TẠI SAO PHẬT GIÁO NÓI THẾ GIAN LÀ MỘNG HUYỄN ?

Các Phật tử có lẽ ai cũng từng xem qua bài kệ này trong Kinh Kim Cang.

一切有為法,Nhất thiết hữu vi pháp        Tất cả pháp hữu vi

如夢幻泡影,Như mộng huyễn bào ảnh  Như mộng huyễn bọt bèo

如露亦如電,Như lộ diệc như điện          Như sương mai điện chớp

應作如是觀. Ưng tác như thị quán          Nên xem xét như thế

Mộng huyễn nghĩa là gì ? Chắc mọi người đều hiểu mộng huyễn chỉ là ảo giác do tưởng tượng chứ không có thật. Giống như trong giấc mộng, chúng ta mơ thấy cảnh giới này nọ nhưng đều là không có thật.

Pháp hữu vi là những sự vật hữu hình hoặc vô hình do tạo tác mà có. Vật hữu hình như quả địa cầu, sơn hà đại địa, vạn vật, nhà cửa xe cộ, và thân thể của con người chúng ta. Sự vật vô hình như tư tưởng, tình cảm, tình yêu, văn hóa phi vật thể. Tạo tác có nhiều ý nghĩa, do có cấu trúc nhiều thành phần, có sự kết hợp nhân duyên, do sự sáng tạo của bàn tay khối óc con người. Chúng ta thường suy nghĩ sai lầm rằng chỉ có những sản phẩm nhân tạo mới là tạo tác còn những vật có sẵn trong tự nhiên thì không phải do tạo tác. Thật ra những vật tự nhiên như vũ trụ, thiên hà, các ngôi sao, các hành tinh…vẫn là tạo tác. Vậy ai tạo ra chúng ? Chính chúng ta tạo ra. Thật kinh ngạc ! nhiều người không thể hình dung nổi làm sao mình có thể tạo ra vũ trụ, thiên hà, ngôi sao, hành tinh, sơn hà đại địa, không thể nào tin nổi. Lý do là vì vũ trụ và tất cả những vật trong vũ trụ đều không có thật, đều do tâm tạo, tâm của chúng ta tưởng tượng ra, do đó kinh điển Phật giáo nói : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Vậy tâm của chúng ta tạo ra vũ trụ bằng cách nào ? Dựa vào hai nguyên lý đã nói rất kỹ trong những bài trước : đó là nguyên lý nhất thiết pháp vô tự tính và nguyên lý thay thế. Chính chúng ta đã đánh tráo thói quen nhiều đời nhiều kiếp của mình mà PG gọi là tập khí, vào cấu trúc ảo mà khoa học diễn giải là những hạt cơ bản, bản chất của chúng đều là sóng. Sau khi thay thế thì sóng vô hình, không phải vật chất mà khoa học gọi là miền tần số (frequency domain) hoặc trường thống nhất (unified field) biến thành vật chất dưới dạng là hạt, trong mô hình chuẩn của vật lý hạt (standard model of particle physics), có 18 lọai hạt cơ bản như thế. Sự tưởng tượng của tâm làm biến đổi sóng vô hình thành vật chất hữu hình, Đại Bát Niết Bàn Kinh 大般涅槃經 gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 ( 一切聖人唯有世流布想。無有著想。一切凡夫惡覺觀故。於世流布生於著想 Nhất thiết thánh nhân duy hữu thế lưu bố tưởng, vô hữu trước tưởng. Nhất thiết phàm phu ác giác quán cố, ư thế lưu bố tưởng sinh ư trước tưởng = Tất cả thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng. Tất cả phàm phu do cảm nhận sai lầm, cố chấp, từ thế lưu bố tưởng sinh ra trước tưởng).Thế lưu bố tưởng là thói quen nhìn sự vật đã được lưu truyền nhiều đời và trở nên phổ biến, ví dụ thấy con ngựa, con trâu, người ta, thì nhận biết đó là vật gì. Còn trước tưởng là thói quen của phàm phu vướng mắc vào hình tướng, tưởng rằng con ngựa, con trâu, người ta là có thật, không biết rằng đó chỉ là tưởng tượng của 6 giác quan (lục thức) chứ không phải có thật.

Đi sâu hơn nữa vào cấu trúc của vật chất, chúng ta thấy nguyên tử là một cấu trúc có sự kết hợp nhân duyên của những hạt cơ bản của vật chất. Ví dụ nguyên tử hydrogen là một cấu trúc đơn giản nhất.

Nguyên tử hydrogen

Nguyên tử hydrogen gồm có hạt nhân là một hạt proton, bên ngoài là một hạt electron quay xung quanh nhân với vận tốc rất lớn, nó tạo thành đám mây mù khiến ta thấy nguyên tử hydrogen giống như một quả cầu nhỏ xíu, đặc cứng. Bên trong quả cầu đó thật ra là khoảng không trống rỗng. Các nhà khoa học đã cho một ví dụ để dễ hình dung. Nếu hạt electron to bằng quả bóng đá thông thường, thì khoảng cách từ hạt nhân tới hạt electron là 20 dặm (= 32 km). Nghĩa là nguyên tử chỉ là khoảng không mênh mông trống rỗng mà thôi, chẳng có gì là cứng đặc cả. Cảm giác cứng đặc chỉ là mộng tưởng huyễn ảo chứ không có thực chất.

