Bảng tổng hợp mp3 giải đáp của Thầy Duy Lực và Mục lục

Bảng Tổng hợp các danh mục Audio mp3 Giải đáp của Thầy Duy Lực

Bảng Tổng hợp 2, Danh mục liệt kê các công bố của Duy Lực Thiền (tiếp)

Thông Báo 28-02-2014

Do Microsoft đã có nhiều thay đổi về cách sử dụng Skydrive (nơi chứa các files âm thanh thuyết pháp của thầy Duy Lực) mà nay đã đổi tên thành OneDrive, nên muốn download các files âm thanh đó, không thể bấm trực tiếp vào các files cụ thể liệt kê trên trang Duy Lực Thiền, quý vị chỉ cần nhớ số thứ tự của file muốn download, hãy bấm vào hàng chữ : Mở thư mục âm thanh … …

Nó sẽ mở ổ đĩa OneDrive trên mạng theo số thư mục có ghi trên hàng chữ nói trên. Xin nhớ một điều, mỗi thư mục chứa tới 100 files trong khi mỗi bảng liệt kê trên Duy Lực Thiền chỉ kê 50 files. Do đó cần thiết phải nhớ số thứ tự thì mới dễ tìm. Bảng kê trên trang Duy Lực Thiền chỉ còn tác dụng nêu đại ý của file âm thanh với chữ có dấu nên dễ đọc. Còn bảng liệt kê trên OneDrive là tên file, chữ không có dấu nên khó đọc hơn. Nhớ số thứ tự thì dễ dàng tìm đúng file mình muốn download. Bấm vào tên file để download.

Quý vị có thể dùng computer, laptop, máy tính bảng hay smartphone đều có thể download được. Tốt nhất là dùng smartphone, vì nó là một phương tiện gần gũi nhất với mỗi người và rất tiện lợi để nghe bất cứ lúc nào rảnh rỗi. Tuy là files âm thanh nhưng một số files có hình của các nhân vật được đề cập, quý vị có thể thấy được hình khi nghe bằng máy nghe nhạc trên điện thoại.

Thầy Duy Lực giải đáp về Phật pháp, danh mục 1 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp thắc mắc, danh mục 2 (audio)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 3 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 4 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 5 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 6 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 7 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 8 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp,danh mục 9 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 10 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 11 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 12 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 13 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 14 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 15 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 16 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 17 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh muc 18 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 19 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 20 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 21 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 22 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 23 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 24 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 25 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 26 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 27 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 28 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 29 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 30 (Audio mp3)

Thầy Duy Lực giải đáp, danh mục 31 (Audio mp3)

Thầy Duy lực giải đáp danh mục 32 liên quan nhân vật lịch sử (có hình)

Thầy Duy lực giải đáp danh mục 33 liên quan nhân vật lịch sử (có hình)

Thầy Duy lực giải đáp danh mục 34 liên quan nhân vật lịch sử (tổng hợp có hình)

Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Duy Lực dịch và trứ tác

01 Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải

02 Bá Trượng Ngữ Lục

03 Bá Trượng Quảng Lục

Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục – Hoài Hải Thiền Sư mp3

04 Bửu Tạng Luận – Tăng Triệu

Bửu Tạng Luận mp3

05 Cội nguồn truyền thừa và Phương pháp tu trì của Thiền tông

Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì Thiền Tông mp3

06 Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma

Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma mp3

07 Đại Huệ Ngữ Lục

Đại Huệ Ngữ Lục mp3

08 Đại Thừa Tuyệt Đối Luận – Nguyệt Khê Thiền sư

Đại Thừa Tuyệt Đối Luận mp3

09 Danh từ Thiền Học – Ngữ vựng Phật Học

10 Đường lối thực hành Tham Tổ Sư Thiền- Duy Lực

Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền mp3

11 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng Phần 2 mp3

12 Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 1 mp3

Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ Phần 2 mp3

13 Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết mp3

14 Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền

Góp nhặt lời Phật, Tổ và Thánh Hiền mp3

15 Truyền Tâm Pháp Yếu – Hoàng Bá Hy Vận

Truyền Tâm Pháp Yếu- Hoàng Bá Hy Vận mp3

16 Kinh Kim Cang

Chư Kinh Tập Yếu : Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh mp3

17 Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già mp3

18 Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Kinh Thủ Lăng Nghiêm mp3

19 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Yếu chỉ

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

20 Kinh Viên Giác 

Kinh Viên Giác mp3

21 Lâm Tế Ngữ Lục 

Đường Lối Thực Hành Tổ Sư Thiền- Lâm Tế Ngữ Lục 1,2,3 mp3

22 Nam Tuyền Ngữ Lục

Nam Tuyền Phổ Nguyện Ngữ Lục mp3

23 Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng

Pháp Bảo Đàn Kinh- Lục Tổ Huệ Năng mp3

24 Phật Pháp với Thiền Tông – Duy Lực

Phật Pháp với Thiền Tông- Thiền Sư Đại Huệ mp3

25 Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp

Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp mp3

26 Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa thượng

Tham Thiền Cảnh Ngữ – Bác Sơn Hòa Thượng mp3

27 Tham Thiền Phổ Thuyết- Lai Quả Thiền Sư

Tham Thiền Phổ Thuyết – Thiền Sư Lai Quả mp3

28 Thiền Thất Khai Thị Lục – Lai Quả Thiền Sư

Thiền Thất Khai Thị Lục- Thiền Sư Lai Quả mp3

29 Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải- Trung Phong Hòa Thượng

30 Triệu Luận Lược Giải – Tác giả Tăng Triệu, Lược giải Hám Sơn

Triệu Luận Lược Giải – Tăng Triệu -Hám Sơn Chú Giải mp3

31 Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 – Duy Lực

Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 mp3

32 Yếu chỉ Kinh Hoa Nghiêm

33 Yếu chỉ Phật pháp – Duy Lực

34 Yếu chỉ Trung Quán Luận – Long Thọ Bồ Tát

Chư Kinh Tập Yếu (Đầy Đủ) : Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận mp3

Danh Sách Bài Viết chính của Blog Duy Lực Thiền

1 TÁNH KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO

2 TẠI SAO TÂM LÀ KHÔNG LẠI CÓ VÔ SỐ CÔNG DỤNG ?

3 Phật giáo hiểu biết gì về thế giới ?

4 Thiền và Sức khỏe

5 THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN PHẬT GIÁO

6 Sự Thật là gì ?

7 Liễu nghĩa của “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

8 ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI ?

9 Lời mở đầu

10 THỜI-KHÔNG LÀ GÌ ?

11 Thế giới ta đang sống là ứng dụng của Tâm bất nhị

12 LỰC HỌC THÍCH CA ĐỐI CHIẾU VỚI CƠ HỌC NEWTON VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI CỦA EINSTEIN

13 ĐẶC ĐIỂM CỦA BLOG DUY LỰC THIỀN

14 Cốt tủy của Phật pháp

15 Khi Vật lý gõ cửa Bản thể học

16 Lục căn, lục trần, lục thức = 18 giới

17 Thế lưu bố tưởng và các hiện tượng lạ thường

18 Tông chỉ chung của Đạo Phật là phá chấp

19 TẬP QUÁN (THÓI QUEN) CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ĐỐI VỚI VŨ TRỤ VẠN VẬT ?

20 Hướng dẫn tìm kiếm

21 AI LÀ NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI ?

21 Bis PHẬT PHÁP LÀ KHOA HỌC TÂM LINH CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO  NHÂN LOẠI

22 CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN TOÀN DỰA VÀO KHOA HỌC CHĂNG ?

23 NIẾT BÀN VÀ CHÁNH BIẾN TRI

24 CON NGƯỜI CÓ THỂ DU HÀNH TRONG THỜI GIAN CHĂNG ?

25 Từ David Bohm đến Kinh Lăng Nghiêm

26 TỨ PHÁP GIỚI CỦA KINH HOA NGHIÊM

27 Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

28 KHẮP KHÔNG GIAN, KHẮP THỜI GIAN VÀ VÔ SỐ LƯỢNG CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

29 NỘI DUNG GIÁC NGỘ TRONG PHẬT GIÁO

30 TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA CÁC PHÁP

31 Thiền sư và Nhà khoa học

32 PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG

33 ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO HẠNH PHÚC NHÂN LOẠI

34 PHẬT PHÁP VÀ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

35 VẠN PHÁP DUY THỨC CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

36 Ý NGHĨA RÕ RÀNG CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

37 SỰ KẾT THÚC CỦA KHOA HỌC

38 SỰ KẾT THÚC CỦA VẬT LÝ HỌC

39 SỰ KẾT THÚC CỦA SINH VẬT TIẾN HÓA LUẬN

40 SỰ BẮT ĐẦU CỦA KHOA HỌC TÂM LINH

41 THẦN THÔNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

42 CHỐT LẠI CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC

43 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN

44 NHỮNG KHÁI NIỆM ĐẶC THÙ CỦA PHẬT GIÁO

45 THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO

46 MỘNG VÀ THỰC KHÔNG DỄ PHÂN BIỆT

47 “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM” LÀ NGHĨA THẾ NÀO ?

48 Tìm hiểu về Tịnh Độ Tông

49 TU HÀNH THEO PHẬT PHÁP LÀ THẾ NÀO ?

50 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ KHÔNG GIAN CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG, KHÔNG PHẢI THẬT ?

51 THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ

52 Amit Goswami- Vật Lý Lượng Tử Nói Gì Về Bản Chất Của Thực Tại?

53 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ SỐ LƯỢNG VẬT CHẤT LÀ ẢO KHÔNG PHẢI THẬT ?

54 CÁC THÁNH TÍCH PHẬT GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

55 CÁC DẠNG THỨC THÔNG TIN

56 TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

57 PHẬT PHÁP VÀ THÁM HIỂM KHÔNG GIAN

58 SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VẬT LÝ VÀ TÂM LÝ

59 ĐIỀU GÌ CHỨNG TỎ THỜI GIAN CHỈ LÀ ẢO ?

60 THÔNG ĐIỆP CỦA PHẬT GIÁO

61 VẬT CHẤT, NĂNG LƯỢNG CŨNG LÀ THÔNG TIN

62 NGŨ THỪA PHẬT GIÁO và TRƯỜNG A-LẠI-DA THỨC

63 BÀN THÊM VỀ CHÁNH BIẾN TRI

64 TRI THỨC CỦA NHÂN LOẠI ĐÃ TIẾN TỚI ĐÂU ?

65 MIỀN TẦN SỐ A-LẠI-DA THỨC

66 AI QUYẾT ĐỊNH THẾ GIỚI ?

67 TÂM VÀ VẬT TRONG PHẬT PHÁP

68 DANH VÀ SẮC ĐỀU LÀ GIẢ DANH

69 Phật giảng giải cho Ca Diếp về Thế Lưu Bố Tưởng

70 THẾ GIỚI LÀ DO THÓI QUEN TÂM LÝ TẠO RA

71 THUYẾT KIÊN BẠCH ĐỒNG DỊ CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO ?

72 TÂM VÀ THỜI ĐẠI LƯỢNG TỬ

73  ẢO VÀ THẬT

74 NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH TAM GIỚI

75 TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

76 ĐỐI CHIẾU VẬT LÝ VŨ TRỤ VÀ PHẬT PHÁP

77 CÁI TA THẬT RA LÀ CÁI GÌ ?

78 PHẬT GIÁO CÓ THỂ HƯỚNG DẪN GÌ CHO KHOA HỌC VÀ NHÂN LOẠI ?

Danh Sách Bài Viết phụ (Nhà sau) của Blog Duy Lực Thiền

1 Cầu bất đắc khổ

2 Giới thiệu chuyên mục Nhà sau

3 Nữ nhân thị lão hổ

4 Sống khổ : Thiên tai, Sóng thần Nhật Bản

5 Đăng Biện Giác Tự Thơ Vương Duy

6 Sống khổ : “Tôi không thể chịu đựng nổi cuộc sống” – Dalida

7 OÁN TẮNG HỘI KHỔ : ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA (DEVADATTA)

8 ÁI BIỆT LY KHỔ : HÒN VỌNG PHU VÀ MẠNH KHƯƠNG NỮ

9 Mối “vạn cổ sầu” của các nhà thơ

10 ĐÓN XUÂN NÀY NHỚ XUÂN XƯA

11 Chuyến viếng thăm chùa Cao Mân, Trung Quốc của Thầy Duy Lực

12 VĂN HÓA MÍNH ĐÀM

13 CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG VÀ THẾ GIỚI ẢO

14 CUỘC ĐỜI LÀ ẢO MỘNG

15 NGÔI LÀNG BÌNH YÊN

16 TRƯƠNG BẢO THẮNG – LẤY TRÁI TÁO RA KHỎI THÙNG SẮT BỊ HÀN KÍN

17 HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

18 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY QUẢ VỆ TINH BỊ CHÌM DƯỚI ĐÁY SÔNG

19 HẦU HI QUÝ – LÀM CÁ TƯƠI BỐC MÙI- LẤY XĂNG TỪ KHOẢNG CÁCH 50KM- BẤT ĐỊNH XỨ

20 HẦU HI QUÝ – ĐẦU BỊ CHÉM ĐỨT NGƯỜI VẪN SỐNG- SÚNG BẮN KHÔNG BỊ THƯƠNG- THẤU THỊ

21 TRƯƠNG BẢO THẮNG – DÙNG THẤU THỊ TÌM THẤY CON BÒ BỊ CHÌM DƯỚI LỚP BĂNG DÀY

22 HẦU HI QUÝ- Tác động người khác, biến ra thuốc lá và rượu, dùng tâm niệm lấy chiếc đồng hồ cho xuyên qua tường

23 LIÊU VĂN VĨ – NHẬN THỨC VỀ NHÂN THỂ ĐẶC DỊ CÔNG NĂNG

24 Trương Bảo Thắng – Cảnh cáo nữ ảo thuật gia nước ngoài và nhà xã hội học bảo thủ

25 Hầu Hi Quý – Biến ra thức ăn và thuốc lá, biến cua giấy thành cua thật

26 TRƯƠNG BẢO THẮNG- Thời thơ ấu gian khổ – Kết cục thành đạt

27 Trương Bảo Thắng trong trận động đất Đường Sơn khủng khiếp

28 Trương Bảo Thắng bị cha nuôi bỏ rơi, người đời bắt đầu phát hiện siêu nhân

29 Trương Bảo Thắng – Lần đầu được tiến dẫn về tỉnh Liêu Ninh, chưa được trọng thị

30 Hầu Hi Quý – Trị bệnh thần tốc, hô phong hoán vũ, nhận ra và đọc đúng âm của những chữ ông chưa từng học

31 Trương Bảo Thắng – Đản sinh kỳ lạ, tuổi thơ bất hạnh

32 CÁ NHÂN TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

33 Trương Bảo Thắng – Đi về nam, đến Quảng Châu, Thâm Quyến

34 Trương Bảo Thắng- Tranh cãi với cảnh sát và cảnh vệ

35 Trương Bảo Thắng- Tha tâm thông và dùng ý niệm di chuyển vật thể

36 Trương Bảo Thắng- Khả năng đi xuyên tường

37 CÁI NHÌN TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH

38 Hầu Hi Quý- những chuyện thần kỳ xảy ra năm 1979, sau “cách mạng văn hóa”

39 LIÊU VĂN VĨ- LỜI BẠT (SÁCH VỀ HẦU HI QUÝ)

40 Lời tác giả- Lời tựa- Lời bạt của sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng

41 Trương Bảo Thắng- Trị bệnh cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh

42 CÓ PHẢI ZÉNON (ZENO) NGỤY BIỆN KHÔNG ?

43 Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ

44 Hầu Hi Quý – Gặp gỡ những người nổi tiếng của Hong Kong

45 Hầu Hi Quý- Biến ra đô la Mỹ, cảnh cáo cô tiếp viên nhà hàng Tây Uyển

46 Những nhà ngoại cảm, họ là ai ?

47 MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ 2014

48 DUY TÂM – LƯƠNG KHẢI SIÊU

49 VÔ THƯỜNG MÙA WORLD CUP

50 CHÍNH TRỊ, CÔNG NGHIỆP VÀ TIN HỌC

51 Thí nghiệm của Maria Chekhova về rối lượng tử (quantum entanglement)

52 HIỆU ỨNG TU HÀNH

53 VẤN ĐỀ CỦA NỀN GIÁO DỤC THẾ GIỚI

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

55 MỸ NHÂN VÀ CHUYỆN TU HÀNH

56 Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN TƯƠNG ĐỐI

57 Du Ký Tây phương Cực lạc của Pháp Sư Khoan Tịnh

58 NGÀY PHỤ NỮ 8-3, PHI CƠ MH370 CỦA MALAYSIA BAY ĐI ĐÂU ?

59 ĐỨNG TRƯỚC THẾ GIỚI

60 THẦN THÔNG THỜI HIỆN ĐẠI

Một số video clips về Khoa học hỗ trợ để hiểu Tánh Không

Vạn Pháp Duy Thức

Tieng On Toan Anh – Truong Alaya Thuc

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 1 – Phụ đề Việt ngữ

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 4 – Ứng dụng Toàn Ảnh – Vũ Trụ Ảo – Phụ đề Việt ngữ

Universe 5 – Bộ Não Người Là Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Universe 6 – Bộ não người và cơ chế tạo ra thực tại ảo

Universe 7 – Mỗi Người Có Vũ Trụ của Riêng Mình – Phụ đề Việt ngữ

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Universe 9 – Chúng ta thấy thế giới không đúng như nó là – Phụ đề Việt ngữ

Universe 10 – Niềm Tin Trong Đời Sống – Phụ đề Việt ngữ

Universe 11 – Cảm Nhận, Niềm Tin Có Thể Làm Thay Đổi Gen – Phụ đề Việt ngữ 

Universe 12 – Tâm Mang Tiền Đến Cho Bạn – Phụ đề Việt ngữ

Universe 13 – Tiếng Ồn Toàn Ảnh – Chúng Ta Có Thể Làm Gì – Phụ đề Việt ngữ

Não phản ánh Tâm đã quyết định trước Ý thức 6 giây

Nguoi choi Tro Choi Nhan Loai co the lam gi ?

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 1 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 2 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp 3 – Việt dịch

Đối Chiếu Vật Lý Vũ Trụ Và Phật Pháp – Tổng Kết – Việt dịch

Vũ Trụ Song Song – Bồ Tát Vô Trước

Đăng tải tại Thầy Duy Lực giải đáp (Audio mp3) | 2 phản hồi

TẠI SAO PHẬT GIÁO NÓI THẾ GIAN LÀ MỘNG HUYỄN ?

Các Phật tử có lẽ ai cũng từng xem qua bài kệ này trong Kinh Kim Cang.

一切有為法,Nhất thiết hữu vi pháp        Tất cả pháp hữu vi

如夢幻泡影,Như mộng huyễn bào ảnh  Như mộng huyễn bọt bèo

如露亦如電,Như lộ diệc như điện          Như sương mai điện chớp

應作如是觀. Ưng tác như thị quán          Nên xem xét như thế

Mộng huyễn nghĩa là gì ? Chắc mọi người đều hiểu mộng huyễn chỉ là ảo giác do tưởng tượng chứ không có thật. Giống như trong giấc mộng, chúng ta mơ thấy cảnh giới này nọ nhưng đều là không có thật.

Pháp hữu vi là những sự vật hữu hình hoặc vô hình do tạo tác mà có. Vật hữu hình như quả địa cầu, sơn hà đại địa, vạn vật, nhà cửa xe cộ, và thân thể của con người chúng ta. Sự vật vô hình như tư tưởng, tình cảm, tình yêu, văn hóa phi vật thể. Tạo tác có nhiều ý nghĩa, do có cấu trúc nhiều thành phần, có sự kết hợp nhân duyên, do sự sáng tạo của bàn tay khối óc con người. Chúng ta thường suy nghĩ sai lầm rằng chỉ có những sản phẩm nhân tạo mới là tạo tác còn những vật có sẵn trong tự nhiên thì không phải do tạo tác. Thật ra những vật tự nhiên như vũ trụ, thiên hà, các ngôi sao, các hành tinh…vẫn là tạo tác. Vậy ai tạo ra chúng ? Chính chúng ta tạo ra. Thật kinh ngạc ! nhiều người không thể hình dung nổi làm sao mình có thể tạo ra vũ trụ, thiên hà, ngôi sao, hành tinh, sơn hà đại địa, không thể nào tin nổi. Lý do là vì vũ trụ và tất cả những vật trong vũ trụ đều không có thật, đều do tâm tạo, tâm của chúng ta tưởng tượng ra, do đó kinh điển Phật giáo nói : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Vậy tâm của chúng ta tạo ra vũ trụ bằng cách nào ? Dựa vào hai nguyên lý đã nói rất kỹ trong những bài trước : đó là nguyên lý nhất thiết pháp vô tự tính và nguyên lý thay thế. Chính chúng ta đã đánh tráo thói quen nhiều đời nhiều kiếp của mình mà PG gọi là tập khí, vào cấu trúc ảo mà khoa học diễn giải là những hạt cơ bản, bản chất của chúng đều là sóng. Sau khi thay thế thì sóng vô hình, không phải vật chất mà khoa học gọi là miền tần số (frequency domain) hoặc trường thống nhất (unified field) biến thành vật chất dưới dạng là hạt, trong mô hình chuẩn của vật lý hạt (standard model of particle physics), có 18 lọai hạt cơ bản như thế. Sự tưởng tượng của tâm làm biến đổi sóng vô hình thành vật chất hữu hình, Đại Bát Niết Bàn Kinh 大般涅槃經 gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 ( 一切聖人唯有世流布想。無有著想。一切凡夫惡覺觀故。於世流布生於著想 Nhất thiết thánh nhân duy hữu thế lưu bố tưởng, vô hữu trước tưởng. Nhất thiết phàm phu ác giác quán cố, ư thế lưu bố tưởng sinh ư trước tưởng = Tất cả thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng. Tất cả phàm phu do cảm nhận sai lầm, cố chấp, từ thế lưu bố tưởng sinh ra trước tưởng).Thế lưu bố tưởng là thói quen nhìn sự vật đã được lưu truyền nhiều đời và trở nên phổ biến, ví dụ thấy con ngựa, con trâu, người ta, thì nhận biết đó là vật gì. Còn trước tưởng là thói quen của phàm phu vướng mắc vào hình tướng, tưởng rằng con ngựa, con trâu, người ta là có thật, không biết rằng đó chỉ là tưởng tượng của 6 giác quan (lục thức) chứ không phải có thật.

Đi sâu hơn nữa vào cấu trúc của vật chất, chúng ta thấy nguyên tử là một cấu trúc có sự kết hợp nhân duyên của những hạt cơ bản của vật chất. Ví dụ nguyên tử hydrogen là một cấu trúc đơn giản nhất.

Nguyên tử hydrogen

Nguyên tử hydrogen gồm có hạt nhân là một hạt proton, bên ngoài là một hạt electron quay xung quanh nhân với vận tốc rất lớn, nó tạo thành đám mây mù khiến ta thấy nguyên tử hydrogen giống như một quả cầu nhỏ xíu, đặc cứng. Bên trong quả cầu đó thật ra là khoảng không trống rỗng. Các nhà khoa học đã cho một ví dụ để dễ hình dung. Nếu hạt electron to bằng quả bóng đá thông thường, thì khoảng cách từ hạt nhân tới hạt electron là 20 dặm (= 32 km). Nghĩa là nguyên tử chỉ là khoảng không mênh mông trống rỗng mà thôi, chẳng có gì là cứng đặc cả. Cảm giác cứng đặc chỉ là mộng tưởng huyễn ảo chứ không có thực chất.

Vậy còn hạt proton và hạt electron có phải cứng đặc không ? Các nhà khoa học trả lời rằng cũng không. Hạt electron và hạt proton cũng chỉ là hạt ảo, bản chất chúng là sóng vô hình, không phải vật chất.

Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922)  nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Các nhà khoa học khác cũng nói :

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).

Sóng của các hạt cơ bản chỉ trở thành hạt vật chất trong con mắt và các giác quan khác của người quan sát thôi. Thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ điều đó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Đi sâu hơn nữa vào hạt nhân nguyên tử, khoa học cho biết hạt proton được cấu tạo bằng ba hạt cực kỳ nhỏ hơn nữa.

Cấu tạo của hạt proton

Hạt proton được cấu tạo bằng hai hạt quark up (u) và một hạt quark down (d). Để dễ hình dung, các nhà khoa học đưa ra so sánh về sự cực kỳ nhỏ của hạt quark. Nếu một hạt quark to bằng một hạt ngọc trai có đường kính 5mm (milimét) thì nguyên tử hydro phải to bằng quả địa cầu.

Như vậy chúng ta có thể hình dung nguyên tử chỉ là một quả cầu trống rỗng, cấu tạo bằng những hạt ảo là quark và electron mà bản chất của những hạt này cũng chỉ là sóng vô hình không phải là vật chất, vật chất chỉ là tưởng tượng gán ghép của con người dựa trên một cấu trúc ảo. Cấu trúc ảo đó Thiền gọi là vô thủy vô minh. Tham thoại đầu, phát khởi nghi tình là đi tới chỗ vô thủy vô minh đó. Nhưng đến đó cũng chưa phải là kiến tánh, còn phải bước thêm một bước nữa.  Thiền nói giống như hành giả đã trèo tới đầu sào cao trăm trượng rồi, hết chỗ để trèo rồi, nhưng vẫn còn phải tiến thêm bước nữa mới giác ngộ. Đời Tống, thiền sư Chiêu Hiền có sáng tác bài kệ để nói ý này:  

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân,   Sào cao trăm thước người lặng thinh,
Tuy nhiên đắc nhập vi vi chân.         Tuy là cao vút hết đường binh
竿 頭須   Bách xích can đầu, tu tiến bộ,           Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  
全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Ý bài kệ muốn nói cấu trúc ảo vô thủy vô minh của vật chất cũng không phải là bên ngoài, nó vẫn là do tâm phóng hiện, rồi tâm lại tương tác với nó thành ra nhận thức về vũ trụ van vật. Thấy được như vậy mới là kiến tánh giác ngộ.

Chúng ta hãy xem một vài nguyên tử khác phức tạp hơn một chút là Helium, chất khí nhẹ, một nguyên tử kim loại nặng là vàng và nguyên tử uranium thường dùng để sản xuất điện và vũ khí hạt nhân.

Nguyên tử Helium có hai proton, hai neutron và hai electron. Hạt neutron có cấu tạo là hai quark down (d) và một quark up (u)

Cấu tạo của hạt neutron

Một nguyên tử vàng thì rất nặng và có cảm giác đặc cứng hơn nữa vì nó được cấu trúc với rất nhiều proton, neutron và electron.

Nguyên tử vàng ký hiệu Au (do tiếng Latin là Aurum) có 79 proton, 118 neutron và 79 electron

Nguyên tử Uranium235 gồm có 92 proton, 146 neutron và 92 electron

Uranium có nhiều proton và neutron hơn vàng nên nó nặng hơn vàng khá nhiều.

Tất cả mọi hạt cơ bản, mọi nguyên tử, phân tử hay cố thể vật chất như hòn đá, cái nhà, cái xe, thân thể chúng ta đều là pháp hữu vi do con người tưởng tượng ra mặc dù trong đời thường con người có dùng bàn tay và khối óc chế tạo ra một số vật thể, nhưng dù là thiên nhiên có sẵn hay do con người chế tạo, các pháp hữu vi đều là tưởng tượng chứ không có thật, không có thực chất. Có điều gì chứng tỏ sản phẩm do con người làm ra cũng chỉ là tưởng tượng ? Trong thực tế các nhà đặc dị công năng đã chứng tỏ bằng thực nghiệm.

Một chiếc đồng hồ đeo tay đang chạy tốt, do con người chế tạo, nếu không phải là tưởng tượng thì tại sao nó lại tuân theo ý muốn của Hầu Hi Quý ? Ông ta dùng cục gạch cứng đập vỡ, bẹp dí chiếc đồng hồ, rồi sau đó dùng ý niệm của mình phục nguyên lại nó, vẫn chạy tích tắc như thường, giống như chưa hề bị đập vỡ.

HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

Không phải chỉ có Hầu Hi Quý phục nguyên vật thể, Trương Bảo Thắng cũng từng phục nguyên một tấm danh thiếp của một cán bộ nhà nước TQ và một bức họa do một họa gia nổi tiếng vẽ ra và đem tặng anh, nhưng đã bị anh xé nát, vò cục, còn ngâm nước cho bục ra hết.

TRƯƠNG BẢO THẮNG PHỤC NGUYÊN TẤM DANH THIẾP VÀ BỨC HỌA

Khả năng phục nguyên vật thể của các nhà đặc dị công năng khiến chúng ta phải xét lại định luật về entropy. Entropy là một đại lượng của nhiệt động học, ký hiệu là S, là một đơn vị đo nhiệt năng phát tán hoặc hấp thụ khi một hệ vật lý chuyển trạng thái tại một nhiệt độ tuyệt đối xác định, độ biến thiên của S theo hai chiều thuận nghịch hoặc không theo hai chiều thuận nghịch chính là ý nghĩa của entropy. Ý nghĩa đó về phương diện nhiệt động học thì entropy không biến thiên theo hai chiều thuận nghịch mà chỉ biến thiên theo một chiều vì entropy không có tính bảo toàn. Đại lượng này có thể tăng một cách đột ngột trong một quá trình không thuận nghịch. Thật vậy, theo định luật thứ hai của nhiệt động học, entropy của một hệ cô lập không thể giảm, mà chỉ có thể tăng hoặc giữ nguyên giá trị trong trường hợp quá trình biến đổi là thuận nghịch.

Về phương diện thông tin thống kê cơ học, entropy mô tả mức độ trật tự hoặc hỗn loạn của một hệ thống hoặc một sự vật.

Tính biến đổi một chiều của entropy

Bất kỳ một hệ thống vật chất nào, nếu không tiếp thu được năng lượng từ môi trường thì chiều biến đổi của nó là tăng liên tục entropy (tức là tăng mức độ hỗn loạn) cho đến khi trình độ tổ chức, cấu trúc tổ chức của nó suy giảm và tiến tới mất cấu trúc và thành một thứ đồng nhất (homogeny) và vô định hình (amorphism), không còn hoặc có rất ít biến đổi, vận động. (có thể tăng không đồng nhất ở tất cả mọi bộ phận con).

Một cơ thể sống là hệ thống vật chất có khả năng tự lấy năng lượng từ bên ngoài để chống lại xu thế tăng entropy của bản thân. Năng lượng lấy thêm vào được các nhà khoa học gọi là negentropy tức là negative entropy.

Nếu giảm entropy thì tăng cấu trúc tăng sự vận động tức là phát triển đi lên, là tiến bộ trong biến đổi.

Để cho dễ hiểu, chúng ta hãy lấy một thí dụ, ta đánh rơi một chiếc ly thủy tinh từ trên cao xuống nền gạch vỡ tan, như thế entropy của cái ly đã tăng đột biến. Cái ly không thể tự nhiên được phục nguyên vì entropy chỉ biến đổi theo một chiều tăng lên chứ không giảm đi, chúng ta không thể làm cho cái ly tự nhiên nguyên lành lại được. Định luật thứ hai của nhiệt động học nói như thế và vẫn giữ nguyên giá trị trong lĩnh vực thống kê cơ học thông tin. Thế nhưng rõ ràng Hầu Hi Quý và Trương Bảo Thắng có thể phục hồi cái đồng hồ tay bị đập nát và một bức họa bị xé nát, vo tròn, ngâm nước. Như vậy họ đã khiến cho entropy giảm đi, trái ngược với định luật.

Như vậy chúng ta thấy rằng các định luật vật lý cũng không hoàn toàn đúng.

Việc làm của Hầu và Trương rất có ý nghĩa về phương diện sáng thế của Đấng Tạo Hóa, nghĩa là của Tâm. Chánh biến tri có thể tạo ra mọi cấu trúc vô cùng phức tạp theo cùng cách thức mà các nhà đặc dị công năng phục nguyên các đồ vật. Nghĩa là tăng cấu trúc kết cấu, tăng tính tổ chức của vật, giảm số đo của entropy.

Chính vì vật chất vốn là ảo, là trống rỗng như vậy nên PG mới nói tới Tánh Không như trong Bát Nhã Tâm Kinh.

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.  

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vt cht không khác cái không, cái không không khác vt cht, vt cht tc là không, không tc là vt cht. Th, Tưởng, Hành, Thc cũng tương t như vy.   

Trong tánh không của sóng là một tình trạng đồng nhất, thì entropy cực đại, không có cấu trúc tổ chức sắp xếp gì cả. Còn trong vật chất như nguyên tử, phân tử, sinh vật…thì entropy giảm xuống.

Để cho đầu óc thư thái một chút trước khi nghiên cứu tiếp, chúng ta hãy nghe lại bài hát Bát Nhã Tâm Kinh phổ nhạc do ca sĩ Tôn Lộ trình bày.

Bat Nha Tam Kinh Ton Lo VD 2

Bây giờ chúng ta nghiên cứu tiếp, tại sao pháp hữu vi vốn không có thật, chỉ là tưởng tượng, nhưng tại sao chúng ta lại thấy chúng rất thật, sờ mó được, ăn uống được, tiêu hóa tăng trưởng đều được cả ? Có hai lý do khiến chúng ta thấy như vậy.

Thứ nhất là nhất thiết pháp vô tự tính (Kinh Hoa Nghiêm) tất cả các pháp tự nó không có tính chất, đặc điểm, đặc trưng gì cả. Điều này đã được khoa học chứng tỏ trong cuộc tranh cãi lớn nhất về khoa học trong thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein. Hai ông tranh cãi về việc các hạt cơ bản như photon, electron có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, hay không, từ đó sẽ xác định hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) có thật sự xảy ra hay không. Bohr nói đặc trưng không có sẵn. Còn Einstein nói đặc trưng lúc nào cũng có sẵn. Cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 đã xác định rằng Bohr đúng, Einstein sai. Nghĩa là kết quả đó đúng như Kinh Hoa Nghiêm nói, là các pháp không có tự tính.

Vậy tại sao chúng ta thấy mọi vật đều có đặc điểm, đặc trưng ? Điều này liên quan tới lý do thứ hai.

Thứ hai là nguyên lý thay thế. Nghĩa là con người chúng ta sẽ gán ghép các tập khí tức là thói quen lâu đời đã được truyền tiếp qua nhiều thế hệ, nhiều đời, nhiều kiếp. Thói quen đó đã ăn rất sâu trong lục căn, lục trần, lục thức và chứa đựng trong mạt-na thức (manas) của mỗi chúng sinh. Những thông tin trong mạt-na thức đó sẽ ứng đáp với các pháp vô tự tính kia và gán ghép cho chúng các đặc điểm đặc tính tưởng tượng.

Cơ chế thay thế gán ghép này thấy rất rõ trong tin học hiện đại. Đây là sự tương đồng căn bản giữa Phật pháp và tin học. Phật pháp mô tả thế giới đời thường, còn tin học mô tả thế giới ảo. Nhưng cách thức thì rất giống nhau. Chỉ khác nhau về mức độ phức tạp. Thế giới đời thường diễn ra trong không gian 3 chiều nên phức tạp hơn rất nhiều so với thế giới ảo của tin học diễn ra trong không gian 2 chiều.

Chính vì sự tương đồng đó mà để cho các em học sinh sau này sẽ dễ hiểu Phật pháp, năm 1996, thầy Duy Lực đã đầu tư 5000 USD để xây dựng một phòng vi tính đầu tiên tại Bình Thủy với 4 máy vi tính, hướng dẫn cho các em nhỏ tiếp cận với tin học.

Chúng ta biết rằng dữ liệu tin học như văn bản, hình ảnh, video, âm thanh, games, softwares, applications…chỉ là vô số những con số nhị phân, chúng chỉ có hai cơ số là 0 và 1, hàng hàng, lớp lớp những con số, chúng không có đặc điểm, tính chất gì cả. Nhưng chúng ta thấy trên màn hình là những văn bản, thông tin báo chí, video, âm thanh, bao nhiêu trò chơi thú vị. Lý do là dòng điện hoặc sóng trong cáp quang sau khi qua bộ vi xử lý đã thay thế cực nhanh những con số vô nghĩa bằng các đặc điểm, tính chất về các con chữ, đường nét, hình dáng, màu sắc, ánh sáng, âm thanh…mỗi con số được gán ghép cho một đặc tính.

Nhưng xét về mặt triết học nhân sinh thì tuy thế gian chỉ là mộng huyễn, là tưởng tượng của 18 giới (lục căn, lục trần, lục thức) nhưng tất cả mọi cảnh giới đều là sáng tạo của tâm, nó tạo ra đời sống phong phú, muôn hình, muôn vẻ. Nó tạo ra bao nhiêu vẻ đẹp, bao nhiêu điều thiện, tốt đẹp, mang lại hạnh phúc. Nhưng nó cũng tạo ra bao nhiêu điều xấu ác, mang lại đau khổ. Bởi vì cảnh giới mộng ảo đó là vô thường, luôn thay đổi, không có vững chắc.

Con người luôn luôn phải đối diện với cặp phạm trù mâu thuẫn, đối lập : không và có, sóng và hạt, ảo và thật, tốt và xấu, thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ, mê lầm và giác ngộ…

Thế nên con người cần thiết phải nhận thức được nguyên lý thứ ba.

Thứ ba là nguyên lý bất định. Nguyên lý bất định nói rằng con người không thể xác định đồng thời vị trí và động lượng của hạt electron. Chúng ta suy rộng ra rằng hạt electron là vô sở trụ, hạt photon cũng vậy, tất cả các hạt cơ bản khác cũng đều như thế, và kể cả các cấu trúc của chúng như nguyên tử, phân tử cũng đều như thế. Về điểm này khoa học cũng đã có nhận thức.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Đi xa hơn nữa, các nhà đặc dị công năng đã chứng tỏ rằng kể cả cố thể vật chất cũng đều là vô sở trụ. Bởi vì chúng có bản chất là sóng. Sóng thì không có vị trí nhất định. Hầu Hi Quý đã dùng sức mạnh tinh thần dời cái bàn mạ vàng của tỷ phú Lý Gia Thành (Li Kashing) từ nhà đến văn phòng làm việc của ông.

Như vậy nguyên lý bất định cũng có nghĩa là sự thật, chân lý là bất định. Điều đó khế hợp với lời thuyết giảng trong Bát Nhã Tâm Kinh. Nhận thức này dẫn đến một thái độ cởi mở trong triết học nhân sinh cũng như trong cuộc sống thường ngày. Chúng ta không nên khăng khăng cố chấp vào một điều gì đó bất di bất dịch, bởi vì lý lẽ là vô cùng tận, không có một công thức chung cho tất cả, nên phải tùy thời tùy lúc, tùy hoàn cảnh cụ thể mà lấy một quyết định cho phù hợp. Cái đó Phật giáo gọi là tùy duyên.

Đó cũng là ý nghĩa của vô sở trụ. Không được chấp Có cũng không được chấp Không. Phật giáo nói thế gian là mộng huyễn chỉ nhằm đả phá thói quen chấp thật của con người từ đó dẫn tới đau khổ, chứ không phải bảo rằng chúng ta nên từ bỏ tất cả để đi tu tìm đến cái Không. Rõ ràng Bát Nhã Tâm Kinh nói :

na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo

無無明、亦無無明盡、乃至無老死、亦無老­死盡

VÔ VÔ MINH, DIỆC VÔ VÔ MINH TẬN, NÃI CHÍ VÔ LÃO TỬ, DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN :

Không có vô minh, nên cũng không có hết vô minh, không có già chết nên cũng không có hết già chết.

Vì già chết, tức sinh lão bệnh tử, chỉ là mộng huyễn không có thật, nên cũng không có hết sinh lão bệnh tử, nghĩa là cảnh giới thế gian sẽ không bao giờ hết, không bao giờ kết thúc, bởi vì nó chỉ là ảo, là tưởng tượng, không thật sự có sinh ra (vô sinh, vô thủy) nên cũng sẽ không có mất đi (vô chung).

Cuối cùng thì Phật giáo chỉ là một phương thuốc giả tạm dùng để trị bệnh khổ cũng chỉ là bệnh giả không có thật của con người ở cõi thế gian.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 19 phản hồi

TRƯƠNG BẢO THẮNG PHỤC NGUYÊN TẤM DANH THIẾP VÀ BỨC HỌA

Một hôm, Trương Bảo Thắng đến nhà một vị thủ trưởng làm khách. Ngồi trên xe trên đường từ nhà thủ trưởng về, trong lúc nói đùa, cầm danh thiếp của một đồng chí khác xé nát, vo thành viên, rồi bỏ vào miệng nhai nát.

  • Chết rồi ! tấm danh thiếp này có ghi thông tin về mấy anh trong thông tấn xã, không có nó tôi không thể làm việc được… Vị này nói một cách hốt hoảng.

Một đồng chí khác trong đầu có sẵn số liệu, không hoang mang, nói với Bảo Thắng : “Anh lấy giấy ghi tên, địa chỉ, số điện thoại đây này !, không có những thứ này, người ở Bắc Kinh không thể làm việc được ” Trương Bảo Thắng vừa nhai vừa nói, “lấy danh thiếp gốc bằng giấy trên đó có địa chỉ, số điện thoại đầy đủ cả.”

  • Trương Bảo Thắng, xin lỗi, anh nói ai có thể chứng minh ? Giấy đã bị anh nhai nát rồi, không có cách nào phục hồi lại đúng y nguyên được. Đồng chí kia mau mắn nói
  • Không sai, tôi nói bảo đảm đúng…Bảo Thắng tự biện thuyết.
  • Thế này nhé, nếu anh có thể phục nguyên tấm danh thiếp để chúng tôi biết đúng thì mới có thể coi là anh nói đúng. Vị kia nói, cố ý “chiếu tướng” bắt bí

Việc “chiếu tướng” này khiến chân tướng việc anh định làm phải trụ được. Anh nói : “Để tôi thử xem”. Trong xe hơi vừa mới có không khí sôi nổi bỗng chùng xuống.

Chỉ thấy anh nhả giấy đã bị nhai nát như tương từ miệng xuống lòng bàn tay trái, nhìn trân trân một chút, rồi chú tâm thổi phù phù vào cục giấy nát đó, có vẻ vừa thổi vừa nghĩ tưởng việc gì. Sau đó dùng bàn tay phải úp lên cục giấy trên bàn tay, trái xoa xoa vài cái, rồi lại xoa vòng vòng, động tác càng lúc càng nhanh cho đến khi có tiếng tách tách, khi anh dỡ bàn tay phải lên, một tấm danh thiếp xuất hiện, chính là tấm danh thiếp đã bị anh xé nát nhai nhuyễn.

Trương Bảo Thắng sáng tạo kỳ tích này, nó được truyền đi nhưng nhiều người không tin có việc này. Một hôm, rất nhiều họa sĩ trứ danh tụ hội xem Trương Bảo Thắng biểu diễn thấu thị, di chuyển vật thể. Để tỏ lòng mến mộ anh, trong số họ có một họa sĩ xem biểu diễn xong, ngay tại hiện trường tặng anh một bức quốc họa do chính mình vẽ. Bảo Thắng tiếp nhận bức họa, xem sơ qua một cái, rồi xé nát bức họa. Lúc mọi người nghe tiếng giấy bị xé, nhìn lại thấy anh ung dung xé nhỏ từng mảnh, đều kinh ngạc đến ngây người. Mọi người biết tác phẩm của vị họa gia trung niên này có tiếng tăm tới nước ngoài, nhiều người muốn thu giữ tác phẩm của ông phải phí sức bôn ba tìm kiếm, thế mà Trương Bảo Thắng trước mặt đám đông xé hủy một tác phẩm lớn của ông, việc này khiến ông không thể bước xuống đài, ông không biết nên xử trí ra sao, nổi giận khiến mặt ông đỏ lên, không nói được tiếng nào.

Trương Bảo Thắng xé xong, dùng sức vo các mảnh vụn thành một cục tròn, ném vào chậu nước rửa mặt. “Bảo Thắng, anh làm sao vậy ?” một người bạn như ngủ mê sực tỉnh, cảnh báo anh. Chỉ thấy Bảo Thắng khom lưng vớt cục giấy từ trong chậu nước lên, dùng hai tay ép mạnh cho nước từ trong cục giấy chảy ra ngoài, sau đó để cục giấy giữa hai lòng bàn tay, xoa xoa, không lâu có tiếng sè sè phát ra, lúc anh thôi xoa, bức quốc họa khôi phục nguyên trạng như cũ. Chỉ thấy anh phất tay một cái, trải ra trên bàn, hoàn toàn đúng là bức họa đó, không chút hư hao, không sai tí nào. Lúc đó, mọi người tại hiện trường mới sôi động trở lại, nhiều người không dám tin ở mắt mình. Lúc đó có người vỗ tay, những người khác mới nhớ đến việc vỗ tay hoan hô. Vị họa sĩ đã tặng bức họa, thấy tác phẩm của mình đã bị phá hủy hoàn toàn lại phục hồi như cũ, vui mừng ra mặt, không còn giận nữa, ông mới hiểu ra là trách nhầm Trương Bảo Thắng.

Nguyên là để cảm tạ tình cảm của người tặng bức họa, đặc biệt là có ý động viên tinh thần của tác giả, anh đã dùng đặc dị công năng để đáp tạ. Vị họa gia chạy lên phía trước, nắm chặt tay anh, nói : “ Thần tiên ! thần tiên ! Tôi được xem thần tiên sống rồi !”

Công năng này của anh sau khi được nhân viên nghiên cứu biết, bọn họ có những điểm không dám tin lắm, nghi ngờ anh dùng công năng di chuyển vật, mang vật đã bị phá hoại đi, sau đó mang trở lại một vật giống hệt như vậy. Giống như hiện tại có người giải thích, thần tiên cổ đại hô biến là biến, có khi biến mình thành một cội cây, thật ra thần tiên không phải biến mình thành cội cây thật, mà chỉ là dùng thần lực tự di chuyển đi chỗ khác, đồng thời dùng thần lực chuyển một cội cây từ nơi khác đến chỗ mình đứng lúc nảy. Như vậy theo cái thấy của phàm nhân, thần tiên đã biến thành cội cây. Vì vậy nhân viên hữu quan, cố ý lấy 3 tấm danh thiếp của chính mình. Một tấm bỏ vào miệng nhai nát xong giao cho Bảo Thắng, khi Bảo Thắng phục nguyên nó. Qua đối chiếu anh chứng thực đúng là tấm danh thiếp do mình nhai nát, so sánh với hai tấm danh thiếp kia thì hoàn toàn giống hệt.

Đăng tải tại Nhà sau | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BÁT NHÃ TÂM KINH NÓI LÊN NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH

Những người quan tâm tới khoa học, nhất là vật lý lượng tử đều biết qua nguyên lý bất định (uncertainty principle) do Werner Heisenberg (1901-1976) phát biểu lần đầu tiên năm 1927. Phát biểu như sau :

It is impossible to determine both position and momentum of an electron simultaneously.
If one quantity is known then the determination of the other quantity will become impossible.

Không thể xác định được cả vị trí và động lượng (hoặc xung lượng) của một hạt electron vào cùng một lúc. Nếu biết được một đại lượng thì không thể xác định được đại lượng kia.

