đạo cụ và người trợ giúp. Bây giờ giả sử yêu cầu diễn viên đứng ở giữa, bốn phía đều có khán giả, hoàn toàn không có đạo cụ, cũng không có ai trợ giúp phối hợp, chỉ một mình trơ trọi, thì người đó không thể thực hiện được màn trình diễn.

Nhưng ảo không phải chỉ có thế. Thực chất của ảo là tưởng tượng, là sự gán ghép, thay thế (replacement), là đánh tráo tâm niệm, khái niệm của mình vào cái đang là. Cái đang là, Phật pháp gọi là đương thể tức không, là tánh không phổ quát của vũ trụ vạn vật, cái mà các nhà vật lý cố gắng diễn giải nó là trường thống nhất (unified field) hoặc là miền tần số (frequency domain) vì nó có bản chất là sóng, một loại sóng phi vật chất bởi vì nó không cần môi trường vật chất để lan truyền. Sóng đó khi bị con người quan sát thì lập tức nó biến thành hạt vật chất, chẳng hạn hạt photon, hạt electron, hạt quark, v.v…Thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ điều đó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Trong thí nghiệm này người khảo sát đã đánh tráo tưởng tượng của mình vào sóng để thấy xuất hiện hạt electron. Các hạt cơ bản khác cũng thế, chẳng hạn sóng đã biến thành quark rồi biến tiếp thành proton, neutron tạo thành hạt nhân nguyên tử, rồi kết hợp với hạt electron để thành nguyên tử và cứ thế tiếp tục để thành phân tử, cố thể vật chất, chất sống, sinh vật, con người. Nói chung hạt cơ bản của vật chất là không có thật, không có thực chất, chỉ là tưởng tượng như Niels Bohr đã nói như sau : “Isolated material particles are abstractions”  (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật).

Chính vì vật chất là tưởng tượng của tâm nên Phật pháp mới nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo (All things are made only by Citta). Citta là Tâm bao gồm 8 thức : tiền ngũ thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc) ý thức, mạt-na thức (thức chấp ngã) và A-lại-da thức (Tàng thức tức kho chứa bao gồm dữ liệu của tất cả các thức). A-lại-da thức được Long Thọ Bồ Tát mô tả là Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư vô không có thật = Citta resembles nothingness without real essence) nhưng Tâm lại có khả năng tạo ra vô lượng vô biên ảo ảnh, ảo tưởng. Tâm không có thật, ảo tưởng cũng không có thật, và tâm có khả năng sinh ra ảo tưởng. Big Bang là Tâm, các vũ trụ song song cũng là Tâm trong đó có vũ trụ vạn vật của chúng ta. Vì Tâm không có thật nên không thể đòi hỏi nó khởi đầu từ lúc nào (vô sinh, không có thời gian) và nguyên nhân gì phát sinh ra Big Bang (không có nhân quả) và sinh ra bao nhiêu vũ trụ (không có số lượng) mỗi vũ trụ bao lớn (không có không gian). Tất cả các khái niệm về không gian, thời gian, số lượng, luật nhân quả, đều là do bộ óc của con người tưởng tượng ra và đều không phải là chân lý. Điều này ngành tin học hiện đại có thể cung cấp cho chúng ta những chứng cứ rõ ràng. Electron và photon vốn là sóng phi vật chất, bản chất là không có thật, nhưng nó có khả năng sinh ra các hạt ảo là hạt photon và hạt electron và những hạt ảo này đang tạo ra ngành công nghệ thông tin (IT= Information Technology) đang phát triển rầm rộ hiên nay. Sóng phi vật chất, hạt electron, hạt photon, thế giới ảo tin học và thế giới đời thường đều là Tâm (Nhất thiết duy tâm tạo).

Nhưng trong thế giới đời thường của con người thì có những lý tương đối. Những quy luật cơ bản nhất gọi là nguyên lý (principle), ví dụ Nguyên lý nhân quả (The universal law of Cause and Effect), nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính (All dharma do not have features), còn gọi là nguyên lý vô minh hay nguyên lý bất định. Khi tâm chưa khởi niệm thì nó ở trạng thái vô thủy vô minh. Nguyên lý thay thế (Principle of replacement). Nguyên lý bất định (Principle of uncertainty), nguyên lý này là hệ quả của nhất thiết pháp vô tự tính, chẳng hạn vì hạt electron không có sẵn đặc trưng về vị trí nên nó bất định, tức không thể xác định được vị trí. Nguyên lý bất toàn (Incompleteness theorem) tức là không có hệ thống lý thuyết nào không có mâu thuẫn. Mâu thuẫn là điều tất yếu của mọi lý thuyết. Chính nguyên lý bất toàn khiến cho chương trình Hilbert sụp đổ.

Vào năm 1920, nhà toán học David Hilbert đề nghị một dự án nghiên cứu rõ ràng về metamathematics (toán học) mà sau đó được biết đến như là chương trình Hilbert. Ông muốn toán học phải được hệ thống hóa trên một nền tảng logic vững chắc và đầy đủ. Ông tin rằng về nguyên tắc điều này có thể làm được, bằng cách chứng minh rằng:

  1. tất cả toán học có thể suy ra từ một hệ thống hữu hạn các tiên đề được chọn ra một cách đúng đắn;
  2. và một hệ thống tiên đề như vậy là có thể chứng minh được tính nhất quán của nó.

Hilbert và các nhà toán học tài năng làm việc cùng nhóm với ông đã dành hết tâm huyết cho dự án này. Cố gắng của ông để ủng hộ nền toán học được xây trên các tiên đề và các nguyên lý xác định trước, loại bỏ những bất định trong lý thuyết, tuy nhiên đã thất bại. Gödel đã chứng minh rằng bất kì một hệ thống hình thức không chứa đựng mâu thuẫn nào, không thể chứng minh được sự  toàn vẹn của nó bằng các tiên đề của chính nó. Vào năm 1931 định lý bất toàn của Gödel đã cho thấy rằng chương trình vĩ đại của Hilbert thất bại vì gặp phải mâu thuẫn nội tại không thể vượt qua nổi.

(Về những nguyên lý này xin đọc thêm bài : 5 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA VŨ TRỤ VẠN VẬT  )

Tóm lại thế giới là ảo, vật chất là ảo, nghĩa là không có thật, do tác dụng của hai nguyên lý : nhất thiết pháp vô tự tính và nguyên lý thay thế. Vì các hạt cơ bản vốn là sóng vô hình phi vật chất, không có tự tính, không có đặc trưng. Và chúng được Tâm gán ghép các đặc trưng vào để thành 18 loại hạt cơ bản trong Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics). Và từ các hạt ảo này, cấu thành vũ trụ vạn vật. Vì vậy các hạt quark, electron, photon v.v…đều là các hạt ảo do Tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật, đó chính là ý nghĩa sâu xa nhất của ảo (virtual cũng đồng nghĩa với imagination).

Con người nên phấn đấu cho tự do thế nào ?

Nhiều người sinh ra trong những gia đình nghèo khổ, thất học, nhiều bệnh tật, hoàn cảnh thật là bế tắc. Những người khác thì sinh sống trong những quốc gia loạn lạc như Syria chẳng hạn, hoàn cảnh thật là đen tối. Một số khác thì sống trong đất nước nhiều thiên tai, ví dụ Philippines, mỗi năm phải đối mặt với hàng chục cơn bão khủng khiếp. Đó là nêu lên một vài hoàn cảnh bất hạnh tiêu biểu, chứ nỗi khổ của nhân loại nhiều không kể xiết.

Vậy con người nên hướng đến tự do nào ? Họ ắt là nên lấy thoát khổ làm mục tiêu phấn đấu. Làm thế nào để thoát khổ ? Theo Phật pháp thì cảnh khổ hiện tại là quả mà nhân là ác nghiệp trong quá khứ. Vậy hãy bình tâm mà đón nhận cái nghiệp khổ không thể tránh khỏi và không gây ra ác nghiệp mới, đại khái là tuân thủ 5 giới căn bản của người tại gia, bao gồm :

  1. Pànàtipàtà veramanì: 離殺生Ly sát sinh(不殺生 bất sát sinh)Tránh xa sát sinh
  2. Adinnàdàna veramanì: 離不與取Ly bất dữ thủ(不偷盜bất thâu đạo)Tránh xa sự trộm cắp
  3. Kàmesu micchàcàrà veramanì: 離欲邪行Ly dục tà hành(不邪淫bất tà dâm)Tránh xa sự tà dâm
  4. Musà vàdà veramanì: 不妄語 (Bất vọng ngữ) Tránh xa sự nói dối
  5. Suràmeraya majjappamàdatthàna veramanì: 不飲酒 (Bất ẩm tửu) Tránh xa sự dễ dãi uống rượu và các chất gây nghiện.

Nếu có thêm hiểu biết về khoa học và triết học, thì biết rằng tất cả mọi cảnh giới, mọi hiện tượng trên thế gian đều chỉ là giả tạm, ảo hóa, không có thực chất. Như vậy hành giả sẽ đi tới chỗ phá ngã chấp và phá pháp chấp. Không có ngã thì ai đang chịu khổ ? Không có pháp thì khổ là cái quái gì ? Những câu hỏi đó sẽ dẫn tới nghi tình và nghi sẽ dẫn tới ngộ. Trạng thái giác ngộ như Bát Nhã Tâm Kinh mô tả :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Giải thoát được tất cả mọi khổ nạn tức hoàn toàn tự do kể cả sinh tử tự do. Đó mới đúng thật là cái tự do mà con người trên thế gian nên hướng tới. Tự do vì ngộ ra rằng tất cả mọi trói buộc là do chấp ngã chấp pháp, tức là tự mình trói buộc mình bằng vô số tập khí, thói quen từ vô lượng kiếp, chứ không phải có cái trói buộc từ hoàn cảnh bên ngoài, cái hoàn cảnh trói buộc mà con người hiện đang cảm thấy vốn là do tâm tạo chứ không phải có thật. Nếu làm chủ được tâm ắt không tạo ra những hoàn cảnh trói buộc đó nữa, hoặc tạo ra do tùy ý, đó là công dụng của tánh giác ngộ nhưng không mê chấp thì không có khổ. Chẳng hạn kinh Vô Lượng Thọ nói chúng sinh ở cõi Tây phương cực lạc có thể tùy ý tạo ra quần áo thực phẩm để dùng.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Ở cõi thế gian, muốn có thực phẩm, con người phải trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, trải qua bao nhiêu công đoạn cực nhọc khó khăn mới có vì khả năng vận dụng tâm của họ còn yếu kém, không có sức mạnh.

Còn ở cõi Cực lạc thì chúng sinh có khả vận dụng tâm mạnh hơn nhiều nên dễ dàng tạo ra thực phẩm tùy ý. Chúng ta cảm thấy điều đó có vẻ hoang đường, nhưng một số nhà đặc dị công năng có tâm lực mạnh thì có thể làm được.