Vậy còn hạt proton và hạt electron có phải cứng đặc không ? Các nhà khoa học trả lời rằng cũng không. Hạt electron và hạt proton cũng chỉ là hạt ảo, bản chất chúng là sóng vô hình, không phải vật chất.

Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922)  nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Các nhà khoa học khác cũng nói :

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).

Sóng của các hạt cơ bản chỉ trở thành hạt vật chất trong con mắt và các giác quan khác của người quan sát thôi. Thí nghiệm hai khe hở đã chứng tỏ điều đó.

Double Slit Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Đi sâu hơn nữa vào hạt nhân nguyên tử, khoa học cho biết hạt proton được cấu tạo bằng ba hạt cực kỳ nhỏ hơn nữa.

Cấu tạo của hạt proton

Hạt proton được cấu tạo bằng hai hạt quark up (u) và một hạt quark down (d). Để dễ hình dung, các nhà khoa học đưa ra so sánh về sự cực kỳ nhỏ của hạt quark. Nếu một hạt quark to bằng một hạt ngọc trai có đường kính 5mm (milimét) thì nguyên tử hydro phải to bằng quả địa cầu.

Như vậy chúng ta có thể hình dung nguyên tử chỉ là một quả cầu trống rỗng, cấu tạo bằng những hạt ảo là quark và electron mà bản chất của những hạt này cũng chỉ là sóng vô hình không phải là vật chất, vật chất chỉ là tưởng tượng gán ghép của con người dựa trên một cấu trúc ảo. Cấu trúc ảo đó Thiền gọi là vô thủy vô minh. Tham thoại đầu, phát khởi nghi tình là đi tới chỗ vô thủy vô minh đó. Nhưng đến đó cũng chưa phải là kiến tánh, còn phải bước thêm một bước nữa.  Thiền nói giống như hành giả đã trèo tới đầu sào cao trăm trượng rồi, hết chỗ để trèo rồi, nhưng vẫn còn phải tiến thêm bước nữa mới giác ngộ. Đời Tống, thiền sư Chiêu Hiền có sáng tác bài kệ để nói ý này:  

百尺竿頭不動人 Bách xích can đầu bất động nhân,   Sào cao trăm thước người lặng thinh,
Tuy nhiên đắc nhập vi vi chân.         Tuy là cao vút hết đường binh
竿 頭須   Bách xích can đầu, tu tiến bộ,           Đầu sào vẫn cần tiếp bước nữa  
全身 Thập phương thế giới thị toàn thân. Mười phương thế giới chính là mình.

Ý bài kệ muốn nói cấu trúc ảo vô thủy vô minh của vật chất cũng không phải là bên ngoài, nó vẫn là do tâm phóng hiện, rồi tâm lại tương tác với nó thành ra nhận thức về vũ trụ van vật. Thấy được như vậy mới là kiến tánh giác ngộ.

Chúng ta hãy xem một vài nguyên tử khác phức tạp hơn một chút là Helium, chất khí nhẹ, một nguyên tử kim loại nặng là vàng và nguyên tử uranium thường dùng để sản xuất điện và vũ khí hạt nhân.

Nguyên tử Helium có hai proton, hai neutron và hai electron. Hạt neutron có cấu tạo là hai quark down (d) và một quark up (u)

Cấu tạo của hạt neutron

Một nguyên tử vàng thì rất nặng và có cảm giác đặc cứng hơn nữa vì nó được cấu trúc với rất nhiều proton, neutron và electron.

Nguyên tử vàng ký hiệu Au (do tiếng Latin là Aurum) có 79 proton, 118 neutron và 79 electron

Nguyên tử Uranium235 gồm có 92 proton, 146 neutron và 92 electron

Uranium có nhiều proton và neutron hơn vàng nên nó nặng hơn vàng khá nhiều.

Tất cả mọi hạt cơ bản, mọi nguyên tử, phân tử hay cố thể vật chất như hòn đá, cái nhà, cái xe, thân thể chúng ta đều là pháp hữu vi do con người tưởng tượng ra mặc dù trong đời thường con người có dùng bàn tay và khối óc chế tạo ra một số vật thể, nhưng dù là thiên nhiên có sẵn hay do con người chế tạo, các pháp hữu vi đều là tưởng tượng chứ không có thật, không có thực chất. Có điều gì chứng tỏ sản phẩm do con người làm ra cũng chỉ là tưởng tượng ? Trong thực tế các nhà đặc dị công năng đã chứng tỏ bằng thực nghiệm.

Một chiếc đồng hồ đeo tay đang chạy tốt, do con người chế tạo, nếu không phải là tưởng tượng thì tại sao nó lại tuân theo ý muốn của Hầu Hi Quý ? Ông ta dùng cục gạch cứng đập vỡ, bẹp dí chiếc đồng hồ, rồi sau đó dùng ý niệm của mình phục nguyên lại nó, vẫn chạy tích tắc như thường, giống như chưa hề bị đập vỡ.

HẦU HI QUÝ – PHỤC NGUYÊN CHIẾC ĐỒNG HỒ TAY BỊ ĐẬP BẸP

Không phải chỉ có Hầu Hi Quý phục nguyên vật thể, Trương Bảo Thắng cũng từng phục nguyên một tấm danh thiếp của một cán bộ nhà nước TQ và một bức họa do một họa gia nổi tiếng vẽ ra và đem tặng anh, nhưng đã bị anh xé nát, vò cục, còn ngâm nước cho bục ra hết.

