TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

Tổng quan về trò ảo thuật của Tâm

Có lẽ tất cả chúng ta đều từng có lần xem ảo thuật trên sân khấu. Diễn viên có thể làm nhiều trò rất kỳ lạ mà chúng ta không thể tưởng tượng.

Hans Klok – World record – 15 grandes illusions en 5 minutes

Hoặc xem David Copperfield đi xuyên qua bức tường Vạn Lý Trường Thành.

Ảo thuật đi xuyên Vạn Lý Trường Thành

Nhưng thực tế ông ta không có thực sự đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành mà chỉ tạo ra một ảo giác thị giác là ông ta đi xuyên qua.

Tất cả những trò ảo thuật đó đều chỉ là đánh lừa thị giác của người xem. Diễn viên cần có đạo cụ và người trợ giúp. Bây giờ giả sử yêu cầu diễn viên đứng ở giữa, bốn phía đều có khán giả, hoàn toàn không có đạo cụ, cũng không có ai trợ giúp phối hợp, chỉ một mình trơ trọi, thì người đó không thể thực hiện được màn trình diễn.

Trái lại trò ảo thuật của Tâm (tức là tạo hóa) thì siêu đẳng hơn gấp bội lần. Tâm chẳng những đánh lừa thị giác mà còn đánh lừa tất cả các giác quan khác bao gồm tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức. Tâm có cần tới đạo cụ không ? Có, đạo cụ vẫn cần thiết trong bất cứ trò ảo hóa nào. Đạo cụ của tạo hóa là những hạt ảo mà vật lý lượng tử ngày nay đúc kết thành 17 loại hạt trong bảng sau :

higgs-mohinhchuan

Mô hình chuẩn của Vật lý hạt hiện đại

Tại sao đó chỉ là những hạt ảo ? Bởi vì tất cả các hạt này đều không có thực chất. Bản chất của chúng chỉ là sóng tần số phi vật chất (cũng là tâm mà thôi). Thí nghiệm hai khe hở cho thấy rõ là khi bị quan sát hay bị đo đạc, tần số sóng bị sụp đổ thành hạt, lúc đó chúng mới xuất hiện. Chúng bị tùy thuộc vào tâm thức của người quan sát, không thể độc lập, không có chuyện vật chất độc lập đối với ý thức, trái lại, vật chất biểu hiện theo một thói quen sâu thẳm từ trong tiềm thức của người quan sát. Phật giáo diễn tả rằng, tùy theo duyên nghiệp mà cảnh giới xuất hiện, chính duyên nghiệp này là năng lực lựa chọn tần số nào sẽ xuất hiện và thành cảnh giới gì ở bên ngoài.

Dù không có thực chất, nhưng cảnh giới vật chất lại rất thật đối với các giác quan của chúng sinh, của con người, đó là một trò ảo thuật siêu đẳng. Trò ảo thuật của tâm có cần một sự che giấu nào đó không ? Cũng cần, ảo hóa phải cần có sự che giấu bớt một phần. Vì vậy tâm phải phân cực, tự biến nó thành hai (nhị nguyên- dualism) có chủ thể (subject) tức là chúng sinh, con người, làm diễn viên trong trò chơi, có khách thể (object) tức là vật làm đối tượng nhận biết của các thức (8 thức). Sự che giấu ở đây là khiến cho chúng sinh bị lừa gạt không biết đối tượng với chủ thể chỉ là một tâm. Sự che giấu còn thể hiện ở chỗ tâm tạo ra từng cặp phạm trù mâu thuẫn, có ánh sáng và bóng tối, có vật chất và phi vật chất, có vật chất thấy được và vật chất không nhìn thấy được, chỉ có thể suy luận ra sự hiện hữu của nó mà không thể thấy nó, có tốt có xấu, có thiện có ác…mà người chơi trò ảo hóa này không biết rằng cặp mâu thuẫn có chung một nguồn gốc. Chính sự che giấu này mà Phật giáo gọi là vô minh, là căn bản để tạo ra sự ảo hóa. Sự che giấu còn thể hiện ở chỗ các hạt ảo phải hết sức nhỏ mà mắt thường không thể nào thấy được. Ví dụ :

Nguyên tử nhỏ nhất là nguyên tử hidrogen có bán kính khoảng 0,053nm. (1 nm nanomét = 1 phần tỉ của mét tức 10-9 m.