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

Kết luận

Tự do mà con người thật sự cần và có thể đạt được không cần phải chờ nhà nước và xã hội ban cho, nó tùy thuộc ở tâm của mỗi người. Cái tự do này là không giới hạn, có thể thoát khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi thiên tai bão lụt, động đất, núi lửa, thoát khỏi tất cả mọi trói buộc. Nói thoát khỏi thiên tai có vẻ như nói ngoa, nhưng cũng có thực tế chứng minh. Từ năm 2013 tôi có đề cập đến Ngôi Làng Bình Yên, cuối năm 2017, cơn bão số 16 có vẻ đe dọa sự bình yên của ngôi làng này, nhưng cuối cùng cơn bão đã quẹo xuống phía nam để tránh. Giông bão không phải ngẫu nhiên từ trên trời rơi xuống, không có nghiệp bị giông bão thì sẽ không bị, đó là ý nghĩa của câu : thoát khỏi thiên tai bão lụt. Các nhà tranh đấu cho nhân quyền vào tù ra khám để tìm kiếm một cái tự do còn rất giới hạn và không mấy thực chất. Các hành giả Phật giáo tu hành để hướng tới một cái tự do rộng lớn và chân thực hơn nhiều.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 52 phản hồi

VÔ THƯỢNG THỪA PHẬT GIÁO

Giới thiệu qua về vô thượng thừa

Vô thượng thừa Phật giáo là một trường phái tu tập thiền định do Đức Phật Thích Ca sáng lập và các Tổ Sư triển khai qua nhiều thế hệ. Họ không phải là nhà lý thuyết suông mà chủ yếu là nhà thực hành, họ ứng dụng vô thượng thừa trong cuộc sống của bản thân mình đạt tới giác ngộ cả về lý thuyết và thực hành.

Về mặt thực hành, họ đã phát hiện ra Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Giác ngộ tức là thành Phật, nghĩa là thành người giác ngộ (giác giả tức là Phật hay còn có tên gọi khác là Chánh biến tri, nghĩa là hiểu biết đúng thực tế khắp cả không gian và thời gian của Tam giới – gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới) và họ có thần thông, cụ thể là lục thông (6 loại thần thông mà kinh điển có nêu) bao gồm :

Lục thông, 六通 , tiếng Phạn ṣaḍ abhijñāḥ: Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực tâm thức bát nhã của chư Phật và Bồ tát.

A-tì-đạt-ma-câu-xá luận zh. 阿毗達磨俱舍論, sa. abhidharmakośa-śāstra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận) có kể rõ lục thông là :

  1. Thân như ý thông, Phạn (sa) ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, còn gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi… tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
  2. Thiên nhãn thông, sa. divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nhìn thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
  3. Thiên nhĩ thông, sa.  divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
  4. Tha tâm thông, sa.  paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
  5. Túc mệnh thông, sa.  purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, còn gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì…
  6. Lậu tận thông , sa.  āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba cõi, được giải thoát hoàn toàn.

Đức Phật hay Tổ Sư Vô Trước đã từng chứng tỏ là họ có khả năng đi lên các cõi trời. Đức Phật đi lên cõi trời Đao Lợi 忉利天để thuyết pháp cho thân mẫu là hoàng hậu Ma Da nghe, khi trở về Ấn Độ tại nơi có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay) có Phạm Thiên và Đế Thích theo hầu.

Bia đá tạc sự tích Đế Thích và Phạm Thiên hầu Phật trở về thế gian tại Sankasya (Tăng Già Thi)

Còn Vô Trước Asaṅga dành nhiều năm thiền định nghiêm túc, trong thời gian này, theo truyền thuật, ban đêm ông thường viếng thăm cõi trời Tuṣita (Đâu-suất) để nghe giảng pháp từ Bồ tát Maitreya (Di-lặc) và ban ngày về thế gian giảng giải lại cho tín đồ.

Vô thượng thừa phá tất cả mọi chấp trước

Về mặt lý thuyết, họ giảng nhiều bộ kinh có ý nghĩa thâm sâu và rốt ráo đủ khả năng bác bỏ những niềm tin sai lầm của nhiều nhà khoa học đời sau, kể cả nhà khoa học vĩ đại nhất thế gian trong thế kỷ 20 là Albert Einstein.

Einstein tin rằng thế giới vật chất là khách quan, là có thật, cụ thể là những hạt cơ bản (element particles) của vật chất như photon, electron là có thật. Những đặc trưng cơ bản của chúng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin, luôn luôn tồn tại. Trong khi đó kinh điển Phật giáo nói rằng các hạt cơ bản chỉ là hoa đốm trong hư không, chỉ là tưởng tượng chứ không có thật. Kinh Hoa Nghiêm còn nói rõ rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron và tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Tất cả mọi đặc trưng của hạt cơ bản như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin đều không có sẵn, chính người quan sát hay người khảo sát đo đạc, đã gán ghép tâm niệm, tưởng tượng của mình để tạo ra những đặc trưng của chúng. Những đặc trưng vô cùng cơ bản của vũ trụ như không gian, thời gian, số lượng cũng đều như vậy, nghĩa là do bộ óc tưởng tượng ra, hay nói cách khác, chỉ là vọng tưởng mà thôi. Cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Albert Einstein đến năm 1982 đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Bohr. Einstein đã sai lầm như tuyệt đại đa số chúng ta tưởng rằng vật chất là có thật. Tuyệt đại đa số người trên thế gian đều không hiểu rằng chính vì các hạt cơ bản không có đặc trưng, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát và đặc trưng tưởng tượng đó đã tạo ra thế giới vật chất, từ nguyên tử, phân tử cho tới cố thể vật chất, sinh vật, con người, sơn hà đại địa, vũ trụ .

Sai lầm của Einstein không phải nhỏ, đó là sai lầm rất lớn, rất cơ bản. Nhưng tại sao Einstein vẫn được người đời hết mực tôn sùng và tuyệt đại đa số hầu như không biết gì về sai lầm cơ bản của ông ? Bởi vì có một nguyên lý gọi là Nguyên lý bất định do Werner Heisenberg phát biểu lần đầu năm 1927. Ý nghĩa của nguyên lý đó về mặt triết học là nói rằng : không thể xác định electron thực chất là sóng hay là hạt; nó vừa là sóng, vừa là hạt; vừa là không phải sóng cũng không phải hạt; khoa học và loài người không thể khẳng định nó là cái gì; nó không phải là cái gì cả. Chúng ta phải trở lại triết học của Kant khi ông nói rằng : Người ta không thể nhận thức được vật tự thể (Ding an sich), mà chỉ nhận thức được sự trình hiện (Erscheinung) của nó. Electron và các hạt cơ bản khác của vật chất là cái gì thì con người không thể biết được. Cái đó Tổ Sư Thiền gọi là vô thủy vô minh (không có khởi đầu, không thể xác định). Còn sự trình hiện của nó là vũ trụ vạn vật mà chúng ta đang thấy. Bởi vì tuyệt đại đa số nhân loại và Einstein cùng thấy trình hiện như nhau nên họ hoàn toàn tin tưởng vào Einstein và không biết rằng ông hoàn toàn sai lầm, thực tế là mê muội, mộng ảo. Cái này Bát Nhã Tâm Kinh diễn tả là Sắc Bất Dị Không, Không Bất Dị Sắc; Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc. Einstein là người rất hâm mộ Phật giáo ông từng nói :

Nếu có tôn giáo nào có thể đối mặt với yêu cầu của khoa học hiện đại, nó có lẽ là Phật giáo

Thế nhưng rõ ràng là ông chưa hiểu hết PG nên mới tranh luận kịch liệt với Niels Bohr về vấn đề hạt photon có sẵn đặc trưng hay không, vì ông không biết PG có nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính. Kết quả là ông đã thất bại.

Kinh điển cũng bác bỏ thuyết Sinh vật tiến hóa của Darwin, đó chỉ là một giả thuyết khoa học lầm lạc. Thuyết sinh vật tiến hóa cho rằng do một sự ngẫu nhiên may mắn mà các chất vô cơ không phải chất sống như Carbon, Hydrogen, Oxygen và Nitrogen đã kết hợp được thành một thành phần cần thiết của chất sống đầu tiên là acid amin và từ đó hình thành các phân tử protein, tiến hóa dần thành các sinh vật, ban đầu chỉ là sinh vật đơn bào đơn giản và ngày càng phức tạp tinh vi cho đến trở thành con người với bộ não và các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, vô cùng phức tạp. Thuyết này có vẻ rất có lý, nhưng thực tế không phải như vậy.

Cấu trúc chung của một phân tử acid amin, với nhóm amin ở bên trái và nhóm acid cacbonxylic ở bên phải. Nhóm R là nhóm thay thế tùy theo từng acid amin cụ thể.

Niềm tin vào tiến hóa giống như tin rằng một đứa trẻ không có chút hiểu biết gì, chỉ viết bậy viết bạ một cách ngẫu nhiên, cuối cùng may mắn tạo ra được một hệ điều hành Windows vô cùng tinh vi phức tạp. Đó thực tế chỉ là điều hoang tưởng không bao giờ xảy ra. Thực tế được Đức Phật và các vị Tổ Sư phát hiện là Tâm giác ngộ hay Phật, là tánh giác kỳ diệu, là sự hiểu biết vô cùng vi diệu, chứ không phải là vật chất tự mò mẫm một cách ngẫu nhiên, đã tạo ra vũ trụ vạn vật và mọi cấu trúc sinh vật tinh vi nhất. Vì vậy cái tánh giác vi diệu đó được gọi là Chánh biến tri 正遍知Samyaksaṃbodhi  còn được dịch âm là Tam Miệu Tam Bồ Đề hoặc dịch nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tính chất kỳ diệu của Chánh biến tri được các nhà đặc dị công năng hiện đại chứng tỏ một cách vô cùng thuyết phục. Chánh biến tri là một sức mạnh có ý thức vô cùng kỳ diệu, có khả phục hồi một tấm danh thiếp và một bức họa bị xé nát. Chính sức mạnh trí tuệ vô song đó là động lực tạo ra vũ trụ vạn vật, chính là cái kinh điển gọi là Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

TRƯƠNG BẢO THẮNG PHỤC NGUYÊN TẤM DANH THIẾP VÀ BỨC HỌA 

Một bức họa bị xé nát, bị ngâm nước cho tan rã hoàn toàn, không thể nào phục nguyên một cách ngẫu nhiên được. Chính điều này bác bỏ thuyết tiến hóa. Bởi vì nếu thuyết tiến hóa mà đúng thì bức tranh bị xé nát đó sau một thời gian dài xào xáo có thể tự phục nguyên thành bức tranh hoàn chỉnh. Điều đó không bao giờ xảy ra. Thực tế phải có sự tác động tâm linh của Trương Bảo Thắng, các mảnh vụn mới phục nguyên được. Nó phải được một lực kỳ diệu vô song có ý thức là Chánh biến tri điều khiển mới có thể phục nguyên được.