TRƯƠNG BẢO THẮNG PHỤC NGUYÊN TẤM DANH THIẾP VÀ BỨC HỌA

Khả năng phục nguyên vật thể của các nhà đặc dị công năng khiến chúng ta phải xét lại định luật về entropy. Entropy là một đại lượng của nhiệt động học, ký hiệu là S, là một đơn vị đo nhiệt năng phát tán hoặc hấp thụ khi một hệ vật lý chuyển trạng thái tại một nhiệt độ tuyệt đối xác định, độ biến thiên của S theo hai chiều thuận nghịch hoặc không theo hai chiều thuận nghịch chính là ý nghĩa của entropy. Ý nghĩa đó về phương diện nhiệt động học thì entropy không biến thiên theo hai chiều thuận nghịch mà chỉ biến thiên theo một chiều vì entropy không có tính bảo toàn. Đại lượng này có thể tăng một cách đột ngột trong một quá trình không thuận nghịch. Thật vậy, theo định luật thứ hai của nhiệt động học, entropy của một hệ cô lập không thể giảm, mà chỉ có thể tăng hoặc giữ nguyên giá trị trong trường hợp quá trình biến đổi là thuận nghịch.

Về phương diện thông tin thống kê cơ học, entropy mô tả mức độ trật tự hoặc hỗn loạn của một hệ thống hoặc một sự vật.

Tính biến đổi một chiều của entropy

Bất kỳ một hệ thống vật chất nào, nếu không tiếp thu được năng lượng từ môi trường thì chiều biến đổi của nó là tăng liên tục entropy (tức là tăng mức độ hỗn loạn) cho đến khi trình độ tổ chức, cấu trúc tổ chức của nó suy giảm và tiến tới mất cấu trúc và thành một thứ đồng nhất (homogeny) và vô định hình (amorphism), không còn hoặc có rất ít biến đổi, vận động. (có thể tăng không đồng nhất ở tất cả mọi bộ phận con).

Một cơ thể sống là hệ thống vật chất có khả năng tự lấy năng lượng từ bên ngoài để chống lại xu thế tăng entropy của bản thân. Năng lượng lấy thêm vào được các nhà khoa học gọi là negentropy tức là negative entropy.

Nếu giảm entropy thì tăng cấu trúc tăng sự vận động tức là phát triển đi lên, là tiến bộ trong biến đổi.

Để cho dễ hiểu, chúng ta hãy lấy một thí dụ, ta đánh rơi một chiếc ly thủy tinh từ trên cao xuống nền gạch vỡ tan, như thế entropy của cái ly đã tăng đột biến. Cái ly không thể tự nhiên được phục nguyên vì entropy chỉ biến đổi theo một chiều tăng lên chứ không giảm đi, chúng ta không thể làm cho cái ly tự nhiên nguyên lành lại được. Định luật thứ hai của nhiệt động học nói như thế và vẫn giữ nguyên giá trị trong lĩnh vực thống kê cơ học thông tin. Thế nhưng rõ ràng Hầu Hi Quý và Trương Bảo Thắng có thể phục hồi cái đồng hồ tay bị đập nát và một bức họa bị xé nát, vo tròn, ngâm nước. Như vậy họ đã khiến cho entropy giảm đi, trái ngược với định luật.

Như vậy chúng ta thấy rằng các định luật vật lý cũng không hoàn toàn đúng.

Việc làm của Hầu và Trương rất có ý nghĩa về phương diện sáng thế của Đấng Tạo Hóa, nghĩa là của Tâm. Chánh biến tri có thể tạo ra mọi cấu trúc vô cùng phức tạp theo cùng cách thức mà các nhà đặc dị công năng phục nguyên các đồ vật. Nghĩa là tăng cấu trúc kết cấu, tăng tính tổ chức của vật, giảm số đo của entropy.

Chính vì vật chất vốn là ảo, là trống rỗng như vậy nên PG mới nói tới Tánh Không như trong Bát Nhã Tâm Kinh.

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.  

舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vt cht không khác cái không, cái không không khác vt cht, vt cht tc là không, không tc là vt cht. Th, Tưởng, Hành, Thc cũng tương t như vy.   

Trong tánh không của sóng là một tình trạng đồng nhất, thì entropy cực đại, không có cấu trúc tổ chức sắp xếp gì cả. Còn trong vật chất như nguyên tử, phân tử, sinh vật…thì entropy giảm xuống.

Để cho đầu óc thư thái một chút trước khi nghiên cứu tiếp, chúng ta hãy nghe lại bài hát Bát Nhã Tâm Kinh phổ nhạc do ca sĩ Tôn Lộ trình bày.

Bat Nha Tam Kinh Ton Lo VD 2

Bây giờ chúng ta nghiên cứu tiếp, tại sao pháp hữu vi vốn không có thật, chỉ là tưởng tượng, nhưng tại sao chúng ta lại thấy chúng rất thật, sờ mó được, ăn uống được, tiêu hóa tăng trưởng đều được cả ? Có hai lý do khiến chúng ta thấy như vậy.

Thứ nhất là nhất thiết pháp vô tự tính (Kinh Hoa Nghiêm) tất cả các pháp tự nó không có tính chất, đặc điểm, đặc trưng gì cả. Điều này đã được khoa học chứng tỏ trong cuộc tranh cãi lớn nhất về khoa học trong thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Niels Bohr và Albert Einstein. Hai ông tranh cãi về việc các hạt cơ bản như photon, electron có sẵn đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin, hay không, từ đó sẽ xác định hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement) có thật sự xảy ra hay không. Bohr nói đặc trưng không có sẵn. Còn Einstein nói đặc trưng lúc nào cũng có sẵn. Cuộc thí nghiệm của Alain Aspect tại Paris năm 1982 đã xác định rằng Bohr đúng, Einstein sai. Nghĩa là kết quả đó đúng như Kinh Hoa Nghiêm nói, là các pháp không có tự tính.