NguyentuHydro

Nguyên tử hydrogen chỉ có 1 proton và 1 electron

Đường kính của hạt nhân nguyên tử còn nhỏ hơn, vào khoảng 10-5nm.

Như vậy đường kính nguyên tử lớn hơn đường kính hạt nhân tới 10.000 lần. Cái vật gọi là nguyên tử, thực tế chỉ là một khoảng không trống rỗng. Chỉ vì nó quá nhỏ, mắt trần không thể nhìn thấy, mới cho là nguyên tử là một vật cứng đặc, đó chỉ là tưởng tượng của con người. Vô số nguyên tử tạo ra một vật thể, ví dụ cục sắt, nặng và cứng rắn, đó cũng chỉ là tưởng tượng. Tính cứng của nguyên tử là trò ảo hóa của 4 lực tương tác cơ bản của vật chất gồm lực mạnh, lực yếu, lực điện từ và lực hấp dẫn. Chính những lực này giữ cho cấu trúc nguyên tử và phân tử của vật tương đối bền vững khiến con người tưởng rằng vật chất là cứng chắc. Biểu diễn sau đây của Trương Bảo Thắng cuối năm 1994 chứng tỏ cục sắt không thật sự cứng chắc như chúng ta tưởng.

Trương Bảo Thắng Biểu Diễn Làm Xoắn 2 muỗng Inox- Việt dịch

Một số vật chất được tạo bằng các nguyên tố C (carbon) H (hydrogen) O (oxygen) N (nitrogen)  Ca (calci) P (phospho)  K (kali), S (sulfur), Na (natri), Cl (clor), Mg(ma nhê)… chúng tạo thành chất sống tức là cơ thể của sinh vật và các loại lương thực thực phẩm, trong đó C,H,O,N là 4 nguyên tố chính chiếm tới 96% khối lượng của cơ thể sinh vật. Đây là những chất mà kinh điển Phật giáo xưa gọi là  Biến hoá sắc 变化色(vikāra-rūpa) Loại vật chất biến hoá, trong đó phân biệt ra hai loại gọi là Sắc nhu nhuyến tính 色柔软性((rūpassa mudutā) Loại vật chất mềm và Sắc quát ứng tính 色适应性(rūpassa kammaññatā) Loại vật chất biến đổi nhanh.

Những nguyên tố này tạo ra cơ thể sinh vật và thức ăn để nuôi cơ thể. Ngay cả cơ chế di truyền của sinh vật, vi diệu pháp xưa cũng có đề cập tới, chẳng hạn, kinh nói Tính căn sắc 性根色(bhāvarūpa) : gồm hai loại là Nam tính男性(hoặc Nam căn 男根 purisindriya)tức nhiễm sắc thể XY , Nữ tính 女性(hoặc Nữ căn 女根 itthindriya)là nhiễm sắc thể XX

Còn những cơ cấu vật chất tạo ra các giác quan và đối tượng của chúng như màu sắc, hình dáng, âm thanh, mùi và vị, kinh đều có liệt kê thành hai loại : căn (tịnh sắc) và trần (cảnh sắc) :

Tịnh sắc 淨色(pasāda-rūpa) tức 5căn : nhãn 眼(cakkhu-pasada)、nhĩ 耳(sota-pasāda)、tị 鼻 ghāna-pasāda)、thiệt 舌(jivhā-pasāda)、thân 身(kāya-pasāda)

Cảnh sắc 境色(gocara-rūpa) tức 4 trần: sắc 色(nhan sắc 颜色vaṇṇa)、thanh 聲(thanh âm 声音sadda)、hương 香(khí vị 气味gandha)、vị 味 (vị đạo 味道rasa

Tóm lại trò ảo hóa của tâm trong kinh điển Vi Diệu Pháp xưa có mô tả khá chi tiết mà ngày nay chúng ta có thể tìm thấy trong các văn bản Phạn Hán.