Ý nghĩa khoa học của nguyên lý bất định chỉ đề cập cụ thể tới hạt electron và nêu lên rằng không thể biết được vị trí và động lượng của hạt electron cùng một lúc, nếu xác định được vị trí tức là hạt electron ở hình thái vật chất, thì không thể biết được động lượng của nó. Tại sao không thể xác định được động lượng ? Bởi vì nó xuất hiện đột ngột, không biết từ đâu đến, không biết được quãng đường nó đi là bao xa với vận tốc là bao nhiêu. Còn khi xác định được động lượng, nghĩa là biết khối lượng tương đối và vận tốc nó di chuyển của nó, thì không thấy, không biết vị trí của nó ở chỗ nào. Điều đó có nghĩa là động lượng mà ta xác định được chỉ là ảo, không có thật.

Ý nghĩa khoa học của nguyên lý bất định xuất phát từ thực tế là các hạt cơ bản (elementary particles, hoặc fundamental particles) như photon, electron…có lưỡng tính sóng và hạt, đó là hai hình thái đối lập của vật chất.

Sóng là dạng tiềm năng của vật chất nhưng không phải là vật chất, đó có thể là năng lượng, như thế năng trọng trường hay thế năng hấp dẫn mà con người lợi dụng trong thủy điện, tức là dùng năng lượng của một khối lượng nước từ trên cao đổ xuống để biến thành dòng điện. Khối lượng nước vẫn y nguyên không mất tí nào, nhưng thế năng của khối nước đó biến thành dòng điện cho chúng ta sử dụng. Trong trường hợp này, năng lượng được coi như một hình thái khác của vật chất và có thể biến thành vật chất theo công thức nổi tiếng của Einstein :

Năng lượng E= Khối lượng M x Bình phương vận tốc ánh sáng C2

E tính bằng joule, M tính bằng kg, C tính bằng  m/s (mét trên giây)

Joule  là năng lượng thực hiện một công là 1 watt trong 1 giây. 1kwh (kilowatt/giờ) = 3.600.000 joules

Khi vật chất biến hoàn toàn thành năng lượng, nó sẽ giải phóng một năng lượng khổng lồ.

Ví dụ, 1kg vật chất, ví dụ 1 kg uranium nếu biến hoàn toàn thành năng lượng thì sẽ cho ra năng lượng bằng :

E =  1x (300.000.000)2  joule  = 9 x 1016 joules =  90 triệu tỷ joules = 25 tỷ kwh

Theo số liệu của điện lực Việt Nam, năm 2016, cả nước VN tiêu thụ điện (sản xuất và nhập khẩu) 183,28 tỷ kwh điện. Như vậy, chỉ cần 7,3kg vật chất nếu biến hoàn toàn thành năng lượng thì đủ cho cả nước sử dụng trong một năm với mức tiêu thụ tương đương như năm 2016.

Trong thực tế, các nhà máy điện nguyên tử chỉ có thể biến Uranium thành những nguyên tử khác với khối lượng nhỏ hơn và chỉ giải phóng được một phần rất nhỏ năng lượng nguyên tử, chứ không phải biến toàn bộ vật chất thành năng lượng.

Biểu đồ phản ứng phân hạch Uranium 235 Trong biểu đồ, một hạt neutron bắn vào, hạt

nhân U235 bị phân rã thành U236, Kripton và Barium

Do đó trong thực tế 1kg Uranium 235 đã được làm giàu, nghĩa là làm tăng tỉ lệ uranium 235 trong nguyên liệu thô từ 0.7%  lên từ 3% – 5%  mới có thể sử dụng trong lò phản ứng nguyên tử. Và 1kg 23592U (Uranium 235 với 92 proton) đã làm giàu giải phóng năng lượng khi  phân hạch hoàn toàn chỉ vào khoảng :

E= 7,217 x 1013  Joule = 7,217 x 10 ngàn tỷ joules = 20,047 triệu kwh

Nghĩa là chỉ giải phóng được số năng lượng thực tế chỉ bằng 1/1247 tức 0,8 phần ngàn so với biến đổi toàn bộ vật chất thành năng lượng. Tuy vậy số năng lượng phát ra cũng đã rất lớn.

Sóng có thể là thông tin, ví dụ sóng lan truyền trong mạng internet trong dây cáp đồng hoặc dây cáp quang, hay sóng wifi là thông tin, có thể biến thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh trên smartphone của chúng ta. Sóng não cũng là một dạng thông tin mà người nắm bắt được là có thần thông hay đặc dị công năng. Chẳng hạn Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý là những người có công năng đó. Trương Bảo Thắng không hề học vi tính, nhưng nếu bên cạnh anh có người rành vi tính thì anh ta có thể thao tác trên máy tính như người đã rất thông thạo.

Nếu năng lượng có thể biến thành vật chất theo công thức nổi tiếng của Einstein : E= mc2   thì thông tin cũng có thể biến thành vật chất, dù cho sóng thông tin cực kỳ vi tế hơn sóng năng lượng rất nhiều.

Hạt photon, hạt electron, các hạt cơ bản khác như quark up, quark down…đều có lưỡng tính sóng và hạt. Ở dạng sóng, chúng là một dạng sóng tiềm năng, phi vật chất, vô hình, trừu tượng, như phát biểu của Niels Bohr (1885-1962) : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Còn khi ở dạng hạt thì chúng là vật chất, chúng cấu tạo thành nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất như đất đai, sông núi, nhà cửa, xe cộ, sinh vật. Chúng ta cảm thấy vật chất cứng chắc, có tính bền vững, đó là do các hạt proton, neutron trong hạt nhân nguyên tử, rất bền vững, ổn định. Các hạt quark cấu tạo nên proton, neutron bị giam hãm gần như vĩnh viễn trong các hạt nầy, gọi là hiện tượng giam hãm màu (color confinement). Mô hình quark đã được các nhà vật lý Murray Gell-Mann và George Zweig đề xuất độc lập nhau năm 1964. Các quark được đưa ra như là một phần trong biểu đồ sắp xếp cho các hadron, và có rất ít chứng cứ về sự tồn tại của chúng cho đến tận năm 1968. Cả 6 loại quark, được gọi tên như là các hương vị (flavors) : lên (up), xuống (down), duyên (charm), lạ (strange), đỉnh (top), và đáy (bottom). Các quark lên (u) và quark xuống (d) có khối lượng nhỏ nhất trong các quark. Các quark nặng hơn nhanh chóng biến đổi sang các quark u và d thông qua một quá trình phân rã hạt: sự biến đổi từ một trạng thái khối lượng cao hơn sang trạng thái khối lượng thấp hơn. Vì điều này, các quark u và d nói chung là ổn định và thường gặp nhất trong vũ trụ, trong khi các quark duyên (c), lạ (s), đỉnh (t), và đáy (b) chỉ có thể được tạo ra trong va chạm năng lượng cao (như trong các tia vũ trụ và trong các máy gia tốc hạt) đều đã được quan sát trong các máy gia tốc thực nghiệm; quark cuối cùng được khám phá là quark đỉnh (t) được quan sát tại Fermilab năm 1995.

Tính bất định không phải chỉ có đối với hạt photon hay electron, mà có tính chất phổ quát đối với tất cả các hạt cơ bản, thậm chí đối với cả những cấu trúc vật chất cơ bản của chúng như hạt nhân nguyên tử, nguyên tử, phân tử.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Sâu xa hơn nữa, tính bất định còn thể hiện ở cả những cố thể vật chất như đồ vật, nhà cửa, núi sông, hành tinh, ngôi sao, thiên hà, vũ trụ.

Một số nhà khoa học lầm tưởng rằng tính bất định chỉ xảy ra ở quy mô lượng tử, cấp độ của các hạt cơ bản, bởi vì họ không biết hoặc không tin rằng ở cấp độ cố thể vật chất, tính bất định vẫn xảy ra mặc dù cơ hội để cho con người chứng kiến là khá hiếm hoi, nó gần như trái ngược với nhận thức thường nghiệm của con người.

Các nhà đặc dị công năng đã biểu diễn thực nghiệm cho chúng ta thấy rằng cố thể vật chất có thể biến mất ở chỗ này và xuất hiện ở chỗ khác có thể cách xa hàng ngàn km. Điều đó chứng tỏ tính bất định của cố thể vật chất. Điển hình là việc di chuyển gói thuốc lá đi xa 1600 km vào năm 1979 mà Hầu Hi Quý thực hiện, hoặc di chuyển cái bàn mạ vàng của tỷ phú Lý Gia Thành (Li Ka-shing) từ nhà ông tới văn phòng của ông cũng do Hầu Hi Quý thực hiện. Cái bàn biến mất khỏi nhà ông và xuất hiện ở văn phòng cũng của ông ngay lập tức.

Như vậy chúng ta thấy rằng tính bất định là một nguyên lý cơ bản và phổ quát của thế giới, nó hiện diện ở khắp mọi nơi chứ không riêng gì đối với các hạt cơ bản, không phải chỉ có trong lĩnh vực lượng tử. Từ thời xa xưa, trong kinh điển Phật giáo cũng đã đề cập đến tính bất định, cụ thể là Bát Nhã Tâm Kinh.

Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh 般若波羅蜜多心經 (phiên latinh từ Phạn ngữ : Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra nghĩa là Quyển Kinh về Tâm Giác Ngộ đến bờ bên kia. Bờ bên kia nghĩa là gì ? Ngày nay khoa học đã giúp chúng ta khám phá rất cụ thể, bờ bên kia tức là Miền tần số (Frequency Domain),  nơi chưa có sự phân biệt nhị nguyên giữa các cặp phạm trù mâu thuẫn như đúng sai, sáng tối, sóng hạt, âm dương v.v…hoặc một tên gọi khác là Trường Thống Nhất (Unified Field) Trong Duy Thức Học thì bờ bên kia là A-lại-da thức (Alaya). Còn bờ bên này là Mạt-na-thức (Manas).

Bờ bên kia hay Alaya chỉ là thông tin đơn thuần, chưa có bất cứ đặc điểm, đặc trưng gì, không có tính chất gì cả, thông tin đó có dạng sóng vô hình, phi vật chất, vì vậy khoa học gọi là miền tần số. Còn bờ bên này là thông tin đã được gán ghép các tính chất, đặc điểm để phân biệt, để hiển thị theo một chiều hướng quen thuộc nào đó của tập quán. Trong tin học, chúng ta thấy rất rõ :

Bờ bên kia chỉ là hàng hàng lớp lớp những con số nhị phân với hai ký hiệu 0 và 1. Ngay cả hai ký hiệu này cũng chỉ là sự gán ghép, cho là số 0 để chỉ trạng thái không có dòng điện, số 1 để chỉ trạng thái có dòng điện. Còn bờ bên này là trạng thái đã gán ghép các tính chất này nọ cho từng con số để chúng hiển thị thành văn bản, hình ảnh, màu sắc, video, âm thanh v.v…Sự gán ghép này là tuân theo thói quen nhận thức của con người bình thường.

Trong thế giới đời thường cũng vậy, sự gán ghép quy chiếu theo tập khí nhiều đời nhiều kiếp của chúng sinh nên kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng (tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến qua nhiều đời). Ví dụ :

Hình tướng như thế này thì gọi là con trâu :

Hình tướng như thế này thì gọi là con ngựa :

Những đặc điểm của con trâu và con ngựa là do mạt-na thức gán ghép theo thế lưu bố tưởng của mình, hình dáng thì con người tưởng tượng giống nhau, nhưng tên gọi thì mỗi dân tộc gọi mỗi khác theo ngôn ngữ của mình. Ví dụ người Anh thì gọi hình trên là buffalo, hình dưới là horse. Người Pháp thì gọi hình trên là buffle, hình dưới là cheval. Còn người Hoa thì gọi hình trên là 牛 (ngưu), hình dưới là 馬 (mã).

Tính bất định của thế giới hiện tượng được Bát Nhã Tâm Kinh diễn tả trong những câu như :

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.   

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vật chất không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là không, không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.   

Ngày nay, chúng ta có thể dịch lại câu trên theo tiêu chí khoa học :

Này Xá Lợi Phất, Hạt không khác Sóng, Sóng không khác Hạt, Hạt tức là Sóng, Sóng tức là Hạt. Thọ, Tưởng, Hành, Thức, cũng tương tự như vậy.

tasmācchāriputra śūnyatāyām na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārā na vijñānāni. na cakṣuḥ-śrotra-ghrāṇa-jihvā-kāya-manāṃsi. na rūpa-sabda-gandha-rasa-spraṣṭavya-dharmāḥ. na cakṣur-dhātur yāvan na manovijñāna-dhātuḥ

舍利子,是諸法空相,不生不滅、不垢不淨、不增不減。 是故空中無色、無受想行識、無眼耳鼻舌身意、無色聲香味觸法、 無眼界、乃至無意識界

XÁ LỢI TỬ! THỊ CHƯ PHÁP KHÔNG TƯỚNG, BẤT SANH BẤT DIỆT, BẤT CẤU BẤT TỊNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM, THỊ CỐ KHÔNG TRUNG VÔ SẮC, VÔ THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, VÔ NHÃN, NHĨ, TỶ, THIỆT, THÂN, Ý, VÔ SẮC THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP, VÔ NHÃN GIỚI NÃI CHÍ VÔ Ý THỨC GIỚI :

Này Xá Lợi Phất ! các pháp đều là hiển thị của tánh không : không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm; như vậy trong tánh không, không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có thế giới của hình tướng, màu sắc (nhãn giới) cho đến không có thế giới của tư tưởng ý thức (ý thức giới).

Như vậy chúng ta đã thấy rõ, nguyên lý bất định không chỉ hạn chế đối với photon và electron trong lĩnh vực lượng tử, mà có tính chất cơ bản và phổ quát đối với tất cả các pháp, đối với toàn pháp giới.

Kinh Bát Nhã đã nói rõ các pháp đều là hiển thị của tánh không, nghĩa là từ cái không, không có gì cả, mà thành vũ trụ vạn vật, điều đó có nghĩa là tất cả các pháp, tất cả mọi hiện tượng dù là vật chất hay tinh thần, đều chỉ là ảo hóa, nghĩa là không có thực chất, không có thực, nhưng được tưởng tượng ra, không phải chỉ bằng ý thức, mà bằng cả 8 thức, cũng không phải chỉ hiển thị trên mặt phẳng hai chiều, mà hiển thị trong không gian 3 chiều (3 dimensions), cộng thêm chiều thời gian, thành cuộc sống đời thường trong không gian 4 chiều (space-time) quen thuộc của chúng ta.

Vì hiển thị với cả 8 thức nên người đời không thể nhận ra sự ảo hóa. Người đời tin chắc 100% vật chất là có thật bởi vì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân thể tiếp xúc, tiêu hóa, tăng trưởng, bất cứ khía cạnh nào cũng thấy chân thật, vậy nên không có chỗ cho sự hoài nghi, thế nên số người giác ngộ rất ít, một triệu người mới có một người.

Nguyên lý bất định dựa trên hai nhân tố cơ bản :

Một là : Nguyên lý Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性  All phenomena, all things lack self nature Tất cả các pháp đều không có đặc điểm riêng, tính chất riêng.

Hai là : Nguyên lý thay thế : Principle of Replacement. Đây là nguyên lý nền tảng để tạo ra vũ trụ vạn vật.

Phật pháp nói rằng Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, nhưng Tâm là vô hình vô thể, vô ký (neutral, trung tính, chưa phân cực nhị nguyên), do đó Lục Tổ Đàn Kinh 六祖壇經 nói Tâm như hư không diệc vô hư không chi lượng 心如虛空,亦無虛空之量 Tâm giống như hư không nhưng khác hư không ở chỗ tâm không phải hoàn toàn trống rỗng không có gì cả như hư không, mà tâm bao hàm vô lượng thông tin dạng sóng vô ký, nghĩa là nó chưa phân cực nhị nguyên, không phải nhiều cũng không phải ít, không phải vật chất cũng không phải tinh thần, và có thể tạo ra ngũ uẩn.

Nhưng vì bản chất ảo hóa của tâm pháp nên kinh Bát Nhã nói rằng ngũ uẩn giai không :

āryāvalokiteśvarabodhisattvo

gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Qua nguyên bản tiếng Phạn, chúng ta biết rằng Bồ Tát Quán Tự Tại là Avalokitesvara Bodhisattva cũng chính là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nguyên lý pháp vô tự tính và nguyên lý thay thế là hai nguyên lý nền tảng phổ biến nhất của vũ trụ vạn vật. Toàn cả pháp giới đều dựa vào hai nguyên lý này để tạo ra vô lượng vô biên cảnh giới trong đó có cảnh giới thế gian mà chúng ta đang sống.

Trong tin học thì chúng ta đã biết rõ rồi, những dãy số nhị phân hàng hàng lớp lớp chứa trong đĩa cứng và thẻ nhớ vốn không có đặc điểm gì cả, không có gì liên quan với văn bản, hình ảnh, video, âm thanh cả. Chúng đơn thuần chỉ là những con số vô nghĩa. Nhưng mỗi con số được người ta tùy tiện gán ghép cho một đặc điểm. Ví dụ :

Số nhị phân Số thập phân Hiển thị
100 0001 65 A
100 0010 66 B
100 0011 67 C
110 0001 97 a
110 0010 98 b
110 0011 99 c

Cột đầu là số nhị phân, cột giữa là số thập phân quen thuộc, cột cuối là con chữ sẽ hiển thị lên màn hình. Như vậy khi thấy dãy số 100 0001 đây chính là số 65, màn hình sẽ hiện ra chữ A (hoa), còn khi thấy dãy số  110 0001  đây chính là số 97 màn hình sẽ hiện ra chữ a viết thường.

Việc gán cho mỗi con số một đặc điểm nào đó chỉ là qui ước tùy tiện chứ không có gì bắt buộc cả. Nhưng một khi đã thống nhất qui ước, thì toàn thế giới đều tuân theo qui ước đó, khiến cho nó có vẻ khách quan, ai cũng thấy như nhau.

Trong thế giới đời thường cũng vậy, khi một vật đã trở thành thế lưu bố tưởng, nghĩa là tưởng tượng đã được lưu truyền phổ biến, thì mọi người đều thấy giống nhau. Vì nhiều người thấy giống nhau nên tưởng là khách quan.

Có người sẽ thắc mắc làm thế nào một ảo ảnh lại có cuộc sống hoàn toàn thật bằng xương bằng thịt có cấu tạo vô cùng phức tạp và hoạt động được một cách độc lập. Tin học hiện đại có thể làm ví dụ điển hình. Trong các games của thế giới ảo, các nhân vật cũng có cuộc sống riêng, có cá tính, hoạt động theo ý đồ của người chơi, các chương trình ứng dụng (applications) rất phức tạp vẫn hoạt động được. Thế giới đời thường chỉ phức tạp hơn thế giới tin học rất nhiều thôi, phức tạp hơn nhiều bởi vì nó tăng thêm một chiều kích, chứ về cơ bản thì nguyên lý hoạt động của nó cũng giống như thế giới tin học.

Kết luận

Nguyên lý bất định rốt cuộc là có ý nghĩa gì ? Đó là thế giới vật chất, sinh vật, con người, tuy hiện hữu có vẻ rất chân thật, rất rõ ràng, nhưng không phải hoàn toàn có thật, thế giới đó không có thực chất, mà chỉ là cảm giác ảo tưởng, bởi vì tất cả mọi đặc điểm, đặc tính của vật, từ hạt cơ bản cho tới cố thể vật chất, đều là tưởng tượng, gán ghép cho vật, chứ không phải vật tự nó có sẵn những đặc điểm, đặc tính ấy. Cuộc tranh luận giữa Niels Bohr và Albert Einstein cuối cùng đã có kết luận, vật không có sẵn bất cứ đặc điểm, đặc trưng nào cả, tất cả chỉ là tâm niệm của con người gán ghép cho vật. Thí nghiệm Hai khe hở cũng xác nhận điều đó.

Tuy thế giới vật chất vốn chỉ là tưởng tượng, chỉ là ảo, nhưng sự hiện hữu của nó, khó có thể phủ nhận, sự thật luôn luôn có tính hai mặt, đối lập nhau nhưng bổ sung cho nhau. Tâm giống như hư không, vô hình, vô thể. Nhưng nếu chỉ có thế thì không có cuộc sống, không có vẻ đẹp, không có gì hay, không thú vị gì.

Thế nên tâm phải có biểu hiện ra nhiều cảnh giới, nào là cõi trời, cõi tiên, thế gian, địa ngục. Cõi thế gian là gần gũi quen thuộc với chúng ta, với biết bao cảnh đẹp kỳ vĩ, rồi mỹ nhân, bao nhiêu sáng tạo văn hóa nghệ thuật, kiến trúc, chế tạo của con người, thật là thiên hình vạn trạng. Nhưng nếu chấp thật, tức cho rằng những cảnh giới đó là hoàn có thật thì con người sẽ bị khổ, bởi vì sự vô thường, thấy đó rồi mất đó, với bao cảnh tranh giành, chiến tranh loạn lạc, thiên tai, động đất, sóng thần, bão lụt, khô hạn, tai nạn, thương yêu phải chia ly, oán ghét lại gặp nhau v.v…

Cho nên nguyên lý bất định đã thể hiện trong kinh điển xưa : SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ

Vật chất là hạt, chẳng hạn hạt photon, hạt electron, các hạt cơ bản, hạt nhân nguyên tử v.v…nhưng hạt cũng là sóng, hạt không khác sóng, tuy có khác về hình thái, nhưng bản chất không khác. Hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) hé lộ cho chúng ta biết rằng :

-vật chất (hạt) là phi hiện thực (non realism) tức không có thật

-vật chất (hạt) là vô sở trụ (non locality) tức không có vị trí nhất định trong không gian

-vật chất (hạt) là phi số lượng (non quantity) tức không có số lượng.

Những thông tin này nói lên rằng mọi cảnh giới đều không có thật, đó đều là cảnh giới biểu kiến, ảo, tưởng tượng bằng cả 6 thức, không gian, thời gian, số lượng đều không có thật.

Những lý thuyết về vũ trụ toàn ảnh (holographic universe), vũ trụ giả lập (The universe is a simulation) xuất hiện ngày càng nhiều.

Cuộc tranh luận Isaac Asimov thường niên lần thứ 17 tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ TP New York,chỗ đã được bán hết chỉ trong 3 phút online, chủ trì Neil deGrasse Tyson nói chuyện với khán giả. Cuộc tranh luận này gồm 5 chuyên gia thảo luận ý tưởng về vũ trụ như một sự giả lập.

Những lý thuyết này đều nói rằng vũ trụ là ảo ảnh trong không gian 3 chiều, phóng hiện từ thông tin chứa trong mặt phẳng hai chiều. Không phải đến ngày nay mới có nhận thức này, từ xa xưa, tại phương đông và phương tây đều có người nêu ra nhận thức như thế, nhưng ngày xưa sự mô tả chưa được rõ ràng.

Tại Trung Quốc, vào thời Chiến Quốc, Huệ Thi 惠施 (370 TCN-310 TCN) nói : 無厚不可積也,其大千里 (Vô hậu bất khả tích dã, kỳ đại thiên lý) Không bề dày không thể tích, cái lớn của nó là ngàn dặm.

Huệ Thi muốn nói cái mặt phẳng không có bề dày, không có thể tích, cái lớn của nó là vô cùng. Các triết học gia xưa nay bàn luận về câu đó một cách ấu trĩ vô dụng. Chỉ đến khi khái niệm về Vũ Trụ Toàn Ảnh xuất hiện mới có thể hiểu được rõ ràng câu nói của Huệ Thi. Cái vũ trụ mà chúng ta đang sống là một toàn ảnh 3 chiều (3D Hologram) có thể ghi lại đầy đủ trên mặt phẳng 2 chiều, và từ dữ liệu 2 chiều đó, có thể khôi phục lại thành toàn ảnh 3 chiều.