Vậy tại sao chúng ta thấy mọi vật đều có đặc điểm, đặc trưng ? Điều này liên quan tới lý do thứ hai.

Thứ hai là nguyên lý thay thế. Nghĩa là con người chúng ta sẽ gán ghép các tập khí tức là thói quen lâu đời đã được truyền tiếp qua nhiều thế hệ, nhiều đời, nhiều kiếp. Thói quen đó đã ăn rất sâu trong lục căn, lục trần, lục thức và chứa đựng trong mạt-na thức (manas) của mỗi chúng sinh. Những thông tin trong mạt-na thức đó sẽ ứng đáp với các pháp vô tự tính kia và gán ghép cho chúng các đặc điểm đặc tính tưởng tượng.

Cơ chế thay thế gán ghép này thấy rất rõ trong tin học hiện đại. Đây là sự tương đồng căn bản giữa Phật pháp và tin học. Phật pháp mô tả thế giới đời thường, còn tin học mô tả thế giới ảo. Nhưng cách thức thì rất giống nhau. Chỉ khác nhau về mức độ phức tạp. Thế giới đời thường diễn ra trong không gian 3 chiều nên phức tạp hơn rất nhiều so với thế giới ảo của tin học diễn ra trong không gian 2 chiều.

Chính vì sự tương đồng đó mà để cho các em học sinh sau này sẽ dễ hiểu Phật pháp, năm 1996, thầy Duy Lực đã đầu tư 5000 USD để xây dựng một phòng vi tính đầu tiên tại Bình Thủy với 4 máy vi tính, hướng dẫn cho các em nhỏ tiếp cận với tin học.

Chúng ta biết rằng dữ liệu tin học như văn bản, hình ảnh, video, âm thanh, games, softwares, applications…chỉ là vô số những con số nhị phân, chúng chỉ có hai cơ số là 0 và 1, hàng hàng, lớp lớp những con số, chúng không có đặc điểm, tính chất gì cả. Nhưng chúng ta thấy trên màn hình là những văn bản, thông tin báo chí, video, âm thanh, bao nhiêu trò chơi thú vị. Lý do là dòng điện hoặc sóng trong cáp quang sau khi qua bộ vi xử lý đã thay thế cực nhanh những con số vô nghĩa bằng các đặc điểm, tính chất về các con chữ, đường nét, hình dáng, màu sắc, ánh sáng, âm thanh…mỗi con số được gán ghép cho một đặc tính.

Nhưng xét về mặt triết học nhân sinh thì tuy thế gian chỉ là mộng huyễn, là tưởng tượng của 18 giới (lục căn, lục trần, lục thức) nhưng tất cả mọi cảnh giới đều là sáng tạo của tâm, nó tạo ra đời sống phong phú, muôn hình, muôn vẻ. Nó tạo ra bao nhiêu vẻ đẹp, bao nhiêu điều thiện, tốt đẹp, mang lại hạnh phúc. Nhưng nó cũng tạo ra bao nhiêu điều xấu ác, mang lại đau khổ. Bởi vì cảnh giới mộng ảo đó là vô thường, luôn thay đổi, không có vững chắc.

Con người luôn luôn phải đối diện với cặp phạm trù mâu thuẫn, đối lập : không và có, sóng và hạt, ảo và thật, tốt và xấu, thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ, mê lầm và giác ngộ…

Thế nên con người cần thiết phải nhận thức được nguyên lý thứ ba.

Thứ ba là nguyên lý bất định. Nguyên lý bất định nói rằng con người không thể xác định đồng thời vị trí và động lượng của hạt electron. Chúng ta suy rộng ra rằng hạt electron là vô sở trụ, hạt photon cũng vậy, tất cả các hạt cơ bản khác cũng đều như thế, và kể cả các cấu trúc của chúng như nguyên tử, phân tử cũng đều như thế. Về điểm này khoa học cũng đã có nhận thức.

Universe 2 – Nguyên Tử Phân Tử Cũng Là Sóng – VD

Đi xa hơn nữa, các nhà đặc dị công năng đã chứng tỏ rằng kể cả cố thể vật chất cũng đều là vô sở trụ. Bởi vì chúng có bản chất là sóng. Sóng thì không có vị trí nhất định. Hầu Hi Quý đã dùng sức mạnh tinh thần dời cái bàn mạ vàng của tỷ phú Lý Gia Thành (Li Kashing) từ nhà đến văn phòng làm việc của ông.

Như vậy nguyên lý bất định cũng có nghĩa là sự thật, chân lý là bất định. Điều đó khế hợp với lời thuyết giảng trong Bát Nhã Tâm Kinh. Nhận thức này dẫn đến một thái độ cởi mở trong triết học nhân sinh cũng như trong cuộc sống thường ngày. Chúng ta không nên khăng khăng cố chấp vào một điều gì đó bất di bất dịch, bởi vì lý lẽ là vô cùng tận, không có một công thức chung cho tất cả, nên phải tùy thời tùy lúc, tùy hoàn cảnh cụ thể mà lấy một quyết định cho phù hợp. Cái đó Phật giáo gọi là tùy duyên.