Một sai lầm rất lớn trong nền giáo dục ngày nay là người ta tách rời hai môn tâm lý học và sinh vật học. Tâm lý học của Tây phương nông cạn hơn nhiều so với Tâm học của Phật giáo bởi vì tâm lý học đó đã bị tách rời khỏi sinh vật học. Tâm lý học phương tây coi vật chất là độc lập khách quan đối với tâm thức nên không có chỗ đứng trong vật lý lượng tử. Trong khi đó, kinh điển PG luôn luôn xem tâm và vật là không thể tách rời vì hai thứ này có cùng một nguồn gốc, quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể độc lập, chính là vì Tâm tự phân cực thành nhị nguyên, thành tinh thần và vật chất. Vì vậy trong vật lý lượng tử, tâm có vai trò quyết định.

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi tâm hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ tâm- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của tâm là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng tâm là yếu tố cơ bản của thực tại).

Thật vậy, Luận Tạng hay Vi Diệu Pháp đúc kết vạn pháp thành 4 pháp cứu cánh 四種究竟法 hay Chân đế (Paramattha) là Tâm心, Tâm Sở 心所, Sắc 色, và Niết Bàn 涅槃 Như vậy Vi Diệu Pháp đã liệt kê Sắc (vật chất) là một thành phần không tách rời của Tâm pháp hay nói cho rõ ra, Vật tức là Tâm biến hóa ra.

Tâm 心 (Citta) là A-lại-da thức bao gồm 8 thức : tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh tiếp xúc. 5 tánh này gọi chung là Tiền ngũ thức (5 thức đầu hay cơ bản). Thức thứ sáu là tánh biết, tổng hợp tiền ngũ thức do bộ não thực hiện. Thức thứ bảy là Mạt-na (Manas) là thức chấp ngã tạo ra cái ta và cái của ta (ngã sở) của cá thể sinh vật. Thức thứ tám là A-lại-da (Alaya) là Tạng thức tức kho chứa tất cả mọi chủng tử, tất cả mọi phát sinh của bảy thức kia. Như vậy Alaya bao gồm tất cả tam giới, là một kho chứa vô hình, vô lượng, vô biên. Vì vô hình, vô thể, vô dạng, nên Alaya hay Tâm (Citta) không phải là vật chất, mà nó giống như hư không. (Tâm như hư không vô sở hữu) không có thực chất, chỉ là ảo. Nhưng Tâm không phải là hư không vì nó chứa đủ mọi chủng tử (dữ liệu- data) có khả năng biến hoá ra vũ trụ vạn vật.

Tâm Sở 心所 (Cetasika) là các thuộc tính của Tâm. Kinh điển phân tích Tâm có 51 Tâm Sở còn gọi là 51 Hành (sa. saskāra) tức là trạng thái hoạt động, biểu hiện của Tâm. 51 hành bao gồm : 5 Biến hành tâm sở (遍行, sarvatraga), 5 Biệt cảnh tâm sở (別境, viniyata), 11 Thiện tâm sở (善, kuśala), 6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱, mūlakleśa), 20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱, upakleśa) 4 Bất định tâm sở (aniyata). Nói chung các Tâm Sở là dạng hoạt động của Tâm về hai phương diện Thọ (cảm nhận, perception, sa. vedanā), và Tưởng (suy tư, tưởng tượng, meditation, imagination, sa. sajñā). Tất cả Tâm Sở cũng nằm trong Alaya.