Tại Âu Châu, Zénon (tiếng Anh là Zeno 496 – 429 Trước Công nguyên) là triết gia người Hi Lạp nhưng sống ở làng Elea (nay ở phía nam nước Ý) vào thế kỉ thứ 5 TrCN. Ông nổi tiếng với các nghịch lý (Paradoxes) mà người đời thường cho là ngụy biện vì nó trái với nhận thức thường nghiệm của con người. Một trong các nghịch lý ông nêu lên là mũi tên bắn ra không chuyển động, nên nó sẽ không bao giờ đến đích

Nghịch lý đó như thế này : một mũi tên bắn ra muốn đi từ A đến E, trước hết nó phải vượt qua phân nửa đoạn đường tức là phải đến D, trước khi đến D nó phải vượt phân nửa đoạn đường tức là đến C, trước khi đến C nó phải vượt phân nửa đoạn đường tức là đến B. Lý luận cứ thế tiếp tục, đoạn đường cứ chia nhỏ ra mãi, tiệm cận điểm A nhưng không bao giờ trùng khít vào điểm A. Thời gian vượt từng nửa đoạn đường cũng chia nhỏ tương tự như thế. Khi chia đến một mức cực nhỏ,  nhỏ tối đa, khi khoảng cách không gian và thời gian chỉ còn là một điểm chứ không phải một đoạn thì mũi tên sẽ đứng yên một chỗ vì chưa kịp chuyển động. Nói cách khác, ở từng điểm không gian và thời gian thì mũi tên bất động. Đoạn đường AE cũng như thời gian cần thiết để mũi tên đi từ A đến E là tập hợp những điểm mà tại đó mũi tên đều bất động như thế, suy ra rằng mũi tên không chuyển động, chuyển động của mũi tên chỉ là ảo giác, thật tế là mũi tên bất động, mà đã bất động thì không bao giờ đến đích được. Nghịch lý của Zénon là muốn nói rằng thế giới là ảo, là tưởng tượng.

Tại Ấn Độ, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, Đức Phật Thích Ca ra đời, đã thuyết giảng về Vi Diệu Pháp còn gọi là Thắng Pháp Tạng gồm 7 quyển, thuyết giảng rất nhiều về sự ảo hóa của các cõi giới, cơ bản là 4 bộ luận :

1-Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận)

2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)
3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến
4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 đế…phân biệt các hạng người.

Từ các bộ luận này, về sau các Tổ Sư khai triển thêm thành các kinh điển Đại Thừa như Bát Nhã Tâm Kinh, Duy Thức Tam Thập Tụng, Trung Quán Luận, Lăng Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Lục Tổ Đàn Kinh v.v…

Tóm lại, ý nghĩa rốt ráo của nguyên lý bất định là sự phá chấp, không thể bám víu vào một hình thái nhất định nào, cuộc sống luôn trôi chảy, chân lý không thể nắm bắt, gò bó nó vô một khuôn khổ giới hạn nào đều không thể được. Cho Kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Đó là tâm giác ngộ không có chỗ trụ, không bám víu vào một chân lý cố định, đó chính là ý nghĩa cơ bản phổ quát của nguyên lý bất định vậy.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 7 phản hồi

ỨNG DỤNG CỦA PHẬT PHÁP TRONG ĐỜI THƯỜNG

Ứng dụng lớn nhất của Phật pháp là cứu khổ. Mặc dù về cơ bản cảnh giới thế gian là ảo, nghĩa là không có thật, nhưng chúng sinh nhất là con người tưởng là thật nên chấp thật từ đó sinh ra khổ, phiền não, đủ thứ đau thương vô cùng vô tận. Như vậy về cơ bản khổ cũng chỉ là ảo tưởng, không có thật, nhưng do con người chấp thật nên đau khổ và hạnh phúc ngự trị trên thế gian. Cõi giới đời thường là tương đối, nghĩa là các pháp cần phải dựa vào nhau để tạo ra hiệu ứng chứ không có pháp nào độc lập tồn tại, điều đó kinh điển gọi là Tất cả các pháp đều không có tự tính (Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 All phenomena, all things lack self nature). Các hạt cơ bản như photon, electron…cũng đều không có tự tính, nghĩa là chúng không hề có các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Chỉ khi nào có người hay thiết bị quan sát, kiểm tra thì các đặc trưng đó mới xuất hiện. Điều đó có nghĩa là phải có nhân duyên phối hợp thì các đặc trưng của vật mới xuất hiện, chúng nương tựa vào nhau để tạo ra hiện tượng. Nguyên tử chỉ xuất hiện trong mối liên hệ qua lại tương tác của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Trong đó sắc là vật chất (hạt) đồng thời cũng là phi vật chất (sóng tiềm năng). Trong trạng thái phi vật chất thì sắc chỉ là sóng, là thông tin mà vật lý lượng tử hiện đại gọi là miền tần số (frequency domain). Thế giới ảo của tin học hiện đại là bằng chứng chắc chắn rằng các hạt vật chất cơ bản như photon, electron, thực tế là sóng thông tin, là ảo, không phải là vật chất. Cũng có bằng chứng cho thấy rằng những cấu trúc vật chất to hơn, nặng hơn, có vẻ cứng chắc hơn, như nguyên tử, phân tử, cũng có lưỡng tính sóng, hạt. Và ở trạng thái sóng, chúng là sóng thông tin, là sóng tiềm năng chứ không phải là vật chất. Niels Bohr đã từng nói rằng : “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Các nhà vật lý hiện đại cũng nêu lên rằng nguyên tử và phân tử cũng là sóng và hành xử giống y như photon hay electron.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Những cảnh đời đau khổ, thương tâm, khỏi cần giải thích chắc mọi người đều hiểu cái khổ đó là như thế nào : Với cá nhân thì nghèo khổ, đau ốm, bệnh tật, bị áp bức, chèn ép, ngu đần, kém cỏi, thua sút người chung quanh, vợ con hoặc chồng con nheo nhóc, gia đình bất hòa, cầu mong không được…đều là khổ. Trong cuộc sống xã hội thì bất công, tham nhũng, thất nghiệp, tai nạn giao thông, xe đụng, tàu chìm, máy bay rớt…là khổ. Ngoài ra còn hàng giả, thực phẩm độc hại, ô nhiễm môi trường. Về mặt thiên nhiên thì thiên tai, núi lửa, động đất, sóng thần, dông bão, lụt lội, tuyết phủ…Trên bình diện quốc gia thì chiến tranh, loạn lạc, tranh giành biển đảo, vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tất cả đều là biểu hiện đau khổ.
Trong cuộc sống đời thường, con người lệ thuộc vào đủ mọi thứ ràng buộc : Không gian sinh tồn bị đe dọa, do ô nhiễm, chật hẹp, chen chúc, nước biển dâng do hiệu ứng nhà kính, tài nguyên cạn kiệt, nguồn nước, khoáng sản, cây gỗ ngày càng khó khăn . Thời gian dường như lúc nào cũng thiếu nên người đời sống vội vả, tất bật, đời người ngắn ngủi, tuổi xuân chóng tàn; còn người có rộng thời gian thì lại đối diện với nguy cơ thất nghiệp, kiếm không ra tiền để sinh hoạt. Khối lượng vật chất, năng lượng khai thác được, luôn thiếu thốn, hữu hạn.
Với đủ thứ ràng buộc như vậy, con người cảm thấy tự do thật là hữu hạn. Ở một số quốc gia, tự do chính trị, tự do ngôn luận, tự do đi lại vẫn còn bị hạn chế ngoài những ràng buộc về vật chất, không gian, thời gian như kể trên.
Phật giáo xuất hiện trên đời nhằm giải cứu con người thoát khỏi tất cả mọi cảnh khổ nói trên bất kể là thiên tai hay nhân họa.
Phương pháp của PG là mỗi người tự giác ngộ giải thoát cho chính mình, từ đó giúp người chung quanh giải thoát. Thật ra thì không có cái gì trói buộc, cũng không có giải thoát, nhưng vì cái thói quen nhận thức lâu đời của con người, đã thành một sự cố chấp vô cùng kiên cố, nên muốn phá sự chấp thật kiên cố đó là vô cùng khó. Từ giai đoạn nhận ra thế giới chỉ là ảo đã khó, giai đoạn phá được cái ảo tưởng đó lại càng khó hơn. Chính vì lẽ đó số người giác ngộ giải thoát rất là hiếm hoi, chỉ thống kê được vài ngàn người trong số hàng tỷ người của nhân loại.
PG đã sáng chế ra rất nhiều pháp môn để dẫn dắt con người đến giác ngộ giải thoát. Đại khái là có Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Thừa Pháp, Thập Nhị Nhân Duyên, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ…Về sau các Tổ Sư phát triển thêm Duy Thức Tam Thập Tụng, Trung Quán Luận. Khi PG đến Tây Tạng và Trung Hoa, các Tổ Sư tại đó lại phát triển thêm Mật Tông, Thiền Tông, Câu Xá Tông, Thành Thật Tông, Pháp Tướng Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nghiêm Tông, Duy Thức Tông.
Rất nhiều tông phái Phật giáo đã được thành lập nhằm đem lại sự giác ngộ giải thoát cho con người. Đó đều là sự ứng dụng biến hóa của PG để đáp ứng nhiều loại căn cơ đa dạng của con người. Những ứng dụng kể trên đã thuộc về quá khứ. Kể từ thế kỷ 20 về sau, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ứng dụng của Phật pháp trong đời thường được nâng cao rõ rệt. Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu sâu về vấn đề này.
Chẳng hạn, một trong những vấn đề cốt lõi của PG được nêu ra trong Kinh Kim Cang : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 Câu này xưa nay người ta hiểu một cách mơ hồ. Mãi đến năm 1982, sau thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris và đã rút ra được kết luận thì ý nghĩa của câu trên mới được hiểu rõ ràng và xác thực.
Ưng vô sở trụ có nghĩa là trong điều kiện vô sở trụ tức là không có vị trí nhất định trong không gian (non locality). Cái gì vô sở trụ ? đó là pháp, có thể là vật chất như photon, electron, hoặc phi vật chất như thông tin, sóng tiềm năng.
Nhi sinh kỳ tâm nghĩa là xuất hiện cái tâm. Cái tâm (citta) là cái gì ? Đó là cái tâm bản nguyên mà Duy Thức học gọi là A-lại-da thức (Alaya), nó bao gồm 8 thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức).
Nghĩa là khi có sở trụ thì đó là pháp, có thể là pháp hữu hình như hạt cơ bản của vật chất (particles) hoặc các loại cấu trúc phức tạp của nó như nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, sơn hà đại địa, núi sông biển đảo, vũ trụ vạn vật. Hoặc là pháp vô hình như tình cảm, tình yêu, tư tưởng, văn hóa phi vật thể.
Còn khi vô sở trụ thì đó là tâm. Tại sao lại như thế ? Đây chính là điều vô cùng bí mật đã được khai mở ngoạn mục. Ban đầu đó là thí nghiệm kỳ bí về hai khe hở. Các nhà vật lý đã vô cùng bối rối không hiểu được tại sao khi cho từng hạt electron bay qua một tấm chắn có hai khe hở, nếu không có ai quan sát hoặc đặt thiết bị theo dõi, thì cái màn hứng phía sau lại cho ra giao thoa dạng sóng. Còn nếu có người quan sát hoặc đặt thiết bị theo dõi thì màn hứng phía sau lại thể hiện dạng hạt, nghĩa là chỉ có hai vạch tương ứng với hai khe hở.
Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ
Bí mật này đã lộ rõ trong cuộc tranh cãi vô tiền khoáng hậu giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 20. Niels Bohr và Albert Einstein đã có cuộc tranh cãi khoa học dài dằng dặc từ năm 1935 cho đến khi cả hai ông đều qua đời (Einstein mất năm 1955, Bohr mất năm 1962) vẫn chưa ngã ngũ. Cho mãi đến cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 thì vấn đề mới được giải quyết. Hai ông tranh cãi về vấn đề gì ? Trọng tâm của cuộc tranh luận nằm ở chỗ pháp (cụ thể là hạt photon) có tự tính hay không, nghĩa là hạt photon lúc nào cũng có sẵn các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin (đây là quan điểm duy vật khách quan), hay các đặc trưng đó chỉ xuất hiện khi có người quan sát, đo đạc (đây là quan điểm duy tâm chủ quan). Einstein bảo vệ lập trường duy vật khách quan, còn Bohr bảo vệ lập trường duy tâm chủ quan.
Không biết Bohr có thâm cứu Phật pháp hay không, hay là ông chỉ dựa trên thực tế thí nghiệm mà phán đoán. Nhưng chúng ta thấy lập trường của Bohr rất tương đồng với PG. Bởi vì PG từ xa xưa đã nói rõ rằng Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Mặt khác kinh Hoa Nghiêm đã nói hết sức rõ ràng : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 (Everything has no characters Tất cả các pháp đều không có tự tính). Như vậy rõ ràng hạt photon hoặc hạt electron theo kinh Hoa Nghiêm là không có sẵn tự tính, nếu không có ai quan sát thì chúng chỉ là sóng vô hình, không có vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin. Chỉ khi có người hoặc thiết bị quan sát đo đạc thì các đặc trưng kia mới xuất hiện. Đức Phật là bậc giác ngộ đã nói ra điều đó, có ghi chép hẳn hòi trong kinh điển.
Einstein tuy cũng hâm mộ PG nhưng có thể chưa xem kinh Hoa Nghiêm, hoặc nếu có xem qua cũng không tin, vì vậy ông đã tranh luận kịch liệt với Niels Bohr, cuối cùng thí nghiệm của Alain Aspect đã xác nhận quan điểm của Einstein là sai, vật không có sẵn tự tính đúng như kinh điển nói. Chúng ta hãy xem lại clip mô tả cuộc tranh luận này.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Pháp hay vật được kinh điển xưa nói là vô sở trụ nhằm mô tả tính chất không có vị trí nhất định của vật mà ngày nay gọi là bất định xứ (non locality). Ngoài ra cả câu : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm còn phát hiện thêm một điều vô cùng quan trọng nữa. Vật không có sẵn đặc trưng, nhưng tại sao con người luôn luôn thấy vật có những đặc điểm riêng biệt, đến mức nhà vật lý thiên tài Einstein cả quyết rằng vật lúc nào cũng có đặc trưng. Phát hiện của PG đó là Nhi sinh kỳ tâm, nghĩa là tâm xuất hiện, tâm gán ghép tập khí của cá thể chúng sinh (mạt-na thức) để thành đặc trưng của vật, có nghĩa là vật với các đặc trưng (cụ thể là các hạt cơ bản, nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất) là tưởng tượng của tâm chứ không phải có thật. Kinh điển dùng thuật ngữ Thế lưu bố tưởng để mô tả tình hình tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến qua nhiều đời.
Ưng vô sở trụ chỉ nêu một điều làm đại diện là vị trí, đó là điều quan trọng then chốt, trong điều kiện chưa có đặc trưng về vị trí, hay nói cho đầy đủ là trong điều kiện chưa có bất cứ đặc trưng nào thì tâm bản nguyên xuất hiện, đó là tâm giác ngộ, tâm tự giác hay chánh biến tri, còn khi đã có mọi đặc trưng, thì không phải là tâm giác ngộ mà là ý thức điên đảo mộng tưởng qua bộ não của cá thể chúng sinh.
Bây giờ chúng ta sẽ dịch lại câu này ra ra tiếng Anh và tiếng Việt với ý nghĩa cụ thể như đã phân tích trên trước khi bàn tiếp về mặt ứng dụng trong đời thường của nó.
Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 In the condition of non locality, that mind (citta) appears – Trong điều kiện bất định xứ, cái tâm ấy xuất hiện.
Ứng dụng của vô sở trụ
Ngày xưa các Phật tử học Phật pháp, đọc đến câu này chỉ hiểu một cách mơ hồ, chứ không có điều kiện hiểu rõ. Ngày nay với sự hỗ trợ của khoa học, chúng ta hoàn toàn hiểu rõ và ứng dụng được trong thực tế. Đó chính là ý tưởng chủ đề của bài Phật Pháp Ứng Dụng này. Điều đó cũng giống như Tô Thức có nhận thức trực quan về vô sở trụ mà ông có trình bày trong bài từ có tựa là Thủy Điệu Ca Đầu 水調歌頭 hay còn gọi là Minh Nguyệt Kỷ Thời Hữu 明月幾時有 trong đó ý tưởng chính xoay quanh hai câu :
Đản nguyện nhân trường cửu Chỉ mong sao đời người trường thọ
Thiên lý cộng thuyền quyên Sơn hà nghìn dặm một ánh trăng
Chúng ta hãy xem toàn bộ bài từ được phổ nhạc :
145Đản Nguyện Nhân Trường Cửu – Tô Thức – Đặng Lệ Quân – Việt dịch
Tô Thức nghĩ đến Mặt trăng trên trời cao, hai người ở hai nơi xa nhau trên mặt đất cùng thấy Mặt trăng, cũng coi như liên lạc được với nhau qua ánh trăng. Người xưa chỉ có thể thực nghiệm tới mức đó thôi. Chưa có gì rõ ràng cụ thể, ấn tượng. Nhưng nhận thức vô sở trụ trong kinh điển đã được chứng thực rõ ràng trong thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành năm 1982 tại Paris. Về sau đến năm 2008, Nicolas Gisin đã lặp lại thí nghiệm tại Thụy Sĩ với phương tiện hiện đại, chính xác hơn, đảm bảo rằng hiện tượng liên kết lượng tử là có thật và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong tin học nhất là smartphone.

Nicolas Gisin của Đại học Geneva
Nhận thức vô sở trụ của Tô Thức (1037-1101) thể hiện qua câu Thiên lý cộng thuyền quyên còn rất mơ hồ. Ngay cả Werner Heisenberg khi đưa ra nguyên lý bất định năm 1927, mặc dù đã nhận ra tính vô sở trụ của hạt electron, nhưng cũng chưa hình dung hết ý nghĩa cực kỳ quan trọng của nguyên lý bất định, không phải chỉ có vị trí của hạt electron là bất định, mà tất cả mọi đặc trưng của tất cả hạt cơ bản (basic particles) và cả các cấu trúc nguyên tử, phân tử của chúng đều bất định. Còn nhận thức của con người ngày nay đã khá rõ ràng. Photon và electron bản chất là tánh không, là sóng tiềm năng và vô sở trụ. Khi chúng ở dạng sóng trong đường truyền, hay sóng wifi, 3G, 4G trong không gian thì chúng vô sở trụ (non locality), còn khi chúng được thiết bị kỹ thuật số nhận thức, nhận dạng (recognize, recognition) thì chúng trở thành hạt và xuất hiện ở vị trí nhất định (trên màn hình computer, laptop hoặc smartphone). Kỹ thuật số còn ứng dụng nguyên lý thay thế để biến chúng thành chữ viết, hình ảnh, video, âm thanh, màu sắc. Trong tương lai, còn có khả năng biến chúng thành hương thơm, thúi (khứu giác), hoặc chất vị (vị giác, cảm giác do lưỡi nếm) và thân thức (cảm giác do tiếp xúc thân thể).
Khi thực hiện được đầy đủ mọi chức năng của sinh vật, con người sẽ có khả năng gởi các cố thể vật chất đi xa bằng cách biến cố thể vật chất thành sóng tiềm năng và biến chúng trở lại thành cố thể vật chất ở tại cảnh giới mà con người muốn chúng đến mà không hề có sự di chuyển (bởi vì vô sở trụ, không gian không có thật), khoảng cách không gian vũ trụ không còn ý nghĩa.
Hoạt động này hiện nay còn là viễn tưởng, nhưng đã được con người hình dung qua video sau đây :

Vin Ti Và Máy Tính Lượng T – Quantum Teleportation And Computer

Tuy hiện nay khoa học chưa thực hiện được viễn tải lượng tử đối với một cố thể vật chất, nhưng theo kinh điển Phật pháp, các vị Phật và Bồ Tát có thể làm được dễ dàng. Và ngay trong thời đại ngày nay, một số nhà đặc dị công năng cũng làm được. Ví dụ Hầu Hi Quý có thể viễn tải một gói thuốc lá đi xa hàng ngàn cây số trong nháy mắt.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VỀ VIỆC BIẾN RA THUỐC LÁ CỦA HẦU HI QUÝ
Trở lại với Tô Thức, ông mơ hồ cảm nhận hai con người ở hai nơi cách xa hàng ngàn dặm, vẫn có một vật chung cùng thấy được đồng thời, đó là Mặt trăng. Như vậy giữa hai người ắt có một mối liên lạc luôn luôn tồn tại. Còn con người ngày nay thì nhận thức được rõ ràng hơn rất nhiều, đúng là có một mối liên lạc luôn tồn tại, đó là liên kết lượng tử, giữa hai photon, giữa hai electron, giữa hai nguyên tử, giữa hai phân tử, giữa hai cố thể vật chất.
Năm 2012, với thí nghiệm tạo được liên kết lượng tử giữa 100.000 photon của Maria Chekhova của đại học Moscow càng khiến cho nhận thức của nhân loại tiến xa thêm một bậc nữa. Ý nghĩa triết học của thí nghiệm này là số lượng không có thật (non quantity). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau hoặc nhiều hơn nữa đến mức vô lượng vô biên, điều đó cho phép suy ra rằng bản ngã của cá thể là không có thật. Một trăm ngàn photon xuất hiện đồng thời tại một trăm ngàn vị trí khác nhau, mỗi photon không hoàn toàn giống các photon khác, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau, chẳng hạn vị trí khác nhau, số đo spin khác nhau. Như vậy một photon đã đồng thời biến thành 100.000 photon khác nhau.