Đó cũng là ý nghĩa của vô sở trụ. Không được chấp Có cũng không được chấp Không. Phật giáo nói thế gian là mộng huyễn chỉ nhằm đả phá thói quen chấp thật của con người từ đó dẫn tới đau khổ, chứ không phải bảo rằng chúng ta nên từ bỏ tất cả để đi tu tìm đến cái Không. Rõ ràng Bát Nhã Tâm Kinh nói :

na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo

無無明、亦無無明盡、乃至無老死、亦無老­死盡

VÔ VÔ MINH, DIỆC VÔ VÔ MINH TẬN, NÃI CHÍ VÔ LÃO TỬ, DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN :

Không có vô minh, nên cũng không có hết vô minh, không có già chết nên cũng không có hết già chết.

Vì già chết, tức sinh lão bệnh tử, chỉ là mộng huyễn không có thật, nên cũng không có hết sinh lão bệnh tử, nghĩa là cảnh giới thế gian sẽ không bao giờ hết, không bao giờ kết thúc, bởi vì nó chỉ là ảo, là tưởng tượng, không thật sự có sinh ra (vô sinh, vô thủy) nên cũng sẽ không có mất đi (vô chung).

Cuối cùng thì Phật giáo chỉ là một phương thuốc giả tạm dùng để trị bệnh khổ cũng chỉ là bệnh giả không có thật của con người ở cõi thế gian.

Truyền Bình

Advertisements

About Duy Lực Thiền

Tổ Sư Thiền do cố hòa thượng Thích Duy Lực hướng dẫn
Bài này đã được đăng trong Bài viết. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

19 Responses to TẠI SAO PHẬT GIÁO NÓI THẾ GIAN LÀ MỘNG HUYỄN ?

  1. Vũ Cao Kỳ nói:

    Cháu tham câu ” Niệm phật là ai” đã 1 tháng, có vẻ giác ngộ là quá xa vời khi không có một bậc thầy hướng dẫn.

    • Bạn đừng nản chí. Cổ Đức có câu : Trực há thừa đương, nghĩa là nhìn thẳng xuống là thấy ngay, giác ngộ ngay tức thì. Chỉ cần bạn buông bỏ hết mọi tri kiến, mọi tập khí, thì “trực há thừa đương” thôi.

      • Vũ Cao Kỳ nói:

        Vâng, cháu vẫn cố gắng tham thiền mỗi đêm, sở dĩ cháu có động lực này là vì cháu đã đã đọc bài viết “Ba Trụ Thiền – Giáo Lý – Tu Tập – Giác Ngộ” của thiền sư Philip Kapleau ( đã kiến tánh) trên trang Thư viện hoa sen, bài viết có hướng dẫn cách tọa thiền công án và nhiều người đã đạt kiến tánh chỉ trong 1 tuần nhiếp tâm, ở chương V có kể lại kinh nghiệm ngộ của họ.

  2. Cao An nói:

    Chào Bác!
    Bài viết của Bác được ví như máy chụp cắt lớp vậy (CT Scanner), mỗi lần cập nhật là đi sâu vào hiện rõ những lớp bên trong. Chỉ tiếc rằng, còn rất nhiều Phật tử chưa đủ duyên biết chút ít về kiến thức khoa học để dễ hình dung Kinh điển hơn, còn những người hiểu biết khoa học thì thiếu duyên với đạo Phật.
    “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”

    • “Muôn pháp về một, một về chỗ này, ngay chỗ bạn đang đứng” Hay nói đúng ra là không cần về đâu nữa. Tâm của bạn, của tất cả chúng sinh, của Phật tính giác ngộ, đã là một rồi, thì còn cần về đâu nữa ?

      • Cao An nói:

        Không biết ?!

      • Bạn không biết bài kệ chắc có lẽ ít đọc kinh điển Đại Thừa.

      • Cao An nói:

        Người thầy đáng kính, Thích Duy Lực đã nói: “Hỏi câu thoại để kích thích nghi tình, chứ không phải lấy câu thoại làm mục tiêu để tìm hiểu đáp án. Nếu tìm hiểu đáp án của câu thoại là sai lầm, chẳng phải tham thiền”. Vì vậy nên : Không biết ?!

  3. Chánh Pháp nói:

    Chào bác Truyền Bình !

    Con chúc Bác và gia đình thân tâm luôn an lạc, vô sự !

    Con theo dõi các bài viết của bác từ năm 2011 và không bỏ sót bất kỳ bài viết nào mà bác viết. Thâm chí ngày nào cũng vào xem có bài viết nào mới hay không. Đến nay cũng được 6 năm và thế giới quan, nhân sinh quan của con có nhiều thay đổi, nhìn thấy rõ hơn “vạn pháp vô thường” và thấy rằng đời người chỉ là phù du, mộng huyễn….

    Nhờ những chia sẻ gắn liền với khoa học mà giúp con không còn cảm giác mơ hồ với những thuật ngữ Phật Pháp và cũng qua đó nhìn vào cuộc sống, ứng dụng vào chính cuộc đời mình đã giúp con biết giải quyết những vấn đề mà nhiều khi rơi vào bế tắc, chán nản, thậm chí tuyệt vọng….