Sắc 色(Rūpa- Vật chất) là do Tâm giả lập, là một thứ phương tiện hay đạo cụ phóng hiện ra để tạo thành nhiều cảnh giới khác nhau một cách thật rõ ràng cụ thể, giống như tin học ngày nay tạo ra hình ảnh, màu sắc, âm thanh trên màn hình vi tính, là  cứu cánh hay Chân Ðế (Pali. Paramattha) thứ ba được đề cập đến trong Abhidhamma (Vi Diệu Pháp), và cũng là một trong hai thành phần cấu thành cái được gọi là chúng sanh hay vạn vật, thành phần kia là Danh (Nāma). Sắc được liệt kê ra 28 loại vật chất. Lý thuyết về nguyên tử cũng thịnh hành ở Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật. Paramānu là một danh từ tương đương với chữ “hạt cơ bản (particle)” thời hiện đại. Theo sự tin tưởng thời bấy giờ, một rathareṇu là một hạt bụi tí ti vởn vơ trong làn ánh sáng, nó chứa 36 tajjāris (phân tử); một tajjāri chứa 36 aṇus (nguyên tử) ; một aṇu chứa 36 paramāṇus (hạt cơ bản). Như vậy, một paramāṇu bằng 1/46.656 phần của một rathareṇu. Paramāṇu nầy đuợc xem như không thể còn phân chia được nữa.

Niết Bàn (涅槃 Nirvana) là trạng thái bản nguyên vô sinh vô diệt của Tâm, cũng là trạng thái cứu cánh của Tâm giác ngộ khi Bát thức của Tâm chuyển thành Tứ trí. Tiền ngũ thức chuyển thành Thành sở tác trí. Ý thức chuyển thành Diệu quan sát trí. Mạt-na thức chuyển thành Bình đẳng tánh trí và A-lại-da chuyển thành Đại viên cảnh trí.

Cơ chế biến hóa của trò ảo thuật

Có thể nói vật lý lượng tử ngày nay đã phần nào khám phá được cơ chế biến hóa của trò ảo thuật siêu hạng này. Chúng ta đứng trên bình diện thế giới quan của con người để xem xét trò ảo thuật này.

Vũ trụ thật ra là không có gì cả, chỉ là cái Không trống rỗng mà Phật giáo từ ngàn xưa đã nói trong Bát Nhã Tâm Kinh, trong Trung Quán Luận của Long Thọ Bồ Tát hay trong Duy Thức Học của Vô Trước, Thế Thân, Huyền Trang…nhưng khoa học thì mới khám phá gần đây trong thế kỷ 20 và 21.

Từ quan sát thiên văn, năm 1912 Vesto Slipher đo dịch chuyển Doppler (hiệu ứng doppler là hiện tượng tần số và bước sóng của các sóng âm, sóng điện từ hay các sóng nói chung bị thay đổi khi mà nguồn phát sóng chuyển động tương đối với người quan sát. Ví dụ :

Doppler_effect

Nguồn phát sóng chuyển động lại gần người quan sát thì tần số tăng lên, bước sóng ngắn lại, còn ra xa thì tần số giảm đi, bước sóng dài ra.)

của quang phổ “tinh vân xoắn ốc” (thời đó người ta chưa biết tinh vân xoắn ốc là các thiên hà), và ông nhận thấy quang phổ dịch chuyển về phía đỏ (tần số ánh sáng đỏ thấp hơn ánh sáng tím và bước sóng thì dài hơn) chứng tỏ đa số các tinh vân này đang lùi ra xa Trái Đất.  Điều đó có nghĩa là vũ trụ đang giãn nở. Năm 1924 những đo lường của nhà thiên văn học người Mỹ Edwin Hubble đối với khoảng cách đến những tinh vân mà ông có thể quan sát ở thời đó chỉ ra rằng, quả thực những tinh vân xoắn ốc này là các thiên hà. Cũng trong năm 1924 Carl Wilhelm Wirtz, và năm 1925 Knut Lundmark, hai người đã nhận ra các tinh vân ở xa hơn thì lùi ra xa nhanh hơn so với các tinh vân ở gần. Năm 1927, nhà vũ trụ học và thầy tu Công giáo người Bỉ Georges Lemaître, nghiên cứu độc lập và ông đi xa hơn khi đề xuất sự lùi xa của các tinh vân (thiên hà) là do sự giãn nở của không gian Vũ trụ. Năm 1931 Lemaître tiếp tục công trình nghiên cứu trước đó và đề xuất về manh mối cho sự giãn nở của Vũ trụ, nếu chúng ta đi ngược lại thời gian, vào thời điểm càng xa trong quá khứ thì vũ trụ càng nhỏ hơn, cho đến một thời điểm hữu hạn ở quá khứ, mọi khối lượng và năng lượng của Vũ trụ tập trung lại tại một điểm, gọi là “nguyên tử nguyên thủy”, nơi bắt đầu hình thành lên cấu trúc không và thời gian Lemaître đã viết :