Maria Vladimirovna Chekhova
Như vậy chúng ta có thể tin rằng 7 tỷ người trên quả địa cầu là 7 tỷ mạt-na thức khác nhau, nhưng xuất phát chỉ là cùng một a-lại-da thức. Không gian vũ trụ, địa cầu, các cảnh giới rất khác nhau trên địa cầu, thật ra chỉ là tưởng tượng, không phải là có thật, các cảnh giới chỉ là tưởng của bộ não của 7 tỷ mạt-na thức, trong đó có nhiều điểm giống nhau (từ đó cho là khách quan) và cũng có nhiều điểm khác nhau (từ đó cho là mỗi cá nhân đều có đặc điểm riêng do thông tin chứa trong các mạt-na thức khác nhau). Chúng ta có thể dùng tin học để dễ hình dung. Đại khái thì tất cả smartphone đều giống nhau, chúng đều có màn hình, bộ vi xử lý, loa, micro, camera, ổ đĩa cứng, bộ nhớ RAM, hệ điều hành (operation system). Nhưng chúng cũng có những điểm khác nhau như : dung lượng các bộ nhớ, tốc độ xử lý, độ nét của màn hình, độ phân giải, khẩu độ của camera, hệ điều hành có thể khác nhau như IOS của Iphone, hệ điều hành Android, hệ điều hành Windows phone…Ngoài ra các softwares (app hay ứng dụng – applications) của chúng cũng khác nhau.
Tóm lại Tô Thức chỉ mơ hồ cảm nhận giữa hai con người sống ở hai nơi khác nhau, có một mối dây liên hệ là Mặt trăng. Hai người cùng nhìn Mặt trăng thì cảm tưởng như tiếp xúc được với nhau. Còn con người ngày nay thì sao ? Chẳng hạn một người ở Luân Đôn, một người ở Hà Nội, hoàn toàn có thể nhìn thấy nhau thật rõ ràng, nghe rõ tiếng nói của nhau, trao đổi thông tin cho nhau thật tường tận bằng lời thoại, văn bản, hình ảnh, video…Và đến một lúc nào đó trong tương lai khi con người thực hiện được viễn tải lượng tử, một con người thật bằng xương bằng thịt có thể xuất hiện tức thời ở bất cứ nơi nào muốn tới chỉ trong nháy mắt, giống như trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không có thể đi tới bất cứ cảnh giới nào chỉ trong chốc lát.
Đó chính là ý nghĩa của Vô Sở Trụ, một nhận thức của Phật pháp, nay đã được khoa học ứng dụng rất phổ biến với smartphone.
Với một chiếc smartphone màn hình khá lớn, cỡ 5.5 inches, chúng ta có thể đọc báo thoải mái trên mạng internet, không tùy thuộc đang ở đâu trên địa cầu, chỉ cần có điều kiện là truy cập được internet, đó chính là ứng dụng của vô sở trụ mà ngày xưa Tô Thức lờ mờ cảm thấy.
Ứng dụng của Nhất thiết pháp vô tự tính
Cuộc tranh luận về một điểm mấu chốt vô cùng cơ bản giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới Niels Bohr và Albert Einstein, cuối cùng xác nhận một điều là Tất cả các pháp, các sự vật đều không có tự tính. Các đặc trưng, đặc điểm của vật chỉ là do con người tưởng tượng, gán ghép cho vật.
Nguyên lý này ngày nay được ứng dụng rất nhiều trong tin học. Như chúng ta đã biết, tin học dựa trên kỹ thuật số (digital), biến tất cả mọi đặc điểm thành con số, và người ta sử dụng hệ đếm nhị phân cho thật giản tiện. Hệ đếm này chỉ có hai cơ số 0 và 1. Số 0 ký hiệu cho mạch điện ngắt (không có dòng điện), số 1 ký hiệu cho mạch điện đóng (có dòng điện). Người ta quy ước tùy tiện mỗi chữ cái Latin, mỗi ký hiệu (symbol) trong đó kể cả chữ số Ả rập là một con số nhất định. Mỗi màu sắc trong hàng triệu màu khác nhau cũng là một con số. Mỗi mức độ sáng tối của ánh sáng, mỗi cung bậc âm nhạc, âm thanh đều tương ứng với những con số nhất định. Tất cả mọi tính chất, đặc điểm đều qui thành con số và được lưu trữ trong bộ nhớ dưới dạng ký hiệu số nhị phân, và khi xử lý, giải mã để thể hiện qua bộ vi xử lý bằng dòng điện cũng dựa trên quy tắc số nhị phân.
Như vậy trong bộ nhớ kỹ thuật số, tất cả chỉ là hàng hàng lớp lớp những con số, nó không có bất cứ đặc tính, đặc điểm gì cả. Chỉ khi qua bộ vi xử lý, gán ghép cho mỗi con số một đặc điểm theo qui ước và khi hiển thị trên màn hình hoặc phát ra thành sóng âm thanh, thì muôn vàn con số ấy sẽ biến thành văn bản, hình ảnh, video, âm thanh mà chúng ta thấy quen thuộc và hiểu được.
Bộ vi xử lý trong máy tính hoặc smartphone, đóng vai trò giống như bộ não con người. Trước khi qua bộ não, pháp hay vật, cụ thể là photon, electron, các hạt cơ bản, không có bất cứ đặc điểm gì, chúng chỉ là sóng tiềm năng mà thôi. Chính bộ não cùng với ký ức của nó gán ghép các đặc tính, đặc trưng này nọ cho các hạt cơ bản, rồi hình thành các đặc tính của nguyên tử, phân tử và các cố thể vật chất cùng với vô số khái niệm khác.
Thế thì trong thế giới đời thường và thế giới tin học có cùng một điểm chung, đó là bản chất thực thể của tất cả các pháp, tất cả mọi hiện tượng chỉ là tánh không, không có bất cứ đặc điểm, đặc tính, tính chất gì cả, nhưng cái không (sunyata = emptiness) cơ bản đó có dạng sóng tiềm năng, vô hình, và có chứa thông tin dưới dạng mật mã. Trong bộ nhớ tin học (đĩa cứng = hard disk, thẻ nhớ = memory card) thì chúng ta biết rõ, đó là những dãy số nhị phân chỉ có hai ký hiệu 0 và 1, chúng là vô số những con số đặt kế bên nhau. Còn trong bộ vi xử lý (processor) thì chúng là những mạch điện cực kỳ nhỏ nằm sát nhau, ngày nay các mạch điện chỉ còn cách nhau khoảng 10 nanometres, chúng rung động với tần số hàng tỷ lần trong một giây. Ví dụ :

Con chip Core i7 6700 của hãng Intel có tần số dao động 3 tỷ 400 triệu Hertz một giây (3.4Ghz)
Với tốc độ xử lý cao như vậy, mỗi giây nó có thể gán ghép rất nhiều đặc điểm, khiến cho hằng hà sa số con số nhị phân vốn vô nghĩa, trở thành có ý nghĩa quen thuộc với con người, chẳng hạn văn bản, hình ảnh, video, âm thanh. Nếu không có bộ vi xử lý và hệ thống phụ trợ, thẻ nhớ chẳng có nghĩa lý gì cả. Tương tự như vậy, nếu không có bộ não và các cơ quan chức năng trong cơ thể, thế giới địa cầu, hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ, chỉ là sóng tiềm năng phi vật chất, là tánh không, chẳng có gì cả.
Các nhà khoa học kỹ thuật hiện đại có thể không biết tới Phật pháp của Thích Ca, nhưng càng đi sâu nghiên cứu vật lý học, họ càng phát hiện lại nhiều điều mà Phật pháp đã nêu rõ trong kinh điển. Chẳng hạn nếu Einstein có đọc và hiểu kinh Hoa Nghiêm thì không cần phải mất 30 năm tranh luận (1935- 1955) với Niels Bohr, để rồi cuối cùng cũng thua.
Ứng dụng của Tam Pháp Ấn (vô thường, khổ, vô ngã) trong thế giới hiện đại
Thế giới hiện đại là thời kỳ khoa học phát triển đạt trình độ cao, đặc biệt tin học rất phát triển, thông tin giữa các cá nhân trên toàn thế giới rất dễ dàng thuận tiện qua mạng internet, nhanh cấp kỳ và rẻ tiền, thuận lợi nhất là qua các app OTT (Over The Top) như Viber, Zalo, Whatsapp.
Trong thế giới hiện đại, kinh tế kỹ thuật sản xuất phát triển, sản phẩm hàng hóa dư thừa, cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty và giữa các quốc gia.
Trên qui mô quốc gia, không chỉ có cạnh tranh kinh tế, mà sự tranh giành còn quyết liệt hơn về mặt sức mạnh quân sự và vũ khí để tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, không gian sống và hoạt động.
Đối với các nền dân chủ truyền thống như Tây Âu và Mỹ, tự do cá nhân là quan trọng, họ đề cao nhân quyền, họ có chế độ bầu cử dân chủ để chọn lựa người cầm quyền, đứng đầu là tổng thống, bên dưới là các nghị sĩ hay đại biểu của quốc hội, xây dựng hiến pháp và luật lệ rõ ràng để điều hành đất nước theo cơ chế tam quyền phân lập bao gồm : cơ quan lập pháp là Quốc hội (Parliament), cơ quan hành pháp là Chính phủ (Government), cơ quan tư pháp là Tòa án (Court) để giải quyết vấn đề giữa các cá nhân hay phán quyết một điều gì đó có hợp pháp (legal) hay không.
Mỹ là quốc gia rất coi trọng dân chủ, tự do, đồng thời là nước có nền kinh tế phát triển đứng đầu thế giới, cũng là nước có sức mạnh quân sự đứng đầu thế giới. Kể từ năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ nghiễm nhiên trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới. Mỹ cũng là nước có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất, là nước duy nhất cho đến nay đưa được người lên Mặt trăng vào năm 1969, là nước đưa phi thuyền thám hiểm không gian đi xa địa cầu nhất. (Phi thuyền Voyager 1 phóng đi ngày 5-9-1977 đến ngày 25-8-2013, sau 36 năm du hành, với dữ liệu thông tin nhận được từ phi thuyền, người ta đoán rằng nó đã rời khỏi hệ Mặt trời, đi vào vùng không gian liên hành tinh, và cách xa địa cầu 19 tỷ km).
Những thành quả mà nước Mỹ đóng góp cho nhân loại là không thể phủ nhận, chẳng hạn Mỹ là nơi xuất phát của ngành hàng không thế giới, hai anh em Orville Wright (1871-1948) và Wilbur Wright (1867- 1912) là những người đầu tiên chế tạo được máy bay, bay thử thành công năm 1903, lần bay cuối cùng trong đợt thí nghiệm đó do Wilbur thực hiện, bay được 59 giây, xa 296 m). Sau đó ngành công nghiệp sản xuất máy bay của Mỹ phát triển mạnh mẽ, hãng Boeing thành lập năm 1916, đến nay vẫn được coi là công ty sản xuất máy bay lớn nhất thế giới. Mỹ cũng là nơi có thung lũng silicon, chiếc nôi của ngành tin học, máy tính, với hệ điều hành Windows, của hãng Microsoft do tỷ phú Bill Gates (sinh năm 1955) sáng lập, phổ biến khắp thế giới. Ngoài ra Google, Facebook, là những tập đoàn tin học lừng danh, có ảnh hưởng rất lớn trên thế giới. Mỹ cũng là quốc gia có nhiều người đoạt giải Nobel, một giải thưởng danh giá nhất thế giới. Theo tổng kết đến năm 2014, số người Mỹ đoạt giải Nobel là 359 người trong tổng số 876 cá nhân đoạt giải đến thời điểm đó trên toàn thế giới, chiếm 40 % toàn cầu.
Nhưng nước Mỹ cũng không thể tránh khỏi luật vô thường, một trong tam pháp ấn của PG. Nước Mỹ không thể giữ mãi địa vị độc tôn. Sau khi thắng trận trong Thế Chiến thứ hai, đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, nước Mỹ lên như diều gặp gió, trở thành cường quốc đứng đầu thế giới với sức mạnh toàn diện, khoa học kỹ thuật, tài chính tiền tệ, kinh tế, quân sự.
Tuy vậy, Mỹ đã không thể giành chiến thắng trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) mặc dù có ưu thế về vũ khí và quân sự với sự tham gia của quân đội một số nước trong Liên Hiệp Quốc, bởi vì trước một lực lượng quân đội đông đảo với 800 ngàn quân và chấp nhận gian khổ của TQ, có Liên Xô hậu thuẫn, dù trang bị vũ khí kém hơn, nên cuộc chiến đã bất phân thắng bại, rốt cuộc hai bên tạm thời đình chiến lấy làng Bàn Môn Điếm làm ranh giới cho tới nay.
Đến chiến tranh Việt Nam 1960-1975, Mỹ đã can thiệp mạnh mẽ trong khoảng 10 năm (1965-1975) nhưng cuối cùng thất bại, rút lui, để cho Miền Bắc thống nhất cả nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Dù cho có vũ khí tối tân, quân lực hùng hậu nhưng Mỹ vẫn thất bại.
Năm 2001, Mỹ tấn công Taliban tại Afghanistan, tuy đánh đổ được chính quyền Taliban, nhưng không bình định được, cho đến nay lực lượng Taliban vẫn còn hoạt động.
Năm 2003 Mỹ tấn công Iraq lấy cớ chính quyền của nước này do Saddam Hussein lãnh đạo, sở hữu vũ hủy diệt hàng loạt, nhưng lý do đó chỉ là cái cớ không có thật, tuy diệt được Hussein nhưng không bình định nổi Iraq, khiến tình hình nước này vô cùng hỗn loạn, những vụ đánh bom tự sát xảy ra liên miên, dân chúng chết chóc, khổ sở lầm than. Ngày 29-06-2014 bọn IS đã đánh chiếm một phần Iraq và Syria.
Ngày 19-03-2011 Mỹ, Anh, Pháp cùng tấn công nước Libya của chính quyền Moammar Gadhafi lấy lý do chính quyền này thảm sát thường dân, nhưng đó chỉ là lý do không xác đáng. Họ tiêu diệt được Gadhafi, nhưng Libya rơi vào hỗn loạn, dân chúng không được bất cứ lợi lộc gì, chỉ có khổ sở lầm than do các nhóm phiến quân tranh giành quyền lực.
Ngày 26-01-2011, nổi lên phong trào được mệnh danh là Mùa Xuân Ả Rập bắt đầu từ cuối năm 2010 nhằm lật đổ một số chính phủ bị coi là độc tài tham nhũng, Mỹ và các nước phương tây rất ủng hộ phong trào này, Mỹ ủng hộ các đám biểu tình bị chính quyền đàn áp, sau đó ủng hộ các nhóm phiến quân nổi dậy, nhằm lật đổ chính quyền của tổng thống Bashar al-Assad của nước Syria. Cuộc chiến tranh kéo dài gây chết chóc đau thương cho người dân mà chưa lật đổ được Assad. Ngày 30-09-2015 nước Nga của tổng thống Putin can thiệp, giúp chính quyền Assad lật ngược thế cờ, khiến cho tham vọng lật đổ chính quyền Assad của Mỹ ngày càng xa vời.
Cuộc cách mạng Euromaidan diễn ra vào tháng 2-2014 do nhóm đối lập với chính phủ Yanukovych (người đã đắc cử tổng thống Ucraina -Україна- năm 2010) tiến hành với sự ủng hộ của Mỹ và phương tây, đã lật đổ thành công chính phủ Yanukovych, thành lập một chính phủ mới do tổng thống Petro Poroshenko lãnh đạo. Những người gốc Nga tại Ucraina đã phản ứng với sự trợ giúp của nước Nga dưới sự lãnh đạo của tổng thống Putin, chống lại chính quyền mới của Kiev, họ đã tổ chức trưng cầu dân ý ngày 16-03-2014 và theo kết quả cuộc trưng cầu, quyết định sáp nhập lãnh thổ Crimea (Крым) vào nước Nga. Ngoài ra những người thân Nga tại hai bang miền đông Ucraina là Donetsk và Luhansk đã nổi dậy vũ trang chống lại chính quyền mới tại Kiev với sự trợ giúp của Nga, khiến cho Ucraina lâm vào nội chiến, làm cho đời sống của nhân dân cực kỳ tồi tệ.
Sau khi điểm qua một số nét chính của tình hình chính trị thế giới trong những năm gần đây, chúng ta thấy điều gì ? Chúng ta thấy rằng siêu cường số một thế giới Hoa Kỳ đã hết thời, họ không thể thoát khỏi luật vô thường. Họ can thiệp vào đâu cũng không đem lại kết quả gì tốt đẹp, trái lại càng làm cho tình hình tồi tệ thêm rất nhiều. Những cuộc can thiệp vào Afghanistan và Iraq khiến chính quyền Mỹ tốn nhiều tiền của và hao tâm tổn trí, khiến cho sức mạnh Mỹ càng mau cạn kiệt. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tiêu biểu là Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản, tiếp theo sau là một số công ty khác, càng khiến Mỹ sa sút.
Giờ đây sức mạnh kinh tế của Mỹ bị TQ thách thức và vượt qua. Năm 2014 đánh dấu GDP của Mỹ tính theo ngang giá sức mua (PPP= Purchasing Power Parity) đã bị TQ vượt qua, ngày nay ngành công nghiệp sản xuất và tiêu thụ xe hơi Mỹ sau 100 năm thống trị, bắt đầu với dây chuyền sản xuất xe hơi của Henry Fort, khởi nghiệp năm 1914, đến nay cũng đã bị TQ vượt qua. Số người sử dụng internet, số người sử dụng smartphone, thương mại điện tử, các ngân hàng lớn nhất thế giới, cán cân thương mại giữa hai quốc gia…đều nghiêng về phía TQ.
Sức mạnh quân sự của Mỹ tiêu biểu là 10 chiếc hàng không mẫu hạm, với nhiều tàu chiến, tàu ngầm, máy bay, xe tăng, tên lửa hành trình, hiện cũng bị Nga và TQ thách thức. Cụ thể là năm 2014, Nga can thiệp vào Ucraina, sáp nhập Crimea vào lãnh thổ Nga, bất chấp việc Mỹ và phương tây trừng phạt kinh tế; tháng 9-2015, Nga đã can thiệp vào Syria, trực tiếp giúp chính quyền của Assad chống lại bọn ISIS (Islamic State in Iraq and Syria) gọi tắt là IS và các nhóm phiến quân do Mỹ và các nước phương tây ủng hộ. Còn ở Biển Đông và biển Hoa Đông, TQ cũng thách thức Mỹ với việc lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ = Air Defense Identification Zone) tại biển Hoa Đông trùng lấn với vùng phòng không của Nhật và thường xuyên cho tàu hải cảnh và đôi khi cả máy bay xâm nhập đảo Sensaku/Điếu Ngư mà Nhật và TQ đều tuyên bố chủ quyền, bất chấp Nhật là đồng minh thân thiết của Mỹ và có hiệp ước an ninh hỗ tương. Ngoài ra TQ còn xây dựng 7 đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa có mục đích kiểm soát Biển Đông. Đến tháng 7-2015, TQ đã bồi đắp thêm tại các đá của Trường Sa như sau :
Cuarteron Reef (Đá Châu Viên华阳礁 Hoa Dương Tiều) 231 100 m2
Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập永暑礁 Vĩnh Thử Tiều) 2470 000 m2
Gaven Reef (đá Ga ven và đá Lạc南薰 礁 và 小南薰礁 Nam Huân Tiều và Tiểu Nam Huân Tiều)
136 000 m2
Hughes Reef (Đá Tư Nghĩa 东门礁 Đông Môn Tiều) 76 000 m2
Johnson South Reef (Đá Gạc Ma赤瓜礁 Xích Qua Tiều) 109 000 m2
Mischief Reef (Đá Vành Khăn美济礁 Mỹ Tế Tiều) 5 580 000 m2
Subi Reef (Đá Subi渚碧礁 Chữ Bích Tiều) 3 950 000 m2
Tổng cộng diện tích bồi đắp : 12 552 100 m2

Việc Mỹ can thiệp lật thành công các nhà độc tài Saddam Hussein của Iraq và Moammar Gadhafi của Libya và mưu toan lật đổ Al- Assad của Syria nhưng bất thành, khiến cho chính quyền Bắc Triều Tiên lo lắng. Họ không hoàn toàn tin tưởng ở sự bảo vệ của TQ, nên dốc sức chế tạo bom nguyên tử để tự vệ, họ cũng cố gắng chế tạo các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân có thể phóng đi từ mặt đất hoặc tàu ngầm để răn đe Mỹ tấn công. Từ thời của Kim Yong Il (Kim Chính Nhật), Bắc Triều Tiên đã hai lần thử bom hạt nhân vào năm 2006 và 2009. Đến thời con là Kim Yong Un (Kim Chính Ân), hoạt động này càng được đẩy mạnh với ba lần thử hạt nhân, một lần vào năm 2013, và hai lần trong năm 2016.
Liên Hiệp Quốc nhiều lần ra nghị quyết trừng phạt Bắc Triều Tiên nhưng không hiệu quả. Mỹ muốn tấn công tiêu diệt các cơ sở hạt nhân của nước này nhưng chưa dám thực hiện vì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, Bắc Triều Tiên có lực lượng quân sự và vũ khí rất hùng hậu sau bao năm chuẩn bị, lực lượng pháo binh rất mạnh có thể tấn công gây thiệt hại nặng cho thủ đô Seoul của Hàn Quốc, các tên lửa có thể bắn phá các căn cứ quân sự của Mỹ tại Hàn Quốc, Nhật Bản và đảo Guam. Bắc Triều Tiên cũng lớn tiếng đe dọa đánh chìm hàng không mẫu hạm của Mỹ mặc dù khả năng thực tế chưa có gì chứng thực.
Mỹ hay tiến hành các hoạt động lật đổ chính quyền các nước khác, những chính quyền mà họ cho rằng độc tài, tàn bạo, không dân chủ. Chính những hoạt động đó khiến cho những nước nhỏ hoặc trung bình như Bắc Triều Tiên, Iran, cảm thấy bất an, họ muốn có vũ khí hạt nhân để răn đe, chủ yếu là để tự vệ. Thế rồi chính Mỹ lại cảm thấy bất an khi Bắc Triều Tiên chế tạo được bom hạt nhân và tên lửa tầm xa có thể bắn tới các căn cứ của Mỹ tại Hàn Quốc, Nhật Bản, đảo Guam và lãnh thổ Mỹ. Mỹ và Hàn Quốc năm nào cũng tập trận ngoài khơi và trên lãnh thổ Hàn Quốc kéo dài cả hai tháng gọi là Đại Bàng Non (Foal Eagle) nhằm răn đe Triều Tiên, còn nước này thì lớn tiếng đe dọa sẽ tấn công hạt nhân vào lãnh thổ Mỹ nếu bị tấn công quân sự. Sự tiến bộ về công nghệ quân sự của Triều Tiên khiến Mỹ ngày càng bất an. Hai nước cứ ở trong vòng luẩn quẩn mê muội. Thật ra không nước nào dám tấn công trước, bởi vì hậu quả sẽ rất thảm khốc. Nhưng tình hình cứ căng thẳng giả tạo để cho truyền thông có dịp đưa tin giật gân.
Bắc Triều Tiên trở thành vấn đề nan giải của Mỹ. Sức mạnh quân sự Mỹ với 10 chiếc hàng không mẫu hạm ngày nay có vẻ đã lỗi thời, bởi vì các nước như Nga, TQ, và ngay cả nước nhỏ như Bắc Triều Tiên cũng rêu rao sở hữu những tên lửa có khả năng đánh chìm hàng không mẫu hạm ở khoảng cách rất xa, mà người ta gọi là chống tiếp cận, chống xâm nhập (Anti-Access/Area Denial– A2/AD). Thiếu tướng Bành Quang Khiêm, Phó chủ tịch Ủy ban chính sách an ninh Trung Quốc tự tin tuyên bố tại Diễn đàn Hòa bình thế giới lần thứ 5 do Trung Quốc tổ chức tại Hong Kong, rằng Mỹ có 10 tàu sân bay, nhưng cho dù có đưa 11 tàu sân bay đến Biển Đông thì cũng “không chiếc nào trở về được” nếu xảy ra chiến sự. Tuyên bố của phía TQ không phải là hù dọa suông, bởi vì họ có những tên lửa mệnh danh là sát thủ diệt hạm DF-21D có khả năng đánh chìm hàng không mẫu hạm ở khoảng cách xa 1500 km, họ có loại vũ khí siêu thanh bay với vận tốc gấp 10 lần âm thanh, không thể đánh chặn. Ngoài ra họ còn có khả năng phá hỏng các vệ tinh trong hệ thống định vị toàn cầu GPS, nên những vũ khí tối tân của Mỹ như tên lửa hành trình không chắc phát huy được tác dụng nếu xảy ra chiến tranh toàn diện.
Thực tế đã chứng minh rõ ràng không thể chối cãi rằng vũ khí quy ước tối tân của Mỹ chỉ có thể thắng những nước nhỏ đơn độc như Afghanistan, Iraq, Libya…còn những nước nhỏ mà có nước lớn hậu thuẫn như Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Syria, Mỹ không thể thắng.
Có rất nhiều chỉ dấu cho thấy nền truyền thông tự do và chế độ dân chủ của Mỹ là có vấn đề, không còn đáng tin cậy, bởi vì ai muốn nói sao cũng được, không ai kiểm duyệt :
Thứ nhất, họ nói kinh tế tài chính TQ sắp sụp đổ đến nơi, và họ đã nói như vậy suốt hơn 20 năm qua, với lý do một đảng độc tài toàn trị, tham nhũng, thiếu dân chủ không thể quản lý nền kinh tế hiệu quả, và nợ trong xã hội tăng lên quá nhanh và quá cao, nhưng đến nay TQ vẫn chưa sụp đổ.
Thứ hai, trong suốt cuộc bầu cử tổng thống vừa qua ở Mỹ, truyền thông luôn dự đoán đến phút chót rằng Bà Hillary Clinton sẽ thắng cử, nhưng kết quả ông Donald Trump đắc cử. Thực tế số phiếu phổ thông của Bà Hillary nhiều hơn Ông Trump 3 triệu phiếu nhưng Ông Trump vẫn đắc cử với số phiếu đại cử tri 301 phiếu, Bà Hillary chỉ được 163 phiếu, các ứng cử viên khác được 6 phiếu. Đó quả thật là một chế độ bầu cử bất cập nhưng không thể sửa đổi được.
Thứ ba, những tin tức trái với thực tế vẫn được đăng tải rầm rộ trên báo chí, như vụ việc Mỹ điều hàng không mẫu hạm Carl Vinson áp sát vùng biển Triều Tiên sẵn sàng tấn công, trong khi thực tế nó ở cách xa Triều Tiên 5600km, và Mỹ sẽ không dám khinh suất mà tấn công Triều Tiên.
Thứ tư, những vụ xả súng bừa bãi tại Mỹ xảy ra rất nhiều, nhưng chính quyền không thể nào hạn chế việc sử dụng súng đạn. Đó là một điểm trừ của nền dân chủ Mỹ.