    Con làm nghề về đầu tư, giao dịch tiền tệ nên phải đấu tranh thường xuyên với sức hút của THAM, của SÂN, của SI,….Con theo đuổi nghệ này cũng được 7 năm rồi và chịu rất nhiều mất mát, thua lỗ rồi rơi vào cảnh vỡ nợ, nợ nần chồng chất. Nhưng càng thua lỗ, con lại càng mãnh liệt tìm hiều hơn cái bản chất của THAM, SÂN, SI là gì mà ghê gớm quá. Nó làm con thất điên bát đảo từ năm này qua năm khác. Càng mất mát, con càng muốn thấu tỏ và nương tựa vào Phật Pháp như vừa mong muốn tìm lời giải cho chính mình nhưng cũng là tìm câu trả lời của trạng thái “khổ đau” của kiếp người khi những tham dục, mong cầu, háo danh, háo sắc,… mà ai ai cũng đang bị dính kẹt vào đấy.

    Vừa mời đây, cách đây 1 tháng vào đầu tháng 06/2017 con dành nhiều thời gian nghe, xem, đọc và tìm hiều về thày Thích Thông Lạc cũng như nội dung các chia sẻ trên mạng nói về pháp môn mà mọi người gọi là CHÁNH PHÁP PHẬT. Thày Thông Lạc cũng như các vị đệ tử của thày có nói rất nhiều về Đại Thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ, Thiền Công Án Thoại Đầu,….. Không phải họ chỉ trích hay lên án, chê bai mà họ chỉ ra cái SAI, cái lầm lạc mà các tông phái này mắc phải. Thực sự, con bị SỐC và choáng váng trước những nội dung mình đã đọc. Những gì con đọc và tìm hiểu trong các bài viết mà bác chia sẻ trên blog này cũng như trên mạng thì thấy rằng nó mâu thuẫn và trái ngược nhiều quá với những gì con mới được biết qua cái gọi là CHÁNH PHÁP PHẬT từ thầy Thông Lạc.

    Rồi con lại tự hỏi: “Vậy đâu là Chánh Pháp Phật chuẩn để mình nghiên cứu và thực hành theo? Dựa vào nền tảng và yếu tố nào để nhận biết được đâu là Chánh Pháp Phật đây ?”

    Qua nội dung thư này, nhờ Bác cho con xin lời khuyên theo kinh nghiệm và chánh kiến, chánh tư duy của Bác nhé.

    Con xin cảm ơn Bác nhiều !

    • Bạn Chánh Pháp mến, tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt chánh pháp và tà pháp là : Chánh Pháp của Phật không có kiến lập chân lý, bởi vì kiến lập chân lý đó là chấp thật, là tà pháp. Phật pháp phá ngã chấp, phá pháp chấp. Tất cả các pháp trên thế gian đều là vọng tưởng nên kinh Kim Cang có câu : Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Như vậy bạn không thể chấp một cái gì là chân lý được cả. Cho nên chánh pháp thì Không Chấp Có cũng Không Chấp Không.

      • Chánh Pháp nói:

        Dạ, con cảm ơn bác đã hồi âm.

        Con vẫn chưa thực sự rõ lắm nội dung bác vừa hồi âm. Nếu như theo con hiểu ý trên thì 4 chân lý là Khổ, Tập, Diệt, Đạo là không có, là Phật không kiến lập 4 chân lý này phải không ạ ? Và như vậy thì có mâu thuẫn không khi chúng ta luôn thừa nhận KHỔ là thực tại, là điều ai cũng cảm nhận được trong cuộc sống này. Từ đó, chúng ta cũng thấy nếu có KHỔ thì phải tồn tại NGUYÊN NHÂN (Tập) của khổ chứ (Nhân Quả). Cứ vậy, truy lần thì ta thấy rằng có Diệt và có Đạo là phương cách chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau của con người. Chẳng lẽ nó không phải là sự thật sao ? là điều mà con người đang hằng mong muốn đi tìm một giải pháp để thoát khỏi SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT hay sao ?

        Khi nói đến từ “PHÁ CHẤP” gồm PHÁP và NGÃ thì con chỉ hiểu đơn giản là mình không nên ôm ấp hay níu kéo, tiếc nuối gì cả vào cái Ngã của mình, vào vạn Pháp xung quanh,… vì nó là vô thường, vô ngã. Con hiểu cơ bản như vậy, và cũng cố gắng áp dụng vào chính công việc, cuộc sống của mình để làm sao mọi thứ trở nên tự nhiên, tự tại, thong dong hơn. Và rồi con vẫn bị luẩn quẩn, mơ hồ khi ứng dụng thực hành bởi những thứ như THAM, SÂN, SI nó vẫn còn nguyên mà thậm chí lại còn mạnh mẽ hơn trước kia. Đây chính là điểm con thắc mắc và muốn đi tìm lời giải để làm sao mình “kiểm soát”, “khống chế” và thậm chí là triệt tiêu, tiêu diệt tận gốc những trạng thái hủy diệt này. Thực sự con vẫn đang loay hoay đi tìm đáp án ở khúc quanh này !

        Quả là con đang ở trạng thái mơ mơ ảo ảo khi một bên là những gì con đã đọc (tuy chưa hiểu hết) qua blog này và một bên là những thứ quá mới mẻ mà con đang tìm hiểu thêm.

        Con sẽ cố gắng để tìm ra lời giải ở trên.

        Một lần nữa, con cảm ơn Bác nhiều !

      • Chánh Pháp nói:

        Con ngồi và đọc đi đọc lại nội dung hồi âm của Bác mà vẫn không tài nào hiểu hết được những ý này. Con nhờ bác giải thích lại những câu như:
        (1) “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”.
        (2) “Bạn không thể chấp một cái gì là chân lý được cả”.
        (3) “Cho nên chánh pháp thì Không Chấp Có cũng Không Chấp Không”

        Con cảm ơn Bác nhiều !