Câu chuyện của Trương Bảo Thắng là một hình ảnh minh họa cho nguồn gốc của muôn loài sinh vật, chúng không phải do tiến hóa, mà xuất hiện một cách đột ngột mang tính thần thoại (thần thoại chính là hiện thực của cơ học lượng tử) và bản chất của chúng là huyễn ảo không có thật. Thuyết sinh vật tiến hóa bị bác bỏ vì một lý do tưởng chừng rất đơn giản nhưng thực tế là nan giải, đó là sinh vật không có chỗ bắt đầu, cũng giống như vũ trụ không có chỗ bắt đầu như mô tả dưới đây.

Các nhà khoa học hiện đại hầu hết đều đồng ý với nhau là vũ trụ vạn vật có khởi điểm là vụ nổ Big Bang, trước vụ nổ, vũ trụ chỉ là một điểm kỳ dị có kích thứơc là 10-33 (mười lũy thừa âm 33) cm. Đó là kích thước Planck, kích thước nhỏ nhất còn có ý nghĩa trong vật lý học, nghĩa là con người còn phân biệt được. Dưới kích thước đó chỉ là con số toán học vô nghĩa, nằm ngoài khả năng phân biệt của con người. Đó là về mặt không gian, còn về mặt thời gian, thời điểm trước Big Bang là sự giãn nở lạm phát của vũ trụ, khi thể tích của vũ trụ mở rộng tăng theo hàm mũ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn đến thời điểm giữa 10−33 và 10−32 giây, phát sinh ra vụ nổ Sau giai đoạn lạm phát, kích thước vũ trụ đã tăng lên gấp 1030 so với kích thước ban đầu.

Nhưng các nhà khoa học không thể trả lời được câu hỏi : Nguyên nhân hay cái gì đã sinh ra điểm kỳ dị, từ đâu mà có cái điểm kỳ dị đó ? Cũng như các nhà khoa học sẽ không thể trả lời được câu hỏi : nguồn gốc phát sinh ra con người là gì ? Trong thế kỷ 19, Charles Darwin trong tác phẩm Nguồn Gốc Các Loài (On the Origin of Species, xuất bản năm 1859) có vẻ như trả lời được câu hỏi nguồn gốc của sinh vật, song qua thế kỷ thứ 21, đã có nhiều phản biện cho thấy những nhận định của Darwin chỉ là một dự phóng quá xa so với thực tế, thiếu rất nhiều chứng cứ khoa học về hóa thạch để chỉ ra quá trình trung gian của tiến hóa, hay nói cách khác, tiến hóa đã không xảy ra trong thực tế. Trái lại, hóa thạch của nhiều loài côn trùng như con gián, con dế, con cá…có tuổi hàng trăm triệu năm lại chứng tỏ rằng không hề có tiến hóa.

Nhận thức trong Tối Thượng Thừa của kinh điển Phật giáo nói rằng tất cả vũ trụ vạn vật chỉ là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã phổ biến trải qua nhiều đời) của con người chứ không cái gì là có thật. Từ Tâm như hư không vô sở hữu (Tâm giống như hư không không có thật) cho tới 18 hạt cơ bản của vật chất (element particles) tương ứng với 18 giới của Duy Thức Học (lục căn, lục trần, lục thức), cho tới nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, cho tới tinh thần, ý thức (ngũ uẩn :  sắc, thọ, tưởng, hành, thức), không cái gì là có thực chất, nghĩa là có thật cả. Tất cả đều chỉ là vọng tưởng. Điều này được diễn tả tập trung trong Bát Nhã Tâm Kinh.

Bát Nhã Tâm Kinh- Biểu diễn Tôn Lộ

Tại sao tất cả đều không có thực chất mà chúng ta lại cảm nhận rất là thật ? Đó là do tác động của hai nguyên lý :

Một là Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron và tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Và chúng cần được thay thế bởi những đặc trưng, đặc điểm của tâm niệm để có thể tưởng tượng ra vật. Và sự thay thế này được diễn ra với nguyên lý thứ hai.

Hai là Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Hai nguyên lý này, chúng ta thấy rất rõ trong tin học.

Chúng ta biết rằng dữ liệu tin học chỉ là những dãy số 0 và 1 được sắp xếp theo một thứ tự khác nhau vô cùng tận. Chúng chỉ là vô số những con số khác nhau sắp xếp theo hệ nhị phân. Bộ vi xử lý (processor) của máy tính sẽ nhanh chóng thay thế các đặc điểm cho những con số đó. Nào là đặc điểm về hình dáng, màu sắc, độ sáng rồi cả âm thanh nữa. Thế là các con số đã biến đổi trở thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh, âm nhạc…vô cùng phong phú.

Trong cuộc sống đời thường, sự việc cũng diễn ra tương tự như vậy, các ý niệm, tưởng tượng đã được triển khai đồng bộ cho lục căn, lục trần khiến cho lục thức hiển hiện trong bộ não thành cảnh giới thế gian vô cùng sinh động, vô cùng phong phú.

Vậy làm thế nào chúng ta biết được tâm niệm lại có khả năng thần kỳ như vậy ? Một số nhà đặc dị công năng hiện đại chứng tỏ cho chúng ta thấy. Hầu Hi Quý có khả năng dùng tâm niệm của mình di chuyển vật thể qua không gian một cách vô ngại, bất kể khoảng cách là bao xa, bất kể những chướng ngại của vách tường hay hộp gỗ hay bàn tay nắm chặt.

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

Tối thượng thừa Phật giáo nói rằng toàn bộ Tam giới chỉ là Thức (vạn pháp duy thức 萬法唯識) không có gì là thật cả, vật chất cũng chỉ là cảm giác mà thôi. Một số nhà khoa học ngày nay cũng đồng tình với nhận thức này, họ làm ra video sau đây để diễn tả.

Vạn Pháp Duy Thức

Một số nhà khoa học khác nghi ngờ rằng cái vũ trụ mà chúng ta sống trong đó là giả lập chứ không phải có thật.

Vũ trụ là giả lập

Nhưng cách mà các nhà khoa học suy nghĩ thì có thể chưa đúng, không phải một nền văn minh của một nhân loại giả lập ra vũ trụ, mà vũ trụ là một sản phẩm tưởng tượng của Tâm như hư không vô sở hữu, cái tâm đó chính là người đã tạo ra vũ trụ, và nhân loại gọi cái tâm đó bằng những danh xưng khác nhau như Trời, Thượng Đế, Phật, Allah. Các nhà khoa học hiện đại đã tìm cách lý giải về cái vũ trụ không có thật đó như sau.

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Cuối cùng thì cuộc sống trên thế gian của chúng ta sẽ ra sao ?

Tối thượng thừa nêu ra nhận thức xác thực hơn về thế giới và đưa ra phương pháp giúp cho hành giả làm chủ được tâm. Làm chủ tâm cũng tức là làm chủ cả vũ trụ vạn vật, bởi vì nói cho cùng, vũ trụ chỉ là giả lập hay tưởng tượng của tâm. Chúng ta tưởng tượng như thế nào thì vũ trụ sẽ như thế ấy, không có cái gì gọi là thực tế khách quan cả.

Phương pháp của tối thượng thừa là tham thiền hay tham thoại đầu để đến được chỗ gọi là vô thủy vô minh. Đó là cái chỗ mà các nhà khoa học bị bế tắc. Các nhà vật lý nhận thức tới điểm kỳ dị nhưng không biết cái điểm kỳ dị ấy từ đâu mà ra và nguyên nhân gì phát sinh ra vụ nổ Big Bang tạo lập ra vũ trụ này. Họ cũng nghi ngờ rằng đây cũng không phải là vũ trụ duy nhất mà thực tế có rất nhiều vũ trụ song song đồng thời tồn tại với vũ trụ này, chỉ vì chúng ta không thấy, không tiếp xúc được nên tưởng là không có. Ví dụ cõi trời, cõi tiên, cõi âm, cõi tây phương cực lạc, cõi địa ngục, cõi quá khứ, cõi vị lai…đó là những cõi giới mà chỉ một số rất ít người thấy được, còn tuyệt đại đa số không thấy nên cảm thấy mơ hồ không thể tin được. Còn các nhà theo chủ thuyết tiến hóa thì bế tắc ở chỗ không thể xác định được sinh vật đầu tiên, cũng không thể chứng minh được là chất vô cơ không sống đã kết hợp lại thành chất sống như thế nào. Họ cứ tin như thế mà không có thực tế nào chứng minh cả. Các thí nghiệm chỉ chứng tỏ rằng xác suất để chất vô cơ ngẫu nhiên kết hợp lại thành chất sống là cực kỳ nhỏ, gần như không bao giờ có thể xảy ra được.

Mặc dù acid amin là một thành phần cơ bản của sự sống như ta thấy ngày nay, nhưng liệu chúng có thể NGẪU NHIÊN tập hợp lại với nhau để tạo thành protein không?

Để trả lời câu hỏi này, cần biết rằng khoa học ngày nay đã biết trong tự nhiên có 100 loại acid amin khác nhau, nhưng chỉ có 20 loại có mặt trong sự sống (sự sống chỉ sử dụng 20 loại). Hơn thế nữa, tất cả 20 loại acid amin này đều thuận tay trái. Vậy bài toán đặt ra là làm thế nào để 20 loại acid amin thuận tay trái trong tự nhiên ngẫu nhiên tập hợp lại với nhau để tạo thành protein?

Sẽ không giải được bài toán trên nếu không biết một định luật cơ bản của sự sống: Định luật sự sống bất đối xứng hay Định luật sự sống thuận tay trái do Louis Pasteur khám phá ra năm 1848, khi ông mới 26 tuổi.

Về mặt lý thuyết, đối với một hợp chất hữu cơ, xác suất để xuất hiện hai dạng cấu trúc đó là như nhau: tỷ lệ 50-50. Nhưng điều kỳ lạ là hợp chất hữu cơ trong các tế bào sống chỉ có cấu trúc bàn tay trái (chỉ thuận tay trái). Pasteur khám phá ra điều này khi ông nghiên cứu tinh thể acid tartaric. Trong khi acid tartaric do con người chế tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc trong công nghiệp (gọi là acid paratartaric) xuất hiện cả hai loại cấu trúc ban tay phải và bàn tay trái với tỷ lệ 50-50 thì acid tartaric chiết xuất từ sự sống (bã nho) chỉ có phân tử thuận tay trái. Với trực giác thiên tài, Pasteur đã tổng quát hóa nhận xét đó thành một định luật, rằng tính chất thuận tay trái là đặc trưng của sự sống – ở đâu có sự sống, ở đó có phân tử chỉ thuận tay trái, và ngược lại, ở đâu có phân tử chỉ thuận tay trái, ở đó có sự sống.

Qua hơn 150 năm thử thách, định luật này được kiểm chứng là tuyệt đối đúng – không có bất cứ một trường hợp thực tế nào trái với nó. Giới tiến hóa rất khó chịu, vì bị định luật này thách thức, nhưng họ vẫn phải thừa nhận đó là một sự thật khó hiểu của sự sống.

Áp dụng định luật này vào trường hợp của acid amin, chúng ta có nhận xét sau đây: trong 100 loại acid amin có trong tự nhiên, những acid amin có hai loại cấu trúc thuận tay phải và thuận tay trái với tỷ lệ 50-50 đều không có mặt trong sự sống, trong khi những loại acid amin được sự sống sử dụng đều có cấu trúc thuận tay trái.