“Nếu thế giới bắt đầu từ một điểm lượng tử, những khái niệm không gian và thời gian sẽ không có bất cứ một ý nghĩa gì tại thời điểm khởi đầu; nó chỉ bắt đầu có một ý nghĩa nhận thức được khi lượng tử ban đầu đã phân chia thành đủ một số lượng tử. Nếu đề xuất này là đúng, sự khởi nguyên của thế giới có thể còn hơi sớm hơn sự khởi đầu của không gian và thời gian.”

Trong câu viết của Lemaître cũng đề cập rằng số lượng (quantity) cũng không có ý nghĩa ở thời điểm khởi đầu, nghĩa là 3 đại lượng cơ bản nhất : không gian, thời gian và số lượng cũng đều là ảo hóa và không có ý nghĩa gì tuyệt đối cả.

Đó là quá trình lịch sử dẫn tới việc đưa ra giả thuyết Big Bang, đây là vụ nổ lớn tạo thiên lập địa, tạo ra không gian, thời gian và số lượng vật chất, tạo ra các thiên thể, các thái dương hệ và cuối cùng là sự xuất hiện của Trái Đất, sinh vật và con người.

Vào năm 1965, hai chàng kỹ sư trẻ tuổi Robert W. Wilson và Arno Pentias, luôn luôn thu được một tiếng ồn radio cường độ không đổi, dù ăngten được quay đi hướng nào chăng nữa, từ ăngten radio có dạng cái phễu kích thước 1,2m. Thiết bị siêu nhạy này của công ty Bell Telephone được lắp đặt vào năm 1960 ở Gawford Hill, tiểu bang New Jersey, với mục đích thu nhận các tín hiệu radio từ vệ tinh ECHO. Phát hiện của Pentias và Wilson đã tạo công ăn việc làm cho cả ngàn nhà Vật lý trong suốt 20 năm. Người ta tính toán đo đạc kỹ lưỡng và đi đến kết luận chính xác, đó chính là bức xạ nền vũ trụ, có nhiệt độ 2,70K là tàn dư của vụ nổ. Đây là chứng cớ thực nghiệm của thuyết Vụ Nổ lớn, xác định tính hiện thực của nó.

Vậy vụ nổ lớn Big Bang là trò ảo thuật cơ bản của Tâm để tạo ra hiệu ứng không gian và thời gian đồng thời tạo ra các thiên hà, các thái dương hệ, mặt trời mặt trăng, các hành tinh, trong đó Trái Đất với sơn hà đại địa, biển lớn, được chọn để làm nhiều trò ngoạn mục hơn nữa. Khi chưa có sinh vật thì vũ trụ, mặc dù đã có nhiều cấu trúc ảo nhưng chưa hiện hữu, bởi vì chưa có chủ thể để nhận thức sự hiện hữu của vũ trụ, nên vũ trụ đó chỉ là tiềm thể có khả năng hiện hữu nhưng chưa hiện hữu. Điều này được Heisenberg, người phát minh ra nguyên lý bất định (không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) phát biểu : “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).

Tâm lại tạo thêm nhiều trò ảo thuật khác có qui mô nhỏ hơn nhưng vô cùng quan trọng trên hành tinh xanh Địa Cầu để tạo ra sinh vật và con người, phải có người nhận thức thì vũ trụ mới hiện hữu. Tâm dựa trên nguyên lý vô minh để tạo ra sinh vật và cuối cùng là con người theo kịch bản 12 nhân duyên như Phật giáo đã mô tả.

12nhanduyenC

Sơ đồ thập nhị nhân duyên

Trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khoa học cũng đã duyệt xét lại một cách tỉ mỉ những cơ chế ảo hóa cụ thể, như sau :

Tại sao một vật hiện hữu ?