      • Ý nghĩa của câu số 1 là thời gian không có thật, tâm không thể trụ ở quá khứ, ở hiện tại, hay ở tương lai. Thời gian cũng như không gian hay số lượng chỉ là vọng tưởng của con người chứ không có thật.
        Ý của câu thứ 2 là : chân lý cũng chỉ là vọng tưởng của con người chứ không có thật. Cho nên bạn nói Khổ Tập Diệt Đạo là chân lý, đó chỉ là vọng tưởng của bạn chứ không phải thực tế.
        Ý của câu thứ 3 là : Bởi vì không thể chấp, không thể trụ vào một cái gì gọi là chân lý, nên bạn không thể Chấp Có cũng không thể Chấp Không.
        Tóm lại Phật giáo chỉ là thuốc giả để trị bệnh giả. Khổ tức là bệnh giả của con người, bởi vì thân tứ đại không có thật, cái ta không có thật, vũ trụ vạn vật không có thật, Khổ cũng không có thật. Vì vậy Bát Nhã Tâm Kinh đã nói rất rõ ràng : Không có Khổ Tập Diệt Đạo, sao bạn cứ chấp đó là chân lý. Bạn không từng nghe Thích Ca trước khi nhập diệt, có nói rằng : Ta suốt 49 năm qua không có nói một chữ nào nhé.
        Kinh điển cũng từng ví dụ rằng, Phật giáo giống như chiếc bè, là phương tiện dùng để qua sông, qua sông rồi thì phải bỏ bè, chứ không được đội trên đầu mãi, bạn đã hiểu chưa ?

  4. Chánh Pháp nói:

    Con cảm ơn Bác đã nhiệt tình trả lời những vướng mắc trên của con. Nhưng con vẫn thấy nó cứ mơ hồ thế nào ấy. Nếu đưa vào áp dụng thực hành cho chính cuộc sống trên thân tâm của mình thì con thấy không biết phải bắt đầu từ đâu. Bởi những gì Bác trả lời ở trên thì trong các bài viết mà con đã đọc, Bác đã đề cập nhiều lần. Con đọc và lưu lại toàn bộ các bài viết suốt từ 2011 đến nay và cố gắng, cố gắng áp dụng cho cuộc sống, công việc của mình để cảm nghiệm sự tiến bộ theo năm tháng. Nhưng rồi con vẫn cảm thấy mọi thứ cứ như 1 vòng tròn, quay trở lại điểm xuất phát. Thậm chí còn thấy mình THAM hơn, SÂN hơn, SI hơn trước kia….và có gì đó cứ luẩn quẩn hoài mà không thoát ra được. Khi đọc xong câu trả lời trên của Bác, con có xem lại lời giải thích cho câu hỏi dưới đây.

    Và có lẽ con bị thuyết phục và thấy dễ hiểu để thực hành hơn những gì con đã được biết trước đây. Con xin phép copy đường link vào trong phần này để cùng chia sẻ cảm nhận, cùng tham luận với Bác.
    Con mời Bác tham khảo câu hỏi/đáp dưới đây:
    https://ditimchanhphap.blogspot.com/2017/07/kho-tap-diet-ao.html

    Con chúc Bác luôn mạnh khỏe, thân tâm an lạc !

  5. Chánh Pháp nói:

    Dạ, con không để ý vì cứ tưởng ai cũng mở ra xem được. Con chỉ copy từ cuốn sách có câu hỏi/đáp này vào blog trên để gửi Bác tham khảo thôi, thành ra bị lỗi về font chữ.

    Con vừa ngồi đánh lại từ đầu các phần này và up lại lên blog. 4 phần này có liên quan đến những gì con đang quan tâm ở trên nên chỉ ngồi đánh lại và up lên có 4 bài viết dưới đây thôi. Con mời Bác tham khảo thêm nhé:

    (1) VÔ KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO
    https://ditimchanhphap.blogspot.com/2017/07/vo-kho-tap-diet-ao.html

    (2) BÁT NHÃ TÂM KINH
    https://ditimchanhphap.blogspot.com/2017/07/bat-nha-tam-kinh.html

    (3) ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM
    https://ditimchanhphap.blogspot.com/2017/07/ung-vo-so-tru-nhi-sanh-ky-tam.html

    (4) CÓ PHẢI TOÀN BỘ GIÁO PHÁP CỦA ĐẠO PHẬT LÀ CHIẾC BÈ SANG SÔNG KHÔNG ?
    https://ditimchanhphap.blogspot.com/2017/07/co-phai-toan-bo-giao-phap-cua-ao-phat_13.html

    Con chúc Bác tìm được đúng Chánh Pháp và có nhiều lợi lạc từ đó nhé !