Không phải chỉ có truyền thông của Mỹ không thể tin cậy hoàn toàn, mà toàn bộ nền truyền thông thế giới đều không thể hoàn toàn tin cậy, bởi một lẽ là nguyên lý bất định, còn trong kinh điển Phật giáo từ lâu đã nói rằng : Tất cả mọi lời nói, mọi mô tả đều không có nghĩa thật. Lưỡng tính sóng hạt của hạt electron chính là tiêu biểu cho nguyên lý bất định. Chúng ta không thể khẳng định electron chỉ là sóng hay chỉ là hạt, hay vừa là sóng vừa là hạt, hoặc không phải sóng cũng không phải hạt. Khẳng định thế nào cũng không đúng, giống như Thiền sư Lâm Tế nói về Tứ Liệu Giản 四料簡 (thẻ tre có chứa 4 thứ).

有時奪人不奪境
有時奪境不奪人
有時人境俱奪
有時人境俱不奪
Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh
Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân
Hữu thời nhân cảnh câu đoạt
Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt
Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh
Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân
Có khi nhân cảnh đều đoạt
Có khi nhân cảnh đều không đoạt.

Đoạt ở đây có nghĩa là buông bỏ

Bài này đúng là nói về nguyên lý bất định mà tiêu biểu là hạt electron

Nhân là người quan sát, cảnh là hạt electron

Người quan sát cũng là tâm

Câu thứ nhất hạt electron có vẻ như độc lập khách quan đối với con người

Câu thứ hai ở trạng thái sóng thì không có hạt electron, chỉ có tâm (Citta hay Alaya)

Câu thứ ba là tánh không, người và cảnh đều là không

Câu thứ tư là thế giới đời thường, có người quan sát và có hạt electron như là chủ thể và đối tượng riêng biệt

Bây giờ chúng ta xét tới những nhận thức sâu xa của Phật giáo về vũ trụ quan, thế giới quan, có thể ứng dụng để giải quyết các vấn đề của thế giới hiện đại như thế nào ?
Chúng ta biết rằng PG có Tam Pháp Ấn : Vô thường, Khổ, Vô ngã.
Vô thường là chuyện vật đổi sao dời trên thế gian, mọi cảnh giới đều luôn luôn biến đổi. Thế kỷ 19, các đế quốc Anh và Pháp thống trị thế giới. Qua thế kỷ 20, Mỹ và Liên Xô đối đầu trong Chiến tranh lạnh. Cuối thế kỷ 20 Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Qua thế kỷ 21, TQ vươn lên thành siêu cường mới, nhiều phương diện đã vượt qua Mỹ. Nước Nga phục hồi địa vị cường quốc mặc dù chỉ về mặt quân sự. Nếu hiểu đó là lẽ tự nhiên, không quá cố chấp, không quá bảo thủ, thì thế giới có thể tránh được những cuộc chiến tranh gây khổ cho dân chúng.
Chính vì vô thường nên các nước từng là siêu cường thế giới cảm thấy khổ, không đành lòng để nước khác vượt qua, nên tìm cách ngăn cản, do đó hay xảy ra chiến tranh. Nguyên do vì sự chấp ngã. Cá nhân của mỗi người có cái ta (ngã). Một nước cũng có cái ngã gọi là thể diện quốc gia, cái đó có khi còn lớn hơn cái ta riêng, nên nhiều khi người ta chấp nhận hi sinh tính mạng để bảo vệ màu cờ sắc áo của dân tộc, quốc gia. Đã có ngã thì ắt có ngã sở, đó là danh dự của ta, tài sản của ta, tổ quốc, giang sơn, biển đảo của ta. Theo Phật pháp, chấp ngã là một khái niệm sai lầm, mê muội, và là đầu mối của đau khổ. Từ chấp ngã dẫn đến khái niệm có những thứ của ta, và mâu thuẫn với người khác, đó là đầu mối của tranh chấp và chiến tranh. Vấn đề tranh giành biển đảo giữa các quốc gia hiện nay chính là biểu hiện mê lầm của chấp ngã. Nếu cứ khăng khăng cố chấp một cái gì đó cố định thì là mê muội và khổ, dù đó là tiền tài, danh vọng, địa vị, nhan sắc, giang sơn, biển đảo, tổ quốc, dân tộc.
Nguyên lý bất định cho chúng ta biết rằng tuy cảnh thế gian có vẻ rất hiện thực, vững chắc, nhưng không phải hoàn toàn chân thực, và những lời dạy của Đức Phật về tánh không, vô ngã, tuy có vẻ xa xôi, trái với cảm giác thường nghiệm, nhưng không phải là không có sự thật trong đó. Nếu con người, nhất là các chính phủ hiểu Phật pháp, cũng tức là hiểu những nguyên lý phổ quát nhất của vũ trụ, chẳng hạn nguyên lý bất định, nguyên lý thay thế, thì chiến tranh loạn lạc sẽ ít có điều kiện xảy ra.
Nguyên lý thay thế được ứng dụng rất lớn trong tin học hiện đại, cũng là một nguyên lý cơ bản của vũ trụ vạn vật. Trong thí nghiệm hai khe hở, các nhà vật lý học vô cùng ngạc nhiên và không thể hiểu nổi tại sao hạt electron lại biết phân biệt khi nào có người hay thiết bị quan sát, khi nào không. Thật ra điều đó rất dễ hiểu, Phật pháp đã giải thích rất rõ ràng, đó là hạt electron không có tự tính, tức không có sẵn bất cứ đặc trưng, đặc điểm gì, chính người quan sát hay thiết bị cảm ứng đã gán các đặc điểm cho chúng giống y như trong tin học, chỉ khác ở chỗ vật thể trong không gian phức tạp hơn rất nhiều bởi vì sự kiện diễn ra trong không gian 3 chiều. Điều đó có nghĩa là cuốn phim khi phóng hiện ra không gian 3 chiều với hiệu ứng đầy đủ của 8 thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, thân thể tiếp xúc, mạt-na thức, a-lại-da thức) thì sẽ thành cuộc sống đời thường của thế gian. Vấn về này khoa học ngày nay đã bắt đầu hiểu được qua video clip sau :
Vạn Pháp Duy Thức
Nếu mọi người trên thế giới hiểu biết Phật pháp, cũng tức là hiểu những nguyên lý cơ bản nhất của vũ trụ vạn vật và hành xử theo những nguyên tắc đó thì trong gia đình, cho tới ngoài xã hội và trên bình diện quốc gia, sẽ tránh được rất nhiều tranh giành, xung đột, chiến tranh, loạn lạc, người ta sẵn lòng hòa giải hơn. Cho dù đại bộ phận nhân loại không hiểu và không theo những nguyên tắc đó, những người hiểu và hành xử theo những nguyên tắc đó vẫn có thể không nhất thiết tùy thuộc vào số đông, hay tùy thuộc vào người khác, bởi vì mọi cảnh giới đều là do tâm tạo, nên tâm bình an sẽ dẫn dắt đến thế giới bình an, không nhất thiết phải ở tại thế gian để tranh giành những không gian sống nhỏ hẹp, tài nguyên khan hiếm, họ có thể đến các cõi trời an ổn hơn, hoặc đến thế giới tây phương cực lạc của Phật A Di Đà chẳng hạn.
Pháp giới bình đẳng có nghĩa là cõi thế gian, cõi trời, hay cõi tây phương cực lạc đều là những cõi giới tưởng tượng do tâm tạo theo duyên nghiệp và theo nguyên lý thay thế. Chính vì tất cả các pháp đều không có tự tính, chính tâm niệm và 8 thức của con người gán ghép mọi đặc điểm, đặc trưng cho vật, nên kinh điển PG đã nói rất rõ ràng rằng : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 phản hồi

CẢNH GIỚI ĐỜI THƯỜNG TRÊN THẾ GIAN

Cảnh giới đời thường là khung cảnh chúng ta đang sống trên thế gian. Trên mặt địa cầu có khoảng hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với hàng trăm dân tộc khác nhau đang sinh sống. Họ sống trên 5 châu lục bao gồm Á châu, Âu châu, Phi châu, Mỹ châu, Đại dương châu (chỉ Australia  và New Zealand. Nhân loại trên địa cầu có nhiều màu da khác nhau : trắng, đen, vàng, đỏ.

Thế gian hay thế giới loài người có những nền văn minh cổ xưa như vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia, giữa hai sông Tigris và Euphrates) Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã v.v…

Rồi thế giới hiện đại với bao nhiêu thành phố lớn văn minh, những phương tiện đi lại tân tiến như xe hơi, tàu thủy, máy bay, xe lửa, xe điện ngầm…Những phương tiện sinh hoạt rất tiện nghi như nhà cửa, phố xá, siêu thị, công viên, phi trường, bến cảng, đường sá, tivi, tủ lạnh, máy giặt, computer, internet, smartphone, …Số người sống trên địa cầu đông đảo hơn 7 tỷ, sinh vật, cây cối, hoa cỏ, chủng loại vô cùng phong phú.

Nhưng vấn đề mà bài viết này muốn nêu ra là : các cảnh giới đó có thật hay không ?

Đa số mọi người trên thế gian đều tin rằng thế giới đó có thật, độc lập, khách quan đối với ý thức. Họ hoàn toàn tin tưởng ở các giác quan, họ tin chắc như đinh đóng cột rằng vật chất là có thật, con người, sinh vật, bằng xương bằng thịt là có thật, châu lục, biển đảo, núi sông, cây cối, ao đầm đều có thật.

Cái thái độ tin tưởng hoàn toàn, không chút nghi ngờ của tuyệt đại đa số nhân loại rằng các cảnh giới nêu trên là có thật, Phật giáo gọi là chấp thật chấp pháp, nghĩa là tin chắc thế gian là có thật, cảnh giới vật chất là có thật.

Thế nhưng khoảng hơn 2600 năm trước, Siddhārtha Gautama (Tất Đạt Đa悉达多 Cù Đàm瞿曇 hay Kiều Đạt Ma喬達摩Gautama) sau này thường được gọi là Đức Phật, nói rằng các cảnh giới đó chỉ là vọng tưởng, chỉ là tưởng tượng chứ không có thật. Quyển kinh tập trung nhất, ngắn và cô đọng nhất nói về vấn đề này là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 般若波羅蜜多心經Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, tiếng Anh là Heart of Perfect Wisdom Sutra. Thử trích vài câu trong đó :

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Này Xá Lợi Phất, Vật chất không khác cái Không, cái Không không khác Vật chất, Vật chất tức là Không, Không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.  

Trong quyển kinh này, Phật nói với một người đại diện cho thính chúng là Xá Lợi Phất 舍利弗śāriputra  về tánh Không của vạn pháp. Vật chất, ý thức, tinh thần, thông tin…tất cả đều không có thực chất, tất cả chỉ là tưởng tượng, mọi lời nói ra, mọi diễn tả đều không có nghĩa thật.

Bát Nhã Tâm Kinh, bản dịch của đại sư Huyền Trang đời Đường, chỉ vỏn vẹn có 260 chữ Hán. Trong đó chỉ có tuyên thuyết mà không có chứng minh. Do đó qua bao nhiêu thế hệ sư tăng đọc tụng hàng ngày, nhưng số người hiểu rõ dường như cực kỳ ít, từ chỗ không hiểu dẫn tới không tin, không thực sự tin, một số người do không hiểu mà phát sinh nghi tình thì đúng với ý đồ của người làm ra bộ kinh, nhưng đại đa số không hiểu cũng chẳng phát sinh nghi tình bởi vì họ tin chắc 100%  rằng vật chất là có thật, các cảnh giới thế gian là có thật.

Mục đích của bài viết này là vạch ra một cách rõ ràng, minh bạch, tại sao vật chất không có thật.

Ngày nay chúng ta đều biết rằng thế giới của máy vi tính, của điện thoại thông minh, là thế giới ảo, ảo nghĩa là không có thật. Mặc dù chúng ta có thể thấy và nghe nhưng biết là ảo. Phim ảnh ngày nay rất phổ biến, trên không gian hai chiều của điện ảnh, chúng ta thấy các nhân vật đi đứng, nói năng, ca hát, đánh nhau, làm tình, tất cả đều giống y như ngoài đời thật. Chỉ hiềm là không sờ mó được, không ngửi nếm, ăn uống, cảm giác tiếp xúc bằng xúc giác không được.

Thế nhưng nếu tăng chiều kích không gian lên thành 3 chiều thì chuyện gì sẽ xảy ra ? Các nhân vật sẽ có hình hài, có đầy đủ các giác quan, và thực  chất đó chính là cảnh giới thế gian mà chúng ta đang sống. Có nghĩa là cảnh giới thế gian cũng là ảo.

Đến đây chúng ta vẫn chưa tin. Tại sao chưa tin ? Bởi vì trong không gian hai chiều, những hình ảnh, âm thanh, chữ viết, video, chỉ được tạo ra bởi electron (điện tử). Electron tạo ra dòng điện, trạng thái có dòng điện được ký hiệu bằng số 1, trạng thái không có dòng điện được ký hiệu bằng số 0, từ đó tạo ra kỹ thuật số. Chỉ với hai cơ số 0 và 1, con người đã tạo ra thế giới ảo của máy vi tính và điện thoại thông minh. Nhưng còn cảnh giới thế gian phức tạp hơn rất nhiều, không phải chỉ có electron mà còn có nguyên tử, phân tử.

Vấn đề đặt ra là nguyên tử tuy phức tạp hơn electron nhưng về bản chất, có khác electron không ?

Theo nghiên cứu của vật lý lượng tử hiện đại, hạt nhân nguyên tử, nguyên tử và cả phân tử nữa đều hành xử giống như electron, nghĩa là chúng đều có hai trạng thái sóng và hạt. Ở trạng thái sóng thì chúng vô hình và không phải là vật chất, chúng chỉ là thông tin. Còn ở trạng thái hạt thì chúng mới là vật chất. Video sau đây có đề cập sơ qua về vấn đề này.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Điều cần nhấn mạnh ở đây là dạng sóng của electron, của hạt nhân nguyên tử, của nguyên tử và phân tử không phải là dạng sóng vật chất như sóng vi ba trong các lò hâm thức ăn, sóng từ trường trong trọng trường của quả đất, sóng laser v.v…chúng chứa năng lượng và năng lượng đó có thể biến thành vật chất. Dạng sóng của electron và nguyên tử là loại sóng cơ bản hơn, có tính chất nền tảng hơn, chúng chứa thông tin và thông tin đó có thể biến thành năng lượng hay vật chất. Dạng sóng của electron hoặc photon mà chúng ta sử dụng phổ biến ngày nay là wifi, 3G, 4G v.v…chúng chứa thông tin và thông tin đó có thể biến thành hình ảnh, âm thanh, chữ viết mà con người hiện đại đã quen thuộc khi sử dụng smartphone. Đây là loại sóng nền tảng của vũ trụ, chúng cực kỳ vi tế và vô hình mà Phật giáo gọi là Tánh Không, còn gọi là A-lại-da-thức hay Tâm. Bát Nhã Tâm Kinh có câu : Sắc bất dị Không. Sắc hiển nhiên là vật chất hay cảnh giới nào mà con người có thể nhìn thấy, cảm nhận, kể cả dạng ảo của tin học. Còn Không chính là loại sóng nền tảng của Tam giới, chúng mang thông tin và có thể biến thành các hạt cơ bản của vật chất hay các cấu trúc cơ bản của vật chất như nguyên tử, phân tử.

Loại sóng mà hạt electron có thể đại diện được các nhà vật lý hiện đại mô tả như sau :

Universe 3 – Trường Và Sóng Khả Năng Electron

Như vậy chúng ta thấy rằng các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron và các cấu trúc cơ bản của vật chất như hạt nhân, nguyên tử, phân tử…đều có cùng bản chất, nghĩa là chúng vừa là sóng, vừa là hạt, vừa là vật chất, vừa là phi vật chất, tuân theo nguyên lý bất định (principle of uncertainty) của Heisenberg phát biểu vào năm 1927.

Một vấn đề quan trọng nữa mà các nhà vật lý hiện đại vẫn còn mơ hồ, đó là quy tắc nào chi phối, khiến cho chúng khi thì là sóng, không phải vật chất, chỉ là thông tin thôi, khi thì là hạt vật chất, cấu tạo nên nguyên tử, phân tử và các cảnh giới trên thế gian mà chúng ta sống trong đó như vũ trụ, thiên thể, ngôi sao, hành tinh, sơn hà đại địa, lãnh thổ, biển đảo, thành phố, làng mạc, sinh vật, con người v.v…

Vấn đề này đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 20, là Niels Bohr và Albert Einstein. Einstein thì không tin vào nguyên lý bất định, ông cho rằng vật chất là độc lập, khách quan đối với ý thức. Vật chất tồn tại bên ngoài ý thức, không tùy thuộc vào ý thức. Quan điểm này thì tương đồng với Karl Marx và quan điểm duy vật. Chỉ khác là Einstein tin có Chúa Trời, đó là một sức mạnh vô hình, vô ngã, có khả năng tạo thiên lập địa, nhưng sản phẩm của Chúa là thế giới vật chất khách quan. Còn Karl Marx không tin có Chúa Trời, chỉ tin có vật chất tự thân vận động. Nhưng Niels Bohr thì tin vào nguyên lý bất định, ông dựa vào thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) và thí nghiệm hai khe hở nổi tiếng (double slit experiment) để đưa ra nhận thức rằng vật chất, cụ thể là hạt photon hoặc hạt electron tùy thuộc vào ý thức, cụ thể là hanh vi quan sát và đo đạc, chính những hành vi này của con người đã biến sóng thành hạt, vô hình biến thành hữu hình, phi vật chất biến thành vật chất.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Cuộc tranh cãi giữa Bohr và Einstein kéo dài bất phân thắng bại, từ năm 1935 cho tới khi cả hai ông đều qua đời (Einstein qua đời năm 1955, Bohr mất năm 1962) vẫn chưa ngã ngũ. Einstein không tin nguyên lý bất định, cũng không tin liên kết lượng tử là có thật, ông đưa ra thí nghiệm tưởng tượng về đôi găng tay để bảo vệ lập trường của mình. Chúng ta đều biết rằng Einstein rất giỏi đưa ra thí nghiệm tưởng tượng để chứng minh cho lập luận của mình.

Lý Luận Đôi Găng Tay Của Einstein Để Giải Thích Liên Kết Lượng Tử

Nhưng lần này thì Einstein thất bại, lý luận của ông mặc dù được một người nhiệt thành ủng hộ lập trường của ông là John Clauser, tìm cách chứng minh bằng cách tạo ra chiếc máy có khả năng tách một hạt photon thành hai hạt đồng thời ở hai vị trí khác nhau trong không gian để tiến hành thí nghiệm bằng cách áp dụng bất đẳng thức của John Bell nhằm xác định hiện tượng liên kết lượng tử có thật sự xảy ra hay không. Nhưng rồi John Clauser thất vọng, bởi vì thực tế đã chứng minh niềm tin của ông cũng như của Einstein là sai, liên kết lượng tử có xảy ra thật, hoàn toàn không phải như Einstein nghĩ.

Mãi đến năm 1982 thì vấn đề mới được giải quyết dứt khoát dựa vào thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris. Video sau đây mô tả cuộc tranh cãi.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982, rút ra hai kết luận vô cùng quan trọng về  triết học :

1/Hạt vật chất (cụ thể là hạt photon hoặc electron) không có thật (non realism), nó chỉ là một hạt ảo (“Isolated material particles are abstractions”= Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng) theo kết luận của Niels Bohr.

2/Hạt vật chất không có vị trí nhất định trong không gian tức là bất định xứ (non locality), Phật pháp từ xa xưa đã dùng thuật ngữ vô sở trụ để chỉ tính chất này.

Năm 2012 Maria Chekhova đã tạo được một liên kết lượng tử với 100 000 photon đồng thời.

Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow

Sự kiện này cho phép người ta rút ra kết luận quan trọng thứ ba về triết học:

3/Hạt vật chất như photon, electron không có số lượng (non quantity), bởi vì chúng chỉ là hạt ảo. Một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở 100 000 vị trí khác nhau hoặc nhiều hơn nữa. Từ đó suy ra số lượng vật chất là không có thật, tâm có thể làm ra vô lượng vô biên vật chất không giới hạn.

Nhưng con người luôn luôn thấy các cố thể vật chất như cái nhà, cái xe có vị trí nhất định và số lượng có hạn. Theo Phật pháp, đó là một tri kiến sai lầm, do tưởng tượng mà ra. Vậy có điều gì chứng tỏ cái thấy vô cùng phổ biến đó là sai lầm ?

Chúng ta phải gặp những nhà đặc dị công năng, họ sẽ Chứng tỏ cho chúng ta thấy. Vào thập niên 1970-1980 tại TQ xuất hiện nhiều người có khả năng đặc dị, nổi tiếng nhất là Trương Bảo Thắng và Hầu Hi Quý.

Chúng ta luôn nghĩ rằng một cái bàn có vị trí cố định. Nếu không dùng một lực vật chất đẩy nó đi thì nó mãi mãi sẽ cố định ở vị trí ban đầu. Hầu Hi Quý đã chứng minh cho ông tỷ phú Lý Gia Thành (Lika Shing), người giàu nhất Hong Kong, rằng cái tri kiến đó là không đúng, ông không cần dùng sức mạnh cơ bắp hay vật chất nào cả, mà chỉ dùng ý niệm cũng di  chuyển được cái bàn mạ vàng rất nặng của ông Lý từ nhà của ông tới văn phòng của ông. Bạn có thể xem câu chuyện này cụ thể trong đường dẫn sau :

54 Dùng tâm lực di chuyển cái bàn mạ vàng

Cho đến nay các nhà vật lý hiện đại vẫn còn mơ hồ, bởi vì họ tuy biết sự quan sát hay cái nhìn của con người có thể làm thay đổi vật chất, cụ thể là biến sóng thành hạt, nhưng họ không hiểu cơ chế nào tạo ra điều đó.

Cơ chế đó Phật pháp có nói rõ ràng, Kinh Hoa Nghiêm nói : Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Tất cả các pháp đều không có tự tính. Thí nghiệm của Alain Aspect đã chứng minh rõ ràng  hạt photon không có sẵn đặc trưng, chỉ khi có người quan sát và đo đạc thì các đặc trưng của hạt photon mới xuất hiện, cụ thể là vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Tại sao như vậy ? Kinh Hoa Nghiêm giải thích rằng 一切唯心造   Nht thiết duy tâm to  Tt c đu là do tâm to  Có nghĩa rằng chính người quan sát, chính con người tạo ra vật chất, tạo ra cảnh giới, hay nói một cách rõ ràng hơn nữa, chính tâm thức con người đã tạo ra vật chất bằng cách tưởng tượng. Tùy theo thói quen tưởng tượng của tâm, mà nó tạo ra đủ mọi cảnh giới. Tâm là cái kho chứa thông tin vô cùng lớn, nó tạo ra đủ loại cảnh giới của 6 giác quan. Thông tin của một con người cá thể là Mạt-na-thức, nó bao gồm 18 giới (6 căn, 6 trần, 6 thức). Thông tin của toàn thể pháp giới là A-lại-da thức bao gồm toàn thể chúng sinh trong Tam giới. Chính vì tâm có khả năng tưởng tượng vô cùng to lớn như vậy, nên Kinh Hoa Nghiêm nói : “Tâm như ha công sư, ha chng chng ngũ m. Nht thiết thế gii trung, vô pháp nhi bt to…Nht thiết pháp vô t tính心如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính)

Chính bằng nguyên lý thay thế, tâm đánh tráo thói quen, tập khí hay nghiệp của mỗi cá thể chúng sinh từ dạng sóng phi vật chất, vô hình, thành một loại cấu trúc ảo bao gồm 18 hạt ảo thành cảnh giới thế gian vô cùng phong phú trên địa cầu, cũng như cảnh giới to lớn phi thường của vũ trụ.