Thật thú vị để nhắc lại một chút về thí nghiệm Urey-Miller năm 1953, một thí nghiệm đã được nhiều báo chí thời đó quảng cáo rùm beng là đã “chế tạo ra sự sống”, gây chấn động dư luận. Nhưng thực ra đó là chuyện phóng đại – Miller chỉ chế tạo được một vài loại acid amin, nhưng đều là những acid amin không sống, tức là những acid amin có cấu trúc đối xứng (phân tử thuận tay phải và thuận tay trái có mặt với tỷ lệ ngang bằng). Hóa ra thí nghiệm này có tác dụng ngược: nó cảnh báo rằng sự sống không thể tạo ra từ vật chất không sống! Sự sống đòi hỏi phải có những phân tử CHỈ THUẬN TAY TRÁI, và đó là điều vượt quá khả năng của con người. Bản thân Miller 40 năm sau đã thú nhận với tạp chí Scientific American rằng “Vấn đề nguồn gốc sự sống thực ra khó hơn tôi và hầu hết những người khác dự kiến” Năm 1969, giáo sư sinh học Dean Kenyon, người từng tin vào học thuyết Darwin, kết luận: “Về cơ bản, không thể tin được là vật chất và năng lượng không cần ai giúp mà tự tổ chức thành các hệ thống có sự sống”.

Sự bế tắc của thuyết tiến hóa đã được Phật pháp đề cập từ rất lâu rồi, trong một luận đề về Con gà và Cái trứng, cái nào có trước, cái nào sinh ra cái nào ? Ngày nay có người trả lời là con gà có trước quả trứng, song đó là một câu trả lời gượng gạo không mang tính triết học cao, bởi vì như thế chúng ta phải chấp nhận rằng con gà đột ngột xuất hiện không theo quy luật nhân quả. Như thế chúng ta cũng phải chấp nhận rằng con người đột ngột xuất hiện trên quả địa cầu cách nay khoảng 3 triệu năm mà không phải do con người sinh ra, có thể là do con vượn sinh ra theo tiến hóa luận.

Những tổ tiên thật sự gần của loài người chỉ xuất hiện vào khoảng 3,7 triệu năm trước, đó là thời điểm xa nhất mà đến nay chúng ta có thể ghi lại được dấu chân của loài vượn người đã có thể đi bằng hai chân. Loài này có tên Australopithecus, phát triển trong các vùng rừng châu Phi. Sự sa mạc hóa của lục địa này khiến rừng biến thành sa mạc hoặc thảo nguyên, không còn cây cối để leo trèo, loài Australopithecus mới dần tiến hóa để có thể thích nghi với việc sống thiếu các ngọn cây.

Australopithecus sau này tiến hóa thành Homo habilis với mức độ giống con người ngày nay nhiều hơn, và rồi xa hơn là Homo ergaster, rồi Homo erectus với ít lông hơn, chỉ tập trung chính ở trên đầu, các chức năng cơ thể khá giống với con người ngày nay.

Homo erectus được cho là tổ tiên đầu tiên ở dạng người của loài người chúng ta ngày nay, với bộ não có kích thước khoảng 74% bộ não của con người hiện đại. Đó là khoảng 1,8 triệu năm trước.

Cho tới tận 100.000 năm trước, loài người có trí tuệ đầu tiên mới thật sự xuất hiện, đó là những người Homo sapien. Họ là nhánh phát triển nhất về trí tuệ trong số các nhánh phát triển của thế hệ các loài vượn người Homo. Với sự sa mạc hóa của châu Phi, họ vượt qua ranh giới giữa châu Phi và châu Âu, phân tán trên cả châu Âu và châu Á (ban đầu là vùng Trung Đông) ngày nay.

Đoạn trên là mô tả của thuyết tiến hóa về nguồn gốc loài người, những mô tả đó ngày nay không còn đáng tin cậy bởi vì không tìm được hóa thạch trung gian giữa các loài đó để chứng tỏ rằng có sự tiến hóa từ Australopithecus tới Homo sapiens, những hình ảnh này chỉ là do những người theo thuyết tiến hóa vẽ vời ra.

Những chất sống đầu tiên đã không thể chế tạo được thì những giai đoạn tiếp theo chỉ là suy đoán. Những suy đoán này rất giống với việc tâm niệm của con người đã đánh tráo các đặc trưng của mình vào các cấu trúc tưởng tượng của các hạt cơ bản để tạo ra thế giới vật chất. Các nhà tiến hóa đã đánh tráo các suy đoán của mình thành học thuyết tiến hóa luận chứ đó không hẳn là thực tế của quả địa cầu.

Tóm lại về mặt vật lý học, Einstein đã đánh tráo tâm niệm của mình vào hạt photon và electron, nghĩa là ông đã tưởng tượng ra những đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin và gán cho photon cũng như các hạt cơ bản khác, chứ bản thân các hạt cơ bản là không có thật, cũng không hề có sẵn bất cứ đặc trưng gì, mà thí nghiệm về hai khe hở đã chứng tỏ một cách rõ ràng,

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Chính cái tưởng tượng cơ bản nhất về các hạt cơ bản đã đặt nền tảng cho sự tồn tại của 18 hạt cơ bản trong mô hình chuẩn của Vật lý học về Hạt (Standard Model of Particle Physics). Và từ các hạt cơ bản đó, tâm đã tưởng tượng thành vũ trụ vạn vật, từ vụ nổ Big Bang cho tới các thiên hà, các hệ mặt trời, các hành tinh và sinh vật, con người.

Về mặt sinh vật học thì Charles Darwin đã tưởng tượng ra cuộc tiến hóa từ chất vô cơ thành hữu cơ rồi thành chất sống, sinh vật đơn bào, côn trùng, chim cá, loài vật có xương sống và hệ thần kinh, cuối cùng thành con người. Bởi vì loài người đang hiện hữu trên địa cầu với tổng dân số lên đến 7,5 tỷ người, đang xây dựng nền văn minh vô cùng phong phú và vĩ đại, nên những người ủng hộ thuyết tiến hóa tin chắc rằng học thuyết của mình là đúng.

Họ không nghi ngờ rằng bản thân vật chất, từ các hạt cơ bản đã không có thật, cho nên cái cấu trúc về con người cũng chỉ là tưởng tượng mà thôi. Đó thực tế chỉ là thông tin, toàn bộ vũ trụ vạn vật cũng chỉ là thông tin. Điều này một số nhà khoa học hiện đại gọi là Vũ trụ Toàn ảnh (Holographic Universe) có nghĩa là một vũ trụ ảo được xây dựng bằng thông tin, có người còn đề xuất cả bit thông tin vũ trụ là như thế nào. Craig Hogan đề xuất như thế này.

Theo lý thuyết của Hogan, mọi vật trong thế giới 3D (thế giới đời thường của chúng ta) đều có thể mã hóa trên một diện tích 2D ở độ phân giải Planck. Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất. Và những bit cơ bản của thông tin nằm trong kích cỡ Planck. Kích thước Planck là khoảng cách vật lý nhỏ nhất còn có ý nghĩa, dưới khoảng cách này thì con số chỉ còn là con số toán học vô nghĩa, nó vô nghĩa vì không còn tương ứng với một thực thể vật lý nào. Kích thước Planck là 10-33   (mười lũy thừa trừ 33) cm. Đó chính là kích thước của lượng tử (quantum). Từ kích thước Planck, ông tính ra diện tích Planck là 10-66 cm2 (mười lũy thừa trừ 66 centimét vuông). Một bit thông tin vũ trụ bằng 4 diện tích Planck.

Vũ trụ vạn vật nếu đã là thông tin thì thuyết sinh vật tiến hóa chỉ là ảo tưởng của Darwin. Con người chẳng phải do tiến hóa gì cả mà là do tâm tưởng tượng. Tâm tưởng tượng như thế nào thì con người và cả vạn vật là như thế ấy. Đó chính là điều mà Vô Thượng Thừa Phật giáo đề cập và ghi trong kinh điển bằng câu Nhất thiết duy tâm tạo 唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng, có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Phá đổ mọi chấp trước để làm gì ?

Trong vọng tưởng của con người, của Einstein và Darwin thì thế giới là có thật, là khách quan, có không gian, có thời gian, có số lượng, có cuộc sống, có tiến hóa, có lịch sử, có nền văn minh và hiện tại đang là năm 2018 của thế kỷ 21 Công nguyên. Các cường quốc hàng đầu thế giới như Mỹ, TQ, Nga, đang tranh bá, đang muốn thống trị thế giới. Còn các nước nhỏ thì đành phải phụ tùy vào các nước lớn, kẻ theo Mỹ, người theo TQ, kẻ khác ngã về Nga. Nhưng một số nhà khoa học thì nghi ngờ rằng cả vũ trụ và thế giới chỉ là giả lập chứ không phải là có thực hoàn toàn.

Tại sao con người cứ sống mê muội đau khổ triền miên mà không thể sống theo phương châm : Vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ (úy) ?  Bởi vì tuyệt đại đa số người chấp thật, họ tự trói buộc mình trong nhận thức nhị nguyên điên đảo mộng tưởng. Phá chấp trước để hội nhập với tâm bản nguyên có đủ mọi năng lực, chính năng lực này tạo ra vũ trụ vạn vật mà kinh điển nói là Nhất thiết duy tâm tạo.

Một số không ít người đau khổ, bất như ý với cuộc sống thế gian, nên hướng về một thế giới tốt đẹp hơn gọi là Thế giới Tây phương cực lạc do Phật A Di Đà chủ quản. Chúng sinh ở thế giới đó có sức mạnh lớn về tâm niệm, nên khi họ muốn ăn uống hay có quần áo, đồ dùng, thì tự khắc những vật phẩm đó sẽ hiện ra, khi dùng xong thì chúng tự biến mất.

Ăn Uống Ở Cõi giới Tây phương Cực lạc

Tuy nhiên thế giới đó cũng chỉ là hóa thành, một trạm dừng chân tạm thời trên con đường diệu vợi tới giác ngộ.

Kết luận

Vô thượng thừa Phật giáo chỉ ra tất cả mọi cảnh giới kể cả tương đối và tuyệt đối cho mọi người thấy. Ai muốn tiếp tục sống trong thế giới vọng tưởng, mê muội, đầy phiền não, đau khổ, thì cứ tiếp tục sống cuộc sống thế gian đời thường trong đó có áp bức bất công, có thiên tai nhân họa, có sinh lão bệnh tử, vui buồn bất chợt.

Còn ai muốn sống giác ngộ hơn thì làm quen với những khái niệm mới trong đó không gian, thời gian và số lượng không còn được coi là tuyệt đối, mà chỉ còn giá trị tương đối, thậm chí cái tương đối này đi xa hơn quan niệm của Einstein trong hai thuyết tương đối, hẹp và rộng của ông. Einstein tuy nói rằng không gian tương đối, thời gian tương đối nhưng vẫn còn mắc kẹt trong thế giới khách quan, không hiểu rằng không gian và thời gian cũng là do tâm niệm của ông sinh ra. Vì vậy Einstein không thể hiểu, không thể chấp nhận được hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) là có xảy ra. Và quan điểm của Einstein đã bị chứng minh là sai lầm trong thí nghiệm do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982.