    • Tôi chỉ cần xem sơ qua cũng biết là người trả lời chấp pháp là có thật, chấp các các cảnh giới, nhất là các cảnh giới vật chất là có thật. Người trả lời chỉ lý luận suông có ý phản bác giáo lý Đại Thừa, chứ không có thực tế nào để chứng minh, ngoài cái thực tế tầm thường mê muội mà ai cũng thấy, còn những thực tế sâu xa hơn thì chỉ có bậc trí mới thấy. Người đó đã không hiểu rõ ngày nay chủ nghĩa duy vật đã bị lung lay tận gốc rễ. Tất cả cảnh giới, dù là cảnh giới vật chất hay cảnh giới tâm lý đều chỉ là tưởng tượng của 8 thức. Tại sao khoa học có sức mạnh ? Tại vì nó hiểu rõ tường tận, minh bạch và thực hiện được. Ví dụ Ưng vô sở trụ…Bạn không thấy là ngày nay với chiếc smartphone, tất cả thông tin đều vô sở trụ, nghĩa là không tùy thuộc vào vị trí của bạn đang đứng, miễn có đủ điều kiện thì thông tin tới được bạn, thông tin đó hiện diện ở khắp không gian và thời gian. Mà mọi cảnh giới kể cả cảnh giới vật chất đều là thông tin, cho nên Ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang có sức mạnh của khoa học hậu thuẫn. Vật lý lượng tử đã hậu thuẫn cho giáo lý Đại Thừa, cho Bát Nhã Tâm Kinh, không còn gì để nghi ngờ nữa. Người ngu nào cũng thấy được cảnh giới vật chất, còn cảnh giới Tánh Không thì chỉ có người trí mới thấy. Ngu hay trí là do bạn thôi, không ai bắt buộc.

  6. Chánh Pháp nói:

    Dạ, quả thực con không quan tâm nhiều đến việc bài bác hay chỉ trích của các trường phái Phật giáo. Vì đứng ở vị trí nào thì đều có cách lý giải riêng nhằm bảo vệ và giải thích cho là đúng đắn của giáo pháp mà mỗi người đã chọn. Nếu chỉ tranh luận và cố gắng chứng minh cho việc đúng hay sai của mình thì quả là rất khó và rất lâu, vừa mất thời gian, rồi cũng chẳng đi đến đâu.

    Từ trước tới nay, con cũng chưa đi theo hay có sự lựa chọn nhất định để tu tập theo một pháp môn nào cụ thể. Cái gì con cũng đọc và cũng đều thấy giá trị nhất định từ nội dung ấy cho bản thân mình tại từng thời điểm cụ thể. Con đọc nhiều lắm, các bài viết của bác con không bỏ sót bài nào. Có thời gian con chuyên tâm nghiên cứu và thực hành theo cuốn Duy Biểu Học (Duy thức học) của Thiền sư Nhất Hạnh. Con tìm thấy rất nhiều giá trị cho mình trong suốt 3 năm ngâm cứu nội dung này.

    Và nhiều nữa, con đọc như để đi tìm một điều gì đó mà tại thời điểm ấy con không biết nó là cái gì. Bởi, duyên đến Phật Pháp của con cũng chỉ là muốn tìm lời giải đáp cho những thăng trầm trong công việc mà con đã theo đuổi như đã chia sẻ với Bác ở trên. Khi mọi thứ không đi theo ý muốn và càng ngày con càng cảm thấy mình bị lún sâu vào một vòng tròn luẩn quẩn do chính mình gây ra. Lúc ấy, con hiểu rằng mình còn quá nhiều THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI,…. Và đây chính là cội rễ gây ra những phiền não, khổ đau, nợ nần, mệt mỏi mà con vấp phải. Con lại lên đường tìm cầu lời giải đáp cho bài toán của chính mình.

    Giáo lý nào mà giải quyết được bài toán THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI chính là điều con mong muốn tìm kiếm và thực hành để có thể, một lần nữa thử nghiệm trên thân tâm mình xem ra sao. Kết quả cuối cùng để con đánh giá là trên thân tâm mình cũng như mọi thứ xung quanh cuộc sống của mình, trong đó có công việc mà hiện tại con vẫn đang theo đuổi (hoạt động đầu tư tài chính).

    Và rồi con cũng nhận ra được giá trị thực sự của những gì con vừa tìm đọc hơn 1 tháng qua. Đó chính là THIỆN PHÁP (là Chánh Pháp). Con không có ý ca tụng hay khuyên bảo ai phải theo đuổi những gì mình đã cảm nghiệm. Con chỉ chia sẻ và mời Bác cũng như mọi người tham khảo thêm để có thêm cái nhìn mới về những gì đã, đang và sẽ diễn ra. Rồi nhờ Chánh Kiến, Chánh Tư Duy của mỗi người mà tự mình lựa chọn, đánh giá trên cơ sở những gì mà mỗi người đang tìm kiếm. Với con thì từng bước giải được bài toán THAM, SÂN, SI ở trên là cũng đủ lắm rồi. Đơn giản vì con đang bị chính nó “tiêu diệt” suốt 6 năm qua (khi theo đuổi lĩnh vực trên).

    Càng đọc rồi từng bước thực hành, con có được những cảm nhận khác rất nhiều so với trước kia mà mình đã trải nghiệm nên con nghĩ chia sẻ để mọi người cùng tham khảo là điều rất bình thường. Qua đó, mỗi người tự có cái nhìn riêng theo Chánh Kiến, Chánh Tư Duy của mình.

    Đây là 1 trong nhiều cuốn sách đã, đang và hy vọng là SẼ giúp con tìm ra lời giải cho bài toán của riêng mình. Con mời Bác tham khảo thêm nhé.

    Cuốn sách: PHẬT GIÁO CÓ ĐƯỜNG LỐI RIÊNG
    Mời Bác download ở đường link dưới đây: http://www.mediafire.com/file/d0og94z9vjprsj9/Phat+giao+co+duong+loi+rieng+-+18-9-2014.pdf

    Một lần nữa, con cảm ơn Bác nhiều vì nhờ những bài viết suốt từ 2011 trên blog này đã giúp con rất nhiều trong quá trình tìm kiếm của mình.

    Con chúc Bác thân tâm luôn an lạc, vô sự !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s