Từ năm 1924, Louis de Broglie đã trình bày rằng hạt photon (ánh sáng) có lưỡng tính sóng và hạt. Ở thể sóng, photon là vô hình và không phải là vật chất. Cái mà con người thấy được là thể hạt, là vật chất. Hạt ánh sáng đã được Einstein chứng minh trong hiệu ứng quang điện và nó có thể biến thành điện năng. Ánh sáng 7 màu (đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím) là do tần số dao động khác nhau của 7 loại hạt ánh sáng, chứ không phải ánh sáng bản nguyên ở thể sóng phi vật chất. Sóng photon cũng như sóng electron là sóng phi vật chất không thể thấy được, chỉ có thể suy đoán sự hiện hữu của chúng qua các hiệu ứng. Vả lại chỉ cần quan sát hay đo đạc, sóng phi vật chất liền biến thành vật chất. Đó chính là cơ chế căn bản để không biến thành có, vô hình biến thành hữu hình. Còn Phật giáo thì diễn tả rằng khi nhất niệm vô minh của chúng sinh hay con người khởi lên, thì đó chính là nằm mơ giữa ban ngày, là sự xuất hiện của thế gian huyễn ảo. Chỉ cần dừng cái nhất niệm vô minh liên tục không dứt kể cả khi chết đó, tức thì hoát nhiên ngộ đạo, kiến tánh, ngộ bản lai diện mục tức Tâm, cũng là Niết bàn vô sinh vô diệt. Vấn đề không phải là dùng nhất niệm vô minh để ngộ, mà phải dừng bặt nó.

Đến năm 1961, Claus Jonsson của đại học Tubingen (Đức) lần đầu tiên tiến hành thí nghiệm hai khe hở với electron, ông có phát hiện quan trọng, chùm tia electron tạo ra giao thoa sóng, nó chứng tỏ rằng hạt electron cũng có thể là sóng. Đây là phát hiện mới mẻ vì từ trước đến nay chưa ai nghĩ rằng electron lại có thể là sóng, mặc dù từ năm 1927 Heisenberg đã đưa ra nguyên lý bất định (principle of uncertainty) nói rằng không thể đồng thời xác định vị trí và động lượng của electron. Sự giao thoa sóng của electron càng được chứng tỏ rõ ràng hơn khi người ta bắn từng hạt electron đơn độc qua hai khe hở năm 1974, thực hiện bởi Giulio Pozzi và các đồng sự tại đại học Bologna nước Italy. Việc bắn từng hạt electron nhằm tránh việc các electron chạm nhau gây nhiễu xạ. Họ đã cho các electron đơn độc đi qua một lưỡng lăng kính – một dụng cụ có chức năng giống như một khe đôi – và quan sát thấy sự hình thành của một hệ vân giao thoa sóng. Một thí nghiệm tương tự cũng được thực hiện vào năm 1989 bởi Akira Tonomura và các đồng sự tại phòng nghiên cứu của hãng Hitachi ở Nhật Bản. Thí nghiệm electron đơn độc đầu tiên sử dụng một khe đôi thực sự, được báo cáo vào năm 2008 bởi Pozzi và các đồng sự. Đội khoa học gia Italy còn tiến hành thí nghiệm với một khe bị che đi, và đúng như trông đợi, nó không dẫn tới sự hình thành của hệ vân giao thoa hai khe. Đội còn tiến hành một thí nghiệm khác vào năm 2012, trong đó sự tới đích của từng electron đến từ hai khe được ghi lại tuần tự từng hạt một.

Herman Batelaan thuộc trường Đại học Nebraska-Lincoln, cùng với các đồng nghiệp ở đó và tại Viện Vật lý Lý thuyết Perimeter ở Waterloo, Canada, cũng báo cáo cho biết họ vừa tạo ra một thí nghiệm hai khe tuân theo phương pháp luận chính xác của thí nghiệm tưởng tượng Feynman. Công trình được công bố đầu năm 2014.