Không gian, thời gian và số lượng không thể có bắt đầu. Phật pháp gọi đó là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍(Phạn ngữ :anutpattika-dharma-kṣānti). Pháp nhẫn là nhận thức kết tinh từ phép tu nhẫn nhục ba la mật phát hiện được bờ bên kia của nhận thức là vô sinh, là tánh không của vạn pháp. Các nhà khoa học vọng lập ra điểm bắt đầu của không gian và thời gian gọi là điểm kỳ dị có kích thước là 10-33 (mười lũy thừa âm 33) cm. Đó là kích thước Planck, kích thước nhỏ nhất còn có ý nghĩa trong vật lý học, nghĩa là con người còn phân biệt được. Dưới kích thước đó chỉ là con số toán học vô nghĩa, nằm ngoài khả năng phân biệt của con người. Đó là về mặt không gian, còn về mặt thời gian, thời điểm trước Big Bang là sự giãn nở lạm phát của vũ trụ, khi thể tích của vũ trụ mở rộng tăng theo hàm mũ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn đến thời điểm giữa 10−33 và 10−32 giây, phát sinh ra vụ nổ Big Bang. Đó chỉ là vọng tưởng về vũ trụ.

Kinh Kim Cang đã chỉ ra rằng : “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”.

Ý nói là thời gian không có thật, không thể có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, sự phân biệt quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ là vọng tưởng.

Các nhà khoa học về sinh vật mà nổi tiếng nhất là Darwin, vọng tưởng về sự bắt đầu của sinh vật. 4 Tỷ Năm trước: Các nguyên tử hidrogen và oxygen nối kết với nhau thành phân tử nước. Nước giúp cho sự tạo ra những phân tử khác, nước là chất cần thiết để tạo ra sự sống. Rồi chất hữu cơ là loại vật chất sống hình thành, đại phân tử hữu cơ có chứa cả 4 nguyên tố : carbon, hydro, oxy và nitro – phân tử protein đầu tiên, ra đời. Với cấu trúc bậc 4 (cấu trúc không gian), chất protein có một khả năng đặc biệt mà chất vô cơ không có được, đó là sự trao đổi chất. Sự sống đầu tiên hình thành. Còn động vật đầu tiên xuất hiện vào khoảng cách nay 640 triệu năm, đó là bọt biển

Bọt biển có thể đã xuất hiện trên Trái Đất từ 640 triệu năm trước, sớm hơn 100 triệu năm so với đa số các loài kỷ Cambri, giai đoạn hầu hết các nhóm động vật xuất hiện (540 triệu năm trước).  

Rồi do tiến hóa, động vật đầu tiên đã tiến hóa thành con người. Nhưng cũng theo nghiên cứu của ngành cổ sinh vật học. Hầu hết các nhóm động vật xuất hiện đồng thời ở kỷ Cambri, chúng đã có cấu trúc hoàn thiện như động vật ngày nay, không có sự tiến hóa. Ví dụ người ta tìm được hóa thạch của cá vây tay cách nay 240 triệu năm. Nó giống hệt như cá vây tay ngày nay.

Cá vây tay (coelacanth fish)

Tuổi: 240 triệu năm
Thời kỳ: Kỷ Triat
Địa điểm: Ambilobe, Madagascar

Cá vây tay ngày nay

Như vậy theo cái nhìn của vô thượng thừa Phật giáo, các nhà khoa học chỉ là vọng tưởng, dựa trên tưởng tượng, từ hạt cơ bản cho tới nguyên tử, phân tử, chất vô cơ, chất sống. Thế gian hiện tại là một bức tranh tưởng tượng toàn bích của tâm mà thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng 世流布. Trong kinh “Đại bát Niết bàn” 大般涅槃经  do ngài Đàm Vô Sấm 昙无谶 (Dharmaraksa) pháp sư người Ấn dịch, Phật nói với Ca Diếp.

Tất cả phàm phu có hai loại tưởng tượng, thứ nhứt là thế lưu bố tưởng, thứ hai là trước tưởng. Tất cả bậc thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng mà không có trước tưởng. Tất cả phàm phu vì dựa vào cảm giác sai lầm của giác quan , từ thế lưu bố tưởng sinh ra trước tưởng. Tất cả bậc thánh vì có chánh giác thấu suốt, từ thế lưu bố tưởng không sinh ra trước tưởng. Vì vậy mới gọi cái thấy của phàm phu là điên đảo tưởng. Thánh nhân tuy cũng có tri giác (giống phàm phu) nhưng không gọi là điên đảo tưởng

Hành giả vô thượng thừa vẫn sống trong cảnh giới thế gian đời thường nhưng không còn quá chấp thật, dần dần phá ngã chấp và pháp chấp để đi tới giác ngộ kiến tánh thành Phật. Thành Phật không phải là thành một vị chúa tể của vũ trụ, mà chỉ là giác giả, người giác ngộ, hiểu rốt ráo và tự chứng rằng vũ trụ vạn vật là không có thật, cũng chỉ là giả tạm do tâm tạo.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 27 phản hồi

ĐƯƠNG THỂ TỨC KHÔNG

Đương thể tức không nghĩa là gì ?

Nhất thiết pháp đương thể tức không 一切法當體即空 nghĩa là trong tất cả các pháp, cái vật thể hiện tại đang là cũng là không có thật, chứ không phải đợi cho tới lúc nó bị hoại diệt mới là không. Nhiều vị sư giảng kinh cũng còn nhầm lẫn về vấn đề này. Nhiều người vẫn cho là vật thể hiện tại là có thật, ví dụ cái xe hơi mà mình đang sử dụng là có thật, phải trải qua một thời gian lâu sau, ví dụ sau 100 năm hoặc 1000 năm, khi cái xe hơi ấy đã bị hoại diệt, thì nó mới trở thành không.

Tại sao cái xe hơi chúng ta đang đi cũng là không có thật ? Bởi vì xe là một cố thể vật chất cấu tạo bằng phân tử, nguyên tử vật chất như sắt, đồng, kẽm, cao su, nhựa v.v…Mà nguyên tử cấu tạo bằng các hạt cơ bản như quark, electron, các hạt tạo ra khối lượng như higgs boson, các hạt tạo ra lực truyền dẫn như boson W, boson Z v.v…

Mà tất cả các hạt cơ bản này theo như nhận định của nhà khoa học trứ danh Niels Bohr, đều là hạt ảo, ông nói :  “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật)

Heisenberg là người phát minh ra nguyên lý bất định, cũng nói : “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).

Nguyên tử, cấu trúc nền tảng nhất của vật chất đã không phải là vật thì là gì ? Nguyên tử chỉ là một vọng tưởng, một tưởng tượng mà thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng. Và cái cố thể vật chất là chiếc xe hơi được tạo thành từ rất nhiều nguyên tử cũng chỉ là một vật ảo không có thật. Chiếc xe hơi là ảo nhưng công dụng của nó thì rất thật, nó có thể chở con người đi xa một cách nhanh chóng. Cũng giống như thế giới tin học là thế giới ảo nhưng công dụng của nó thì rất thật và vô cùng lớn lao.

Niels Bohr và Einstein từng có một cuộc tranh luận rất quyết liệt trong thế kỷ 20. Einstein cho rằng hạt photon hoặc hạt electron là những vật có thật, chúng có các đặc điểm, đặc trưng  như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin, chúng là tồn tại khách quan. Nhưng Bohr cho rằng hạt photon hoặc hạt electron chỉ xuất hiện khi có người quan sát và đo đạc chứ không có sẵn. Chúng là do người quan sát tưởng tượng ra. Sự tưởng tượng này không phải chỉ bằng ý thức mà là sự tưởng tượng đồng bộ của cả 6 giác quan : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ. Do đó con người không có cách nào để ngộ ra các vật thể chỉ là tưởng tượng chứ không phải có thật.

Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) của Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 đã xác nhận một cách chắc chắn rằng lập trường của Bohr là đúng, lập trường của Einstein là sai.

Kinh điển Phật giáo từ lâu cũng nói rằng Nhất thiết duy tâm tạo, chính nhất niệm vô minh của bộ não con người đã tạo ra vũ trụ vạn vật. Vì vậy Phật giáo mới nói rằng Tất cả là do tâm tạo.

Sự lầm lạc của con người là do đâu mà có ?

Thứ nhất là do các giác quan đánh lừa.

Mắt thấy, tai nghe, thân thể tiếp xúc, lưỡi nếm , mũi ngửi, đều chỉ là những cảm giác, những tín hiệu của dòng điện truyền vào não. Bộ não phân biệt đó là màu sắc gì : đỏ, cam, vàng, lục, lam. chàm, tím; hình dáng ra sao, thanh nhã hay cục mịch, từ dữ liệu do mắt cung cấp qua những hạt truyền dẫn là photon ánh sáng. Những màu sắc đỏ cam vàng…không có thực chất, con người tưởng tượng ra màu sắc dựa trên thói quen phân biệt.

Độ dài sóng của ánh sáng đơn sắc đỏ có bước sóng nằm trong khoảng 630-760 nm (1 nm- nanomét- = một phần tỷ mét). Các bức xạ điện từ có tần số thấp hơn tức có bước sóng dài hơn được gọi là hồng ngoại tức là ngoài quang phổ về phía đỏ. Sóng điện từ của radio có bước sóng dài hơn nhiều, ví dụ ở băng tần sóng ngắn (SW Short Wave) có bước sóng 25m, 31m, 49m, 75m v.v…Bước sóng dưới 200m thường được liệt vào sóng ngắn. Sóng ngắn có tần số từ 2300 kHz 26100 kHz. Bước sóng 360m, 400m, 485m được coi là sóng trung (Medium Wave). Sóng trung có tần số từ 531 kHz đến 1602 kHz

Màu chàm (indigo) và màu tím (violet) có bước sóng ngắn nhất trong quang phổ bảy màu mà mắt con người thấy được, vào khoảng 380 đến 420 nanômét. Bức xạ ngắn hơn nữa nằm ngoài quang phổ về phía tím gọi là tử ngoại. Quang phổ của tia tử ngoại được chia ra thành tử ngoại gần (có bước sóng từ 380 đến 200 nm) và tử ngoại xa hay tử ngoại chân không (có bước sóng từ 200 đến 10 nm). Bước sóng của tia X từ dưới 10 nm đến 0,1 nm. Tia gamma còn có bước sóng ngắn hơn tia X, nó là loại bức xạ điện từ có tần số cực cao.

Tóm lại ánh sáng không hề có màu sắc, màu sắc là do con người tưởng tượng ra dựa trên tần số dao động, tần số nhỏ hay bước sóng dài thì thấy là đỏ, tần số lớn hay bước sóng ngắn thì thấy là tím. Tần số nhỏ hơn đỏ gọi là hồng ngoại, tần số lớn hơn tím gọi là tử ngoại.