Khoa học ngày nay đã biết tương đối rõ về điều này và mô tả nó trong đoạn clip sau :

Vạn Pháp Duy Thức

Kết luận

Cảnh giới thế gian cũng như cả vũ trụ vạn vật đều là cảnh ảo, được tạo ra bằng Thức hay thông tin chứa trong cái kho vô hình, vô cùng lớn là A-lại-da-thức. Một số nhà khoa học mệnh danh là Vũ trụ toàn ảnh (The Holographic Universe). Toàn ảnh là một ảo ảnh xuất hiện ở chỗ nó không tồn tại, không có thật. Video sau đây mô tả vũ trụ được tạo ra bằng thức, nghĩa là vũ trụ cũng chỉ là thông tin.

Universe 8 – Thức trong Vật Lý Lượng Tử – Phụ đề Việt ngữ

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TẢN MẠN XUÂN ĐINH DẬU 2017

Thời gian đang tiến dần đến mùa xuân Đinh Dậu 2017. Thế gian đang có những biến động lớn. Nước Mỹ mới vừa bầu cử tổng thống xong, tổng thống mới có nhiều tuyên bố và hành vi khó đoán định. Nước Anh đã biểu quyết rời khỏi Liên Hiệp Châu Âu (EU). Cuộc chiến tranh tại Syria đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn nhưng không chắc là đã hòa bình lâu dài, người dân khổ sở, mất mát vì chiến nạn. Miền Trung Việt Nam vừa trải qua lụt lội liên tiếp chưa từng thấy, dân tình điêu đứng. Biển Đông và biển Hoa Đông vẫn là nơi tranh giành biển đảo gay go nhất trên thế giới nơi các cường quốc gầm ghè nhau, một bên là liên minh Nhật-Mỹ, bên kia là TQ; các nước Đông Nam Á, kẻ ngã bên này, người nghiêng bên kia.

Nhưng trong bài viết này, tôi muốn nói tới một mùa xuân vĩnh cửu, nó chỉ tuỳ thuộc vào tâm lý của mỗi người chứ không còn tuỳ thuộc vào không gian, thời gian, số lượng.

Mùa xuân nói ở đây cũng có sắc thái riêng biệt, cụ thể, chứ không phải chung chung, nhưng nó không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh.

Miền Trung đang bị lũ lụt tàn phá, vậy người dân ở đó có mùa xuân không ? Phật pháp nói rằng vạn pháp duy tâm, mùa xuân vốn ở trong lòng chứ không phải ở ngoại cảnh, nên người dân ở đó vẫn có mùa xuân như thường nếu họ hiểu và chấp nhận hoàn cảnh.

Những kẻ đang bị nợ nần, những kẻ đang thất tình, những người đang bị chiến tranh huỷ diệt như ở Syria chẳng hạn, cũng vẫn có mùa xuân. Nếu hiểu rằng thế gian là một đại hí trường, nơi diễn ra hí kịch và trò chơi, bởi vì thế gian chỉ là mộng ảo, mỗi người hãy tạm quên vai diễn mà mình đang đóng, thì tất cả đều có mùa xuân. Nhân nói về hí trường, hãy tạm mượn bài thơ Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan để xem người đời cảm thấy cuộc đời thế nào. Bài thơ này bà làm sau khi vua Gia Long lên ngôi, và lấy Huế làm kinh đô khiến cho cố đô Thăng Long trở nên hoang phế.

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ.

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.  

 

Bà Huyện cảm thấy buồn vì cảnh phồn hoa chốn cố đô không còn nữa, khiến bà cảm nhận đó như là vở kịch của tạo hoá. Vậy tại sao không thừa nhận nó đúng là vở kịch của tạo hoá, và cái buồn trở thành hương vị ngọt ngào của cuộc sống chứ không còn là nỗi khổ nữa. Ngày nay khoa học đã cung cấp cho chúng ta đủ tri thức để thấy tính chất tưởng tượng ảo hoá của mọi cảnh giới.

Einstein tin rằng cảnh giới là thực thể khách quan, có thật, cụ thể là các hạt photon hoặc electron luôn luôn có sẵn các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Còn Niels Bohr nói rằng không đúng, photon hoặc electron không có sẵn các đặc trưng đó, chúng chỉ xuất hiện khi có ai đó quan sát, đo đạc. Thế có nghĩa là người quan sát đã gán ghép tưởng tượng của mình cho hạt. Thậm chí hạt cũng không có thật, hạt chỉ xuất hiện khi bị quan sát, hay nói cách khác, người quan sát đã tưởng tượng ra hạt, điều này đã được thí nghiệm hai khe hở chứng tỏ.

Thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 cũng đã chứng tỏ rõ ràng rằng Bohr đúng, Einstein sai.

Như vậy khoa học cũng đã chứng minh được rằng cảnh giới chỉ là do tâm tưởng tượng. Điều này thì kinh điển PG đã nói từ lâu :

Kinh Hoa Nghiêm nói : “Tâm như họa công sư, họa chủng chủng ngũ ấm. Nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo…Nhất thiết pháp vô tự tính心如工畫師,畫種種五陰。一切世界中,無法而不造。…一切法無自性” (Tâm như họa sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm. Trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được…Tất cả các pháp đều không có tự tính)

Kinh Kim Cang nói rằng :

一切有为法   Nhất thiết hữu vi pháp,          Tất cả pháp hữu vi
如梦幻泡影   Như mộng, huyễn, bào, ảnh,  Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
如露亦如电   Như lộ, diệc như điện,            Như sương, như chớp loé,
应作如是观   Ưng tác như thị quán.            Hãy xem xét như thế.

Như vậy chúng ta thấy rõ rằng vui, buồn, đau khổ hay hạnh phúc đều là tưởng tượng.

Chúng ta thường nghĩ rằng một người thân yêu mất đi là vĩnh viễn không bao giờ còn gặp lại, thì sẽ cảm thấy buồn, đau khổ. Còn nếu hiểu rằng sinh tử là không có thật, đó chỉ là ảo hoá, mỗi người cho rằng cái ta của mình có thật, nếu hiểu rằng đó chỉ là tưởng tượng, tất cả chúng sinh đều cùng một tâm, không có gì mất đi, cũng không bao giờ xa nhau cả, thì đó là mùa xuân vĩnh cửu, dù cho cảnh giới là vô cùng biến đổi.

Do đó chúng ta thấy gia đình Bàng Uẩn coi cái chết nhẹ như lông hồng, chẳng có gì phải bận tâm cả. Ông có bài kệ :

有男不婚,    Hữu nam bất hôn               Có trai không cưới

有女不嫁        Hữu nữ bất giá                   Có gái không gả

大家團樂頭,Ðại gia đoàn lạc đầu          Cả nhà vui hội họp

共說無生話  Cộng thuyết vô sinh thoại.   Ðồng bàn lời vô sinh

Lúc muốn nhập diệt, ông bảo cô con gái là Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ chưa vào cho ông hay. Linh Chiếu ra xem vào thưa: “Mặt trời đã đúng ngọ, mà bị sao thiên cẩu ăn mất.” Tưởng thật, ông rời chỗ ngồi bước ra xem thì Linh Chiếu bèn ngồi vào ghế của cha, thu thần nhập diệt. Ông vào thấy vậy, cười nói: “Con gái ta lanh lợi quá” rồi chờ bảy ngày sau mới hóa. Vợ ông thấy tình cảnh đó, nói: “Con gái ngu si với ông già vô tri, không báo tin mà đi, sao đành vậy!” Rồi bà đi báo tin cho con trai là Bàng Đại đang làm việc ngoài đồng ở một địa phương khác. Người con trai đang cuốc đất nghe tin xong bèn đứng dựa cán cuốc mà tịch. Cuối cùng Bà Bàng bèn đi vào núi không ai rõ tung tích.

Chúng ta thường quen với ý tưởng mùa xuân thì có nắng ấm, hoa nở tốt tươi, đặc biệt hoa đào, hoa mai, chợ búa rộn rịp, người người tưng bừng đón tết.

hoa-dao-moc-chau

hoa-mai-vang

Trong thi ca, mùa xuân cũng có những giai thoại đẹp đẽ, chẳng hạn bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ : Đề Tích Sở Kiến Xứ (Đề thơ tại nơi thấy người đẹp năm cũ). Bài này còn có tên Đề Đô Thành Nam Trang (Đề thơ tại ngôi nhà phía nam kinh đô).

122 Đề Tích Sở Kiến Xứ – Thôi Hộ – Giai Thoại

Đối với Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909), những bài thơ về mùa xuân của ông (phần lớn là thơ Hán tự) mang dư vị, dáng vẻ riêng, độc đáo và ấn tượng.

Mong xuân, xuân đến không hay
Hạt mưa lất phất từng mây im lìm

(Xuân Nhật)

Hoặc cảnh dân gian đón xuân :

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

(Cảnh Tết)

Nhưng Nguyễn Khuyến cũng có tâm sự, cảm nhận riêng về mùa xuân :

Tuổi xuân, thêm được tóc râu phờ
Nay đã năm mươi có lẻ ba
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày Xuân Dặn Các Con)

Đó là tâm sự của một người đã già, ngoài năm mươi tuổi. Ông thi đỗ cử nhân (Giải nguyên) năm 1864, đỗ Hội nguyên và Đình nguyên (Hoàng giáp) năm 1871, nên thường được gọi là Tam nguyên Yên Đổ 三元閼堵 (người ở xã Yên Đổ, đậu cả ba khoa thi). Năm 1878 ông bị điều về Huế, giữ chức quan chuyên biên soạn sách tại Quốc Sử Quán. Bài thơ trên làm vào năm ông 53 tuổi (tuổi ta) tức vào năm 1887, lúc đó ông đã từ quan (1884) về quê ở ẩn tại Yên Đổ. Tình hình lúc đó đất nước đã rơi vào tay Pháp, công việc biên soạn sách lúc trước ông làm tại Quốc Sử Quán chẳng ích lợi gì, nghĩ mình đã thi đỗ làm ông Nghè mà chẳng làm được gì càng thêm thẹn.

Chúng ta đã nêu một số sự kiện trong lịch sử thi ca để thấy cái cảm nhận về mùa xuân là hoàn toàn chủ quan theo nội tâm của mỗi con người.

Đối với Thôi Hộ, mùa xuân hoa đào nở, gợi nhớ đến cô gái trẻ đẹp mà chàng tình cờ gặp trong một ngôi nhà ở phía nam kinh đô hồi năm trước, bây giờ không biết đi đâu khiến chàng ngẩn ngơ.

Theo sách Thái Bình Quảng Ký太平廣記, Thôi Hộ nhân tiết thanh minh một mình đi chơi về phía nam đô thành Trường An 長安 , thấy một ấp trại chung quanh đầy hoa đào. Thôi Hộ gõ cửa xin nước uống, một người con gái mở cổng, hỏi tên họ rồi bưng nước đến, người con gái sắc đẹp đậm đà, duyên dáng, tình ý, dịu dàng, kín đáo. Năm sau, cũng vào tiết thanh minh, Thôi Hộ lại đến tìm người cũ thì cửa đóng, then cài, nhân đó mới đề lên cánh cửa bên trái bài thơ này. Người con gái xem thơ, tương tư rồi ốm sắp chết. Thôi Hộ cũng nhớ nàng, lần thứ ba tìm đến, thấy nàng đã chết, bèn vào ôm thi thể mà khóc. Người con gái bỗng hồi tỉnh rồi sống lại. Người cha bèn đem cô gái gả cho Thôi Hộ. Cũng từ điển tích này, người ta thường ví mặt người con gái đẹp với hoa đào.

Đối với người bình dân thì họ vô tư đón xuân :

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

(Cảnh Tết)

Đối với nhà thơ Nguyễn Khuyến trong thời buổi mất nước, xuân đến chỉ thấy già đi, không tin tưởng ở việc mình làm, thẹn vì có danh tiếng mà không làm được gì.

Tuổi xuân, thêm được tóc râu phờ
Nay đã năm mươi có lẻ ba
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già
(Ngày Xuân Dặn Các Con)

 

Tại sao cùng là mùa xuân mà mỗi người lại có cảm nhận rất khác nhau ? Đó là cái mà PG nói là các pháp không có tự tánh, mọi cảnh vật cũng đều không có tự tánh. Những tính chất đặc trưng, đặc thù của vật đều là do con người gán ghép tâm niệm của mình vào vật. Giống như hễ mình mang kính màu đỏ thì thấy mọi vật đều đỏ, hễ mang kính màu xanh thì thấy mọi vật đều xanh.

Chính vì như vậy mà PG mới nói tất cả đều là do tâm tạo.

Chẳng những tâm tư tình cảm phủ bóng lên cảnh vật, mà chính bản thân của cảnh vật như sơn hà đại địa, nhà cửa, xe cộ, đường sá, thân tứ đại của mỗi người, cũng là do tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Điều này thì đã hoàn toàn vượt khỏi cảm nhận, suy tư của tuyệt đại đa số người đời, kể cả những nhà khoa học lớn như Einstein, những nhà sáng lập tôn giáo như Khổng Tử, Lão Tử, họ cũng không ngờ.

Einstein thì như chúng ta đã biết, thất bại trong cuộc tranh luận với Niels Bohr.

Khổng Tử với học thuyết tam cương, ngũ thường, cố gắng tạo lập một xã hội trật tự hài hoà, nhưng Nho giáo chưa hiểu được rằng vũ trụ, thế giới chỉ là Không, chỉ là tưởng tượng của tâm, mỗi con người gán ghép thói quen tâm niệm của mình vào vật, tưởng tượng ra vật. Do đó triết lý của Nho giáo là (sách Chu Dịch周易)

天行健,君子以自强不息 Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức (As Heaven’s movement is ever vigorous , so must gentlemen ceaselessly strive along. Trời đất vận động mạnh mẽ, người quân tử luôn nỗ lực tự cường không ngừng nghỉ)

Nho giáo luôn coi người quân tử là chủ thể của xã hội, lúc nào cũng phải cố gắng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, chứ không nghĩ rằng thế gian chỉ là hí trường.

Đạo giáo tuy vươn cao hơn Nho giáo một bậc, tiến tới Đạo, nhưng hãy còn cách một bước :

道 可 道 非 常 道 Đạo khả đạo phi thường Đạo. Đạo có thể gọi được, không phải là đạo thật

名 可 名 非 常 名 Danh khả danh phi thường danh. Tên có thể gọi được, không phải là tên thật

無 名 天 地 之 始 Vô danh thiên địa chi thủy; Không tên là gốc của trời đất

有 名 萬 物 之 母 Hữu danh vạn vật chi mẫu. Có tên là mẹ của vạn vật

故 常 無 欲 以 觀 其 妙Cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu; Nên ta thường vô dục để thấy chỗ vi diệu của vật

常 有 欲, 以 觀 其 徼. Thường hữu dục dĩ quan kỳ yêu. Ta thường hữu dục, để thấy chỗ dùng của vật

此 兩 者 同 出 而 異 名. Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh. Hai cái đó cùng một nguồn gốc nhưng tên khác nhau

同 謂 之 玄. 玄 之 又 玄. Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền. Cùng là huyền diệu, lại càng huyền diệu

眾 妙 之 門. Chúng diệu chi môn. Là cửa vào của mọi sự kỳ diệu.

Để hiểu được rõ ràng ý nghĩa của những câu trên, chúng ta cần phải vận dụng đến kiến thức của khoa học hiện đại. Tại sao thế ? Bởi vì những điều sâu kín của vũ trụ vạn vật mà những bậc phi phàm như Lão tử đã nhận thức, đi trước thời đại rất xa. Nhưng ngày nay thì chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được.

Những danh từ như Đạo và Danh mà chúng ta thường dùng không có nghĩa thật, không thể khẳng định được. Đạo là con đường, là phương pháp, quy luật, hay chân lý đều là do con người quan niệm thôi, không phải thực tế. Danh xưng mà chúng ta gọi tên và quan niệm như : con trâu, con ngựa, núi sông, đất đai, biển đảo đều là tùy tiện. Bằng chứng là các dân tộc, các ngôn ngữ gọi tên hoàn toàn khác nhau, không có cái tên nào là đúng thật, là chuẩn cả.

Cái thực tế nguồn gốc của trời đất thì không có tên, do chưa được con người nhận thức, còn những cái có tên gọi là những sự vật do con người nhận thức và đặt tên. Cái thực tế nguồn gốc của vũ trụ không có tên, Lão tử tạm gọi là Đạo; còn khoa học ngày nay gọi là Trường thống nhất (unified field) có dạng sóng nên còn gọi là miền tần số (frequency domain). Nó vô hình, vô thể, không phải là vật chất. Trường thống nhất tương ứng với Đạo của Lão tử. Còn vạn vật bao gồm sự vật vật chất và tinh thần tương ứng với Danh của Lão tử. Vật chất và tên gọi tuy hai mà một. Vật chất chúng ta cảm thấy là thực thể, sờ mó được, nhìn thấy, ngửi nếm, ăn uống, tiêu hoá, tăng trưởng được, hoàn toàn khác với tên gọi chỉ là thông tin. Nhưng khoa học hiện đại đã chứng minh rằng vật chất cũng chỉ là cảm giác, cũng là thông tin, nên nó cũng chỉ khác với danh về hình tướng chứ bản chất thì không khác.

Vạn Pháp Duy Thức

Người trí buông bỏ tư dục (vô dục) tức là ham muốn hay mê muội của riêng mình để thấy sự kỳ diệu của vũ trụ. Sự kỳ diệu đó như thế nào ? Đó là vũ trụ vạn vật tuy mênh mông, thiên hình vạn trạng nhưng đều xuất phát từ Đạo vô hình vô thể, mà khoa học ngày nay gọi là Trường thống nhất. Tất cả mọi khác biệt đều đồng qui, đều là Một, trong trường thống nhất đó. Cái Một thống nhất đó chính là lượng tử (quantum). Hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) chính là biểu hiện của cái Một đó.

Còn con người bình thường có ham muốn (hữu dục) thì nhìn thấy sự biến hoá vô cùng phong phú của vạn vật. Trời đất, vạn vật có cấu tạo vô cùng tinh vi, phức tạp là sự kỳ diệu. Con người, mỹ nhân, vạn vật là sự kỳ diệu của tạo hoá. Chữ徼 nên đọc là yêu, nghĩa là che chắn. Tại sao phải che chắn ? Cái gì che chắn ? Chính là vô minh che chắn. Chúng sinh mê muội là vì tập khí, chính tập khí vô minh che chắn khiến chúng ta không thể thấy toàn bộ sự thật, bởi vì thấy toàn bộ thì không thể làm ảo thuật, không thể tạo ảo hoá được. Vô minh là mê muội, không thấy đúng, không thấy hết sự thật. Nếu thấy hết thì biết, thì giác ngộ, không có gì là thật, tất cả chỉ là cái Không trống rỗng. Còn che chắn lại, chỉ thấy một phần thôi, đó chính là điều kiện để tưởng tượng ra vũ trụ vạn vật, sông núi, thắng cảnh, sinh vật, mỹ nhân. Vấn đề này, ngày nay khoa học đã hiểu rõ ràng qua thí nghiệm hai khe hở.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Người ta dùng một tấm chắn, chỉ chừa hai khe hở nhỏ, chen vào giữa tia electron và màn hứng phía sau, thì phát hiện được sự thật động trời. Phát hiện được rằng chính bộ não của người quan sát đã làm cho electron từ sóng (vô hình, không phải vật chất) biến thành hạt (hữu hình, vật chất). Chính electron là cái mà chúng ta thấy là sông núi, đường sá, xe cộ, nhà cửa, sinh vật, thân tứ đại. Điều đó có nghĩa là vạn vật là do chúng ta tưởng tượng ra.

Đạo và Danh đều có chung một nguồn gốc, cùng một chỗ xuất phát nhưng hình tướng khác nhau, chính là ý nghĩa của câu Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh.

Câu sau cùng Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền. Chúng diệu chi môn. Nghĩa cũng giống như bên PG nói về Thập nhị nhân duyên, đó là trùng trùng duyên khởi thì tạo ra Tam giới trong đó có vũ trụ vạn vật của chúng ta.

Bên PG nhận thức đầy đủ và giải thích rõ ràng hơn. Lão tử chỉ nhận thức tới Đạo cũng giống như khoa học ngày nay nhận thức tới Trường thống nhất. Đạo của Lão tử tương ứng với Vô thuỷ vô minh bên PG. Tới đó cũng chưa kiến tánh, PG nói giống như hành giả đã trèo tới đầu sào cao trăm trượng rồi, hết chỗ để trèo rồi, nhưng vẫn còn phải tiến thêm bước nữa mới giác ngộ. Đời Tống, thiền sư Chiêu Hiền 招 賢 có sáng tác bài kệ để nói ý này:  

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân, Sào cao trăm thước người lặng thinh,
雖 然 得 入 未 為 真 Tuy nhiên đắc nhập vi vi chân.  Tuy là cao vút hết đường binh
百 尺 竿 頭須 進 步  Bách xích can đầu, tu tiến bộ, Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  
十 方 世 界全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.    

Đạo của Lão tử hay Trường thống nhất mà Einstein từng đề cập và theo sự mô tả của Einstein, đó là sự thật khách quan hay chân lý, nằm ngoài ý thức của con người. Nhưng khoa học đã chứng tỏ là Einstein sai lầm, hạt photon không hề có sẵn các đặc trưng, đặc tính gì cả, đúng như kinh điển PG đã mô tả : Nhất thiết pháp vô tự tính一切法無自性 tất cả các pháp đều không có tự tính, không có cái gì là chân lý khách quan cả, tất cả đều là do tâm tưởng tượng, không có trong ngoài, không có chủ khách, không có thật giả, không có đúng sai, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng. Không có cái gì ở ngoài tâm. Đó cũng chính là ý nghĩa của bài kệ của Chiêu Hiền nêu trên. Nhưng chúng ta thấy trong đời thường thì dường như vật chất nằm ngoài ý thức, các nhà khoa học trong đó có cả Einstein, các nhà triết học trong đó có Karl Marx, đều tin chắc như đinh đóng cột rằng vật chất là khách quan, nằm ngoài ý thức. Thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) tiến hành tại Paris năm 1982, cũng như thí nghiệm về hai khe hở, đã chứng tỏ Einstein sai lầm. Mọi khẳng định, mọi mô tả, mọi lời nói ra, đều không có nghĩa thật. Nên thầy Duy Lực đã trả lời một câu hỏi của Phật tử như sau :

1056 Vô vi của Phật giáo và Vô vi của Lão Tử

Chân lý là bất định, PG gọi là vô sở trụ, khoa học gọi là nguyên lý bất định (principle of uncertainty) do Werner Heisenberg phát hiện và công bố năm 1927. Trong tương đối thì có đúng sai, nhưng đúng sai đều là vọng tưởng của tâm; tổng quát hoá, lìa nhị nguyên (to leave duality) là vô sở trụ hay bất định.

Vậy chúng ta hãy buông bỏ hết mọi đúng sai, thật giả, cứ thoải mái thưởng xuân, chỉ cần không chấp trước vì biết rằng mọi lời nói ra hay mọi diễn tả đều không có nghĩa thật. Cứ ngắm xem thành phố đón xuân với bài hát hát Ly Rượu Mừng để chào đón mùa Xuân Đinh Dậu 2017.