Công trình ban đầu vốn là một đề án tốt nghiệp tại Nebraska và nhận được sự quan tâm khi Damian Pope ở Viện Perimeter biết được Batelaan và đồng sự đang nghiên cứu hiện thực hóa thí nghiệm Feynman. Pope thiết tha muốn ghi phim về thí nghiệm tưởng tượng đó.

Đội nghiên cứu đã chế tạo một khe đôi trên một màng mỏng silicon mạ vàng, trong đó mỗi khe rộng 62 nano-mét và dài 4 micro-mét và hai khe cách nhau 272 nano-mét. Để chặn đi một khe, một mặt nạ nhỏ xíu được điều khiển bởi một mũi áp điện trượt tới trượt lui trên hai khe.

Các electron được tạo ra tại một dây tóc tungsten và được gia tốc đến 600 GeV (Giga electron Volt, 1 GeV = 1 tỉ (bilion) electron volts) rồi chuẩn trực thành một chùm tia. Sau khi đi qua hai khe, chúng được phát hiện ra bởi một bản dò đa kênh.

Cường độ của nguồn electron được thiết lập thấp đến mức chỉ có một electron mỗi giây được phát ra – để đảm bảo rằng mỗi lượt chỉ có một electron sẽ đi qua hai khe. Ở tốc độ này, người ta mất chừng hai giờ để cho một hệ vân hình thành trên máy dò – một quá trình được ghi lại trực tiếp bằng video. Các phép đo được lặp lại với mặt nạ quét qua lại nhiều vị trí: trước tiên chặn cả hai khe, rồi chặn một khe, sau đó không chặn khe nào, rồi chặn khe bên kia. Đúng như trông đợi, hệ vân hai khe xuất hiện khi các electron được phép đi qua cả hai khe, nhưng không xuất hiện khi một khe bị chặn lại.

Batelaan cho biết thí nghiệm trên đặc biệt quan trọng khi nhìn từ quan điểm rộng, bởi vì không giống như thí nghiệm lưỡng lăng kính trước đây, nó thật sự sử dụng một khe đôi và do đó dễ được mọi người chấp nhận hơn. Được biết, thí nghiệm hai khe với electron đơn độc đã được độc giả báo Physics World (Thế giới Vật lý) bầu chọn là “thí nghiệm đẹp nhất trong vật lí học” hồi năm 2002. Chúng ta hãy xem kỹ thí nghiệm này.

Double Split Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Thí nghiệm này chứng tỏ trò ảo thuật siêu hạng của Tâm. Khi chúng ta không nhìn thì electron là vô hình, là sóng không phải vật chất. Còn khi chúng ta nhìn thì electron biến thành hạt vật chất hữu hình, có những đặc điểm như khối lượng, điện tích, số spin. Những đặc trưng đó thật ra là do Tâm tự tưởng tượng ra mà thôi. Thích Ca từ hơn 2500 năm trước đã nói rằng vật không có tự tính, tất cả những tính chất của vật chỉ là thế lưu bố tưởng. Vật không phải chỉ hiện hữu khi bị nhìn, nó còn hiện hữu trước 6 giác quan của con người (thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, ý thức). Thí nghiệm trên chứng tỏ vật chất không độc lập đối với 6 giác quan, vật chất không phải là khách quan mà là chủ quan. Chỉ vì đông người cảm nhận giống nhau nên tưởng là khách quan.

Đến đây thì chúng ta đã có thể hiểu rõ vật chất chỉ là trò ảo thuật của 17 loại hạt ảo trong mô hình chuẩn của vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics). Thế giới đời thường của chúng ta chỉ xuất hiện khi những hạt ảo đó tự cấu trúc thành cơ thể sinh vật với lục căn, lục trần và lục thức gọi chung là 18 giới. Lục căn và lục trần duyên nhau, tiếp xúc với nhau, phát sinh lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, ý thức). Thí nghiệm hai khe hở chính là một trường hợp điển hình để chúng ta thấy rõ căn tiếp xúc với trần phát sinh ra vật là như thế nào. Vật chính là tâm thức.