Quang phổ ánh sáng mặt trời

Visible light : ánh sáng nhìn thấy được

Ultraviolet : tử ngoại

Infrared : hồng ngoại

Cảm giác của giác quan khác cũng tương tự như vậy, tất cả cảm giác đều chỉ là tín hiệu của dòng điện được não phân tích và nhận thức theo một thói quen lâu đời mà Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng.

Video sau đây diễn tả tính cách ảo hóa của cảm giác. Tất cả mọi cảm giác đều chỉ là tưởng tượng đồng bộ của 6 giác quan.

Vạn Pháp Duy Thức

Thứ hai : nguyên lý thay thế.  Nguyên lý thay thế đóng một vai trò vô cùng cơ bản, vô cùng quan trọng cho sự phân biệt và nhận thức thế giới hay nói cách khác, đó là sự tưởng tượng ra vũ trụ vạn vật. Tâm nguyên thủy vốn là đồng nhất, vô phân biệt, vô hình, vô thể. Giới khoa học hình dung đó là một trường thống nhất (unified field) mà không ai chứng minh được là nó tồn tại, nhưng cũng không thể phủ định nó, bởi vì nó rõ ràng là có công dụng. Nó là một dạng sóng vô hình, không phải là sóng vật chất. Tình trạng của nó là đồng nhất, không có không gian, không có vật chất, không có thời gian, không có số lượng. Phật giáo gọi nó là Phật hay Tâm giác ngộ. Tổ Sư Thiền gọi nó là vô thủy vô minh. Người tham Như Lai Thiền hay Tổ Sư Thiền cuối cùng khi đã dứt bặt hết mọi vọng tưởng, vọng niệm thì đồng quy ở chỗ vô thủy vô minh đó. Nhưng đó vẫn chưa phải là giác ngộ. Đời Tống, thiền sư Chiêu Hiềndiễn tả nó bằng bài kệ sau :

百尺竿頭不動人       Bách xích can đầu bất động nhân, Sào cao trăm thước người lặng thinh,
Tuy nhiên đắc nhập vi vi chân.  Tuy là cao vút hết đường binh
竿 頭須 步  Bách xích can đầu, tu tiến bộ, Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  
全身   Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Như vậy theo các bậc kiến tánh, vô thủy vô minh cũng không phải là thực tại khách quan, nó vẫn không nằm ngoài tâm, nó vẫn là một với chính mình, mọi người đều có chung cái vô thủy vô minh đó. Nó là một thứ Chánh biến tri có tất cả mọi khả năng mà người ta gán cho Thượng Đế hay Trời. Nó có khả năng phân lập ra thế giới bên ngoài gọi là khách thể (object) và thế giới bên trong gọi là chủ thể (subject). Nó sáng tạo ra mọi thứ quy luật của vũ trụ vạn vật. Những quy luật nền tảng, cơ bản, phổ biến nhất thì gọi là nguyên lý. Sự thay thế (replacement) chính là một nguyên lý vận hành của vũ trụ.

Từ một loại sóng đồng nhất của trường thống nhất, chánh biến tri tạo ra nhiều loại sóng có tần số khác nhau, cụ thể là tạo ra 18 loại sóng. Ở dạng sóng thì các loại sóng này không phải là vật chất, nhưng nó lại có khả năng biến thành hạt. Khi thành hạt thì nó chính là các hạt cơ bản của vật chất. Khi không có chủ thể phân biệt thì tất cả chỉ là tánh không, không phải sóng cũng chẳng phải hạt, nó là vô thủy vô minh chẳng phải là cái gì cả. Nhưng khi có chủ thể phân biệt thì nó là 18 loại hạt cơ bản của vật chất theo như bảng sơ đồ mô hình chuẩn sau :

Standard Model of Particle Physics

Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) gồm có 18 hạt cơ bản : 6 leptons, 6 quarks, 1 higg và 5 forces (photon, gluon, Z boson, W boson, graviton). Trong mô hình này còn thiếu hạt graviton là hạt mới được khám phá năm 2016.

Ở dạng hạt, chánh biến tri tạo ra vũ trụ vạn vật khách quan (khách quan là theo cái thấy đời thường của con người) trong đó có không gian, thời gian và số lượng. Chánh biến tri tạo ra các thiên hà trong đó có rất nhiều mặt trời, nhiều hành tinh. Một trong số thiên hà đó là dải ngân hà (Galaxy) trong đó có Thái dương hệ của chúng ta. Trong Thái dương hệ có quả Địa cầu, ban sơ không có sinh vật. Chánh biến tri lại tạo ra chất sống, tạo ra các loài sinh vật, tạo ra con người có bộ não rất phát triển. Theo thuyết Sinh vật tiến hóa của Darwin thì ban đầu chỉ có những sinh vật đơn bào rồi dần dần tiến hóa thành sinh vật đa bào, rồi thành sinh vật có bộ não, có xương sống, cuối cùng thành con người. Thuyết đó mặc dù rất có lý nhưng thực tế có thể không phải như vậy, các sinh vật xuất hiện đột ngột rất nhiều chủng loài trong từng thời kỳ nhất định. Con người xuất hiện trong một thời kỳ tương đối gần ngày nay, chỉ cách nay khoảng 3 triệu năm mà không phải do tiến hóa. Các nhà khoa học đã khai quật được hóa thạch một mẩu xương răng người hàm dưới ở Ethiopia, châu Phi có niên đại 2,8 triệu năm tại khu vực Ledi-Geraru ở bang Afar, phía bắc Ethiopia. Trước đây, hóa thạch người cổ nhất được biết đến có niên đại khoảng 2,3-2,4 triệu năm. Phát hiện này giúp đẩy lùi lịch sử của nhân loại vào quá khứ tức sớm hơn khoảng 400 nghìn năm.

Nguyên lý thay thế sẽ tác động như thế nào ?

Khi đã phân lập được chủ thể và đối tượng thì có cuộc sống đời thường diễn ra. Cuộc sống đó vốn là không có thật, tất cả chỉ là tánh không, nhưng nguyên lý thay thế sẽ vận hành để cho thế gian hiện hữu. Nó sẽ vận hành như thế nào ? Bộ não của con người chính là một cơ quan vô cùng trọng yếu để biến không thành có. Nó sẽ biến 18 loại sóng vô hình vô thể thành 18 loại hạt cơ bản của vật chất. Mỗi hạt đều có đặc trưng riêng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Nó lại biến ra số lượng. Sóng vốn vô hình không có số lượng, bộ não lại biến sóng thành hạt hữu hình và có số lượng rất nhiều xuất hiện đồng thời tại vô số vị trí khác nhau trong không gian. Từ vô số hạt đó, nó tạo ra vũ trụ vạn vật, nhiều loài sinh vật trong đó có con người. Năm 2012 Maria Chekhova của Đại học Moscow đã tạo được thí nghiệm cho một photon xuất hiện đồng thời tại 100.000 vị trí khác nhau trong không gian là một minh chứng.

Vậy bộ não thay thế cái gì bằng cái gì ? Nó thay thế vô thủy vô minh bằng tâm niệm, bằng tưởng tượng của mình. Những loài cùng cộng nghiệp thì có tâm niệm, tưởng tượng khá gần nhau nên thấy có vẻ như thế giới là khách quan, là có thật, mặc dù cũng không phải hoàn toàn giống nhau, vì mỗi người còn có biệt nghiệp.

Nguyên lý thay thế được thấy rõ trong thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) và trong thí nghiệm hai khe hở. Trong thí nghiệm liên kết lượng tử, khi có người quan sát đo đạc thì các đặc trưng của hạt photon hoặc hạt electron mới xuất hiện, chứ chúng không có sẵn. Đây chính là tâm điểm cuộc tranh luận thế kỷ giữa Niels Bohr và Albert Einstein. Kết quả là lập trường của Einstein về hạt photon luôn luôn có sẵn đặc trưng đã sai.

Trong thí nghiệm hai khe hở (double slit experiment), khi có người hoặc thiết bị quan sát thì hạt electron mới đúng là hạt và xuất hiện trên màn hứng sau hai khe hở là hai vạch. Còn nếu không có người hoặc thiết bị quan sát thì hạt electron chỉ là sóng và nó xuất hiện thành nhiều vạch trên màn hứng. Điều đó chứng tỏ là người quan sát đã thay thế tâm niệm của mình vào để sóng biến thành hạt. Hoặc thiết bị cảm biến cũng làm cho sóng biến thành hạt. Thí nghiệm được diễn tả trong video sau :

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Thứ ba : tại sao chúng ta có cảm giác vật chất cứng chắc và nặng.

Cảm nhận về sự cứng rắn hay nặng của vật chất là do tác động của vài loại hạt tương ứng. Ví dụ hạt Higgs truyền khối lượng cho vật thể khiến cho vật có sức nặng, sức ỳ, tức là có quán tính, và cố thể càng lớn thì càng khó bị di chuyển. Đó là lý do khiến chúng ta thấy cái bàn cứ nằm miết một chỗ chứ không thể tự động di chuyển đi chỗ khác. Nhưng đó chỉ là cảm giác chủ quan của chúng ta thôi chứ không phải cái bàn là có sở trụ, có vị trí nhất định. Cái bàn vẫn là vô sở trụ (non locality) giống như hạt photon mà thôi. Sự kiện sau đây sẽ chứng tỏ.

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

Hầu Hi Quý có khả năng dùng tâm niệm để di chuyển cái bàn mạ vàng rất nặng của tỷ phú Lý Gia Thành, người giàu nhất Hong Kong, từ nhà tới văn phòng làm việc của ông ta. Ông ta không hề dùng ngoại lực để tác động vào cái bàn để nó thay đổi vị trí, mà cái bàn tự biến mất ở chỗ này và xuất hiện ở chỗ kia tức thời, không mất thời gian di chuyển, giống như hạt photon.     

Còn về việc tại sao vật chất cứng chắc, đó là do tác dụng của các loại hạt cực kỳ bền vững trong hạt nhân nguyên tử, đó là hạt proton và hạt neutron, hai thành phần của hạt nhân nguyên tử. Chúng rất bền, tuổi thọ cực kỳ lâu dài, rất khó bị phá vỡ. Chúng khó bị phá vỡ là do hiện tượng giam hãm (confinement). Các hạt quark cấu tạo nên hạt proton và neutron gần như bị giam cầm vĩnh viễn bên trong chúng không có cách gì phá vỡ được, vì vậy mà chúng tạo ra nguyên tử cứng chắc, nghĩa là nguyên tử của một nguyên tố ổn định, bền vững, rất khó bị phá vỡ. Tuy nhiên đối với một nguyên tố nặng như Uranium, bắn một hạt neutron có thể khiến nguyên tử bị phá vỡ.

Nguyên tử Urani 235 bị phá vỡ thành 3 nguyên tử : Urani 236, Krypton và Barium

Đó là lý do khiến Uranium được sử dụng làm nguyên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân và chế tạo bom nguyên tử có sức công phá rất khủng khiếp.