Cần Thơ Đón Xuân – Ly Rượu Mừng

Trong mười bức tranh chăn trâu, Thập mục ngưu đồ  十牧牛圖 của Thiền, thì đây là bức tranh thứ 10 nhập triền thuỳ thủ 入廛垂手 (buông tay vào chợ)

露胸跣足入廛來 Lộ hung tiển túc nhập triền lai Chân trần lộ ngực bước vào thành

抹土涂灰笑滿腮 Mạt thổ đồ hôi tiếu mãn tai     Đất lấm than lem tiếu liên thanh

不用神仙真秘訣 Bất dụng thần tiên chân bí quyết      Bí quyết thần tiên đâu cần đến

直教枯木放花開 Trực giao khô mộc phóng hoa khai Cây khô cũng khiến nở hoa lành

buong-tay-vao-cho

Bức tranh mô tả tâm trạng của một người giải thoát, tự tại, vào chốn hồng trần hỗn tạp, không còn vướng bận bởi bất cứ chân lý hay giáo điều nào, vì đã trực ngộ tánh không của vạn pháp.

Truyền Bình

 

Đăng tải tại Bài viết | 14 phản hồi

TÂM VÀ PHÁP

Trên blog này trước đây từng có bài Tâm Và Vật Trong Phật Pháp, bây giờ lại nói về Tâm Và Pháp thì có trùng lắp không ? Xin thưa là không, bài này sẽ nói một cách khái quát và mở rộng hơn.

Tâm là gì ?

Tâm trong Phật pháp có nghĩa là A-lại-da thức (Alaya). Alaya là thức thứ 8 trong bát thức đồng thời cũng bao trùm toàn bộ các thức. Thành phần cơ cấu của bát thức là 18 giới (lục căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ; lục trần tức đối tượng của lục căn : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; và lục thức : thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc thân thể hay thân thức, ý thức). Alaya là tổng hợp tất cả dữ liệu của tất cả chúng sinh. Để so sánh với tin học, chúng ta tạm xem Alaya là Internet.

Thức thứ bảy Mạt-na thức (Manas) cũng bao gồm 18 giới nhưng chỉ giới hạn của một chúng sinh, một cá thể, do đó dữ liệu của Manas rất nhỏ so với Alaya. Chúng ta so sánh Manas với ổ đĩa cứng (hard disk) trong computer.

Thức thứ sáu là Ý thức. Ý thức thống lĩnh và điều hành 18 giới nhưng dữ liệu của của 18 giới còn trung tính (Phật pháp gọi là vô ký). Chỉ sau khi qua bộ não đối chiếu, so sánh, nhận biết, dữ liệu đó mới được phân biệt và có đặc trưng, đặc điểm riêng. Dữ liệu sau khi được bộ não xử lý thì mang theo tập khí của Manas nghĩa là Manas đã gán thói quen nhận thức của mình vào dữ liệu. Manas chính là thức chấp ngã của mỗi chúng sinh, đôi khi còn được PG gọi là Ý. Như vậy Ý (thức thứ 7) là Mạt-na thức tức là thức chấp ngã. Còn Ý thức (thức thứ 6) chỉ là cơ chế hoạt động của bộ não từ đó mới phát sinh Ý hay Manas. Chúng ta thường hay lẫn lộn giữa Ý và Ý thức, tức lẫn lộn giữa thức thứ 7 và thức thứ 6. Ý căn là bộ não. Ý thức là cơ chế hoạt động của bộ não. Ý hay Manas mới chính là thức chấp ngã của mỗi chúng sinh. Chúng ta so sánh Ý thức với bộ nhớ RAM của computer.

Tiền ngũ thức là 5 thức công cụ, cơ bản, là thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác tiếp xúc thân thể hay thân thức. Trong tiền ngũ thức, thức thứ 5 có liên quan tới sex, nó là kết quả ái dục của nam nữ và có chức năng lưu truyền nòi giống và cũng là một phần không nhỏ trong đời sống của con người.

Pháp là gì ?

Phần trên đã trình bày cấu trúc của tâm bao gồm tám thức, bản chất của tâm là thông tin, không phải là vật chất, tâm là một dạng sóng vô hình phi vật chất mặc dù trong cấu trúc của tâm, lục căn, lục trần có vẻ là vật chất nhưng thật ra tâm không phải là vật chất.

Biểu hiện của tâm là pháp. Pháp có hai loại hình tướng cơ bản. Loại thứ nhất là vật chất (kinh điển PG gọi là sắc). Loại hình tướng thứ hai là tinh thần, không phải là vật chất. Trong PG, pháp có ý nghĩa rất rộng, tất cả mọi biểu hiện dù là tinh thần vô hình, tưởng tượng, hay vật chất có hình tướng rõ ràng, cụ thể, đều gọi chung là pháp.

Kinh điển PG có đề cập đến ngũ uẩn 五蘊 hay còn gọi là ngũ ấm 五陰. Trong ngũ uẩn chỉ có sắc là vật chất, còn thọ (cảm giác) tưởng (tưởng tượng), hành (vận động, chuyển động, hoạt động), thức (phân biệt, nhận thức, tư duy) đều không phải là vật chất. Sắc tuy có một phần là vật chất nhưng không phải toàn bộ là vật chất, có những pháp có hình tướng, màu sắc rõ ràng nhưng cũng không phải là vật chất, chẳng hạn toàn bộ những thứ chúng ta thấy và nghe trên màn hình vi tính, đều có hình tướng rõ ràng như : chữ viết, hình ảnh, âm thanh, video, chúng cũng là sắc nhưng chỉ là ảo không phải là vật chất.

Vật chất có hai hình thái cơ bản :

-Hình thái vật chất có dạng hạt. Vật lý học hiện đại tổng kết Mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) gồm có 18 hạt cơ bản : 6 leptons, 6 quarks, 1 higg và 5 forces (photon, gluon, Z boson, W boson, graviton).

standard-model

Trong sơ đồ trên chỉ mới liệt kê 17 hạt, thiếu hạt graviton (tương tác hấp dẫn) bởi vì hạt này mới được khám phá trong năm 2016 do khám phá được sóng hấp dẫn, nhưng chưa kịp đưa vào mô hình.

-Hình thái năng lượng có dạng sóng, phần tử nhỏ nhất của năng lượng gọi là lượng tử (quantum) là một đại lượng trừu tượng bởi vì không thể xác định hình tướng của nó ra sao, nó hiện hữu một cách vô hình. Thậm chí lượng tử có biểu hiện trái ngược với những cảm nhận thông thường. Ví dụ :

-Thông thường chúng ta có cảm nhận về không gian và thời gian. Thời-không (space-times) là một đại lượng nền tảng trong cấu trúc vũ trụ. Nhưng lượng tử thì không có thời-không, biểu hiện rõ ràng trong hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement). Một hạt photon hoặc một hạt electron có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau trong không gian. Nó chứng tỏ rằng khoảng cách không gian là không có thật. Không gian là không có thật cũng có nghĩa là thời gian không có thật. Cũng tức là thời-không không có thật (unreal space-times).

-Thông thường chúng ta có cảm nhận về số lượng nhiều hay ít, một hay nhiều. Đó chỉ là cảm giác mà thôi. Nếu một hạt photon hoặc electron có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau. Điều đó chứng tỏ số lượng chỉ là ảo, không phải thật. Số lượng là không có thật (non quantity). Thí nghiệm của Maria Chekhova làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau là một minh chứng.

-Thông thường chúng ta có cảm nhận một vật, ví dụ cái bàn, cái nhà, chiếc xe…có vị trí nhất định. Đó cũng chỉ là cảm giác. Lượng tử, một hạt photon hoặc một hạt electron không có vị trí nhất định (non locality). Tính chất này trong kinh điển PG gọi là vô sở trụ, vật là vô sở trụ cũng có nghĩa là vật chỉ là ảo, vật không có thật (non realism). Như vậy cái bàn hay chiếc xe cũng không có vị trí nhất định. Hầu Hi Quý đã dùng ý niệm di chuyển cái bàn mạ vàng của tỷ phú Li Kashing từ nhà đến văn phòng làm việc của ông.

Sự kiện “Di chuyển vượt không gian từ Chascomus đến Mexico” (Teleportation from Chascomus to Mexico) của cặp vợ chồng Tiến sĩ Dahl Gaylard ở Argentina vào năm 1968 được đăng tải trên Wikimedia và các tờ báo của Argentina, cho thấy vật không có vị trí nhất định.

Vào tối ngày 1/6/1968, hai chiếc xe Limousine ở ngoại ô Buenos Aires, Argentina đang phi nước đại về phía trước, hai chiếc xe này được điều khiển bởi vợ chồng Tiến sĩ Luật ông Dahl Gaylard và hai người bạn thân trong chuyến đi thăm một người bạn khác. Họ đồng khởi hành từ phía Nam thành phố Buenos Aires. Khi sắp tiếp cận ngoại ô thành phố, chiếc xe của Tiến sĩ Gaylard đột nhiên biến mất. Hai người bạn đi trên chiếc xe Limousine phía trước nhìn qua gương chiếu hậu không thấy đã dừng và thậm chí quay trở lại tìm kiếm vợ chồng ông Gaylard nhưng vẫn không thấy. Đây là một con đường thẳng không có ngã rẽ, trên đường không có một chiếc xe hay mảnh vỡ nào.

Ngày hôm sau, họ gọi cho người thân và bạn bè trợ giúp tìm kiếm các khu vực xung quanh nhưng vẫn không thấy tăm hơi của hai vợ chồng Tiến sỹ Gaylard. Hai ngày sau (3/6/1968), họ nhận được cuộc gọi điện thoại từ lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Điện thoại cho biết: “Có một cặp đôi tự xưng là vợ chồng Tiến Sỹ Luật Gaylard đang ở chỗ chúng tôi. Bạn có biết họ không?”

Hóa ra cặp vợ chồng Tiến Sỹ Luật Gaylard đang ở thành phố Mexico. Họ đã biến mất khỏi ngoại ô thành phố Chascomus ở Argentina và xuất hiện ở nơi này, khoảng cách từ hai địa điểm lên tới 6.000 km. Kỳ lạ hơn nữa là ngay cả chiếc xe của cặp vợ chồng tiến sĩ cũng xuất hiện tại lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Trưởng lãnh sự quán ở đó xác nhận, vào ngày 3/6 vợ chồng tiến sĩ Gaylard quả thực đã ở đó.

Tiến sĩ Gaylard kể lại, khi họ lái xe rời khỏi thành phố Chascomus, vào khoảng 12h10 đêm, phía trước xe bất ngờ xuất hiện một màn sương trắng. Họ lập tức phanh gấp và nhanh chóng rơi vào trạng thái mất hết tri giác. Khi tỉnh giấc thì trời đã sáng, cảnh tượng bên ngoài cửa sổ xe không giống chút nào so với vùng đồng bằng ở Argentina. Sau khi xuống xe và tìm hiểu, họ thấy mình đang ở Mexico. Hai vợ chồng cảm thấy vô cùng kinh ngạc, liền hỏi đường tới lãnh sự quán Argentina để xin giúp đỡ. Vào thời điểm đó, họ phát hiện chiếc đồng hồ đeo tay đã dừng lại đúng vào thời khắc họ ở Argentina lúc 12: 10 ngày 3/6″.

Về hiện tượng này, các nhà khoa học như Stephen Hawking cứ giải thích một cách lầm lạc bằng lý thuyết lỗ sâu đục (wormhole theory) :

lo-sau-duc

Mà không chịu thừa nhận một thực tế đơn giản hơn nhiều là khoảng cách không gian không có thật. Đó chính là thái độ chấp thật mà cả Einstein và Hawking đều mắc phải.

Tóm lại pháp là biểu hiện của tâm, pháp có hai hình thái : vật chất và tinh thần, nhưng dù là hình thái nào, pháp chỉ là ảo, không có thật, pháp chỉ là tưởng tượng của tâm, nhưng không phải chỉ là tưởng tượng suông của ý thức mà là tưởng tượng đồng bộ của sáu thức. Cho nên con người rất khó nhận ra tính chất ảo hoá của mọi hiện tượng, nhất là vật chất như sơn hà đại địa, biển đảo, sinh vật, nhà cửa, xe cộ.

Dẫn chứng tính chất không thật của pháp    

Phần trên chúng ta đã định nghĩa tâm là gì, pháp là gì. Bây giờ chúng ta sẽ dẫn chứng cụ thể để người bình thường có thể hiểu được pháp là không, ngã cũng là không.

Các nhà khoa học Đức có bằng chứng vũ trụ này là giả lập

Đi sâu vào chi tiết, một vật cụ thể ví dụ như toà nhà hay chiếc xe hoặc con người chỉ là cấu trúc phân tử, nguyên tử, mà từ hạt nhân nguyên tử cho tới đám mây electron bao quanh hạt nhân đều có bản chất là sóng (tương ứng với tâm) và chỉ biến thành hạt, thành vật chất (tương ứng với pháp) khi bị nhìn, bị quan sát, bị đo đạc.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Các nhà khoa học đã nhận định rằng các cấu trúc cơ bản của vật chất như hạt cơ bản (ví dụ photon, electron, quark) hay các cấu trúc lớn hơn như hạt nhân nguyên tử, nguyên tử và phân tử, đều hành xử giống như hạt electron, nghĩa là chúng đều có lưỡng tính sóng và hạt. Sóng là thông tin, là năng lượng, là tinh thần, là ý thức (consciousness) không phải vật chất. Còn hạt là vật chất.

Nhận thức của khoa học ngày nay trùng khớp với Phật pháp. Bát Nhã Tâm Kinh từ xa xưa đã nói rằng “Sắc bất dị Không”. Sắc tức là vật chất. Còn Không tức là ảo, nghĩa là không có thật, không có gì hết (nothingness) nhưng biểu hiện là pháp, là vũ trụ, là thế giới. Thế giới chỉ là ảo, không có thật nhưng con người chúng ta lại thấy thế giới rất thật, rất rõ ràng, rất chi tiết.

Trong cuộc sống đời thường, có lẽ tuyệt đại đa số con người không thể tin nổi thế giới chỉ là ảo, là nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng tin học hiện đại đã chứng tỏ rõ ràng cho chúng ta thấy. Những gì chúng ta thấy trên màn hình : văn bản, hình ảnh, video; và nghe qua loa : tiếng nói, âm nhạc, âm thanh; đều là ảo, đều chỉ là tưởng tượng của mắt, của tai, của ý thức, theo nguyên lý thay thế. Còn thực chất của chúng chỉ là những bit thông tin 0 và 1 là biến tướng của hạt electron hoặc hạt photon mà thôi.

Nguyên lý thay thế là một nguyên lý cơ bản phổ biến nhất trong đời sống con người, thế mà đại đa số nhân loại chưa mấy ai ý thức được điều này, kể cả một bộ óc khoa học vĩ đại như Einstein. Trong cuộc sống đời thường hàng ngày, con người đã triệt để áp dụng nguyên lý này trong mọi hình thái hoạt động mà họ không hay biết, không ngờ tới.

Như trên đã nói, vật chất cơ bản là sóng, là vô hình, là không có thật, Phật pháp từ lâu đã dùng thuật ngữ Không để diễn tả. Do đó cửa Phật còn gọi là cửa Không.

一生幾許傷心事,Nhất sinh kỷ hứa thương tâm sự   Một đời lắm chuyện đau lòng

不向空門何處銷    Bất hướng không môn hà xứ tiêu  Không nương cửa Phật biết làm sao tiêu

Thế nhưng con người chỉ thấy vật chất mà không thấy tánh không hay bản thể không, bản thể ảo, do đó mà ôm bao nhiêu đau khổ : chiến tranh, loạn lạc, thiên tai nhân hoạ, tranh giành tài sản, tài nguyên, biển đảo, bệnh tật…Con người cũng không hiểu tại sao những cảnh tượng đau khổ đó xảy ra, chỉ giải thích nông cạn theo khoa học nửa vời nên không thể nào giải quyết được tận gốc vấn đề mà chủ yếu chỉ xoa dịu tạm thời.

Trong thế kỷ 20 đã xảy ra cuộc tranh luận quyết liệt giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein. Đến khi cả hai qua đời, nhân loại cũng chưa phân định được ai đúng ai sai. Nhưng ngày nay thì các nhà khoa học đã biết rằng phần thắng nghiêng về Bohr.

Tranh Luận Giữa Bohr Và Einstein Về Cơ Học Lượng Tử

Nhưng nhiều người vẫn còn mơ hồ không hiểu sao chỉ khi có người quan sát đo đạc thì những đặc trưng của hạt photon hoặc hạt electron mới xuất hiện.

Đến khi chúng ta xem lại kinh điển Phật giáo thì vấn đề trở nên rõ ràng. Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng :

一切法無自性 Nhất thiết pháp vô tự tính Tất cả các pháp đều không có tự tính

一切唯心造   Nhất thiết duy tâm tạo         Tất cả đều là do tâm tạo

Hạt photon hoặc bất cứ hạt cơ bản nào, hoặc bất cứ pháp gì đều không có tự tính. Mọi đặc tính đặc trưng của vật đều do tâm tạo, nghĩa là tâm gán ghép cái nhận thức của mình cho vật tuỳ theo tập quán.

Như vậy có thể nói tập quán, tập khí hay thói quen tâm lý chính là nhân tố quyết định để pháp hiện lên là cái gì. Và cũng chính trong ý nghĩa sâu xa đó, tu hành trong Phật giáo chính là sửa cái thói quen mê muội nhiều đời nhiều kiếp mà kinh điển gọi là thế lưu bố tưởng. Sửa như thế nào ?

Thật ra tu đích thực không phải sửa một thói quen này thành một thói quen khác. Tất cả mọi thói quen dù tốt hay xấu đều là vọng tưởng. Nên tu đích thực là phá bỏ thói quen chấp thật mà thôi. Chúng ta có thói quen cố chấp cho rằng thế gian là có thật, vật chất, núi sông, sinh vật, con người là có thật. Đó chính là thói quen chấp thật, nó sẽ dẫn tới đau khổ. Bởi vì thân thể tốt đẹp, xinh xắn, sẽ có lúc già, bệnh, chết. Nhà cửa đường sá sẽ có lúc sụp đổ vì thiên tai, bão lụt hoặc chiến tranh. Biển đảo, lãnh thổ sẽ có lúc bị nước khác, dân tộc khác xâm chiếm, nguyên do chính là do thói quen chấp ngã. Ai cũng tôn sùng cái tôi của mình và tôn sùng cái sở hữu của mình, lý lẽ ý thức hệ của mình, không ai chịu nhường ai. Cuối cùng sẽ dẫn nhau ra chiến trường. Chiến tranh Syria hiện nay, tình hình tranh giành biển đảo hiện nay, chính là biểu hiện mâu thuẫn xung đột giữa các cái ngã của các nhóm người, các quốc gia, các dân tộc khác nhau.   

Dưới sự thôi thúc của cái ngã thì công pháp quốc tế, những thỏa ước của Liên Hiệp Quốc cũng không có giá trị, những kẻ mạnh sẽ bóp méo luật pháp, diễn giải theo cách có lợi nhất cho mình, trong khi đó lý thì vô cùng, tranh luận mãi cũng không thể thống nhất được. Lý vô cùng biểu hiện như thế nào ?

Chẳng hạn người ta sống để ăn hay ăn để sống ? Kẻ cho rằng sống để ăn thì tôn thờ cái ăn, ăn phải ngon, ăn phải đem lại sự vui thú cho cuộc đời, phải ăn cá tôm, ăn thịt, ăn trên sinh mạng của các loài vật khác, thậm chí ăn tham nhũng, bóc lột tước đoạt của người khác để vinh thân phì gia cho mình. Còn kẻ cho rằng ăn để sống thì không cầu ngon, miễn sao cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể khỏe mạnh, hoạt động được tốt, những người tu hành thường theo quan điểm này. Hai quan điểm này tranh luận với nhau suốt đời cũng không thể thống nhất được bởi vì lý là vô cùng.

Một ví dụ khác là ngày nay người ta đã biết chủ nghĩa duy vật là sai lầm nhưng tuyệt đại đa số mọi người đều sống theo chủ nghĩa ấy. Những người không biết thì theo đã đành, những người biết cũng vẫn theo bởi vì vật chất gắn chặt trong cuộc sống hàng ngày của mọi người. Cho nên mọi lý luận cũng chỉ là hí luận, lý là vô cùng không thể khẳng định được.        

Những tính chất vô thường vô ngã của pháp, không gian, thời gian không có thực, có thể thấy rõ trong luân hồi, tái sinh, chuyển kiếp.

Huỳnh Đình Kiên đời Tống, kiếp trước là cô gái, kiếp sau là đàn ông, cho thấy sự vô ngã, vật hay pháp không có tự tính nhất định.

Cậu bé Titu 6 tuổi sống ở một ngôi làng miền bắc Ấn Độ, thật bẽn lẽn khi gặp lại vợ là Uma và hai đứa con kiếp trước. Hai đứa con lớn tuổi hơn cậu, còn người vợ đời trước là phụ nữ trung niên trong khi cậu mới 6 tuổi. Như vậy thời gian, tuổi tác, chẳng khác gì ảo tưởng.

Suresh Verma Titu Singh Reincarnation Case – Tái Sinh Chuyển Kiếp – VD

Trường hợp của Chiết Quốc Nga cũng tương tự.

Bé gái Chiết Quốc Nga 折国娥 kiếp trước là một người đàn ông ở thôn Mã Gia Than 马家滩  thuộc tỉnh Hà Bắc tên là Trương Phúc Đại 张福大 có vợ và sinh được 2 con trai, con trai cả tên là Trương Cát Lâm 张吉林.

Bây giờ cô là bé gái Chiết Quốc Nga 14 tuổi, trong khi con của cô đời trước cũng tức là con của ông Trương Phúc Đại là Trương Cát Lâm, đã 36 tuổi. Hình tướng đã biến đổi, thời gian, tuổi tác, chẳng còn chút gì thực chất cả, không ai tưởng tượng nổi cô chính là ông Trương Phúc Đại, đó là sự vô ngã, pháp không có tự tính.

Chiet Quoc Nga

Chiết Quốc Nga 14 tuổi và con trai đời trước Trương Cát Lâm 36 tuổi. Bên phải là hình đời trước Trương Phúc Đại, hình nhỏ là Chiết Quốc Nga đã thành thiếu nữ

Kết luận

Tâm là bản thể của vũ trụ vạn vật. Bản thể đó không có hình tướng, nghĩa là vô hình, không phải vật chất, không thể khẳng định là có thật cũng không thể phủ định là không có. Vì vậy Long Thọ Bồ Tát nói : Tâm như hư không vô sở hữu (tâm giống như hư không, không có thật).

Biểu hiện của Tâm là Pháp. Pháp có thể là tinh thần, tình cảm, tâm lý, thông tin, không có hình tướng nhưng cũng có thể là vật chất có hình tướng. Vật chất có thể là chất vô cơ không có sự sống như vô số thiên thể chung quanh quả địa cầu. Vật chất cũng có thể là chất hữu cơ có khả năng tạo ra sự sống, sinh vật và con người.

Muôn vạn các pháp biến hoá vô thường và vô ngã. Không gian, thời gian, số lượng cũng như tất cả các pháp đều chỉ là khái niệm, là vọng tưởng của con người chứ không có thực chất. Do đó bậc giác ngộ như Đức Phật khuyên rằng chúng ta có thể sống với thế lưu bố tưởng, tức là tưởng tượng đã trở nên phổ biến qua nhiều đời nhiều kiếp trên thế gian, nhưng không nên có chấp trước tưởng. Bởi vì hễ cố chấp vào một pháp nào đó thì sẽ dẫn đến phiền não, khổ.

Truyền Bình

Đăng tải tại Bài viết | 2 phản hồi