Khoa học thế kỷ 21 còn giải thích rõ ràng cơ chế nào khiến vật vốn là ảo, không có thật, từ không gian hai chiều phóng hiện thành vật trong không gian ba chiều. Cơ chế đó giống như sự xuất hiện của một toàn ảnh (hologram).

Universe 3 – Trường và Nguyên Lý Toàn Ảnh – Phụ đề Việt ngữ

Kết luận

Tâm là một nhà ảo thuật siêu hạng, nó biến Tâm như hư không vô sở hữu thành Tam giới, thành vũ vạn vật thiên hình vạn trạng như chúng ta đang thấy. Không gian và thời gian, thiên hà, mặt trời, hành tinh, mặt trăng, sinh vật, con người…đều là do tâm biến ra dựa trên nguyên lý vô minh, là điều kiện tất yếu của mọi trò ảo thuật. Các nhà tu hành Phật giáo, tham thiền, niệm Phật, ăn chay giữ giới, cũng chỉ vì muốn phát hiện cái Tâm đứng đàng sau mọi trò ảo thuật của thế gian; cái tôi (ngã) chỉ là một thứ ảo hóa, không cần phải quá cố chấp, những cái của ta (ngã sở) thì lại càng xa vời hơn nữa. Khoa học ngày nay đã khám phá ra rằng vũ trụ chỉ là số (digital), là thông tin, là miền tần số (frequency domain) có dạng sóng, sóng đó không phải vật chất, nó giống với sóng tư tưởng hơn. Đó là một vũ trụ duy thức mà nhiều nhà khoa học ngày nay gọi là trường thống nhất (unified field). Vạn pháp duy thức là điều đã được Huyền Trang tổng kết trong bộ kinh Thành Duy Thức Luận.

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to TRÒ ẢO THUẬT CỦA TÂM

  1. Minh nói:

    Về trường hợp đặc dị công năng ở Trung Quốc (Trương Bảo Thắng,…..) tôi có một số thắc mắc sau mong được giải đáp:

    – Các tài liệu ghi nhận về các hiện tượng đặc dị công năng này có chính xác không? có đáng tin cậy không? Tính thổi phồng của báo chí luôn là vấn nạn. Có vẻ nó hao hao giống như các trường hợp chính phủ Mỹ đã từng giam giữ người ngoài hành tinh, rất là khó tin.

    – Nếu các hiện tượng như Trương Bảo Thắng là có thật, thì vì sao mà Trương Bảo Thắng lại có các thần thông đó? Ông ta có trải qua quá trình tu tập nào không? hay có sự kiện gì xảy đến khiến ông ta bỗng dưng có được các thần thông này?

    Tks

    • Quyển sách Siêu Nhân Trương Bảo Thắng của tác giả Gia Cát Hỉ Hán là đáng tin cậy vì 3 lý do sau :
      1/Tác giả của nó vốn là một cán bộ làm công tác khoa học, ông là Chủ nhiệm Ban Khoa học Kỹ thuật của TP Bổn Khê tỉnh Liêu Ninh. Quyển sách được sự ủng hộ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước TQ từ Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang đến Phó chủ tịch nước Vương Chấn, Phó thủ tướng Dư Thu Lý, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, và của giới khoa học như Tiến sĩ Tiền Học Sâm.
      2/Đặc dị công năng cũng không có gì mâu thuẫn với vật lý lượng tử hiện đại, khoa học vẫn có thể giải thích được.
      3/Đặc dị công năng cũng chính là những loại thần thông mà trong kinh điển Phật giáo đã có nói (Lục thông)
      Trường hợp của Trương Bảo Thắng không phải do luyện tập, không có ai truyền dạy, cũng không phải từ tai nạn hay bệnh tật mà có, nó vốn là bẩm sinh đã có, lớn lên mới dần dần tự phát hiện. Nhưng cũng có thể là do tu tập từ những kiếp trước.

  2. Buu Tran nói:

    Theo tôi, vụ đặc dị là sự thật, nhưng phóng đại để tuyên truyền như bạn Minh đưa ra củng không phải không có ly

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s