Sở dĩ nguyên tử bền, cứng chắc là do hạt nhân của nó gồm những hạt proton và neutron kết dính với nhau rất chắc bằng lực tương tác mạnh hay lực hạt nhân mạnh (strong interaction or strong nuclear force). Hạt nhân ổn định giữ cho nguyên tử ổn định rất khó bị phá vỡ, chỉ trừ một vài trường hợp đặc biệt có chỗ yếu là gót chân Achilles mà con người đã khám phá và lợi dụng như nguyên tử uranium có thể bị phá vỡ bằng một hạt neutron. Phần lớn nguyên tử đều rất bền vững. Tuy nhiên trong hạt nhân có một lực gọi là lực tương tác yếu hay lực hạt nhân yếu (weak interaction or weak nuclear force) có tác dụng làm phân rã hạt nhân. Một nguyên tử nặng có khối lượng lớn như uranium có thể bị lực hạt nhân yếu làm phân rã thành những nguyên tử nhỏ hơn đồng thời phát ra ba loại tia phóng xạ rất nguy hiểm cho sức khỏe con người là tia alpha, tia beta và tia gamma. Mỗi loại tia tương ứng với một loại hạt. Các hạt alpha (α) có thể dễ dàng bị chặn lại bởi một tờ giấy. Hạt beta (β) cần miếng kim loại để chặn. Trong khi đó hạt gamma (Ɣ) có khả năng xuyên qua vật chất rất cao; cần một khối vật chất có mật độ dày đặc như khối chì dày mới chặn lại được.

Trong bảng phân loại tuần hoàn có 38 nguyên tố phóng xạ (radioactive elements) trong đó chúng ta quen thuộc với những nguyên tố phóng xạ như  Polonium, Radium, Uranium.

Mặc dù chúng ta có cảm giác vật chất cứng chắc bền vững, song đó chỉ là cảm giác thường nghiệm, nghĩa là chúng ta quen có cảm giác như vậy, chứ đó không phải là tất cả sự thật. Thực nghiệm đặc dị công năng sau đây chứng tỏ vật chất không thực sự cứng chắc như chúng ta tưởng.

NGÓN TAY ĐÂM XUYÊN CỤC GẠCH (CHỈ CÔNG)

Hầu Hi Quý đã biểu diễn cho rất nhiều người coi ông đã dùng ngón tay bằng da bằng thịt đâm xuyên dễ dàng qua cục gạch nung. Nếu cục gạch nung thực sự cứng chắc thì ngón tay bằng da thịt không thể nào đâm xuyên qua được. Không phải ngón tay cứng hơn gạch nung, thật ra ông đã dùng tâm lực làm cho cục gạch mất đi những tính chất vật lý vốn có để dễ dàng dùng ngón tay đâm xuyên qua. Cục gạch cũng như tất cả vật chất trên thế gian đều là vật ảo mà thôi.

Cuộc sống giác ngộ

Chúng ta đã hiểu Nhất thiết pháp đương thể tức không và không tự nguyện sống một cuộc đời lầm lạc chạy theo những vọng tưởng mê muội, vậy người giác ngộ sống như thế nào ?

Chúng ta không cần sống một cuộc đời lập dị khác người, vẫn sống bình thường như mọi người khác trong xã hội hiện đại này. Cũng không nhất thiết phải xuất gia vào chùa tu. Giới tu sĩ chỉ là cái gương mẫu cho một cuộc sống xa lìa điên đảo mộng tưởng, hướng đến một cuộc sống giác ngộ theo lời dạy của Đức Phật, nhưng đó cũng không phải là tất cả cuộc sống trên thế gian. Chẳng hạn các tu sĩ cát ái, ly gia, không có gia đình, không có người hôn phối, không có con cái. Hoặc trước khi xuất gia họ có gia đình con cái nhưng đã từ bỏ.

Hành giả tu theo Đạo Phật là am hiểu lời dạy của Đức Phật trong đó có những chỉ dẫn quan trọng chẳng hạn :

Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính, điều đó có nghĩa là hạt photon hoặc hạt electron và tất cả các hạt cơ bản khác không có sẵn bất cứ đặc trưng gì. Tất cả mọi đặc trưng của hạt cơ bản như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin đều không có sẵn, chính người quan sát hay người khảo sát đo đạc, đã gán ghép tâm niệm, tưởng tượng của mình để tạo ra những đặc trưng của chúng. Những đặc trưng vô cùng cơ bản của vũ trụ như không gian, thời gian, số lượng cũng đều như vậy, nghĩa là do bộ óc tưởng tượng ra, hay nói cách khác, chỉ là vọng tưởng mà thôi. Cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Albert Einstein đến năm 1982 đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Bohr. Einstein đã sai lầm như tuyệt đại đa số chúng ta tưởng rằng vật chất là có thật. Tuyệt đại đa số người trên thế gian đều không hiểu rằng chính vì các hạt cơ bản không có đặc trưng, đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát và đặc trưng tưởng tượng đó đã tạo ra thế giới vật chất, từ nguyên tử, phân tử cho tới cố thể vật chất, sinh vật, con người, sơn hà đại địa, vũ trụ . Chính con người đã vọng tưởng ra bảng phân loại tuần hoàn gồm 118 nguyên tố hóa học như dưới đây.

Nhất thiết duy tâm tạo 唯心造  Tất cả đều là do tâm tạo, điều này có nghĩa là toàn bộ vũ trụ vạn vật đều không có thực thể, không phải khách quan, không có thật mà chỉ là chủ quan do tâm tưởng tượng ra, là vọng tưởng có nghĩa là chúng ta đang sống trong thế giới ảo, phi hiện thực (non realism).

Niels Bohr đã nói rằng : “Tất cả những gì chúng ta gọi là thật được làm bằng những vật không thể được xem là thật. Nếu cơ học lượng tử không làm cho bạn bị sốc nặng thì bạn đã chưa hiểu được nó.”

Tại sao ai hiểu được cơ học lượng tử ắt phải bị sốc nặng ? Bởi vì nó làm sụp đổ tất cả mọi niềm tin của con người vào một thế giới vật chất khách quan. Bởi vì cái thế giới vật chất khách quan đó là không có thật. Einstein đã sai lầm, chỉ có cái thế giới tưởng tượng chủ quan do tâm tạo ra của con người mà thôi.

Bohr đã đưa ra một nhân định làm sụp đổ môn khoa học vật lý : Niels Bohr nói “Isolated material particles are abstractions”  (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật). Điều này có ý nghĩa sâu xa là tất cả các hạt cơ bản của vật chất chỉ là những hạt ảo không có thật. Vũ trụ vật chất xây dựng bằng những hạt ảo cũng chỉ là vũ trụ ảo không có thật. Loài người trên thế gian hoàn toàn sống trong mê muội chấp thật, họ sống trong thế giới tưởng tượng mà không tự biết.

Chúng ta hiểu được sâu xa lời dạy của Đức Phật và đã dùng khoa học hiện đại để kiểm chứng tính chính xác đúng đắn của lời dạy đó về mặt lý thuyết, đồng thời dùng đặc dị công năng của một số kỳ nhân đương đại để kiểm chứng về mặt thực nghiệm.

Đức Phật dạy rằng cái ta không có thật, thế giới không có thật, nên công phu tu hành đích thực của hành giả là phá ngã chấp và phá pháp chấp. Chấp ngã, chấp pháp chính là nguồn gốc của mọi phiền não, đau khổ trên cõi đời. Muốn thoát khỏi phiền não phải làm chủ được tâm cũng tức là làm chủ cả vũ trụ vạn vật dựa trên nguyên lý nhất thiết duy tâm tạo.

Làm thế nào để tự mình làm chủ ?  Thế nào là làm chủ ?     

Làm chủ tức là không còn quá chấp cái ta, cái ý thức, cái thân thể của mình là thật, khám phá được nghiệp là do tâm tạo, cái ta cũng do tâm tạo, vũ trụ vạn vật cũng do tâm tạo, tâm vô sinh vô diệt mới chính thật là mình, còn cái ta chỉ là ảo hóa, không cố chấp cái ta nữa mới thật là tự do tự tại. Bát Nhã Tâm Kinh nói :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Trong lịch sử thiền tông, Ngài Động Sơn Lương Giới (807-869), khi kiến tánh có làm bài kệ :

切忌从他觅  Thiết kị tòng tha mích (mịch) Rất kị tìm cầu ở người khác

迢迢与我疏  Điều điều dữ ngã sơ               Như vậy là xa với chính mình

我今独自往  Ngã kim độc tự vãng             Nay ta tự mình đến

处处得逢渠  Xứ xứ đắc phùng cừ              Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我  Cừ kim chính thị ngã           Nó chính là mình đây

我今不是渠  Ngã kim bất thị cừ                Mà mình không phải là nó

应须恁么会  Ưng tu nhẫm ma hội           Phải được ngộ như thế

方得契如如  Phương  đắc khế như như   Mới khế hợp với chân như

Thầy Duy Lực đã giảng như sau (câu 1242)

1242 Xin Sư phụ giải thích bài kệ của ngài Động Sơn Lương Giới

Cái mà Ngài Động Sơn nói khắp nơi đều gặp nó tức là khắp không gian, khắp thời gian đều gặp nó, nó không có số lượng, nên nó chính là mình, cũng chính là bất cứ sự vật gì trong tứ tướng (ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng) mà mình (ngã tướng) thì không phải là nó vì nó rộng lớn vô lượng vô biên, còn mình thì hữu hạn, nhỏ bé. Nó tức là Tâm hay Phật tánh. Ngộ hay kiến tánh là thấy cái tự tánh của chính mình. Tự mình thấy mình nên vẫn là bất nhị. Tất cả sự vật trong vũ trụ như lượng tử hay các hạt cơ bản, sơn hà đại địa, sinh vật, con người đều là thọ giả tướng, không ngoài tứ tướng.

Cái ta không có thật, khổ nạn cũng không có thật, đó chính là giải thoát. Cái ta cũng như khổ nạn là do tập khí (thói quen tâm lý) tạo thành, bỏ bớt dần tập khí thì cái ta và khổ nạn dần dần tiêu. Gia đình Bàng Uẩn đã chứng tỏ rằng kiến tánh làm chủ được sinh tử.

Những tai họa tưởng như là do Trời đổ xuống (thiên tai) không thể tránh được, thật ra cũng là do tâm tạo, là do cộng nghiệp của một tập thể chúng sinh. Nếu tập thể chúng sinh đó không có nghiệp chịu thiên tai thì thiên tai cũng sẽ tránh họ. Nhiều năm trước tôi có viết bài Ngôi Làng Bình Yên, giới thiệu ngôi làng này hàng trăm năm nay không bị thiên tai, giông bão đi đến đây đều tránh nó. Cuối năm 2017 tôi có dịp kiểm nghiệm. Cơn bão số 16 (Tembin) được dự báo sẽ đổ vào Nam Bộ, bão di chuyển chủ yếu theo hướng Tây, tốc độ di chuyển nhanh (20-25km/h), đi vào đất liền các tỉnh từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến Cà Mau với sức gió mạnh nhất cấp 9-10, giật cấp 13.

Tôi để ý theo dõi xem cơn bão sẽ diễn ra thế nào, có tấn công ngôi làng bình yên không. Và kết quả như mọi người đều biết, nó đi lệch xuống phía nam để tránh ngôi làng bình yên và không gây ra thiệt hại gì nhiều. Mọi người đều thở phào coi đó như là một sự ngẫu nhiên may mắn, còn người có tâm đạo thì nên hiểu rằng thiên tai cũng là do tâm tạo, nó tùy nghiệp chứ không phải ngẫu nhiên.

Chúng ta nói làm chủ, thật ra chỉ là một cách diễn tả, chứ tâm vốn là vô sinh vô diệt, không có lay động, không có biến đổi, bàng bạc khắp không gian, khắp thời gian, không thêm, không bớt nên Xứ xứ đắc phùng cừ (khắp nơi đều gặp nó). Nó chính là ta mà ta thì không phải là nó (Ngã kim bất thị cừ). Cuộc sống giác ngộ làm chủ chính mình là không quá chấp ngã, hội nhập vào tâm vô sinh có năng lực vô biên vậy.

Cuộc sống giác ngộ bình thường cũng không có gì khác cả, cuộc sống đời thường vẫn cứ diễn ra như vậy, nhưng tâm trạng của hành giả thì khác, không còn quá lo âu, sợ hãi, thân tâm thường an lạc không tùy thuộc quá nhiều vào hoàn cảnh, thực hiện theo phương châm 9 chữ mà thầy Duy Lực thường hay nói : Vô sở cầu, Vô sở đắc, Vô sở sợ (úy). Không có một biến cố nào làm cho chúng ta kinh hoàng nữa, dù đó là thất nghiệp, đói kém, bệnh tật, thiên tai, nhân họa, chiến tranh, tai nạn, bom nguyên tử nổ…

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 10 phản hồi

NGÓN TAY ĐÂM XUYÊN CỤC GẠCH (CHỈ CÔNG)

Tôi (tác giả Liêu Văn Vĩ) bỗng nhiên nhớ lại, năm 1985 mùa mai vàng nở, Hầu Hi Quý từng hiển lộ “chỉ công” tại một đại lâu ở Trường Sa, nhưng đó là lần biểu diễn công khai.

Nhớ lại hôm đó chưa tới 7 giờ tối, tôi đến đường lên đồi mời Hầu Hi Quý đến nhà nghỉ của Thị Ủy, hội trường lầu hai, biểu diễn, không ngờ ông nhất quyết không chịu lên xe, thời may lúc đó có sư phó Tiểu Triệu của Hỏa Cung Điện cũng có mặt, năn nỉ ỉ ôi mới mời được ông đi, lúc đến nhà nghỉ thị ủy, đã 7giờ rưỡi, trưởng ban tổ chức tỉnh ủy Bách Nguyên Hòa, Phó thị trưởng Trường Sa Lưu Tương Cao và nhiều cán bộ đảng, chính quyền phải đợi khá lâu.

“Biểu diễn cái gì,” Hầu Hi Quý lướt mắt qua các cán bộ đảng, chính quyền, bỗng nhiên cao giọng hỏi “có ai mang theo bộ bài không ?”

Người xem nhìn nhau, hiển nhiên không có ai mang theo bộ bài. Một thanh niên ở cơ quan thị ủy vội chạy ra ngoài hội trường, nhanh chóng mang lại một bộ bài. Hầu Hi Quý bảo anh thanh niên xào bài, sau đó tiếp nhận và đưa ra trước mặt anh thanh niên, đó là lá Già (K) Bích, tôi và quần chúng ở cùng phía đều nhìn thấy rất rõ ràng.

“Ghi nhớ lá bài này nhé.” Hầu Hi Quý nói, “Các anh tìm cho tôi một cây đinh có đầu.”

Mọi người ở bốn phía đều tìm, có người lấy trên tường xuống một cây giao cho Hầu Hi Quý, nhìn xem ông cầm cây đinh đưa vào miệng, răng cắn đinh, đầu đinh lộ ra ngoài môi. Chuẩn bị xong, Hầu Hi Quý hướng về cánh cửa gỗ đã đóng của hội trường, im lặng trong giây lát, bỗng nhiên hét to một tiếng, tức thì vung tay ném bộ bài về phía cửa gỗ, đụng vào cánh cửa, rơi lả tả xuống đất. Lúc mọi người nhìn thì trên cửa còn lưu lại một lá bài, anh thanh niên tiến đến xem, đó đúng là lá Già Bích, bị cây đinh ghim chặt trên cửa. Lúc đó mọi người mới vỡ òa, trên mặt mọi người lộ vẻ kinh ngạc và nghi ngờ.

“Cái này không tính, hãy đem chiếc đồng hồ tay lại.” Hầu Hi Quý đưa một bàn tay to lớn ra.

Lập tức có người lột chiếc đồng hồ đang đeo trên cổ tay đưa cho ông. Hầu Hi Quý tay trái cầm đồng hồ, tay phải đưa ngang, miệng liên tục nói : “Vài người lại đây, giữ chặt hai tay tôi lại nhé !”

Thế là bốn năm người bước đến, chia nhau nắm chặt tay trái tay phải của Hầu Hi Quý, và cũng để hết sức giảm thiểu cảm tưởng ảo thuật của quần chúng, Hầu Hi Quý lần nữa xòe bàn tay trái ra, chiếc đồng hồ vẫn còn nguyên ở đó, rồi ông từ từ nắm lại, bảo mọi người giữ chặt. Sau đó ông ngưng thần một chút, kêu lên “đi”, rồi tức thì thoát khỏi những bàn tay đang giữ chặt ông, xòe hai bàn tay ra, chiếc đồng hồ không hiểu sao lại xuất hiện trong bàn tay phải.

“Làm thêm một trò gì khác đi.”  Hầu Hi Quý cầm đồng hồ trả lại cho chủ nhân, vừa nói một câu pha trò : “Coi cho kỹ nhé, xem có bị người khác đổi không ?”

Người đó cười, nói đó đúng là đồng hồ của anh.

“Trong tòa nhà có gạch thẻ đỏ không, mau đem một hai chục cục lại.” Hầu Hi Quý nói tiếp. Trong số người ở hội trường, có vài cán bộ đảng và chính quyền đứng dậy, bàn bạc với nhau rồi xuống lầu, chia nhau đi tìm gạch đỏ trong tòa nhà. Không bao lâu, hai chục viên gạch thẻ đỏ đã chất thành chồng trước mặt Hầu Hi Quý. Chỉ thấy Hầu Hi Quý khom lưng đếm gạch rồi thẳng lưng lên, cởi áo ngoài ra, tay phải vận khí, chặt mạnh bàn tay trên chồng gạch. Chỉ nghe một tiếng “rắc” 20 viên gạch đã bể vụn ra. Mọi người tại hiện trường lại một phen kinh ngạc, nếu không tận mắt nhìn thấy, ai có thể tin nổi thần lực này. Nhiều người tại hiện trường đã từng xem qua các thầy khí công dùng lực chặt gạch, nhưng chỉ là một viên hay vài viên, còn ở đây là 20 viên !

Không đợi mọi người định thần lại, Hầu Hi Quý từ trong đống gạch vỡ vụn, lấy ra một khúc gạch nung đỏ, năm ngón tay của bàn tay trái cầm chặt, ngón trỏ của bàn tay phải chìa ra, vận khí một chút, đâm xuyên qua cục gạch, chỉ thấy bụi gạch rơi lả tả, ngón trỏ từ màu hồng biến thành màu tím, năm ba phút sau, rút ra khỏi cục gạch để lại một cái lỗ đường kính hai phân. Trong số khán giả có một người trung niên chạy đến, giật lấy viên gạch xem, kế đó đưa lên để mọi người xem qua. Thật không tưởng tượng nổi, trên cục gạch rõ ràng có cái lỗ mắt có thể nhìn xuyên qua. Nếu không chính mắt nhìn thấy, ai có thể tin nổi, ngón tay không phải gang thép mà có thể đâm xuyên qua cục gạch ?!

Đăng tải tại Nhà sau | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hầu Hi Quý biến cơ thể mình cao lớn lên

Tác giả sách Đông Phương Kỳ Nhân là Liêu Văn Vĩ đã chính mắt mục kích việc biến ra “cao thấp” của Hầu Hi Quý và kể lại như sau :

“Tôi nghe nói anh có thể tùy ý làm cho thân thể biến thành cao lớn, trong công ty du lịch đã có không ít người từng xem qua, tôi cảm thấy có chút ly kỳ, vậy anh có thể biến cho tôi xem không ?”

Hầu Hi Quý cũng không trả lời, ông kéo cửa bước ra ngoài, một lát sau, ông trở lại cùng với một người từ trong phòng khách. Người đó họ Nhiếp tên Tổ Đức, từng công tác trong đoàn Hán Kịch tại thành phố Thừơng Đức, cũng từng gặp cha của Hầu Hi Quý, là một trong số rất đông những người sùng bái cha con họ Hầu. Ông đi Trường Sa chơi, đặc biệt đến thăm Hầu Hi Quý.

“Anh cứ sờ vào đỉnh đầu của hai chúng tôi.” Hầu Hi Quý bảo Nhiếp Tổ Đức cùng với ông dựa lưng vào nhau, đứng thẳng đầu kề nhau, muốn tôi dùng bàn tay đặt lên hai đỉnh đầu, ông hỏi “Ai cao ?”

Chiều cao của hai người xê xích không nhiều, nói một cách nghiêm nhặt, Nhiếp Tổ Đức cao hơn một hai phân.

“Được, hãy xem chân của chúng tôi, có ai xoạc chân không ?” Hầu Hi Quý nghiểm nhiên bố trí một phương thức trắc nghiệm nghiêm túc, “Anh nhìn rõ chưa ?”

Dĩ nhiên tôi không dám dễ dãi, tay đặt lên hai đỉnh đầu, mắt nhìn hai đôi chân. Bỗng nhiên tôi cảm thấy nửa bàn tay đặt trên đầu Hầu Hi Quý bị đội lên, nghiêng đi, nghiêng hẳn đi, cuối cùng rời khỏi hẳn đầu của Nhiếp Tổ Đức. Đang lúc đó tôi xác định đôi chân của hai người không hề nhúc nhích, bèn nhìn lên hai cái đầu. Trời ơi, cái đầu to lớn của Hầu Hi Quý đã cao hơn đầu của Nhiếp Tổ Đức đến hơn 10 phân tây !

“Như vậy được chưa ký giả ?” Hầu Hi Quý quay đầu hỏi tôi, không đợi tôi trả lời, bèn rời khỏi Nhiếp Tổ Đức.

“Thật là thần thoại ! thật là thần thoại !” tôi lắc đầu đưa ra nhận thức, đặt mông ngồi phịch xuống chiếc ghế bên cạnh cửa.

Nhiếp Tổ Đức thấy tôi kinh ngạc đến thất sắc, vội đến đỡ tôi, “Nếu nói là thần thoại thì lại có hai sự kiện, ông có muốn nghe không ?”

Tôi định thần, muốn ông ta mau kể.

Đăng tải tại Nhà sau | 8 phản hồi